Lưu trữ | 9:22 Sáng

Thực hư việc tìm được mộ Trạng Trình – PLTP

5 Th10

Thực hư việc tìm được mộ Trạng Trình

Thời gian gần đây, dư luận đang “xôn xao” về việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tìm được phần mộ của danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tại khu vực cánh đồng Mả Lẻ (thôn Tiền Am, Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng).

Tháng 6-2012, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng) gửi đơn đề nghị UBND xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng trình bày về việc: Sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của một số nhà ngoại cảm, con cháu trong dòng họ đã tìm và xác định được phần mộ của cụ tổ (Danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) là một gò đất nhỏ tại cánh đồng Mả Lẻ, thuộc Đội 8, thôn Tiền Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng.

Đầu tháng 7/2012, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út đã gửi đơn đến UBND xã Lý Học để xin phép và thông báo cụ thể về thời gian, địa điểm tiến hành lễ động thổ, khởi công xây dựng, tôn tạo phần mộ theo ước nguyện của cụ tổ. Ngày 6/7/2012, UBND xã Lý Học ban hành Công văn số 16 với nội dung: Đồng ý cho Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út được nhận và xây dựng phần mộ, đắp đường đi tại khu vực đất hoang hóa của địa phương ở khu vực mộ như trong đơn đề nghị và được tổ chức lễ phần mộ…


 
Lăng mộ mà Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út cho rằng là mộ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm 

Sáng 24/7/2012 (ngày 6/6 năm Nhâm Thìn), Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tổ chức lễ động thổ, khởi công xây dựng khu lăng mộ cụ tổ. Trước khi tổ chức buổi lễ, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi UBND xã Lý Học một số văn bản có nội dung: đề nghị được hỗ trợ về an ninh trật tự trước và trong buổi lễ; báo cáo chi tiết về phương án, cách thức, quy mô xây dựng phần mộ.
 
Sau lễ khởi công, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục gửi nhiều văn bản đề nghị UBND xã Lý Học xem xét, tạo điều kiện được xây dựng phần mộ, đường vào phần mộ theo quy cách, kích thước đã nêu trong các văn bản. Khi xây dựng xong, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út sẽ báo cáo xin phép các cấp thẩm quyền được quy hoạch, lập dự án hoàn chỉnh khu di tích này. Đến tháng 8/2012, Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã gửi đơn lên UBND huyện Vĩnh Bảo. Sau khi nghiên cứu nội dung đơn, căn cứ vào “quy định của pháp luật”, UBND huyện Vĩnh Bảo đã chuyển đơn của về UBND xã Lý Học xem xét giải quyết…

Đầu tháng 9/2012, UBND xã Lý Học đã có Công văn số 01 trả lời với nội dung: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh nhân văn hoá của dân tộc, việc tìm được mộ của cụ là ước nguyện không những của dòng họ Nguyễn mà còn là ước nguyện của toàn thể cán bộ nhân dân xã Lý Học cũng như toàn thành phố. Đến thời điểm hiện tại, UBND xã Lý Học chưa nhận được văn bản chỉ đạo của cấp có thẩm quyền nên không có quyền quyết định việc lập quy hoạch xây dựng khu di tích lăng mộ Trạng Trình…

Sự kiện tìm được mộ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo nên một sự kiện tâm linh gây bất ổn về an ninh trật tự, ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại địa phương và cuộc sống, sinh hoạt của nhân dân.

Trao đổi với phóng viên, ông Ngô Đăng Lợi, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết: Việc Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nói đã tìm được mộ của Cụ Tổ là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (tại khu vực nêu trên) bằng phương pháp ngoại cảm là chưa có căn cứ khoa học.

Trước đây, ông Lợi đã cùng lãnh đạo UBND thành phố; Thượng toạ Thích Quảng Tùng, Phó Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hải Phòng và một số nhà ngoại cảm nổi tiếng như Phan Thị Bích Hằng, Đỗ Bá Hiệp phối hợp với con cháu trong dòng tộc Trạng Trình đã dùng phương pháp tâm linh để mời Trạng Trình về tha thiết xin được biết phần mộ của cụ ở đâu nhưng đều bị cụ bác “Mộ ta táng, ta không cần cho các ngươi biết, các ngươi lại bày vẽ tốn tiền dân. Tiền sửa sang mộ ta để dành mở các lớp học cho các cháu ở trong xã, sau này khoảng vài chục năm sẽ có cháu bằng ta hoặc vượt hơn ta. Không được đụng đến mộ”.
 
Ngày xưa, các bậc thánh nhân, tiên tri có một nguyên tắc là không bao giờ cho biết phần mộ thật của mình ở đâu vì sợ thời thế thay đổi. Hiện nay, việc tìm mộ bằng phương pháp ngoại cảm không được Nhà nước thừa nhận.

Về việc UBND xã Lý Học, UBND huyện Vĩnh Bảo có một số văn bản phúc đáp lại Hội đồng Nguyễn tộc ngành Út Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với nội dung như nêu trên, ông Lợi cho biết: Hiện nay, di tích lịch sử văn hoá đã được luật pháp quy định cụ thể, không ai được xâm phạm. Sự việc đáng tiếc xảy ra vừa qua là do cán bộ không nắm rõ luật dẫn đến việc tuỳ tiện làm vượt thẩm quyền, trách nhiệm của mình gây hậu quả nặng nề.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hoá của Quốc gia nên Tp. Hải Phòng cần nhanh chóng vào cuộc xác minh, làm rõ và xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch để có biện pháp xử lý vụ việc trên theo quy định. Việc quản lý, xây dựng di tích lịch sử phải dựa vào luật pháp, tránh các trường hợp tương tự xảy ra như ở: chùa Trăm Gian; thành nhà Mạc ở Tuyên Quang; thành cổ ở Sơn Tây…

(Theo Công lý)

 

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG – vietsuky/BS

5 Th10

NHÌN LẠI LỊCH SỬ *

THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG

KS. PHAN DUY KHA

Một nàng Mị Nương (tức công chúa) không thích sống gò bó trong cảnh cung vàng điện ngọc, lầu son gác tía ở kinh đô mà lại thích đi du ngoạn để tìm hiểu đất nước. Một chàng trai nghèo đến nỗi không có một mảnh khố che thân, hàng ngày phải ngâm mình dưới nước để đi ăn xin. Một mối nhân duyên kỳ lạ trên bờ lau bãi cát. Một chiếc nón úp lên đầu gậy, qua đêm bỗng biến thành một tòa lâu đài. Cũng tòa lâu đài ấy trong một đêm bỗng bay lên trời, để lại một cái đầm Nhất Dạ… Từ xưa, truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung (CĐT – TD ) vẫn lấp lánh trong tâm khảm chúng ta như một viên ngọc quý. với vẻ đẹp trinh nguyên buổi đầu lập quốc…

Cái gạch nối về địa lý

Địa chỉ của Tiên Dung là kinh đô Phong Châu (Vĩnh Phú). Đây là vùng trung du, hay nói theo danh từ của các nhà nghiên cứu địa – lịch sử là miền “trước núi”, là đỉnh của tam giác châu Bắc bộ, là điểm khởi đầu của cuộc thiên di thứ hai của dân tộc Việt. Quê hương Chử Đồng Tử là thôn Chử Xá (nay là xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội) là vùng trung châu thổ sông Hồng. Nơi Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử là bãi Tự Nhiên bên sông Hồng, nay thuộc huyện Thường Tín (tỉnh Hà Tây). Nơi hai người cùng tòa lâu đài bay lên trời là đầm Nhất Dạ (Một Đêm) – nay thuộc địa phận xã Dạ Trạch, huyện Châu Giang, hợp nhất từ hai huyện Văn Giang, Khoái Châu, thuộc tỉnh Hưng Yên – là miền hạ châu thổ. Việc di chuyển của Tiên Dung và Chử Đồng Tử phản ánh sự thiên di hay nói đúng hơn, đó chính là hình ảnh cuộc thiên di của người Việt cổ thời Hùng Vương dựng nước để chiếm lĩnh dần vùng châu thổ sông Hồng. Chúng ta biết rằng việc khai phá vùng đồng bằng diễn ra muộn hơn so với vùng đồi núi trung du. Vùng đồng bằng là vùng lầy lội, chua mặn, về mùa mưa hay bị ngập nước. Đó là vùng nửa đất, nửa nước, với liên tiếp những chằm hồ, những vùng đất trũng, đi lại khó khăn. Muốn khai phá đồng bằng phải cải tạo đất, phải đắp đê kè trị thủy, phải nắm được quy luật của lũ lụt, phải biết và lợi dụng được quy luật lên xuống của thủy triều… Để làm được những việc đó, cư dân phải có trình độ kiến thức nhất định. Việc khai phá vùng đồng bằng, vì vậy, diễn ra từng bước, rất dài lâu, chứ không phải ngày một ngày hai. Việc khai phá này lại còn phụ thuộc vào tốc độ bồi lắng của phù sa lấn biển. Ngay như gần đây (vào thế kỷ XIX), hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải (Thái Bình) mới được khai phá bởi công lao của Nguyễn Công Trứ, ta càng thấy được bước đi lâu dài của ông cha ta trong việc mở mang, khai phá vùng đồng bằng.

Truyền thuyết CĐT – TD chính là hình ảnh bước đi đầu tiên trong công cuộc khai phá đó. CĐT – TD đã “mở bến chợ, lập phố xá” (từ dùng của Lĩnh Nam. chích quái), tạo lập nên một giang sơn mới ở miền châu thổ, đến nỗi vua Hùng hiểu nhầm – tưởng con gái và con rể làm phản chống lại triều đình – đã đem quân đi hỏi tội. “Giang sơn” mà CĐT – TD tạo lập ở hai bên bờ sông Hồng thuộc Châu Giang. Kim Thi, Phù Tiên (Hưng Yên) bên tả ngạn, Thường Tín, Phú Xuyên (Hà Tây) bên hữu ngạn. Truyền thuyết CĐT – TD là cái gạch nối địa lý, nối vùng đất tổ Phong Châu với vùng đồng bằng mới được khai phá này.

Gạch nối từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ

Truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ phản ánh thời kỳ chế độ mẫu quyền trên đất nước ta (xem thêm TGM 178). Khi vua Hùng lên ngôi, đất nước chuyển sang thời kỳ chế độ phụ quyền. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chế độ mẫu quyền vẫn còn rất lớn. Đó là hình ảnh của nàng Tiên Dung – con gái vua Hùng, tự do đi du ngoạn chơi bời khắp nước, thoát ra ngoài sự quản lý của Hùng Vương (tượng trưng cho phụ quyền). Tiên Dung tự chọn chồng cho mình, hoàn toàn ngoài ý muốn của vua cha. Truyền thuyết cũng cho ta thấy được quan hệ tự nhiên, hồn nhiên giữa nam nữ của người Việt cổ. Quan hệ đó được thể hiện trong cảnh Tiên Dung và Chử Đồng Tử ngẫu nhiên trần truồng gặp nhau trên bãi cát ven sông rồi thành vợ thành chồng. Quan hệ đó của người Việt cổ, ta còn gặp trong các di vật khảo cổ như trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (có niên đại cách nay khoảng 2.500 – 3.000 năm, tức cùng thời với truyền thuyết này). Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh có tượng 4 cặp nam nữ đang ân ái với nhau: xin đừng nghĩ đây là khiêu dâm, bởi trong tâm thức người Việt cổ, nam nữ gặp nhau, hợp nhau là thành vợ thành chồng và được giải thích là do ý trời, họ không hề có ý niệm “môn đăng hộ đối” hay sự phân biệt về địa vị khác nhau trong xã hội.

Sự xung đột giữa Hùng Vương – Tiên Dung là sự xung đột giữa chế độ phụ quyền đã hình thành và chế độ mẫu quyền đang còn rơi rớt lại. Sự xung đột đó tất yếu sẽ làm tan rã chế độ mẫu quyền. Việc CĐT – TD bay lên trời phản ánh kết cục nêu trên: phụ quyền phải thắng vì đó là tất yếu của lịch sử. Truyền thuyết CĐT – TD, vì vậy, phản ánh một thời kỳ lịch sử rất dài lâu, chứ không phải một thời điểm nào đó. Chính vì thế mà có tài liệu lại chép vào đời Hùng Vương thứ ba lại có tài liệu chép vào đời Hùng Vương thứ 18. Thực ra, cả hai cách chép này đều không sai. Đoạn đầu của truyền thuyết xảy ra vào đầu thời kỳ Hùng Vương, khi ảnh hưởng của chế độ mẫu quyền còn mạnh. Còn đoạn cuối, việc CĐT – TD bay lên trời lại xảy ra vào cuối thời kỳ Hùng Vương, khi chế độ phụ quyền đã được thiết lập vững chắc (đến đời An Dương Vương, chế độ phụ quyền đã hết sức vững chắc: người cha có thể giết con gái, khi người con vô tình làm hỏng việc nước – xem thêm TGM 156). Như vậy, truyền thuyết CĐT – TD phản ánh cả một quá trình, chứ không phải một thời điểm cụ thể. Chúng ta có thể coi nó là cái gạch nối từ chế độ mẫu quyền qua chế độ phụ quyền.

Gạch nối về giao lưu kinh tế

Trong số các truyền thuyết về thời kỳ Hùng Vương dựng nước thì đây là truyền thuyết rất hiếm hoi đề cập một nghề rất mới mẻ trong đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt cổ: nghề buôn bán. Buôn bán là một nghề không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội, khi sức sản xuất đã phát triển. Có sản phẩm dư thừa thì phải có lưu thông buôn bán. Mà đã có buôn bán thì phải có vốn và lãi, tức là phải tính đến giá trị của hàng hóa, cơ chế thị trường đã có manh nha từ thời kỳ Hùng Vương (truyền thuyết Mai An Tiêm cũng đề cập việc trao đổi hàng hóa: An Tiêm đem dưa hấu bán đổi lấy gạo nuôi vợ con, nhưng đây là sự trao đổi tự phát chứ chưa có ý thức buôn bán làm giàu!). Truyền thuyết CĐT – TD thì lại khác. Chử Đồng Tử khi chưa lấy Tiên Dung chỉ là một người ăn xin, nghèo khổ đến mức không có nổi một cái khố. Ngày nay, ở đền Dạ Trạch còn thờ một cây gậy và một chiếc nón úp trên gậy đó: không nghi ngờ gì nữa, đấy là biểu tượng của tầng lớp ăn mày. Ở vùng đất này ngày nay còn có tục kiêng không được úp nón lên đầu gậy, thậm chí không được úp nón lên cán cuốc dựng đứng (gợi lên cuộc đời Chử Đồng Tử lúc còn nghèo khó, tức là nhạo báng thần!). Truyền thuyết cũng kể rằng CĐT – TD được vị tiên (hoặc nhà sư?) tặng cho một chiếc nón và một cây gậy có “phép lạ”. Trên đường đi, gặp lúc đêm tối, hai vợ chồng đã dựng gậy, úp nón lên, ngồi tựa vào nhau mà nghỉ. Trong chốc lát, gậy và nón đã hóa thành tòa lâu đài. “Phép lạ” để từ gậy và nón biến thành lâu đài, ở đây không có gì khác ngoài việc buôn bán làm giàu “một vốn mười lời”. Và sự thay đổi đó cũng không phải chỉ trong một đêm mà là cả một quá trình. Truyền thuyết còn cho biết Chử Đồng Tử còn cưỡi thuyền vượt biển đi buôn “phương xa” mà danh từ ngày nay ta gọi là “ngoại thương” (xét tốc độ bồi lắng phù sa của sông Hồng lấn ra biển thì lúc đó, bờ biển cách vùng này không xa là mấy). Không phải ngẫu nhiên mà những vùng “chợ búa đô hội” do CĐT – TD tạo lập nên thì hàng ngàn năm sau này – cũng gần những địa điểm ấy – lại xuất hiện một trung tâm buôn bán với nước ngoài vào loại lớn nhất nước ta thế kỷ XVII – XVIII, đó là vùng Phố Hiến (thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiên). Phải chăng vị trí đó, tiềm năng buôn bán giao lưu đó đã được manh nha từ thời kỳ Hùng Vương? Không phải vô cớ mà truyền thuyết CĐT – TD lại lấy con sông Hồng và các vùng đất hai bên làm bối cảnh.

Như vậy, nếu truyền thuyết Thánh Gióng phản ánh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm kỳ vĩ nhất trong thời kỳ Hùng Vương dựng nước và chỉ cho ta hướng chủ yếu thường có giặc xâm phạm là vùng Trâu Sơn, Lục Đầu, Phả Lại ngày nay thì truyền thuyết CĐT – TD cho ta biết hướng mở mang bờ cõi, làm ăn buôn bán chủ yếu của người Việt cổ là tiến xuống phương Nam, dọc theo sông Hồng. Điều đó hoàn toàn phù hợp với kết quả khảo cổ học ngày nay về quá trình khai phá châu thổ sông Hồng của ông cha ta trong thời dựng nước.

Cũng xin được nói thêm: ở vùng Châu Giang ngày nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về CĐT – TD. Một số truyền thuyết, thần tích ghi thêm rằng: Chử Đồng Tử còn… lấy vợ hai (!) là Tây Cung tiên nữ (có tài liệu ghi thêm: Ngải Hòa tiên nữ). Theo chúng tôi, đây là những truyền thuyết giả mới được chắp nối sau này. Trong thời kỳ phong kiến, khi chế độ đa thê đã thịnh hành, các nhà nho đã thêm thắt vào cho nhân vật Chử Đồng Tử có cái “mác” một người đàn ông lý tưởng của chế độ phong kiến, với quan niệm “làm (tài) trai năm thê bảy thiếp”. Những truyền thuyết mới được “gán” thêm đó không phù hợp với lối sống của cư dân thời kỳ Hùng Vương bởi thời kỳ này chỉ có chế độ hôn nhân một vợ một chồng: Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, Sơn Tinh lấy Ngọc Hoa, người con gái họ Lưu lấy Cao Tân (người anh trong sự tích trầu càu)… Thời kỳ ấy chưa hề có chế độ đa thê. Trong Lĩnh Nam chích quái, cuốn sách xưa nhất đề cập truyền thuyết CĐT – TD, chưa hề có Tây Cung tiên nữ hay Ngải Hòa tiên nữ. Có thể các truyền thuyết giả này mới được thêm vào từ thế kỷ XVI trở về sau.

Truyền thuyết CĐT – TD là một câu chuyện thần tiên nhưng rất hiện thực. Đó là vẻ đẹp lấp lánh của quan niệm tự do tình yêu, tự do hôn nhân; là ý chí vươn lên từ sự nghèo khổ; là sự manh nha về một nghề mới trong nền kinh tế: nghề buôn bán. Đằng sau tất cả những cái đó là cốt lõi của một sự thật: sự hình thành một vùng đất mới, một trung tâm định cư mới trên đất nước ta. Truyền thuyết CĐT – TD, vì vậy, có một vị trí đặc biệt trong kho tàng truyền thuyết của ta. Cùng với truyền thuyết Lạc Long Quân -Âu Cơ (nguồn gốc dân tộc), Sơn Tinh Thủy Tinh (trị thủy), Thánh Gióng (đánh giặc ngoại xâm), truyền thuyết CĐT – TD hợp thành bốn truyền thuyết cố xưa đẹp nhất, có giá trị bậc nhất về thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Nghiên cứu những truyền thuyết này, “đọc” được chúng, giải mã được những ẩn ý mà cha ông xưa đã gửi gắm, chúng ta sẽ tìm lại được diện mạo của tổ tiên, bộ mặt của đất nước ta buổi đầu lập quốc. Đó là trách nhiệm, là tình cảm, là khát vọng của chúng ta!

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Mỹ-Hoa và chiến lược dài hạn tại Thái Bình Dương – Bauxite

5 Th10

Mỹ-Hoa và chiến lược dài hạn tại Thái Bình Dương

Đoàn Hưng Quốc

Trung Quốc muốn chiếm giữ các nguồn tài nguyên tại Đông Á và nắm ưu thế tuyệt đối về kinh tế – chính trị trong khu vực. Hoa Kỳ cần ngăn chận sự trổi dậy của Bắc Kinh để duy trì ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Cho dù quyền lợi mâu thuẫn nhưng cả hai nước đều không muốn đụng độ trực tiếp vào nhau. Bài viết này nhằm phân tích cách nhìn dài hạn từ mỗi phía để đạt đến mục tiêu chiến lược của mình.

Trung Quốc có hai lợi thế lớn: một là tiếp cận, hai là ảnh hưởng kinh tế bao trùm trên khu vực trong đó gồm có Nhật – Nam Hàn – Đài Loan  cùng các nước Đông Nam Á. Bắc Kinh tận dụng mọi cơ hội để khai thác các chia rẽ và hiềm khích lịch sử giữa các lân bang nhằm ngăn chận việc kết hợp thành một vòng đai vây quanh Hoa Lục. Bên cạnh đó Trung Quốc xây dựng một lực lượng hải quân, không quân, hoả tiển tầm xa và vũ khí không gian và tin học với mục tiêu không phải để chiến thắng Mỹ nhưng đủ để răn đe những nước láng giềng rằng hải quân Hoa Kỳ sẽ bị kềm giữ từ xa vì sợ các tổn thất nặng nề trong trường hợp xảy ra một cuộc tranh chấp trong khu vực.

Trên bàn cờ quốc tế thì Bắc Kinh liên tục khai thác những mối mâu thuẩn giữa Tây phương với Nga, Iran, Pakistan và Nam Mỹ để ngăn cản Hoa Kỳ không thể tập trung lực lượng vào mục tiêu ngăn chận Trung Quốc. Do hậu thuẩn các chế độ độc tài nên Hoa Lục đánh mất uy tín chính trị, nhưng bù lại họ vẫn tin tưởng vào lá bài tẩy thương mại rằng sau rốt các nước phải bỏ qua những bất đồng chính trị nhằm duy trì mối quan hệ mua bán với Bắc Kinh.

Trong hoàn cảnh Mỹ bị chi phối từ nhiều phía như kinh tế, ngân sách, đến cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cực đoan, tình trạng rối loạn ở Nam Á và Trung Đông, tranh chấp  giữa Do Thái và các nước Hồi giáo, kinh tế suy thoái ở Âu Châu, thì mục tiêu của Bắc Kinh là thuyết phục chính giới và quần chúng Hoa Kỳ rằng tình hình Đông-Á vô cùng phức tạp, nếu Mỹ can thiệp vào chỉ làm tổn hại đến quyền lợi sống còn giữa hai cường quốc hạng nhất và nhì trên thế giới.  Khi đó nếu các quốc gia Á Châu nhận thấy một sự do dự trong chính sách của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương thì họ sẽ phải thay đổi các tính toán chính trị, cuối cùng rồi phải thần phục Bắc Kinh như là cường quốc áp đảo trong khu vực.

Ngược lại, trong cùng một hoàn cảnh chiến lược nhưng Mỹ có cái nhìn hoàn toàn trái ngược rằng ý đồ bành trướng của Bắc Kinh là cơ hội để Hoa Kỳ cũng cố vai trò của mình tại Thái Bình Dương với cái giá phải trả không quá cao. Cách tiếp cận này dựa trên vài nét chính:

–         Khác với lần Chiến Tranh Lạnh, xác suất xảy giao tranh trực tiếp giữa lục quân Mỹ-Trung với những tổn hại nặng nề về nhân mạng gần như không có. Chỉ hai nơi Bắc Kinh có thể xử dụng được bộ binh là Việt Nam hoặc tại Hàn Quốc: trong trường hợp Hoa Lục tấn công vào Việt Nam (như năm 1979) thì Mỹ sẽ không thể can thiệp bằng lính bộ; tình huống duy nhất có thể xảy ra là tại Bắc Hàn nếu Bình Nhưỡng có những quyết định liều lỉnh, nhưng Hoa Kỳ tin chắc rằng Bắc Kinh sẽ ngăn chận trước vì không muốn sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường trước được.

–         Khả năng xảy đến một cuộc giao tranh giữa hai hạm đội ngoài biển khơi cũng rất thấp bởi vì sẽ dẫn đến một cuộc chiến toàn diện giữa hai cường quốc hạch nhân.

–         Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan (và ở xa hơn nữa là Úc rồi đến Ấn Độ) đều là những cường quốc kinh tế, quân sự và kỹ thuật. Cho dù không thành hình được một liên minh thì tự mỗi quốc gia vẫn có sức cản không nhỏ đối với ý đồ bành trướng của Trung Quốc, nhất là cộng thêm với sự hậu thuẫn từ xa của Hoa Kỳ. Nhờ vậy Mỹ không cần gia tăng chi phí quốc phòng trong hoàn cảnh ngân sách eo hẹp mà vẫn có thể hợp tác xây dựng được lá chắn khá tín trong khu vực.

–         Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân và Singapore đều là những quốc gia độc lập với cơ chế chính quyền và quân đội vững chải nên chỉ cần được Mỹ hậu thuẩn hay tiếp trợ mà không hề muốn bị lệ thuộc. Ngược lại Hoa Kỳ cũng không lo phải rơi vào tiến trình xây dựng quốc gia (nation building) vô cùng tốn kém và đầy hiểm trở như đã từng xảy ra tại Đông Dương, Iraq và Afghanistan.

–         Việt Nam do liên hệ sống còn giữa hai đảng cộng sản Việt-Trung nên không thể nào là một đồng minh của Mỹ. Nhưng Hoa Kỳ đánh giá cao sức mạnh tự vệ của dân Việt (từ bài học thất bại trong chiến tranh Việt Nam) nên tính toán rằng Bắc Kinh sẽ trả giá rất đắt nếu nông nổì tấn công vào Việt Nam (như năm 1979), một tình huống hoàn toàn có lợi cho Mỹ. Trong hoàn cảnh nhập nhằng giữa hai nước thì Hoa Kỳ sẽ tiếp tục khai thác các mâu thuẩn để kéo dần Việt Nam ra khỏi quỹ đạo của Trung Quốc.

–         Trên bình diện kinh tế việc hai khu vực Đông và Nam Á phát triển buôn bán với Trunq Quốc không có hại cho Hoa Kỳ nếu những quốc gia này không bị Bắc Kinh kềm chế qua ngỏ ngoại thương. Tiến trình đàm phán cho Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương gặp nhiều khó khăn do khác biệt giữa các nước còn nhiều, nhưng bù lại sau những đòn tấn công kinh tế của Hoa Lục đối với Nhật – Phi cùng các chương trình viện trợ đầy màu sắc chính trị cho Cam-Bốt khiến các quốc gia phải gấp rút tìm một đòn bẩy chuẩn chống trả áp lực kinh tế của Bắc Kinh.

–         Nhật – Anh đều là quốc đảo mang tinh thần độc lập đối với các nước lục địa (trên một bình diện rộng lớn hơn, Mỹ và Úc cũng là những đảo quốc bên cạnh đại lục Âu-Á-Phi) . Tranh chấp gần đây giữa Nhật với Trung Quốc, Nam Hàn và Đài Loan khiến Nhật hoàn toàn bị cô lập và không còn thế chọn lựa nào khác hơn là phải thắt chặc quan hệ với Hoa Kỳ, tương tự như trường hợp của Anh vốn là liên minh gần gũi nhất. Dĩ nhiên Mỹ không có lợi gì khi giữa những đồng minh bị chia rẻ, nhưng đồng thời chính sự kiện này sẽ khiến các nước cần thêm sự hiện diện và can thiệp của Hoa Kỳ để ngăn cản tình hình không tiếp tục suy đồi nhanh chóng.

Tóm lại đối với Mỹ khu vực Thái Bình Dương thích hợp cho chính sách quyền lực khôn ngoan (Smart Power): thu lãi nhiều về chính trị và thương mại trong khi chỉ bỏ vốn qua các hoạt động ngoại giao, đồng thời giữ chi phí quốc phòng ở mức độ chấp nhận được; nâng cao vai trò dưới các ngọn cờ dân chủ, nhân quyền và tôn trọng luật pháp quốc tế; đồng thời kiên nhẩn chờ đợi Trung Quốc chứng tỏ thái độ bất tín đối với các nước láng giềng để tự cô lập chính mình mà không cần phải xây một vòng đai quân sự.

Dĩ nhiên hoàn cảnh có thể biến chuyển bên ngoài dự trù của cả Hoa lẩn Mỹ. Những tình huống xảy ra như tinh thần dân tộc chủ nghĩa bùng phát ngoài sức kiểm soát của các nhà cầm quyền; hoặc một cuộc khủng hoảng kinh tế khiến những quốc gia trong khu vực phải hợp tác giải quyết và bỏ qua các tranh chấp, hay ngược lại càng làm nổi bật những xung khắc nếu mỗi nhà cầm quyền chỉ vì quyền lợi riêng ép giá để tăng cường xuất khẩu sang nước láng giềng.

Một thử thách có thể xảy ra nếu Bắc Kinh dàn dựng nên một cuộc va chạm giới hạn với mục đích lật con bài tẩy của Mỹ: chẳng hạn một cuộc đụng độ nhỏ tại các đảo Scarborough/Hoàng Nham hay Senkako/Điếu Ngư; hay Trung Quốc ngang nhiên khai thác dầu khí trên khu vực tranh chấp. Dĩ nhiên Hoa Kỳ hiện giữ kín kế hoạch đối phó ngoài trừ các lời tuyên bố chung chung về những hiệp ước quốc phòng đã ký với các đồng minh. Trái lại nếu Trung Quốc tấn công vào các đảo Trường Sa của Việt Nam thì Hoa Kỳ không có lý do can thiệp ngoại trừ dùng cơ hội này để thắt chặc liên hệ quân sự trong khu vực để bảo vệ tự do hàng hải, đồng thời thúc giục Việt Nam tách ra khỏi quỹ đạo của Hoa Lục.

Ngược lại chính Bắc Kinh cũng e ngại một động thái thăm dò tương tự vẫn có thể khiến mối căng thẳng trong khu vực leo thang ngoài tầm kiểm soát.

Đ.H.Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Chiến lược ‘giành tất cả’ của Trung Quốc sẽ không đạt hiệu quả – VOA

5 Th10

Chiến lược ‘giành tất cả’ của Trung Quốc sẽ không đạt hiệu quả

 
 

Tàu chiến của Trung Quốc phóng tên lửa trong cuộc tập trận bắn đạn thật ở Biển Ðông. Chiến lược ‘giành tất cả’ của Bắc Kinh tiếp tục khiến cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước khác ngày càng trở nên phức tạp hơn và Bắc Kinh đang mất bạn vì cách hành xử của mình

 
Bắc Kinh phải nhận ra rằng phương thức ‘Trung Quốc giành tất cả’ trong tranh chấp Biển Đông sẽ không đạt hiệu quả, bất kỳ giải pháp nào cũng phải dựa trên tinh thần thỏa hiệp, và sẽ không có được giải pháp nếu bất kỳ bên nào ngoan cố.

Đó là cảnh báo của giới phân tích được đăng trên trang Mạng lưới An ninh và Quan hệ quốc tế ISN, một trong những trang mạng hàng đầu thế giới chuyên đăng tải và cung cấp thông tin cho giới chuyên gia trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và an ninh.

Tác giả bài viết là Theresa Fallon, thành viên cao cấp thuộc Viện nghiên cứu Châu Âu về Châu Á có trụ sở tại Bỉ, và Tiến sĩ Graham Ong-Webb, chuyên viên cố vấn phụ trách văn phòng Đông Nam Á của tổ chức tư vấn rủi ro toàn cầu Control Risks đặt tại Singapore, cho rằng chiến lược ‘giành tất cả’ của Bắc Kinh tiếp tục khiến cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước khác ngày càng trở nên phức tạp hơn và Bắc Kinh đang mất bạn vì cách hành xử của mình ở Biển Nam Trung Hoa (tức Biển Đông theo cách gọi Việt Nam) và Biển Đông Trung Hoa.  

Theo hai phân tích gia này, sở dĩ phương thức ‘giành tất cả’ của Trung Quốc ở Biển Đông gặp trở ngại là vì các tuyên bố chủ quyền dựa trên lịch sử của Trung Quốc không thuyết phục được các bên cộng với những khó khăn trong việc gỡ rối các tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau giữa Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Philippines, Malaysia, và Brunei.

Hai phân tích gia Ong-Webb và Fallon cho rằng để các cơ chế luật lệ quốc tế phát huy hiệu quả trong tranh chấp Biển Đông, trước tiên Trung Quốc phải nhìn thấy rằng quyền lực kinh tế hay quân sự không thể giải quyết được tranh chấp biên giới, mà cần phải áp dụng quyền lực mềm để kiếm bạn và vận dụng vai trò lãnh đạo trong khu vực, cũng như phải áp dụng phương thức cùng nhau chia sẻ nguồn tài nguyên.
 
Nguồn: International Relations, Security Network

Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải – NCBĐ

5 Th10

Đường chữ U của Trung Quốc ở biển Đông: phân tích bốn cách diễn giải  

Việc Trung Quốc yêu sách vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các các đảo tranh chấp ở biển Đông kể từ những năm 1990 và việc họ kèm một bản đồ vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi đến Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) năm 2009 đã làm dấy lên nhiều quan ngại và tranh luận về ý nghĩa của đường này. Bài viết này xem xét một số cách diễn giải có thể có trong bối cảnh Bắc Kinh chưa có một sự giải thích rõ ràng.

Bối cảnh

Tranh chấp quần đảo Hoàng Sa bắt đầu vào năm 1909 giữa Trung Quốc và Việt Nam, lúc đó do Pháp đại diện, và tranh chấp quần đảo Trường Sa bắt đầu trong thập niên 1930 giữa Pháp và Nhật Bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc mới đề ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Vào năm 1948 Trung Quốc phát hành một bản đồ với đường chữ U, nhưng lúc đó họ không nói đường đó là yêu sách về vùng biển bên trong đường này.

Tranh chấp đối với vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các quần đảo này chỉ mới bắt đầu khá gần đây.

Trong thập niên 1960, Indonesia và Malaysia bắt đầu đưa ra các tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa ở phần phía nam biển Đông, và vào năm 1969 hai nước này đã ký kết hiệp định phân giới. Năm 1971 Việt Nam Cộng Hòa đưa ra yêu sách thềm lục địa có chồng lấn với các yêu sách của Malaysia và Indonesia.

Mặc dù khu vực bên trong đường chữ U chồng lấn với các yêu sách thềm lục địa của Indonesia, Malaysia và Việt Nam Cộng Hòa, cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Bắc Kinh lẫn Quốc Dân Đảng ở Đài Bắc đều không phản đối các yêu sách này, không phản đối hiệp ước năm 1969 của Indonesia-Malaysia, và lúc đó họ cũng không đưa ra yêu sách gì về vùng thềm lục địa đó.

Phải tới thập niên 1990, Bắc Kinh mới bắt đầu phản đối các hoạt động dầu khí của Việt Nam ở khu vực Nam Côn Sơn và khu vực bãi Tư Chính (Vanguard Bank), và vào năm 1992 họ ký hợp đồng khảo sát với một công ty Mỹ cho một khu vực rộng 25.000 km² trong vùng bãi Tư Chính. Kể từ đó, các tuyên bố và hành động của Trung Quốc trong việc đòi hỏi vùng biển nằm ngoài 12 hải lý tính từ các đảo tranh chấp ngày càng thêm quyết đoán.

Trong bối cảnh này, việc Trung Quốc kèm bản đồ có vẽ đường chữ U trong các công hàm gửi cho CLCS năm 2009, mà không có lời giải thích nào về ý nghĩa của đường này, đã làm dấy lên rất nhiều tranh luận. Các chuyên gia và các nhà ngoại giao phỏng đoán về Trung Quốc có ý định yêu sách gì bên trong đường đó, và về Trung Quốc có thể sử dụng đường đó thế nào để biện minh cho yêu sách của mình.

Có bốn cách hiểu về đường chữ U đã được đưa ra và sẽ được xem xét ở đây.

Các cách diễn giải đường chữ U

1. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố rằng Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với các đảo bên trong đường chữ U. Theo luật quốc tế, yêu sách đó sẽ bao gồm thêm lãnh hải 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nếu có, của các đảo này.

Nếu đó là tất cả những gì Trung Quốc đòi hỏi, tức là Trung Quốc không đòi hỏi quyền hạn gì đối với toàn bộ vùng biển bên trong đường chữ U, thì đó sẽ là cách diễn giải đường chữ U ít phi lý và ít phi pháp nhất. Tất nhiên sẽ còn phải xét xem việc Trung Quốc đòi các đảo là có hợp pháp hay không, nhưng nếu đường chữ U chỉ có nghĩa đòi đảo thì nó sẽ chỉ tương đương với việc các nước khác đòi đảo. Tuy nhiên, vấn đề là Trung Quốc không nói đó là tất cả ý nghĩa của đường chữ U.

2. Chính phủ Trung Hoa Dân quốc (tức là nhà chức trách Đài Loan – một chính phủ không được công nhận là đại diện cho quốc gia nào) đã tuyên bố rằng khu vực bên trong đường chữ U là vùng nước lịch sử. Quan điểm này được một số học giả đại lục chia sẻ.

Tuy nhiên, luật quốc tế chưa từng công nhận đòi hỏi nào về các vùng nước lịch sử mà vươn quá xa ra biển và bao gồm một khu vực rộng lớn như vậy. Ngoài ra, không có bằng chứng cho thấy trong lịch sử Trung Quốc đã thực thi chủ quyền trên khu vực được bao bọc bởi đường chữ U. Vì vậy cách giải thích vùng biển bên trong đường chữ U như là vùng nước lịch sử bị luật pháp quốc tế và bằng chứng bác bỏ hoàn toàn. Hơn nữa, vì vùng nước lịch sử thường được bao bọc bên trong đường cơ sở chứ không nằm bên ngoài, việc đòi vùng biên bên trong đường chữ U sẽ không phù hợp với tuyên bố về đường cơ sở do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra.

3. Các công hàm của Trung Quốc gửi cho CLCS năm 2009, liên quan đến các đệ trình riêng và chung của Việt Nam và Malaysia, đòi chủ quyền đối với các “vùng nước liền kề” các đảo trong biển Đông và quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với “các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng”, có đính kèm một bản đồ có vẽ đường chữ U. Nhưng các công hàm này không hề tuyên bố rằng đường này là ranh giới của bất kỳ vùng nước nào. Năm 2011, Trung Quốc gửi CLCS thêm một công hàm khẳng định rằng “quần đảo Nam Sa của Trung Quốc được hưởng đầy đủ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa”. Các công hàm này dường như ủng hộ một cách diễn giải thứ ba: Trung Quốc có ý định đòi hỏi vùng biển bên trong đường chữ U như là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough.

Tuy nhiên, đây chỉ là một suy đoán; không có bất kỳ tuyên bố chính thức nào của Trung Quốc xác nhận suy đoán đó. Hơn nữa, với thực tế rằng hầu hết các phần của đường chữ U đều nằm gần các vùng lãnh thổ không có tranh chấp hơn là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough, Trung Quốc sẽ khó có thể biện minh đường này như là một ranh giới cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ các cấu trúc địa lý này.

4. Vì Trung Quốc chưa sẵn sàng chấp nhận cách diễn giải thứ nhất, và vì cách diễn giải thứ hai và thứ ba rõ ràng là không phù hợp với luật quốc tế, trong những năm gần đây các học giả Trung Quốc đã đưa ra một cách diễn giải thứ tư. Theo cách diễn giải này, yêu sách của Trung Quốc ở biển Đông bao gồm ba lớp. Ở lớp đầu tiên, Trung Quốc đòi chủ quyền đối với các đảo đang bị tranh chấp. Ở lớp thứ hai, họ yêu sách vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phát sinh từ các đảo này. Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa này có thể không vươn ra đến đường chữ U. Ở lớp thứ ba, Trung Quốc đòi “quyền lịch sử” đối với vùng biển bên ngoài 12 hải lý tính từ các đảo, với đường chữ U là phạm vi, hoặc vừa là cơ sở vừa là phạm vi, cho yêu sách này.

Đường chữ U có thể tạo ra quyền lịch sử?

Hai cách diễn giải thứ nhì và thứ tư khác nhau ở điểm: trong cách diễn giải thứ tư, những người đề xuất không đòi hỏi rằng “quyền lịch sử” trong lớp yêu sách thứ ba phải có nghĩa là chủ quyền lịch sử, hay khu vực bao bởi đường chữ U phải là vùng nước lịch sử. Thay vào đó, những người đề xuất cách diễn giải thứ tư đề nghị rằng các “quyền lịch sử này” không có nghĩa là tuyệt đối hay độc quyền, mà chỉ là quyền được chia sẻ, thậm chí có thể là được ưu tiên trong việc chia sẻ, tài nguyên cho tới sát đường chữ U, dù cho vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của những đảo đang trong tình trạng tranh chấp không vươn ra tới đường này.

Bằng cách lùi một bước và không yêu sách vùng nước lịch sử và chủ quyền tuyệt đối cho toàn bộ khu vực bên trong đường chữ U, có lẽ những người đề xuất cách diễn giải thứ tư hy vọng tránh được tính phi pháp của cách diễn giải thứ nhì, trong khi đó vẫn có cớ để Trung Quốc yêu sách việc chia sẻ tài nguyên tới sát đường chữ U, điều mà họ không thể làm được với cách diễn giải thứ nhất.

Muốn cho cách diễn giải thứ tư, tức là lập luận “quyền lịch sử”, có thể hợp lý, cần phải thỏa mãn hai điều kiện. Thứ nhất, từ trước khi Công ước Luật Biển (UNCLOS) ra đời  Trung Quốc phải đã đạt được quyền lịch sử hợp pháp trên vùng biển nằm ngoài khu vực 12 hải lý của các đảo đang trong tình trạng tranh chấp. Thứ nhì, những quyền lịch sử này phải là những quyền được công nhận bởi công ước đó.

Mặc dù đường chữ U xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ chính thức của Trung Quốc từ năm 1948, Trung Quốc chưa bao giờ tuyên bố rằng đường đó thể hiện một yêu sách về quyền hạn trên biển bên trong đường đó. Thậm chí, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã cố ý lờ đi những lời yêu cầu làm rõ về ý nghĩa của đường chữ U này.

Vì vậy, cho tới nay đường chữ U vẫn chỉ là một đường trên bản đồ chưa hề có ý nghĩa, và chưa bao giờ được chính thức đưa ra như là một yêu sách về quyền hạn đối với vùng biển phía bên trong nó. Vì đường chữ U chưa bao giờ được tuyên bố là yêu sách cho những quyền hạn nào đó đối với vùng biển bên trong nó, nó không thể là cơ sở pháp lý cho những quyền hạn đó.

Giả sử vào năm 1948 Trung Quốc có tuyên bố rằng đường chữ U là một yêu sách về các quyền trên biển đi nữa, thì theo luật quốc tế vào thời điểm đó, đường đó cũng nằm cách quá xa với các đảo có tranh chấp để được coi là một yêu sách hợp pháp. Vì vậy, đường chữ U đã không bao giờ có thể trở thành một yêu sách hợp pháp về quyền trên biển, và nó chưa bao giờ được công nhận như vậy bởi bất kỳ quốc gia nào.

Liệu có thể có nguồn nào khác là cơ sở cho quyền lịch sử?

Nếu không phải là đường chữ U thì liệu những hoạt động đánh cá truyền thống bởi ngư dân Trung Quốc có thể được coi là cơ sở cho yêu sách về quyền lịch sử trên biển được không?

Cần lưu ý rằng Trung Quốc chắc chắn không thể nào là nước duy nhất có ngư dân đánh cá lâu đời trên biển Đông. Bởi vậy, giả sử việc đánh cá truyền thống có tạo ra những quyền lịch sử nào đó, thì Trung Quốc cũng không phải là nước duy nhất có những quyền này.

Thêm nữa, trong vụ phân xử về thềm lục địa giữa hai nước Libya và Tunisia, Tòa án Công lý Quốc tế đã phán quyết rằng những quyền lịch sử do các hoạt động đánh cá truyền thống là xuất phát từ một cơ chế pháp lý hoàn toàn khác với và không liên quan tới thềm lục địa. Bởi vậy giả sử những hoạt động đánh cá truyền thống trên Biển Đông có thể là lý do để các nước liên quan thỏa thuận tạo ra một khu vực đánh cá chung đi nữa, thì nó cũng không thể tạo ra cơ sở cho những yêu sách đối với thềm lục địa.

Liệu những tuyên bố hay hành động khác của Trung Quốc có thể được coi là cơ sở pháp lý cho yêu sách về quyền lịch sử trên biển không?

Trên thực tế, khi Indonesia và Malaysia đưa ra yêu sách về thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông vào thập niên 60, khi hai quốc gia này ký thỏa thuận phân ranh giới vào năm 1969, và khi Việt Nam Cộng Hòa đưa ra yêu sách đối với khu vực này vào năm 1971, Trung Quốc đã không hề phản đối. Phải đến tận thập niên 1990 Trung Quốc mới bắt đầu đưa ra yêu sách về thềm lục địa trong khu vực này. Vì vậy, ở phía Nam của Biển Đông, nếu như có bất cứ quyền lịch sử gì đối với thềm lục địa phía ngoài 12 hải lý tính từ các quần đảo có tranh chấp, thì Indonesia, Malaysia và Việt Nam là những nước có những quyền lịch sử đó chứ không phải Trung Quốc.

Cách diễn giải ít phi pháp nhất

Vì vậy, trong khi có thể tồn tại một số quyền hạn mà một quốc gia đạt được trong thời kỳ tiền UNCLOS trên vùng biển nằm giữa 12 và 200 hải lý có thể ảnh hưởng tới sự phân định ranh giới các khu vực có các quyền lợi đối kháng nhau trong thời kỳ hậu UNCLOS, điều đó cũng không biện minh được cho đường lưỡi bò, vì Trung Quốc đã không hề đạt được những quyền đó.

Kết luận lại, trong ba cách diễn giải về đường chữ U như cơ sở hay giới hạn của những yêu sách đối với toàn bộ vùng biển trong nó (bao gồm yêu sách về vùng nước lịch sử, yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, hay là yêu sách về quyền lịch sử đối với các nguồn tài nguyên), không có cách diễn giải nào có đủ cơ sở pháp lý.

Cách diễn giải ít phi pháp nhất cho đường chữ U là đó chỉ là một yêu sách đối với các quần đảo bên trong đường đó. Tất nhiên dù cách diễn giải thứ nhất là ít phi pháp nhất thì cơ sở pháp lý của nó cũng vẫn yếu hơn cơ sở pháp lý của Việt Nam về chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng đó là một đề tài khác. Vấn đề ở đây là cơ sở và phạm vi của bất kỳ yêu sách nào về quyền trên biển cần phải được bắt nguồn từ các quần đảo dựa theo UNCLOS và các phán quyết trước đó của tòa án về phân định biển, chứ không phải từ đường chữ U.

TS. Dương Danh Huy (bài tiếng Anh đăng trên Asia Sentinel)

Phạm Thanh Vân, Phan Văn Song (dịch)

Đức Tin Trong Nguồn Thơ Hàn Mạc Tử – VHNA

5 Th10

Đức Tin Trong Nguồn Thơ Hàn Mạc Tử

Đặng Tiến

 
Hàn Mạc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912, tại thị xã Đồng Hới, chính xác là làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình công chức, công giáo thuần thành.

Rửa tội tại giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, ngày 25-9-1912, tên thánh là Phan xi Cô (François). Thêm sức tại nhà thờ Quy Nhơn, 1933, dưới tên Phan xi cô Xa- viê.

Học tại Quảng Ngãi, Qui Nhơn. Ra Huế, học trường thầy dòng Pellerin (Bình Linh) xong năm thứ nhất bậc trung học, 1930, thì thôi học. Về ở Quy Nhơn. Làm sở đạc điền được ít lâu, sau bỏ sở. Vô Sài Gòn, 1934, làm báo một thời gian, trợ bút cho báo Sài Gòn, rồi trở về Qui Nhơn 1936, khi sức khỏe sa sút.

Bắt đầu làm thơ Đường từ năm mười lăm tuổi, ký nhiều bút hiệu: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh. Từ 1935 chuyên làm thơ mới, ký Hàn Mặc Tử, cuối cùng là Hàn Mạc Tử. Đã đăng thơ trên các báo Phụ nữ Tân văn, Sài Gòn, Trong khuê phòng, Đông Dương tuần báo, Tân thời, Người mới.

Chứng bịnh phong cùi hiểm nghèo buộc ông phải sống ẩn tránh, trong đau đớn cả tinh thần, thân xác lẫn vật chất, nhưng đã đem đến cho Hàn Mạc Tử nhiều thi tứ đặc biệt, thanh thoát, như một vùng trú ẩn cần thiết cho cõi linh hồn đau khổ triền miên.

Thi phẩm đã công bố : Gái Quê (Tự xuất bản, in tại nhà in Tân Dân, Hà Nội,1936, 34 bài thơ, tựa của Phạm Văn Ký); Thơ Hàn Mạc Tử (Tuyển tập, nxb Đông Phương, Hà Nội, 1942, tranh vẽ của Phạm Tú. Nhà Tân Việt, Sài Gòn, tái bản, 1959).

Tại trại phong Qui Hòa, ngoại thành Quy Nhơn, Hàn Mạc Tử trút linh hồn ngày 11 tháng 11 năm 1940, hưởng dương 28 tuổi, được mai táng ngay hôm đó tại nghĩa địa trại Quy Hòa.

Số phận ngắn ngủi của ông là một thiệt thòi lớn cho nền văn học đất nước, vì ông được coi như một nguồn thơ tinh khôi và kỳ lạ bậc nhất trong thi ca hiện đại.

Đặc biệt là nguồn thơ cảm hứng từ đức tin Thiên Chúa, và phản ánh đức tin này qua tác phẩm, là đề tài cho chuyên luận dưới đây.

Cuối 1942, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: ‘Từ ngày Hàn Mạc Tử từ trần đến nay, mới trong khoảng hai năm trời mà người ta đã nói rất nhiều, viết rất nhiều về Hàn Mạc Tử”. [1]

Và đến nay, bao nhiêu giấy mực đã được dành cho nhà thơ bạc mệnh. Có lẽ ở miền Nam, Hàn Mạc Tử là thi sĩ được nhắc nhở nhiều nhất. Nhưng e rằng dù vậy sự hiểu biết của chúng ta về thi tài đó vẫn không tiến bộ được bao nhiêu. Có lẽ lại lùi lại nữa là khác. Năm 1941, Hoài Thanh muốn nói đến Hàn Mạc Tử đã hỏi mượn thơ do Trần Thanh Địch giữ[2]. Cùng năm đó, khi viết cuốn Hàn Mạc Tử, có lẽ Trần Thanh Mại cũng dùng nguồn tài liệu đó, tức là của em mình. Ngày nay, 1970, ngoài tập Thơ Hàn Mạc Tử mỏng manh của nhà xuất bản Tân Việt tái bản 1959, chúng ta không còn thi liệu nào khác. Chính Quách Tấn, bạn thân, ân nhân, người đã được nhà thơ ký thác trọn vẹn tác phẩm, cũng tỏ vẻ không có nhiều tài liệu hơn chúng ta. Trong bài nói về nhà thơ quá cố đăng trên Văn, Quách Tiên sinh, khi trích thơ Hàn Mạc Tử đã làm một việc mà ai cũng làm được, như Vũ Ngọc Phan đã làm, nghĩa là trích từ tập thơ in 1942 kia, hay trích lại của Trần Thanh Mại và Hoài Thanh – trừ vài bài tứ tuyệt không mấy quan trọng. Nhưng ông ấy may mắn có được đọc tập Gái Quê, xuất bản vào sinh thời tác giả. Lý do rất giản dị: chiến tranh đã làm thất lạc hết tài liệu, mặc dù Quách Tấn giữ gìn cẩn thận, sao nhiều bản gửi Bộ Giáo dục Nam triều thời đó và tất cả ban bè của Tử[3].

Như vậy trong mọi hành trình vào tác phẩm của Hàn Mạc Tử, chúng ta sẽ giẫm chân tại chỗ, đua nhau kể cuộc đời ái tình và sự nghiệp của nhà thơ – dĩ nhiên là éo le gay cấn, nhưng không giúp hiểu thêm trước tác, sức sáng tạo thi ca, được bao nhiêu . Dù cho một vài bài quan trọng, như của Quách Tấn trên số báo Văn thượng dẫn, ngoài việc đưa ra một số sự kiện chung quanh việc sáng tạo của Hàn Mạc Tử còn bổ chính nhiều điều do Trần Thanh Mại đề xuất trong cuốn biên khảo về Hàn Mạc Tử [4] xưa nay vốn là tài liệu tham khảo căn bản cho mọi người.

Về cuộc tranh tụng giữa hai họ Quách và Trần năm 1942, thì chúng tôi không có ý kiến gì. Nhưng xin tán đồng Quách Tấn về hai điểm: thứ nhất là Trần Thanh Mại ẩu, thứ hai là ông không hiểu thơ, và cứ ưa phê bình thơ, và Vũ Ngọc Phan cũng đồng ý như vậy [5]. Tuy nhiên, nếu không có cái ẩu, cái trích dẫn bừa bãi của họ Trần, thì các nhà nghiên cứu về sau – kể cả Quách Tấn – lấy đâu ra thơ Hàn Mạc Tử để tham khảo, sau khi người giữ bản quyền để thất lạc hết di thảo ?

Tưởng khi nói chuyện ba mươi năm về trước, Quách Tiên sinh không nên chua cay mới công bình[6].

Chúng tôi trình bày những khó khăn về tài liệu đó là có ý rào đón những thiếu sót trong bài này, khi đề cập đến một đề tài hệ trọng và bao quát : đức tin Thiên Chúa giáo trong thơ Hàn Mạc Tử. Chúng tôi không khám phá ra điều gì mới mẻ, mà chỉ khai triển một nhận xét của các ông Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, cách đây mấy mươi năm. Chúng tôi chỉ đào sâu thêm tác phẩm để có một cái nhìn nhất quán trên toàn thể thi phẩm. Thay vì trích dẫn những câu có hình thức tôn giáo như Maria, linh hồn tôi ớn lạnh, thì chúng tôi mong chứng minh là cấu trúc toàn bộ của thơ Hàn Mạc Tử , phần nào, đã vang vọng lời truyền giảng của Phúc Âm.

Bài này chia làm nhiều phần :

– Nhận định tổng quát

Gái Quê : thế giới đợi chờ

Đau Thương : con người sáng tạo và mơ ước

– Xuân như ý : Thế giới khải huyền.

“Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. ..Thôi mời cô cứ vào… ánh sáng lạ trong thơ tôi..”[7]

Đối với Hàn Mạc Tử thơ và đời sống là một, bất khả phân, nhất là khi lâm trọng bệnh. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú (tr. 8). Tác phẩm của Hàn mang tên là Thơ Điên, sau đổi là Đau Thương vì nó là Đau Thương, là “kinh nghiệm trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận”[8].

Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Có lẽ ông là người Việt Nam Nam ca ngợi Thánh nữ Đồng trinh Maria và Chúa Jésus bằng thơ trước nhất. Ông ca tụng đạo Gia-tô rất chân thành. Lần này cũng là lần đầu, thi ca Việt Nam thấy được một nguồn hứng mới”[9]. Hoài Thanh nới rộng đến tương quan giữa tôn giáo và dân tộc, “Thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng tỏ đạo Thiên Chúa ở xứ này tạo ra cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể”. Nhận xét này của một kẻ “thiếu lòng tin, du khách bỡ ngỡ”[10] là Hoài Thanh mang ý nghĩa đặc biệt : trong Gia-tô giáo Việt Nam, niềm tin Thiên Chúa đã nhập vào tín ngưỡng thuần túy Việt Nam. Và thơ Hàn Mạc Tử minh chứng điều đó : một đức tin Việt Nam ở Thiên Chúa, diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói Việt Nam, mà ngôn ngữ thi ca là thành phần tinh túy. Đó là điều chúng tôi muốn trình bày qua một bài báo ngắn

Duy chỉ khai triển thêm một ý của Hàn trong lời tựa tập Đau Thương, viết năm 1938: Người đang say sưa đi trong Mơ uớc, trong Huyền diệu, trong Sáng láng và vượt hẳn ra người Hư linh…(tr. 7) trong đó người đọc gặp lại những chủ đề cương lĩnh của Kinh Thánh: một vũ trụ ngây thơ đổ vỡ vì nguyên tội; những khổ hạnh của thân xác như một kinh nghiệm của Mơ Ước và Huyền Diệu, để vươn tới một thế giới khác, sáng láng ngoài Hư linh, thế giới của Phục Sinh, của Khải Huyền. Ba giai đoạn đó là cơ cấu của nguồn thơ Hàn Mạc Tử.

Vũ trụ Gái Quê đã sụp đổ trong Đau Thương mà nhà thơ đã chịu đựng để đợi sống lại một mùa Xuân Như ý.

Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu người là cao cả, vô biên và vô lượng; chung quanh người là mơn mớn với yêu đương…( Tựa Đau Thương)

Những dòng mở thi phẩm không khỏi làm ta nhớ đến thiên Sáng Thế Ký mở đầu Cựu Ước. Nhưng vườn, đây không nằm ở hướng đông như vườn Eden (“Gen II.8”), mà chỉ là một vườn mơ, bến mộng, niềm nhớ nhung đằng đẵng về một hạnh phúc nguyên thủy. Hạnh phúc của nguồn trong trẻo mà loài người phải từ giã ra đi, và bị cấm cản đường về (“Gen III, 24”). Nguồn ở đây là dòng sông trước khi chia làm bốn nhánh, tưới vườn Eden bằng tình yêu cao cả, vô biên và vô lượng, chưa bị giới hạn vì nguyên tội, khi con người chưa khó nhọc, chưa đổ mồ hôi, chưa biết chông gai và mùi cát bụi (“Gen III 17, 18 và 19”). Bài tựa 1938 của Hàn Mạc Tử đã mơ ước khôi phục lại mùa xuân trinh nguyên của ngày sáng thế, đầy thinh sắc, tinh hoa và châu báu, như nhũ hương và bích ngọc bên bờ nhánh sông thứ nhất (“Gen II, 12”). Thơ Hàn, cũng như lòng lê thứ, nói như Pascal, là niềm hoài vọng bất lực về một hạnh phúc sơ khai, một tráng lệ đã phôi pha

Còn đâu tráng lệ những thời xanh
Mùi vị thơm tho một ái tình
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi
Ít nhiều hơi hướm của kiên trinh

Sau khi phạm trái cấm, loài người không mang nguyên tội ra khỏi địa đàng rồi dựng lại một bình an khác. Với tội kiêu căng, loài người phải chịu bao nhiêu hưng phế: từ Hồng Thủy cho đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa hủy tháp Babel, thành Sodome và Gomorrhe, bao nhiêu lớp bụi phế hưng đã lấp mất cánh đồng xanh lẫn “ ít nhiều hơi hám của kiên trinh”

Hồn xưa tự ấy không về nữa
Ở cõi hư vô dấu đã chìm

Dân Do Thái, lưu linh còn hy vọng có ngày tìm về đất Hứa, còn con người đã vĩnh viễn đánh mất tất cả tráng lệ của thời xanh. Nhưng thơ Hàn Mạc Tử vẫn là mơ ước, một đón đợi, như Cựu Ước là sự chờ đón đấng Cứu Thế. Trong Gái Quê và những bài đầu Đau Thương, thơ là niềm mong đợi

Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về

Ngày xuân mong đợi đó còn thuần lương, là một mùa xuân ngoại đạo – một thứ printemps paien- hồn nhiên và vô tư lự, như tất cả những hội hè của mùa xuân Việt Nam.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý – Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
— Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Cái hồn hậu đó, như Hoài Thanh đã nói “chỉ là một mùa xuân đầu năm”[11], tôi nói thêm là một thế giới đợi chờ để nở lên một mùa xuân sáng thế “hồi trời đất mới dựng lên” hay mùa xuân tái tạo “ra đời một lần với chúa Jesus”.

Khác biệt đó không có gì mâu thuẫn và Hoài Thanh cũng không cần ngại người đồng đạo với nhà thơ sẽ khó dễ vì một hai dấu tích Phật giáo còn sót lại. Quách Tấn còn cực đoan hơn: “Tôi nhận thấy vang bóng của đạo Phật có phần đậm hơn Thiên Chúa”[12]. Sự phân lượng e rằng khó cân đo chính xác nhưng vết tích Phật giáo và ngay cả Lão giáo, Khổng giáo trong thơ Hàn Mạc Tử đậm đà, từ trong rung cảm đến ngôn ngữ. Điều đó không có gì là nghịch lý cả; hạt mầm Thiên Chúa giáo, khi nảy nở trên đất Việt Nam thì tự nhiên thích ứng với khí hậu, phong thổ. Gần đây, tình cờ tôi có đọc tác phẩm của linh mục người Pháp, Jacques Dournes nói về việc truyền giáo tại bộ lạc Jorai, Tây nguyên Trung Bộ. Sách có nhiều điểm tế nhị và sâu sắc, nhằm bảo vệ truyền thống một thị tộc: “Cơ quan hành chánh phát cho dân Jorai hạt giống bông vải gốc Phi châu, năng suất cao hơn giống địa phương; dân Jorai đã gieo hái, nhưng chỉ một lần thôi rồi không tiếp tục. Lý do là họ phải nhuộm chỉ trước khi dệt, và thuốc nhuộm làm bằng lá cây của họ không ăn vào chỉ bông nhập cảng. Họ lại trở lại với giống bông cũ. Từ đó tôi không quên bài học bông vải”[13]. Và khi viết bài này, tôi lại càng không dám quên bài học quý hóa của một vị linh mục ngoại quốc, về sau đã có thêm nhiều đóng góp về hiểu biết các bộ tộc anh em ở Tây Nguyên.

Theo Quách Tấn, gia đình Hàn Mạc Tử (dường như) theo đạoThiên Chúa từ đời nội tổ Tử, tên Phạm Bồi, vì liên can quốc sự nên dời quê, được một linh mục Pháp đỡ đầu, vào lập nghiệp tại Thừa Thiên. Thân sinh Hàn Mạc Tử là Nguyễn Văn Toản đổi sang họ Nguyễn ; học Đại Chủng viện Huế, đến chức Thầy Tư rồi bỏ ra đời[14] làm công chức ngạch thương chính. Ông sinh hạ được sáu người con và đặt tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Hiếu. Dài dòng như vậy là để trình bày không khí và giáo dục gia đình nhà thơ, thấm nhuần nho giáo, một mảnh đất mới đang hấp thụ đức tin Ki Tô giáo, đang dần dần thấm nhuần ơn trìu mến.

Tôi là trăng cổ độ
Lượng trời rộng bao la

Phải, lòng chàng là bến đợi. Trong những kích thước mông mênh; có thể là một trời thu man mác; có thể là hàng cau nắng mới lên; thường thường là một đêm trăng sao đắm đuối. Vâng, như đón từ xa. Như đợi từ xa:

Cho ta nhận thấy không đền đáp
Ơn trọng thiêng liêng xuống bởi trời.

Nhưng chàng đã đền đáp. Bằng tất cả. Đau thương: tiếng Thơ và cuộc Sống. Chàng đã đem cuộc đời để trả lời ơn phước cả đang ngân vang trong màu nhiệm phủ ban đêm, một tiếng gọi của thượng tầng không khí. Từ lúc nhận điềm có tiên tri thì vũ trụ trong Gái Quê và nhũng bài Đau Thương đầu tiên nhuốm ý thức nguyên tội, người lương sẽ gọi là mặc cảm tội lỗi. Những bài đó gợi cảm giác có tội trước khi phạm lỗi. Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đồng ý rằng tập Gái Quê thiên về dục tính; có lẽ ta cần minh định thêm về khuynh hướng ấy. Một người chỉ xin hoa đền ngựlòng ni cô thì dục tính… đi tới đâu? Tôi xin giải thích thêm về điểm này:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô

Tại sao trăng lại phải thẹn thò? Thẹn thò là cảm giác của Adam và Eva khi lấy lá che thân lánh mặt Đức Chúa Trời (“Gen III, 7-8”) sau khi ăn trái cấm. Họ thẹn thò vì phạm lỗi. Còn Trăng việc gì mà phải thẹn thò nhất là khi mới lớn lên? Sự thẹn thò của thân thể, con người đã thừa kế của Adam, cho nên ta mới có thể nói : không khí rạo rực trong Gái Quê là di sản của nguyên tội. Những câu thơ mà Vũ Ngọc Phan cho là “ gợi tình, thiên về xác thịt”[15] là một dục vọng, nhưng đồng thời cũng là một cấm đoán, một lãnh cảm:

Da thịt trời ơi trắng rợn mình.

Hàn Mạc Tử nhắc đến tình ái của ni cô, hay da thịt của nàng dâu để gợi lên cái vô tội của con người trong một thế giới đã hư hỏng vì nguyên tội, mà mình phải gánh chịu. Ngay trong giáo lý, dục tính, tự nó, không phải là tội lỗi: “Đó là một căn bệnh, chứ không phải tội lỗi. Tuy nhiên căn bệnh đó là hình phạt của tội lỗi”[16] tác giả muốn nói đó là nguyên tội; và “ dục tính, bản năng sinh lý như ta thường thấy là tiếng gào phản kháng của một hình hài bị thương tổn”[17]

Nhà thơ dự phóng những rạo rực của bản năng ra ngoài vũ trụ; cái nhìn của chàng vuốt ve, mơn trớn với yêu thương, tất cả tạo vât. Từ ánh trăng, đến cành liễu, mặt hồ, cơn gió, cho đến bài thơ của người yêu, tất cả đều nồng nàn da thịt, tất cả đều tương giao trong nguồn ái ân ràng rịt trăm giây quyến luyến:

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Cây lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi

Dục tính trong đoạn thơ nằm trước hết trong cách chọn chữ gợi tình, khi đi đôi với nhau như trăng và gió, trong thành ngữ phong nguyệt hay gió giăng. Hoặc trăng và hoa, hoặc liễu và hoa; trong những hình ảnh nguyệt hoa hay ghẹo nguyệt trêu hoa, hay liễu ngõ hoa tường. Hay hình ảnh “ nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng” trong thơ xưa.Đoạn thơ lại khêu gợi bằng những hình ảnh táo bạo đến suồng sã như nằm sóng soải, lả lơi, ngây tình; cuối cùng cơn mê đắm còn biểu lộ trong những ý tưởng lộ liễu. Tất cả những chữ, hình ảnh, ẩn dụ, những ý tưởng đó giao thoa thành một không khí lả lơi, vừa cợt nhả vừa tinh tế, tuy có suồng sã nhưng không phải là không khéo léo. Thơ gợi dục tính của Hàn Mạc Tử, cùng với thơ Bích Khê, bạn thân của Hàn, dường như là môn đệ, có lẽ táo bạo bậc nhất trong thi ca mới; cái tài tình của Hàn, khác với Bích Khê, là táo bạo đến đâu vẫn còn nét ý nhị.

Một cử chỉ, câu nói sống sượng khi tự nó, nó nói hết những điều muốn nói, và đôi khi còn nói luôn những điều không nói. Ở Hàn Mạc Tử – ít ra ở những bài còn lưu truyền đến ngày nay – dù hở hang đến đâu, vẫn còn úp mở của một ngôn ngữ ý nhị và tình tứ. Chúng ta không còn những bài thơ như Hát Giã Gạo trong tập Gái Quê đã làm cho Vũ Ngọc Phan “ lợm giọng”, nhưng dù muốn hay không, ta phải công nhận nhà thơ có một quan niệm luyến ái thánh thiện, lành mạnh đến bệnh hoạn:

Cho nên tôi tưởng tối tân hôn
Chưa tới, còn xa để được buồn
Để sống trong niềm thương nhớ đã
Để còn mường tượng đến giai nhân

Đọc Hàn Mạc Tử ta có cảm giác một sự giằng co giữa con người phóng túng và con người khắc khổ? Cái giọng tình của Hàn, dù có cợt nhã, cũng chỉ tả một thứ tình hàm thụ, lối ái ân không tưởng, trong môi giới giữa nhân sinh và tạo vật. Nói gọn hơn, nó không thể thỏa mãn, trong một thế giới không tự mãn.

Vì vẫn còn là một thế giới đợi chờ Điềm Lạ, trong lòng vũ trụ còn say chìm nơi bất giác, nhưng đã được các tiên tri chuẩn bị để đóng mừng Ngôi Hai.

Hàn Mạc Tử mô tả thế giới đợi chờ, trước hết bằng di sản hồn nhiên của một nền văn hóa ngoại đạo nhưng niềm nở và hướng thượng, thứ đến bằng đức tin nuôi dưỡng trong Phúc Âm; hai phụ lưu sung mãn đó đã đổ vào hồn thơ Hàn Mạc Tử, như một dòng sông vừa nhận được cơn nước nguồn thác lũ bỗng phải vượt qua một địa thế hiểm nghèo: chứng phong nan y đã biến hồn thơ hồn hậu thành một cuồng lưu khốc liệt, nếu không phải là một vùng nước xoáy.

Đau thương. Tên một tập thơ, và tên một định mệnh. Hay tiếng gầm rú của một cuồng lưu lâm vào tuyệt địa. Chúng ta nói qua sự đau thương trong cuộc đời. Rồi trong thơ.

Hàn Mạc Tử nhuốm bệnh từ năm 1936. Hăm bốn tuổi, tuổi anh hoa đang phát tiết “Khi biết mình đang mang bệnh hiểm nghèo, Tử hết sức đau đớn, đau đớn đến phát điên. Thường ngày trong cơn thác loạn nổi dậy, khi nhiều khi ít. Nhưng ngày rồi ngày, nỗi đau khổ hết phát hiện ra ngoài một cách bồng bột, thì lại ăn sâu vào tâm hồn ngấm ngầm nung nấu nạn nhân, nung nấu đến tột độ”[18]. Hàn Mạc Tử nhiều lần mô tả những đau đớn của thân xác:

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng.
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên

Bên cạnh những hành hạ của bệnh trạng, Hàn Mạc Tử còn phải đương đầu với hai hậu quả khác của hoàn cảnh: nghèo túng và tuyệt vọng vì tình. “Hiện Trí về tạm ở nhà. Cái nguyên nhân là không tiền uống thuốc. Bữa nay Trí xuống nhà bà thầy thuốc rồi. Có một mái nắng rọi nhiều quá. Cả chiều nếu ở trong nhà thì phải đội mũ”[19] . Chúng ta còn có nhiều tài liệu khác về nỗi cùng khốn của nhà thơ qua những bức thư gửi Trần Thanh Địch, do Trần thanh Mại trích dẫn.

Về cuộc tình duyên đau khổ với Mộng Cầm, chúng ta cũng có nhiều tài liệu. Đại khái hai bên yêu nhau khăng khít, thề bồi dữ dội lắm, hẹn hò nhau từ Phan Thiết ra đến Qui Nhơn; khi Hàn Mặc Tử chịu tang cho anh, thì Mộng Cầm tự xin phép được “ thành tâm cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh” vì “ người cầm bút biên mấy hàng trên đây là người em dâu chắc chắn, nhất định của anh rồi. Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu”[20]. Khi biết chàng lâm trọng bệnh, thì nàng “thề” bồi lại một lần nữa đậm đà hơn”, để rồi sáu tháng sau nàng đi lấy chồng. Trần Thanh Mại cho rằng nàng không đáng trách, “duy có cái nàng lấy chồng hơi gấp đấy thôi”[21]. Quách Tấn cũng cho biết là thái độ của Mộng Cầm đã gây ra cho nhà thơ “ một nỗi buồn thương vô hạn”, “một phản ứng mãnh liệt”, những tiếng kêu rên thống thiết”[22].

Nghệ hỡi Nghệ muôn năm sầu thảm,
Nhớ thương còn một nắm xương thôi,
Thân tàn ma dại đi rồi,
Rầu rầu nước mắt, bời bời ruột gan.

( Mộng Cầm tên thật là Huỳnh Thị Nghệ)

Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói?
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng?

Trần Thanh Mại, tr 95

Tiếng kêu trầm thống đó chất chứa cả kiếp cùng khốn vật chất lẫn tinh thần, cho đến ngày bị bệnh tàn phá đến thảm thê, theo như một người bạn, cùng bị hủi, kể lại “hai mắt nằm lọt vào sâu hai lỗ hũm sâu hóm, đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc lấy xương, chân tay thì co rúm lại, mà đầu tóc thì bù xù rối trết lại từng về, trong ấy nhô nhúc những chí là chí” (thư của ông Nguyễn Văn Xê, để lại Qui Hòa ngày 25-6-1941)[23]. Chúng ta tưởng không có gì thê thảm hơn tình trạng băng hoại đó. Ấy thế mà Hàn Mạc Tử can đảm chịu đựng nữa là đằng khác: “tuy hơi cực khổ thế mà tôi vẫn an vui, ngày nào cũng có cười cả. Nếu không cười với ai, thì cười một mình, xem ra thú vị không biết mấy”[24]. Một tự tình chua xót.

Niềm an vui kia, Trần Thanh Mại, người biết cuộc đời thật của nhà thơ cho là “yêu quái” là “kinh dị”. Còn Vũ Ngọc Phan chỉ biết Hàn Mặc Tử qua một số thi phẩm cũng không khỏi ngạc nhiên: “một người mang bệnh rất đau đớn mà có một tâm thần thư thái, bình tĩnh như thế, thật cũng lạ”[25]. An vui của Hàn Mặc Tử không phải là cay đắng, gượng gạo, có khi nổ tung ra trong những câu thơ hơn hớn:

Hôm nay vui quá anh Phùng ơi
Buồn xa không đến lệ không rơi
Buồn không thắt ruột, tình không lại
Cười nói làm sao cho hả hơi?
(Trần Thanh Mại trích, tr 122)

Biết đâu là Đau thương giam cầm không kỹ, thoát lọt ra trong một biến trạng dị kỳHọ Trần cho là “quái gở, thật đáng rùng mình ”. Sở dĩ ông không hiểu can đảm của bệnh nhân, có thể là ông không hiểu được sức mạnh của đức tin trong con người Hàn Mạc Tử. Khi đề cập đến vấn đề này, Hoài Thanh, cũng là người ngoại đạo, nhưng tinh tường hơn Trần Thanh Mại, thừa nhận ngay “Thiếu lòng tin tôi chỉ là du khách bỡ ngỡ”[26] còn họ Trần thì cứ phán đoán ầm ĩ cả lên. Nhưng nhờ có ông mà chúng ta có được một dữ kiện về đời sống tín ngưỡng của nhà thơ: “ Trong khi sưu tầm tài liệu của nhà thi sĩ, tôi tìm thấy trong một nhà trọ của chàng, một mẩu báo dán trên khung cửa sổ tre, đã nhàu nát vàng vọt, và nhìn lối in chữ và hình ảnh tôi biết ngay là báo Vì Chúa. Đoạn bài đăng trên mẩu báo ấy nói về nguồn an ủi trong bệnh tật cho rằng sự đau ốm là do đức Chúa Trời ban xuống cho ta, để thử lòng ta, nên chẳng những là ta phải chịu một cách nhẫn nhịn mà còn nên vui vẻ bằng lòng nữa”[27].

Căn cứ trên đoạn này tôi cho rằng tác giả không mấy thông thạo giáo lý Gia- tô giáo. Nếu bài báo ấy có thật – Vì họ Trần mãi cho đến ngày nay ở Hà Nội vẫn có cái cố tật là ưa bịa đặt tài liệu.[28] – thì chúng ta tiếc rằng họ Trần không trích dẫn chính xác, cho biết rõ xuất xứ, tìm xem báo Vì Chúa số mấy, ngày mấy, hoặc ít nhất cũng cho ta nguyên văn. Vì theo kiến thức thô thiển của tôi, thì không có kinh sách nào dạy rằng “đau ốm là do Chúa Trời ban ” và chúng ta phải “vui vẻ bằng lòng”.

Nhưng vấn đề ở đây không phải cãi nhau về giáo lý, vừa ngoài phạm vi bài viết và thẩm quyền của tôi. Điều quan trọng là, Trần Thanh Mại đã nói, đức tin “ đã ảnh hưởng tốt đẹp đối với chàng”. Quách Tấn xác nhận điều này: “Tử tìm được nguồn an ủi lớn nhất trong nguồn Đạo. Khi đã sống cùng Đạo thì tâm hồn Tử hết bị ray rứt dày vò”[29].

Chính nhà thơ đã kể lại một ngày bệnh tật của mình: “ Lại đọc kinh, lại ngâm thơ, lại làm thơ, lại nhớ, lại nằm. Buổi tối ăn xong, cũng vừa đi bách bộ vừa ngâm thơ một cách sung sướng nhất đời. Cả ngày chỉ ngâm thơ và đọc kinh là nhiều hơn cả. Ngày nào cũng như ngày ấy, không thấy buồn lắm, và ngày nào cũng mong mỏi một cái gì”[30].

Đối với Hàn Mặc Tử, Thơ là Đạo và Đạo là Thơ, Thơ đã đạt tới Đạo và Đạo để đi tới Thơ, hoặc như Hoài Thanh đã nhận xét chí lí “Thơ chẳng những ca tụng Thượng Đế mà cũng để nối liền người ta với Thượng Đế”[31].( Sau này có chuyên gia thần học đã lưu ý : danh xưng Thượng Đế không phù hợp với giáo lý Ki Tô giáo, mà là danh xưng thường gặp trong Lão giáo, mặc dù Hàn có câu “ giàu sang hơn Thượng Đế.”)

Thơ đưa về Đạo, là nẻo đường đưa đến Con Đường. Thơ là giải pháp tạm thời của Đau Thương, trong khi chờ đợi Đạo và Cứu Rỗi miên viễn. Ngày nào cũng mong mỏi một cái gì. Nếu Gái Quê, như tôi đã trình bày ở đoạn trên, là thế giới đợi chờ Điềm Lạ, đợi chờ Chúa Ra đời thì Đau Thương là một tâm hồn mong mỏi Ngày Chúa trở lại (“Mt” 24-22) Hàn Mặc Tử chấp nhận bệnh tật không phải là vì “do đức Chúa ban xuống” như Trần Thanh Mại đã nói; nhưng trước hết vì nó là hậu quả của nguyên tội và thứ đến vì nó là phương tiện thân xác mà Chúa đã dùng để cứu thế. Linh mục Charles Journet, giáo sư Đại Chủng Viện Fribourg đã trình bày vấn đề một cách mạch lạc và nhất quán trong tác phẩm về thống khổ: “Chúng ta xem khổ ải của thân xác như một mãnh lực hợp – cứu- thế vì chúng ta dự vào đau đớn của Chúa Ki tô và trong sự tham dự của chúng ta. Như vậy không nên nói đến chấp nhận Đau Thương mà chỉ nên nói đến gia nhập vào công đức cứu rỗi; chúng ta không chấp nhận (accepter) vì nó là một định luật của thể xác; chúng ta thu nhận (adopter) vì nó nối liền bản thân Thiên – Chúa – hiện – làm – người.”[32]

Đoạn trên rọi sáng lời truyền dạy của sứ đồ Saint Paul trong thư gởi cho người La-Mã: “Những khổ hiện tại không có nghĩa lý gì so với những vinh hiển phải được thể hiện trong mỗi chúng ta. Mỗi hình hài chờ đợi là một khát vọng sự thể hiện con cái đức Chúa Trời, với Mơ Ước được giải thoát ra khỏi hư nát, và đạt tới tự do vinh hiển của con cái đức Chúa Trời. Vì chúng ta biết rằng hình hài, đến nay vẫn rên xiết trong công trình thai nghén” (“Rom”, VIII, 18-32). Đau Thương hôm nay là thai nghén cho ngày mai, thai nghén một mùa Xuân như ý, Người Ki Tô giáo quan niệm đau thương như một huyền nhiệm, nhưng hữu hạn, trước Chúa Trời là một huyền nhiệm, vô hạn.Tôi thành thật nghĩ rằng Hàn Mạc Tử đã bình an được trong Đau Thương – một hoàn cảnh thể xác, vật chất và tinh thần làm chúng ta rùng mình – là nhờ huyền nhiệm đó, nhờ sức mạnh của xác tín. Có lẽ xác tín đó, cộng với bệnh trạng, đã tạo một linh thị cho nhà thơ. Trần Thanh Mại và Quách Tấn đồng ý “ là mỗi lần chàng chết đi sống lại (trong mấy năm bệnh chàng bị chết đi sống lại bốn đến bốn năm lần) và chàng đều cảm thấy có bà Thánh Nữ Đồng Trinh Maria đến cứu”[33]. Theo Quách Tấn thì bài thơ trứ danh “ Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh” được viết khi Tử sống lại, trong cảnh đó[34].

Dù cho rằng mộng mị chỉ là một biến thể của bệnh trạng, thì dưới ánh sáng của khoa phân tâm, ta có thể đi đến cội rễ của mộng mị, dù xa lạ đến đâu. Cội rễ ở đây, là xác tín trong tâm hồn Hàn Mạc Tử, người đã cam chịu hư nát để chuẩn bị cho một vinh hiển. Thật ra, niềm tin vào cuộc sinh tồn mai hậu, của linh hồn, ở một thế giới khác, không phải đặc biệt của Thiên Chúa giáo. Trong hầu hết các tín ngưỡng tự nhiên của dân gian, nước nào cũng vậy, đều có mầm hy vọng của một đời sống khác. Chỉ nói đến vòng đai tôn giáo chung quanh địa lý Thiên Chúa giáo, chúng ta có thể kể đến tư tưởng Assyrien, Babylonien, và nhất là Ai – Cập, đều có niềm tin đó, như muốn: ra không gian và vượt hẳn thượng tầng. Đức tin của Hàn Mạc Tử không phải ở chỗ mong hồn tới tấp ở ngoài kia vũ trụ, mà ở chỗ tìm gặp Một Người ở cõi quá thinh gian; Hàn Mạc Tử tìm tới chốn chiêm bao ngoài sự thực, không phải vì chiêm bao đẹp hơn sự thực và “ứ đầy khoái lạc”. Mà chỉ :

Vì có đấng hằng Sống, hằng Ngự Trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh

Bài “Ngoài vũ trụ”, mà tôi đã trích các câu trên, tiếp theo hai bài “Hồn lìa khỏi xác” “Siêu thoát” soi sáng ý nghĩa của những bài Đau Thương và báo hiệu cho Quần Tiên Hội, Cẩm Châu Duyên Xuân Như ý.

Vậy ta có thể đề cập đến một kiến trúc trong thi phẩm của Hàn Mặc Tử không? Chúng ta biết rằng sự sắp xếp thứ lớp trong tuyển tập Thơ Hàn Mạc Tử, 1942 hay 1959, không phải do thi sĩ, mà những người phụ trách tái bản thơ ông, tức là Quách Tấn hay Hoàng Trọng Miên gì đó. Do đó, không ai dám dựa trên trật tự cụ thể của tập thơ để nói đến kiến trúc, như Marcel Ruff đã nói về “ kiến trúc bí mật, architecture secrète” khi trình bày nhất quán thi phẩm Hoa tội lỗi, Les Fleurs du Mal của Baudelaire. Tôi vẫn theo lối sắp xếp trong ấn bản Tân Việt, 1959, vì nói chung nó phản ánh thứ tự biên niên trong quá trình sáng tác; tôi nghĩ không ai bác bỏ thuyết cho rằng Gái Quê sáng tác trước Đau Thương, Xuân Như Ý; và Cẩm Châu Duyên, Duyên Kỳ Ngộ sáng tác sau cùng, thời kỳ nhà thơ biết Thương Thương. Nhưng dù sao chúng tôi cũng dè dặt mong các nhà biên khảo sau này có nhiều sử liệu chính xác hơn tôi, sẽ đào sâu cơ cấu mạch lạc của vũ trụ Hàn Mạc Tử, trên bình diện này hay bình diện khác, hoặc trong nguồn sáng tạo toàn diện thì càng nghiêm túc.

Khi đề cập đến kinh nghiệm đau thương của Hàn Mặc Tử tôi tiếc chưa được đọc bài của Võ Long Tê, một chuyên gia về văn chương Thiên Chúa giáo, về vấn đề này; nghe nói bài sắp sửa đăng báo, tôi đợi hoài chưa thấy. Tôi cần nói thêm: không riêng gì Phúc Âm, những tín ngưỡng khác của người Á Đông cũng tìm một giải đáp cho đau thương; Phật giáo thì cho đó là những đợt sóng triền miên của Mê hà hay Khổ hải; Lão giáo thì cho đó là định luật của Vô Tri. Cái can trường của nhà thơ là do đức tin vững chắc của Đấng Cứu Thế, và đức tin đó đã được bồi dưỡng trong cái Dũng của triết lý Đông phương lẫn cái kiên trì trong lòng dân tộc. Nói đến xác tín của Hàn Mạc Tử không phải là tôi không biết (hay tệ hơn nữa, tôi không nhớ) đến những giá trị bằng hữu kia. Khi suy nghĩ về khổ lụy của nhân sinh, tôi đọc lại kinh thánh Coran của Hồi giáo thì có cảm giác, hời hợt thôi, như là họ không chấp nhận khổ đau như người Ki-Tô giáo hay người Á Đông, vì họ cho là do sự hành hạ của Chúa Trời. Vậy trong Hàn Mạc Tử có sự giao hòa giữa đức tin tôn giáo sung mãn và một tâm hồn dân tộc niềm nở, tạo ra nguồn thơ hết sức sâu xa.

Trong tinh thần Phúc Âm, có thể Hàn Mạc Tử đã sống trọn vẹn Đau Thương của hiện thế, trước hết vì đó là phương tiện Chúa dùng để Cứu Thế, thứ đến để chuẩn bị cho vinh hiển mai sau, như lời giảng trên núi, sửa soạn cho Ngày sống lại với Đấng Hằng Sống, hằng Ngự Trị. Nhưng trên bình diện sáng tạo, quan niệm Đau Thương đó đã thể hiện ra sao? Tôi tiếc là không được đọc bài báo của Lê Tuyên về những chủ đề trong thơ Hàn Mạc Tử, đăng trên tạp chí Đại học Sư phạm cách đây bảy tám năm gì đó. Nay tôi đề cập vài hình tượng quen thuộc trong thơ Hàn Mạc Tử như Trăng, Máu, và Hồn.

Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!

Đó là điệp khúc độc điệu của một ngư phủ, theo lời kể của Quách Tấn. Đó cũng là khúc nhạc lòng của nhà thơ. Trăng là một thứ ánh sáng vừa nội tâm, vừa của ngoại giới; ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới tương quan giữa những hình ảnh thi ca và đức tin.

Ảnh hưởng của đêm trăng đối với bệnh phong đã được ông Trần Thanh Mại triển khai đầy đủ. Còn nét quyến rũ muôn đời của ánh trăng đối với thi nhân thì viết bao nhiêu pho sách cũng còn điều chưa nói. Nhưng không thể nói thơ Hàn Mạc Tư mà không đề cập tới trăng, vì theo Trần Thanh Mại thì hai phần ba của tập Đau Thương nói về trăng, nửa phần còn lại nói về hồn[36].

Trăng, trước hết là ánh sáng tràn ngập cả vũ trụ Hàn Mạc Tử

Gió ùa ánh sáng vô trong bãi
Trăng ngậm đầy sông chảy láng lai

Trăng là thứ ánh sáng êm dịu, mầu nhiệm phủ ban đêm, tương phản với ánh sáng chói chang bỏng rát của mặt trời nhiệt đới. Trăng tạo thi vị cho bóng tối tại những vùng nông nghiệp có sinh hoạt về đêm, và như Xuân Diệu kể, thì có “trăng của tình duyên, trăng của xa xôi, trăng của ảo huyền” và của “những đền đài mỏng thoáng”. Văn học của chúng ta từ xưa đến nay, vẫn le lói những ánh trăng bất tận. Tôi không dài dòng về địa hạt rộng rinh không bến này, chỉ muốn đề cập đến khía cạnh tượng trưng của ánh trăng trong giáo lý.

Trăng trước hết là ánh sáng, một chủ đề rọi suốt mặc khải Kinh Thánh, từ ngày thứ nhất của sáng thế, khi đức Chúa Trời phân định ánh sáng và bóng tối, (“Gen” I, 3-4), cho đến chương cuối cùng của “Khải Huyền”, khi con người, trong trời đất mới, hưởng được một ánh sáng miên viễn (“Ap.” XXII,5). Như vậy thế giới di chuyển từ một vùng ánh sáng tương đối, ánh sáng vật chất đối với bóng tối ban đêm, đến một ánh sáng tuyệt đối, ánh sáng vĩnh cửu ngay trong chân thân Thiên Chúa, vì “Ngài là Sự Sống mà Sự Sống là Ánh Sáng” (“Jean” I, 4). Và quá trình từ tương đối nọ đến tuyệt đối kia là sự phấn đấu không ngừng giữa ánh sáng và bóng tối, tựa hồ như một cuộc phấn đấu giữa nguồn sống và cõi chết. Ở Hàn Mạc Tử, ánh trăng là một thứ Ánh Sáng đang tương tranh cùng Bóng Tối, trong một tư thế bi thảm, khác với mặt trời là chiến thắng – dù là tạm thời – của Ánh Sáng

Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô

Mâu thuẫn tâm cảm của nhà thơ là vừa yêu bóng đêm – vũ trụ Hàn Mạc Tử là một vũ trụ về đêm – vừa yêu ánh sáng, và vươn tới một nguồn chói lọi

Ta ước ao đội mũ triền thiên
Và tắm gội trong nguồn ánh sáng

Sự thật mâu thuẫn đó nằm trong những hình ảnh đa nghĩa của Kinh Thánh, vì bóng tối cũng là một sáng tạo của đức Chúa Trời. (“Gen” I, 1-2) Từ điển Giáo lý Kinh Thánh khai triển điểm tế nhị này như sau: “Bóng tối tượng trưng cho một kinh nghiệm kép: hoặc nó xác nhận không có ánh sáng, hoặc bao hàm sự hiện hữu của ánh sáng. Con người muốn có ánh sáng tràn đầy nhưng tìm đến bóng tối; Chúa là ánh sáng, là lửa bỏng, mà cũng là bóng mát; Kinh Thánh lý theo sự đa nghĩa đó”[37].
Chúng tôi muốn đề nghị một ý nghĩa mới của ánh trăng. Ở Hàn Mac Tử trăng là sự tương tranh đồng thời tương ứng giữa ánh sáng và bóng tối, vừa tương khắc vừa tương sinh. Trăng là Bóng Tối hết là Bóng Tối và Ánh Sáng chưa đủ là Ánh Sáng. Trong biện chứng Sáng – Tối đó, tâm hồn Hàn Mạc Tử vẫn được xác định bằng Ánh Sáng, tức là “con người của Ánh Sáng” khác với con của bóng tối hay “ con của Hiện Thế” (“Luc”, XVI, 8). Vậy nhà thơ là Ánh Trăng, vì chàng là con của Ánh Sáng

Không gian đầy đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

Vì, bên dưới bình diện siêu hình, về mặt đạo đức, vẫn phải có sự phân biệt giữa bóng tối và ánh sáng (“II Co XI”,14)

Và tình ta sáng láng như trăng thanh

Thỉnh thoảng người đọc gặp một vài hình ảnh của Kinh Thánh để tả trăng, như

Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hường

(Trần Thanh Mại trích)

Vì liên tưởng ngay đến một câu của “ Thi Thiên” (104, 2) Chúa bao phủ mình bằng “ánh sáng như cái áo ”. Nhưng có lẽ chỉ tình cờ.

Trăng trong Hàn Mặc Tử không những là một thứ ánh sáng ảo huyền, thường rạng rỡ. Nó có hình có trạng, như một vật cụ thể khả xúc. Có khi một món hàng – ai mua trăng ta bán trăng cho – có khi là châu báu, là hơi nước chảy, hay là một người đàn bà, mà tôi mường tượng phải đẹp lắm trong nhan sắc làm bằng Ánh Sáng và Im Lặng

Tôi lần cho Trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời

(Trần Thanh Mại trích)

Và nói chung, trăng là hồn, là máu cuả bóng đêm: tôi có nói đến ba chủ đề, kỳ thật chỉ là ba tiết diện của một thế giới:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

(Trần Thanh Mại trích)

Hình ảnh máu hoặc nhỏ từng giọt, hoặc ọc từng búng, hoặc đọng thành vũng, hoặc chảy thành sông, có lẽ là dấu hiệu của bệnh lý. Ý nghĩa của máu là cuộc sống, vì máu mang đến sinh lực đến cho mỗi tế bào, mà đồng thời cũng là cõi chết, khi đã khô, đã đọng thành vũng máu đào trong ác lặn. Về hình ảnh máu vẫn thường gặp trong thơ Baudelaire, Jean-Piere Richard viết: “Sự xuất huyết thiêng liêng ở chỗ hội tụ cuộc sống hiển nhiên và cái chết tàn nhẫn”[38]. Máu là cuộc sống đang chết, hay là cái chết tiềm ẩn trong cuộc sống. Máu là hồn của thể xác mà cũng là xác của linh hồn.

Nói khác đi, máu là thơ:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng trong máu vọt
Cho mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh

(Trần Thanh Mại trích)

Máu, cũng như thế, vừa là hành hạ, vừa là giải thoát. Chúng ta vẫn thường gặp hình ảnh máu trong Kinh Thánh: máu là nguyên lý sự sống, nhưng khác với linh hồn ở chỗ máu là thành phần hư nát của cơ thể, còn linh hồn vẫn tồn tại đợi ngày Phục Sinh[39]. Từ máu Cứu Thế trên Thánh Giá đến máu chiên con, hình ảnh của đau đớn, của hư nát lại là hình ảnh của Hy Vọng; máu của chúng sinh tuy không vào được nước đức Chúa Trời (I, XV, 50) vẫn là một môi giới, một phương tiện, một ánh sáng, một thẩm mĩ:

Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang

Trong bài “Biển hồn ta” bắt đầu bằng câu Máu tim ta tuôn ra làm biển cả…, người đọc có cảm giác như máu và hồn là một, hay máu là hồn của xác thịt còn thể phách là hồn của toàn cơ thể, vì chính nhà thơ cũng phân biệt hồn ngoài hồn trong:

Hồn hãy thoái ly ra ngoài tâm tưởng
Là hồn đừng nghĩ ngợi đến hồn trong
Cứ để mặc hồn ngoài bay lưởng vưởng
Ngao du cùng khắp cõi trí mênh mông

…Rồi hồn ngắm tử thi hồn tan rã
Bốc thành âm khí loãng nguyệt cầu xa

Đã là hồn rồi mà còn có tử thi nữa sao? Lại còn ngắm được tử thi của mình nữa sao? ở đây, ngoài sự phân biệt “hồn” và xác cố hữu trong tiềm thức người Việt Nam, ta còn phải ghi nhận thêm ảnh hưởng phong thổ vùng từ Qui Nhơn đến Phan Thiết nơi Hàn Mặc Tử sống, vùng đất của người Chàm. Nhà thơ thế nào cũng nghe chuyện ma Hời đêm đêm lìa khỏi xác đi chơi hay ăn đêm, và đã nhớ đến những chuyện đó trong cơn mê sảng bệnh hoạn. Nhưng trong Thánh Kinh, nhất là Cựu Ước, chúng ta còn bắt gặp dấu tích sự phân biệt đó, bắt nguồn tư tưởng Do Thái giáo, Thân thể, tiếng hebreu (Do Thái) gọi là basar, dịch ra la-tinh là caro, thành tiếng Pháp là chair, xác thịt. Xác thịt, nếu không có sinh khí, chỉ là một “tử thi”. Hơi thở của Jahweh đã hà sinh khí vào xác thịt, nhưng chỉ tạo nên một quân bình mong manh: “thần khí của ta sẽ không lưu lại mãi trong loài người, vì loài người chỉ là thân xác” (“Gen VI”, 3); vậy trong tư tưởng Do Thái giáo, chẳng những hồn và xác khác biệt nhau, mà hồn là thần khí mà Chúa Trời ký thác vào thân xác con người đó thôi, chứ không hẳn của con người. Do đó, khi chết, Chúa Jésus đã nói “Thưa Cha, trong tay Cha con trả lại linh hồn”, (“Luc XXIII”, 46) và Huy Cận đã nhắc lại trong câu “Lạy Thượng Đế tôi cúi đầu trả lại, Linh hồn tôi…” Linh hồn đó, là cái thần khí của Jahweh nay trở về với Jahweh, chứ không phải là cái hồn lìa khỏi xác của Hàn Mạc Tử. Hồn này lại là một chuyện khác, một biểu hiện của sự sống; hồn này có thể chết, có thể hư nát như thịt xương (“Ps”, 78, 50) lang thang xuống âm ty sống đời khổ ải, cho đến ngày Chúa trời cho lịnh hồi sinh những đống xương tản mác[40]. Trong những lời truyền dạy của Thánh Tự, Hàn Mạc Tử đã nhớ những chi tiết phù hợp với tâm hồn hay bệnh trạng mình nhất, nghĩa là sự phân biệt giữa hồn và xác, trong khi giáo lý Thiên Chúa về vấn đề này, phức tạp hơn nhiều.

Vì nhà thơ, trong cơn hành hạ của bệnh lý dĩ nhiên là tìm cách giải thoát, dù chỉ bằng mê sảng

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập dần lên tới ngực
(tr. 53)

Ở đây, ta bắt gặp hình tượng Trăng, Hồn và Máu dồn dập lại trong tương quan chặt chẽ: mà thơ khạc hồn ra khỏi miệng, hay điên cuồng mửa máu ra, hay ngậm cả miệng ta trăng là trăng, cả ba hình ảnh đều oà vỡ từ thân xác, và từ thân xác Đau Thương.

Hàn Mạc Tử đã dùng thơ để sống trọn vẹn tín lý của mình. Chàng đã thấy hồn mình trong máu vọt, và hồn mình chính là máu đang tuôn trào lênh láng; chàng đã ghi lại những cảm giác rùng rợn đó, bằng những hình ảnh ta đã gặp trong Cựu Ước: hồn trong máu (“Lv XVII”, 10) hồn là máu (“Lv XVII”, 14), một thứ máu luôn luôn vươn đến ánh sáng, như hình ảnh đức Chúa Trời chói chan trong tấm áo dệt bằng ánh sáng trong “Thi Thiên” (104, 2) và đẫm máu chiên con trong “Khải Huyền” (XIX, 13). Máu chiên con trở thành ánh Sáng, và chiên con là ngọn đèn bất diệt của Jérusalem mới. Do đó, tôi nói Hồn, Máu và Trăng chỉ là ba màu sắc chiết quang của một ánh Sáng Duy Nhất. Người đi trong Mơ Ước. Trong mơ ước, Hàn Mặc Tử đã gọi Ánh Sáng Khải Huyền đó là Xuân Như ý.

 

Cho mau lên! dồn ánh nguyệt vào đây…
Đưa ra, nào là nhạc thơm, hương gấm, mộng ngọc
và hoa trinh bạch, đàn ly tao, tranh tuyệt phẩm…
Vẫn là chưa bưa, chưa đã, chưa nguôi được chí muôn sao!…
Phải mời cho được Xuân Thiên ra đời
(tr. 65)

Như vậy Xuân Thiên ở đây phải là một mùa xuân khác. Không còn là mùa xuân phảng phất ngày xưa trong làn nắng ửng khói mơ tan. Tuy là trời hạo nhiên trong thế giới đợi chờ của Gái Quê: màu nhiệm của đấng Vô thỉ Vô chung, nhưng là một thế giới hư nát, sẽ vỡ lở, sẽ chấm dứt. Vì công trình châu báu của Thiên Chúa, sau khi con người tự dấn thân vào tội lỗi, cũng đồng thời là sự phẫn nộ của Thiên Chúa; mặt đất, nguyên là Quê Hương của loài người đã trở thành cõi Lưu Đày, không còn là vườn Địa Đàng long lanh nhũ hương và bích ngọc, cũng không phải là Đất Hứa óng ánh sữa thơm và mật ngọt; trên mặt đất, lúa tốt còn mọc lẫn với cỏ hoang, trái lành ửng chín trong gai bụi, và lương thực loài người còn trộn lẫn cát bụi với mồ hôi.

Và con người không những thịt da sượng sần và tê điếng mà còn nứt nẻ như muốn tan rã ra cùng vũ trụ, làm cho mê lẫn máu và hồn ta là ta hay không phải ta. Thế giới hiện tại, tuy vẫn có thanh sắc, nhũ hương, vẫn mang sẵn mục nát trong mầm sống. Và mầm sống đó, có sung mãn đến đâu, thì nhà thơ vẫn lòng thương chưa đã mến chưa bưa, nên phải mời cho được Xuân Thiên.

Chúng ta chưa quên được Người đang say sưa đi trong Mơ Ước đã gặp ở bài tựa Đau Thương. Vậy Xuân Thiên đây là niềm mơ ước ở sự tồn sinh sau cõi chết, sẽ được phục hồi trong cảnh trời mới đất mới, rạng ngời trong danh Cha cả sáng. Những thi phẩm cuối cùng của Hàn Mạc Tử như Xuân Như ý gom góp xong đầu năm 1939, Thượng Thanh Khí đầu năm 1940, gồm hai vở kịch thơ Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội viết dở dang, đều nói lên niềm Mơ Ước đó. Trong bài này, tôi tạm xếp ba tác phẩm trên cùng những bài cuối tập Đau Thương vào chủ đề Xuân Như ý, cho gọn, và như một giai đoạn trong thi trình Hàn Mặc Tử.

Mùa Xuân Thượng Thanh, đó ra sao? Về chủ đề mơ ước trong Thánh Kinh, một chuyên gia về giáo lý Thiên Chúa nhận xét: “Cuộc sống vĩnh viễn được xác nhận rõ rệt bao nhiêu, thì những đường nét của nó lại mờ nhạt bấy nhiêu. Không những mờ nhạt, mà đôi khi còn thiếu sót. Sự tồn sinh không được mô tả, dù dưới những hình ảnh khải huyền”. [41]

Lẫn trong mơ hồ đó, nhà thơ tha hồ mà tưởng tượng quang cảnh trời đất mới. Nếu Xuân Như Ý mang nhiều hình ảnh dựa theo tín lý Thiên Chúa giá, thì Cẩm Châu Duyên lại gần với huyền tượng của dân gian phảng phất không khí thần tiên của Đạo giáo – một thứ Đạo giáo bình dân, không ăn thua gì đến tư duy “đạo khả đạo” của Lão Tử. Vì vậy Hoài Thanh cho rằng Hàn Mạc Tử “chốc chốc lạc vào thế giới đồng bóng”. Thật ra trong cái hoa hoè của dự tưởng, nội hàm nòng cốt của Xuân Như ý vẫn là một tín điều Thiên Chúa giáo.

Trước hết đó là một mùa Xuân. Nghĩa là một thế giới mới, một khung cảnh tái tạo, như cảnh thành Jérusalem mới được thánh Jean rao truyền ở chương cuối Phúc Âm, Trời mới đất mới được dựng lên trên cảnh trộn trạo, tán loạn của ngày tận thế

Cả vũ trụ tàn theo ngày Phán xét
Là khủng khiếp cả Trời Đất tiêu diệt
(tr.60)

Mùa Xuân đó ở xa, ở thật xa nếu nhìn từ thế giới hồn nhiên của Gái Quê

Cửu Trùng là chốn xa xôi ấyChim én làm sao bay đến nơi (tr. 37)

Nhưng kinh nghiệm Đau Thương, kinh nghiệm của xác tín trong khổ não, đã chắp lên thân xác nứt nẻ của nhà thơ đôi cánh phượng hoàng. Bằng những bất hạnh, Hàn Mạc Tử đã đến gần với Chúa và gần với mùa xuân Mơ Ước hơn là cánh én bơ vơ:

Phượng trì!Phượng trì!Phượng trì! Phượng trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bây giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang
(tr. 37)

Trong bài “Thánh nữ Đồng Trinh Maria” này, với nguồn rung cảm mãnh liệt của đức tín, nhà thơ đã sống cả thế giới hiện tại lẫn mùa xuân dự tưởng, đã nói đến cơn lậm luỵ đã trải qua dưới thế như là một quá khứ. Và trong đức tin này, nhà thơ đã vẽ cho ta địa hình của Đất Mới, trong bài tựa tập Xuân Như Ý:

Vì chưng muôn xuân là lương thực ngon ngọt, mĩ vì, ánh xuân là nguồn tơ tưởng thơm tho tinh khiết, khí xuân là mạch trường sinh bất tử, tình xuân là cung cầm nguyệt mê ly, tuổi xuân là Ngọc như ý, tên xuân là dạ lan hương.
Và xuân là phong vị thái hoà của năm muôn năm, trời muôn trời, chân lưu trên thượng tầng không khí, bàng bạc cả giải Hà Sa, chen lẫn vô tận hồn tạo vật…
Loài người hãy tận hưởng một hơi cho đã ngán và cao rao danh Cha cả sáng…
(tr. 66)

Chúng ta thử khai triển vài nét chính của Xuân Như Ý. Chúng ta đã thấy đó là mùa xuân hồi sinh, sau khi “Trời thứ nhất, đất thứ nhất tan biến”. (“Ap. XXI”, 2). Như đặc biệt mùa xuân này nảy lộc từ mùa đông, nhưng sẽ không bao giờ chuyển sang mùa hạ Mai nầy thiên hạ mới tinh khôi… Và sẽ còn tinh khôi mãi mãi, vì đã đi vào cõi tứ thời xuân non nước. Trong Cẩm Châu Duyên nhà thơ gọi là Xuân vô cùng đến ngàn năm ơn phước và mô tả như một tia sáng triền miên:

Liên hồ đây bốn mùa xuân cả bốn
Ngát hương đưa trong gió sớm chơi vơi
Làm nước mát và chưa bao giờ gợn
Vết phong trần đưa lạ ở xa khơi

(Trần Thanh Mại trích, tr. 147)

Đoạn cuối “Khải Huyền” truyền giảng rõ ràng. Đất Mới đây, là châu thân Thiên Chúa; mùa xuân của Hàn Mạc Tử (trường sinh bất tử năm của muôn năm, vì ở “Khải Huyền”, Chúa đã kết luận: “Ta làm mới mọi vật. Ta là Alpha và Oméga, là nguyên lý và cực chung”. (“Ap. XXI”, 5-6)

Xuân Như Ý tiếp đến là một vũ trụ thơm tho tinh khiết vì là càn khôn mới dựng lên. ở đây, nhà thơ như rợn ngợp trong trinh nguyên của Đất Mới, mà tượng trưng là con chiên con vô tật và vô tội, làm ngọn đèn trinh bạch rọi sáng cả hoàng thành. Thi sĩ vội nguyện cầu gội rửa:

Tôi van lơn thầm gọi Chúa Giê Su
Ban ơn xuống cho mùa Xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi
Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng
(tr, 74)

Và để ngợi ca vinh hiển của Nguồn thơm, nhà thơ đã cao ngâm giọng long lanh, thanh thoát:

Ta cho ra một dòng thơ rất mát
Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương
(tr. 70)

Theo Hoài Thanh – người may mắn hơn chúng ta, được đọc toàn bộ thi phẩm – thì Cẩm Châu Duyên, thi phẩm cuối cùng, là “trong trẻo hơn cả” [42[. Âu cũng là chuyện lạ. Gái Quê, từ ban sơ, đã là một dòng suối rừng vẩn đục, rồi chảy qua một cuộc đời khổ ải, chuyên chở không biết bao nhiêu trần luỵ, ấy mà dần dà lại gạn lọc hết phù trầm, để đổ ra đại dương bằng một giải Cẩm Châu trong vắt. Thật là một đặc điểm trong thẩm mĩ thi ca.

Đất Mới còn là một xứ rực rỡ, cao sang, vì xuân mang tên một loài Ngọc:

Ánh hào quang chan chói ngắt lưu ly
Ôi! Cao sang khôn ví, trọng ai bì
Trên nước cả có vô vàn châu báu
(tr. 67)

Những hình ảnh tráng lệ như gấm, ngọc, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược đều muốn gợi lên vinh hiển, như khi sứ đồ tả thành Jérusalem mới trong “Khải Huyền”: “Thành ấy chói sáng như một viên bửu thạch, như bích ngọc rạng ngời… Tường thì xây bằng bích ngọc, thành thì xây bằng vàng ròng, tợ như thuỷ tinh trong vắt. Mười hai cửa thì làm bằng mười hai hột châu” (“Ap. XXI”, 11, 18 và 21). Dựa theo “Khải Huyền”, tôi cho rằng những đền đài dự tưởng trong Hàn Mạc Tử là một phóng thể của đức tín Thiên Chúa, vì cảnh Bồng Lai của Á Đông, cảnh thần tiên của Đạo gia không có cái huy hoàng rực rỡ đó.

Cuối cùng Xuân Như Ý là một thái hoà tuyệt đối, trong không gian và thời gian, thái hoà của năm muôn năm, trời muôn trời. ở đó, trời thì bình an như nguyệt bạch, còn người thì hoàn hảo, no nê nhờ trái cây bằng ngọc, vỏ bằng gấm. Còn nói chung:

Thiên hạ thái bình và trời tuôn ơn phước
Như triều thiên vờn lượn khắp không gian
(tr. 71)

Ở đây, sầu đau chìm trong quên lãng. Đất Mới không còn cảnh “chết chóc, than khóc, kêu ca hay đau đớn nữa” (“Ap. XXI”, 4) vì những lậm luỵ dưới thế đã qua. Ở đây tất cả đều là ánh sáng. Và ánh sáng là linh thị cuối cùng bao trùm trọn vẹn thi trình Xuân Như Ý, đồng thời rọi lại toàn bộ tác phẩm Hàn Mạc Tử như một Thánh thể kết tinh triền miên vươn tới ánh Sáng, vươn tới ánh hào quang chan chói ngất lưu ly. Hay trở về Ánh Sáng. ở đây, chúng ta đi sâu vào ngõ ngách cuối cùng trong đức tin Hàn Mạc Tử:

Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng

Tôi sẽ dừng lại ở đây, dừng lại ở hình ảnh Nguồn Ánh Sáng, vừa là một vươn tới, vừa là một trở về. Mùa Xuân Như Ý đẹp trước hết vì là Xuân thứ đến vì nó là Như Ý, nó đưa con người về với Chúa, về với Nguồn. Vậy Nguồn Ánh Sáng ở đây là Alpha và là Oméga, vừa là cội rễ vừa là cứu cánh con người. Và cấu trúc thơ Hàn Mặc Tử do đó gói ghém cả mặc khải Thánh Tự lẫn lịch trình Cứu Rỗi. Tôi có cảm giác đã làm xong một bài luận mạch lạc. Bây giờ là kết.

Tham vọng bài này là đề nghị một lối nhìn nhất quán vào tác phẩm Hàn Mặc Tử trong giới hạn những bài thơ còn lưu truyền, nghĩa là trên một sự nghiệp bị thời gian cắn xén. Khai quật cấu trúc nội tại của sự nghiệp đó, chúng tôi lại còn mong ước rọi sáng những bài, những câu thơ mà các nhà phê bình xưa nay, từ Trần Thanh Mại đến Vũ Ngọc Phan, cả thi sĩ Quách Tấn đều cho là khúc mắc. Theo chúng tôi, hiểu tất cả các câu thơ, các bài thơ trong một tập thơ, chưa hẳn đã là hiểu toàn bộ tập thơ, ít nhất cũng đối với người viết phê bình. Chúng ta còn phải hiểu liên hệ nội tại trong mỗi tập thơ để nắm vững cơ cấu sáng tạo của thi sĩ – ít ra cũng trong chủ quan người đọc.

Liên hệ nội tại đó, tôi đặt trên đức tín của Hàn Mạc Tử. Tôi cũng có thể đề nghị một nền tảng khác; tôi chọn chủ đề này với một dụng ý: giải thích những nhận xét cố hữu của các nhà phê bình tiền bối vẫn cho Hàn Mạc Tử là nhà thơ Thiên Chúa giáo, mà không nói rõ, nói đầy đủ, tại sao. Các vị đó thường trích dẫn những bài thơ hay câu thơ có âm vang tôn giáo, có hình thức tín ngưỡng như Maria linh hồn tôi… rồi kết luận; theo tôi, thì chưa đủ, vì một người không có đức tin cũng có thể kể rất nhiều tên Thánh, làm thơ ca tụng đấng Tối Linh, như ngày xưa các cụ Nguyễn Hữu Tiến hay Tản Đà nhắc đến Thượng Đế trong Quả Dưa Đỏ hay Giấc Mộng Con. Theo tôi, chúng ta chỉ có thể nói đến tín lý trong một tác phẩm khi toàn bộ tác phẩm đó tiềm ẩn đức tin trong cơ cấu. Nói khác đi, một người Thiên Chúa giáo chưa hẳn là kẻ đọc kinh vanh vách, mà là người đem trọn cuộc đời mình đáp lại lời gọi của ơn Trên, và một thi sĩ Thiên Chúa giáo không hẳn là kẻ tự xưng là thi sĩ của đạo quân Thánh giá (tr. 71) như Hàn Mạc Tử đã tự nhận, mà là kẻ đem cả sự nghiệp thi ca của mình âm vọng lại tiếng gọi của Thượng Đế. Và dĩ nhiên không phải là kẻ “dùng thơ để truyển bá tôn giáo của mình” như Quách Tấn nhận định ở trang 118 số Văn thượng dẫn. Do đó mà tôi cố gắng chứng minh toàn tập thi phẩm Hàn Mạc Tử là một tiếng vọng của Thánh Tự.

Dĩ nhiên, trong tác phẩm Hàn Mạc Tử còn nhiều vết tích của một nhân bản Việt Nam. Tín ngưỡng Ki Tô giáo đã nảy mầm trên một nhân bản phiếm thần và đa giáo, thì nguồn thơ Hàn Mạc Tử không khỏi làm một lăng kính hội tụ rồi phát huy nhiều nguồn sáng khác nhau, và hỗ tương lẫn nhau, như Giáo hoàng Paul VI đã tuyên bố trên đài phát thanh Véritas chủ nhật 29-11-1970 vừa qua, nhân chuyến công du sang Á Đông: “Chúng ta đang ở một vùng đất mà những tư trào cổ kính của Đông phương và những trào lưu mới mẻ hơn Tây phương đã kết hợp lại và làm giàu cho nhau”.

Và bạn đọc sẽ hoan hỉ nếu Quách Tấn thủ lời hứa “ nói về đạo Từ bi trong thơ Tử” vì sẽ hiểu thêm một khía cạnh của thi phẩm, qua kiến thức uyên bác của tiên sinh về phương diện Phật lý cũng như tác phẩm Hàn Mạc Tử.

Cuối cùng, viết bài này tôi cũng có hai hậu ý riêng tư. Trước là để giải một lời hứa với anh Trần Phong Giao từ hai năm nay; một đề tài bao quát và hệ trọng như vầy đòi hỏi một suy nghĩ dài hạn, khiến anh Trần Phong Giao cứ trách tôi là “ thề cá trê chui ống”.

Thứ đến là hồi đầu năm nay, tôi có viết một bài điểm sách, về vở kịch Ngộ Nhận của Vũ Khắc Khoan. Bài đó đã gây nhiều hiểu lầm, nhất là trong những người thân của tôi, cho là tôi bất kính đối với tín ngưỡng; nếu có hiểu lầm đó, dĩ nhiên lỗi về phần tôi, viết không khéo, nói không trọn, lời không thanh, ý không minh.

Vậy bài này viết vào mùa Giáng sinh, sẽ là một bổ chính cho bài trước, và cũng là lòng thành khẩn, của riêng tôi, nhân mùa Hy Vọng, là cánh hoa huệ từ một lưu vực xa xôi gửi về cho Quê hương Yêu dấu.

[1] Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, III, 1942 – ấn bản 1951, n.x.b Vĩnh Thịnh, Hà Nội, tr. 325.
Tái bản nhiều lần.
[2] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi Nhân ViệtNam . 1942, Thiều Quang tái bản, Sài Gòn. 1967, tr. 204.
Tái bản nhiều lần.
[3] Văn , số đặc biệt Hàn Mạc Tử, 73-74, ngày 7-1-1967, tr. 139.
[4] Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử, 1941,Tân Việt tái bản, Sài Gòn, 1957.
[5] Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 63-83.
[6] Quách Tấn, Văn , sđd, tr. 141-148.
[7] Thơ Hàn Mạc Tử đều trích từ ấn bản Tân Việt, Sài Gòn,1959 – ấn bản này không đánh số trang, tôi dựa theo mục lục mà ghi số trang, để bạn đọc dễ kiểm chứng.
[8] Huỳnh Phan Anh, Văn số 73-74 đã dẫn
[9] Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 332
[10] Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 212
[11] Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 211
[12] Văn, số đặc biệt HMT, đã dẫn, tr. 120
[13] Jacques Dournes, Dieu Aime les Paiens , Aubier, 1963, tr. 149
[14] Văn, sđd, tr. 47
[15] Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 326
[16] J. E. KERNS. S. J, Les Chrétiens, Le Mariage et la Sexualité. Edit du Cerf, 1966, Paris, tr. 93
[17] J. E. KERNS. S. J, sđd, tr. 94
[18] Quách Tấn, Văn , sđd, tr. 81
[19] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 73
[20] Thư Mộng Cầm, do Trần Thanh Mại trích dẫn, sđd, tr. 94
[21] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 95
[22] Quách Tấn, Văn , sđd, tr. 88
[23] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 193
[24] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 121
[25] Vũ Ngọc Phan, sđd, tr. 330
[26 ]Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 212
[27] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 120
[28] Nguyễn Công Hoan, tạp chí Văn Nghệ Hà Nội số 67, Tháng 12-1962 và 68 tháng 1-1963 về Tú Xương. Tôi có đề cập tới trong Báo Văn số 163 ngày 1-10-1970. Sau này tôi được biết báo Vì Chúa, xuất bản ở Huế, do Linh Mục Nguyễn văn Thích chủ trương cùng với nhóm Bùi Tuân, bạn thân với HMT .
[29] Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 120
[30] Trần Thanh Mại trích, sđd, tr. 120
[31] Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 211
[32] Charles Journet, Le Mal, essai théologique, tủ sách giáo lý, Desclée de Brouwer, Bruges, tr. 271
[33] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 130
[34] Quách Tấn, Văn, sđd, tr. 75
[35] Trần Thanh Mại, sđd, tr. 61
[36] Vocabulaire de Théologie Biblique , Edit, du Cerf, Paris 1962, tr. 714
[37] Jean Pierre Richard, Poésie et Profondeur , Seuil, Paris 1955
[38] P. Dhorme, Revue Biblique . Số 4 tháng 10 – 1920 tr. 473 – 474. Loại bài “1’Emploi métaphorique dans la Bible”, chuyên về hình ảnh của thân xác, rất cần cho việc tìm hiểu thơ H.M.T.
[39] Vocabulaire de Théologie Biblique , sđd, tr. 31
[40] Jacques Quillet, tủ sách giáo lý, Thèmes Bibliques, Aubier, 1950, tr. 175
[41] Hoài Thanh và Hoài Chân, sđd, tr. 211
[42] Le Monde, ngày 1 tháng 12-1970, tr. 8, cột 1
Val de Loire, 12-1970, bổ chính, nhân kỷ niệm 100 năm Hàn Mạc Tử, 22.1912-22.9.2012
Nguồn: newvietart.com

Cuộc di dời về Hà Tĩnh của Hoàng hậu Bạch Ngọc cuối TK XIV, một sự lựa chọn sáng suốt mang tính chiến lược – VHNA

5 Th10

Cuộc di dời về Hà Tĩnh của Hoàng hậu Bạch Ngọc cuối TK XIV, một sự lựa chọn sáng suốt mang tính chiến lược

Trần Quang Trung

Sau gần 200 năm trị vì đất nước, vương triều Trần đã xây dựng nước Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh với một nền văn minh rực rỡ đạt tới đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam. Thế nhưng vào cuối thế kỷ XIV, sau khi vua Trần Duệ Tông qua đời năm 1377, nhà Trần suy yếu. Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, không thu phục được lòng dân đã đưa đất nước Đại việt sa vào cảnh lâm nguy.

 Lợi dụng tình hình đó, quân Minh mượn cớ thương thuyết với Hoàng hậu khôi phục nhà Trần kéo quân sang đất nước ta. Dưới chiêu bài khôi phục nhà Trần, quân Minh đã cử Trương Phụ dẫn đầu ngày càng tiến sâu vào đất nước ta. Điều đáng quan ngại là không ít người đã không sớm thấy được ý đồ đen tối của quân xâm lược. Đây cũng là điều gây phiền toái cho các quan lại nhà Trần còn lại trong đó có hoàng hậu Bạch Ngọc và đội ngũ những người thân cận. Có thể nói , bước ngoặt lịch sử mới đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết một cách chính xác và kịp thời. Nhìn lại tiến trình lịch sử càng ngày càng sáng tỏ những sự lựa chọn, quyết định sáng suốt, có ý nghĩa chiến lược của Hoàng hậu nhà Trần lúc bấy giờ. Chúng ta có thể thấy rõ một số lựa chọn, quyết định của Hoàng hậu mà giá trị trường tồn theo năm tháng như sau:

Trước hết Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Hào đã có quyết định sáng suốt là tổ chức một cuộc di dời về phương Nam chọn vùng núi quê hương Hà Tĩnh làm chỗ đứng chân. Đoàn tùy tùng của Hoàng hậu và con gái Huy Chân gồm hơn 572 người đã tổ chức một cuộc rút lui khỏi kinh thành đầy gian nan khổ cực. Mọi thành viên của đoàn phải giả cách ăn mặc người tu hành để trốn khỏi kinh thành về quê hương. Sau 50 ngày đêm vất vả, không quản đường xá xa xôi đoàn người của bà Bạch Ngọc mới về đến quê nhà. Cuộc hành quân gian nan đã làm cho lực lượng hao mòn khá lớn lúc này chỉ còn 172 người. Tuy vậy cuộc rời bỏ chốn kinh đô này có thể là kết quả của một sự  lựa chọn vô cùng có ý nghĩa. Bởi trong một bối cảnh khốn cùng như vậy vẫn có rất nhiều phương án lựa chọn khác nhau. Trong đó ở lại hợp tác với nhà Minh để duy trì triều Trần là phương án đơn giản nhất. Tuy nhiên Hoàng Hậu Bạch Ngọc đã không làm như vậy. Bà đã lựa chọn một sự rút lui thầm lặng. Sự chọn lựa này trước hết cho thấy một thái độ kiên quyết và bất hợp tác với giặc; không thể cùng chung sống với kẻ xâm lược. Hoàng hậu Bạch Ngọc đã gác quyền lợi riêng tư dòng họ để tìm cuộc sống mới đầy cam go gian khổ nơi thâm sơn cùng cốc. Dù phải gian khổ hy sinh thì sự di dời của đội quan theo bà cũng ý thực được bản lĩnh và ý chí của Nhà Trần quyết tâm xây dựng lại cơ đồ để khi có điều kiện chung tay chống giặc ngoại xâm, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Hai là, chính việc lui quân xây xựng hậu phương mới trong thế bất khả kháng với quân thù cho thấy bà đã có suy nghĩ rất đúng rằng muốn tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài phải có một hậu phương vững mạnh. Bởi chính hậu phương luôn là yếu tố quyết định sự thắng lợi trên chiến trường, nên đây là một sự chọn lựa đúng đắn có ý nghĩa lâu dài.

Tuy nhiên trong sự rút lui của lực lượng hoàng gia họ Trần thì điểm dừng chân cũng là điều cần cân nhắc cẩn trọng. Dời lên phía Bắc, chắc chắn sẽ không thuận tiện vì dễ đối mặt với lực lượng quân Minh lớn mạnh. Vì thế, đội quân Hoàng hậu nhà Trần  đã quyết định hướng về vùng núi phía Tây Hà Tĩnh. Ngoại trừ yếu tố vùng đất quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của chính bà Trần Thị Ngọc Hào, thì đây còn phải nghĩ tới một vùng rừng núi có vị trí chiến lược quan trọng. Nơi đây khí hậu khắc nghiệt, nắng lắm mưa nhiều không phải thuận lợi, dễ dàng để kẻ thù đàn áp thống trị. Nhưng đây lại là nơi có yếu tố thiên thời cho việc tổ chức kháng chiến. Vùng rừng núi Hà Tĩnh là một vùng hiểm trở, có sông sâu núi cao để thuận bề xây dựng hậu cứ. Hà Tĩnh lại hẹp chiều ngang nên vừa gần núi vừa gần biển, vừa thuận tiện cho các đầu mối giao thông có thể thông thương Nam Bắc hoặc khi cần thiết có thể di chuyển sang nước Ai lao không mấy khó khăn. Không chỉ có núi rừng hiểm trở vùng đất này còn độ phì nhiêu có thể làm ăn phát triển xây dựng hậu cần cho cuộc kháng chiến lâu dài. Chọn vùng đại ngàn Hà Tĩnh, dừng chân ở núi Cóc và núi Trà Lập, với chủ trương khai hoang lập ấp, chiêu tập lực lượng, chiêu dụ dân chúng là điều khả dĩ. Bởi vậy chỉ mấy năm sau bà đã cùng mọi người lập trại tăng gia sản xuất, xây nên một trang trại rộng lớn trong một vùng đất rộng lớn.  Vùng đất của Bà Hoàng hậu xây dựng đã có tới 45 thôn xã trang ấp được thiết lập trên địa bàn 6 tổng của 4 huyện là Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê.  Cả một vùng rộng lớn không ngừng được được mở mang từ Lâm Thao – Hòa Duyệt – Thượng Hạ Bồng (nay là huyện Vũ Quang), Đông Công và dọc núi Trà Sơn (huyện Đức Thọ), Ân Phú – Sơn Trà – Sơn Long (huyện Hương Sơn) đến Thượng Nga Lại Thạch (huyện Can Lộc). Sau một thời gian trang trại của Hoàng hậu Bạch Ngọc đã có trên 3000 dân và khai phá được 3965 mẫu ruộng. Điều này cho thấy điểm dừng chân không chỉ có nghĩa là cuộc rút lui bảo toàn lực lượng, mà chính kết quả này cho thấy đội quân đang có sự chuẩn bị mới cho một cuộc kháng chiến lâu dài. Nhìn vào thực tế lịch sử, ngay cả khi đại quân cuộc khởi nghĩa lớn vẫn có lúc quân lương cạn kiệt, lại bị kẻ địch càn quét, thì mới thấu hiểu ý nghĩa chiến lược của việc tổ chức khai hoamg lập ấp của Hoàng hậu Bạch Ngọc.

Một điểm nữa cũng cần nói tới khi hoàng hậu Bạch Ngọc chọn xây dựng vùng hậu cứ Hà Tĩnh. Ở đây Hoàng hậu Bạch Ngọc đã chọn lựa một vùng có nguồn nhân lực dồi dào tiềm năng chống giặc ngoại xâm. Rõ ràng đại bản doanh của Hoàng hậu không chỉ có thiên thời, địa lợi mà còn nhân hòa. Người dân ở đây nổi tiếng chịu khổ, trung kiên, anh dũng trong việc chống ngoại xâm; là chiếc nôi cách mạng của nhiều triều đại. Hà Tĩnh từng là điểm khởi phát của đội quân Mai Thúc Loan chống nhà Đường, chấm dứt gắng nặng về sự cống nạp của người dân.  Để rồi:                

“Đường đi cống vải từ nay đứt

Dân nước đời đời hưởng phúc chung”

Trong những năm đầu của thời kỳ Lý –Trần nhân dân Hà Tĩnh đã thường xuyên đóng góp sức mình vào công cuộc bảo vệ lãnh thổ phương Nam của tổ quốc, đánh bại các cuộc xâm lấn của của các thế lực Chân Lạp, Chămpa.  Hà Tĩnh cùng với Nghệ An luôn là nơi cung cấp sức người, sức của cho mọi cuộc kháng chiến, trở thành chổ dựa vững chắc cho những cuộc huy động nhân tài, vật lực có phiên hiệu phục vụ các cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương. Suốt những năm kháng chiến của Nhà Trần chống quân Nguyên Mông, Hà Tĩnh luôn luôn là nơi dự trữ quân lương của cuộc kháng chiến.  Vua Trần Nhân Tông đã từng tự hào khi nhắc lại rằng:           

“Cối kê chuyện cũ ông nên nhớ

  Hoan Diễn còn kia chục vạn quân”

Trong những năm tháng người dân theo Hoàng hậu Bạch Ngọc khai hoang, lập ấp; tại Hà Tĩnh vẫn đang dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại quân xâm lược mà những người cầm đầu đã từng làm quân thù lo sợ. Phải kể tới là Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Biểu, Phan Liêu, Lê Bôi, Nguyễn Tuấn Thiện… Đây cũng là môi trường thuận lợi cho việc xây dựng vùng hậu cứ của đội quân nhà Trần. Điều này thể hiện sự sáng suốt lựa chọn vùng hậu cứ của nhà Trần khi lịch sử càng cho thấy vùng đất này mãi về sau đã xuất hiện nhiều nhân vật lịch sử, nhiều lãnh tụ tiêu biểu của dân tộc ta.

Nói về sự di dời của Hoàng hậu Bạch Ngọc không thể không nói tới sự thành công trong cách thức tổ chức, xây dựng nơi đứng chân. Cuộc di dời cho thấy đây không phải là cuộc lánh nạn theo đúng nghĩa của nó. Ngay từ khi dừng chân Hoàng hậu đã cùng các thân tín triển khai ngay việc chiêu tập lực lượng, tổ chức ngay việc khai hoang, lập ấp và tiến hành khai khẩn đất hoang tạo nguồn lương thực thực phẩm. Có thể nhìn thấy sự tổ chức chặt chẽ và cẩn mật ở vùng hậu cứ  của Hoàng hậu. Một vùng rộng lớn và sôi động như thế nhưng cũng trong thời gian này, Ngô Cảnh Cẩn kéo quân tới cướp phá vùng trại đầu của họ Đỗ và tìm trang trại của bà nhưng không thể tìm thấy. Năm 1425, vua Lê Lợi kéo quân vào xứ Nghệ lấy vùng Hương Sơn lập căn cứ kháng chiến và xây dựng phòng tuyến chống giặc Minh. Chỉ sau khi có quan đại tướng Bùi Bị cùng Đinh Lễ – Đinh Bố đánh đuổi và giết chết Ngô Cảnh Cẩn, thì trang trại của bà và công chúa Huy Chân mới bắt đầu xuất hiện. Hoàng hậu Bạch Ngọc và công chúa Huy Chân mới nhận lời cùng Bùi Bị về gặp vua Lê Lợi. Tướng Bùi Bị đã đưa Hoàng Hậu Bạch Ngọc và Công chúa Huy Chân về yết kiến nhà vua. Trong bối cảnh này Hoàng hậu Bạch Ngọc lại có một quyết định sáng suốt mới là dâng tất cả lương thực chiến đấu, khí giới, tiền của mà quá trình bà đã tổ chức và tích lũy được trong nhiều năm cho triều đình. Chắc chắn mỗi lần nghĩ đến những ngày thánh cam go dựng cờ khởi nghĩa, những lúc quân lương khánh kiệt, bị quân thù bao vây và hình ảnh Lê Lai phải liều mình cứu chúa thì Lê lợi không thể không đánh giá cao về sự hợp tác và đóng góp quan trọng này vào sự thành công của cuộc kháng chiến chống quân Minh. Cảm phục trước tinh thần chí khí của bà Bạch Ngọc, Lê Lợi và các tướng lĩnh nghĩa quân đã lấy trang trại của bà làm hậu cứ và lập công chúa Huy Chân làm cung phi. Trang trại của Hoàng hậu Bạch Ngọc đã thành nơi tích lũy cung cấp quân lương và trở thành hậu cứ vững chắc cho cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của vua Lê Lợi đến ngày toàn thắng. Sau khi bình ngô đại cáo được tuyên cáo, vua Thái Tổ đã chấp thuận cho bà lập chùa Diên Quang (chùa Am) và chùa Tiên Lữ ỏ xã Đức Lập để Bà làm nơi tu hành. Bà về tu hành tại chùa Am ngày ngày tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thái dân an, cầu cho vong linh các quân sỹ đã hy sinh cho đất nước được siêu thoát.

Hơn sáu trăm năm đã trôi qua, kể từ ngày Hoàng hậu Bạch Ngọc tổ chức cuộc di dời lịch sử từ Kinh đô Thăng Long về quê hương Hà Tĩnh, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới những giác độ khác nhau, để lại  nhiều bài học quý giá, những tấm gương sáng về tài năng, trí tuệ và phẩm giá con người cho hậu thế muôn đời. Trong khuôn khổ một cuộc tọa đàm hôm nay chỉ xin nêu một khí cạnh nhỏ về một vài sự lựa chọn, hay cao hơn là những quyết định sáng suốt mang tầm chiến lược của một Hoàng hậu anh minh trong một triều đại anh minh nhằm góp phần tỏ lòng mến mộ và ghi nhớ công lao đóng góp của Hoàng hậu Bạch Ngọc vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta./.

 
%d bloggers like this: