Lưu trữ | 10:11 Chiều

Có một kho mộc bản vô giá ở Hội An – TP

8 Th10

Có một kho mộc bản vô giá ở Hội An

> Nhân lên tinh thần Phật giáo Việt

TP – Bộ mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) vừa được UNESCO công nhận là Di sản ký ức thế giới. Tại Hội An (Quảng Nam), ít ai biết cũng đang lưu giữ kho báu mộc bản kinh Phật bằng chữ Hán và chữ Phạn, mạch nguồn phát nguyên dòng Thiền Lâm Tế – Chúc Thánh từ miền Trung vào đến miền Nam từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20.

 

Nghệ thuật khắc gỗ tinh xảo còn lưu giữ được tại các chùa cổ Hội An
            Ảnh: Q.H
Nghệ thuật khắc gỗ tinh xảo còn lưu giữ được tại các chùa cổ Hội An.  Ảnh: Q.H.

 

Trên 200 mộc bản cổ

Tại chùa Vạn Đức (xây dựng từ thế kỷ 17) nằm bên sông Cổ Cò, thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà (Hội An), hiện còn 115 mộc bản (bản in cổ khắc gỗ các loại kinh Phật).

“Các mộc bản có 3 độ dài khác nhau. Có 9 bản dài từ 70cm đến 78,5cm, còn lại 85 bản dài từ 44,5cm-50 cm; 23 bản từ 56cm-65 cm. Trong đó có 106 bản in 2 mặt. Hầu hết đều được khắc chữ Hán chân phương, sắc nét, một số bản có kèm cả hình Hộ pháp, Địa tạng, Chư Phật hải hội…” – ông Trần Văn An – Phó GĐ Trung tâm Quản lý Bảo tồn di sản văn hóa (QLBTDSVH) cho biết.

Theo lời kể của các tu sĩ, trước đây, nhiều mộc bản đã từng bị đốt hủy do mối mọt phá hoại hư hỏng hoàn toàn. Hầu hết đều được làm bằng gỗ mứt và gỗ thị, bị nứt ở hai đầu, dọc theo sớ gỗ. Vùng biên bao quanh cũng bị mục hoặc thoái hoá nặng ở một đầu.

Còn tại hai ngôi chùa Phước Lâm và Chúc Thánh (xã Cẩm Hà và phường Tân An, nằm cách nhau khoảng 500 m cũng lưu giữ gần 100 mộc bản nhiều kích cỡ, từ 26cm đến 138cm, rộng từ 8cm đến 54cm. Trong đó có 51 bản in hai mặt.

Loại chữ khắc hầu hết là chữ Hán, riêng 12 bản in các loại bùa bằng chữ Phạn kèm theo hình minh họa… Các đường biên xung quanh mộc bản ở đây không bị mục nhưng tình trạng hư, mòn chữ do ẩm ướt và các loại gặm nhấm phá hoại lại nhiều hơn ở chùa Vạn Đức.

Vài bản kích thước lớn đã bị mo hoặc nứt dọc theo thân, 2 bản bị vỡ đôi. Chất lượng gỗ đã bị thoái hoá nặng, nhất là đối với các bản in có niên đại sớm.

Những pho kinh sách

Theo ông Tống Quốc Hưng, Phó Phòng Văn hóa – Thông tin TP Hội An: “Căn cứ nội dung có thể xác định đây là các bộ kinh quan trọng của Phật giáo đại thừa, gồm các bộ Di đà, Kim cương, Quan âm, Bát nhã ba la mật… Bên cạnh đó còn có các loại thần chú như Thập quỷ ủng hộ thần chú, Đại uy lực thần chú, Hựu thánh lục tự thần chú… Nhiều bản in độ điệp, pháp phái quy uy, kế thế truyền thừa…có niên đại khá sớm. Đây là cơ sở tư liệu để làm rõ về sự phát triển của Phật giáo ở Hội An và Đàng Trong”.

Một số mộc bản tại chùa Vạn Đức ghi chú năm khắc như 3 bộ kinh Di đà, Kim cương, Quan âm năm Thiên Thuận Nhâm Ngọ (1482). Nhiều moc bản được khắc trong nước vào thời nhà Lê.

Còn có những bản được khắc ở Bình Sơn (Quảng Ngãi) và các chùa ở Hội An rồi chuyển về bảo quản. Cũng có những mộc bản được khắc tại Trung Quốc mang sang, như Bản in Tuyển tăng đồ (niên hiệu Khang Hy Giáp Thìn -1664).

Riêng tại chùa Chúc Thánh hiện có 11 bản kinh Phổ Môn, in liên hoàn, dài đến 13,5m gồm 14 bản in hai mặt.

Hình khắc về các hành trạng của Quan Âm Bồ tát với nét tinh xảo, có giá trị cao về nghệ thuật khắc gỗ. Tác giả không ai khác chính là những người thợ làng mộc Kim Bồng nổi tiếng của Hội An từ đầu thế kỷ 19.

Theo Thượng toạ Thích Đồng Mẫn, trụ trì chùa Chúc Thánh, thì tổ sư Minh Hải (đời thứ 34 dòng thiền Lâm Tế) từ Trung Hoa sang Việt Nam khai sơn tổ đình Chúc Thánh tại Hội An và đã xây dựng một triết lý riêng biệt cho dòng thiền Lâm Tế – Chúc Thánh.

Đó là triết lý “tri hành hợp nhất” đang được truyền thừa tại 67 ngôi chùa từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, cũng như tại một số nước trên thế giới.

 

Ngay sau khi phát hiện, Trung tâm QLBTDSVH Hội An đã cử hàng chục cán bộ về các ngôi chùa để xem xét và tổ chức in dập tổng cộng 212 bản với 740 tờ. Tại chùa Vạn Đức đã in được 442 tờ bằng giấy dó, mực xạ; trong đó, mỗi mặt in 2 bản để lưu trữ và sử dụng nghiên cứu.

 

Quốc Hải

Nguyễn Mạnh Trinh – Khi thi ca thành tôn giáo: Phạm Công Thiện

8 Th10

Nguyễn Mạnh Trinh – Khi thi ca thành tôn giáo: Phạm Công Thiện

 
Nguyễn  Mạnh Trinh
 
Phạm Công thiện, ông là ai? Có nhiều người đã hỏi như thế. Triết gia? Thiền sư? Thi sĩ? Văn sĩ ? Hay là một người lang thang rong chơi trong cuộc đời? Hay là nghệ sĩ với ước vọng thành một tài năng lớn của thế giới? Hoặc là một người đang trong cơn mộng du suốt cả đời?
 
 
 
Vào những năm thập niên 60 ở Sài gòn, Phạm Công Thiện xuất hiện như một hiện tượng. Sách vở của ông đã được đón đọc nồng nhiệt và trong giới sinh viên học sinh đọc sách của ông là một thời thượng. Họ thích nói về “Ý thức mới trong văn nghệ & triết học”. Họ tán thưởng “Ngày sinh của rắn”. Có người thú nhận thích đọc ông dù chẳng hiểu bao nhiêu. Và trong cái gọi là “họ” ấy có tôi. Một cậu sinh viên mê sách vở và tràn ứ mơ mộng lãng mạn.
 
Lúc đó, tôi đã nghĩ Phạm Công Thiện là một người viết phê bình như viết tùy bút và viết tùy bút như viết bằng thơ. Tóm lại, với tôi, ông là một thi sĩ dù ông làm thơ không nhiều lắm.
 
Đọc lại những bài viết về những nhà thơ của ông, tôi thấy điều đó tới bây giờ vẫn còn chính xác. Ông viết về thơ với cả tâm hồn mình, và với những thi sĩ, ông cũng đồng cảm trong cái chia sẻ không cùng của những sợi đàn rung cộng hưởng vì chung tần số.
 
Tôi đọc thử một đoạn viết về Cung Trầm Tưởng để dẫn tới thơ tình yêu của Appollinaire. Những trang sách cũ đã ố vàng của “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”.
 
“… Tôi ngạc nhiên. Tim tôi máy động. Cung Trầm Tưởng là ai mà làm thơ tài hoa vậy. Tôi mơ màng. Tôi hình dung những chiếc lá rơi. Tôi nhìn thấy dòng sông Seine lững lờ trôi chảy. Kia là tả ngạn River Gauche… Kia là đường phố Aumont – Thieville và L’ Avenue des Ternes… Kia là những quán cà phê và những kẻ tứ chiếng giang hồ… Kia là cầu Mirabeau… Kia là mùa thu mưa rơi… kia là Pont Neuf. Ôi. Paris. Souvenir. Souvenir. Remember to remember…
 
Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire. Ừ, chỉ có Appollinaire mới có những dòng thơ bất tuyệt để làm sống lại Paris. Nói đến Paris là nói đến Kỷ Niệm, là nói đến Nghệ sĩ, là nói đến tình yêu và tuổi trẻ. Paris là thành phố của những kẻ tứ chiếng giang hồ, của những clochards, của những femmes de joie, của những Henry Miller, những Hemingway, những Gertrude Stein, những Picasso, những Appollinaire…
Mùa thu nơi đâu
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín dỏ trái sầu.
 
Cung Trầm Tưởng làm tôi nhớ đến Appollinaire:
J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends
 
Cũng vào mùa thu, Cung Trầm Tưởng ngóng chờ người yêu ”kiên khổ phút giờ” và “chín đỏ trái sầu” ngóng chờ mong đợi như Appollinaire đã ngóng chờ mong đợi giữa hương thời gian và mùi lá cỏ
Odeur du temps Brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends
 
Trời đã tối hẳn rồi. Tôi bước vào giường nằm ngủ, mắt nhắm lại, những dòng thơ của Hàn, của Cung, của Appollinaire chan hòa thướt tha đưa tôi vào giấc ngủ triền miên…
 
Viết về thơ, theo như Phạm Công Thiện không phải là phê bình xếp loại mà phải là ca tụng khen ngợi thơ. Ông khẳng định ”Nói đến Thơ không khác gì nói đến Thượng Đế. Phê bình Thơ là làm việc phạm thánh là blasphème.
 
Những thi sĩ không phải là loài người họ là những Thiên Thần, những thánh hoặc những quỉ ma. Nếu ta không chấp nhận họ được thì ta phải im lặng; còn nếu chấp nhận họ thì ta phải ca tụng cho hết lời. Ta không được quyền có thái độ của học giả hoặc giáo sư hoặc nhà phê bình. Phải giết hết những nhà phê bình để cho Keats sống, để cho Chatterton đừng chết lúc mới 18 tuổi xanh.
 
Anh không thể cảm thơ của người ta thì anh hãy im lặng; còn nếu cảm được thì anh hãy thiết tha ca ngợi, đừng e dè giữ gìn gì cả. Không nên có những nhà phê bình thơ mà chỉ nên có những kẻ ca tụng thơ. Thơ là của riêng từng người; không có ai làm thầy ai cả. Phê bình văn nghệ ư? Buồn lắm…
 
Thi sĩ ca tụng thi sĩ? Đúng quá rồi. Và trong cái bí nhiệm như của một tôn giáo, thi ca đã làm cho chúng ta luôn luôn mơ mộng và suy tư.
 
Như khi nhìn những con sông cạn cợt của quận Cam…
 
Không hiểu sao mỗi lần lái xe đi ngang qua những con sông cạn ở thành phố Westminster hay Santa Ana tôi lại thấy bồi hồi. Có một liên tưởng nào từ lòng sông tráng xi măng ở giữa chơ vơ một dòng nước chảy nhỏ nhoi cạn cợt. Cái cảm giác của thiên nhiên bị khuất phục ấy của một dòng nước mùa nắng nhắc tôi tới nguồn nước ào ào sục sôi sau những cơn mưa. Một thi sĩ đã viết :
“Ừ, ta bây giờ như sông cạn
Nước vũng làm sao thành biển khơi
Chí lớn dưng không thành chuyện vãn
Mỉm cười còn mất chuyện muôn đời…”
 
Có hay không, cái tượng hình của Dịch Kinh, hà trung vô thủy? Sông mà không có nước, có phải là sông không? Hay chỉ là gợi ý tới những đi mà không đến. Một câu thơ của Seamus Heaney, thi sĩ giải Nobel văn chương năm 1995 trong thi tập The Haw Lantern, chỉ có hai câu :
“The riverbed, dried up, half full of leaves.
Us, listening to a river in the trees.
(Lòng sông, cạn khô, một nửa phủ đầy những chiếc lá
Cho chúng ta, đang lắng nghe một dòng sông chảy trong cây)
 
Thi sĩ Phạm Công Thiện đã viết như sau về hình ảnh sông cạn rất thơ mộng này mà chúng ta nhiều khi ít quan tâm khi ngang qua trong nhịp đời hối hả mỗi ngày :
… Tiếng nói của thơ là dòng nước tuôn chảy bất tận, dù lòng sông có cạn khô chăng nữa thì hồn sông vẫn chảy mãi trên cao… Sông đang chảy trên cây và trong cây lá, và sự lắng nghe ở đây đã nhập lưu (sơ ư văn trung / nhập lưu vong sở), không phải chúng ta lắng nghe dòng sông mà chính dòng sông đã chảy vào trong thi nhân, lòng sông khô cạn ở dưới đã nhập vào con sông chảy trên cây; lòng sông khô cạn nửa đầy những chiếc lá thả hồn rào rạt với sông lá trên cao (Hồ Dzếnh: ”có một nghìn cây rũ rượi buồn / Một nghìn sông rét vạn hoàng hôn. Vũ hoàng Chương “Đáy sông bừng dựng Lầu Thơ? Giấc mơ Hồ Điệp chẳng mơ cũng thành”… Tại sao phải làm thơ? Tại sao phải lắng nghe một lần như chưa từng biết nghe trọn đời? Tại sao phải nhìn thấy được một lần duy nhất như chưa từng biết thấy bao giờ? Thi nhân đã một lần nhìn thấy; còn chúng ta thì hãy lắng nghe một dòng sông chảy bất tận trong rặng cây rào rạt chiều hôm nay…
 
Phạm công Thiện khi viết về kỷ niệm với nhà văn Võ Hồng, trong tập thơ Ngày Sinh Của Rắn có hai câu thơ, tả cảnh mà tả tình, đẹp một cách đơn giản như phong vị của những câu Hai-Ku:
“Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trổ hết bông”
 
Và, hình như từ hai câu thơ này, Võ Hồng đã viết truyện ngắn ”Hoa khế lưng đồi” như một cách thế đáp tạ người tri kỷ.
 
Trong một lá thư gửi cho tác giả “Hoài Cố Nhân”, thiền sư thi sĩ họ Phạm viết:
…”Anh V.H. ạ, anh có cần gì phải thuyết giảng philo? Tất cả những trang văn anh, những trang văn rất từ tốn khiêm nhượng kia đều tiềm tàng những tư tưởng triết học rất sống. Nó cao hơn philo nữa, bởi nó là sagesse của quả tim.
 
Và một Triệu trang giấy Triết Học cũng không đáng giá bằng một tiếng đập của con tim. Anh có nghe rõ chưa? Tôi muốn hét to lên như vậy.
 
Anh có nghe tim con người đập trong những trang “Xuất hành năm mới”, trong “Trận đòn hòa giải”? “Xuất hành năm mới” còn cảm động muôn vạn lần hơn những chuyện mà người ta cho rằng buồn nhất! Những đứa nhỏ Hằng, Hào, và Thủy trong “Xuất hành năm mới” và “Trận đòn hòa giải” là những hình ảnh đau thương nhất trên đời, là những hình ảnh tượng trưng cho tất cả những đứa trẻ ở trần gian này…”.
 
Phạm Công Thiện tâm sự như thế, dù trong ngôn ngữ của ông có một chút gì hơi phấn khích nhưng cũng khá thành thật.
 
Phạm Công Thiện là một khuôn dáng văn chương rất có ảnh hưởng với những lớp sinh viên học sinh ở miền Nam của thập niên 70, 80. Thời gian ấy, những cuốn sách như “Ý Thức Mới trong Văn Nghệ và Triết Học”, “Hố Thẳm của Tư Tưởng“, “Ngày Sanh của Rắn “,… là những cuốn sách cầm tay của giới trẻ. Từ tác phẩm của ông, mở ra nhiều những cánh cửa. Trước hết, ông là một người sáng tạo nhiều suy tư về cái Mới, về những ngã đường có thể khá lạ lùng đến khi kỳ dị nhưng hấp dẫn. Văn học sẽ phải có những thay đổi, nhất là trong hoàn cảnh một đất nước chiến tranh như Việt nam. Ngay cả khi làm thơ, thi sĩ như người của hành tinh lạ lạc đến, với ngôn từ khá lạ lùng như đoạn VI của tập “Ngày Sanh của Rắn”
“tôi chấp chới
đắng giọng
giữa tháng ngày mơ mộng
nốt ruồi của hương
hay nốt ruồi của rigvéda
tôi mửa máu đen
trên nửa đêm Paris
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
Mặt trời có thai!
Sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt “
 
Nếu bảo giải thích từng câu từng chữ thì có lẽ chính cả tác giả cũng lúng túng. Thơ là những hình ảnh rải rác, thoạt tưởng không liên quan với nhau nhưng trong trình tự cảm nhận lại có một ý nghĩa nào len vào bất chợt những liên tưởng. Có người cho rằng những từ ngữ như thủ dâm thượng đế, giao cấu mặt trời, mặt trời có thai… tạo ra cảm giác tức thì với hình tượng có hơi dung tục ấy. Đó là một cảm nhận. Nhưng, ngay ở thời điểm bây giờ, đọc lại câu thơ, chúng ta vẫn có thể bắt gặp được nét khai phá một cách rõ ràng. Thơ là một cái gì, khác thường lắm, có lúc rất gần cận cuộc sống mà có lúc lại xa nghìn trùng…
 
Tôi nhớ có lần nhà thơ Phạm Công Thiện nói chuyện với tôi về kinh nghiệm đọc thơ của ông. Lúc ấy, đêm đã khuya và ông có ngôn ngữ của một Lưu Linh đang trong cơn đồng thiếp. Ông đọc thơ Pháp, thơ Anh, thơ La tinh, thơ Việt Nam tiền chiến và hiện đại. Đọc xong rồi bình, hình như văn chương đã lôi ông vào một cơn mộng.
 
Nói về kinh nghiệm để có thể tiếp cận với thơ, ông đọc một bài thơ thật nhiều lần và sau mỗi lần đọc như thế đều tìm ra những cảm nhận khác nhau. Cảm nhận ấy bắt nguồn từ giây phút rất thiêng liêng để con người bắt gặp được những sáng ngời lộng lẫy. Sự kiện ấy James Joyce đã gọi là “a sudden spiritual manifestation” (biểu hiện tâm linh bất ngờ) hay “epiphany” (sự linh hiện). Tương tự, như Xuân Diệu : “phất phơ hồn của bông hường / trong hơi phiêu bạc còn vương máu hồng / nghe chừng gió thoáng qua song… “ đó, chính là hồn của thơ, của những giây phút linh hiện mà chỉ có những người tài tử cảm nhận được.
 
Ở Phạm công Thiện, cái chất thơ đã thành nét đặc thù tinh tế cho văn chương ông. Viết khảo luận, ông mang cái kiến thức rộng lớn tích tụ từ sách vở cùng với hồn thơ để thành những bước đi lãng mạn vượt qua những khô khan câu thúc. Là một triết gia, cái nhận thức để thành những trang giấy cũng có chút thi ca bồng bềnh vào để thành một triết gia thi sĩ. Cái chất lãng tử trong văn chương là một nét thấy rõ. Phạm Công Thiện viết :
… tất cả đời sống văn xuôi tẻ nhạt, những công thức, những danh vọng, những khuôn mòn lối cũ, những địa vị xã hội, những mẫu mực khuôn xếp đã thụt lùi ra đằng sau, chỉ còn lại nước chảy của dòng sông và mây chiều của đại dương: mây ở trên cao trôi dưới dòng nước rong rêu của khe biển nhỏ. Thi nhân từ bỏ tất cả lại đằng sau lưng và bước tới trước băng qua cây cầu gỗ mong manh…”
 
Viết về thơ Seamus Heaney, nhưng trong dòng chữ có cảm khái riêng của một người mà thi ca đã thành máu xương da thịt cho đời sống. Viết những cuốn sách triết học giữa hồn thơ lai láng, cũng giống như viết những trang tùy bút mà chữ nghĩa đã thành những trân trọng nâng niu nhất. Cầm cây bút trong trạng thái tuy phong trần từng trải nhưng vẫn còn sót nét ngây thơ của một người tin tưởng vào những điều nghĩ rằng cần phải tìm kiếm được bằng suy tưởng. Với đời thường, ông sống như lạc lõng bất kể. Nhưng với văn chương, ông là người tinh tế và có can đảm rủ bỏ tất cả để đi lại những bước khởi đầu.
 
Nhà thơ Nguyên Sa đã có bài thơ vẽ lại chân dung của một nhà thơ tiêu biểu cho một phong cách sống đặc biệt của một người cũng đặc biệt trong một thời kỳ văn học mà sự khao khát những phương trời mới những vóc dáng mới đã thành động lực mạnh mẽ cho sáng tạo. Bài thơ “Nói chuyện phải quấy với Phạm Công Thiện:
“Người vào tịnh thất sống ba năm
cất tiếng không lời để nói năng
buổi sáng thinh không chiều tới chậm
tiền kiếp chen vô cạnh chỗ nằm
Ta muốn cùng người một tối nay
Đầu sông uống rượu cuối sông say
Người từ trên núi ta từ biển
Từ giấc mơ nào đã tới đây
Dưới bóng tường im, giữa nhạc không
Đời như phía trước bỗng mông lung
Thơ như hữu thể mà vô thể
Có cũng xong mà không cũng xong
Sáng dậy ta nhìn tục lụy ta
Những đi không tới đến không ngờ
Xóa luôn thì dứt nhưng tâm thức
Kinh Pháp Hoa nào dậy cách xa?
Trong chín ngàn âm có hải triều
Còn thêm một kiếp nữa phiêu lưu
Này người bỏ sóng sang thuyền tĩnh
Nhớ đứng chờ ta ở cõi siêu…”
 
Nhưng không phải tất cả thơ ông chỉ chuyên chở ý tưởng. Mà, còn chuyên chở cảm giác nữa. Thơ để mang tới những giây phút linh hiện, để người đọc thơ và làm thơ một giây phút tình cờ nào đó gặp nhau trong giao thoa cảm xúc. Có một bài thơ trong tập thơ mỏng về số trang nhưng dầy về ý tưởng, Ngày sanh của rắn, VIII, có những hình ảnh nối liền nhau để thành một chuỗi sinh động liên tưởng luôn biến dịch. Gió, như một cuộc hành trình đi qua đồi tây, đồi đông, đi qua những chặng thời gian tưởng ngắn như một sát na nhưng dài vô tận. Thế mà, trong cái lãng đãng tâm thức ấy, ngôn ngữ nhẹ nhàng như một hồi tưởng để níu kéo cảm nhận của người đọc trong một cảnh giới mơ hồ :
“Mười năm qua gió thổi đồi tây
tôi long đong theo bóng chim gầy
một sớm em về ru giấc ngủ
bông trời bay trắng cả rừng cây
Gió thổi đồi tây hay đồi đông
Hiu hắt quê hương bến cỏ bồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông”
 
Với suy nghĩ của tôi, Phạm công Thiện là một thi sĩ nghệ sĩ. Klhông phải là cung cách một phù thủy chữ nghĩa hoa tay bùa chú vào hư vô để thành một văn phong khúc mắc khó hiểu. Mà, là một người ôm tất cả những rộng khắp vào lòng và đi vòng quanh để tìm chân lý. Cái tâm thức vốn tịch lặng của một người thâm cứu Phật Giáo pha trộn vào ý thức muốn nổi loạn phá bỏ cung cách cũ khiến văn chương trở thành một hành trình của một người luôn xông tới đằng trước và không dừng lại. Trong đời sống, phong cách du tử, làm những điều mình thích khiến ông thành một người luôn thấy đêm ngày là hoang vu…
 
Trần Tuấn Kiệt trong một bài viết trong “Tác Giả Tác Phẩm“, xuất bản cách nay gần bốn chục năm, cũng nói về chân dung người thi sĩ rất mực nghệ sĩ này:
“Sinh ngày 1-6-1941 tại Mỹ Tho. Trong gia đình, Thiện là người anh cả “Người anh không giúp ích gì được cho gia đình, nhìn thấy mọi người cha mẹ em út đang lâm vào cảnh sa sút túng bấn. Mà mình thì lận đận lao đao chẳng giúp ích được gì.”
 
Đó cũng là một lý do, khiến có lúc Thiện bỏ đi tu ngoài Nha Trang. Thiện đã có lần cùng chúng tôi đem bán từng va ly “Anh Ngữ Tinh Âm” của anh soạn để lấy tiền ăn bánh mì trong những lúc đói rách nhất. Mặc dầu lúc đó báo Phổ thông và Dân ta của Nguyễn Vỹ bán chạy, lương của Thiện trên mười lăm ngàn (bằng khoảng 150 ngàn đồng bây giờ mỗi tháng) tiền lãnh ra, Thiện đem uống rượu say rồi gọi tất cả đám trẻ nít đánh giày, các bọn bán báo nghèo đói lại phân phát tất cả cho chúng trong một khắc đã hết sạch. Qua ngày hôm sau, kiếm lại vài chục uống cà phê là sự thường…”
 
Có người cho ông là thần đồng, soạn “Anh Ngữ Tinh Âm“ lúc 16 tuổi. Có người cho ông là một triết gia, tư tưởng gia luôn luôn vật vã với suy tư. Có người cho ông có hiểu biết rộng, thông hiểu nhiều ngoại ngữ. Có người cho ông là một người đọc sách chuyên cần với óc thông minh và nhớ lâu không quên. Cũng như có người gọi ông là lãng tử, là một người thích gì làm nấy và luôn miệt mài trên con đường độc hành tìm kiếm những điều bất khả trong cuộc sống…
 
Với tôi, ông là một thi sĩ và là người viết về thi ca mà tôi yêu thích. Dù, ông “đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất” để tìm “ý thức mới trong văn nghệ và triết học“ qua “hố thẳm của tư tưởng“ để “im lặng hố thẳm“ và, cứ thế hành trình…
 

PHÚ HỌC HÀNH -Sơn-Thi-Thư

8 Th10

PHÚ HỌC HÀNH

Tác giả: Cao Bồi Già ( Nguồn: Thơ Cao Bồi Già

 
 
Biếm họa của họa sĩ Lý Trực Dũng. Nguồn: Đại biểu nhân dân
 
Giáo dục, học hành;
Đời nào cũng trọng
Nhất tự vi sư;
Không thầy là hỏng.
Xưa sôi kinh nấu sử, gắng gắng thông làu;
Nay luyện toán rèn văn, chăm chăm đào rộng.
Sĩ tử thuở trước, chõng lều lỉnh kỉnh vai trĩu vác mang;
Học sinh thời này, sách cặp bề bề lưng khòm đeo cõng
Cha mẹ nhọc nhằn;
Cháu con bận rộn.
Gà vừa te tẻ, mẹ vùng thức giấc quýnh quáng quýnh quàng;
Chuông mới rinh reng, con đà giật mình luống ca luống cuống.
Cha xách xe bay;
Con ôm cặp phóng.
Lối tắt đường gần bẻ lái, trước mặt luồn lách cha băng;
Đồ ăn thức uống điểm tâm, sau lưng nhồm nhoàm bé tọng.
Giữa ngày bỏ sở, đón con chạy ráng không phút thảnh thơi ;
Đến lúc tan  trường, đợi bố học thêm chẳng giờ phí trống
Trời nhá trời nhem, lại long nhong đến lớp khác, thánh bố lực cùng;
Tối mò tối mọ, mới thất thểu  về nhà  ta, thần đồng sức khọm.
Con cái đây:
Lớp chính lớp phụ buổi buổi nhai găng;
Bài học bài làm ngày ngày nuốt trọn.
Miệt mài bài vở, lưng khòm cong tôm;
Cặm cụi bút nghiên ,kính đeo nặng gọng.
Hết tính hết toan, rồi thêm rồi nếm, đầu óc phát khùng;
Lại môn lại món, cố bổ cố sung, mặt mày đâm thộn.
Cha mẹ kia:
Tiền xăng tiền nhớt, lo tiên huyền tiền hồng hộc oằn lưng;
Khoản lớp khoản trường, bị khoan sắc khoán hoang mang ác mộng .
Khổ nhưng chịu :
Bảy trong mười  nhà phụ huynh mình sướng rõ lực chẳng  toong;
Ba phần bốn lớp con cháu ta giỏi nào đâu công uổng.
Vui dạ cha mẹ bảo ban;
Dặn lòng cháu con vâng đón.
Kế hoạch năm nay  năm tới, rạch ròi vạch ra;
Môn thi niên trước niên sau, xoành xoạch biến động.
Rối beng phòng sở, phụ huynh giật mình;
Đánh đố thầy cô, học trò hóa ngọng.
Giáo dục như thể quay cù;
Học hành khác gì chong chóng .
Kỳ cử kỳ thi, luyện nhanh luyện gấp, lò lại bung đua;
Mùa hè mùa hạ, học trước học bù, trường không hề đóng.
Vất vả là thế, căng thẳng là thế, gian nan là thế, con cái cố công;
Nhọc nhằn như ri, khổ sở như ri, mệt mỏi như ri, mẹ cha mong ngóng.
Những tưởng ăn vóc học hay;
Nào ngờ múa may thấy hỏng.
Buồn lắm kẻ
Ông bảng bà khoa, lá đơn thảo lui thảo tới,câu cú lung tung;
Cậu cử cô tú, câu văn viết vụng viết ngây, lẽ  lời lọng cọng .
Giận mấy tên
Hỏi Trương Hán Siêu ấy thượng tướng Ngô bang;
Rằng Lý Thường Kiệt là diễn viên Hương Cảng.
Dốt nào có dốt, lợp nóc ngược đầu;
Tài chẳng ra tài, xây nhà lệch móng.
Trường chuẩn trường điểm, đấu sĩ rèn luyện sắc nanh;
Lớp chọn lớp chuyên, gà nòi giũa mài bén móng .
Dạng cong dạng thẳng, giải bài phăng phăng;
Kiểu luận kiểu suy,cắn cán thồn thộn.
Chăm chắm  kiến thức nhét nhồi;
Lờ vờ công dân buông lỏng.
Hệ thống huấn khoa, ông chằng bà chuộc, ba  bảy lỗi chung;
Chủ trương giáo dục, cha căng chú kiết, mười mươi lỗ hổng.
Nhiều lúc dở cười  ;
Lắm khi trào lộng.
Có anh kia:
Tú tài bổ túc,cố cố nộp đơn phúc khảo, chủ thí lắc đầu;
Tại chức liên thông, lù lù đeo ống đốc tờ, bạn bè há họng !
Lại chị nọ:
Thi khoa chọn nghề báo chí mài giũa đầu ngòi ;
Ra trường chuyển nghiệp kinh doanh nắm ngay chức tổng !
Chết học với hành ai kẻ coi khinh;
Ôi giáo  cùng dục ai người xem trọng ?
Cải cải thêm hư;
Cách cách càng hỏng!.
 
              CAO BỒI GIÀ
            05-10-2012

“Tẩy chay hàng hóa kém chất lượng Trung Quốc”- bằng cách nào? – Thành Nguyễn

8 Th10

“Tẩy chay hàng hóa kém chất lượng Trung Quốc”- bằng cách nào?

Cách đây 3 tháng tôi đã tuyên bố sẽ phản đối Trung Quốc (TQ) bằng cách riêng của mình, đó là thực hiện kế hoạch thay thế các sản phẩm Trung Quốc hiện đang kinh doanh sang một nguồn hàng khác. Phương án này được nhiều bạn bè ủng hộ, nhưng cũng không ít người khuyên tôi không nên cực đoan vì kinh doanh là vấn về dân sự.

Sản phẩm TQ hiện chiếm lĩnh thị trường với hơn 90% các mặt hàng từ tiêu dùng đến công nghiệp, thậm chí là cái quần lót cũng “made in China”. Có thể không quá lời khi nói rằng hầu hết chúng ta đang là nô lệ! Chúng ta đang bị xiềng xích bằng những nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu sinh sống và nhu cầu phát triển kinh tế…

 

Tình trạng nô lệ kinh tế, điển hình là sản phẩm Trung Quốc là một tiến trình lâu dài, có kế hoạch với mục tiêu là tràn ngập thị trường VN với sản phẩm TQ đáp ứng hầu hết các nhu cầu của người tiêu dùng VN từ bình dân đến cao cấp. Dựa vào tâm lý của người tiêu thụ Việt Nam và nguồn vốn khổng lồ cũng như nhân công rẽ mạt từ Trung Quốc, phương hướng xâm thực thị trường của TQ là muốn đẹp có đẹp, muốn rẻ có rẻ, muốn chất lượng cũng có luôn. Riêng mặt hàng tôi đang kinh doanh là gạch ốp tường, lát nền và những sản phẩm liên quan đến vật liệu xây dựng là minh chứng rõ nhất cho điều trên. Nhưng có thực sự chúng ta không thể thoát khỏi sự nô lệ với sản phẩm Trung Quốc không?

Không! Chúng ta có thể thoát khỏi điều đó nếu chúng ta nhìn nhận được thực tế vấn đề. Điểm mạnh không thể phủ nhận của hàng hóa TQ là tính đa dạng và mẫu mã bắt mắt nhưng một sản phẩm còn có những yếu tố rất quan trọng khác:

Về giá: Thực tế không rẻ hơn hàng VN và những hàng khác nếu theo đúng quy trình nhập khẩu với mức thuế 60%. Đa số hàng hóa rẻ từ TQ đều nhập chui theo đường tiểu ngạch hoặc khai báo Hải quan thấp hơn giá thực tế. Nếu không “đóng thuế” riêng cho Hải quan thì thực tế giá thành còn rẻ hơn nhiều!

Về chất lượng: Thấp hơn nhiều so với hàng VN cùng chủng loại nhưng đều này thường ít được quan tâm bởi khó phân biệt và sự che lấp cho qua vì lợi nhuận của người bán hàng cộng thêm sự dễ dãi của người tiêu dùng. Ví dụ như gạch bóng kính rẻ của TQ có giá thành 175K/m2 thì sản phẩm tương tự của Đồng Tâm có giá 235K/m2, nhưng thực tế chất lượng của hàng TQ chỉ bằng một nửa. Tôi có thể chứng minh tại chỗ điều này theo kinh nghiệm của mình và tôi nghĩ những người khác cũng thấy sự khác biệt đó trong ngành kinh doanh của họ. Nhưng tại sao tất cả đều im lặng? Và tại sao người tiêu dùng không đặt nghi vấn? Thưa vì tất cả chúng ta đều cam chịu để thỏa mãn cái nhu cầu trước mắt!

Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt rõ giữa sản phẩm nội địa TQ và sản phẩm gia công cho thương hiệu nước ngoài là khác nhau. Ngoài ra, các sản phẩm được sản xuất bởi những thương hiệu uy tín của TQ rất chất lượng nhưng vẫn có sự phân biệt lớn giữa hàng xuất cho “tiêu chuẩn quốc tế” và “tiêu chuẩn Việt Nam”. Nói rõ hơn, đối với TQ thì thị trường VN chỉ là khách hàng hạng 2 hay 3,4,5 gì đó, thậm chí là một “bãi rác thải” theo đánh giá ngầm hiểu của giới kinh doanh.

Sự yếu kém của chính phủ về tầm vĩ mô đã được xác nhận bằng việc mất kiểm soát chất lượng hàng hóa nhập từ TQ làm lủng đoạn kinh tế nội địa và tăng nguy cơ tàn phá nội tạng của người dân. Trong nổ lực nhỏ bé của mình thì về cơ bản công ty tôi đã thay thế được gần 40% sản phẩm TQ nhưng vẫn còn khó khăn lớn về vốn duy trì bởi hạn mức công nợ cho phép của các đối tác nhập khẩu. Sự lệ thuộc phần lớn vẫn còn đó nhưng tôi hy vọng trong 6 tháng tới công ty sẽ kiếm được nguồn vốn thay thế để “đoạn tuyệt” hoàn toàn với hàng hóa TQ.Chúng ta có thể ăn dở một chút, mặc đồ xấu một chút, ở bình thường một chút, sống khó khăn một chút nhưng còn tốt gấp bội lần khi chúng ta thỏa mãn những điều đó để rồi trở thành nô lệ. Tồi tệ hơn là nô lệ trong sự đau khổ vì bệnh tật. Không một thế lực hiện tại nào có thể giúp ta ngoài chính bản thân chúng ta phải nổ lực để “giải phóng” nó. Cố gắng vượt qua sự cám dỗ đẹp đẽ, rẻ rúng kia để nói “KHÔNG” với hàng hóa Trung Quốc!

Paulo Thành Nguyễn

Phong thái bi trí dũng nơi bậc túc nho La Sơn Phu Tử – VHNA

8 Th10

Phong thái bi trí dũng nơi bậc túc nho La Sơn Phu Tử

Lê Sơn

Xứ Nghệ là đất học, là cái nôi nuôi dưỡng văn học. Xứ Nghệ còn là nơi hun đúc những nhà tư tưởng bậc thầy thời chữ Nho như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Nam Sơn phu tử Nguyễn Đức Đạt,… và trong thời đại ngày nay nhà Đông phương học nổi tiếng Cao Xuân Huy, đặc biệt là nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.

Kể từ thời Hậu Lê trở về sau, nói đến học là nói đến cái học khoa cử, sở học nhà Nho, người ta tôn vinh Nho sĩ và cho rằng sở học nhà Nho đào tạo nên những bậc hiền tài. Người ta gắn sở học nhà Nho với vận mệnh của đất nước, rồi quàng lên vai người Nho sĩ tất cả mọi điều vinh quang, khiến cho các sở học khác bị lu mờ dần: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước hùng mạnh phấn phát, nguyên khí yếu thì thế nước suy nhược đắm chìm. Cho nên các bậc thánh vương sáng suốt không ai không đặt lên hàng đầu việc nuôi dưỡng hiền tài, tuyển người tài năng trị nước để vun bồi nguyên khí quốc gia.

Bởi quan hệ giữa người tài với quốc gia quan trọng đến như thế, nên ý sùng thượng mới tột cùng. Đã làm vẻ vang bằng thanh danh khoa bảng, lại còn phát huy bằng chức tước phẩm trật. Ơn vua đã đến độ nhuần thấm, mà vẫn cho là chưa đủ, còn nêu tên long trọng nơi tháp nhạn, xưng hô oai vệ là rồng là cọp, mở tiệc mừng cho triều đình được thêm người tài.

Không gì là không tôn vinh đến cùng cực.

Thế mà ngày nay, thánh triều lại cho rằng, những việc tôn vinh linh đình như thế, tuy có vinh hiển nhất thời, nhưng chưa đủ làm cho tiếng thơm lưu truyền lâu dài được. Cho nên lại cho dựng bia đá đề tên, đặt long trọng nơi chỗ thánh hiền, để cho đông đảo sĩ tử chiêm ngưỡng, nảy lòng hâm mộ mà phấn khởi gắng tô danh tiết, phò tá triều đình.

Sùng thượng Nho học đến như thế quả là tột bậc”[1].

Đó là cái học được thời Hậu Lê xiển dương và được duy trì cho đến hết các triều đại phong kiến tại nước ta. Các triều đại phong kiến nước ta đều lấy sở học nhà Nho làm khuôn mẫu đào tạo và tuyển chọn người tài ra cai trị đất nước. Triều Hậu Lê với nhà vua tài trí Lê Thánh Tông, với những chiến công hiển hách, và sự nghiệp văn hóa mà ông gây dựng nên thật hoành trán. Chính vua Lê Thánh Tông đã giao Ngô Sĩ Liên soạn sách Đại Việt sử ký toàn thư, bộ sử kinh điển của nước ta. Chính vua Lê Thánh Tông cho lập ra thư viện nhà nước đầu tiên gọi là “kho Bì Thư”. Chính vua Lê Thánh Tông đã lập ra bộ luật Hồng Đức, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Chính vua Lê Thánh Tông đã lập hội thơ đầu tiên ở nước ta, là hội Tao Đàn, khởi động việc đưa văn Nôm lên tầm văn học, sóng đôi với văn Hán. Người ta phải tán tụng: “Nhờ có vua Thánh Tông thì văn hóa nước Nam mới thịnh”[2].

Hệ tư tưởng Nho giáo vốn là công cụ tổ chức xã hội của nhà nước phong kiến. Nho giáo với hệ thống tam cương ngũ thường ràng buộc từ dưới lên trên hết sức cụ thể và rất chặc chẽ, là một mô hình cai trị lý tưởng, một triết lý chính trị rất có hệ thống mà bất cứ triều đại phong kiến nào cũng mơ ước và họ đã không ngừng bổ sung hoàn chỉnh nó trong suốt quá trình lịch sử chế độ phong kiến vài ngàn năm qua.

Thế nhưng, để cho bộ khung ấy được hoạt động đồng bộ và nhịp nhàng thì không phải là chuyện dễ làm và không phải triều đại hay nhà vua nào cũng làm được. Nói theo cách của La Sơn phu tử thì người giỏi mới làm được, người không giỏi không làm được.

Gia Long chiếm được Phú Xuân, Quang Toản đã chạy ra Bắc, người không chạy kịp đều sợ hãi. Tiên sinh [Nguyễn Thiếp] ngồi đứng như thường, cư xử thản nhiên. Lính vệ sĩ về mách lại rằng có người hình trạng như thế. Gia Long vốn nghe tiếng cụ, bảo: Đó chắc là ông Lục Niên [Nguyễn Thiếp]. Bèn triệu cụ tới, tiếp đãi rất có lễ. “Gia Long hỏi [kháy] cụ: Ngụy Tây mời Tiên sinh làm thầy, vậy Tiên sinh dạy nó ra sao?[mà nó thua tôi]. Cụ trả lời: Có 8 điều trong sách Đại học, có chín đường trong sách Trung Dung, người giỏi thì làm được, người không giỏi thì không làm được. Gia Long khen cụ nói hay, trọng đãi cụ. Cụ ở lại mười ngày rồi xin về”[3].

Nhưng một xã hội theo bộ khung Nho giáo cũng lại dễ dẫn đến tình trạng xơ cứng, bảo thủ mà sau này bị người ta quy cho sở học nhà Nho. Bao nhiêu cái hại từ việc vận dụng cứng nhắc “chữ Lễ”, “chữ Tín”, “chữ Hiếu”, “chữ Trung”… cũng đã xuất hiện nhiều trong lịch sử và đều bị dư luận xã hội không đồng tình, nếu không nói là bị dư luận xã hội phê phán.

Chỉ 30 năm sau khi vua Lê Thánh Tông qua đời (1497), nhà Mạc lên nắm quyền (1527) thì nước ta bị rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc triền miên kéo dài hơn 300 năm. Tại sao như vậy?

Một nhà học giả uyên bác xứ Nghệ, cụ Cao Xuân Huy cho rằng Nho giáo dễ rơi vào chủ quan, tạo nên tinh thần sùng bái một chiều dẫn đến tệ bảo thủ cứng nhắt của giới thống trị.

Như thế thì làm nhà túc nho thôi chua đủ, thời Lý Trần kéo dài suốt 400 năm, thời kỳ xã hội có thể gọi là khá ổn định. Đó là thời kỳ triều đình chuộng sở học “Tam giáo”. Thời ấy, triều đình xiển dương cả ba tôn giáo gọi là thời “tam giáo đồng nguyên”, triều đình tuyển người ra làm quan phải giỏi cả ba sở học Nho – Phật – Lão được lý giải: “Quy luật đặc sắc về tiến trình phát triển của tư tưởng dân tộc – quy luật luôn luôn hóa giải mọi sự độc tôn về ý thức hệ bằng cách tạo nên một đời sống tâm linh phong phú, thăng bằng”[4].

Cao Xuân Huy đề cập đến hiện tượng “cân bằng tâm thức xã hội” là nhu cầu không thể thiếu rong việc ổn định xã hội, cái mà Nho giáo không bao giờ để tâm bàn đến. Sở học Phật – Lão cần thiết trong một xã hội vận hành theo mô hình thiết chế Nho giáo: “Thực chất cũng chỉ là một hiện tượng cân bằng vị thế, trên phương diện tâm thức xã hội, nhằm điều hòa trở lại sức ép của hệ tư tưởng Nho giáo vốn là công cụ tổ chức xã hội của nhà nước chuyên chế”[5].

Nguyễn Thiếp thiên tư sáng suốt, học rộng hiểu sâu, 21 tuổi đậu Thủ khoa thi Hương. Một Giải nguyên tân khoa trẻ tuổi phải là người giỏi sở học nhà Nho, con đường tiến thân sáng rực. Nhưng vị Giải nguyên trẻ tuổi này không theo đường khoa danh mà chọn đường xử sĩ, có lẽ vì thấy thời cuộc không phù hợp. Ông chuyên chú nghiên cứu sâu các sách Tính lý, Ngũ kinh, Tứ truyện, Chu lễ, Nghi lễ cận tư lục, Chu tử toàn tập. Đó là các sách Nho kinh điển. Cụ ngưỡng mộ đạo Khổng một cách rất chân thành. Nổi tiếng là bậc thông tuệ học Nho. Thời bấy giờ người ta nói nhân tài nước Nam có 3 người: “Đạo học sâu xa thì Lạp sơn xử sĩ (La Sơn phu tử), văn chương phép tắc thì Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, còn thiếu niên đa tài thì chỉ có Nguyễn Huy Tự”.

Chúa Trịnh Sâm nghe tiếng ông là người “rất có học hạnh”, trân trọng  vời cụ ra Thăng Long. Trịnh Sâm hỏi ý cụ về việc phế vua Lê, để họ Trịnh lên làm vua, cụ cho là không phải đạo. Cụ trực diện và nói không với Trịnh Sâm, một người đang tham vọng ngôi vua của nhà Lê. Làm trái ý một người quyền lực là chuyện khó làm, huống hồ người ấy lại đang nung nấu tham vọng thì lại càng khó hơn. Vả lại, điều đáng quan tâm ở đây là Trịnh Sâm đã không làm gì nặng tay với cụ, trong khi đồng thời với cụ, nhà Nho Vũ Trần Triệu phải chết: “Trịnh Sâm nhân tuế cống sang Thanh Triều, mật biểu tâu rằng nhà Lê không có con cháu tốt. Lại dặn Vũ Trần Triệu đem việc ấy tâu với vua Thanh và sai quan nội giám đi theo, mang của báu để hối lộ cầu phong, Đến hồ Động Đình, Vũ Trần Triệu thác bệnh. Ban đêm, trước mặt sứ bộ, đem tờ biểu đốt đi, rồi uống thuốc độc chết”[6].

Ông về quê chịu sống cành nghèo nàn, khi tuổi đã sáu mươi. Bấy giờ vận nước rối bời, dân tình khốn đốn.

Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất, nghe danh ông, viết thơ mời ông, lời thư tôn trọng, lễ vật rất hậu. Ông phúc đáp và trả lại thư mời cùng lễ vật. Ông khéo léo từ chối. Nhưng Nguyễn Huệ là một con người rất mạnh mẽ, đã tính làm việc gì thì theo đuổi đến kỳ cùng. Trước khi ra Bắc lần hai Nguyễn Huệ lại gởi thư cho ông, lời lẽ thống thiết hơn, ý trân trọng còn hơn thư trước. Ông lại viết thư trả lời vẫn là lời từ chối. Nguyễn Huệ không bằng lòng, nhưng vẫn kính trọng ông, muốn mời ra làm việc cho kỳ được, viết thư lần thứ ba, lời thư thật thống thiết, biện bác chặc chẽ, khéo léo. Ông vẫn không chịu ra.

Nguyễn Huệ vốn rất có uy, không một ai dám trái lệnh mình. Nhưng trước một Nguyễn Thiếp gởi thư mời ba lần, đều bị từ chối cả ba lần, Nguyễn Huệ không khỏi ngạc nhiên, lại quyết muốn gặp cho được. Nhân việc Nguyễn Huệ ra Thăng Long giải quyết vụ Vũ Văn Nhậm, gỏi thư trước cho ông hẹn gặp tại trại quân ở Nghệ An.

Ông tới, Nguyễn Huệ trách việc ba lần mời mà ông không thèm ra, chắc ông cho Huệ chỉ là một tên giặc cỏ, không đáng mặt anh hùng. Ông không hề nao núng, thong thả trả lời. Sử viết rằng nghe ông nói, Nguyễn Huệ phải biến sắc mặt, cho người hộ tống ông về nhà. Nên biết rằng nơi Nguyễn Huệ tiếp Nguyễn Thiếp cũng là noi Trương Phụ tiếp Nguyễn Biểu. Nguyễn Biểu đã lấy lời chính trực đối đáp, bị Trương Phụ giết. Khi La Sơn phu tử đến gặp Nguyễn Huệ, hẳn là có quân đội hộ tống. Nói là hộ tống mà thật tình thì nếu không đi đâu được yên, chắc ông phải liên tưởng đến chuyện xưa. Ông đã trả lời chân thật, mạnh bạo đại ý:“Họ Trịnh tiếm quyền đã hai trăm năm. Tướng quân đánh một trận mà dứt được, lấy đất đai trả lại cho nhà Lê, như thế ai nói là không phải anh hùng, Nếu nhân người nguy, lợi dụng tai họa người, nếu trước vì nghĩa, mà sau vì lợi, thì là gian hùng”[7].

Nguyễn Huệ thực bụng đâu có phù Lê, ông nói thế khác chi mắng Nguyễn Huệ gian hùng, nhưng Nguyễn Huệ không tỏ vẻ giận ông, chỉ lái câu chuyện sang hướng khác.

Khi vua Quang Trung kéo quân ra đánh quân Thanh, đến Nghệ An lại cho triệu ông đến hỏi mẹo đánh và giữ, cơ được hay thua. Lúc này Nguyễn Thiếp và Quang Trung mới thật sự tương đắc vì Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược, đẩy bao nhiêu công lao nhà Lê xuống tới bùn, tấm lòng trung quân với nhà Lê của giới Nho sĩ phải bị cạn gần hết để dành chỗ cho tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. Hình tượng Quang Trung bấy giờ trở thành hình ảnh của vị lãnh tụ của lực lượng kháng chiến chống xâm lược, một vị chúa công.  Nguyễn Thiếp trả lời: “Nay trong nước trống không, nhân tâm tan nát. Quân Thanh xa đến, không biết tình hình quân ta mạnh yếu thế nào, khó dễ thế nào, nên chúng chưa biết chiến thủ thế nào, lại có bụng khinh địch. Chúa công ra đó, nếu đánh gấp thì không quá mười ngày, sẽ bình được giặc Thanh”.

Quang Trung mừng lắm khen: “Ông nói hợp ý ta lắm”.

Sau này trong một bức thư gởi cho cụ, Quang Trung viết: “Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ. Lời Tiên sinh hẳn có thế thật”[8].

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là người được ba vị vua chúa đối nghịch nhau triệu vời và trực tiếp chuyện trò với từng người. Riêng đối với Quang Trung như một đôi tri kỷ dù nhận ra nhau hơi muộn và không được lâu. Còn với chúa Trịnh Sâm và vua Gia Long, ông đối đáp thẳng thắn, mà được yên thân, quả là không phải ai cũng hành xử được như vậy.

Ông là một vị túc Nho, hẳn như thế rồi, nhưng thời bấy giờ nhiều vị túc nho khác không được như ông. Nhận thức của xã hội thời bấy giờ của người đời về người Nho sĩ, giống như sợi dây trói vô hình không dễ thoát ra được.

Khi ông bị nhà Tây Sơn triệu lần thứ tư, thì ông mới bằng lòng giúp, bấy giờ giới sĩ phu xầm xì bàn tán, không còn trọng ông như trước, thậm chí có người mạt sát ông. Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu, nhiều nhà Nho chạy theo, họ xem lỏng trung quân cao hơn tội bán nước, thì rõ là sai quá đi rồi, nhưng lúc bấy giờ có mấy Nho sĩ nhận thức được điều đó, vì trong quan niệm của họ vua tức là nước, dù là vua bán nước. Có lẽ, bấy giờ họ chưa nhận thức rành rẽ được hành vi của Lê Chiêu Thống đồng nghĩa với hành vi bán nước. Họ đánh đồng vua Lê Chiêu Thống với vua Lê Thái Tổ, vua Lê Thánh Tông. Thật là mê muội!

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là một nhà túc Nho, đã không để sa vào sự mê lầm tai hại như thề. Ông vẫn kiên trì tấm lòng trung nghĩa với nhà Lê, khi đối diện với trịnh sâm và Nguyễn Huệ, nhưng khi Lê Chiêu Thống đi ngược lại quyền lợi của đất nước thì cụ tỏ ra sáng suốt, dứt khoát đứng về phía kháng chiến.

La Sơn phu tử lúc nào cũng giữ được phong thái ung dung dù trong tình cảnh biến đổi ghê gớm, như trong tình cảnh cụ thuộc phe bại trậnTây Sơn đang nằm trong vòng quản lý của phe đối nghịch thắng trận tại Huế. Trong tình cảnh ấy, người Nho sĩ thường tự tìm cái chết để giữ tròn danh tiết, hoặc giả dạng để lẩn trốn. Phong thái của La Sơn phu tử là BI TRÍ DŨNG, chỉ thấy nơi các vị đại cao tăng đạo cao dức trọng.

Trong văn thơ của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, chỉ thấy tư tưởng Nho học bao trùm. Nhưng có một bài thơ Nôm “Chơi chùa Hương Tích” của ông có câu: 

     Gởi lời nhắn với chàng Tô,

Ông Xương Lê ấy bây giờ ra chi?

Chàng Tô là thi hào Tô Đông Pha có bài văn Triều Châu Hàn văn công miếu bi ca tụng Hàn Dũ (Hàn Xương Lê), người kịch liệt bài bác đạo Phật. Câu thơ trên, cho thấy La Sơn phu tử chê cười việc bài Phật cùa Hàn Dũ.

Bà nội La Sơn phu tử là một người tán dương tư tưởng đạo Phật nhiệt thành và thực hành ngay trong cuộc sống: “Bà thường bảo các con rằng: Trữ của nhiều không bố thí, người xưa lấy thế làm khinh. Nhà ta của cải không thiếu, sao chẳng giảm bớt tội mình, dể cho đạt ý ta”[9].

Lẽ nào một người phụ nữ mạnh mẽ như vậy đã không tạo nên ảnh hưởng đậm đà trên đứa cháu nội.

La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là một bậc túc Nho, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo nền tảng, đã không sa vào định kiến hẹp hòi, sống trong một giai đoạn lịch sử hết sức khắc nghiệt, ông vẫn giữ được phong thái của một nhà trí thức Việt Nam đích thực, đáng làm điển hình cho mọi thời đại.

                                                                                   Tiến sĩ Lê Sơn

                                                                             (Lê Sơn Phương Ngọc)

Tài liệu tham khảo:

1. Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử,

2. Cao Xuân Huy – Nguyễn Huệ Chi, Tư tưởng phương Đông gợi những

điểm nhìn tham chiếu.

3. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược.

4. Thân Nhân Trung, Đại Bảo tam niên Nhâm tuất khoa tiến sĩ đề danh ký. (Bản chữ Hán).

5. Cổ văn quán chỉ (bản chữ Hán)


[1] Thân Nhân Trung, Đại Bảo tam niên Nhâm tuất khoa tiến sĩ đề danh ký

[2] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, tr. 267.

[3] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, tr 216.

[4] Cao Xuân Huy – Nguyễn Huệ Chi, Tư tưởng phương Đông gợi những  điểm nhìn tham chiếu, các tr. 22,23.

[5] Cao Xuân Huy – Nguyễn Huệ Chi. Tư tưởng phương Đông gợi những  điểm nhìn tham chiếu, tr. 20.

[6] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, tr 111.

 

[7] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, tr 142.

[8] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, tr 164.

 

[9] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử, tr 281.

 

 

Cái tư cách của quan cai trị phải thế nào? – VHNA

8 Th10

Cái tư cách của quan cai trị phải thế nào?

Phan Khôi                                                                                            
 
Liêm chánh mà thôi, chưa phải là đủ tư cách

Tôi mới đọc một tờ báo, thấy có bài nói về sự cai trị của các quan ta ngày xưa, trong đó có nhiều lần dùng chữ liêm chánh để tỏ cái đức tốt của các ông ấy. Cũng có nói đến các đức khác nữa, nhưng hình như không chú trọng mấy, mà chỉ lặp đi lặp lại hai chữ liêm chánh.

Phải, liêm là thanh liêm, không ăn của hối lộ, chánh là chánh trực, ngay thẳng, không bợ hót người trên, hãm hại kẻ dưới. Ông quan cai trị tốt, phải có hai điều ấy làm đầu.
Cái luận điệu của bài báo ấy, tôi rất biểu đồng tình, chớ đừng nói không phản đối làm chi. Duy trong khi tôi đọc tới, tôi thấy một chỗ đáng nói, làm cho tôi phải nói.
Làm quan cai trị, há phải chỉ có cái đức liêm chánh mà đủ hay sao? Sao người viết bài báo ấy lại cứ chăm nói về cái đức ấy?
Mà chẳng những người viết đó thôi. Ngày nay ta thử đi từ Bắc chí Nam, tới hạt nào thử hỏi dân hạt ấy về ông quan của họ, coi họ sẽ trả lời cho ta thế nào. Nếu ông quan bậy bạ, chẳng nói làm chi, chớ ông quan khá thì thế nào dân của ổng cũng nhè chỗ đó mà khen trước. Trong những hạt mà có ông quan tốt đó, người ta sẽ nói cho chúng mình nghe rằng: Khá, quan lớn tôi ngài không lấy tiền, hay là: Quan của tôi đây không lý tài mấy, hoặc là thế nầy nữa: Quan lớn, ai cho thì ngài lấy, không cho thì thôi, chớ ngài không mở miệng đòi ai bao giờ!
Cho đến sĩ phu ngồi với nhau mà phê bình nhân vật trong quan trường cũng vậy nữa. Những câu ông phủ nọ là người bất nhiễu, ông huyện kia là người không hay dụng tình, tới đâu cũng chỉ nghe như vậy mà thôi.
Vả, làm quan cai trị, cốt là hưng lợi trừ hại, làm cho dân được ở yên và sung sướng, vậy mới là hết trách nhiệm cai trị chớ. Còn như sự không hối lộ, chỉ là cái nết tốt về tiêu cực mà thôi, có gì lắm mà dân ca tụng, sĩ phu cũng tán dương như thế? Sao nhân dân trong hạt ít thấy khen ông quan của mình đã làm được việc gì cho cả hạt đều nhờ? Sao sĩ phu không phẩm bình đến những cái thiện chánh của mấy ông quan tỉnh, quan phủ, quan huyện kia?
(Kiểm duyệt bỏ)
Thật ra thì các quan cai trị còn làm nhiều việc nữa kia. Cái tư cách của quan cai trị là phải siêng năng, sáng suốt, chăm làm việc ích lợi cho dân sự, và trừ điều tệ hại trong dân gian, còn những sự như thâu thuế cho đủ, quan trên sức bắt ai phải bắt cho được liền, cũng còn là việc trọng yếu thứ nhì vậy. Đến như cái điều không ăn hối lộ thì lại là cái bổn phận đương nhiên rồi, có gì đó mà khen ngợi?
Sự không ăn hối lộ của một ông quan là không đủ khen, cũng như sự không ăn cướp ăn trộm của một tên lương dân là không đủ khen. Thật thế, người ta khen dân làng kia lương thiện, biết lo làm ăn, biết trọng cái nghĩa vụ nộp thuế và đi lính của mình, chớ không ai khen dân làng nọ không chém trâu, đốt nhà, ăn trộm ăn cướp.
Quan cai trị của nước ta ngày nay mà đến để cho người ta khen mình là liêm chánh thì tiếng khen ấy có phải là hạnh phước cho xã hội sao? Không, ấy chỉ là cái hoạ cho xã hội mà thôi, vì có (…..)(*) ông quan tham ô quá cho nên (……)(*) mới có được tiếng khen liêm chánh.
Chúng tôi mong cho các ngài trong quan trường từ nay chẳng những là rửa cái tiếng nhơ đi cho sạch, mà cho đến cái tiếng khen liêm chánh cũng đừng thèm để nó làm nhục đến mình. Chúng tôi mong cho các ngài có những cái công lớn về tích cực chớ không mong cho các ngài chỉ có những cái nết tốt về tiêu cực.

T.R.
Trung lập, Sài Gòn, s.6591 (16.11.1931)

(*) Các chỗ này bản gốc để trống mỗi chỗ vài ba từ, có lẽ do Tòa soạn đã cho đục bỏ trước khi báo in.

Nguồn: Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1931. Nxb Hội NHà Văn, 2006

 

 

Ý thức quốc gia ngày càng bị coi thường trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc – CNT

8 Th10

Ý thức quốc gia ngày càng bị coi thường trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc

 

 
Từ chỗ không coi trọng quốc thể nên trong tiềm thức, các lãnh đạo và cán bộ của ta luôn xem nhẹ mọi thứ, cốt có tí lợi hoặc cốt cho xong chuyện. Thế mới có chuyện Cơ quan ngôn luận của Thành ủy Hà Nội viết bài ca ngợi tên tướng mà bàn tay hắn vấy máu đồng bào và chiến sỹ ta. Báo Điện tử Đảng Cộng sản thì đăng hẳn Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Mới đây nhất có chuyện 4 vị lãnh đạo tối cao của ta gửi điện chúc mừng quốc khánh các lãnh đạo Trung Quốc, vốn buổi kỷ niệm này được họ cố ý tổ chức tại Hoàng Sa. Tình hình này cứ thế mà phát triển, không khéo sang năm lãnh đạo Việt Nam sẽ kéo nhau ra dự kỷ niệm quốc khánh Trung Quốc tổ chức tại Trường Sa cũng nên.

———————

Nguyên tắc cơ bản nhất trong quan hệ giữa các quốc gia là tôn trọng chủ quyền quốc gia và bình đẳng. Trong quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, nguyên tắc này càng ngày càng bị xem nhẹ bởi ngay chính phía Việt Nam.

Công hàm 1958 mà đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Bộ Chính trị ký đáng bị đời đời nguyền rủa. Nó gây ra tai họa khủng khiếp không những cho Việt Nam mà cho cả khu vực cũng như góp phần gây ra mối bất ổn lớn cho thế giới tại Biển Đông.

Trước và trong Hội nghị Thành Đô 1990, các đồng chí lãnh đạo cao nhất của ta quan hệ với Trung Quốc vô nguyên tắc thế nào và hậu quả rất lớn để lại lâu dài cho đất nước đến hôm nay và ngày mai thì mọi người đều rất rõ.

Liên tục từ đó, chỉ cần đại sứ (thậm chí Tham tán hoặc Bí thư sứ quán) của Trung Quốc tại Hà Nội thoáng có mặt tại kỳ cuộc nào đó là y như rằng phải có ít nhất Uỷ viên Trung ương nếu không phải là Ủy viên Bộ Chính trị phục vụ tiếp đón.

Cách đây vài năm cả Hà Nội biết chuyện toàn bộ cán bộ Bộ Thông tin, Ban Tuyên giáo tề tựu để nghe viên Tham tán chính trị sứ quán TQ thuyết giảng về các đường lối của họ, tức là Trung Quốc “định hướng” cho những cán bộ làm công tác định hướng dư luận của Việt Nam.

Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam thì trong rất nhiều dịp đã “hội đàm” với cái anh chỉ là Chủ tịch tỉnh hoặc Bí thư tỉnh của Trung Quốc.

Cỡ Phó Tổng tham mưu trưởng của Trung Quốc sang ta thế nào cũng được đồng chí Tổng Bí thư hạ mình tiếp đón.
 
Rồi Thủ tướng Việt Nam vừa qua thăm khu tự trị Choang của họ cũng ôm hôn nồng nhiệt, hội đàm với Chủ tịch khu. Nếu xếp hàm cấp, anh này chỉ ngang cán bộ tỉnh của ta chứ mấy.

Đó là chưa nói tới chuyện lãnh đạo ta khi tiếp xúc lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ thái độ vô cùng tiểu nhược. Một ví dụ rất dễ thấy là cái bắt tay vô cùng khúm núm trong đó Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đại diện cho Chính phủ VN đã dùng hai tay mình đón lấy bàn tay hờ hững của Ôn Gia Bảo, đồng thời cúi gập người khấu mình trước họ Ôn. Thật không xứng với vị thế của người đại diện cho một quốc gia.
.

.
Trong buổi phát động quyên góp ủng hộ nạn nhân động đất tại Tứ Xuyên (TQ) cách đây mấy năm, một vị lãnh đạo Trung ương hẳn hoi (không biết buột miệng hay cố ý) còn nói “ủng hộ ĐỒNG BÀO Tứ Xuyên” mà đồng chí này cầm văn bản đọc nhá. Những chuyện như đài Truyền hình VN tự ý xếp Việt Nam vào làm một ngôi sao phiên thuộc của TQ thì kể không thể hết.

Vừa qua, một bạn đọc trên Cao Bằng lại cho biết, nhân kỷ niệm ngày giải phóng tỉnh 3/10, chính quyền tỉnh (chắc phải được sự chuẩn y của Trung ương) mời lãnh đạo chính quyền tỉnh Quảng Tây sang dự. Trong hành động rất xỏ xiên, họ chỉ phái hai anh là TRỢ LÝ của chủ tịch TP Bách Sắc với huyện Sùng Tả sang Cao Bằng (chỉ ngang anh nhân viên văn phòng UBND huyện của ta). Thế mà trong buổi lễ chính, họ đàng hoàng được sắp ngồi vắt vẻo ngang hàng với Ủy viên Bộ Chính trị Trần Đại Quang (do Bộ Chính trị phân công về dự) và Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy Hà Ngọc Chiến. Các lãnh đạo cao nhất của tỉnh dành hẳn vài buổi liền “hội đàm” với mấy anh nhân viên cạo giấy cấp huyện của họ. Trước đó, lãnh đạo tỉnh phải thân ra tận cửa khẩu để đón rước các anh Trung Quốc này.

Từ chỗ không coi trọng quốc thể nên trong tiềm thức, các lãnh đạo và cán bộ của ta luôn xem nhẹ mọi thứ, cốt có tí lợi hoặc cốt cho xong chuyện. Tức là ý thức về chủ quyền quốc gia là quá thấp. Thế mới có chuyện Cơ quan ngôn luận của Thành ủy Hà Nội viết bài ca ngợi tên tướng mà bàn tay hắn vấy máu đồng bào và chiến sỹ ta. Báo Điện tử Đảng Cộng sản thì đăng hẳn Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Sau, Tổng biên tập Đào Duy Quát (Ủy viên Trung ương Đảng) phải đính chính và chịu phạt 30 triệu đồng. Lỗi này lại do các báo lề trái phát hiện và phản ánh… Mới đây nhất có chuyện 4 vị lãnh đạo tối cao của ta gửi điện chúc mừng quốc khánh các lãnh đạo Trung Quốc, vốn buổi kỷ niệm này được họ cố ý tổ chức tại Hoàng Sa.

Tình hình này cứ thế mà phát triển, không khéo sang năm lãnh đạo Việt Nam sẽ kéo nhau ra dự kỷ niệm quốc khánh Trung Quốc tổ chức tại Trường Sa cũng nên.

%d bloggers like this: