Lưu trữ | 7:55 Chiều

Người Amish ở Mỹ – VHNA

11 Th10

 

Người Amish ở Mỹ

Phạm Cao Hoàng

Họ theo đuổi một lối sống đơn giản, khiêm tốn, hiếu hòa, kiên nhẫn, nhường nhịn, quên đi bản thân, hết lòng vì cộng đồng. Kiêu ngạo và chủ nghĩa cá nhân là những thứ tối kỵ đối với người Amish. Họ không dùng điện, không làm chủ xe hơi, điện thoại,…Cuộc sống của họ bây giờ và 300 năm trước không khác nhau bao  nhiêu.

NGƯỜI AMISH LÀ AI?VÌ SAO HỌ DI CƯ SANG CHÂU MỸ?

Vào thế kỷ 16, nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Châu Âu tham gia phong trào Anabaptist Movement vốn chủ trương không rửa tội cho trẻ em, mà chỉ rửa tội cho người lớn- khi mà họ đã có thể chủ động chọn lựa đức tin của họ. Họ ngược đãi, bị phân biệt đối xử, một số người bị giết. Nhiều người trốn vào vùng rừng núi của Thụy Sĩ và miền nam nước Đức, và cộng đồng Amish được hình thành ở đó. Amish chính là giáo phái Tin Lành tách ra từ một giáo phái Tin Lành đã hình thành trước đó, Mennonites. Đầu thế kỷ 18 để có tự do tôn giáo, cộng đồng Mennonites và Amish di cư sang Châu Mỹ.

HỌ THEO ĐUỔI NHỮNG GIÁ TRỊ NÀO?

Họ theo đuổi một lối sống đơn giản, khiêm tốn, hiếu hòa, kiên nhẫn, nhường nhịn lẫn nhau, quên đi bản thân, hết lòng vì cộng đồng. Kiêu ngạo và chủ nghĩa cá nhân là những thứ tối kỵ đối với người Amish. Cảnh xây dựng một nhà kho chứa nông sản của người Amish.. Những hình ảnh như thế này là biểu tượng về sự tương trợ lẫn nhau của người Amish. Ngày làmnhà kho giống như ngày hội. Mọi thứ được chuẩn bị sẵn sàng, đến ngày dựng lên thì cả cộng đồng cùng làm, và nguyên tắc là trong một ngày nhà kho phải được hoàn tất. Trong ngày này, đàn ông thì lo công việc, phụ nữ thì nấu các món ăn ngon để chiêu đãi, còn trẻ em thì vui chơi thỏa thích.

ĐIỀU LẠ LÙNG NHẤT VỀ NGƯỜI AMISH LÀ GÌ?

Điều lạ lùng nhất là họ từ chối các tiện nghi do khoa học kỹ thuật mang lại. Họ không dùng điện, không làm chủ xe hơi, điện thoại,…Cuộc sống của họ bây giờ và 300 năm trước không khác nhau bao  nhiêu.

ƯU TIÊN HÀNG ĐẦU CỦA NGƯỜI AMISH LÀ GÌ?

Ưu tiên số một là thờ phượng Chúa. Sống là khoảng thời gian chờ đợi để trở về với Chúa. Kế đến là gia đình, nông trại, và cộng đồng. Phần lớn người Amish sống bằng cách làm nông. Các buổi  lễ và cầu nguyện của họ được luân phiên tổ chức trong các gia đình, không tổ chức trong nhà thờ.

CÓ BAO NHIÊU NGƯỜI AMISH ĐANG SỐNG Ở MỸ?

 Khoảng ba trăm ngàn người, nhiều nhất là ở tiểu bang Ohio, kế đến là tiểu bang Pennsylvania. (Một số ít sống ở Canada). Họ có lối ăn mặc riêng, với loại vải trơn, không có sọc hoặc hoa hòe, hình ảnh…

NGƯỜI AMISH NÓI THỨ TIẾNG GÌ?

Ở nhà thờ và trong gia đình, họ nói tiếng Đức. Khi đi học, họ dùng tiếng Anh. Tiếng Đức cũng được dạy trong nhà trường.

TRẺ EM AMISH ĐI HỌC Ở ĐÂU?

Lớp học của trẻ em người Amish

Nam sinh Amish trên đường đến trường

Nữ sinh Amish trên đường đến trường

 Họ tự hình thành và quản lý một loại trường riêng, được gọi là one-room schoolhouse, loại trường chỉ có 1 phòng học duy nhất nằm ở nhiều địa bàn khác nhau trong cộng đồng.  Thường các em chỉ học tới lớp 8 thì dừng lại.Một trường học loại one-room schoolhousetrong động cồng người Amish

Xe scooter

TẠI SAO NGƯỜI AMISH KHÔNG DÙNG ĐIỆN?

Người Amish không dùng điện vì cho rằng điện đưa đến những tiện nghi của đời sống hiện đại, và sự cám dỗ của những tiện nghi này có thể làm hủy hoại các giá trị tôn giáo và đời sống gia đình.  Giá trị mà họ theo đuổi chính là sự đơn giản, khiêm tốn trong cuộc sống. Càng sống đơn giản, con đường giải thoát sau này càng rộng hơn.

HỌ CÓ SỞ HỮU CÁC LOẠI XE HƠI KHÔNG?

Không. Họ chỉ có xe ngựa (buggy). Họ muốn tạo dựng và duy trì một cộng đồng trong đó mọi người sống hòa hợp, chia sẻ với nhau, có mức sống gần như nhau, không có sự chênh lệch giàu nghèo. Việc sở hữu các tiện nghi đắt tiền sẽ phá vỡ trật tự của cộng đồng, dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo, tạo điều kiện cho tính kiêu căng, hợm hĩnh phát triển. Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống, họ có thể đi xe buýt, xe lửa, taxi, hoặc thuê xe, nhưng làm chủ một chiếc xe thì không.

Xe ngựa (buggy) của người Amish

Xe ngựa (buggy) của người Amish

HỌ CÓ SỞ HỮU ĐIỆN THOẠI KHÔNG?

Phần lớn các gia đình không có điện thoại. Họ sử dụng điện thoại công cộng và ngày nay một số ít bắt đầu dùng cell phone.

HỌ CÓ DÙNG GAS  KHÔNG?

 Có. Thứ gì có thể thay thế cho nguồn điện thì họ vẫn dùng, vì nó tiện lợi hơn, nhưng không ảnh hưởng đến lối sống đơn giản của họ. Ví dụ, hệ thống sưởi, bếp gas, tủ lạnh chạy bằng gas, đèn thắp sáng… vẫn được chấp nhận.

Đèn thắp bằng gas trong người của nhà Amish

 CÁC WEBSITES CỦA HỌ ĐƯỢC HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?

 Chính những người Amish không làm ra những websites này  vì họ không dùng điện và không sở hữu computers. Các websites này được làm ra bởi những cá nhân hoặc tổ chức có mối quan hệ với cộng đồng người Amish nhằm chuyển đến thế giới bên ngoài những thông tin chính xác về người Amish và lối sống của họ.

 NGƯỜI AMISH CÓ CHỤP HÌNH KHÔNG?

 Không được chụp hình cá nhân, vì Thánh Kinh của họ xem chụp hình là điều cấm kỵ. Họ quan niệm, “người ta chết để tiếng”, chứ không phải cái diện mạo bên ngoài: mỗi người đến rồi cũng phải đi, cái còn lại là cái tâm, cái đức như thế nào để mọi người nhớ đến. Người Amish không cho phép du khách chụp hình cá nhân của họ.

 TẠI SAO ĐÀN ÔNG AMISH ĐỂ RÂU CẰM (BEARD)VÀ KHÔNG ĐỂ RÂU MÉP (MOUSTACHE)?

Một bộ râu cằm dài là dấu hiệu của sự trưởng thành. Họ bắt đầu để râu cằm sau khi lập gia đình. Người Amish không chấp nhận chiến tranh, mà râu mép lại được giới quân sự ưa chuộng nên họ không phù hợp và không để râu mép.Những người đàn ông Amish.Họ luôn luôn đội chiếc mũ rộng vành khi ra khỏi nhà.

Họ bắt đầu để râu cằm sau khi lập gia đình.

TẠI SAO PHỤ NỮ AMISH LUÔN ĐỘI KHĂN TRÊN ĐẦU?

Phụ nữ không được phép cắt tóc. Có như thế nào cứ để như thế đó. Họ đội khăn giữ búi tóc cho gọn nhằm thuận tiện trong khi làm việc.

Phụ nữ và trẻ em Amish

Một bà mẹ Amish dẫn con đi dạo chơi

NGƯỜI AMISH CÓ ĐÓNG THUẾ KHÔNG?

Những sản phẩm họ làm ra mang tinh chất tự cung, tự cấp thì được miễn thuế. Tuy nhiên, họ vẫn có nghĩa vụ đóng thuế bất động sản, thuế thu nhập, và các loại thuế khác.

HỌ CÓ NHẬN CÁC PHÚC LỢI TỪ CHÍNH PHỦ KHÔNG?

Không. Họ chủ trương gia đình của họ lo liệu mọi chuyện, nếu quá khó khăn cộng đồng của họ sẽ giúp đỡ. Họ không nhận các phúc lợi từ Social Security Benefits, Unemployment Benefits, Welfare Funds…

NGƯỜI AMISH TRỒNG NHỮNG THỨ GÌ Ở CÁC NÔNG TRẠI CỦA HỌ?

Bắp, lúa mì, thuốc lá, đậu nành, khoai tây, lúa mạch, rau, hoa quả… Họ dùng ngựa để làm sức kéo.   

Trong nông nghiệp, người Amish dùng ngựa làm sức kéo

HỌ CÓ ĐI KHÁM BỆNH KHÔNG?

Họ chủ trương “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Vạn bất đắc dĩ họ mới tìm đến bác sĩ hay bệnh viện. Tuy không có bảo hiểm y tế nhưng họ thanh toán các chi phí chữa trị một cách sòng phẳng, vì cộng đồng của họ sẵn sàng giúp đỡ nếu như cá nhân không tự lo liệu nổi.

GIỚI TRẺ AMISH CÓ CHẤP NHẬN LỐI SỐNG  NHƯ VẬY KHÔNG?

Đại đa số chấp nhận, vì họ đã quen như vậy. Một số rất ít bỏ đi, tìm đến những nơi khác. Thực tế, dân số trong các cộng đồng Amish không giảm đi, mà càng ngày càng tăng, cho thấy niềm tin tôn giáo và những giá trị mà họ theo đuổi vẫn có sức hấp dẫn mạnh mẽ .  Các bạn đoán xem cậu thanh niên Amish trong hình đã có vợ hay còn độc thân.

Cậu ta đang băng qua đường bằng một loại ván trượt gắn phía dưới đôi giày. 

CÒN BẠN THÌ SAO? NGƯỜI AMISH VÀ CHÚNG TA, AI KHỔ HƠN AI?

Câu trả lời xin dành cho các bạn đọc bài viết này.

…………………………………………………….

Nguồn: vanchuongviet

Tham khảo:

1. http://www.theinquiringmind.net/2008/10/peoples-of-america-amish.html

2. http://www.amish.net/  Xem một bài hát mô tả lối sống của người Amish AMISH PARADISE by Weird Al Yankovic

THƠ GỬI NGƯỜI THƯƠNG: MÔT NGÀY CHO TỔ QUỐC VIỆT NAM – trinhanmedia

11 Th10

THƠ GỬI NGƯỜI THƯƠNG: MÔT NGÀY CHO TỔ QUỐC VIỆT NAM

Thục Quyên
09-10-2012

Dù Việt Nam nhỏ bé, dù vận nước đang suy, vũ khí truyền thống mãnh liệt và hiệu nghiệm của dân tộc Việt sẽ luôn là ý chí chống lại sự hán hóa. Chúng ta sẽ đồng hành trong cơn khốn khó để vạch mặt chỉ tên kẻ mưu đồ xâm lăng, để khẳng định sự quyết tâm bảo vệ lãnh thổ cha ông để lại, để không hổ danh con Rồng cháu Tiên trước tòan thế giới.

München,ngày 3/10/2012

Văn Lang Lạc Hồng thương yêu,
Những người Việt sống tại thành phố Muenchen đang  ráo riết vận động và tổ chức vào ngày 20 tháng 10 tới đây  “Một ngày cho Tổ Quốc Việt nam“.
Tin đến vào đúng ngày hôm nay, khi trời bắt đầu vào thu, khi cả nước Đức đang mừng  ngày lễ Thống Nhất quốc gia, và trung tâm thành phố München của tiểu bang Bayern, nơi được chọn để tổ chức buổi lễ Quốc Khánh 2012 của Cộng Hòa Liên bang Đức, đầy đặc những người là người, tươi cười, quần là áo lượt. Chỉ cách đó vài con đường là  Oktoberfest, hội bia lớn nhất thế giới, cũng đang rầm rộ ăn uống, trai thanh gái lịch, hưởng thụ sự giàu sang phú cường của một nước Đức tự do, dân chủ.
Bầu trời xanh trong veo.
Người công dân Đức da vàng là tôi đi trong rừng người hân hoan no đủ, trong nắng ấm, trên những con đường rộng lớn sạch sẽ… mà nhớ đến em. Chúng ta, những người con của Mẹ Việt Nam chẳng bao giờ thôi ràng buộc với nhau bằng sợi giây thiêng liêng của tình nghĩa đồng bào, dù nghìn trùng xa cách, dù hoàn cảnh sống đang một vực một trời.
Hai mươi ba năm trước,ngày 9/10/1989, tôi nhớ rõ cả nước Đức nín thở hướng về thành phố Leipzig. Từ hai giờ trưa dân chúng đã từ từ đổ ra đường. Làn sóng 70.000 người cuồn cuộn di chuyển từ nhà thờ Nikolai về hướng Nhà Hát lớn ở trung tâm thành phố, hô to khẩu hiệu” wir sind das Volk, wir sind ein Volk “(Chúng ta là nhân dân, chúng ta là một dân tộc) bất chấp tin đe dọa chính phủ sẽ thi hành ” giải pháp Trung Hoa”, nghiã là sẽ dùng biện pháp  đẫm máu cuả Thiên An Môn. Tại ga xe lửa Leipzig, 8000 lính và công an mang vũ khí  đang sẵn sàng ra tay. Sự căng thẳng lên đến cực điểm.
Trong giờ phút lịch sử đó, dân tộc Đức đã chứng tỏ được cao độ của nền văn minh loài người : trước sự cương quyết nhưng bất bạo động của người dân, lính và công an võ trang lùi dần và tuần tự rút đi.
Em ơi,
không  đánh đập, không bắt bớ, không đạp vào mặt, không bắn giết, không ủi nát dân bằng xe tăng, không vu khống cầm tù. Đối diện nhau, chỉ  là những con người bằng xương bằng máu, là đồng bào ruột thịt với nhau, có lương tri, có tình cảm con người.
Rồi 70.000 ngọn nến Hòa Bình được thắp lên tối hôm đó ở Leipzig, báo hiệu giờ khởi hành
của cả một dân tộc trên con đừơng  TỰ DO-BÌNH ĐẲNG-DÂN CHỦ.
Ngày 9/11/1989 bức từơng Bá Linh sụp đổ.
Ngày 3/10/1990 Cộng Hòa Dân Chủ Đức chấm dứt tồn tại.
Quốc gia Đức thống nhất lãnh thổ không đổ một giọt máu. Đông và Tây Đức sát cánh với nhau xây dựng đất nước của họ, đạt tới một nền kinh tế vững mạnh đem hạnh phúc no ấm đến cho dân.
Đứng trong giòng người vui tươi hớn hở từ khắp nước Đức đến dự lễ tại  thành phố München ngày hôm nay, tôi đã  hiểu  tại sao trong số các chính khách ngoại quốc đến thăm Việt Nam chỉ có một người như phó thủ tướng Đức, BS Philipp Rösler, một người con của Mẹ Việt Nam, chăm bón nuôi dưỡng bởi nền tự do hòa bình của dân tộc Đức, mới có thể có cái nhìn và lời nói ngắn gọn chính xác gởi đến chúng ta:
“Không có tự do để mình được chọn cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và tự do kinh tế sẽ không có được, khi không có tự do xã hội.”
 
Một người dân Đức có suy nghĩ  và có hành động độc lập, được đánh giá là một  người dân gương mẫu. Đi biểu tình bất bạo động ở Đức là một thói quen quan trọng của những người dân có suy nghĩ và muốn bày tỏ ý chí, nguyện vọng và đòi hỏi của mình trước thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Chính phủ chỉ là những người điều hành các công việc, phải hoàn thành nhiệm vụ cũng như ý nguyện mà nhân dân đã giao phó và ủy thác. Do đó người dân đi biểu tình tại Đức được thành phố dành cho những nơi sầm uất để tụ họp, được cảnh sát bảo vệ dọn đường cho đi và giúp đỡ mọi mặt.
Thật ra  biểu tình bất bạo động  không phải là một đặc điểm của riêng nước Đức mà là của mọi nước văn minh dân chủ. Chỉ những cuộc biểu tình mới có khả năng nói lên ý chí và nguyện vọng của người dân trong một nước và được người dân các nước khác chú ý tới.
Hiểm họa bành trướng của Trung Cộng đã trở thành mục tiêu chú ý của tòan thế giới kể từ khi người dân Philippines và Nhật Bản  vũ bão lên tiếng quyết chống lại thái độ ăn cướp trắng trợn của nước này. Chính phủ Philippines và Nhật nhận lãnh  ý nguyện rõ ràng của người dân, chuyển đạt qua các cuộc biểu tình, đã mạnh dạn  đương đầu với mọi âm mưu của Trung cộng và còn khôn khéo kéo các quốc gia bạn vào vòng đai ngăn chặn kẻ xâm lấn. Chính phủ và dân, tay trong tay, vai kề vai, bảo vệ lãnh thổ quốc gia.
Nếu Biển Đông chỉ thuộc Trung Hoa và Việt nam mà không có Nhật Bản và Philippines, thì với cái chết của Hoàng Sa và Trường Sa, Biển Đông đã hoàn toàn rơi vào tay kẻ cướp. Làm gì có được trên những màn ảnh truyền hình quốc tế những cuộc biểu tình hàng  trăm ngàn người với khí thế của một nước độc lập không  chịu hàng phục ngọai bang? Làm gì có sự thán phục của thế giới trước hình ảnh những dân biểu, những người nắm vận mệnh quốc gia, sát cánh với người dân của họ tại những vùng tranh chấp ?
Việt Nam tôi đâu?
Dân khí Việt Nam đâu?
Gần 90 triệu dân Việt Nam trong nước mà sao chỉ lọt được ra ngoài vài tiếng thở dài yếu ớt?
Để quốc tế thay vì nhắc tới khí phách dân tộc Việt,  lại phải loay hoay với những vấn đề vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, khi nói đến Việt Nam. Dân tộc Việt sẽ không những mất đất, mất biển, mà còn có nguy cơ mất cả danh dự giống nòi, nếu  trước hiểm họa bị ngọai bang xâm chiếm  mà dường như không hề có chống cự ?
Không, ngàn lần không phải vậy !
 
Dù ta biết ngày nay không thể tìm được trong hàng ngũ những người đang cầm quyền một Trần Bình Trọng hiên ngang “Ta thà làm qủy nước Nam chứ không thèm  làm vương đất Bắc“, nhưng lòng người dân thì trước sau như một, dòng máu rồng tiên anh dũng vẫn đang cuồn cuộn trong ta. Dù Việt Nam nhỏ bé, dù vận nước đang suy, vũ khí truyền thống mãnh liệt và hiệu nghiệm của dân tộc Việt sẽ luôn là ý chí chống lại sự hán hóa. Chúng ta sẽ đồng hành trong cơn khốn khó để vạch mặt chỉ tên kẻ mưu đồ xâm lăng, để khẳng định sự quyết tâm bảo vệ lãnh thổ cha ông để lại, để không hổ danh con Rồng cháu Tiên trước tòan thế giới.
Ngày xưa những đứa con cùng một bọc đã chia tay theo Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long để bảo tồn nòi giống, ngày nay trong nước hay tại hải ngọai, chúng ta vẫn tiếp tục thay phiên nhau mỗi người một việc. Giang sơn gấm vóc của Mẹ, biển xanh của Cha sẽ mãi mãi là của dòng giống Việt oai hùng.
Những  người con của mẹ Việt Nam đang sinh sống tại Cộng Hoà Liên Bang Đức và đặc biệt tại thành phố München, Bayern sẽ sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu tình, để dõng dạc tuyên bố lòng tự tin và sự quyết tâm bảo vệ  Quê Cha Đất Tổ, nói lên những gì những người con của Mẹ Việt Nam đang sống trong lòng đất Mẹ mà không được nói, không được tỏ bày.
Chúng ta là con của Mẹ Việt Nam. Quê Mẹ là của chúng ta.
Chúng ta là người Dân. Đất nước là của Dân.
Dân Việt Nam sẵn sàng đứng lên nhận trọng trách bảo vệ giang sơn tổ tiên giao lại, chớ không vì bất cứ một lý do nào mà bỏ ngỏ  trọng trách này trong tay kẻ  khác.
Văn Lang Lạc Hồng thương yêu,
Trời thu München sẽ lạnh. Có thể sẽ mưa. Mùa này cũng nhiều cảm cúm.
Nhưng em có thể đặt lòng tin vào chí khí dân tộc. Mọi người sẽ đến tham dự cuộc biểu tình trong “Một ngày cho Tổ Quốc Việt nam” vì mỗi người tự biết mình đang thay mặt hàng trăm ngàn đồng bào nơi quê nhà, để nói lên cho thế giới biết ý chí và lòng cương quyết bảo vệ lãnh thổ của người dân Việt. Sẽ không có một lý do vị kỷ nào, một sự vô cảm nào có thể cản bước người dân Việt không lăn xả vào bảo vệ TỰ DO, ĐỘC LẬP và DANH DỰ giống nòi.
Đoàn biểu tình sẽ tụ họp ở quảng trường Geschwister-Scholl, nơi người Đức kỷ niệm hai chị em Scholl, hai người sinh viên với giòng nhiệt huyết đã phát truyền đơn để nói lên những gì Hitler độc tài cấm người dân nói. Từ đó giòng người sẽ chậm bước đi giữa thành phố München, với hàng trăm bản đồ Việt Nam, với những biểu ngữ khẳng định chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, vạch rõ thái độ hung hãn bành trướng của Trung Cộng, và cuối cùng sẽ dừng lại tại SendlingerTorPlatz, bên bức tường thành rêu phong đã bao bọc thành phố  München từ ngày thành lập.
Chúng ta, những người con của Mẹ Việt Nam khắp nơi, cũng sẽ đan tay xây một bức tường thành kiên cố vạn lần để bảo vệ quê hương.
Buổi tối mọi người sẽ quây quần cùng anh André Menras Hồ Cương Quyết, lắng nghe thông điệp của ngư dân miền Trung cho kẻ xâm lược, quyết tâm bảo vệ vùng biển truyền thống của tổ tiên, và niềm tự hào bất khuất của họ, trong cuốn phim tài liệu “Hoàng Sa Việt Nam – Nỗi Đau Mất Mát” đã bị lực lượng an ninh TPHCM ngăn cấm chiếu ngày 29 tháng 11 năm 2011 và nhiều lần sau đó ngay tại quê nhà.
Em thương yêu,
em sẽ có trong tôi. Tổ tiên họ hàng bạn bè mình và cả thế hệ nối tiếp sẽ có trong tôi ngày hôm đó, và sẽ không ai nỡ vắng mặt để tổ tiên họ hàng bạn bè mình phải bơ vơ không người nương tựa.
Chúng ta sẽ bước từng bước vững vàng như lòng son sắt và ý chí không lay chuyển của Mẹ Việt Nam, với ý thức là chúng ta có trách nhiệm nương nhờ vào nền tự do dân chủ của quốc gia đang cưu mang mình, để đóng góp vào sự sống còn của dân tộc Việt. Tôi đã hiểu và mọi người đã hiểu.
Danh dự của dòng giống Tiên Rồng tùy thuộc ở sự đòan kết của tất cả chúng ta trong từng giây phút, lúc tổ quốc lâm nguy.
T.Q.

RẮC RỐI Ở BIỂN ĐÔNG – BS

11 Th10

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

RẮC RỐI Ở BIỂN ĐÔNG

TTXVN (Oasinhtơn 8/10) Tạp chí “Foreign Policyca Mỹ mới đây đăng bài phân tích của tác giả Bonnie Glaser với tựa đề “Rắc ri ở Biển Nam Trung Hoa (Bin Đông)”.  Sau đây là nội dung của bài viết:

Thái độ của Trung Quốc ở Biển Đông là cố ý và có hệ thống. Nó là kết quả có chủ ý của nền chính trị quan liêu và sự phối hợp kém. Theo Oriana Skylar Mastro, thành viên Trung tâm An ninh Mỹ mới, những hành động hiếu chiến gần đây của Trung Quốc cho thấy “sự hợp tác hỗ trợ mang tính điển hình, sự kiểm soát về dân sự, quân sự, và sự hài hòa giữa các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự”. Bắt nạt và hăm dọa là hình mẫu rõ ràng và là bằng chứng của một quyết định từ giới lãnh đạo chóp bu nhằm leo thang nền ngoại giao cưỡng chế của Trung Quốc. Điều này không chỉ liên quan đến Philíppin và Việt Nam, mục tiêu chính trong các nỗ lực cưỡng chế của Trung Quốc, mà còn cho tất cả các bên có lợi ích trong khu vưc trong đó có Mỹ.

Đầu tiên, hành động coi thường quy định và luật pháp quốc tế của Trung Quốc làm nảy sinh tâm lý lo ngại. Bắc Kinh cố tình từ chối tuân thủ thỏa thuận miệng với Manila về việc rút tàu thuyền của nước này ra khỏi khu vực xung quanh bãi cạn Scarborough, thiết lập một hiện trạng mới có lợi cho Trung Quốc. Nước này cũng duy trì tuần tra thường xuyên và không cho ngư dân Philíppin đánh bắt cá trên những vùng biển này. Không có quốc gia nào kể cả Mỹ công khai lên án hành động này. Điều này đã tạo một tiền lệ nguy hiểm cho các cuộc đàm phán trong tương lai.

Thứ hai, Trung Quốc ngày càng sử dụng sức mạnh kinh tế để buộc các nước phải thay đổi chính sách của mình. Hành động kiểm dịch trái cây nhập khâu từ Philíppin để gây sức ép buộc nước này phải nhường lại quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough là sự vi phạm trắng trợn các quy định quốc tế. Để che đậy hành động này, các quan chức hải quân Trung Quốc tuyên bố một cách vô căn cứ rằng trái cây bị nhiễm khuẩn. Nền kinh tế Philíppin bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau tuyên bố trên do nước này xuất khẩu gần 1/3 sản lượng chuối sang Trung Quốc, cũng như các loại trái cây khác như đu đủ, dứa, xoài, và dừa. Ngoài ra, các công ty du lịch Trung Quốc cho hủy các chuyến bay thuê về du lịch đến Philíppin với lý do sự an toàn của khách du lịch Trung Quốc bị đe dọa bởi “các cuộc biểu tình chống Trung Quốc.”

Đây chỉ là một ví dụ cho thấy xu hướng dùng kinh tế để gây áp lực ngày càng tăng của Trung Quốc Tháng 9/2010, Trung Quốc đã dừng các chuyến tàu chở đất hiếm sang Nhật Bản để trả đũa Tokyo giam giữ thuyền trưởng một tàu đánh cá của Trung Quốc trong một vụ việc xảy ra gần quần đảo Senkaku. Cuối năm đó, sau khi giải Nobel Hòa Bình được trao cho nhà bất đồng chính kiến người Trung Quốc Lưu Hiểu Ba, nước này đã sử dụng nhiều biện pháp để trừng phạt Na Uy, mặc dù ủy ban Nobel – độc lập với Chính phủ Na Uy – mới là cơ quan đưa ra quyết định trao giải. Trung Quốc đã dừng các cuộc đàm phán thương mại với Ôxlô, đồng thời áp đặt kiểm dịch đối với cá hồi nhập khẩu từ Na Uy. Các quyết định trên khiến lượng cá hồi Na Uy xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 60%, ngay cả khi nhu cầu cá hồi của Trung Quốc tăng 30%. Bắc Kinh cũng tạm dừng các trao đổi ngoại giao thông thường với Na Uy, cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa nối lại. Bắc Kinh xem đây là những thành công ngoại giao. Chiến thuật này chắc chắn sẽ được sử dụng nhiều lần nữa. Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng lên một số nước lệ thuộc vào thương mại với Trung Quốc.

Thứ ba, việc Trung Quốc từ chối một khuôn khổ dựa trên các luật lệ có thể kiềm chế các hành động của tất cả các bên là nguyên nhân gây nên lo ngại. Bắc Kinh tính toán rằng thời gian đang đứng về phía họ. Tại sao phải ký thỏa thuận ràng buộc bản thân ngay bây giờ khi mà đòn bẩy của nước này vẫn đang tiếp tục phát triển. Trong tương lai, Trung Quốc không chỉ là cường quốc kinh tế mà còn là cường quốc chính trị và quân sự. Theo lời của các nhà ngoại giao Trung Quốc, các nước khác, dù lớn hay nhỏ, buộc phải thích ứng với sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như tôn trọng “lợi ích cốt lõi và mối quan tâm lớn” của Bắc Kinh. Trong bối cảnh Trung Quốc sẵn sàng không tuân theo Bộ quy tắc ứng xử và hoàn toàn không quan tâm đến lợi ích của các nước, thì việc các nước có tranh chấp sử dụng quân sự để bảo vệ lợi ích của họ là không thể loại trừ.

Sau Đại hội Đảng lần thứ 18 vào mùa Thu năm nay và Quốc vụ viện (chính phủ) mới được thành lập vào đầu năm tới, những hành động kiên quyết về chủ quyền như trên có thể sẽ tiếp diễn. Việc chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc chỉ xảy ra một lần mỗi thập niên, và lần chuyển giao tới đặc biệt quan trọng trong bối cảnh sức mạnh của Trung Quốc gia tăng đáng kể. Giới lãnh đạo Trung Quốc sẽ tích cực bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Lập trường cứng rắn của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông đã được gây dựng từ lâu. Các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc chắc chắn nhận thức được rủi ro nếu tiếp tục củng cố lập trường này, nhưng sự cám dỗ là không thể cưỡng lại được vì những bước đi như vậy sẽ thúc đẩy tính hợp pháp của bộ máy lãnh đạo mới.

Tập Cận Bình, có khả năng kế nhiệm Chù tịch Hồ cẩm Đào, được cho là tự tin hơn so với ông Hồ cẩm Đào 10 năm trước đây. Nếu Hồ Cẩm Đào trưởng thành khi Trung Quốc còn khó khăn thì Tập Cận Bình lớn lên trong thời kỳ cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài, và tin rằng Trung Quốc đang lớn mạnh nhanh chóng. Với niềm tin rằng khoảng cách quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ được thu hẹp, Tập Cận Bình sẽ bảo vệ lợi ích của Trung Quốc trên trường quốc tế, đặc biệt trong các vấn đề được cho là “lợi ích cốt lõi” cùa Trung Quốc, bao gồm cả vấn đề Biển Đông.

Ở một mức độ nào đó, các cuộc tranh luận học thuật ở Trung Quốc đã bị tác động trong thời gian chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi lãnh đạo ởnước này. Các quan điểm trái ngược trong các vấn đề nhạy cảm bị coi là dấu hiệu rạn nứt trong nội bộ Đảng, do đó không được khuyến khích trước thời điểm tổ chức Đại hội. Tuy nhiên, những cuộc tranh luận kiểu này có thể sẽ bùng nổ vào đầu năm tới, làm gia tăng áp lực lên giới lãnh đạo Trung Quốc trong việc bảo vệ lợi ích của nước này.

Theo các nhà phân tích của Trung Quốc Bắc Kinh đã rút ra kết luận rằng chính sách đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông của cố Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình là không thành công. Theo chính sách đó, trong khi chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông thuộc về Trung Quốc thì cần gác lại tranh chấp và tăng cường cùng nhau khai thác. Người Trung Quốc cho rằng trong khi Trung Quốc kiềm chế không khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp thì các nước khác không làm như vậy. Chính sách mới vẫn chưa xuất hiện và có khả năng hoãn đến sau khi chuyển đổi lãnh đạo, nhung gần như

chắc chắn rằng chính sách mới sẽ cứng rắn hơn.

Chính quyền Obama đã đề ra một số nguyên tắc hướng dẫn cách ứng xử ở Biển Đông. Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã kêu goi “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tranh chấp nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ mà không cần cưỡng chế.” Bà nói rằng Mỹ phản đối bất kỳ bên tranh chấp nào sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực kêu gọi tự do thương mại, hàng hải và tiếp cận các vùng biển chung của châu Á. Theo Ngoại trưởng H. Clinton, các tuyên bố chủ quyền của các bên tranh chấp cần phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển , và thúc giục tất cả các bên đạt được thỏa thuận về một Bộ quy tắc ứng xử trên biển.

Điều quan trọng là Mỹ tuân thủ các nguyên tắc này và chỉ trích bất cứ bên nào hành động trái nguyên tắc. Khách quan và công bằng sẽ mang lại sự tín nhiệm cho chính sách của Mỹ. Không còn nghi ngờ rằng hành vi của Trung Quốc trên Biến Đông là nghiêm trọng nhất. Ngày 3/8, Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra tuyên bố liên quan vấn đề Biển Đông, trong đó chỉ rõ rằng các hành động của Trung Quốc là “nguy cơ gây căng thẳng leo thang ở khu vực”. Tuyên bố trên được đưa ra sau khi Hội nghị Bộ trưởng ASEAN tổ chức tại Campuchia kết thúc mà không đưa ra được thông cáo chung. Một số nước Đông Nam Á đã ủng hộ tuyên bố của Mỹ. Tuy nhiên, sự gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc sau tuyên bố trên đã làm một số nước Đông Nam Á lo ngại và kêu gọi Mỹ có những hành động ngoại giao. Những bước đi sai lầm của Mỹ đã tạm thời làm giảm chứ không phải tăng cường hiệu quả của nước này như là một lực lượng cân bằng đối với Trung Quốc.

Thời gian tới, Mỹ cần theo sát cách tiếp cận có tính nguyên tắc trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông của mình, đồng thời duy trì vị trí trung lập trong những tranh chấp trên. Ngoài ra, Mỹ cần nhấn mạnh rằng lợi ích chung giữa Mỹ và các nước khác theo các tiêu chuẩn quốc tế đang bị đe dọa bởi các chính sách quyết đoán của Trung Quốc. Mỹ cũng cần thúc đẩy một khuôn khổ ràng buộc pháp lý trong việc giải quyết các tuyên bố và tranh chấp ở Biển Đông. Điều đó có nghĩa là thúc giục tất cả các bên có các tuyên bố chủ quyền – theo Công ước quốc tế về luật biển – một văn bản mà Mỹ cũng nên phê chuấn nhằm tăng cường hiệu quả các nỗ lực của mình. Mỹ cần tiếp tục khuyến khích Trung Quốc và ASEAN đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử, trong đó bao gồm một cơ chế giải quyết tranh chấp. Các nước nhỏ trong khu vực lo ngại rằng Mỹ và Trung Quốc có thể bắt tay với nhau và đi ngược lại lợi ích của các nước này. Mỹ cần giải tỏa lo lắng trên và tiếp tục phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong việc đảm bảo ổn định ở khu vực. Cuối cùng, Mỹ cần tiếp tục tăng cường tham gia các cam kết kinh tế, ngoại giao và quân sự ở Đông Á. Tái cân bằng các ưu tiên chiến lược của Mỹ ở châu Á là điều cần thiết để đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực.

TTXVN (Angiê 7/10)

Mạng tin “Địa chính trị ” mới đây đăng bài phân tích của tác giả Jack Thompson về tình hình Biển Đông, có nội dung như sau:

Đông Nam Á, nơi từng diễn ra căng thẳng giữa 6 nước đang chia sẻ khu vực hàng hải tại Biển Đông giàu tài nguyên, là dịp để Trung Quốc “lên cơ” và thách thức Mỹ can dự cuộc chơi. “Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc bảo vệ tự do giao thông hàng hải, bảo vệ quyền tiếp cận các khu vực hàng hải chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Với tuyên bố như trên tại Hà Nội, Việt Nam, vào tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã làm nước chủ nhà hài lòng. Những lời đồn đoán từ tuyên bố Mỹ quay trở lại Đông Nam Á đã dần hiện hữu. Cũng như vậy Oasinhtơn phản đối bất kỳ nước nào muốn độc chiếm Biển Đông. Ngay lập tức, Bắc Kinh bày tỏ sự bất bình khi kêu gọi Mỹ không được đánh đồng những tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Brunây và Đài Loan.

“Một nhúm sỏi”

Rộng như Địa Trung Hải, nhưng Biển Đông không hiếu khách. Toàn bộ những chỏm đất nổi, đảo nhỏ, mũi đá, san hô, dải cát mịn không vượt quá 20 km2. Trừ đảo Ba Bình tại quần đảo Trường Sa, bị Đài Loan chiếm đóng từ những năm 1950, còn lại là tất cả các đảo nhỏ mà trên đó con người không thể sinh sống được. Một chi tiết quan trọng là luật biển quốc tế chỉ công nhận một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý xung quanh đảo nếu đảo đó có thể sinh sống được và có chức năng kinh tế. Ngay cả trường hợp của đảo Ba Bình rộng 0,49 km2, nơi có khoảng 200 binh sĩ Đài Loan hiện diện, việc đòi hỏi EEZ là không thể được. Lợi ích kinh tế của hòn đảo nhỏ này là gì khi bị các cơn bão tấn công? Câu trả lời hiển nhiên là ở đại dương, rất giàu tài nguyên cá cũng như trữ lượng dầu khí. Theo một nghiên cứu của Trung Quốc, Biển Đông có trữ lượng 13 tỷ thùng dầu, tức là bằng 80% trữ lượng dầu của Arập Xêut! Một đánh giá như trên đang kích thích ham muốn của các nước ven bờ, không lo ngại về sự hợp

pháp trong các yêu sách của mình. Đối với Việt Nam, Philíppin, Malaixia,

Brunây, quyền lợi của các nước này là rõ ràng. Những khu vực biển mà các

nước này đòi hỏi là hiển nhiên bởi nằm trên thềm lục địa và EEZ của họ. Đài Loan có ưu tiên khi kiểm soát đảo duy nhất có khả năng đòi hỏi EEZ. Về phần Trung Quốc, nước này đòi hỏi hầu như toàn bộ Biển Đông khi viện dẫn tấm bản đồ cổ có các đảo và bãi đá ngầm như trên. Lý lẽ chính của Trung Quốc dựa vào tấm bản đồ có từ năm 1947 do một nhà địa lý vô danh tư nhân vẽ ra, vạch một “đường chín đoạn” ấn định lãnh thổ Trung Quốc, tức toàn bộ Biển Đông. Được trình lên Liên hợp quốc (LHQ) năm 2009, tấm bản đồ này không có chút giá trị pháp lý nào. Song nó không ngừng gây lo ngại cho các nước láng giềng ven biển bởi Trung Quốc ngày càng lấn lướt.

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin

Minh chứng về sự quyết đoán của Bắc Kinh, đó là ngành ngoại giao Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2010 đã sử dụng từ “lợi ích cốt lõi” khi nói về Biển Đông, một ngôn từ đến nay chỉ dành cho Tây Tạng hay Đài Loan. Những tháng qua, quan hệ giữa Philíppin, Việt Nam và Trung Quốc đã xuống cấp. Từ ngày 10/4/2012, sự đối đầu giữa hải quân Trung Quốc và Philíppin diễn ra xung quanh bãi đá ngầm Scarborough. Nằm cách đảo Luzon của Philíppin 140 hải lý (340 km), bãi san hô này được Philíppin gọi là Panatag Shoal hay Bajo Masinloc, nằm trong EEZ của Philíppin. Việc một đội tàu đánh cá Trung Quốc đến khu vực đảo đã buộc người Phiiíppin phải cử tàu hải quân của mình ra khám xét những nhóm người đánh bắt cá trái phép. Rất nhanh chóng, Hải quân Trung Quốc đã can thiệp. Tiếp theo đó là một cuộc khẩu chiến giữa Manila và Bắc Kinh. Philíppin nhấn mạnh đảo đó năm trong EEZ “không thể tranh cãi” còn Bắc Kinh từ chối một EEZ như trên bởi đảo Hoàng Nham (Scarborough) thuộc về Trung Quốc từ thời “xa xưa”.

Tranh cãi trên đã kéo dài đến khi một cơn bão nhiệt đới cho phép Philíppin giảm bớt áp lực. Lối thoát thảm hại mà Manila đã cố gắng vượt qua xuất hiện trong hội nghị thượng đỉnh thường niên của tổ chức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) diễn ra tại thủ đô Phnompenh (Campuchia). Thiệt thòi cho cả Philíppin và Viêt Nam khi Campuchia, rất phụ thuộc vào viện trợ tài chính của Trung Quốc, đã lần lượt từ chối đưa vào trong tuyên bố cuối cùng của hội nghị này sự tồn tại của những căng

thẳng tại Biển Đông. Đó là mặt trái của ASEAN khi không thể đưa ra một tiếng nói chung trước Trung Quốc. Đây là một thành công của Trung Quốc bởi đã loại bỏ được mọi cuộc đàm phán tập thể mà Bắc Kinh e ngại và mong muốn thực hiện các cuộc đàm phán song phương nơi “công xưởng của thế giới” có thể gây áp lực từ sức mạnh của-mình.

“Trụ cột” Mỹ

Hành động quyết đoán cuối cùng của Trung Quốc diễn ra vào ngày 29/6 khi Bắc Kinh thông báo thành lập thành phố Tam Sa (gồm ba quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa) – một đơn vị hành chính có chưa đến 1.000 dân. Ngay lập tức Hà Nội và Manila đã phản đối việc thành lập một đơn vị hành chính nước ngoài vi phạm EEZ của mình. Nhưng Việt Nam và Philíppin có thể làm được gì trước sự trỗi dậy của Trung Quốc? Đối với Hà Nội và Manila, câu trả lời đến tự phía bên kia của Thái Bình Dương. Trong trường hợp nguy cấp trên, Philíppin đã cố gắng thiết lập một hạm đội còn ít tin cậy trong khi hướng về phía Mỹ bằng cách viện dân Hiệp ước phòng thủ chung ký năm 1951. Đây là một cơ hội cho Oasinhtơn. Mỹ đã tích cực đáp lại người đồng minh của mình bằng cách cử các phương tiện quân sự hiện đại đến.

Tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã được đón tiếp trang trọng tại cảng Cam Ranh, nơi trước đây Hải quân Mỹ đã đồn trú trong Chiến tranh Việt Nam. Hành động xích lại gần nhau này diễn ra trong khung cảnh chiến lược mới của Mỹ là tái tập trung lợi ích vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tại Cam Ranh, Leon Panetta đã khẳng định: “Từ nay đến năm 2020, Hải quân Mỹ sẽ tái bố trí lực lượng, hiện nay ở mức 50-50 giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương thành 60-40 nghiêng về Thái Bình Dương – gồm 6 tàu sân bay cũng như đa sổ các tàu chiến và tàu ngầm”,

Vào lúc Trung Quốc phát triển một hạm đội hải quân chênh lệch với các nước ASEAN, việc tái bố trí quân sự trên của Mỹ khiến Bắc Kinh khó chịu. Không từ bỏ thái độ trung lập bề ngoài, tham dự hội nghị thượng đỉnh tại Phnôm Pênh, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi các nước ven Biển Đông “giải quyết tranh chấp không cưỡng bức, đe dọa hay sử dụng vũ lực”. Ngay cả khi không một bên nào mong muốn xung đột, mỗi nước thực hiện những bước đi riêng nhằm giành quyền kiểm soát một vài bãi đá hay dải cát có thể phá hủy quy chế nguyên trạng vốn rất mong manh. Sẽ không ngạc nhiên khi Bắc Kinh phô trương sức mạnh trên Biển Đông nhằm củng cố chính quyền trước đại hội đảng, thời điểm chính thức hóa các nhà lãnh đạo Trung Quốc mới. Tuy nhiên, một cuộc đối đầu vũ trang trên Biển Đông không phải đã được loại trừ./.

Điểm sách: Tập thể dân sự vận động qua “chế độ” ở Việt Nam và Trung Quốc – BS

11 Th10

Asia Sentinel

Điểm sách: Tập thể dân sự vận động qua “chế độ” ở Việt Nam và Trung Quốc

Tác giả: David Brown

Người dịch: Đan Thanh (*)

Khi một chính thể độc tài ra quyết định, thì tác động tới quyết định ấy thậm chí xoay chuyển chúng, dường như là chuyện không dễ thực hiện đối với các công dân bình thường. Các tổ chức dân sự kiểu phương Tây ở Việt Nam, thường được gọi là tổ chức phi chính phủ (NGO), đã luôn bị nghi ngờ là phục vụ cho ý đồ của ngoại quốc, hầu như chẳng buồn cố gắng nữa.

Trong một cuốn sách quan trọng mới ra, Tiến sĩ Andrew Wells-Dang cho rằng, đây không phải là bức tranh tổng thể. Ông đã thực hiện  nhiều nghiên cứu tiên phong ở cả Việt Nam và Trung Quốc để chứng minh rằng, người dân thường ở hai quốc gia này có thể tập hợp lại để ủng hộ một mục tiêu nào đó, có thể tham gia vận động một cách thành công trong những việc mà chính quyền hoặc là đã từ bỏ hoặc là không thể đối phó. Khác với những tổ chức kiểu phương Tây, những nhóm vận động do ông Wells-Dang nghiên cứu, không áp dụng mô hình “xã hội dân sự” của phương Tây, mà họ dựa vào các hình thức tổ chức và kỹ thuật phù hợp với xã hội của mình.

Các sự kiện như “cách mạng màu” ở châu Âu khoảng hai thập kỷ trước, Mùa xuân Ả-rập và phong trào áo đỏ năm ngoái ở Bangkok không mang lại niềm hân hoan cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) đăng ký ở Việt Nam. Khác với khối doanh nghiệp tư nhân, những phiên bản của xã hội dân sự này bị trói buộc rất chặt. Phụ thuộc vào tiền viện trợ cùng những hợp đồng với các đại sứ quán và tổ chức nước ngoài, bị nghi ngờ là có các mục đích ngầm, họ phải hoạt động trước cái nhìn đầy nghi ngờ của cơ quan an ninh quốc gia.

Cách đây vài tuần, báo Nhân Dân – cơ quan ngôn luận của đảng cầm quyền không chấp nhận đảng đối lập  – đã đăng tải một bài bài bình luận gây rúng động trong cộng đồng NGO sở tại. Tác giả của bài đó, Đại tá công an Dương Văn Cừ, đưa ra lập trường khẳng định việc kêu gọi mở rộng không gian dân sự ở Việt Nam là cách dùng bình phong che đậy mưu đồ chính biến do nước ngoài tài trợ.

Mặc dù ít được sự chú ý từ công chúng nói chung hay từ chính các đảng viên Đảng Cộng sản –đọc Nhân Dân để biết được làn gió chính trị đang thổi theo hướng nào, bài báo của ông Cừ gây căng thẳng cho vài ngàn người Việt Nam làm việc cho các NGO ở trong nước.

Rất điển hình (nhưng không phải luôn luôn) nhận được tiền tài trợ của nước ngoài, các NGO của Việt Nam chủ yếu có mục đích cải thiện cuộc sống của những nhóm xã hội nghèo đói và sống bên lề cộng đồng, hoặc hạn chế đà suy thoái môi trường. Họ hoạt động theo giấy phép do chính quyền trung ương cấp, và vô cùng cẩn thận, tránh xa khỏi các khuynh hướng chính trị đối lập. Trái ngược rõ rệt với các tổ chức xã hội dân sự ở Philippines, Thái Lan hoặc thậm chí Campuchia, các NGO của Việt Nam không bao giờ tuần hành vì bất kỳ vấn đề nào quan trọng hơn, ngoài những vấn đề chẳng hạn nhưphong trào an toàn giao thông hay các quyền của người đồng tính.

Các tổ chức tình nguyện của Việt Nam hoạt động trong tình trạng hợp pháp lấp lửng – hậu quả của quyết định năm 2008 của chính phủ, để hoàn lại những nỗ lực nhằm đạt đồng thuận về Luật Lập hội. Sự việc cho thấy, không thể nào hàn gắn khoảng cách giữa các chuyên gia phương Tây cùng những đệ tử Viêt Nam   – những người luôn khăng khăng đòi bảo đảm các quyền tự do tổ chức và tập hợp – và các thành phần bảo thủ trong chế độ.  Phe bảo thủ cho rằng, không cần phải chỉnh đốn một hệ thống đã hình thành vững chắc, một hệ thống gồm các tổ chức quần chúng mà trên lý thuyết thì đại diện cho quyền lợi của nông dân, phụ nữ, thanh niên, công nhân v.v…, còn trên thực tế thì chỉ đóng vai trò như các cơ quan thực thi vai trò giám sát của chính quyền.

Liệu điều đó có phải là sự phát triển của khu vực xã hội dân sự ở Việt Nam về bản chất là bị kìm hãm, phụ thuộc vào các mô hình và bảo hộ của nước ngoài, và gần như bị ngăn trở khỏi mọi nỗ lực nhằm tập hợp những công dân có cùng chí hướng, cùng theo đuổi một sự nghiệp nào đó trong phạm vi quốc gia hoặc địa phương? Thật đáng buồn cho các NGO được xây dựng theo mô hình phương Tây, có lẽ như thế.

Một bài phân tích mới đây về mức độ kiểm duyệt, kiểm soát Internet ở Trung Quốc – với Việt Nam, là quốc gia Lê-nin-nít duy nhất còn lại đi theo mô hình “chủ nghĩa xã hội thị trường” – cho thấy rằng, cơ quan an ninh nội địa của Bắc Kinh không phản ứng mạnh mẽ khi blogger phê phán nhà nước hay lãnh đạo. Tuy nhiên, họ phản ứng tích cực và nhanh chóng với “bất kỳ ý kiến nào thể hiện, củng cố, hoặc kích động hoạt động tập hợp xã hội ngoài sự kiểm soát của nhà nước, bất kể nội dung ý kiến đó là gì. Kiểm duyệt nhằm vào việc ngăn chặn trước mọi hoạt động tập thể đang diễn ra hoặc có thể diễn ra trong tương lai”.

Điều gì đúng với Trung Quốc thì cũng đúng với Việt Nam. Bất chấp những cuộc tranh chấp dai dẳng về quyền sở hữu vùng biển lân cận, đảng cầm quyền và cơ quan an ninh ở Việt Nam vẫn duy trì hợp tác rất chặt chẽ với các đối tác ở đất nước khổng lồ phương Bắc. Họ tìm thấy rất nhiều điểm chung khi họ dự liệu về nguy cơ các phong trào chính trị có thể nổi lên bên ngoài sự kiểm soát của chế độ.

Tuy nhiên, Andrew Wells-Dang mô tả một cách tiếp cận với chuyện quyền tập hợp vừa hiệu quả vừa ít giống các hình thức hoạt động chính trị công khai vốn rất thịnh hành ở phương Tây. Ông là một nhà hoạt động và cũng là một học giả, và là một nhà phân tích hiếm hoi, từng làm nghiên cứu ở cả hai quốc gia.

Tác phẩm của ông, Mạng lưới xã hội dân sự ở Việt Nam và Trung Quốc, tít phụ là Những người mở đường không chính thức trong lĩnh vực y tế và môi trường, được xuất bản hồi tháng 7. Cuốn sách cho thấy các công dân có thể tập hợp lại với nhau xung quanh một mục tiêu chung như thế nào và sau đó làm tất cả mọi thứ có thể được, để hỗ trợ cho mục tiêu của họ. Các trường hợp mà Wells-Dang nghiên cứu có liên quan nhiều đến vấn đề chất lượng sống: huy động để ngăn chặn việc một công viên yêu mến của người Hà Nội bị trưng thu để lấy chỗ xây một khách sạn năm sao, hỗ trợ và đại diện cho người khuyết tật, các nhóm phụ nữ bị AIDS hỗ trợ lẫn nhau, và một chiến dịch chống việc Trung Quốc xây đập trên “con sông hoang dã cuối cùng”.

Ý tưởng chính trong những câu chuyện này là những điều đã không xảy ra: Trong mỗi trường hợp đều có một số nhà hoạt động tự nguyện tìm cách đạt được các mục tiêu về chính sách công mà không gây ra phản ứng tiêu cực, từ những thành phần bảo thủ trong cơ cấu của đảng và nhà nước. Hoạt động của các nhà hoạt động này tổ chức rất lỏng lẻo; không bao giờ họ tìm cách để được công nhận chính thức. Những tình huống trong đó không mang tính cách tranh chấp với chính quyền; giới hoạt động trông cậy vào quan hệ bạn bè thời thơ ấu và thời đi học với nhau, với những cá nhân trong cơ cấu đảng và nhà nước với các phóng viên, biên tập. Rất nhiều trong số những người mà Wells-Dang phỏng vấn cũng là thành viên của các cơ chế đó (quan chức, nhà khoa học quốc doanh, các nhà báo có thẻ) và giới hoạt động.

Khác với nhiều nhà phân tích, Wells-Dang cho rằng “xã hội dân sự” là một khái niệm không thu hẹp như thường nói, mà bao gồm cả các nhà phân tích, các blogger, các nhóm tôn giáo v.v.  Theo Wells-Dang, những nhóm phi chính thức này không được “thuần hóa” họ có thể và đang tham gia vào vận động chính sách trong (hoặc bất chấp) cái khuôn khổ mà đảng và nhà nước đặt ra. Ông cũng nhấn mạnh rằng xã hội dân sự không nhất thiết phải đối lập.

Wells-Dang nhận thấy ở một môi trường bị kiểm soát chặt như Trung Hoa hay Việt Nam ngày nay, các mạng lưới phi chính thức, phi tập trung hóa, độc lập, mang tính vụ việc (ad hoc) sẽ hiệu quả hơn so với những tổ chức “cứng rắn” và lệ thuộc vào tài trợ của nước ngoài như các NGO. Kết luận có thể khác đi nếu các NGO có đủ năng lực tạo ra những khoản quỹ hoạt động đầy đủ từ các nguồn trong nước; tuy nhiên, đó là điều chưa từng được nghe cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam. Wells-Dang kết luận: “Tính hiệu quả của mạng lưới phụ thuộc vào sự hiện diện của các đồng minh có ảnh hưởng, vào sự cân bằng giữa các mối quan hệ trong và ngoài, vào sự ủng hộ của công luận, và sự lãnh đạo từ một nhóm cốt lõi có quyết tâm”. Sau đó, ông bổ sung thêm là tính hiệu quả của mạng lưới phụ thuộc cả vào các mục tiêu có giới hạn và việc không bị nhìn nhận như là nhóm gây rắc rối.

Đạt được các mục tiêu chung một cách thực tế, theo nghiên cứu của Wells-Dang, không phải là một quá trình mà ở Hà Nội hay Bắc Kinh thì khác biệt hoàn toàn với ở các thành phố phương Tây.  Tập hợp lại với nhau. Phác thảo một kế hoạch. Xúc tiến kế hoạch đó với những quan chức, đồng thời cũng là bạn. Trao đổi với các phóng viên và biên tập. Tranh thủ sự ủng hộ của những người biết các nhà hoạch định chính sách. Đừng bỏ cuộc, hãy theo sát kịch bản, tạo sự đồng thuận và tránh để bị vướng vào các sự vụ to lớn hơn và hoàn toàn không liên quan – những sự vụ đã gây nên hồi chuông báo động ở Bộ Công an.

Nghiên cứu của Wells-Dang còn quan trọng vì nó hiệu chỉnh lại kỳ vọng của chúng ta về việc thay đổi chính sách có thể đến như thế nào ở những nhà nước độc tài như Việt Nam hay Trung Quốc. Bằng việc nhấn mạnh vào hệ thống phi chính thức, tập trung thẳng vào một vấn đề mà chính quyền không thể hoặc không muốn giải quyết, ông cung cấp một góc nhìn rất hiệu quả để phân tích các hoạt động của công dân.

Lấy ví dụ như một vụ tranh cãi, tuy không được bàn đến trong sách của Wells-Dang nhưng đã xác nhận giá trị của cách tiếp cận của ông, đó là vụ Vedan. Nó xảy ra vào tháng 9 năm 2008 khi cảnh sát môi trường Việt Nam phát hiện ra một công ty Đài Loan làm bột ngọt đang xả một lượng khổng lồ chất thải công nghiệp ra một con sông gần TP.HCM. Các cuộc điều tra sau đó cho thấy rằng việc bí mật xả nước ra sông đã kéo dài cả chục năm mà chính quyền địa phương không hay biết. Sau khi khẳng định đây là vụ việc vi phạm luật chống ô nhiễm môi trường, các cơ quan chính phủ chỉ đề xuất để cho Vedan nộp tiền phạt mà thôi. Suy cho cùng, Vedan là một doanh nghiệp lớn, có quan hệ gần gũi với lãnh đạo địa phương.

Một diễn biến không điển hình là mọi sự không chấm dứt ở đây. Một số tờ báo ở TP.HCM đưa tin về việc vài nghìn gia đình nông dân nuôi trồng thủy sản bị rơi vào tình trạng sinh kế bị phá hủy một cách nhẫn tâm.  Các luật sư vào cuộc, tổ chức một chiến dịch khiếu nại quy mô lớn. Được cổ vũ thêm bởi sự hưởng ứng của công luận, quan chức Bộ [Tài nguyên] Môi trường đã bố trí để một viện nghiên cứu tiến hành đo mức tổng thiệt hại. Những người vận động cho quyền lợi người tiêu dùng đã tổ chức một chiến dịch tẩy chay sản phẩm của Vedan, chiến dịch này đã lan ra các chuỗi siêu thị trên toàn miền Nam. Thủ tướng cho biết rằng ông trông đợi một kết quả thỏa đáng. Cuối cùng vào tháng 8 năm 2010, đối mặt với sự thất bại trước tòa án và bị mang tiếng xấu khắp nơi, Vedan đầu hàng và chấp nhận đền bù cho nông dân với mức bồi thường không thể tưởng tượng nổi vào thời điểm đó.

Phân tích của Wells-Dang cũng có thể được sử dụng để hiểu về một vụ tranh cãi nổ ra từ năm 2009, xoay quanh kế hoạch cho công ty Trung Quốc khai thác bauxite ở miền Trung Việt Nam. Lại một lần nữa, một liên minh dân sự được thành lập trên cơ sở tình bạn lâu năm, mối quan hệ trong công việc, và trên cơ sở sử dụng hiệu quả một phương tiện tuyên truyền mới – các blog chính trị. Liên minh này thu hút các nhà môi trường học, quân nhân, cuối cùng là những người đối lập đang tìm cách khai thác những tranh cãi và mâu thuẫn làm xói mòn niềm tin vào chế độ. Phong trào đã không thể ngăn được dự án bauxite do sự tham gia đáng chú ý của những người bất đồng chính kiến đã tạo cho cơ quan an ninh cái cớ tốt để đàn áp.

Trong cả vụ Vedan lẫn vụ bauxite, cũng như trong cả bốn trường hợp nghiên cứu của Wells-Dang (hai ở Việt Nam, hai ở Trung Quốc), các NGO mô hình phương Tây đều không đóng vai trò gì đáng kể. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, vẫn luôn có không gian cho một liên minh xã hội dân sự, nhằm hình thành và tìm thấy điểm chung với một số thành phần của chế độ. Trong mọi trường hợp, đều có một số cá nhân xuất hiện đương đầu với khó khăn và giữ vai trò lãnh đạo thống nhất và có trách nhiệm.

Đó là một mô hình vận hành hiệu quả của xã hội dân sự mà rất có thể sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hơn ở cả Việt Nam và Trung Quốc.

——-

(*) Bài dịch do tác giả, ông David Brown và TS Andrew Wells-Dang, hiệu đính. Nội dung dựa vào bản tiếng Anh đầu tiên của tác giả.

Giả dối trong giáo dục: nhà nghiêng từ móng – TTO

11 Th10

Giả dối trong giáo dục: nhà nghiêng từ móng

TTO – Tham gia diễn đàn “Nói không với giả dối”, nhiều bạn đọc nhấn mạnh giả dối ngay trong giáo dục – lĩnh vực góp phần xây dựng nhân cách con người – là khía cạnh quan trọng nhất và cần quan tâm nhất.

Đặc biệt, sau khi đọc ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy, nhiều bạn đọc lo lắng là những người từng nói dối trong giáo dục lại trở thành những nhân tố trong ngành giáo dục thì thói giả dối sẽ rất có thể tăng theo cấp số nhân.

Tuổi Trẻ Online tiếp tục giới thiệu các ý kiến vừa tham gia diễn đàn. 

Ảnh chụp từ clip quay cảnh quay cóp của thí sinh tại phòng thi số 8 ở Trường THPT Đồi Ngô (Bắc Giang) trong buổi thi môn toán được tung lên mạng vào đầu tháng 6-2012. Sự kiện này gây bức xúc dư luận một thời gian – Ảnh: chụp từ clip 

 

Cô đơn bởi trung thực còn hơn bơi trong thế giới giả dối

Không phủ nhận trong cuộc sống đôi lúc cũng cần nói dối. Nhưng có thể khẳng định nói dối là một tính xấu, đáng chê trách, lên án.

Nói dối sinh ra rắc rối, gây khó chịu, hoang mang cho người khác. Nói dối làm giảm giá trị bản thân, mất lòng tin với mọi người. Đáng sợ nhất là khi nói dối trở thành thói quen, nếp nghĩ của ai đó, nhất là với những người có quyền, có trách nhiệm, có tầm ảnh hưởng trong cộng đồng.

Tôi thường nghe mãi những lời chắc nịch của ai đó “sẽ xử lý tới nơi tới chốn, rõ ràng, công khai, dứt khoát… dù ở cấp bậc nào”. Tiếc rằng nhiều lời chắc nịch đó là những lời nói dối. Tôi từng nghe nhiều lời hứa từ các cơ sở giáo dục, đào tạo như sẽ có việc làm ngay khi học viên tốt nghiệp; sẽ giúp tìm việc thích hợp, giúp đào tạo nâng cao… Đa số là những lời có cánh bởi những lời hứa đó chỉ thành hiện thực khi bạn phải “chấp nhận hợp tác mọi mặt”. Vậy mà trước đó có ai “ngỏ lời” thế đâu? Tôi cũng từng bị “đem con bỏ chợ” như thế.

Trong thực tế, gian dối vẫn còn là mảnh đất màu mỡ cho nhiều người bám víu, leo trèo… Nó vẫn sống được, sống khỏe vì lắm người chấp nhận nó, xem nó như phương thuốc, như nấc thang mang đến sự thăng tiến trên đường đời. Khi giả dối được “bình thường hóa” nhiều nơi, nhiều chốn thì thẳng thắn, trung thực khó mà tìm chốn dung thân.

Tôi ghét giả dối, gian xảo, thích sống thẳng thắn, trung thực, luôn tôn trọng chữ tín. Có lẽ vì vậy mà tôi không có nhiều bạn. Tôi mặc kệ bởi trong chuyện bạn bè, tôi cần “chất lượng” hơn số lượng. Thà sống cô đơn với sự trung thực còn hơn bơi trong thế giới giả dối. Với quan điểm đó, tôi vẫn thành đạt trong cuộc sống, là niềm tin của gia đình, được nhiều người nhìn bằng ánh mắt trân trọng và có cả những ánh mắt “chê bai trong nể phục” của nhóm người giả dối.

TRIỆU NGỌC DIỆP

Thói giả dối tăng theo cấp số nhân

Sự phát triển của con người là kết quả của sự giáo dục từ mọi người xung quanh như cha mẹ, thầy cô, cộng đồng dân cư cùng chung sống. Nếu con người ấy có cha mẹ giả dối, hàng xóm láng giềng giả dối, thầy cô bạn bè giả dối, đồng nghiệp giả dối, cấp trên giả dối… thì con người ấy dễ trở nên giả dối hơn là người chân thật.

Có mấy ai ý thức rằng mình cần phải sống trung thực để “giáo dục” mọi người quanh mình cũng trung thực như mình? Có câu “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Vậy sao lại nảy nòi cái thói giả dối đáng ghét kia? Ngày con tôi còn đi nhà trẻ, tôi được biết rằng ở nơi ấy đồ chơi dành cho các cháu chỉ để trưng bày, chăn chiếu gối đẹp chỉ được dùng khi có người đến kiểm tra…

Một cháu nhỏ học lớp 1, một hôm tan học về khoe với mẹ: “Con biết làm thế nào để được 10 điểm toán rồi mẹ ạ!”. Mẹ hỏi: “Con làm sao?”. “Chỉ cần đợi bạn ngồi cạnh làm xong rồi chép nhanh đem nộp cho cô là khỏe nhất! Cô cũng có dặn các bạn phải giúp bạn ngồi cạnh vậy đó mẹ à!”. Cứ như thế cho đến khi người “bị giáo dục để giả dối” trở thành những nhân tố trong ngành giáo dục thì thói giả dối sẽ tăng chóng mặt theo cấp số nhân.

NGUYEN THONG

Gian dối bị phát hiện chỉ còn nước độn thổ

Nguyễn Công Trứ từng nói một câu bất hủ với đại ý rằng: làm quan chẳng lấy đó làm vinh, làm lính chẳng lấy đó là nhục, tức là ở cương vị nào làm tròn trách nhiệm ở cương vị đó. Những người mua bằng tiến sĩ, thạc sĩ để trở thành người có học vị, để đánh bóng tên tuổi mình, để thăng quan tiến chức nhưng sở học chẳng tương xứng thì khi bị phát hiện chỉ còn nước độn thổ vì xấu hổ.

LÊ VĂN NHUNG

Trẻ con còn biết giá của thật thà

Tôi có đứa cháu họ năm nay 5 tuổi, học lớp lá trường mẫu giáo của địa phương. Một hôm đi học về, cháu nói với mẹ rằng cháu đã nhìn thấy lúc chia cơm cho học sinh buổi trưa, cô giáo cắt cho mỗi cháu một nửa quả trứng. Số còn lại cô giáo bỏ vào một cái hộp. Cháu còn khẳng định cháu biết cả nơi cô giấu chiếc hộp. Cháu nói thêm rằng cả món canh cô cũng cất bớt.

Nghe chuyện mẹ cháu mới bảo ngày mai mẹ sẽ báo với cô hiệu trưởng. Ngay lập tức cháu liền ngăn mẹ không được báo, cháu nói nếu báo cáo thì cháu sẽ bị cô giáo “đì”. Bé như cháu còn biết cái “đạo lý” nói trên thì người lớn như chúng ta nói thật để làm gì?

MAI DANH THUẬN 

 

Mời bạn đọc tham gia diễn đàn này dưới dạng các bài phản ảnh, bình luận, phân tích… Bài vở gửi về địa chỉ báo Tuổi Trẻ – 60A Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, TP.HCM hoặc email toasoan@tuoitre.com.vn hoặc trong phần Ý kiến bạn đọc dưới đây. Cảm ơn.

 

 

Các bài đã đăng trong diễn đàn:

Nói dối không còn lòi đuôi I Giả dối làm xã hội suy vi I “Một lần bất tín, vạn lần bất tin” I Giả dối: bệnh đã di căn I Thẳng thắn, thật thà là ngốc! IThật thà, thẳng thắn = thua thiệt, thất thế? I Làm khoa học cũng phải nói dối I Chập chững vào đời đã nghe nói dối I Nói dối quen đến nỗi tưởng mình đang nói thật! I “Virút” thành tích, hình thức gây bệnh giả dối

Căng thẳng Trung – Nhật: “Nếu chiến tranh sẽ không ai chiến thắng” – TT

11 Th10

Căng thẳng Trung – Nhật:

“Nếu chiến tranh sẽ không ai chiến thắng”

TT – LTS: Cuối tháng 9-2012, sau những cuộc biểu tình bạo lực chống Nhật ở Trung Quốc, hơn 80 trí thức Trung Quốc đã ký tên kêu gọi đối thoại giữa hai nước.

>> Xem toàn bộ hồ sơ tranh chấp Nhật – Trung tại Senkaku/Điếu Ngư

Một người biểu tình Trung Quốc đạp cửa một quán rượu của Nhật ở Thâm Quyến hồi tháng 9 – Ảnh: Reuters

Nội dung lời kêu gọi này đến nay vẫn được giữ kín. Mới đây, nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa đã gửi thư cho nhà văn Nhật Haruki Murakami. Nội dung thư mang những suy nghĩ và lo âu được đăng trên báo New York Times. Xin trích giới thiệu cùng bạn đọc.

 

“Nó như thứ rượu rẻ tiền. Sau vài chén, nó làm bạn say và trở nên kích động. Nó khiến bạn ăn to nói lớn và hành động thô lỗ. Nhưng sau cơn say điên loạn, bạn sẽ chẳng có được gì ngoài cơn đau đầu khủng khiếp vào sáng hôm sau”

Nhà văn HARUKI MURAKAMI nói về chủ nghĩa dân tộc cực đoan

“… Tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để theo dõi thời sự và lo âu khi phân tích mỗi diễn biến xảy đến. Tôi cứ tự hỏi: Điều gì đã biến tranh chấp đảo thành quả cầu lửa? Ai có thể dập lửa? Ai có thể khiến các chính trị gia cùng ngồi xuống nhấp ly trà đá và cùng đối thoại bình tĩnh, lịch sự? Đâu rồi những tiếng nói của lý trí? 

Tôi đã thật sự xúc động khi đọc lời cảnh báo gần đây của Murakami về những nguy cơ bùng phát của chủ nghĩa dân tộc (cực đoan). “Nó tạo ra một tình huống nguy hiểm không có lối thoát” – như Murakami đã viết trong một xã luận trên báo Asahi hay “Nó như một thứ rượu rẻ tiền” – như ông viết gần đây.

Sự ngưỡng mộ lâu nay của tôi đối với những nhà văn Nhật đã vượt quá những thành tựu văn học của họ. “Sau vài chén, nó làm bạn say và trở nên kích động. Nó khiến bạn ăn to nói lớn và hành động thô lỗ. Nhưng sau cơn say điên loạn, bạn sẽ chẳng có được gì ngoài cơn đau đầu khủng khiếp vào sáng hôm sau”.

Đối diện với những tranh cãi nảy lửa giữa Trung Quốc và Nhật Bản, các nhà văn Nhật đã đi đầu trong việc đem đến một chút lý trí cho cuộc tranh luận. Trước thái độ nhân văn và sự dũng cảm của họ, tôi cảm thấy xấu hổ cho sự chậm phản ứng của mình với tư cách là một nhà văn Trung Quốc.

“Với tư cách là một nhà văn châu Á và Nhật Bản – Murakami viết – tôi sợ rằng những thành tựu ổn định mà chúng ta đã tạo được (trong việc tăng cường trao đổi văn hóa và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước láng giềng châu Á) sẽ bị hủy hoại nặng nề bởi những sự kiện gần đây”.

Tôi thấu hiểu sự lo âu của Murakami. Trong mọi lúc, các trao đổi văn hóa và văn học luôn là những nạn nhân đầu tiên mỗi khi xung đột biên giới nổ ra. Tôi đau đớn mỗi khi nhìn thấy văn hóa và văn học bị đối xử như những chiếc lồng đèn được treo lên trang trọng, lộng lẫy vào những ngày lễ hội, rồi bị vứt bỏ khi những ngày nhộn nhịp ấy qua đi. Suốt những đêm qua, tôi không ngừng cầu mong không còn thêm súng đạn và tiếng trống trận nữa! Chiến tranh là thảm khốc. Mãi đến nay, những vụ đổ máu do cuộc xung đột Trung – Nhật trong Thế chiến thứ hai vẫn mãi còn khắc ghi trong ký ức tập thể của chúng tôi.

“Chúng ta hết thảy đều là những con người” – Murakami đã tuyên bố như thế trong diễn văn đọc tại lễ nhận giải thưởng Jerusalem do Israel trao tặng vào năm 2009. “Chúng ta đều như những quả trứng dễ vỡ trước bức tường vững chắc”.

Tôi chia sẻ với ông. Không một người bình thường nào có thể chiến thắng. Cái chết là định mệnh duy nhất của chúng ta. Đối mặt với chiến tranh, chúng ta hết thảy đều như những quả trứng mong manh. Nếu như có thêm nhiều những trí thức Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cùng dấn thân để nói lên tiếng nói của lý trí thay vì gieo rắc hận thù và hùa theo cơn giận dữ bùng nổ, hay thờ ơ đứng nhìn thì có lẽ chúng ta đã có thể giảm nhiệt căng thẳng và đem lại nhiều ly trà đá hơn cho những con người đang bị đốt nóng bởi tranh chấp.

Với tư cách là một nhà văn Trung Quốc, tôi cảm thấy xấu hổ về những người Trung Quốc tham gia đập phá trong những cuộc biểu tình vừa qua, cùng lúc lại cảm thông với sự bất lực và những thất vọng mà họ không thể diễn đạt được. Nhiều người ở đây sống trong sự lo âu mỗi ngày về những lý do mà chính họ cũng chẳng hiểu vì sao. Họ luôn chờ đợi một kẽ hở để xả sự thất vọng.

Tôi biết rằng ở bất kỳ nước nào, nếu tiếng nói lý trí không được lắng nghe, tai họa sẽ giáng xuống bất cứ lúc nào và chính những con người bình thường sẽ phải hứng chịu”.

VIỆT PHƯƠNG

Xin đừng “đánh trống bỏ dùi”! – TVN

11 Th10

Xin đừng “đánh trống bỏ dùi”!

Tác giả: Hồ Anh Hải
 

Tổ chức cho nhân dân tham gia góp ý, chấn chỉnh Đảng như thế nào là việc không đơn giản, cần có nghiên cứu trước và nên đưa ra công luận bàn thảo, kẻo không lại đánh trống bỏ dùi.

Quyền lực là mảnh đất màu mỡ…

Nhiều năm qua, tham nhũng trở thành quốc nạn làm khổ dân ta và kìm hãm tốc độ phát triển đất nước, nhưng xã hội ta chưa ngăn chặn được. Đầu năm nay, Hội nghị Trung ương IV khóa XI đã công khai vạch ra sự thật :

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc….

Rõ ràng, chừng nào đội ngũ tiên phong của dân tộc, lực lượng lãnh đạo đất nước mà còn như vậy thì dĩ nhiên chưa thể chống được tham nhũng. Vì thế người dân đồng cảm và ủng hộ công cuộc chỉnh đốn Đảng do Trung ương Đảng khóa XI khởi xướng và kiên quyết thực thi cho dù hết sức khó khăn.

Nhà khoa học nổi tiếng đương đại Stephen Hawking nói: Mã di truyền của loài người chúng ta “có chứa các bản năng ích kỷ và xâm lấn“(our genetic code “carries selfish and aggressive instincts”). Nghĩa là chúng ta đều có bản tính trời cho là tham lam, ích kỷ.

Tham là động lực thúc đẩy con người vươn lên giành lấy phần hơn trong cuộc đấu tranh vì sự sống còn của mình. Nó chỉ xấu khi làm hại tới quyền lợi của người khác, của tập thể, của cộng đồng. Tham nhũng là “sự lạm dụng quyền lực để mưu lợi riêng”, rất có hại cho lợi ích của nhân dân,  thuộc dạng tham cần được tuyệt đối loại trừ.

Nhưng trong thực tế rất khó ngăn chặn được tham nhũng, bởi lẽ người có quyền lực thì mới tham nhũng. Và cũng do nắm quyền lực nên con người ta có điều kiện che giấu tội trạng. Bạc Hy Lai chức vụ cao tới Ủy viên Bộ Chính trị Đảng CS Trung Quốc, mặc dù Bộ Chính trị năm nào cũng nghiêm túc kiểm điểm, xem xét kỹ tư cách từng người, thế mà cuối cùng bất ngờ họ Bạc bị lộ ra là kẻ tham nhũng đã mấy chục năm nay; tội nặng tới mức bị khai trừ Đảng và đưa ra tòa.

Cho nên chống tham nhũng phải tiến hành trong giới có chức quyền, tức trong Đảng, vì cán bộ ta đều là đảng viên.

Tổng kết lịch sử của tất cả các loại quyền lực trên thế giới, sử gia người Anh John Emerich Acton (1834-1902) rút ra một kết luận bất hủ : Quyền lực thì có xu hướng suy đồi và quyền lực tuyệt đối thì suy đồi tuyệt đối [Power tends to corrupt and absolut power corrupts absolutely].

Vì thế để hạn chế suy thoái, ngăn ngừa “một bộ phận không nhỏ” tha hóa, biến chất, cần tránh tập trung quyền lực, cần có biện pháp phân quyền, thiết lập cơ chế kiểm tra giám sát từ bên ngoài đối với bộ máy quyền lực.

Ảnh minh họa

Những bài học xót đau

Cần có cơ chế kiểm tra ngăn chặn chế ước lẫn nhau bên trong bộ máy quyền lực. Và nhất là phải thực sự xây dựng được một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, như Điều 2 Hiến pháp 2001 nước CHXHCN Việt Nam đã quy định.

Lịch sử cho thấy chưa một bộ máy quyền lực chính trị nào tránh được nguy cơ tha hóa nếu không thiết kế sẵn một cơ chế ngăn chặn nguy cơ đó. Quyền lực của nhà nước XHCN Liên Xô suy đồi và tự tan rã chỉ sau hơn 70 năm tồn tại là thí dụ cụ thể. Cho dù nhà nước này có chế độ XHCN tiên tiến nhất thời đại.

Và thực tế họ đã tạo dựng được một bộ máy quyền lực hết sức hoàn chỉnh, giàu kinh nghiệm từng trải và đứng vững sau nhiều thử thách ác liệt, mạnh nhất nhì thế giới về mọi mặt kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định: Sự tan rã của Liên Xô là do nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân rất cơ bản chính là vì Đảng CS lúc đó đã suy thoái, biến chất do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi.

Một số người lãnh đạo cấp cao của Đảng rơi vào chủ nghĩa xét lại, cơ hội hữu khuynh, mắc sai lầm về đường lối, thậm chí phản bội lại lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đảng đông (21 triệu đảng viên) nhưng không mạnh, mất sức chiến đấu nên khi tình hình xấu xảy ra đã tan rã.

Có thể nói, đây là bài học vô cùng sâu sắc và đắt giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần phải thấm thía, luôn luôn khắc sâu, ghi nhớ, đừng để đi vào “vết xe đổ” đau xót đó.

Rốt cuộc do dân không được thực sự làm chủ, bộ máy quyền lực của Đảng và nhà nước không được giám sát từ bên ngoài, bộ máy ấy tự suy thoái biến chất trượt dài… Chúng ta cũng cần thấy rõ bài học này của một quốc gia lớn, ngăn ngừa mọi hậu họa từ sự quan liêu, xa rời dân và xa rời thực tiễn.

Đây là một nhận định khách quan của một người lãnh đạo cao cấp.

Có một sự thật là chính quyền dân chủ tư sản ở nhiều nước tuy cũng có xu hướng suy đồi nhưng lại không sụp đổ. Thí dụ như ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha… Nguyên nhân chủ yếu là do các thể chế đó đều thiết kế sẵn cơ chế thường trực tự giám sát lẫn nhau,  ngăn chặn sự suy đồi của quyền lực phát triển tới mức nguy hiểm.

Đảng Cộng sản Liên Xô không có cơ chế tự thân thường trực giám sát, chế ước các hoạt động của bộ máy quyền lực Đảng và Nhà nước. Trong điều kiện ấy, lẽ ra Đảng cần tự tạo dựng một cơ chế giám sát do quần chúng nhân dân thực thi.

Nhờ thế mọi biểu hiện tham nhũng, suy thoái của bộ máy quyền lực nhà nước đều sớm bị phát hiện và ngăn chặn.

Rốt cuộc do dân không được thực sự làm chủ, bộ máy quyền lực của Đảng và nhà nước không được giám sát từ bên ngoài, bộ máy ấy tự suy thoái biến chất trượt dài… Chúng ta cũng cần thấy rõ bài học này của một quốc gia lớn, ngăn ngừa mọi hậu họa từ sự quan liêu, xa rời dân và xa rời thực tiễn.

Xin đừng “đánh trống bỏ dùi”

Đảng ta cần tổ chức để nhân dân tham gia công cuộc chấn chỉnh Đảng, góp ý rộng rãi vào việc phê bình và tự phê của đảng viên và cấp ủy.

Nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đình Hương nói: Trong cuộc đời tôi làm công tác ở Ban Tổ chức Trung ương nửa thế kỷ, ít ai tự nhận lỗi của mình, khó lắm. Rất nhiều vụ đổ vỡ thì mới bị phanh phui ra, chứ ai tự nhận lỗi đâu.

Ông đề nghị : Chúng ta phải phát động một cuộc vận động toàn Đảng toàn dân tham gia chỉnh đốn Đảng. Người dân sẽ chỉ cho cho Đảng những con sâu con mọt bằng nhiều hình thức, nhiều kênh. Khi phát động cuộc vận động thì người dân sẽ có ý thức giám sát Đảng.

Có ý kiến cho rằng nếu thực hiện không tốt phê bình và tự phê thì có thể có hai khả năng xấu: Hoặc là làm qua loa chiếu lệ, rốt cuộc không tìm ra đâu là “một bộ phận không nhỏ những con sâu” để loại ra khỏi “nồi canh”; hoặc là gây mất đoàn kết nội bộ.

Khả năng đầu tiên có lẽ nhiều hơn, như một số người đã nói. Nhưng nếu để nhân dân tham gia góp ý kiến cho đảng viên và cấp ủy thì sẽ có thể tránh được cả hai khả năng này.

Dĩ nhiên, tổ chức cho nhân dân tham gia góp ý, chấn chỉnh Đảng như thế nào là việc không đơn giản, cần có nghiên cứu trước và nên đưa ra công luận bàn thảo, kẻo không lại đánh trống bỏ dùi.

Chống tham nhũng và chỉnh đốn Đảng là sự kiện chính trị quan trọng nhất, lớn nhất hiện nay. Nhưng thật lạ, các cơ quan truyền thông lại nói rất ít về sự kiện này. Các báo điện tử hàng ngày đầy rẫy những tin, ảnh về các vụ xì-căng-đan, trộm cướp, ngoại tình, chuyện sex, nhưng hầu như chẳng thấy ai nói viết gì về sự kiện quan trọng hơn nghìn lần, là chống tham nhũng và chỉnh đốn Đảng.

Nên chăng các báo đài đều nên mở chuyên mục “Chỉnh đốn Đảng” và “Chống tham nhũng”, thu hút người dân quan tâm và tham gia vào “cuộc chiến” cực kỳ hệ trọng, liên quan tới vận mệnh chế độ và vô cùng cam go này.

 

%d bloggers like this: