Lưu trữ | 5:41 Chiều

Thơ Trần Trung Đạo: NHỚ NÚI THƯƠNG RỪNG – Huỳnh Ngọc Chênh

7 Th10

NHỚ NÚI THƯƠNG RỪNG

Mùa thu trong sân một ngôi chùa ở Boston sáng nay, chợt nhớ đến bài thơ viết cách đây khá lâu về cảnh núi rừng ở Quế Sơn, Quảng Nam và ngôi chùa trong những ngày còn nhỏ. 

NHỚ NÚI THƯƠNG RỪNG 

Ta vẫn hằng mơ ngày trở lại
Thăm rừng Nghi Hạ, núi Nghi Sơn
Núi đứng chờ ai khô lệ đá
Rừng xưa mấy độ lá thu rơi

Mưa có buồn hơn trên xóm vắng
Nắng có vàng thêm những buổi chiều
Ta đi tuyết đổ lên đời trắng
Mưa buồn như mắt mẹ đêm khuya

Chùa xa ai giục hồi chuông đổ
Hay tiếng ru con dưới mộ phần
Cả đời ta chưa yên giấc ngủ
Chập chờn mộng mị trắng thâu canh

Hàng tre Nghi Hạ còn hay mất
Có phải nơi này mẹ gặp cha
Ai uống ngày xưa ly nước vối
Mà nay cay đắng đọng đời ta

Quê hương, ta sẽ về thăm nhé
Dẫu ước mơ xưa đã tật nguyền
Lưng ta đời chém hàng trăm nhát
Còn đây nguyên vẹn một con tim

Ta vẫn hằng mơ ngày trở lại
Thăm rừng Nghi Hạ, núi Nghi Sơn
Sông Thu nước lớn bao mùa lụt
Có xóa dùm ta những tủi buồn

Biết còn chi nữa không Nghi Hạ
Chén rượu hoa niên đã nhạt rồi
Rừng xưa lá đã bao mùa rụng
Lòng người sao còn mãi chia phôi

Ta sẽ nói gì khi trở lại
Nghìn lời không đủ để quên đau
Giữa một non sông tràn máu lệ
Khóc cười cũng chẳng khác chi nhau

Phủi bụi giang hồ trên nếp áo
Ta về như gái khách hoàn lương
Mình ta đứng giữa trời mây trắng
Khóc tuổi xuân phai ở cuối đường.

Trần Trung Ðạo

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG – NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẸP – NTT

7 Th10

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG – NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐẸP

 nguyentrongtao
 
 TRẦN ÁNG SƠN

Nguyễn Thị Hoàng

Nhà văn NGUYỄN THỊ HOÀNG quê Quảng Điền, Triệu Đại, Triệu Phong (tác giả tiểu thuyết đầu tay “Vòng tay học trò” xuất bản năm 1966 từng gây xôn xao dư luận trong văn học Miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Các tác phẩm chính: VÒNG TAY HỌC TRÒ , 1967 * VỀ TRONG SƯƠNG MÙ , 1967 * RÊN THIÊN SĐƯỜNG KÝ ỨC, 1968 * MỘT NGÀY RỒIT HÔI, 1969 * NƯỚC MẮT, 1969 * CHO ĐẾN KHI CHIỀU XUỐNG, 1969, v. v…

Trước tiên, xin giới thiệu một bài thơ mang âm hưởng Trị – Thiên của NTH thời nữ sinh:

.

CHI LẠ RỨA

*

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc,
Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn.
Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen,
Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.
**
Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn !
***
Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi !

****
Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi ?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau !
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái !
*****
Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời ?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.
******
Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.
*******
Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rưá hè, ai hiểu nỗi !
********
Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ ?
*********
Tui cũng muốn có một người tri kỷ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng !
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với ! A, cười chi lạ rứa
**********
Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa,
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô !
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ,
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.

Trong số những nhà văn nữ  ở miền Nam, trước 1975- Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn nữ có sức sáng tác sung mãn nhất, bà viết rất đều tay, văn phong riêng biệt,  thắm đẫm cảm xúc. Văn thật như chính cuộc sống của nhà văn… Người theo dõi ngòi bút của bà, đều cảm nhận Nguyễn Thị Hoàng có hoài bão lớn, và để thực hiện, tôi có cảm giác nhà xuất bản Hoàng Đông Phương, bước đi đầu tiên  đặt nền tảng cho một sự nghiệp, mà tác giả có khát vọng trở thành nữ tiểu thuyết gia hàng đầu Mỹ, Pearl Buck.

Tôi viết những dòng này, thời điểm , tháng 4/2002- trong tay- không có 1 tác phẩm nào, như một tài liệu, để gọi  nói có sách, mách có chứng.   Nhưng, vì quá yêu  ngòi bút của bà, khởi đi từ chi tiết rất xa xăm – bàit hơ Lạ rứa!– do 1 người bạn ở Huế chép tặng 1957- tôi thực hiện cuộc trở về trong sương mù, viết bằng ký ức, cảm xúc. Cũng rất có thể, tôibị lạc lối , nhưng tấm lòng dành cho bài thơ Lạ rứa ! vẫn như xưa.

Từ 1967 đến 1970, bà đã xuất bản được 16 tác phẩm , 2 tái bản, quả là con số kỷ lục, khó 1 nhà văn nào dám ước mơ theo kịp !

Nói một cách khiên cưỡng, liệu có thể ví bà với nhà văn Lê Văn Trương, nhà văn độc nhất vô nhị, số tác phẩm lên tới con số 200 trong 59 năm  hiện  hữu ở cõi tạm,  Lê Văn Trương  để lại cho đới 125 tác  phẩm trong số 200 cuốn.  Ông là một hiện tượng, có lẽ còn lâu lắm mới có người thứ 2 theo kịp.

Trở về Nguyễn Thị Hoàng, đó là  tên thật , bút hiệu khác Hoàng Đông Phương, nữ sinh Trung học nữ Đồng Khánh ( Huế)  sinh viên năm thứ 2 Đại học Luật, Văn khoa  Saigon. Bà từng là giáo sư việt văn ( trung học)  ở Đà Lạt. Viết tiểu thuyết từ năm 25, quả tài năng Nguyễn Thị Hoàng, được xem như, một bối cảnh mang dáng dấp tàng kinh các- chỉ cần nhớ lại bài thơ Lạ rứa! đã là 1 chứng minh  có tài năng,  khi cỏn ngồi  trên ghế nhà trường.

Tôi nghĩ, Nguyễn Thị Hoàng có thể tự nhủ như thế, khi đặt tay  lên tác phẩm, cảm thấy chữ nghĩa trong từng trang sách đang ngỏ lời tri  ân đối với người đã viết ra , tạo cho chúng cuộc sống vĩnh cửu. Đó là phút giao cảm giữa tác giả và tác phẩm.

Là nhà văn, nhà thơ, nếu chưa được những giây phút ấy,  thì kể ra là điều đáng tiếc, và nên xem lại, mình đã tạo ra những đứa con tinh thần ấy trong khung cảnh nào ? …

Hình như, tôi vừa mộng du trên trang giấy, đi tìm một Nguyễn Thị Hoàng của ngày xửa, ngày xưa.   Sau 1975, tôi gặp  một Nguyễn Thị Hoàng hơi  hơi khác, thậm chí, có lúc tự hỏi, phải chăng đây còn là Nguyễn Thị Hoàng  – Hòang Đông Phương? Trước mặt tôi, là 1 người đàn bà có dáng dấp sang trọng, sành điệu, có đôi nét như mệnh  phụ, phu nhân ? Một Nguyễn Thị Hoàng  như thế, thì thật khó gần, và cho đến bây giờ, tuy gặp vài lần, nhưngtựa hồ chẳng hề quen ! Cái cảm giác gìn giữ, khi đọc bài thơ Lạ rứa !, hình như nó đang luồn lách xa khỏi tiềm thức của tôi. Tôi nhớ có 1 lần, khi  Euro 1982vừa kết thúc, bình luận về đá banh (lúc ấy chưa dùng từbóng đá) là mốt – người ta  nói về đá bóng ở bất cứ nơi nào, dễ dàng đi đến chỗ dễ đồng cảm. … tôi nghĩ về Nguyễn Thị Hoàng từa tựa là một trong số ấy!

Tôi gặp bà ởCâu lạc bộ, khi đang ngồi cùng Phong Sơn, trên bàn có bia hơi. Phong Sơn rủ tôi cùng ngồi chung bàn và giới thiệu Nguyễn Thị Hoàng.   Trước tôi, khi ấy, Nguyễn Thị Hoàng, với cách trang phục, như cố níu kéo thời gian chậm lại. Bà nói chuyện say sưa về bóng đá, về đội tuyển Pháp, sau khi đoạt chức vô địch Euro 82, nói về thủ môn  J.Bat (…) .
Ngồi đối diện với Nguyễn Thị Hoàng, nghe say sưa nói chuyện bóng đá, ngắm nhìn gương mặt, tôi chợt liên tưởng đến nét quí phái, đài các trong gia đình cự phú. Bỗng dưng, tôi cảm thấy có 1 khoảng cách  so với Nguyễn Thị Hoàng …!   Người phụ nữ đắm say trong thế giới hình tượng Vòng tay học trò đâu rồi ?! …

Mấy năm sau, cánh cửa văn học hé mở, không khí văn chương nhộn nhịp hẳn lên.  Tôi cặm cụi viết, bù lại thời gian đã mất.  Nguyễ Thị Hoàng cũng hoàn thành tác phẩm NHẬT KÝ , với độ dày 5, 6 trăm trang?  Nguyễn Thị Hoàng  rất tự tin thành công, như từng thành công trong quá khứ.

Và, NHẬT KÝ đã nhận lãnh ngay hậu quả  của chủ quanthô thiển. Nguyên nhân thì nhiều, lịch sử luôn luôn là  bài học bổ ích, một bậc thầy luôn luôncông bình, nghiêm khắc!
Lâu rồi, không gặp lại Nguyễn Thị Hoàng. Gần đây, tôi ghé thăm Phong Sơn, lại được nghe anh nhắc tớingười đàn bà  đẹp, theo cách gọi riêng tôi.

Mới đây thôi, Nguyễn Đạt cho tôi xem  chân dung ảnh Nguyễn Thị Hoàng chụp chung với  Nguyễn Thị Thụy  Vũ… và dĩ nhiên có cả Nguyễn Đạt – tôi mừng, vì nhận thấy trong ảnh, vẫn còn một Nguyễn Thị Hoàng như thuở nào –  nhưng duyên bút nghiên đã lạt phai.

Đúng, biết  lo bỗng dưng tôi thở dàirồi !  …

_________
* Người đàn bà đẹp – Nxb Trẻ, tp. HCM, 2002 – tập  2).

Thượng sách giữ nước – TN

7 Th10

Thượng sách giữ nước

Hôm 5.10, tỉnh Nam Định làm lễ kỷ niệm 750 năm Thiên Trường (1262-2012) để tưởng nhớ về một kinh đô thứ 2 của Vương triều hiển hách nhà Trần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: sau khi nhà Trần thay nhà Lý (1226) cai trị đất nước thì trung tâm quyền lực vẫn đặt tại kinh đô Thăng Long.

Nhưng để nhớ về nguồn cội và còn với ý đồ làm chỗ dựa tiến thoái lâu dài, vua Trần Thái Tông đã cử quần thần về Tức Mạc (xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, Nam Định bây giờ) xây dựng một cung điện có dáng dấp như kinh đô Thăng Long thu nhỏ. Từ đó, hương (giống với làng) Tức Mạc trở thành phủ Thiên Trường với địa giới gom về là 4 huyện Giao Thủy, Nam Chân, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên. Và hành cung Tức Mạc được coi là thủ phủ của Thiên Trường từ 1262. Theo quan niệm các bậc tiền nhân, Thiên Trường là mảnh đất của Trời và sẽ tồn tại trường kỳ.

Nhờ có vị trí chiến lược quan trọng nhất định, khi binh biến có thể lui quân cùng triều đình về tạm lánh, Thiên Trường gắn bó với vương triều Trần qua 14 đời vua. Trong 175 năm trị vì, tuy chưa bằng nhà Tiền Lê nhưng nhà Trần đã để lại cho sử sách và đời sau nhiều tiếng thơm.

Dưới thời nhà Trần, bộ óc thao lược, kiệt xuất của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã giúp quân dân ta ba lần đánh tan quân Nguyên – Mông, đội quân khét tiếng đã từng làm cả thế giới khiếp sợ. Tài năng và đức độ của Trần Hưng Đạo khiến nhân dân coi ông như một vị Thánh, còn thế giới ngày nay cũng đánh giá ông là một trong những vị tướng tài giỏi nhất mọi thời đại. Bản thân con người vĩ đại ấy luôn thấu hiểu dân chính là nguồn cội của sức mạnh giữ nước và dựng nước. Ông luôn chăm lo cho sức dân dù lúc binh đao loạn lạc hay lúc thanh bình. Trước khi qua đời, trong di chúc của mình, Trần Hưng Đạo đã đúc kết rằng phải “khoan thư sức dân”. Theo ông, đó chính là “thượng sách để giữ nước” và là “kế sâu rễ bền gốc”.

Về cơ bản, nhà Trần luôn được xem là triều đại có nhiều bậc vua sáng, tôi hiền. Với đức Vua Phật Trần Nhân Tông, mọi quyền lợi cá nhân đều là vô nghĩa. Toàn tâm, toàn ý với sự nghiệp của giang sơn Đại Việt, Người đã đào tạo được rất nhiều bậc kỳ tài trên mọi lĩnh vực quân sự, chính trị và xây dựng đất nước. Đó là thứ tài sản vô giá đối với bất kỳ một dân tộc nào. Phật sống Trần Nhân Tông là người yêu hòa bình rất mực, Người luôn tìm cách tránh mọi cuộc chiến tranh bởi theo đức vua, binh đao chỉ gây nên tang tóc cho muôn dân. Chỉ khi nào kẻ xâm lăng tiến vào bờ cõi đất Việt thì khi đó mới buộc phải cầm gươm, cầm giáo.

Tư tưởng đại đoàn kết để phát triển đất nước của nhà Trần cũng là một căn nguyên để giải mã vì sao nhà Trần kéo dài sự tồn tại của mình tới 175 năm. Cần nhớ rằng, cũng có những giai đoạn nhà Trần có chuyện bất hòa nội bộ. Nhưng kỳ lạ thay, mỗi khi gặp khó khăn, gặp chiến tranh… mọi chuyện đều được vua tôi tạm gác lại để mưu cầu việc lớn với sự đồng lòng cao độ. Chính vì thế đều vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Hôm nay, từ kinh nghiệm của cha ông, chúng ta dù có gặp phải nhiều khó khăn thử thách nhưng nếu trên dưới đều đồng lòng, dân tin nhà nước, nhà nước tin dân và biết cách khoan sức dân đúng việc, đúng lúc thì chắc chắn đất nước sẽ ngày một phát triển bền vững. 

lQuốc Phong

Mạc Vị Xuân Tàn Hoa Lạc Tận Đình Tiền Tạc Dạ Nhất Chi Mai. VCV

7 Th10

 

Mạc Vị Xuân Tàn Hoa Lạc Tận Đình Tiền Tạc Dạ Nhất Chi Mai.

Nguyễn Cẩm Xuyên

 

 Trong lịch sử nước ta, triều Lý (1010-1225) là triều đại cường thịnh về quân sự, vững vàng về chính trị và rực rỡ về văn học. Mở đầu cho nền văn học viết, thơ văn đời Lý truyền lại được đến nay phần lớn chỉ ghi lại trong Thiền Uyển tập anh (1), tập sách do Thiền sư Kim Sơn thuộc Thiền phái Trúc lâm (2) viết vào năm 1337, đời Trần nhưng lại chủ yếu ghi hành trạng của các tăng sĩ đời Lý thuộc 03 dòng Thiền: Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu chiHuệ phái Thiền sư Thảo Đường.

 

Các cao tăng đời Lý học rộng, tinh thông Phật pháp lại giỏi Hán học nên được triều đình kính nể. Đạo Phật được tôn vinh nên nhiều người muốn tìm học triết lý Phật giáo. Ngoài việc thuyết giảng, các nhà sư còn dùng “kệ”, một thể thơ nhà Phật nhằm truyền đạt những ý cao siêu uyên áo của Phật pháp bằng những hình ảnh, những câu thơ ngắn gọn sinh động mà dễ hiểu.

 

Thiền Uyển tập anh chép lại nhiều bài kệ (3) nhưng nổi bật nhất có bài sau đây của Đại sư Mãn Giác :

 

 

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

 

“NHẤT CHI MAI” LÀ “MỘT CÀNH MAI” HAY “MỘT CÀNH MƠ” ?

 

Bài kệ chỉ có 6 câu, không có đầu đề;

 

Hoàng Xuân Hãn đã dịch ra quốc ngữ như sau:

 

“Xuân qua trăm hoa rụng,
Xuân lại nở trăm hoa.
Trước mắt sự đời thoảng,
Trên đầu hiện tuổi già.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết;
Ngoài sân đêm trước một cành mơ. ”

 

Đọc bản dịch thơ của Hoàng Xuân Hãn, có người lấy làm lạ bởi sao câu cuối lại dịch : “một cành mơ”. Đáng ra chữ “nhất chi mai” phải dịch là “một cành mai ” ?.

 

Quả vậy, từ trước đến nay nhiều người vốn đã rất quen với bản dịch của Ngô Tất Tố :

 

Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết;
Đêm qua, sân trước một nhành mai.

 

Cũng như nhiều bản dịch khác, Ngô Tất tố giữ nguyên chữ mai trong nguyên tác. Thật ra thì trong chữ Hán 梅 (mai) là cây mơ. Cây mơ ở Trung Quốc có nhiều, là loại cây ăn quả có hoa đẹp màu trắng, có khi hơi ửng hồng hoặc đỏ. Riêng nước ta, mơ có nhiều ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt là ở vùng rừng núi động Hương Tích.

Ở Hương Tích, Nguyễn Bính đã từng tả “Thấp thoáng rừng mơ – cô hái mơ” và Chu Mạnh Trinh cũng đã viết :

 

“Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái;

Lửng lờ khe Yến cá nghe kinh…”.

 

Mơ mọc thành rừng. Rừng mai đây chính là rừng mơ chớ không phải là rừng mai vàng như nhiều người lầm tưởng.

Thật vậy, vì điều kiện thổ nhưỡng, hoàng mai tức là cây mai vàng nở hoa vào dịp tết âm lịch  chỉ có từ Quảng Trị trở vào. Lãnh thổ nước ta vào thế kỉ XI lại chỉ mới đến chân đèo Ngang cho nên vào thời điểm ấy, xem như nước ta chưa thể có hoàng mai mà chỉ có hoa mơ… và hoa mơ trong thơ xưa vẫn gọi là hoa mai.

Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông có bài thơ Hoa mai :

 

“…Hoa bạc phau phau xâm khí tuyết,
Chồi xanh êu ếu lạt hơi may”

 

Sắc hoa bạc phau phau ở câu thơ chính là sắc trắng của hoa mơ.

 

Vậy mai trong lời thơ của Mãn Giác chính là cây mơ. “Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” dịch là “Ngoài sân đêm trước một cành mơ” là đúng.

 

Một lí do nữa để lí giải:

 

Kệ của Thiền Tông khác với thơ nghệ thuật. Thơ nghệ thuật có thể tưởng tượng nên hình ảnh mà đưa vào thơ miễn là hợp lí và giàu chất thẩm mĩ; thậm chí ở thơ cổ điển, tả sự việc theo cách ước lệ thì có khi không có lá ngô đồng rụng, chẳng thấy có tuyết rơi …mà nhà thơ vẫn có thể tưởng nên cảnh thu với “giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”, tả mùa đông với tuyết phủ mơ màng… Kệ của Thiền Tông thì không phải như thế. Mọi việc, mọi vật trong kệ phải là thực tế nhãn tiền – vì vậy khi hoàng mai là loài hoa vốn không có ở nước ta vào thế kỉ XI thì chẳng thể nào Mãn Giác lại có thể đưa cành mai vàng rực rỡ ấy vào thơ được; chỉ có thể ở đây : một cành mơ, một thực tế cụ thể làm phương tiện cho trực giác.

 

Cành hoa mơ được Mãn Giác đưa vào bài kệ cũng do một dụng ý khác nữa là gợi cho người nghe nhớ lại truyền thuyết “Niêm hoa vi tiếu” của Phật Thích Ca trên núi Linh Thứu;

 

Sách “Tông môn tạp lục” đời Tống (960-1127) có kể lại câu chuyện:

 

Phạn Vương đến Linh Sơn hiến Phật cành hoa “Ba la” và thỉnh Phật thuyết pháp. Thế Tôn đăng tòa đưa cành hoa lên cho mọi người xem; tất thảy đều không hiểu ngài muốn nói gì, đều lặng thinh, chỉ có Kim Sắc Đầu Đà Ca Diếp tươi nét mặt và mỉm cười. Thế Tôn liền nói: Ta đã có Chánh pháp nhãn tàng, Niết bàn diệu tâm, Thực tướng vô tướng, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp…

 

Theo Thiền Tông, Phật im lặng đưa lên một cành hoa là cách “Dĩ tâm truyền tâm” và Ca Diếp đã đốn ngộ được chân lí.

 

MỘT LỜI THƠ NÓI ĐƯỢC CẢ TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG

 

Đạo Phật từ Trung Hoa truyền sang ta từ đời nhà Đinh, đến đời Tiền Lê đã phát triển mạnh. Đời Lê Đại Hành, sư Vạn Hạnh có tiếng là một nhà tiên tri và rất được triều đình kính trọng. Sách Thiền Uyển tập anh chép: “năm Thiên Phúc thứ I (980) tướng Tống là Hầu Nhân Bảo kéo quân sang cướp nước ta đóng quân tại Cương giáp, Lạng sơn. Vua mời sư đến, đem chuyện thắng bại ra hỏi, sư đáp “Trong vòng 3, 7 ngày, giặc phải lui”. Sau quả nhiên như thế.

 

Đến khi vua muốn đánh Chiêm Thành, việc bàn định chưa dứt khoát, sư tâu “Xin mau cất binh, nếu không ắt mất cơ hội”. Sau đánh quả nhiên thắng trận.”

 

Sang đến đời Lý, vua rất tôn sùng đạo Phật. Vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan rất mộ đạo Phật, thường mời các nhà sư nổi tiếng như Thông Biện, Mãn Giác, Chân Không, Giác Hải, Không Lộ vào nội cung để giảng kinh và đàm đạo. Các cao tăng này đều thuộc Thiền Tông là tông phái của Phật giáo Đại thừa. Thiền Tông không dùng nghi thức tôn giáo và các lí luận rườm rà về giáo pháp; chủ trương không phân tích chi li triết lí Phật giáo như các tông phái khác mà đề cao việc tìm đến chân lí bằng trực giác và dùng phương pháp toạ thiền để kiến tính. Trực giác là con đường ngắn nhất để đạt đạo đồng thời cũng là con đường khó nhất.

 

Các vương hầu đời Lý cũng quý trọng các Thiền sư: Lương Nhậm Văn, Lý Thường Kiệt, Vương Tại, Đoàn Văn Liệm, Phụng Càn Vương, Thiên Cực Công chúa… đều thường giao thiệp mật thiết với các cao tăng. Nhiều vị thiền sư lại là con cháu vua, hoàng hậu hay các đại thần nên có vị trí chính trị cao. Riêng Thiền sư Mãn Giác được vua Lý Nhân Tông và Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu thỉnh về trụ trì tại chùa Giác Nguyên bên cạnh cung Cảnh Hưng. Ðến khi Sư viên tịch, vua kính lễ rất hậu, các công khanh đều tiễn đưa, làm lễ hỏa táng, thu xá lợi, xây tháp thờ tại chùa Sùng Nghiêm (làng An Cách). Mãn Giác là tên hiệu do Vua Lý Nhân Tông ban cho sau lễ hoả táng.

 

Sư Mãn Giác (4) là đệ tử chân truyền của Thiền sư Quảng Trí và là lãnh tụ pháp môn của dòng Thiền Vô Ngôn Thông, thuộc đời thứ 8.

 

Vô ngôn thông. “Không cần nói mà đạt đạo” là tôn chỉ của đạo Thiền. Không thuyết lí dài dòng; không nói nhiều, không kiến chấp, không ngộ nhận… chỉ lặng lẽ xem cuộc tuần hoàn: Xuân qua trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa nở/ việc đời qua trước mắt/ tuổi già đến trên đầu…bài kệ chỉ nêu sự việc làm phương tiện truyền đạt ý : Sự việc trước mắt là cái tất định của tự nhiên cứ tuần hoàn mà thay đổi.

 

Người theo Thiền chấp nhận định luật của tự nhiên, vô ngônphá chấp.

Nắm quy luật; biết tương lai: chớ nói xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước – một cành mơ.

 

Tương lai tận cùng của Phật pháp cũng như ở đạo Thiền là cõi niết bàn. Trong kiếp luân hồi có khi hoa tàn rụng cả nhưng cái suy tàn lại khởi đầu cho một tương lai mới. Cành mơ mới nở là hình tượng vô ngôn của niềm lạc quan vô biên mà tĩnh tại.

 

KHÔNG NÊN ĐẶT ĐẦU ĐỀ CHO BÀI KỆ CỦA MÃN GIÁC THIỀN SƯ

 

Chúng tăng ghi bài kệ của Thiền sư Mãn Giác đọc lúc sắp mất và mãi đến 7 thế kỉ sau, Lê Quý Ðôn mới chép lại và đặt tên: “Cáo tật thị chúng” nghĩa là có bệnh bảo mọi người (5). Sách vở nay cũng theo đó mà chép. Thật ra đầu đề này đã phá hết nghĩa sâu xa của bài kệ.

 

Lê Quý Đôn là nhà Nho đời Lê-Trịnh. Tư tưởng Nho giáo là tư tưởng nhập thế, cách nhìn cách nghĩ thường tập trung vào những lẽ được thua ở đời: khi gặp minh chúa thì nhập thế, giúp đời, khi bất phùng thời thì quay về ẩn dật. Lúc ẩn dật, nhà Nho thường nhìn việc đời bi quan. Khuất Nguyên tự trầm trên sông Mịch La cũng vì lẽ bi quan ấy.

 

Tư tưởng của Nho giáo và Thiền Tông không gặp nhau và có lẽ  vì thế Lê Quý Đôn đã chọn cho bài thơ đầu đề

 

“Có bệnh bảo mọi người”.

 

Hiểu bài kệ của sư Mãn Giác thì không nên nói đến chuyện “có bệnh” ở đây. Bài thơ nói “việc đời qua trước mắt; tuổi già đến trên đầu”…là hoàn toàn không có gì bi quan. Đã là Thiền sư thì không bi quan trước lẽ tử sinh. Tất cả sự việc xảy ra trong cuộc sống là hiện tượng. Thiền học dùng hiện tượng làm phương tiện đốn ngộ. Hãy đọc câu chuyện thiền Nhật Bản “Không nước; không trăng” :

 

Ni cô Chiyono đã tu nhiều năm, nhưng chẳng thấu đạt được chân lí. Một đêm, cô gánh nước về tu viện; vừa đi vừa ngắm ánh trăng rọi xuống mặt nước trong thùng. Bỗng nhiên, đòn gánh gãy đôi, giây thùng đứt và thùng nước rơi xuống. Nước đổ ào ra, bóng trăng tan biến – không còn nước, không còn trăng. Chiyono hốt nhiên giác ngộ. Cô đọc bài kệ: 

 

“Bằng cách này hay cách khác, tôi đã cố giữ đôi thùng nước, 
Mong rằng chiếc đòn gánh dòn yếu kia sẽ không gãy 
Bất chợt, giây đứt thùng văng, 
Không còn nước trong thùng, không còn trăng trong nước; 
Tay tôi rỗng không, chẳng có vật gì, 
Tâm tôi rỗng không, chẳng có vật gì”.

 

Chiyono đốn ngộ được là nhờ trực giác cảm nhận từ cái rỗng không này. Những kiến chấp qua bao nhiêu năm tháng tu hành của cô không sánh được với trực giác nảy sinh từ cảm nhận nhất thời.

 

So sánh bài kệ của Mãn Giác với “Không nước, không trăng”  ta thấy có điểm giống: cả hai cùng trải qua thực tế nhãn tiền. Mãn Giác đại sư nhìn việc đời qua trước mắt/ tuổi già đến trên đầu là giống với ni cô Chiyono nhìn ánh trăng soi qua mặt nước trong thùng… rồi cái hiển hiện ấy bỗng tan biến mất – cái còn lại chỉ là “không”.

 

Bài kệ của Mãn Giác và câu chuyện Thiền Nhật Bản đều muốn truyền đạt chân lí thông qua trực giác. Mãn Giác muốn mọi người cảm nhận bằng trực giác từ cành hoa mơ; Chiyono thì dùng cái “không”Không còn nước trong thùng, không còn trăng trong nước”. Đây là những phương tiện của Thiền giúp người đời vượt qua kiến chấp để đến với chân lí, đến với cái “không”  tĩnh tại.

 

Vậy thì ở bài kệ của Mãn Giác: việc hoa tàn, hoa nở… việc chuyện đời trôi, tuổi già đến…, tất cả đều là vô thường, không có gì đáng bận tâm mà ngược lại là phương tiện của đốn ngộ.

 

Kệ cũng là kinh; kệ có khi dùng nhật tụng. Thiền Tông đọc kệ để ngộ đạo. Bài kệ của Mãn Giác nhằm giúp ngộ đạo bằng con đường trực giác vậy sao lại có thể truyền đạt cảm nhận bi quan “có bệnh” được? Cảm nhận này là không phù hợp với tinh thần lạc quan, yên nhiên của Thiền Tông.

 

Các bài kệ của Thiền Tông đều không đề vậy tốt nhất là đừng cố tìm lấy một đầu đề cho bài kệ của Mãn Giác.

 

 

CHÚ THÍCH:

 

(1) Thiền Uyển tập anh có nghĩa là gom góp những anh hoa của vườn Thiền.

(2) Thiền tông ( 禪 宗 ) là một tông phái của Phật giáo,  xuất phát từ Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 6, 7 khi đạo Phật kết hợp với tư tưởng Lão giáo. Thiền tông chủ trương dùng kinh nghiệm chứng ngộ, không bàn luận nhiều về lí thuyết. Thiền Tông sang nước ta từ lâu nhưng Thiền phái Trúc Lâm đến đời nhà Trần mới lập bởi vua Trần Nhân Tông.

(3) Kệ: còn gọi là thi kệ là những bài thơ mang nội dung truyền đạt tư tưởng nhà Phật. Kệ có khi chỉ là những câu rất ngắn như tục ngữ nhưng thông thường là những bài thơ, nhằm truyền bá tư tưởng nhà Phật. Thi kệ gần như là những bài thuyết pháp ngắn mà sâu sắc để dạy đệ tử.

(4) Thiền sư Mãn Giác (1052-1096), tên thật là Lý Trường (Thiền Uyển tập anh ghi là Nguyễn Trường là vì vào đời Trần, tất cả những người họ Lý đều chuyển ghi thành họ Nguyễn) người đất Lũng Chiền, làng An Cách, là con quan Trung thư Viên ngoại lang Lý Hoài Tố. Đời Lý Nhân Tông, vua thường cho con em các danh gia vào hầu hai bên, Lý Trường cũng được dự. Lớn lên tinh thông cả Nho và Phật học, lại thường chú  tâm vào Thiền học, được Nhân Tông và Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan quý trọng,  ban cho hiệu Hoài Tín…

Ngày 30 tháng 11 năm Hội Phong thứ 5 (1096), sư cáo bệnh. Sau khi đọc bài kệ dạy chúng, sư ngồi kiết già mà mất, thọ 45 tuổi đời, 19 tuổi hạ. Vua tặng hậu lễ, công khanh mỗi mỗi đến dâng hương, trà tỳ xong, thu xá lợi xây tháp ở chùa Sùng nghiêm, làng An cách. Vua sắc thụy là Mãn Giác.

(5) *  Theo Thơ văn Lý Trần; tập I; NXB Khoa Học Xã Hội, 1977 thì  tên bài thơ “Cáo tật thị chúng” là do Lê Quý Đôn đặt.

 

(Tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY  số Tất niên Kỉ Sửu ngày 01/ 02/ 2010)

 

Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, Ban KHXHNV, tập 1 – Bộ 2; NXB Giáo Dục, 2003, ghi tiểu dẫn ở bài Cáo tật thị chúng: “Bài Kệ của Mãn Giác thiền sư vốn không có nhan đề. Nhan đề Cáo tật thị chúng là do người đời sau đặt.”

 

Nguyễn Cẩm Xuyên
 

“Tìm quê hương” của vua Lý Nam Đế – TN

7 Th10

“Tìm quê hương” của vua Lý Nam Đế

Gần 15 thế kỷ sau khi Lý Nam Đế lên ngôi, trở thành người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế, một hội thảo được tổ chức để xác định quê hương của ông.

 “Tìm quê hương” của vua Lý Nam Đế
Chùa Hương Ấp, thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, Phổ Yên, Thái Nguyên (nơi Lý Nam Đế tu hành thời nhỏ)

“Nếu như công lao và sự nghiệp của vua Lý Nam Đế hết sức to lớn – mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc, thì có một khoảng trống lớn trong tiểu sử của ông vẫn chưa được lấp đầy trong suốt gần 15 thế kỷ qua”, GS-NGND Đinh Xuân Lâm đề dẫn hội thảo về vấn đề quê hương Lý Nam Đế. Hội thảo do Hội Khoa học lịch sử tổ chức hôm qua 6.10 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.

Một trong những lý do khiến quê hương vua Lý Nam Đế còn chưa rõ ràng là các sách sử của Trung Quốc và Việt Nam đều không khẳng định chính xác hoặc đề cập chung chung như “Thái Bình nhân”. “Từ điều này có người cho rằng Lý Nam Đế quê ở Thái Bình ngày nay. Có nhà nghiên cứu lại cho rằng đó phải là Thái Bình dưới thời thuộc Đường rồi khoanh vùng chứng minh nó phải thuộc Hà Tây. Ý kiến thứ ba cho rằng Thái Bình là tên ấp thuộc châu Giã Năng xưa, thuộc Thái Nguyên ngày nay”, PGS-TS Nguyễn Phương Chi, Viện Sử học nói.

Thậm chí, có nhóm tác giả trong cuốn Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân còn công bố một truyền thuyết mà theo họ tuy không có văn bản nhưng phổ cập tại Thái Bình. Theo đó, Lý Bí được sinh ra tại chùa Hưng Quốc (Thái Bình). Tuy nhiên, một nghiên cứu điền dã của Viện Sử học cho thấy tại vùng có chùa Hưng Quốc không hề có truyền thuyết như trên. “Chúng tôi đều nhận được câu trả lời nhân dân chúng tôi không dám nhận đây là đất sinh ra vua Lý Nam Đế. Một cụ còn thay mặt địa phương nói đại ý địa phương không có truyền thuyết chùa Hưng Quốc là nơi sinh ra vua Lý Nam Đế”, PGS-TS Nguyễn Minh Tường, Viện Sử học loại bỏ giả thuyết quê Lý Nam Đế tại Thái Bình.

Cũng từ nghiên cứu điền dã kết hợp văn bia, ngọc phả, theo ông Tường, quê hương của Lý Nam Đế phải ở Thái Nguyên. Chẳng hạn, một ngọc phả ghi Lý Nam Đế tu tại chùa Hương Ấp (Thái Nguyên – NV) đến năm 13 tuổi thì theo Phổ Tổ thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá thuộc Hoài Đức, Hà Nội.

Ông Tường cũng liên hệ với việc vua về “huyện Thái Bình” để phất cờ khởi nghĩa. Theo đó, muốn phát động một cuộc khởi nghĩa thì phải hội được 2 điều kiện quan trọng đầu tiên là “nghĩa binh” và “lương thực”. Căn cứ vào đó, đất Thái Bình cổ ứng với Hoài Đức, Hà Nội đáp ứng tốt điều kiện hơn quê hương tại Thái Nguyên hiện nay. “Sử cũ đã nhầm khi nghĩ rằng nơi vua Lý Nam Đế lựa chọn để khởi nghĩa là quê hương của người”, ông Tường nói.

Một thực tế thú vị, theo GS-NGND Đinh Xuân Lâm, là trước khi các nhà khoa học xác định được quê hương của vua Lý Nam Đế thì dân hai vùng Tiên Phong (Phổ Yên, Thái Nguyên) và Giang Xá (Hoài Đức, Hà Nội) đã tự nguyện đi lại thăm viếng lẫn nhau từ hơn 10 năm qua. Họ cũng mặc nhiên thừa nhận nơi có chùa Hương Ấp – Thái Nguyên – là quê hương của vua Lý Nam Đế. Nhân dân làng Giang Xá (nơi thờ Lý Nam Đế làm thành hoàng), về mặt tâm linh đã thừa nhận Thái Nguyên là quê hương của vị thần Thành hoàng làng mình.

“Chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần phải “trả” vua Lý Nam Đế về với quê hương đích thực của người là thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, H.Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, PGS-TS Nguyễn Minh Tường nói. “Chúng tôi vẫn thừa nhận đất tỉnh Thái Bình hiện nay có nhiều di tích lịch sử gắn với vua Lý Nam Đế, nhưng đó chỉ là những di tích liên quan tới những cuộc chiến sự dưới thời Tiền Lý. Nhân dân các xã có đình, đền thờ Lý Nam Đế ở Thái Bình từ xưa đến nay, chưa bao giờ tự nhận là quê hương của người”.

“Trong một tương lai gần, chúng tôi xin trân trọng đề nghị nhà nước ta cùng các cơ quan hữu quan cần xây dựng một ngôi đền thời đức vua Lý Nam Đế trên đất quê hương của người: thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, H.Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, ông Tường nêu ý kiến.

Trinh Nguyễn

 
 

Sự lột xác kỳ diệu – NLĐ

7 Th10

Sự lột xác kỳ diệu

Đất nước Myanmar đang bước vào tiến trình cải cách dân chủ và hòa giải dân tộc, mở ra triển vọng “đổi đời” của 51 triệu dân đa sắc tộc.

Tiến trình này được tạp chí Nghiên cứu châu Á xuất bản tại Mỹ nhận xét là “cuộc lột xác kỳ diệu” mà nhiều nước phương Tây, trước hết là Mỹ và Liên hiệp châu Âu (EU), tuyên bố sẵn sàng hợp tác “để kiếm lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ chưa được khai thác của Myanmar”.

Để quảng bá tiến trình cải cách và nâng cao uy tín đất nước, cuối tháng qua, Tổng thống (TT) Myanmar Thein Sein cùng nữ nghị sĩ Aung San Suu Kyi, thủ lĩnh Đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) đối lập, đã đi thăm Mỹ; trong khi Chủ tịch Quốc hội Thura Shwe Man đi thăm Úc và Singapore. Giáo sư Bridget Welsh, Khoa Chính trị Trường Đại học Singapore, ngợi khen TT Thein Sein và bà Suu Kyi có “chuyến thăm lịch sử” tại Mỹ và sứ mệnh quảng bá quốc tế của “bộ ba nhà lãnh đạo Myanmar là chưa từng có trong lịch sử đất nước này nhằm gửi bức thông điệp chung: Myanmar đang thay đổi”.

Chuyến thăm Mỹ 17 ngày của bà Suu Kyi được giới ngoại giao quốc tế chăm chú theo dõi và đánh giá cao triển vọng cải thiện quan hệ giữa Mỹ và Myanmar. Là nhà hoạt động xã hội được tặng giải Nobel Hòa bình, bà đã hội kiến TT Mỹ Barack Obama và được Quốc hội Mỹ trao tặng huy chương vàng về thành tích đấu tranh cho tự do – dân chủ.

Bà Suu Kyi, 66 tuổi, đã trở thành thần tượng của lực lượng dân chủ Myanmar. Bị 14 năm quản thúc tại gia dưới chế độ độc tài quân sự, sau chiến thắng vang dội của Đảng NLD đối lập tại cuộc tổng tuyển cử năm 1990, bà được trả lại tự do khi cựu tướng Thein Sein giữ chức TT chế độ mới và đã trúng cử hạ nghị sĩ trong cuộc bầu cử quốc hội bổ sung tháng 4 năm nay.

Tạp chí Nghiên cứu châu Á viết: “Đúng là có sự lột xác kỳ diệu vì bà Suu Kyi nghiễm nhiên trở thành nghị sĩ, được cả phe đối lập và người dân Myanmar hy vọng. Vai trò của người dân trong đời sống chính trị chắc chắn sẽ được gia tăng”.

Theo hãng AP, bức thông điệp chung của TT Thein Sein và bà Suu Kyi đã được Mỹ chấp nhận. Washington đã vui mừng hoan nghênh những cố gắng thực hiện cải cách chính trị của chính phủ Thein Sein. TT Barack Obama đã đồng ý gỡ bỏ mọi sự trừng phạt kinh tế, kể cả lệnh cấm Myanmar xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ và sớm mở lại sứ quán Mỹ tại Myanmar để chấm dứt 50 năm đóng băng quan hệ giữa hai nước.
 
AP viết: Đã có nhiều dấu hiệu nền dân chủ đang được khôi phục. Hàng trăm tù chính trị đã được trả tự do. Báo chí được tự do hơn trước. Chính phủ đang cho phép thành lập các tổ chức Công đoàn. Nhiều tổ chức nhân quyền đã ra đời. Niềm tin của dân tăng lên nhiều. Các nhà đầu tư quốc tế đang rục rịch trở lại Myanmar.

Tại khóa họp Đại hội đồng LHQ, TT Thein Sein trả lời phỏng vấn đài BBC: “Tôi sẽ chấp nhận bà Aung San Suu Kyi làm TT nếu bà được nhân dân Myanmar bầu trong cuộc bầu cử năm 2015. Giữa 2 chúng tôi không có vấn đề gì trắc trở. Chúng tôi đang cộng tác tốt với nhau”. Tuy nhiên, ông nói “có một hàng rào ngăn cách” là Hiến pháp Myanmar hiện nay cấm người nào có quan hệ thân thiết với người nước ngoài giữ chức vụ cao, trong khi bà Suu Kyi có chồng người Anh (tuy đã mất) và có 2 con trai không nhập quốc tịch Myanmar. Ông thẳng thắn nói cần phải sửa đổi hiến pháp để “xóa bỏ rào cản kỳ thị”.

ĐỖ CHUYÊN

Một lính Bắc Triều Tiên hạ sát hai sĩ quan để vượt tuyến sang Hàn Quốc – RFI

7 Th10

Một lính Bắc Triều Tiên hạ sát hai sĩ quan để vượt tuyến sang Hàn Quốc

Lính Bắc Triều Tiên đi tuần tại vùng biên giới.

Lính Bắc Triều Tiên đi tuần tại vùng biên giới.

Reuters

Quân đội Hàn Quốc cho biết một binh sĩ Bắc Tiều Tiên đã vượt giới tuyến và đang được bảo vệ . Binh sĩ này khẳng định là phải hạ sát hai sĩ quan chỉ huy trước khi chạy sang miền nam. Vụ vượt tuyến xảy ra trong bối cảnh khá nhạy cảm.

 

Vụ vượt tuyến của một binh sĩ Bắc Triều Tiên xảy ra vào ngày hôm nay, thứ Bảy 06/10/2012. Theo tường thuật của một phát ngôn viên quân đội Hàn Quốc với báo chí thì sau khi nghe sáu tiếng súng , binh sĩ biên phòng của Hàn Quốc phát hiện một người lính Bắc Triều Tiên đang vượt làn ranh vùng phi quân sự. Khi biết binh sĩ này tỏ ý muốn chạy sang miền nam, biên phòng Hàn Quốc đưa anh đến một nơi an toàn và được bảo vệ.

Trong cuộc thẩm vấn sơ khởi, người lính vượt tuyến khai là đã phải bắn chết trung đội trưởng và đại đội trưởng của đơn vị mình trước khi đào thoát.

Theo AFP, chưa có một nguồn tin độc lập nào xác nhận câu chuyện của người lính miền bắc . Nhưng một sĩ quan cao cấp Hàn Quốc xin giấu tên xác nhận với hãng Yonhap là có thấy hai quân nhân Bắc Triều Tiên « nằm trên đất ».

Bắc Triều Tiên chưa có phản ứng nhưng vụ vượt tuyến xảy ra trong bối cảnh khá tế nhị : Seoul và Bình Nhưỡng lên án nhau có hành động khiêu khích trong khi Hàn Quốc đang ở giai đoạn chuẩn bị bầu tổng thống ngày 19/12 tới.

Biện pháp vượt vĩ tuyến 38 tìm tự do hiếm khi xảy ra, đây là vụ thứ tư trong vòng 10 năm gần đây. Thông thường người Bắc Triều Tiên đi sang Trung Quốc rồi sau đó tìm đường đến Bắc Kinh chạy vào sứ quán Hàn Quốc xin tị nạn. Trong những năm gần đây, nhiều người đã xuyên qua Trung Quốc đến tận các nước Đông Nam Á để cầu cứu với Liên Hiệp Quốc.

Từ khi chiến tranh kết thúc, hơn 23.000 dân Bắc Triều Tiên đã thành công tới được Hàn Quốc. Những người kém may mắn nếu không bị bắn chết trên đường vượt biên giới thì cũng đang bị trừng phạt trong số 200.000 tù nhân ở các trại tù bí mật.

 

Obama, Romney và chuyện TQ – BBC

7 Th10

Obama, Romney và chuyện TQ

Vũ Quí Hạo Nhiên

Viết riêng cho BBC  

Ông Obama và ông Romney tại cuộc tranh luận ở DenverÔng Obama và ông Romney đều áp dụng chiến thuật chống Trung Quốc để vận động tranh cử.

Tại Bấm cuộc tranh luận đầu tiên trong 3 cuộc tranh luận được dự trù giữa đương kim Tổng thống Barack Obama và ứng cử viên đảng Cộng hòa Mitt Romney hôm 3/10, Trung Quốc bị cả hai người đem ra chỉ trích.

 

Obama, khi nói về thuế, đòi chỉnh sửa kẽ hở trong luật thuế để những công ty nào dọn qua Trung Quốc sẽ không còn được trừ thuế nữa. Romney, một cựu thương gia, quả quyết sẽ “trừng phạt Trung Quốc khi họ gian lận,” và nói sẽ không muốn phải “mượn tiền của Trung Quốc” nữa.

Tất nhiên, khi công phiếu của nước Mỹ được bán trên thị trường thì chẳng ai có thể cấm Trung Quốc không được mua, cho nên dù có không muốn đi nữa sẽ vẫn mượn tiền của Trung Quốc. Còn chuyện công ty có dọn qua Trung Quốc hay không, là vì nhiều lý do khác nhau chứ tiền thuế không phải là lý do duy nhất. Không giải quyết được hết tất cả các lý do đó (trong đó phải kể đến trình độ của nhân viên kỹ thuật) thì đổi luật thuế cũng không giữ chân họ được.

Nhưng ai theo dõi cuộc tranh cử giữa Obama và Romney thì đều thấy những lời này là có hậu ý cả. Khi Romney nói không muốn mượn tiền của Trung Quốc, ông không chỉ nói trên lý thuyết thôi, mà là nhắm thẳng vào đối thủ: Ý ông nói vì chính quyền Obama tăng nợ công của Mỹ, nên mới phải mượn tiền Trung Quốc.

Và Obama, khi nói chuyện các công ty dọn đi, chuyện thuế chỉ là cái cớ: Trong tháng qua, khi đi tranh cử Obama từng tố cáo quỹ đầu tư Bain Capital thời ông Romney làm tổng giám đốc đã mua nhiều công ty rồi chuyển cơ sở sản xuất qua Trung Quốc.

Trước cuộc tranh luận đầu tiên này, hai bên đã giao hẹn với nhau là sẽ chỉ nói tới các đề tài quốc nội mà thôi. Nhưng rồi cả hai đều mang Trung Quốc ra nói. Điều này chứng tỏ đề tài “đả đảo Trung Quốc” được cho là ăn khách đối với cử tri Mỹ.

Không phải chuyện mới

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ nhì của Mỹ, chỉ sau Canada. Ngay cả Mexico, cũng với lương nhân công thấp và lại ngay sát bên cạnh Hoa Kỳ, cũng chỉ đứng thứ ba. Và ngược lại, Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Cả châu Âu phải gộp chung lại, mới vượt qua được Mỹ. Nói cách khác, thông thương giữa hai nước ở xa nhau với hai nền văn hóa và hai chế độ chính trị khác nhau, lại là thông thương lớn vào bậc nhất trên thế giới.

Và khi một bên có lương nhân công rẻ, thợ lành nghề, hạ tầng cơ sở cũng tốt gần bằng nhưng luật lao động, luật môi trường lỏng lẻo hơn, được quyền bắt nhân công làm nhiều giờ, tha hồ thải ô nhiễm khắp nơi, thì trước sau gì các hãng Mỹ cũng tìm về đó mà lập xưởng.

Khi đó thì việc làm ở Mỹ ngày càng mất đi, tiền bạc Trung Quốc ngày càng có nhiều hơn, và trước sau gì thì người Mỹ cũng sẽ muốn chặn hàng Trung Quốc.

TT Barack Obama và ứng viên Mitt Romney tranh luận tại DenverCả ông Obama và ông Romney cùng áp dụng chiến thuật chống Trung Quốc khi vận động tranh cử.

Năm 2009, khi mới nhậm chức được không lâu, chính phủ Obama áp đặt thuế quan lên lốp xe hơi nhập từ Trung Quốc, với lý do Trung Quốc vi phạm luật WTO. Khi đó, nói chuyện tại cơ quan nghiên cứu Foreign Policy Initiative, Romney cho rằng bảo vệ ngành sản xuất lốp xe hơi của Mỹ là việc làm sai, vì như thế chỉ là bảo vệ năng suất thấp của ngành đó.

Khi đó Romney giải thích, “Khi họ thấy lốp xe tràn vào, họ nhận ra rằng điều đó bất lợi cho họ. … Nhưng khi tự bảo vệ năng suất thấp của mình bằng rào cản, họ lại càng mất khả năng cạnh tranh, phía ngoại quốc lại càng sản xuất nhiều hơn và nhiều hơn, ngày càng thành công hơn, năng suất cao hơn, và phía quốc nội năng suất lại càng thấp hơn … cho tới ngày rào cản không chặn được nữa, hàng ngoại quốc tràn ngập vào và người quốc nội không còn việc làm nữa.”

Câu trả lời của Mitt Romney là một câu trả lời theo đúng lý tưởng của những người ủng hộ mậu dịch tự do. Theo họ, thì khi mình thua người ta mà lại đòi dựng rào cản thì lại chỉ làm cho mình thêm ỷ lại và không thể tiến bộ. Một khi đã ủng hộ tự do mậu dịch, thì khó mà nói mậu dịch với nước này thì ok mà với nước kia thì không ok.

Nhưng đó là Romney của 2009. Còn Romney của 2012 thì khác hẳn. Romney của 2012 muốn trừng phạt Bắc Kinh, không muốn Trung Quốc mua công phiếu, và chỉ trích Obama quá nhẹ tay với quốc gia này.

Trung Quốc im lặng

Khi cả Obama và Romney đều áp dụng chiến thuật chống Trung Quốc để tranh cử, thì ít nhất có một người không ưa, đó là là cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger, người bắc cầu ngoại giao giữa hai nước này 40 năm trước. Nói chuyện tại trung tâm nghiên cứu Woodrow Wilson Center ở Washington DC hôm 3/10, ông chê cả Romney lẫn Obama, cho rằng họ dùng ngôn ngữ “đáng chê trách” khi nói về Trung Quốc, và nói cả hai đều “lợi dụng sự ngờ ghét Trung Quốc” để kiếm phiếu.

Nhưng Bắc Kinh thì sao? Bị đem ra dùng làm mục tiêu bị chỉ trích, họ có phản đối không? Các dấu hiệu cho thấy Trung Quốc biết rằng có nói gì thì cũng chỉ là đổ thêm dầu vào lửa, cho tới nay Bắc Kinh không hề lên tiếng.

Ngược lại, báo China Daily cho biết Trung Quốc đã mua thêm công phiếu Hoa Kỳ, riêng trong tháng 7 mua thêm $2,6 tỷ, đưa con số tổng công phiếu Hoa Kỳ trong tay Bắc Kinh lên tới $1,149 ngàn tỷ.

Tức là, Obama với Romney có nói gì thì nói, Bắc Kinh rất tự tin là khi đã nắm quyền thì họ vẫn không làm điều gì để ngăn chặn nguồn tiền vay khổng lồ đến từ phía Trung Quốc.

Bài thể hiện cái nhìn riêng của tác giả, một blogger tự do tại California, Hoa Kỳ.

 

Sài Gòn Tiếp Thị bị ‘thanh tra toàn diện’ – BBC

7 Th10

Sài Gòn Tiếp Thị bị ‘thanh tra toàn diện’

Đoạn tin trên báo Tuổi Trẻ bản in

Đoạn tin trên chưa thấy xuất hiện trên Tuổi Trẻ Online

Tin cho hay báo Sài Gòn Tiếp Thị (SGTT) bị ‘thanh tra toàn diện’ để làm rõ một số nội dung, trong có thực hiện tôn chỉ, mục đích của tờ báo.

Báo Tuổi Trẻ TP. HCM phiên bản báo in hôm thứ Bảy 6/10 trong mục tin ngắn 20 giây cho hay báo SGTT bị thanh tra toàn diện và “một số nội dung thanh tra yêu cầu làm rõ” là: thực hiện tôn chỉ, mục đích của báo; tổ chức, hoạt động; chấp hành các quy định của pháp luật về tài chính kế toán; quản lý, sử dụng và quyết toán các nguồn kinh phí…

 

Đoạn tin ngắn của Tuổi Trẻ không cho biết thêm chi tiết gì khác và cũng chưa thấy xuất hiện trên phiên bản online.

SGTT là báo của Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư TP.HCM.

Quyền Tổng biên tập hiện nay là ông Nguyễn Xuân Minh.

Trong các nội dung thanh tra liệt kê ở trên, việc thực hiện tôn chỉ và mục đích của báo là vấn đề đã được đặt ra một thời gian gần đây.

Đầu tháng Tư, trong một hội nghị của Bộ Tài chính, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã phát biểu về chủ đề báo chí và truyền thông, trong đó ông nhắc tới việc mà ông gọi là ‘sai tôn chỉ’.

Ông Huệ được dẫn lời nói: “Tôn chỉ mục đích có rồi sao không theo? Báo của tổ chức này sao lại nói về lĩnh vực của tổ chức khác? Vì sao báo về tiếp thị lại đi viết về chính trị?”.

Sau đó, SGTT đã bỏ chuyên mục Câu chuyện triết học với sự đóng góp thường xuyên của cây viết Bùi Văn Nam Sơn.

Gặp rắc rối

Báo SGTT ra đời từ năm 1995, và trong khoảng một thập niên nay nổi lên như một tờ báo không chỉ chuyên về kinh tế mà còn đề cập tới nhiều vấn đề chính trị-xã hội nóng bỏng.

Người được cho như có công gây dựng phát triển tờ báo này từ đầu là bà Vũ Kim Hạnh, cựu Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ TP. HCM, người bị cho thôi chức vì ‘phạm khuyết điểm’ năm 1991.

Dưới sự lãnh đạo của bà Kim Hạnh, SGTT cũng quy tập một số nhà báo có kinh nghiệm từ các tờ báo khác, đặc biệt là Tuổi Trẻ.

Chính SGTT đã khởi xướng ra Chương trình hàng Việt Nam chất lượng cao.

SGTT đã có lúc nằm trong danh sách các báo thành công nhất ở Việt Nam khi dám đề cập về các chủ đề bị cho là nhạy cảm.

Một trong số các cây bút được cho đã góp phần mang lại tên tuổi cho SGTT là nhà báo Huy Đức, người vào tháng 8/2009 bị ngừng hợp đồng vì ‘bất đồng quan điểm với tòa soạn’ sau một bài viết của ông.

Có ý kiến cho rằng các rắc rối xung quanh SGTT nảy sinh gay gắt sau khi tờ báo này trong mục Góc nhìn hôm 24/4/2009 đăng bài của ông Huy Đức tựa đề Bấm Ngay thẳng về vụ chính quyền tỉnh huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương cưỡng chế thu hồi đất trồng cây cao su để làm khu công nghiệp An Tây, trong đó có diện tích đất khá lớn thuộc về gia đình bà Hai Tâm, chị gái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Sau đó, tháng 3/2011, Tổng biên tập SGTT lúc đó là ông Đặng Tâm Chánh cũng bị điều động làm công việc khác, thay bằng quyền Tổng biên tập Nguyễn Xuân Minh.

Chiến lược đáp trả của Hoa Kỳ trước sức mạnh Hải quân Trung Quốc – infonet

7 Th10

Chiến lược đáp trả của Hoa Kỳ trước sức mạnh Hải quân Trung Quốc

Vừa qua, nhóm Đối tác vì nền an ninh Hoa Kỳ (PSA), một nhóm phi lợi nhuận do các cựu nghị sĩ Mỹ thành lập, đã có bài viết về sự lớn mạnh của hải quân Trung Quốc và đưa ra đề xuất về chiến lược mà Hoa Kỳ cần áp dụng để đối phó.

Hai thập kỷ qua đã chứng kiến sự chuyển đổi của cán cân quyền lực thế giới và Tổng thống Mỹ Obama đã vừa tìm cách tái cân bằng các lực lượng và sự tập trung của Mỹ vào khu vực Vành đai Thái Bình Dương.

Sự tăng trưởng nhanh chóng và to lớn về kinh tế và vị thế của Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đã giúp nước này có thể phát triển những năng lực quân sự mới và tiên tiến. Năng lực quân sự mới của Trung Quốc sẽ giúp nước này có thêm nhiều sự lựa chọn để giải quyết các cuộc tranh chấp theo hướng có lợi cho mình, khiến mối quan hệ giữa nước này và Hoa Kỳ trở nên phức tạp hơn và có tính ganh đua hơn bao giờ hết.

Chiến lược đáp trả của Hoa Kỳ trước sức mạnh Hải quân Trung Quốc
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc – Năng lực hải quân của Quân đội giải phóng nhân dân ngày đang lớn mạnh một cách nhanh chóng.

Mục tiêu ban đầu là Đài Loan

Trước đây Trung Quốc chỉ tập trung các nguồn lực của Quân đội cho các lợi ích trước mắt về lãnh thổ, đáng chú ý nhất là Đài Loan. Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay, nước này mở rộng năng lực hải quân để phục vụ những lợi ích ở tầm rộng lớn hơn và vươn xa ngoài lãnh thổ của mình.

Trong khi một số nội dung trong phát triển năng lực hải quân của Trung Quốc là có lợi cho Hoa Kỳ như các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế, chống cướp biển và hoạt động cứu trợ nhân đạo và thảm họa thì một số mục đầu tư khác của Trung Quốc lại đối đầu với những lợi ích của Mỹ trong khu vực, khiến Hoa Kỳ và các đồng minh khó tiếp cận các vùng biển trong khu vực hơn.

Đến nay vẫn chưa rõ trong tương lai Trung Quốc sẽ sử dụng năng lực ngày càng lớn mạnh của mình như thế nào- liệu hải quân Trung Quốc lớn mạnh là vì vấn đề Đài Loan, Biển Đông hay vì các vấn đề cấm phổ biến vũ khí hạt nhân.

Trong vài thập kỷ qua, vấn đề lớn nhất trong quan hệ Mỹ – Trung là Đài Loan, hòn đảo mà Trung Quốc tuyên bố thuộc về chủ quyền lãnh thổ của mình.

Tuy nhiên, kể từ năm 2008, đã có 2 bước tiến quan trọng trong vấn đề này: cuộc bầu cử của Tổng thống Mã Anh Cửu, người ngày càng thân mật với Trung Quốc hơn; và bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào kêu gọi nhìn nhận một cách linh hoạt về vị thế quốc tế của Đài Loan. Kết quả là, Đài Loan được gia nhập vào Tổ chức sức khỏe thế giới với tư cách quan sát viên theo sự chấp thuận của Trung Quốc.

Tuy nhiên, do Trung Quốc mở rộng năng lực hải quân nên nước này ngày càng dễ dàng sử dụng các hệ thống chống tiếp cận mới và tiên tiến (Area denial) của mình, hoặc là để chống lại Đài Loan hoặc là để phòng ngừa Mỹ trợ giúp Đài Loan trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự. Tình hình đó khiến mối quan hệ Đài Loan, Trung Quốc và Hoa Kỳ trở nên phức tạp hơn.

Thêm vào đó, Trung Quốc đã đặt hơn 1.000 tên lửa nhắm đến Đài Loan, thể hiện quyết tâm kiểm soát chính trị với hòn đảo này và đây có thể trở thành điểm nóng xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tương lai.

Tham vọng ngày càng lớn của Trung Quốc

Chỉ trong một thập kỷ vừa qua, ngân sách quốc phòng chính thức của Trung Quốc đã tăng hơn 339%. Trong khi đó ngân sách quốc phòng của Mỹ chỉ tăng 70%.

Sự xuất hiện của các tên lửa đạn đạo chống tàu và tàu ngầm mới, việc các tàu cũ được hiện đại hóa cùng sự cải thiện lớn về chất lượng nhân sự, các cuộc diễn tập và vận tải quân sự cho thấy Trung Quốc đang theo đuổi những lợi ích chủ quyền lớn hơn.

Ví dụ như, nếu xảy ra một cuộc xung đột với Đài Loan thì tàu sân bay có thể có tác dụng, nhưng do Đài Loan ở gần đại lục nên Trung Quốc chỉ cần điều máy bay trực tiếp từ đất liền. Do đó, tàu sân bay có giá trị hơn nếu thực hiện các dự án giúp mở rộng quyền lực Trung Quốc ra xa hơn Đài Loan.

Trung Quốc cũng đã mua các tàu khu trục loại Sovremenny và triển khai các tàu khu trục cũng như tàu chiến kiểu mới. Không chỉ có vậy, Trung Quốc còn tập trung vào nâng cao năng lực tự chế tạo. Tàu chiến của Trung Quốc có các hệ thống tương tự với các hệ thống Aegis đời đầu và các tàu khu trục loại Luyang-II có tên lửa dẫn đường có thể phô diễn sức mạnh khủng khiếp của mình trước các nước láng giềng.

Thêm vào đó, Bộ quốc phòng Mỹ tin rằng Trung Quốc đã có một thiết kế tên lửa đạn đạo chống hạm khá tốt có thể phá hỏng tàu sân bay của Mỹ và nước này cũng đang chế tạo các phương tiện không người lái dưới nước.

Rõ ràng là chỉ cần nhìn lướt qua cũng đủ thấy các chương trình hiện đại hóa và nâng cao năng lực quân sự, đặc biệt là hải quân, của Trung Quốc trở thành mối lo ngại của Hoa Kỳ và các nước láng giềng.

Trên thực tế, cuộc đối đầu vừa qua giữa Trung Quốc và Philippines là ví dụ mới nhất cho thấy sự quyết liệt ngày càng tăng của Trung Quốc về các tuyên bố chủ quyền trên biển. Trong hội nghị thượng định ASEAN vừa qua, Trung Quốc cũng tìm cách để vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông không được đưa ra bàn bạc chính thức.

Việc Trung Quốc thành lập thành phố trên Biển Đông, điều 3 tàu đến vùng biển tranh chấp trên biển Hoa Đông bất chấp sự giận dữ của Nhật Bản và hơn 20 vụ việc nghiêm trọng khác ở Biển Đông trong 3 năm qua đã cho dư luận nhận ra những tham vọng của Trung Quốc cũng như nguy cơ xảy ra xung đột trong khu vực.

Chiến lược đáp trả của Hoa Kỳ trước sức mạnh Hải quân Trung Quốc

Hoa Kỳ cần có chiến lược đáp trả thế nào?

Với tình hình năng lực quân sự của Trung Quốc vươn lên tầm cao mới và những nỗ lực vừa qua của nước này nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, an ninh hàng hải sẽ khó có thể được đảm bảo nếu Hoa Kỳ không có một chiến lược dài hạn và mạch lạc

Bất kỳ chính sách dài hạn nào về chiến lược hải quân của Hoa Kỳ nhắm đến Trung Quốc đều nên tập trung vào 4 yếu tố then chốt: dùng sức mạnh để giữ hòa bình, đảm bảo và mở rộng quan hệ đồng minh trong khu vực, củng cố cấu trúc của khu vực và tăng cường quan hệ Mỹ – Trung.

Xét về yếu tố “dùng sức mạnh để gìn giữ hòa bình”, điều quan trọng là chính quyền Obama và chính quyền tương lai phải tiếp tục áp dụng các biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ và cùng cố năng lực của hải quân Hoa Kỳ, ngay cả trong thời kì thắt lưng buộc bụng.

Các kế hoạch phát triển tàu chiến phải tập trung vào chế tạo những con tàu có thể thực thi chiến lược Hải – Không chiến.

Thứ nhất, chiến lược Hải – Không chiến là ý niệm tập trung vào “tấn công có chiều sâu, theo mạng lưới và tích hợp để chặn đứt, phá hủy và đánh bại mối đe dọa chống tiếp cận/phong tỏa AD/A2”. Điều cần thiết thực hiện ý niệm này là các lực lượng như không quân và các công cụ khác như chiến tranh mạng cần phải được coi trọng trong thời kỳ nguồn lực hạn chế như hiện nay.

Thứ hai, các nhà làm chính sách cũng cần phải cam kết duy trì qui mô hiện nay của hạm đội hải quân Hoa Kỳ đồng thời củng cố thêm năng lực của hạm đội. Để thực hiện điều đó, cần phải tiếp tục triển khai 11 tàu sân bay, hỗ trợ cho việc xây dựng và chế tạo tàu ngầm tấn công, các tên lửa hành trình mới và đa năng hơn có thể phóng từ nhiều loại bệ khác nhau và chế tạo các tàu khu trục có trang bị hệ thống ra đa Aegis.

Chiến lược “dùng sức mạnh gìn giữ hòa bình” cũng có thể đòi hỏi phải hành động vượt ra ngoài khía cạnh hải quân thông thường và thực hiện bằng cách phân bổ các lực lượng ở Tây Thái Bình Dương ở qui mô rộng hơn và linh hoạt hơn. Các ví dụ cụ thể của chiến lược này có thể thấy ở thỏa thuận vừa qua với Australia về việc triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ ở gần Darwin, đồn trú luân phiên ở Singapore và tăng cường hoạt động huấn luyện và hợp tác quân sự với Philippines.

Một chính sách đúng đắn để đối phó với sự vươn lên của hải quân Quân đội giải phóng nhân dân (Trung Quốc) không thể chỉ dựa vào chạy đua vũ trang.

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương là khu vực mà Mỹ có tới 5 đồng minh quân sự gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Australia. Điều đó giúp Mỹ có sẵn nền tảng để củng cố năng lực của mình. Các quốc gia này đều ngày càng lo sợ sự hiếu chiến ngày càng tăng của Trung Quốc và đều hoan nghênh chiến lược lấy châu Á làm trọng tâm của Mỹ.

Thêm vào đó, trong những năm gần đây Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ đối tác về ngoại giao và chiến lược với một số nước trong khu vực gồm Việt Nam, Indonesia, Singapore và Ấn Độ. Các hoạt động hợp tác như hỗ trợ an ninh, tập trận chung, trao đổi và đào tạo nhân sự cần phải được tăng cường.

Hoa Kỳ cũng có thể giúp cung cấp các hệ thống vũ khí quốc phòng, như hệ thống ra đa tiên tiến, các tên lửa chống máy bay và chống tàu hiện đại và các hệ thống ra lệnh – chỉ huy giúp các nước nhỏ có thể thực hiện chiến lược ngăn chặn tiếp cận/phong tỏa hiệu quả hơn để đối phó với Trung Quốc.

Hoa Kỳ cũng cần phải thể hiện vai trò tích cực hơn, và nếu cần thiết phải lớn hơn nữa, trong việc thúc đẩy sự lớn mạnh của các diễn đàn đa phương trong phu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) cũng như xây dựng các mối quan hệ kinh tế song phương và đa phương. Khi đó, Hoa Kỳ sẽ giúp xây dựng một cấu trúc cho khu vực này, theo đó mỗi quốc gia kể cả Trung Quốc, sẽ được khuyến khích làm theo các luật lệ chứ không tìm cách giải quyết bất kỳ vấn đề gì bằng biện pháp quân sự.

Điều quan trọng là các vấn đề hiện nay từ an ninh hàng hải, cấm phổ biến vũ khí cho tới tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực phải được giải quyết ở cấp đa phương.

Các nhà làm chính sách và ngoại giao Hoa Kỳ cũng phải gắn bó trực tiếp hơn với Trung Quốc và đảm bảo với Bắc Kinh rằng lợi ích của Mỹ trong khu vực ngày càng gia tăng không nên được Trung Quốc nhìn nhận với thái độ thù địch.

Xét đến cùng, Hoa Kỳ và khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ cần phải tìm ra một vị trí lớn trong cấu trúc khu vực dành cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể dựa vào lòng nhân từ của Trung Quốc để mở một con đường hòa bình đến an ninh và thịnh vượng. Các nhà làm chính sách Mỹ phải tiếp tục chiến lược trọng tâm của mình, củng cố năng lực của các đồng minh, tăng cường hỗ trợ Hải quân cùng các cơ sở hậu cần để Hoa Kỳ có thể hành động quân sự trong trường hợp cần thiết.

LÊ DUNG

Trao đổi ý kiến về bản Hiến pháp 1946 – BS

7 Th10

Boxitvn

Trao đổi ý kiến về bản Hiến pháp 1946 

Mai Thái Lĩnh

Gần đây, trong một bài viết gửi đăng trên Bauxite Vietnam[1], tác giả Phan Thành Đạt đã trình bày một số luận điểm nhằm biện hộ cho bản Hiến pháp 1946, đồng thời đưa ra một số đề nghị để bổ sung cho những thiếu sót của bản Hiến pháp đó. Vì bài viết có nhắc đến bài Những khuyết điểm nghiêm trọng của Hiến pháp 1946 đăng trên blog Pro&Contra[2], tôi cũng xin mạn phép nhân dịp này trình bày lại một vài khía cạnh để nêu rõ những chỗ giống nhau và khác nhau giữa quan điểm của tôi và quan điểm của tác giả nói trên. Vì nội dung bài viết của tác giả Phan Thành Đạt đề cập đến khá nhiều phương diện có liên quan đến các chế độ dân chủ hiện đại, nhằm tránh cho độc giả khỏi bị lạc hướng khi phải lan man theo dõi quá nhiều vấn đề, trong phạm vi của bài này tôi chỉ đề cập đến một số luận điểm có liên quan trực tiếp đến việc xác định giá trị của bản Hiến pháp 1946. Những vấn đề còn lại sẽ được dành cho những bài viết khác – khi có dịp thuận tiện.

I. Những điểm tương đồng giữa hai bài viết

So với nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trước đây, bài của Phan Thành Đạt thể hiện một cái nhìn tương đối khách quan hơn, không sa vào kiểu ca ngợi một chiều hoặc lập luận nặng về cảm tính, thiếu dẫn chứng về luật học và chính trị học.

 

Điểm nổi bật của bài viết là trong khi phản biện để bảo vệ giá trị của bản Hiến pháp 1946, tác giả đã thừa nhận một số thiếu sót, khuyết điểm của bản Hiến pháp và cũng nhận định rằng không thể áp dụng nguyên xi văn bản đó vào tình hình hiện nay.

Trong phần 2 (kỳ 2) của bài viết, tác giả dành hẳn một mục có tên “Những khuyết điểm của Hiến pháp năm 1946”, qua đó thừa nhận những khiếm khuyết mà tôi đã nêu ra, như: Hiến pháp năm 1946 dành nhiều quyền hạn cho ban thường vụ Quốc hội (điều này hoàn toàn sai về nguyên tắc), vấn đề kiêm nhiệm của các đại biểu Quốc hội không được nêu cụ thể, vai trò của Phó chủ tịch nước quy định không rõ ràng, mối liên hệ giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ không được quy định cụ thể, nhiệm kì của các đại biểu Quốc hội chỉ có 3 năm trong khi nhiệm kì của Chủ tịch nước là 5 năm (hoàn toàn không hợp lý), v.v.

Trong phần 3 (kỳ 3) của bài viết, tác giả đề nghị giải pháp “Nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch nước”; điều này cũng phù hợp với luận điểm của tôi về tính chính danh của một nguyên thủ quốc gia trực tiếp nắm quyền hành pháp . Chỉ có một khuyết điểm chưa được đề cập trong bài viết của tôi: đó là việc “Hiến pháp năm 1946 không bàn đến việc thành lập Tòa bảo hiến, vai trò và cách thức hoạt động của Tòa án đặc biệt này, cũng không hề nêu ra cơ chế kiểm soát các đạo luật vi hiến”.

Chỗ khác nhau quan trọng nhất là trong khi thừa nhận Hiến pháp 1946 có những khuyết điểm, tác giả nhận định: “ Chúng ta sẽ quá nghiêm khắc khi cho rằng Hiến pháp năm 1946 có những khuyết điểm nghiêm trọng. Tuy nhiên, bản Hiến pháp này có những thiếu sót cần phải khắc phục”.

Nghiêm trọng hay không nghiêm trọng, đó chính là vấn đề chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần cuối của bài viết này.

II. Những điểm bất đồng giữa hai bài viết

1. Hiến pháp 1946 VNDCCH thiết lập một chế độ chính trị kiểu nào?

Theo Phan Thành Đạt, “Hiến pháp năm 1946 xây dựng thể chế nghị viện mạnh và cơ quan hành pháp yếu”. Tác giả lập luận: “Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 thực ra không có nhiều ảnh hưởng, vì Chủ tịch nước vẫn bị Quốc hội chi phối. (…) Trong thể chế nghị viện, Chủ tịch nước có nhiều quyền mang tính nghi lễ, còn thực quyền tập trung trong tay Nghị viện và Thủ tướng. Với chế độ nghị viện có quyền lực tuyệt đối, Thủ tướng và toàn bộ nội các chỉ là những người thừa hành mệnh lệnh của Quốc hội (hoặc Thượng viện và Hạ viện). Hiến pháp năm 1946 thiết lập thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp yếu. Chủ tịch nước cho dù giữ vị trí độc lập, nhưng không có nhiều thực quyền”.

Luận điểm này không những khác với quan điểm của tôi mà còn đối nghịch với nhận định của một số nhà nghiên cứu trong nước trước đây như Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng (Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội), v.v. Các nhà luật học này cho rằng Hiến pháp 1946 nghiêng về phía thiết lập một Chủ tịch Nước có thực quyềnđộc lập đối với Nghị viện, khác hẳn với nguyên thủ quốc gia trong các chế độ đại nghị.

Để có thể thấy rõ chế độ chính trị dựa trên Hiến pháp 1946 có phải là thể chế nghị viện (tức chế độ đại nghị) hay không, trong bài viết này tôi sẽ so sánh hai bản hiến pháp hình thành gần như đồng thời: Hiến pháp ngày 27-10-1946 của nước Pháp (tạm gọi tắt là HP 1946-Pháp) và Hiến pháp ngày 9-11-1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tạm gọi tắt là HP 1946-VN). HP 1946-Pháp là hiến pháp của nền Đệ tứ Cộng hòa, được coi là một chế độ đại nghị (régime parlementaire) trong đó quyền lực của Tổng thống chỉ mang tính chất nghi lễ, thực quyền nằm trong tay Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Président du Conseil des ministres) – thường được gọi tắt là Chủ tịch Hội đồng (Président du Conseil), một chức vụ tương đương với chức vụ Thủ tướng (Premier ministre) về sau này.

a) Chủ tịch Nước có thực quyền hay không có thực quyền?

Mặc dù trong HP 1946-Pháp có ghi những quyền hạn bề ngoài có vẻ rất quan trọng của Tổng thống Pháp, nhưng với những quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng được ghi rất cụ thể, quyền hành của Tổng thống trong thực tế chỉ còn là danh nghĩa, mang tính hình thức (tương tự trường hợp của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ sau này).

Có thể lấy vài ví dụ:

– Điều 32 của HP 1946-Pháp ghi: “Tổng thống Nước Cộng hòa chủ tọa Hội đồng Bộ trưởng. Ông chỉ đạo việc thiết lập và giữ gìn các biên bản của các cuộc họp”. Thoạt nhìn, chúng ta  có cảm tưởng Tổng thống trực tiếp điều hành Hội đồng Bộ trưởng, nhưng trong thực tế không phải như thế. Nếu đọc kỹ tất cả các quyền hạn dành cho Chủ tịch Hội đồng (tức Thủ tướng) ghi tại điều 47 và các điều khác, chúng ta thấy chính nhân vật này mới là người nắm thực quyền. Đó cũng là lý do người đứng đầu chính phủ được gọi tên là “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng” (Président du Conseil des ministres). Việc chủ tọa Hội đồng Bộ trưởng suy cho cùng chỉ là hình thức, vì thế Tổng thống Pháp thường được coi là “ký ức của Nhà nước” (mémoire de l’État), do chỗ ông chủ tọa và lưu giữ biên bản các cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng.

– Căn cứ vào điều 33, Tổng thống Pháp chủ tọa Hội đồng tối cao và Ủy ban Quốc phòng (Conseil supérieur et Comité de la défense nationale) và giữ danh hiệu chỉ huy trưởng quân đội. Nhưng điều 47 lại quy định quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng như sau: “Chủ tịch Hội đồng bảo đảm sự lãnh đạo các lực lượng vũ trang và phối hợp việc thực hiện chính sách quốc phòng.” Điều đó có nghĩa là thực quyền về lĩnh vực quốc phòng vẫn nằm trong tay Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

– Một trong những thủ tục đặc biệt của chế độ đại nghị tại Pháp dưới thời Đệ tứ Cộng hòa là thủ tục tiếp ký (contreseing). Điều 38 của HP 1946-Pháp ghi: “Mỗi hành động của Tổng thống nước Cộng hòa phải được tiếp ký (contresigner) bởi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và một bộ trưởng”. Điều đó có nghĩa là Tổng thống Pháp không thể làm bất cứ điều gì mà không thông qua Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Trong khi đó, điều 53 của HP 1946-VN lại ghi: “Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện”. Điều đó có nghĩa là Chủ tịch Nước VNDCCH chỉ cần thông qua một hay nhiều bộ trưởng là có thể ký sắc lệnh, không cần đến Thủ tướng.

– Trong khi HP 1946-Pháp quy định rõ Chủ tịch Hội đồng (tức Thủ tướng) là người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng (tức Chính phủ) thì trong bản HP 1946-VN, chúng ta thấy xuất hiện ba khái niệm liên quan đến nhánh hành pháp: Chính phủHội đồng Chính phủ và Nội các.

Theo định nghĩa của điều 44: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng”. Căn cứ vào điều 49 thì Chủ tịch Nước “chủ tọa Hội đồng Chính phủ” và trong trường hợp Chủ tịch từ trần hay từ chức thì người thay thế là “Phó chủ tịch tạm quyền Chủ tịch” (điều 46). Điều 47 quy định sau khi Chủ tịch Nước chọn một thành viên trong Nghị viện để giới thiệu vào chức vụ Thủ tướng thì sau khi được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng có quyền chọn các bộ trưởng trong số các thành viên của Nghị viện để “đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách”. Riêng về các Thứ trưởng thì Thủ tướng có thể chọn những người ngoài Nghị viện, nhưng “duyệt y” chức vụ Thứ trưởng lại là quyền của “Hội đồng Chính phủ” chứ không phải của “Nội các”. Điều 51 quy định “mỗi khi truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc, Nghị viện sẽ lập một Toà án đặc biệt để xét xử. Việc bắt bớ và truy tố trước Toà án một nhân viên Nội các về thường tội phải có sự ưng chuẩn của Hội đồng Chính phủ”.

Như vậy là trong khi quyền hạn của Hội đồng Chính phủ – mà người đứng đầu là Chủ tịch Nước, được ghi rõ trong một số điều khoản thì HP 1946-VN lại không ghi bất cứ quyền hạn cụ thể nào của Thủ tướng và Nội các.

Từ những điểm nói trên, chúng ta có thể hiểu là Thủ tướng và Nội các mặc dù phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, có thể bị Nghị viện truất chức nhưng hoàn toàn không có thực quyền. Thực quyền nằm trong tay Chủ tịch Nước VNDCCH và nhân vật này mới thật sự là người đứng đầu Chính phủ.

Nhìn vào thực tế lịch sử của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1946-1959, chúng ta có thể thấy rõ ai là người đứng đầu Chính phủ. Chính phủ Liên hiệp Quốc dân được chính thức thành lập ngày 3-11-1946, sáu ngày trước khi thông qua Hiến pháp 1946. Chính phủ này có nguồn gốc từ Chính phủ Cách mạng Lâm thời thành lập vào cuối tháng 8 năm 1945 và đã trải qua vài lần cải tổ nhân sự. Điểm đặc biệt là người đứng đầu chính phủ này không phải là một Thủ tướng, mà là một Chủ tịch Chính phủ. Mặc dù Hiến pháp 1946 thiết lập chức vụ Thủ tướng, từ 1946 đến 1955 Chính phủ VNDCCH không có chức vụ Thủ tướng, do đó có thể coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Chủ tịch Nước kiêm Thủ tướng”. Trong những giai đoạn quan trọng (từ 28-8-1945 đến 2-3-1946, và từ 3-11-1946 đến tháng 3-1947), vị Chủ tịch Nước kiêm Thủ tướng này còn kiêm nhiệm cả chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Mãi đến tháng 9 năm 1955, chức vụ Thủ tướng được dự kiến trong Hiến pháp 1946 mới được thiết lập, và người được phân công giữ chức vụ này (kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) là Phạm Văn Đồng. Nhưng ngay trong giai đoạn này, Thủ tướng cũng không phải là người nắm thực quyền vì từ khi Đảng Lao động Việt Nam xuất hiện công khai tại Đại hội lần thứ II (năm 1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng, còn Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là Ủy viên Bộ Chính trị.

Vì thế không thể khẳng định như tác giả Phan Thành Đạt: “Chủ tịch nước cho dù giữ vị trí độc lập, nhưng không có nhiều thực quyền”. Mặt khác, cũng không thể coi chế độ chính trị mà HP 1946-VN dự kiến thiết lập là một chế độ đại nghị, vì cũng chính tác giả này đã thừa nhận: “Trong thể chế nghị viện, Chủ tịch nước có nhiều quyền mang tính nghi lễ, còn thực quyền tập trung trong tay Nghị viện và Thủ tướng”.

b) Nghị viện mạnh hay yếu?

Để chứng minh cho luận điểm “Hiến  pháp 1946 thiết lập thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp yếu”, tác giả Phan Thành Đạt viết: “Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 1946 thực ra không có nhiều ảnh hưởng, vì Chủ tịch nước vẫn bị Quốc hội chi phối. Ví dụ để phản đối người đứng đầu cơ quan hành pháp, Quốc hội tuy không thể phế truất, nhưng vẫn có cách gây sức ép hiệu quả, bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ, buộc Chủ tịch nước phải chọn một Chính phủ được Quốc hội ưng thuận, và Chính phủ nếu muốn tồn tại, buộc phải thi hành các chính sách của Quốc hội, thay vì tuân thủ mệnh lệnh của Chủ tịch nước.”

Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quan điểm của chính tác giả về những khuyết điểm của Hiến pháp 1946: “Hiến pháp năm 1946 dành nhiều quyền hạn cho ban thường vụ Quốc hội. Ban thường vụ có thể thay mặt Quốc hội, kết hợp với Chính phủ thực thi và đưa ra các quyết định quan trọng như tuyên bố chiến tranh hay đình chiến. Điều này hoàn toàn sai về nguyên tắc, vì khi Quốc hội không họp, không có bất cứ tổ chức hay cơ quan nào có quyền quyết định thay cho Quốc hội. (…) Vấn đề kiêm nhiệm của các đại biểu Quốc hội cũng không được nêu cụ thể, (…) Do đó tính chuyên nghiệp của Quốc hội và hiệu quả công việc của các đại biểu sẽ không cao”[3].

Một Nghị viện hoạt động không chuyên nghiệp, hiệu quả không cao, quyền hành thực tế rơi vào tay một nhóm nhỏ có tên là Ban Thường vụ Nghị viện; một cơ quan lập pháp như thế làm sao có thể đươc coi là một “nghị viện mạnh”?

Ở đây, tôi chỉ xin nhấn mạnh một đặc điểm hết sức quan trọng của các Nghị viện Pháp từ 1875 cho đến trước năm 1958 mà các nhà soạn thảo Hiến pháp 1946 đã không sẵn sàng tiếp thu: đó là thời gian hoạt động của Nghị viện.

Căn cứ vào Luật lập hiến ngày 16-7-1875 về quan hệ giữa các quyền lực công (Loi constitutionnelle du 16 juillet 1875 sur les rapports des pouvoirs publics), Thượng viện (Sénat) và Viện dân biểu (Chambre des députés, tức Hạ viện) của nước Pháp “phải họp ít nhất 5 tháng mỗi năm. Kỳ họp của một viện bắt đầu và chấm dứt đồng thời với kỳ họp của viện kia.” (điều 1) Như vậy, ngay từ cuối thế kỷ 19, Nghị viện Pháp chỉ họp mỗi năm một kỳ (session annuelle), nhưng mỗi kỳ họp kéo dài ít nhất là 5 tháng.

Điều 9 của HP 1946-Pháp quy định: “Quốc hội nhóm họp với trọn quyền bằng kỳ họp hàng năm (session annuelle) vào ngày thứ ba thứ hai của tháng 1 (le second mardi de janvier). Thời gian tổng cộng của những lần ngừng họp (interruption) không thể vượt quá 4 tháng. Những lần hoãn họp (ajournement) dài hơn 10 ngày được coi như ngừng họp. Hội đồng nước Cộng hòa họp đồng thời với Quốc hội.” Dưới thời Đệ tứ Cộng hòa, Quốc hội (Assemblée Nationale) là tên gọi của Hạ viện và Hội đồng nước Cộng hòa (Conseil de la République) là tên gọi của Thượng viện. Thời gian ngừng họp (interruption) tức là thời gian giữa hai kỳ họp (session), đó là lúc Nghị viện ngừng làm việc. Còn thời gian hoãn họp (ajournement) là thời gian giữa hai phiên họp, nghĩa là Nghị viện chỉ tạm nghỉ vì vẫn còn đang trong thời gian của kỳ họp. Căn cứ vào quy định trên, chúng ta có thể hiểu là Nghị viện Pháp dưới thời Đệ tứ Cộng hòa họp mỗi năm một kỳ, mỗi kỳ họp kéo dài tối thiểu là 8 tháng.

Trong khi đó, điều 28 của HP 1946-VN quy định: “Nghị viện nhân dân mỗi năm họp hai lần do Ban thường vụ triệu tập vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch. Ban thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần. Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên hoặc Chính phủ yêu cầu.” Như vậy, Nghị viện VNDCCH mỗi năm làm việc tối đa chỉ vào khoảng 2 tuần hay 2 tháng.

Một Nghị viện hay Quốc hội hoạt động quá ít như thế sao có thể gọi là một Nghị viện mạnh? Nó chỉ có thể đóng vai trò hình thức, mang tính chất trang trí nhằm hợp pháp hóa các quyết định của Chủ tịch Nước (với sự thỏa thuận của Ban Thường vụ Nghị viện), chứ không thể làm chức năng kiếm soát Chính phủ, còn nói gì đến việc “gây sức ép hiệu quả, bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ”?

Như tôi đã phân tích trong bài Những khuyết điểm nghiêm trọng của Hiến pháp 1946, cơ quan lập pháp có thực quyền dựa theo HP 1946-VN không phải là Nghị viện mà là một “Nghị viện nhỏ” bên trong, tức là Ban Thường vụ Nghị viện, gồm có 12 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Nước chỉ cần thỏa thuận với Ban Thường vụ Nghị viện là có thể quyết định các vấn đề hệ trọng của đất nước, Nghị viện chỉ làm công việc hợp pháp hóa các quyết định đã có trước. Trong thực tế, Ban Thường trực Quốc hội (tức Ban Thường vụ Nghị viện) trong giai đoạn 1946-1959 hiếm khi hội đủ con số quy định như trên.

Có một chi tiết ít người lưu ý: Ban Thường trực Quốc hội khóa I đã hình thành ngay tại kỳ họp thứ I của Quốc hội khóa I (kỳ họp này chỉ tiến hành trong một ngày duy nhất: ngày 2-3-1946). Theo lời của ông Nguyễn Văn Tố – Trưởng ban Thường trực đầu tiên của Quốc hội khóa I, vào ngày 2-3-1946 Quốc hội đã thông qua một nghị quyết quy định rằng “… khi muốn tuyên chiến hay đình chiến, Chính phủ bắt buộc phải hỏi ý kiến Ban Thường trực Quốc hội.”[4] Điều đó có nghĩa là Ban Thường trực Quốc hội đã hình thành hơn 8 tháng trước khi Quốc hội thông qua Hiến pháp 1946. Một số điều khoản trong Hiến pháp 1946 liên quan đến vai trò của Ban Thường vụ Nghị viện (như điều 38 quy định quyền tuyên chiến hay đình chiến trong thời gian Nghị viện không họp) thật ra không phải là ý tưởng xuất phát từ các chuyên gia soạn thảo hiến pháp mà là sự hợp pháp hóa một nguyên tắc đã được các nhà lãnh đạo Việt Minh định hình từ trước.

Có thể nói Hiến pháp 1946 đã hợp pháp hóa việc tước đoạt quyền lực của toàn thể Quốc hội để giao cho một “Quốc hội thu nhỏ” – tức là Ban Thường trực Quốc hội. Chỉ có các thành viên của Quốc hội thu nhỏ đó mới được phép tham gia ít nhiều vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Lý do ban đầu được nêu ra để biện minh cho nguyên tắc đó là do hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng trong thực tế, kể từ năm 1946 cho đến tận ngày nay, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện nguyên tắc nói trên: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (hậu thân của Ban Thường trực Quốc hội) mới thật sự là cơ quan lập pháp, còn Quốc hội chỉ là một tổ chức hình thức, mang tính chất trang trí, không có thực quyền.

Cần nhấn mạnh một đặc điểm của chế độ đại nghị: đó là sự tín nhiệm của Nghị viện đối với chức vụ Thủ tướng. Xét về lý thuyết, nguyên thủ quốc gia (Nữ hoàng, Quốc vương hay Tổng thống) có quyền chọn Thủ tướng để giới thiệu với Nghị viện. Nhưng vì Thủ tướng muốn thành lập được chính phủ phải được sự ủng hộ của Nghị viện cho nên trong thực tế, nguyên thủ quốc gia không thể chọn bất cứ người nào khác ngoài lãnh tụ của đảng hay liên minh chính trị chiếm đa số ghế tại Nghị viện. Vì thế, ngay sau mỗi kỳ tổng tuyển cử, người dân có thể biết ngay ai sẽ là người nắm chức vụ Thủ tướng. Đó chính là nguyên nhân khiến cho quyền lực của nguyên thủ quốc gia trong chế độ đại nghị bị giới hạn.

Khác với các quốc gia dân chủ theo đại nghị chế, dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Minh – và sau đó là Đảng Lao động, nắm tuyệt đại đa số ghế trong Quốc hội; do đó quyền lựa chọn Thủ tướng hoàn toàn thuộc về người đứng đầu tổ chức Việt Minh và sau này thuộc về Chủ tịch Đảng Lao động. Việc bầu tín nhiệm chỉ còn là vấn đề thủ tục, thuần túy mang tính hình thức. Trong tình hình thực tế đó, không thể có tình trạng “Quốc hội…vẫn có cách gây sức ép hiệu quả, bằng cách bỏ phiếu bất tín nhiệm với Chính phủ, buộc Chủ tịch nước phải chọn một Chính phủ được Quốc hội ưng thuận, và Chính phủ nếu muốn tồn tại, buộc phải thi hành các chính sách của Quốc hội, thay vì tuân thủ mệnh lệnh của Chủ tịch nước.” Những suy diễn đó hoàn toàn sinh ra từ tríc tưởng tượng của tác giả Phan Thành Đạt, dựa trên thực tiễn của các quốc gia dân chủ phương Tây chứ không dựa trên hoàn cảnh thực tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có một sự nhầm lẫn tai hại vẫn tồn tại mãi cho đến ngày nay: đó là ý tưởng cho rằng “Hiến pháp 1946 là một sản phẩm của một Quốc hội đa đảng”. Trong thực tế, chế độ đa đảng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, từ cuối tháng 8 năm 1945 cho đến khoảng tháng 7 năm 1946, nghĩa là từ khi có cuộc đàm phán giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Minh với các đảng phái khác (như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) để thành lập Chính phủ Liên hiệp. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và nhất là sau “vụ án Ôn Như Hầu” (tháng 7 năm 1946), nhiều lãnh tụ của các đảng phái đối lập (như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh) rời bỏ Chính phủ Liên hiệp và kể từ đó Chính phủ và Quốc hội chỉ bao gồm các thành viên của Việt Minh và một số thành viên độc lập đồng ý cộng tác với Việt Minh. Cho nên có thể nói bản Hiến pháp 1946 (được thông qua vào ngày 9-11-1946) hoàn toàn là sản phẩm của Việt Minh – một tổ chức biến tướng của Đảng cộng sản. Các đảng còn lại như Đảng Dân chủ, Đảng xã hội thực ra chỉ là những tổ chức mang tính hình thức, nhằm để trang trí cho chế độ chứ không có thực lực, không có tác dụng gì trong việc “kiểm soát và làm cân bằng” cán cân quyền lực. Các đảng này cũng tương tự như các “đảng liên minh” (alliance parties) tồn tại ở Cộng hòa Dân chủ Đức sau khi Đông Đức rơi vào vòng kiểm soát của Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới thứ II hoặc các “đảng bạn” (friendly parties) hiện đang tồn tại bên cạnh Đảng cộng sản Trung Quốc mà thôi.

Tóm lại, xét về cả lý luận lẫn thực tế, không có căn cứ gì để có thể đi đến kết luận: “Hiến  pháp 1946 thiết lập thể chế nghị viện mạnh với cơ quan hành pháp yếu”. Một khẳng định ngược lại: “Hiến pháp 1946 thiết lập thể chế hành pháp mạnh với cơ quan lập pháp yếu” có lẽ phù hợp hơn với nội dung của bản hiến pháp nói trên cũng như với thực tế lịch sử.

2. Gọi tên chế độ chính trị tại Pháp hiện nay như thế nào?

Về vấn đề này, tác giả Phan Thành Đạt phê phán cách gọi tên “chế độ nửa-tổng thống” của Maurice Duverger như sau: “Cách gọi “chế độ nửa nghị viện, nửa tổng thống” (nhận xét của nhà luật học Maurice Duverger) đối với một số nước như Pháp cũng không chuẩn, vì về cơ bản thể chế của Pháp vẫn là chế độ nghị viện vì hai phương tiện của thể chế này (bỏ phiếu trừng phạt và giải tán Quốc hội) vẫn tồn tại cho dù ít được sử dụng. Chỉ có thể gọi là thể chế nghị viện, quy định tổng thống có quyền lực lớn “le régime parlementaire à correctifs présidentiels”.

Theo Wikipedia (bản tiếng Pháp), khái niệm “chế độ nửa-tổng thống” của Maurice Duverger đã bị một số nhà luật học người Pháp (như Jean Gicquel, Jean-Louis Quermonne, Olivier Duhamel) chỉ trích vì họ cho rằng chế độ chính trị ở Pháp thời Đệ ngũ Cộng hòa thực ra là một biến thể của chế độ đại nghị. Có những đề nghị gọi tên mô hình chính trị đó là “chế độ đại nghị lưỡng đại diện” (régime parlementaire bireprésentatif) – nghĩa là quyền đại diện biểu hiện đồng thời bởi nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ, hoặc “chế độ đại nghị tổng thống hóa” (régime parlementaire présidentialisé), hay “cách đọc Hiến pháp theo kiểu tổng thống” (lecture présidentielle de la Constitution.)[5]

Đây là vấn đề học thuật còn gây nhiều tranh cãi. Nhưng điều đáng nói là trong khi thuật ngữ “chế độ nửa- tổng thống” (régime semi-présidentiel) bị nhiều nhà hiến pháp học của nước Pháp chỉ trích thì tại các quốc gia ngoài nước Pháp, nó lại được sử dụng ngày càng rộng rãi, đặc biệt là trong khoa chính trị học đối chiếu (comparative politics):

– Trong giáo trình Cơ sở của khoa chính trị học đối chiếu,[6] hai giáo sư Kenneth Newton (Đại học Southampton, Anh) và Jan W. Van Deth (Đại học Mannheim, Đức) phân loại các chế độ chính trị dân chủ ra làm 3 loại: tổng thống chế (presidential system), đại nghị chế (parliamentary system) và chế độ nửa-tổng thống (semi-presidential system). Chế độ chính trị của Pháp được xếp vào loại thứ ba, và các đặc điểm của nó được phân tích trong các trang 96-99.

– Trong cuốn Nhập môn Khoa chính trị học đối chiếu[7] của một tập thể tác giả, giáo sư Mark Kesselman (Đại học Columbia, Hoa Kỳ) cũng xếp chế độ chính trị của Pháp dưới chế độ Đệ ngũ cộng hòa vào loại hình nửa-tổng thống. Tại sao nền Đệ ngũ cộng hòa được xem là một hệ thống nửa tổng thống (semipresidential) chứ không phải là nửa đại nghị (semiparliamentary)? Câu hỏi này được Kesselman giải thích như sau: “Bởi vì bất cứ lúc nào nền Đệ ngũ Cộng hòa đi chệch ra khỏi một kiểu mẫu thuần túy đại nghị hay thuần túy tổng thống, kết quả vẫn là củng cố nhánh hành pháp. Sự trộn lẫn giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp – đặc trưng của các chế độ đại nghị, tạo khả năng cho hành pháp kiểm soát chương trình nghị sự của nghị viện và giải tán nghị viện. Thế nhưng, ngược lại với các chế độ đại nghị, nghị viện Pháp không thể biểu quyết khiển trách tổng thống. Do vậy, tổng thống – chức vụ then chốt trong nhánh hành pháp có hai đầu – không chịu trách nhiệm trước nghị viện. Đặc điểm này phản ánh sự phân lập về quyền lực mà chúng ta tìm thấy trong các hệ thống tổng thống” (op. cit., chapter 3, section 3, p.123).

Trong một bài viết công bố trên tạp chí West European Politics vào năm 2009, giáo sư Robert Elgie (Đại học Thành phố Dublin, Ireland) – một chuyên gia hàng đầu về chế độ nửa-tổng thống, đã nhận xét: “Thuật ngữ này vẫn chưa được chấp nhận trong cộng đồng của các luật sư hiến pháp (constitutional lawyers) ở Pháp. Tuy nhiên, cộng đồng khoa học chính trị quốc tế hầu như nhất trí thừa nhận nước Pháp có một hệ thống nửa-tổng thống. Hơn thế nữa, nước Pháp thường được coi là một ví dụ nguyên mẫu (archetypal example) của một hệ thống như thế”[8].

Như vậy là từ giữa thế kỷ 20 đến nay, ngoài hai mô hình cổ điển (tổng thống chế và đại nghị chế) đã phát sinh một loại mô hình hỗn hợp mà người ta có thể gọi bằng nhiều tên: nửa-tổng thống (semi-presidential system), lai ghép (hybrid system), hỗn hợp (mixed system). Riêng tại Pháp, mô hình mới xuất hiện từ sau năm 1958 đã tồn tại hơn nửa thể kỷ và đã chứng tỏ khả năng trở thành một hệ thống chính trị bền vững, ổn định. Đó chính là lý do nhiều quốc gia hậu-cộng sản (như Ba Lan, Bulgaria, Romania,…) đã chọn mô hình này. Ngay cả nước Nga hậu-cộng sản cũng đang học tập mô hình này, mặc dù thực hiện không thành công do chưa cởi bỏ được những di sản nặng nề của quá khứ.

3) Về những khuyết điểm của HP 1946-VN so với các hiến pháp tiến bộ

a. Những khuyết điểm của các bản Hiến pháp tiến bộ

Tác giả Phan Thành Đạt đã bỏ ra rất nhiều công sức để liệt kê “những khuyết điểm của các bản Hiến pháp tiến bộ”, trong đó hai bản hiến pháp được chọn là Hiến pháp Hoa Kỳ và Hiến pháp 1958 của Pháp. Phần dẫn chứng dài dòng và có hơi lạc đề này có lẽ nhằm chứng minh rằng “những thiếu sót” của bản Hiến pháp 1946 của nước ta là “tất yếu”, là “thiếu sót trên bước đường phát triển” và tuy có thiếu sót, hiến pháp này vẫn có thể được coi là “«bản Hiến pháp không hề thua kém bất kỳ bản Hiến pháp nào trên thế giới»[9].

Thật ra, giá trị căn bản của một bản hiến pháp không phải là “có khuyết điểm hay không” mà là: khuyết điểm (hay những khuyết điểm) đó có tính chất nghiêm trọng hay không? Nói cách khác, các khuyết điểm đó có ảnh hưởng xấu đến việc thực thi các quyền công dân và quyền con người hay không, có nguy cơ dẫn đến chế độ độc tài hay không?

Xét theo quan điểm đó, Hiến pháp Hoa Kỳ cho dù còn có một số khuyết điểm, vẫn là một hiến pháp ưu việt, rất đáng cho chúng ta học hỏi. Ưu điểm lớn nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ là đã thiết lập một hệ thống các thiết chế chính trị dân chủ bảo đảm được nguyên tắc tam quyền phân lập, tạo ra được một cơ chế “kiểm soát và làm cân bằng” (checks and balances), bảo đảm thực hiện được các quyền tự do căn bản của người dân – nhất là các quyền ghi trong Tu chính án số 1. Kể từ khi ra đời vào cuối thế kỷ 18, Hiến pháp Hoa Kỳ đã trở thành căn cứ pháp lý vững chắc để người dân và các nhà hoạt động dân chủ dựa vào đó đấu tranh chống lại các bất công xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, xậy dựng một chế độ pháp trị (rule of law) trong đó tất cả mọi người – kể cả những người cầm quyền, đều phải tôn trọng pháp luật.

Vào năm 1787, khi Hiến pháp Hoa Kỳ ra đời, chế độ nô lệ vẫn còn tồn tại và những người da đen vẫn chưa được công nhận là công dân Hoa Kỳ. Công cuộc giải phóng người da đen chỉ bắt đầu khoảng bảy thập niên sau đó, đặc biệt là sau khi Tổng thống Abraham Lincoln công bố bản Tuyên bố giải phóng nô lệ(Emancipation Proclamation, 1863). Năm 1865, tu chính án số 13 mới được đưa vào Hiến pháp nhằm luật hóa việc xóa bỏ chế độ nô lệ và sang năm sau (1866), tu chính án số 14 mới chính thức trao quyền công dân cho các nô lệ cũ nhằm bảo vệ họ khỏi nạn kỳ thị chủng tộc trong tất cả các bang.

Tuy nhiên, mặc dù công cuộc giải phóng người da đen đã được hợp pháp hóa, cuộc đấu tranh giành quyền bình đẳng vẫn chưa dừng lại ở đó. Sau khi nội chiến chấm dứt, tình trạng phân biệt đối xử với người da đen vẫn tiếp tục diễn ra – đặc biệt là tại các tiểu bang miền Nam.

Điều đáng chú ý là ngay từ khi chế độ nô lệ chưa bị xóa bỏ, Tổng thống Abraham Lincoln đã nhìn thấy sức mạnh tiềm tàng của Hiến pháp Hoa Kỳ, đánh giá đúng khả năng đấu tranh bằng con đường ôn hòa để giải quyết các bất công xã hội được chứa đựng trong các điều khoản của hiến pháp. Vào ngày 19-1-1860, trong lá thư viết cho Alexander H. Stephens, một lãnh tụ của miền Nam, ông đã viết: “Quyền hội họp một cách ôn hòa, quyền kiến nghị và quyền sửa đổi (hiến pháp) bằng điều 5 của Hiến pháp, là sự thay thế con đường cách mạng bằng con đường của hiến pháp[10]. Đây là bản Magna Carta của chúng ta – không phải do các Nam tước đã giành được từ tay Vua John, mà là món quà miễn phí các tiểu bang đã trao tặng cho quốc gia mà họ đã thành lập…”[11].

Ý kiến đó của Tổng thống Lincoln thật sự là một lời tiên tri. Mặc dù vào thời của ông, con đường đấu tranh ôn hòa đã không thể trở thành hiện thực, nước Mỹ đã không tránh được một cuộc nội chiến đẫm máu, nhưng sau khi nội chiến chấm dứt, người dân Hoa Kỳ đã rút ra được bài học đắt giá và dần dần tập cách sử dụng Hiến pháp như một vũ khí đấu tranh. Vào giữa thế kỷ 20, người da đen ở Hoa Kỳ đã dựa vào những vũ khí pháp lý tiềm tàng trong Hiến pháp để đấu tranh một cách ôn hòa, giành quyền bình đẳng thật sự cho người Mỹ gốc Phi. Tiêu biểu cho con đường đấu tranh bất bạo động này là Phong trào Quyền dân sự của người Mỹ gốc Phi (African-American Civil Rights Movement) trong giai đoạn 1955–1968 dưới sự lãnh đạo của mục sư Martin Luther King, Jr.. Vào giữa thập niên 1960, phong trào này đã giành được những thành quả vang dội như Đạo luật về Quyền dân sự năm 1964 (Civil Rights Act 1964) được ban hành dưới thời của Tổng thống Lyndon B. Johnson và các đạo luật khác nhằm xóa bỏ tình trạng kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ. Sự kiện Tổng thống Barack Obama, một người Mỹ gốc Phi (African American) trở thành tổng thống Hoa Kỳ vào đầu năm 2009 đánh dấu một cột mốc lịch sử qua đó thể hiện sức mạnh của nền dân chủ Mỹ.

Như vậy, bất chấp những lời phê phán cực đoan của các trí thức cánh tả, Hiến pháp Hoa Kỳ đã trở thành điểm tựa của phương thức đấu tranh ôn hòa trong phạm vi của một thể chế dân chủ. Đó cũng là nguyên nhân khiến cho các xu hướng đấu tranh cách mạng, bạo động, lật đổ không hấp dẫn được người dân Mỹ.

Một ví dụ khác thường được nhắc đến là sức mạnh của nhánh tư pháp tại Hoa Kỳ, một nhánh quyền lực có tính độc lập rất cao và có quyền thẩm tra pháp lý (judicial review). Điều ít người chú ý là quyền này không phải đã được minh định ngay từ đầu. Xét về mặt văn bản, không có điều khoản nào của Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền của các tòa án được phép giải thích Hiến pháp và vô hiệu hóa các hành động vi hiến. Quyền này là do các thẩm phán đấu tranh giành được. Vào năm 1803, qua án lệ Marbury chống Madison, thẩm phán John Marshall của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng: nhiệm vụ của các tòa án là “nói rõ nội dung của luật là gì” và nếu một đạo luật của Quốc hội đi ngược lại hiến pháp thì tòa án phải bác bỏ đạo luật không phù hợp đó. Kể từ đó, Tòa án Tối cao mới xác lập được một cách chắc chắn thẩm quyền của mình trong việc thẩm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội ban hành.

Trong bài viết của mình, tác giả Phan Thành Đạt phê phán Hiến pháp năm 1958 của nước Pháp là “tấm áo vá víu các quyền tự do dân chủ” vì “không nêu rõ các quyền cơ bản của công dân”, và coi đó là “thiếu sót rất lớn của bản Hiến pháp này, so với 14 bản Hiến pháp trước đó”. Nhưng không ai có thể kết luận rằng bản Hiến pháp 1958 đã thủ tiêu các quyền tự do căn bản được khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền năm 1789. Cũng không ai có thể chứng minh được Tổng thống De Gaulle xây dựng bản Hiến pháp đó nhằm tiến đến một chế độ độc tài. Thành công lớn nhất của bản Hiến pháp 1958 là ở chỗ nó tạo ra một cơ chế hữu hiệu nhằm giải quyết tình trạng bất ổn về chính trị do các xu hướng cực đoan gây ra, từ phía cánh hữu lẫn phía cánh tả. Tính hữu hiệu của Hiến pháp 1958 đã được thực tế kiểm nghiệm qua hơn nửa thế kỷ áp dụng. Mặc dù lúc đầu bị cánh tả công kích, hệ thống nửa-tổng thống do Hiến pháp 1958 thiết lập đã thể hiện được sức sống của nó, nhất là từ khi cánh tả ôn hòa cũng tìm thấy lợi thế của họ trong mô hình này. Việc Francois Mitterand đảm nhiệm hai nhiệm kỳ tổng thống và gần đây, François Hollande trở thành tổng thống thứ hai của nền Đệ ngũ Cộng hòa xuất thân từ cánh tả cho thấy khả năng mô hình này sẽ trở thành bền vững, có thể chịu đựng được thử thách qua thời gian.

Dù sao thì trong khi đánh giá các bản Hiến pháp, không thể chỉ dựa vào những quyền tự do được ghi trong văn bản mà quên đi thực tế. Nếu chỉ dựa vào việc công bố các quyền công dân và quyền con người trong một bản hiến pháp để đánh giá tính dân chủ của một chế độ thì nước Nga hiện nay có thể được coi là một quốc gia vô địch về dân chủ. Trong phần mở đầu của Hiến pháp Nga hiện nay, những người soạn thảo đã dành đến 48 điều (từ điều 17 đến điều 64) để trình bày chi tiết về các quyền công dân và quyền con ngýời. Thực tế cho thấy phần lớn các quyền tự do được ghi trong Hiến pháp Nga chỉ là “tự do trên giấy tờ” chứ không phải là “tự do trong thực tế”. Sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa các nhánh quyền lực – nghiêng hẳn về phía hành pháp, cũng như hệ thống đảng phái cực kỳ mất cân đối của nước Nga hiện nay đã là nguyên nhân chủ yếu khiến cho các quyền tự do căn bản của người dân Nga bị vi phạm một cách nghiêm trọng.

Trở lại với bản Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH, chúng ta dễ dàng thấy rõ những khuyết điểm của bản Hiến pháp này là thật sự nghiêm trọng:

– Việc thiết lập một hệ thống chính trị tập trung quyền lực quá đáng vào tay một cá nhân (Chủ tịch Nước) tạo ra nguy cơ dẫn đến một chế độ độc tài cá nhân. Đặc biệt nghiêm trọng là việc một Chủ tịch Nước trực tiếp nắm quyền hành pháp lại có thể tham gia từ đầu đến cuối quá trình lập pháp: vừa tham gia soạn thảo và đệ trình dự luật – với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, vừa được phép tham gia thảo luận và biểu quyết dự luật với tư cách thành viên Nghị viện; sau khi Nghị viện thông qua lại được quyền phủ quyết. Điều này cho thấy quyền lực của Chủ tịch Nước không kém một vị Hoàng đế, một “nhà vua giấu mặt” khoác chiếc áo “dân chủ cộng hòa”. Điều khó hiểu là tác giả Phan Thành Đạt đã bỏ qua, không hề nhắc đến khuyết điểm này.

– Sự hình thành một nhóm nhỏ bên trong Nghị viện có tên là Ban Thường vụ Nghị viện và việc cho phép cơ quan này thay mặt Nghị viện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã ảnh hưởng nghiệm trọng đến tính chất đại diện nhân dân của cơ quan lập pháp. Với một Nghị viện như thế, không có gì bảo đảm việc thực thi các quyền tự do căn bản được ghi trong hiến pháp vì thiếu vắng các thiết chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực của cơ quan hành pháp, và do đó, không thể xây dựng một Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Những người cầm quyền có thể viện dẫn bất cứ lý do nào (từ tình trạng chiến tranh cho đến âm mưu của thực dân đế quốc, nguy cơ “diễn biến hòa bình”, v.v.) nhằm trì hoãn hoặc thủ tiêu các quyền tự do căn bản của người dân.

– Việc Hiến pháp 1946 cho phép Ban Thường vụ Nghị viện được cùng với Chủ tịch Nước quyết định một số vấn đề hệ trọng của đất nước “trong thời gian Nghị viện không họp” đã tạo ra một điều kiện thuận lợi để cho các nhà lãnh đạo có thể tùy tiện quyết định mọi vấn đề quan trọng của đất nước mà không chịu bất kỳ sự kiểm soát nào. So với chế độ quân chủ tập quyền, cơ chế này còn nguy hại hơn, bởi lẽ Nhà vua phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về tất cả những quyết định của mình – kể cả lời khen lẫn tiếng chê, còn Chủ tịch Nước VNDCCH thì tuy quyền hạn không kém gì Nhà vua nhưng mỗi khi làm sai lại được các “đại biểu nhân dân” (tức Ban Thường vụ Nghị viện) đứng ra gánh giùm trách nhiệm!

Những người ca ngợi Hiến pháp 1946 thường cố tình quên đi một sự thật là các quyền tự do căn bản của người dân được ghi trong hiến pháp này đã không trở thành hiện thực trong suốt thời gian 1946-1959. Ngược lại, có những bằng chứng cho thấy các quyền tự do đó đã bị xâm phạm một cách nghiêm trọng:

– Vào ngày 4-12-1953, Quốc hội khóa I của VNDCCH đã thông qua Luật cải cách ruộng đất, vi phạm nghiêm trọng “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam” được ghi tại điều 12 của Hiến pháp 1946. Điều kỳ lạ là văn bản này không phải là một sắc lệnh của Chủ tịch Nước, cũng không phải là một dự luật “được Chủ tịch Nước và Ban Thường vụ Nghị viện thông qua trong thời gian Nghị viện không họp”, mà là một Luật “do Quốc hội thông qua”. Người ta có thể đặt câu hỏi cho các nhà sử học và các nhà luật học: một kỳ họp Quốc hội như thế, được tiến hành giữa lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra ác liệt, liệu có bảo đảm đủ số lượng đại biểu cần thiết (quorum) để có thể thông qua luật một cách hợp lệ?

– Vào năm 1956, một vụ đàn áp quy mô đối với giới trí thức và văn nghệ sĩ đã diễn ra khốc liệt, thường được gọi là vụ Nhân văn-Giai phẩm. Từ trước đến nay đã có nhiều tài liệu viết về đề tài này, nhưng hình như chưa có ai đặt vấn đề về phương diện pháp lý: chiến dịch đàn áp này có vi phạm vào điều 10 của Hiến pháp 1946 (quy định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, v.v.) hay không?

Cần ghi nhớ rằng mặc dù bản Hiến pháp chưa được toàn dân “phúc quyết” để có thể trở thành chính thức nhưng vào ngày 9-11-1946, sau khi thông qua Hiến pháp 1946, Quốc hội khóa I của Nước VNDCCH đã ra “Nghị quyết Uỷ nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp” trong đó long trọng tuyên bố: “Trong thời kỳ chưa thi hành được thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã định trong Hiến pháp để ban hành các sắc luật”[12].

 Cũng có người biện hộ rằng nếu gặp hoàn cảnh thuận lợi hơn thì Hiến pháp 1946 đã được đưa vào thực hiện và được sửa đổi theo hướng thật sự dân chủ, những khiếm khuyết chắc chắn sẽ được sửa chữa, bổ sung. Lập luận này thật ra chỉ là sự suy luận thuần túy không dựa trên cơ sở lý luận cũng không phù hợp với thực tế, bởi lẽ:

– Những người chủ trì việc soạn thảo Hiến pháp 1946 chưa hề có ý định thực hiện nghiêm túc những gì được ghi trong Hiến pháp. Ngay cả về danh xưng, mặc dù Hiến pháp ghi rõ cơ quan lập pháp là Nghị viện, cơ quan thường trực của nó là Ban Thường vụ Nghị viện, nhưng các tên gọi Quốc hội và Ban Thường trực Quốc hội (có từ trước khi thông qua Hiến pháp) vẫn được giữ nguyên cho đến khi bản Hiến pháp 1946 bị hủy bỏ. Chức vụ Thủ tướng bị bỏ trống trong gần 10 năm, chức vụ Phó Chủ tịch Nước cũng bị bỏ trống trong suốt thời gian tồn tại của Hiến pháp 1946. Các nhà lãnh đạo cộng sản chỉ lợi dụng những điều khoản có lợi cho họ và hoàn toàn bỏ quên, không thi hành những điều khoản có lợi cho nhân dân.

– Ngay sau khi hòa bình lập lại tại miền Bắc, thay vì đưa vào áp dụng bản Hiến pháp 1946 và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu hướng dân chủ hóa, Đảng Cộng sản (lúc đó mang tên Đảng Lao động Việt Nam) đã xé bỏ văn bản lập hiến đó và thay thế bằng bản Hiến pháp 1959. Hành động này cho thấy những người cộng sản Việt Nam chỉ coi Hiến pháp 1946 là một phương tiện tạm thời mang tính “sách lược” (tactic) chứ không phải “chiến lược” (strategic), theo đúng phương pháp của Lenin.

Hiến pháp 1946 suy cho cùng chỉ là một công cụ tuyên truyền để biện minh cho các hành động của Đảng cộng sản chứ không có ý nghĩa pháp lý hay tác dụng thực tế nào cả. Có thể nói dưới sự lãnh đạo “toàn diện và tuyệt đối” của Đảng cộng sản, toàn bộ đời sống chính trị của đất nước đều được quyết định trong bóng tối, trong phòng họp kín của Ban chấp hành Trung ương Đảng và nhất là của Bộ chính trị. Và đó chính là di sản tệ hại nhất mà cả dân tộc phải thừa hưởng từ tinh thần cốt lõi của bản Hiến pháp 1946.

Mặt khác, để có thể tiến hành sửa đổi một bản hiến pháp theo hướng dân chủ hóa, cần có hai điều kiện căn bản: (1) Quốc hội (hay Nghị viện) phải thật sự đại diện cho dân và có đủ quyền lực để quyết định trong công tác lập pháp và lập hiến, (2) chế độ chính trị đa đảng, trong đó phe đối lập có đủ sức mạnh để kiềm chế đảng hay liên minh chính trị cầm quyền, chống lại mọi sự lạm dụng quyền lực và bảo đảm thực thi các quyền tự do căn bản của người dân, tạo điều kiện phát triển một xã hội dân sự lành mạnh. Cả hai điều kiện này đều không tồn tại tại miền Bắc từ năm 1954 và trên phạm vi cả nước kể từ tháng 4 năm 1975 cho đến ngày nay.

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, có một vài câu hỏi cần đặt ra, không phải dành cho những người cộng sản đang cầm quyền mà dành cho những người được mệnh danh là trí thức yêu nước: Tại sao lại phải cố níu kéo một bản hiến pháp mà ngay cả những người làm ra nó cũng không hề xem trọng, thậm chí còn thẳng tay xé bỏ nó một cách không thương tiếc để thay thế bằng một bản hiến pháp khác mà họ đánh giá là phù hợp hơn, có giá trị hơn? Tại sao lại phải bám víu vào một bản hiến pháp nhiều khuyết tật trong khi thế giới có biết bao nhiêu bản hiến pháp đáng giá khác mà chúng ta có thể tham khảo, học hỏi?

Về phía những người cộng sản, họ có lý do để bám víu vào bản Hiến pháp 1946, bởi vì “ăn mày dĩ vãng” là cách duy nhất để biện minh cho việc Đảng nắm giữ địa vị cầm quyền, bất chấp tình trạng tham nhũng và sự suy đồi nghiêm trọng của hệ thống chính trị, bất chấp nguyện vọng của nhân dân. Nhưng về phía những người trí thức, lý do gì khiến một số người vẫn tiếp tục duy trì ”huyền thoại về một Nhà nước dân chủ cộng hòa” của thời kỳ 1945-46, nuôi dưỡng niềm hy vọng viển vông về một chế độ “cộng sản-dân chủ” trong tương lai?

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng “xưng tội” với nhân dân bằng bài thơ “Bánh vẽ”. Bài thơ ấy mở đầu bằng những câu:

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ

Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

Cầm lên nhấm nháp

Dù sao thì “cùng với bạn bè nhấm nháp cái bánh vẽ” vẫn chưa phải là lầm lỗi nghiêm trọng nhất. Nghiêm trọng hơn nữa là vẫn còn có nhiều bậc trí thức uyên bác chẳng những sẵn sàng nhấm nháp những cái bánh vẽ mà còn tìm cách mời gọi người khác cùng ăn, thậm chí còn tham gia vẽ thêm nhiều chiếc bánh mới. Lỗi lầm ấy – dù vô tình hay cố ý, mới thật sự là lỗi lầm không thể tha thứ!

Đà Lạt, 3-10-2012

M.T.L.

—————————————————————————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

– Hiến pháp 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:

http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_24.html

– Constitution de 1875, IIIe République:

http://www.conseil-constitutionnel.fr/conseil-constitutionnel/francais/la-constitution/les-constitutions-de-la-france/constitution-de-1875-iiie-republique.5108.html

– Constitution de 1946, IVe République:

http://www.conseil-constitutionnel.fr/conseil-constitutionnel/francais/la-constitution/les-constitutions-de-la-france/constitution-de-1946-ive-republique.5109.html

– Robert Elgie, “Duverger, semi-presidentialism and the supposed French archetype”,  West European Politics, Volume 32 (2), 2009, pp. 248-267:

http://doras.dcu.ie/4513/1/Elgie_WEP_2009_Duverger_and_semi-presidentialism.pdf

– Kenneth Newton and Jan W. Van Deth, Foundations of comparative politics, Cambridge University Press, 2010.

– Mark Kesselman, Joel Krieger, William A. Joseph (General Editors), Introduction to Comparative Politics: Political Challenges and Changing Agendas, Fifth Edition, Wadsworth, Cengage Learning, Canada, 2010,

– Quốc hội Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập I, 1945-1960, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006:

http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_23.html

 


[2] Mai Thái Lĩnh, Những khuyết điểm nghiêm trọng của Hiến pháp 1946, Pro&Contra 13-7-2012: http://www.procontra.asia/?p=743
[3] Trong bài viết, tác giả Phan Thành Đạt thường lẫn lộn giữa các tên gọi. Cần phân biệt cách gọi tên trong Hiến pháp 1946 (Nghị viện, Ban Thường vụ Nghị viện) và cách gọi tên trong thực tế (Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội). Các tên gọi trong thực tế có từ đầu năm 1946, nghĩa là trước khi thông qua Hiến pháp 1946, và vẫn không thay đổi cho đến khi có Hiến pháp mới (1959). Từ 1960 đến 1980, cơ quan lập pháp có tên là Quốc hội, còn bộ phận thường trực có tên là Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[4] Báo cáo về hoạt động của Ban Thường trực Quốc hội do ông Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, trình bày tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, ngày 30-10-1946; Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập I, sđd:http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_12.html

[5] “Régime semi-présidentiel”, Wikipédia bản tiếng Pháp.

[6] Kenneth Newton and Jan W. Van Deth, Foundations of comparative politics, Cambridge University Press, 2010.
[7] Introduction to Comparative Politics: Political Challenges and Changing Agendas, Fifth Edition, General Editors: Mark Kesselman, Joel Krieger, William A. Joseph, Wadsworth, Cengage Learning, Canada, 2010.
[8] Elgie, Robert (2009) Duverger, semi-presidentialism and the supposed French archetype. West European Politics, Volume 32 (2), 2009, pp. 248-267:http://doras.dcu.ie/4513/1/Elgie_WEP_2009_Duverger_and_semi-presidentialism.pdf
[9] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam tự khen bản hiến pháp này như sau: “ Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, là một bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém một bản hiến pháp nào trên thế giới. Nó là bản hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện.”; trích theo bài “Ý nghĩa của bản hiến pháp đầu tiên” đăng trên trang mạng của Quốc hội Việt Nam:http://www.na.gov.vn/60namqhvn/www.na.gov.vn/60namqhvn/noidungynghia/ynghia-hp46.html
[10] Nguyên văn: “the Constitutional substitute for revolution”.
[11] Some Lincoln Correspondence with Southern Leaders before the Outbreak of the Civil War – from the collection of Judd Stewart, New York, 1909, Original from Library of Congress: http://hdl.handle.net/2027/loc.ark:/13960/t3pv6ks5g
[12] Nghị quyết của kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I Nước VNDCCH ngày 9-11-1946 Uỷ nhiệm Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội thi hành Hiến pháp, Văn kiện Quốc hội Toàn tập, tập I:http://www.na.gov.vn/sach_qh/vkqhtoantap_1/nam1946/1946_23.html Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
 
Nguồn: Boxitvn
 

Like this:

Be the first to like this.

Bài viết này được đăng vào 07/10/2012 lúc 05:21 và tập tin được lưu ở Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước. Bạn có thể theo dõi các phản hồi của bài viết này thông qua RSS 2.0 dòng thông tin. Bạn có thể Để lại lời nhắn, hoặc trackback từ trang của bạn.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 1/10-7/10 – NCBĐ

7 Th10

Tin tuần từ 1/10-7/10

 dinh tuan anh
 
 -(Vnplus 5/10) “Manila không lùi bước trong tranh chấp Biển Đông”: Theo Ngoại trưởng Rosario, Manila sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình trong khuôn khổ ngoại giao, luật quốc tế và hợp tác; “Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phá sản”

-(TN 5/10) Biển Hoa Đông nóng vì phát ngôn hiếu chiến: Tranh chấp xung quanh Senkaku/Điếu Ngư càng leo thang sau khi giới chức và tướng lĩnh Trung Quốc đưa ra những luận điểm căng thẳng; (VNN 5/10) Tình thế tiến thoái lưỡng nan tại Biển Đông

-(Vnplus 5/10) Nhật lo ngại tàu hải giám Trung Quốc quá hung hãn: Từ sau ngày 26/9, tàu Trung Quốc đã liên tục xuất hiện và xâm phạm lãnh hải Nhật Bản gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư; Đoàn tàu chiến Trung Quốc qua vùng biển Nhật Bản

-(TT 5/10) Chiến tranh” truyền thông Nhật – Trung: Hai nước đua nhau mua “đất” để đăng bài tuyên bố cho chủ quyền của mình trên các tờ báo nước ngoài; (Pltp 5/10) Đề xuất chia sẻ thông tin an ninh biển

-(Nld 4/10) Có nguy cơ căng thẳng mới về Senkaku/Điếu Ngư: Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara đang thúc đẩy kế hoạch xây dựng các công trình trên quần đảo Senkaku để củng cố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này; (VOA 4/10) Nhật: Trung Quốc sẽ tham dự thượng đỉnh IMF tại Tokyo

-(VOA 4/10) ASEAN: Hiệp ước, đối thoại là cách tốt nhất cho tranh chấp Biển Đông: Thông cáo phát hành ngày 4/10 kết thúc Diễn đàn Hàng hải lần thứ ba của các nước Đông Nam Á diễn ra tại Philippines đặc biệt kêu gọi khu vực tôn trọng luật quốc tế trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển; ‘Các nước tranh chấp ở Biển Đông cần cải thiện an ninh hàng hải’

-(Infonet 4/10) Nhật Bản “căng mình” đối phó tàu Trung Quốc: Khi 4 chiếc tàu hải giám Trung Quốc tiến vào khu vực gần quần đảo Senkaku chiều ngày 1/10, nhân viên canh gác bờ biển Nhật Bản chỉ có thể thở dài; (Gd 4/10) Biển Đông: Philippines bác yêu cầu đàm phán của Đài Loan

-(Vnexpress 4/10) Philippines đề xuất hệ thống chia sẻ thông tin trên biển: Nước chủ nhà Diễn đàn Hàng hải ASEAN lần thứ 3 (AMF-3) vừa nêu ý tưởng về hệ thống chia sẻ thông tin trên biển, nhằm đối phó với những thách thức an ninh; (TN 4/10) Mỹ có đủ tiền cho chiến dịch châu Á – Thái Bình Dương

-(Bdv 4/10) Trung Quốc khó có thể nhượng bộ ASEAN: Việc Trung Quốc khăng khăng đòi chủ quyền trên một diện tích lớn trên biển Đông có liên quan chặt chẽ đến những yêu sách về kinh tế; (TT 4/10) Đối đầu Trung – Nhật: nguy cơ tài chính toàn cầu

-(Petrotimes 4/10) Đại sứ Mỹ: Không dùng áp bức kinh tế để giải quyết tranh chấp biển: Đại sứ Mỹ tại Philippines Harry Thomas Jr đã nhắc lại rằng Washington muốn thấy các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông được giải quyết qua đối thoại và không sử dụng các biện pháp áp bức kinh tế; Tranh chấp tại Biển Đông và biển Hoa Đông: Mỹ không muốn can thiệp?

-(Vnplus 4/10) Ấn Độ: Hợp tác là cách bảo vệ an ninh biển tốt nhất: Ấn Độ tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng chỉ có sự hợp tác là cách hiệu quả nhất để đảm bảo an ninh và an toàn của các tuyến đường biển trên các đại dương; Đại sứ Trung Quốc cảnh báo về chiến tranh với Nhật

-(VOV 4/10) Trung- Nhật: Cuộc chiến tuyên truyền về quần đảo tranh chấp: Nhật Bản soạn tài liệu: “Ba sự thật lớn về Senkaku”, trong khi Trung Quốc quảng cáo về “chủ quyền” Điếu Ngư tại báo chí nước ngoài; (Toquoc 4/10) Tàu Trung Quốc tiếp tục tuần tra vùng biển tranh chấp

-(NLd 4/10) Đại sứ Trung Quốc cảnh báo nguy cơ chiến tranh Trung – Nhật: Trong cuộc họp báo ngày 3-10 tại Niamey (Niger), tân đại sứ Trung Quốc tại Niger Thạch Hổ đã cảnh báo về nguy cơ xảy ra chiến tranh Trung – Nhật; (Bdv 4/10) ASEAN và đối tác họp về Biển Đông

-(Gd 4/10) Cảnh sát biển Nhật Bản gồng mình bảo vệ Senkaku khiến cho các hoạt động khác của lực lượng này trên toàn quốc cũng bị ảnh hưởng; (Nd 4/10) Ngoại trưởng Nhật Bản: “Không thể nhân nhượng những gì không thể”

-(VOA 4/10) Chiến lược ‘giành tất cả’ của Trung Quốc sẽ không đạt hiệu quả: Đó là cảnh báo của giới phân tích được đăng trên trang Mạng lưới An ninh và Quan hệ quốc tế ISN; Ngũ Giác Ðài: Mỹ đủ nguồn lực cho chính sách Hướng Về Châu Á

-(RFI 4/10) Mỹ triển khai một hạm đội hùng hậu trên cả Biển Hoa Đông lẫn Biển Đông: Giới chỉ huy Hải quân Mỹ khẳng định đó chỉ là những hoạt động bình thường, nhưng nhiều nhà phân tích xem đây là tín hiệu gởi đến các bên tranh chấp; Diễn đàn Hàng hải ASEAN : Manila né tránh hồ sơ Biển Đông để nhấn mạnh đến hợp tác khu vực

-(TN 4/10) Đông Nam Á thảo luận tăng cường an ninh hàng hải: Hôm 3/10, Diễn đàn Hàng hải ASEAN (AMF) lần thứ 3 khai mạc tại Philippines giữa lúc đang có nhiều tranh chấp ở các vùng biển trong khu vực; (VNN 4/10) Thế giới 24h: Lún sâu tranh chấp

-(Gd 4/10) Biển Đông: Philippines sẽ không lùi bước trước Trung Quốc: Biển Đông là “lợi ích quốc gia cốt lõi của Philippines” và nước này sẽ theo đuổi tuyên bố chủ quyền của mình trong khuôn khổ ngoại giao, luật pháp quốc tế và sự hợp tác; Hồng Lỗi: Senkaku có thể là nguyên nhân gây chiến tranh

-(VNN 4/10) Vai trò nòng cốt trong tranh chấp biển đảo Đông Á: Đánh giá ban đầu cho thấy ít có khả năng Trung Quốc và đồng minh của Mỹ tại Tây Thái Bình Dương sẽ tiến hành cuộc chiến do tranh chấp tại những hòn đảo; (Gd 4/10) Tàu ngầm Mỹ cập cảng Philippines

-(Vnplus 4/10) Indonesia đề xuất dự thảo quy tắc ứng xử Biển Đông: Một bộ trưởng nội các và các nguồn tin từ ASEAN ngày 3/10 cho biết Indonesia đã đề xuất dự thảo các quy định có tính ràng buộc nhằm quản lý hành vi của các bên đòi chủ quyền trên Biển Đông; (Pltp 4/10) UNCLOS là nền tảng cho an ninh hàng hải

-(VOA 3/10) Tàu sân bay Mỹ đang hoạt động tại Biển Đông: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng đặc nhiệm không-địa chiến của thủy quân lục chiến Mỹ đã bắt đầu hoạt động tại khu vực Tây Thái Bình Dương; ASEAN họp bàn về Biển Đông

-(TN 3/10) Nhật sẽ quảng cáo Senkaku/Điếu Ngư trên báo nước ngoài: Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 3.10 tuyên bố chính phủ nước này sẽ tăng cường nỗ lực củng cố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, bao gồm cả việc đăng quảng cáo trên báo nước ngoài; (Vnplus 3/10) “Tàu hải giám Trung Quốc vẫn sẽ tuần tra Điếu Ngư”

-(Gd 3/10) Trung Quốc chật vật đòi nợ Philippines 500 triệu USD: Trước mắt chính phủ Philippines sẽ không chi một xu nào để trả khoản nợ 500 triệu USD mà chính quyền Tổng thống Arroyo đã vay Trung Quốc phục vụ cho dự án Đường sắt Phía Bắc; Cảnh sát biển Nhật Bản lại rượt đuổi Hải giám trên biển Hoa Đông

-(Vnexpess 3/10) Việt Nam mong sớm có Quy tắc ứng xử Biển Đông: Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh hôm qua phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khẳng định tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế; (Cand 3/10) Quan hệ Trung – Nhật đi về đâu?

-(Vnplus 3/10) Nhật Bản lại gửi công hàm để phản đối Trung Quốc: ực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cho biết ngày 3/10 ba tàu hải giám Trung Quốc lại đi vào vùng biển gần quần đảo tranh chấp Senkaku do Nhật Bản kiểm soát; (Infonet 3/10) Chuyên gia Mỹ: “Nhật nên tăng cường quốc phòng chống Trung Quốc”

-(RFI 3/10) Các nước Đông Nam Á họp bàn về an ninh hàng hải: Thông báo của Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, Diễn đàn Hàng hải ASEAN kéo dài trong ba ngày, tập trung vào vấn đề an ninh hàng hải, chống hải tặc và đảm bảo « tự do lưu thông » trên biển; (VOA 3/10) Lãnh đạo các lực lượng bảo vệ biển ở Châu Á họp tại Ấn Độ

-(Gd 3/10) Mỹ triển khai Osprey tại Nhật khiến Trung Quốc lo ngại: Panetta cho rằng loại máy bay này “rất quan trọng để bảo vệ Nhật Bản” vì nó có tốc độ gấp đôi, tải trọng gấp ba và tầm bay gấp bốn lần trực thăng CH-46; (Pltp 3/10) Philippines kêu gọi tôn trọng UNCLOS

-(Vnplus 3/10) Nỗ lực ngoại giao mới của Nhật Bản về vụ Senkaku: Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba đã giải thích ngắn gọn với người đồng cấp Mông Cổ Luvsanvandan Bold lập trường của Nhật Bản về cuộc tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc đối với một quần đảo trên Biển Hoa Đông; (VNN 3/10) Chiến tranh đắt nên vũ khí phải rẻ?

-(TN 3/10) Mỹ dồn lực lượng đến tây Thái Bình Dương: Mỹ đang triển khai một lực lượng hùng hậu với sự hiện diện của 3 đội tàu gần những vùng đang có tranh chấp tại tây Thái Bình Dương; VN giải quyết vấn đề biển Đông theo pháp luật quốc tế

-(Vnplus 2/10) Philippines: Trung Quốc nên kiềm chế sử dụng vũ lực: Phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã đề cập tới những tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc; Nhật phản đối tàu hải giám TQ tới gần đảo Senkaku

-(TN 2/10) Ấn Độ mua tàu tuần tra hiện đại để ngăn tàu Trung Quốc: Quân đội Ấn Độ đã trang bị nhiều tàu cao tốc hiện đại để tuần tra hồ Pangong nhằm ngăn chặn sự xâm phạm của Trung Quốc; (Gd 2/10)La Viện: Trung Quốc, Đài Loan có thể hợp tác tấn công Senkaku

-(Bdv 2/10) Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines: ‘Nước xa không cứu được lửa gần’: Người Philippines lo ngại rằng do ngân sách hạn hẹp và quân đội đang bị căng trải, Mỹ khó có thể giúp đỡ họ trong một cuộc xung đột thực sự ở Biển Đông; (VOV 2/10) Hàn Quốc tái xuất bản về sách lịch sử quần đảo Dokdo

-(VOA 2/10) Tàu Trung Quốc lại tiến vào vùng biển có tranh chấp với Nhật Bản: Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba hôm nay nói rằng giới hữu trách đã yêu cầu các tàu đó rời khỏi hải phận Nhật, và Tokyo đã chính thức kháng nghị với phía Trung Quốc; (RFI 2/10) Nhật cảnh báo Trung Quốc với tín hiệu hòa dịu nhưng cứng cỏi

-(RFI 2/10) Philippines kêu gọi LHQ giúp giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo: Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã kêu gọi tất cả các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc hãy tôn trọng các quy định của luật pháp và cam kết quốc tế đồng thời kiềm chế sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp; Trung Quốc lại xâm phạm vùng biển Senkaku/Điếu Ngư

-(Vnplus 2/10) Mỹ triển khai thêm trực thăng đến căn cứ Nhật Bản: Ngày 2/10, Mỹ đã huy động thêm ba trực thăng vận tải MV-22 Osprey đến căn cứ không quân Futenma của Mỹ ở tỉnh Okinawa, miền Nam Nhật Bản; Tàu hải giám Trung Quốc rời vùng biển gần Senkaku

-(Toquoc 2/10) Vì sao tàu sân bay Mỹ đến Hoa Đông?: Sự xuất hiện của hàng không mẫu hạm Mỹ USS George Washington ở Biển Hoa Đông vào thời điểm nhạy cảm tranh chấp Trung-Nhật đang gây ra nhiều đồn đoán khác nhau; (RFI 2/10) Tham vọng của Trung Quốc đối với Bắc Cực

-(Vnplus 2/10) TQ cử hành quốc khánh tại Hoàng Sa của Việt Nam: Đây là hành động mới nhất của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, tiếp theo vụ nước này xây mạng thông tin trái phép trên đảo Việt Nam; Đại sứ TQ đòi Nhật từ bỏ quốc hữu hóa đảo Senkaku

-(TN 2/10) Trung Quốc tập trận tấn công đảo: Quân đội Trung Quốc tập trận tấn công đảo ở biển Hoa Đông, nơi nước này đang tranh chấp căng thẳng với Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư; (VNN 2/10)TQ điều chỉnh chiến lược trước Nhật chứ không lùi bước

-(Bdv 2/10) Tàu sân bay Trung Quốc dùng vũ khí nội 100%: Các quan chức Trung Quốc cho hay, tàu sân bay Liêu Ninh sẽ được trang bị toàn vũ khí nội; (Pltp 2/10) Đài Loan muốn nối lại đàm phán quyền đánh bắt

-(Petrotimes 2/10) Thủ tướng Nhật: Không có tranh chấp chủ quyền ở Senkaku còn Dokdo thì có: Theo quan điểm của Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda, vấn đề chủ quyền với quần đảo Senkaku và Dokdo là hai câu chuyện khác nhau; Tàu Trung Quốc, Đài Loan cùng lúc xuất hiện gần Senkaku

-(Vnplus 2/10) Bộ trưởng Nhật bác việc tạm gác tranh chấp với TQ: Tân Bộ trưởng Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản, bà Makiko Tanaka, ngày 1/10 cho biết quan điểm của bà đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku không khác biệt so với quan điểm chính thức của chính phủ; (TP 2/10) Hạm đội Mỹ ở gần Senkaku/Điếu Ngư

-(Vnplus 2/10) Nhật Bản: “4 tàu hải giám Trung Quốc đến Senkaku”: Theo phía Nhật Bản, bốn tàu hải giám này tiến vào vùng biển của Nhật khoảng sau 12 giờ 30 (0330 GMT); (TN 2/10) Ấn Độ mua tàu tuần tra hiện đại để ngăn tàu Trung Quốc

-(Vnmedia 2/10) Tàu đổ bộ Mỹ đưa hơn 2.000 lính đến Biển Đông: Ngoài hơn 2.000 lính thủy đánh bộ, tàu USS Bonhomme Richard (HLD-6) còn mang theo một loạt phương tiện tấn công đổ bộ, phương tiện bọc thép hạng nhẹ, pháo, trực thăng và máy bay chiến đấu Harrier; (VNN 2/10) Thế giới 24h: Tàu Đài Loan ở Hoa Đông

 

 

-(Infonet 1/10) Trung Quốc: Chúng tôi không bắt nạt những nước yếu: Nhân dân nhật báo – cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc khẳng định nước này chưa bao giờ tham gia vào bất cứ một cuộc chạy đua vũ trang nào trong lịch sử và tương lai họ cũng sẽ không muốn làm điều đó; Mỹ bí mật “ém” Hải quân gần Senkaku để làm gì?

-(Vnexpress 1/10) Philippines đăng cai diễn đàn hàng hải quốc tế: Thủ đô Manila của Philippines sẽ là điểm đến của các đại biểu tới từ ASEAN, Mỹ, Nhật, Trung Quốc và nhiều nước khác trong một diễn đàn mở rộng để bàn về các vấn đề hàng hải khu vực; (ANTD 1/10) Vì sao Mỹ triển khai máy bay trinh sát chống ngầm tiên tiến nhất đến Nhật Bản?

-(Sgtt 1/10) Mỹ và ASEAN đều cần tái cân bằng: Nội hàm “đối tác chiến lược” giờ đây mang ý nghĩa ở chỗ không chỉ Mỹ “tái cân bằng” khi chuyển hướng sang châu Á, mà ngược lại, đến lượt mình, ASEAN cũng sẽ “tái cân bằng” trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc; Tàu sân bay Mỹ triển khai đội hình ở biển Đông

-(Vnplus 1/10) ASEAN-Trung Quốc họp về Biển Đông tại Thái Lan: Truyền thông Thái Lan ngày 1/10 đưa tin nước này sẽ chủ trì một phiên họp hẹp của các quan chức cấp cao ASEAN và Trung Quốc trong tháng này; Trung Quốc cử phái bộ tăng cường hợp tác ASEAN

-(VOV 1/10) Nhật Bản muốn đối thoại với Trung Quốc về tranh chấp đảo: Thủ tướng Nhật cho rằng, điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để làm dịu căng thẳng giữa hai nước; (Bdv 1/10)Mỹ sẽ làm gì trong xung đột Trung – Nhật?

-(VNN 1/10) Toàn bộ nội các Nhật từ chức: Thủ tướng Noda đã chấp nhận đơn từ chức của tất cả các bộ trưởng nội các; (Petrotimes 1/10) Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết hòa bình tranh chấp ở Biển Đông

-(Gd 1/10) Nhật Bản truy tố người biểu tình đổ bộ lên Senkaku: Đây được cho là vụ vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng, và là lần đầu tiên Nhật Bản tiến hành truy tố công dân nước mình đổ bộ lên nhóm đảo này; Trung Quốc chi 250 ngàn USD quảng cáo Senkaku trên New York Times

-(TP 1/10) Thủy quân lục chiến Philippines làm gì ở Trường Sa?: Hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến Philippines có nhiệm vụ lập một trụ sở quân sự mới ở Trường Sa nhằm bảo vệ các lợi ích ở Biển Đông; ‘Đánh cờ’ trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư?

-(RFI 1/10) Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ hiện diện gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư: Hai hàng không mẫu hạm của Mỹ và lực lượng đặc nhiệm không – bộ thủy quân lục chiến đã có mặt ở vùng tây Thái Bình Dương, khá gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư; (VOA 1/10) 80 bản đồ chứng tỏ Trường Sa-Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc

-(VOV 1/10) ASEAN-Trung Quốc sẽ họp về Biển Đông tại Thái Lan: Truyền thông Thái Lan ngày 1/10 đưa tin nước này sẽ chủ trì một phiên họp hẹp của các quan chức cấp cao ASEAN và Trung Quốc trong tháng này; (Qdnd 1/10) Trung Quốc mở phái bộ tại ASEAN

-(BBC 1/10) Thái Lan sẽ tổ chức họp về Biển Đông: Việc tổ chức cuộc gặp được các ngoại trưởng Asean nhất trí khi gặp nhau bên lề Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, nhưng chưa rõ ngày diễn ra; (RFI 1/10) Philippines cải chính chỉ đưa thêm dưới 100 binh sĩ tới Trường Sa

-(Toquoc 1/10) Nhật cải tổ nội các nhằm hàn gắn quan hệ với Trung Quốc: Trong các nhân vật thay đổi lần này giới quan sát cho rằng vị trí bộ trưởng Giáo dục tuy không có nhiều quyền lực nhưng cũng là một cách đánh tín hiệu việc Tokyo sẵn sàng “hàn gắn vết thương” với Bắc Kinh; (TT 1/0) Nhật không đưa vấn đề đảo tranh chấp ra tòa quốc tế

-(Nld 1/10) Chiến tranh thương mại Nhật- Trung: Nếu xảy ra chiến tranh thương mại Nhật – Trung, kinh tế thế giới sẽ đứng trước một đợt “sóng thần” với những hậu quả khó lường; Nhật Bản thay 10 bộ trưởng

-(Vnmedia 1/10) Trung Quốc lại hành động ngang nhiên trên đảo của Việt Nam: Trung Quốc tiếp tục ngang nhiên tăng cường hoạt động xây dựng ở cái gọi là “khu hành chính Tam Sa” khi hôm 29/9 cho phác thảo các kế hoạch phát triển 4 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và một dự án xây khu nhà ở; (TN 30/9) Ngoại trưởng ASEAN nhận bản thảo COC

-(Pltp 1/10) Tàu sân bay Mỹ đến biển Hoa Đông: Ba đội tàu tấn công của Mỹ tập trung bất thường ở Tây Thái Bình Dương; Giải pháp nào cho quần đảo Senkaku/Điếu Ngư?

-(Toquoc 1/10) Những thiệt hại kinh tế đầu tiên từ xung đột Trung – Nhật: Ngày 28/9, Nhật Bản đã công bố những số liệu đáng lo ngại cho thấy nền kinh tế nước này đã xấu đi từ trước khi xảy ra cuộc tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư; (Gd 30/9) Hoa Đông: Nhật Bản sẵn sàng cho cuộc chiến truyền thông với Trung Quốc

-(RFI 30/9) Điếu Ngư/Senkaku : Dân Đài Loan lại biểu tình phản đối Nhật Bản: Gần 1.000 người đã xuống đường tuần hành qua các đường phố ở thành phố Đầu Thành, huyện Nghi Lan miền đông bắc Đài Loan để ủng hộ đòi hỏi chủ quyền của Đài Bắc trên quần đảo Điếu Ngư/Senkak; Philippines tăng cường lực lượng bảo vệ vùng quần đảo Trường Sa

-(BBC 30/9) TQ tập chiếm đảo ở Biển Hoa Đông: Các lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc đã tiến hành tập trận chung dùng vũ khí thật nhằm vào một hòn đảo nhỏ trên Biển Hoa Đông; (RFI 30/9) Tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư : Mỹ sẽ hành động ra sao ?

-(VOV 30/9) Nhật -Trung: Không điện mừng 40 năm bình thường hóa quan hệ: Quan hệ  Nhật -Trung được xem đang ở trong giai đoạn lạnh giá nhất trong suốt 40 năm qua; (Toquoc 30/9) Quan hệ Nhật-Trung đi về đâu dưới thời Tập Cận Bình?

-(DT 30/9) Philippines phái 800 lính thủy đánh bộ gác các đảo tranh chấp: Trung tướng Philippines Juancho Sabban, trong động thái cũng muốn xoa dịu, cho biết việc triển khai chỉ là biện pháp bảo vệ chứ không phải là hành động khiêu khích; (Gd 30/9) Hoa Đông: Trung Quốc phát hành sách trắng về Senkaku

-(VOV 30/9) Thế giới 7 ngày:Trung Quốc quảng cáo “chủ quyền” trên báo Mỹ: Quan hệ Trung – Nhật lạnh giá, tranh cãi về vấn đề hạt nhân Iran, chiến sự ác liệt tại Syria… là những vấn đề được dư luận quan tâm; (ANTD 30/9) Từ Liên hợp quốc hướng về Biển Đông

Thế giới 24h: Tàu TQ ồ ạt ra biển Hoa Đông

7 Th10

Thế giới 24h: Tàu TQ ồ ạt ra biển Hoa Đông

 – Tàu Trung Quốc liên tục tiếp cận vùng biển quanh quần đảo tranh chấp với Nhật Bản; Hàn Quốc và Mỹ đạt thỏa thuận mở rộng tầm bắn tên lửa đạn đạo của Seoul…. là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Hãng tin Kyodo tối 6/10 dẫn nguồn tin từ Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản cho hay, 8 tàu tuần tra Trung Quốc đã tiếp cận vùng biển gần quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư mà hai bên đang tranh chấp.

Theo nguồn tin, số tàu trên xâm nhập vùng biển này vào lúc 15h. Sở chỉ huy Lực lượng Bảo vệ bờ biển vùng 11 ở Naha nói rằng, bốn tàu ngư chính trong số tàu trên liên tục ra vào vùng tiếp giáp lãnh hải.

Đảo Uotsuri, hòn đảo lớn nhất thuộc quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư. (Ảnh: Reuters)

Trước đó, sáng cùng ngày, 3 tàu ngư chính Trung Quốc cũng tiến vào vùng biển xung quanh Senkaku/ Điếu Ngư. Như vậy, tới hôm qua, tàu công vụ Bắc Kinh liên tục xâm nhập khu vực suốt 6 ngày liền.

Phản ứng trước việc tàu Trung Quốc dồn dập đi vào Hoa Đông, tờ Sankei của Nhật Bản đăng bài bình luận cho rằng đã tới lúc chính phủ nước này cần thảo luận các biện pháp đối kháng có tính hiệu quả.

Trong khi đó, theo tờ Yomiuri, Mỹ đã hoàn tất triển khai loại máy bay vận tải quân sự hạng nặng MV-22 Osprey ở Nhật. Theo giới quan sát, động thái này có thể sẽ khiến cho Bắc Kinh cảm thấy lo ngại.

Tin vắn

– Quân đội Israel ngày 6/10 đã bắn hạ một máy bay không người lái đi vào không phận miền Nam của nước này từ vùng biển Địa Trung Hải.

– Báo cáo từ Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Carnegie đưa ra tuần này khẳng định, Taliban sẽ trở lại nắm quyền ở Afghanistan sau năm 2014.

– Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh, việc triển khai những hành động quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ ở khu vực biên giới là hành động phòng vệ.

– Các quan chức chính phủ giấu tên cho biết, Hàn Quốc cùng Mỹ đã đạt thỏa thuận về việc mở rộng tầm bắn cho tên lửa đạn đạo của Seoul.

– Hàn Quốc cho biết, một binh sĩ của CHDCND Triều Tiên đã đào tẩu sang nước này, sau khi đã bắn chết hai viên sĩ quan chỉ huy của mình.

– Phía Nga cho biết, Điện Kremlin không dính líu gì tới mạng lưới bị Washington cho là đã buôn lậu công nghệ quân sự từ Mỹ xuất sang Nga.

– Chính phủ của Tây Ban Nha hôm 5/10 đã nhất trí tham gia Hệ thống phòng thủ tên lửa (MND) của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.

– Nhật Bản sẽ bổ nhiệm ông Masato Kitera, 59 tuổi, làm đại sứ nước này tại Trung Quốc, nhằm thay thế cho người tiền nhiệm Uichiro Niwa.

– Bộ Ngoại giao Iran hôm 6/10 ra tuyên bố yêu cầu lực lượng chống chính phủ ở Syria trả tự do cho 48 công dân Iran bị lực lượng này bắt giữ.

Tin ảnh

Máy bay nhào lộn trên bầu trời San Francisco hôm 5/10. (Ảnh: THX)  

Phát ngôn ấn tượng

Phát biểu tại Manila hôm 5/10, Thứ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Koji Tsuruoka đã kêu gọi các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông phải triệt để tôn trọng các công ước quốc tế.

“Các nước liên quan trong tranh chấp ở Biển Đông nên tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tránh hành động đơn phương làm tăng căng thẳng ở Biển Đông”.

Ngày này năm xưa

Từ ngày 7 đến 24/10/1973 đã diễn ra cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ tư.

Thanh Vân (tổng hợp)

%d bloggers like this: