Lưu trữ | 12:11 Chiều

Ngắn nhất, súc tích nhất, thơ mười bốn chữ – VHNA

12 Th10

Ngắn nhất, súc tích nhất, thơ mười bốn chữ

Thi Vũ

 Thơ ngắn trong thế giới là những bài thơ thất ngôn tứ tuyệt của Trung hoa, 28 chữ. Ngắn hơn nữa là ngũ ngôn tứ tuyệt 20 chữ. Ngắn nhất và được công nhận cho tới nay, là thể Haiku ở Nhật : 17 chữ.
Ít ai ngờ rằng thể thơ ngắn nhất trong thế giới là thơ Việt Nam : 14 chữ. Thể thơ lục bát. Kho tàng ca dao, với những người làm thơ vô danh nơi thôn dã bình dân, khi bắt chớp tứ thơ, ghi chụp hình ảnh, tung mở tư duy, họ thể hiện ngắn gọn, sinh động và tràn đầy qua dòng thơ lục bát 14 chữ. Mà thôi.

Con người bước vào cuộc nhân sinh bằng bằng một hơi thở chứa ngầm thi tính. Mỗi ngày chúng ta thở 21.000 lần. Nhưng lần thứ nhất, lần đầu khi sinh ra, hơi thở đầu dẫn dắt sự sống ra đi. Mỗi hơi thở là một câu lục bát. Những câu ca dao hay nhất, hàm ý nhất còn lại nơi trí nhớ gợi nhắc trong ta, bao giờ cũng chỉ hai câu 14 chữ. Phải không ?
Chỉ khi nào cần kể chuyện, cần trình bày một tình tự, một ước mơ hay phê phán, người làm thơ mới vượt ra ngoài sự sống — là hơi thở — kéo dài thành nhiều hơi thở liên tục kể chuyện đời, chuyện nước non, tình tự như một trường ca. Truyện Kiều là chứng cớ thiên tài sự phát triển ấy.
Đồng mà dị. Trong cái giống có cái khác. Thơ 14 chữ bộc lộ sự sống, cách sống, thế sống. Nhuần trọn một hơi thở. Ở đó biên cương sinh tử được khép kín. Khi 14 chữ ấy dùng vần làm sợi dây chuyền kéo dài thành một đoạn nhiều câu thơ, hay truyện thơ, thơ trở thành sự kể lể, nói năng. Sự thế hiện đổi ra cuộc trình bày. So sánh trên, không cốt đánh giá cái nào hay hay dở, mà chỉ phân tích hai thế đứng của thơ.
Vào các thời đại an bình, lúc lòng người tự tại, tinh thần minh mẫn sảng khoái, thơ thường ngắn và cô đúc. Tình nồng nhưng đã nén, không cho nổ trên câu, mà để mỗi chữ nổ tung giữa lòng người đọc. Khí mạnh đã được dằn, không ồn náo trên lời viết, vẫn khiến người đọc thấy lòng hồn nhiên phơi phới. Đó là chất vàng ròng trong thơ. Hai chiều sâu và rộng đứng xuống thơ, như đôi chân chim mảnh mai viết xuống cát phẳng những tín hiệu giải tích hư vô. Gặp thời loạn ly, thơ thường nhiều và dài. Con người cần bộc lộ những cay đắng, tủi hờn. Họ biện minh. Họ chinh phục. Người làm thơ rời xa con tim ưu ái xuống hạ lưu biến động của mười ngón tay. Viên than hồng vô ngôn đã tro bạt thành đống chữ lạnh lùng.
Xem thơ biết người. Nhìn người biết thời đại. Sự tác dụng qua lại ảnh hưởng nhau mà thay đổi, chuyển hóa. Cõi loạn tưởng và nỗi điêu linh kia, biết đâu không nhờ cái trầm tĩnh, minh khiết và phiêu nhiên của các nhà thơ mà thanh hóa, để sửa dọn lại cõi nhân sinh ?
Sao ta không thử tìm về nguồn lục bát 14 chữ khơi dòng nhỉ ? Gạn bớt những ồn kênh, cho đáy lòng thức dậy tiếng nguyên đầu. Mỗi hơi thở tự nó chưa nói hết khúc nôi của đời và thế giới, như một bài thơ dài. Song lạ thay, dường như hơi thở đó ngang nhiên hà động suốt tử sinh. Như ánh đèn nhỏ, bước đi tửng bước nơi vũ trụ không mặt trời. Ánh sáng chẳng là ngọn đèn pha nghìn lực chọc thủng màn đêm. Nhưng không gian đều được thắp sáng theo từng bước tràn tới suốt dãy hư vô tịch mịch.
Đó là ý nghĩ thời tôi sáng tác tập thơ Rằm năm 1973 ở Andalusia bên Tây Ban Nha.
Xin chọn đôi bài từ 108 bài trong tập thơ “Rằm” để nói lên cung cách ấy làm quà với kẻ tri âm.
 
THƯỢNG DU
Mẹ đi
ngựa gõ
đèo cao
Con nằm bụng mẹ
núi nhào
bồng theo.
 
LỮ HÀNH
Em đi
dòng tóc chảy nhanh
Một vườn sương
khóc
lá chanh thơm hoài.
 
CHIM
Chuông khuya
từng giọt
gieo sương
Chim sa nhịp hót
nghe mường tượng
Kinh.
 
NƯỚC
Con chim
hót
một tràng sông
Nụ cười bản trạch
thơm nồng
cõi xa.
 
HERRADURA
Sao em móng phượng
để dài
khiến ta đi khuất
còn sai
mộng về.
 
NI CÔ
Em về
phơi áo trên cồn
Qua đêm
trăng cháy
một hồn anh sông.
 
QUÊN LỜI
Người về cồn nhỏ
chăn sao
Muôn trùng chiếu lạnh
tuôn trào vũng trăng.
 
XUÂN
Mùa xuân
ngồi nắn xương rồng
Một tay
điểm nhãn
một bồng
xuân sau.
 
ANGKOR
Chân sen
vọng
suốt đá ong
Múa bay
cười nụ
rừng chong lá
nhìn.
 
TÀU LỬA
Con tàu
chở
những sân ga
Song song đuổi bướm
chạy sà vào sương.
 
LINH MỤ
Bao năm
máu suối
bom rừng
Tiếng chuông Linh Mụ
rửa từng
vết thương.
 
KIM LUÔNG
Chiều chiều
gàu nước múc lên
Đợi em
bên giếng
rửa chân
bụi ngày.
 
BERLIN
Xây nhà
xây phố
xây đền
Một hôm chỗi dậy
nghe rên
trường thành.
 
THƯƠNG CON
Thương con
trời đất vô cùng
Một mai
khuất núi
bao dung ai người ?
 
QUÊ CŨ
Vì ai
hay bởi vì cha
Con ba tuổi lớn
đứng phà
đợi sông.
 
XIN NGỪNG
Tay bưng dĩa muối
chấm gừng
Ba mươi năm
hận
thôi ngừng
trò chơi.
 
ỦA
Soi mình giọt lệ
nửa đêm
Rung rinh hoa nở
đầu thềm
chim kêu.
 
GIÀU
Tinh sương
thức gọi sắc màu
Người buôn chiến trận
Ta giàu chim ca.
 
(trích tập thơ “Rằm” chưa xuất bản)

Nguồn: gio-o.com

Một nếp tư duy đơn sơ, tùy tiện – vuongtrinhan

12 Th10

Một nếp tư duy đơn sơ, tùy tiện

 
Trích từ chuyên mục
 Người xưa cảnh tỉnh
đã in trên Thể thao và văn hóa 2005-2007
Các đầu đề nhỏ và chú thích là của người biên soạn
 

 Kém óc khoa học

 Trong đám trí thức chúng ta đã có nhiều kẻ tự nhận mà tuyên bố lên rằng người Việt Nam thiếu óc phê bình, không có óc khoa học. Rồi coi ai cũng thim thíp chịu cả, ai cũng làm thinh, không cãi lại.
   Phải, chịu chứ còn cãi sao được!
   Các sách Nho ta thường học mở ra thấy đầy những chữ như là tam tài, tam quang, ngũ luân, ngũ hành (1) …còn bao nhiêu nữa không kể hết — mới nghe như là rành về óc phân loại lắm, mà kỳ thực nào có phải.
    Những chữ số mục trên một danh từ ấy, chẳng qua bởi người ta thấy cái gì được đến đâu thì kể đến đó, chứ chẳng phải có chủ ý làm một sự phân tích cho hợp với lẽ đương nhiên.
   Trong lúc nền học thuật nước ta bắt đầu độc lập, tôi thấy như ai nấy có khuynh hướng về văn học hơn khoa học.
   Ấy là cái hiện tượng đáng cho chúng ta không lấy làm mãn ý. Có người đã ví văn học và khoa học như hai cánh chim, chích (2) một không bay nổi.
   Chuyên chuộng văn học thì lâu ngày nó sẽ thành ra vô thực dụng, cái gương Hán học hồi trước vẫn còn treo mãi cho chúng ta.
<!–[if !supportLists]–>(1)    <!–[endif]–>tam tài: trời, đất, người; tam quang: mặt trời, mặt trăng, sao; ngũ luân: năm mối quan hệ là vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè; ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ
<!–[if !supportLists]–>(2)    <!–[endif]–> Đại nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích chích có nghĩa là lệch nghiêng; chích cánh là gãy cánh, còn có một cánh, cũng là lẻ đôi, chích bạn
 Phan Khôi
 Người Việt Nam và óc khoa học, Tao đàn, 1939
Óc tồn cổ
    Trong làng, hễ động mưu công cuộc gì thoát ra ngoài lề lối tục lệ trong làng  người ta đều  bị coi  như những sự quái gở, những tội ác đáng phạt.
    Khi óc tồn cổ tha hồ còn hoành hành thì bao nhiêu  sáng kiến đều bị dìm dập. 
Hoàng Đạo
Bùn lầy nước đọng,1939                                                                                                                          
Quá vụ thực trong tư duy 
     Coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì, mà trước sau gọi là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần tuý như ở các nước văn minh khác, đó cũng là một khuyết điểm trong văn hoá của ta vậy.
                                                                                                                        Phạm Quỳnh
                                                                                                 Thư gửi bạn,1919
Điều hòa với nghĩa … chắp vá bừa bãi
  Điều hòa là một thói quen của người nước ta.
   Người mình hễ ró ra (1) đâu là điều hòa đó, cái trên trời, cái dưới đất cũng điều hòa phứt đi được.
   Rượu thì pha rượu trắng với rượu chát; đầu thì đùm tóc sùm sùm mà đội mũ; hết “Tây Nam đắc bằng”  thì “Pháp Việt đề huề “ (2); tu thì tu tam giáo; nực cười nhứt là đạo Cao Đài “nảy” kia thờ cả năm ông giáo chủ là Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Gia Tô, và Mô-ha-mét !
   Phải,  việc dễ nhất trong thiên hạ là chỉ có điều hòa, điều hòa thì vô sự mà !
    Sau cuộc chiến tranh 1914-18 ở bên Tây có một số người hoảng hốt mà kêu lên rằng văn minh Âu châu đã đến ngày phá sản. Rồi ở Đông phương cũng có một số người ó lên mà bài kích văn minh Âu châu. Thuyết điều hòa có, một phần bởi lời đồn huyễn văn minh phá sản. Thật là sợ hoảng, đúng như tục ngữ nói “Chưa giàu đã lo ăn cướp”.
(1 )hiện ra, lấy ra ( chữ  được ghi trong Đại nam quốc âm tự vị  của Huỳnh Tịnh Của )
(2) Tên một tác phẩm của Hoàng Cao Khải và một luận thuyết mà Phan Bội Châu thường được coi là bị xúi giục, đã trình bày trong một bài tiểu luận trước 1925.  Theo tôi nhớ bài tiểu luạn này có tên là  Dư thập niên lai cửu trì chi chủ nghĩa.
Phan Khôi
Bác cái thuyết tân cựu điều hòa, Đông Pháp thời báo, 1928
Áp đặt chuyên chế
mọi nơi mọi chỗ
   Chẳng những vua quan chuyên chế, họ lại còn kéo cả kẻ làm cha kẻ làm chồng vào cái cạm độc ác ấy nữa. Ôi hủ nho! Cũng vì mấy câu tà thuyết của các người mà luân lý gia đình nước ta truỵ lạc đến thế này!
   Cha mẹ coi con như của, muốn thế nào thì buộc con phải thế; không muốn đi xa, cũng không muốn cho con đi xa; luồn cúi cửa ông lớn này ông lớn nọ thì cũng bắt con như thế.
   Ấy là tôi nói mấy nhà giàu, còn như nhà nghèo dạy con thì tát thì chửi thì đánh không biết rằng làm như thế là nuôi cho con  một cái tính phục tùng nô lệ.
    Khi còn ở trong gia đình thở cái không khí chuyên chế của gia đình, khi đến trường học thở cái không khí chuyên chế trong trường học, thì làm sao khi bước ra ngoài xã hội  khỏi quen tính nô lệ chịu luồn cúi người?
    Cái tính nô lệ của người mình ngày nay chính là mang từ trong gia đình chuyên chế ra vậy.
                                                                                                                    Phan Châu Trinh
                                                                                     Đạo đức và luân lý Đông Tây, 1925       
Gọt chân cho vừa giày
       Vô luận là vấn đề gì, về quốc kế hay dân sinh cũng như về luân lý hay triết lý, kẻ sĩ nước ta đều thấy các thánh hiền Trung quốc giải quyết sẵn cho mình rồi, cái công phu của mình chỉ là thuật lại để thực hành cho xứng đáng chứ không cần phải sửa chữa thêm bớt chút gì.
     Trái lại cái gì của Trung quốc có vẻ vĩ đại hay cao siêu quá, thì chúng ta lại phải hãm lại cô lại cho vừa với kích thước khuôn khổ của chúng ta. Bởi thế chính trong thời kỳ toàn thịnh của nho học nước ta, người ta thấy có những nhà nho kinh luân như Tô Hiến Thành, nhà nho anh hùng như Trần Quốc Tuấn, nhà nho cao khiết như Chu An, nhà nho khẳng khái như Nguyễn Trãi, mà tuyệt nhiên vẫn không thấy một nhà nhà tư tưởng một nhà triết học nào. Chúng ta chỉ có những nhà nho lao tâm khổ tứ để bắt chước thánh hiền mà cư xử và hành động cho hợp với đạo lý chứ không có nhà nho nào dám hoài nghi bất mãn với đạo lý xưa mà băn khoăn khao khát đi tìm đạo lý mới.
 Đào Duy Anh
                                                                                                 Việt Nam văn hoá sử đại cương, 1950
Chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo
    Trong phạm vi học thuật, các nhà nho nước ta chưa hề gây dựng được những tác phẩm vĩ đại, hoặc góp được công phu độc đáo vào trong tư tưởng thế giới.
    Vì rằng chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo tư tưởng văn chương nước ngoài thì làm thế nào mà sáng tác được cho văn học quốc gia.
    Các cụ già cụ non vẫn tán dương Khổng học, Hán học và Nho giáo, mà không biết gì là Nho là Khổng là Hán cả. Một nhà nho nước ta đã phê bình “những người vì từ chương mà nổi tiếng thì gọi là danh nho, nhưng tìm cho được người hiểu biết cái thực học nho giáo thì không có”.
     Đây không phải là lỗi của họ, nhưng đấy vẫn là một sự thực. 
Đặng Thai Mai
 Địa vị văn hóa Trung quốc trong học thuật nước ta sau này, Thanh Nghị ,1945 
Không chịu được những tìm tòi phá cách
       Chúng ta không có những nhà tư tưởng xây dựng được những công trình huy hoàng phong phú.
       Chúng ta chỉ cốt sống được, và trong địa hạt sinh hoạt vật chất cũng như trong địa hạt tư tưởng nghệ thuật, chỉ nghĩ đến cái gì có thể giúp cho mình thích ứng với hoàn cảnh ác liệt, để theo đuổi một cuộc sống tầm thường kín đáo mà thôi.
       Bởi thế nếu thỉnh thoảng có một người nào có khí độ phóng khoáng, không chịu ép mình làm nô lệ thánh hiền mà vượt ra ngoài vòng lề lối – mới vượt ra ngoài chứ chưa chắc đã xây dựng được cái gì mới — thì xã hội đã xem là quái vật mà không dung.
     Hoặc giả khi có nhà nghệ thuật thực hiện được một cái gì to lớn phi thường như pho tượng thánh Trấn Vũ ở Hà Nội (1) chẳng hạn, thì cái mái nặng nề của ngôi đền lại đè bẹp nó xuống ở trong bóng tối mò của gian chính tẩm (2). Những cái thái độ và quan niệm xuất kỳ (3) ấy thường bị cái tính thiết thực của dân tộc kìm hãm hay bài xích ngay.
 (1) pho tượng này cao 3, 95m, đặt ở chùa Quan Thánh
(2)gian nhà to rộng ở giữa
(3)Bày ra kế lạ, có những tư tưởng mới mẻ
 Đào Duy Anh
 Việt Nam văn hoá sử đại cương,1950
 Bỏ cũ theo mới một cách nông nổi
      Những người theo Nho học xưa nay thường hay trọng cái hình thức bề ngoài thái quá  để đến nỗi tinh thần sai lầm đi rất nhiều. Người mình lại cứ quen một mặt thuận thụ (1)  theo cái khuôn nhất định của tiền nhân để lại, việc phải trái hay dở thế nào cũng chỉ ở trong cái khuôn đó chứ không chệch ra ngoài được, sự phê bình phán đoán càng ngày càng hẹp lại, không biết còn có tư tưởng nào nữa.
    Đến nay thời cục đã biến đổi, khoa cử bỏ đi rồi, sự học cũ không phải là cái cầu ở con đường sĩ hoạn nữa, thì Kinh Truyện xếp lại một chỗ mà đạo thánh hiền cũng chẳng ai  nhắc đến.
     Sự bỏ cũ theo mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì người mình nông nổi không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại đi, thành thử cái xấu cái dở của mình thì vị tất đã bỏ được, mà lại làm hỏng mất cái phần tinh tuý đã giữ cho xã hội ta được bền vững mấy nghìn năm.
      Cái tình trạng nước ta hôm nay là thế, khác nào như chiếc thuyền đi ra biển, không biết phương hướng nào mà đi cho phải.
(1) xuôi theo, tự nguyện chấp nhận
                                                                                                      Trần Trọng Kim
                                                                                                                         Nho giáo, 1930
  Thói quen cam chịu
      Ở nhà quê, dù khốn khó đến đâu, nhiều người cũng chỉ rên rỉ trong mồm chứ không gầm gào ra ngoài miệng, đôi khi nằm bẹp chứ không chạy kêu như dân thất nghiệp bên Tây, nên không mấy người biết tới. Đó cũng là nhờ được có cái tính di truyền lành hiền và ăn hèn ở khó đã quen.                                                                                                                 
Nguyễn Trọng Thuật
Hương chính tình nghĩa, Nam Phong, 1927 
Dễ  dãi thô thiển thế nào cũng xong     
    Người An Nam vốn có cái thiên tính dễ đồng hóa(1), dễ am hiểu, dễ thu nạp lấy những cái khác lạ với mình, dễ đem những điều hay điều dở của người mà hóa (2) làm của mình ; nhưng cái tài đồng hóa đó thường thường chỉ là cái khóe tinh (3), biết xem xét và bắt chước của người, chỉ phảng phất ở bề ngoài chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để (4) chỗ tinh túy.
   Tỷ như thợ An Nam thì phóng chép tài lắm; những hình dáng kỳ đến đâu, những kiểu cách lạ đến đâu, họ cũng bắt chước được như hệt cả.
   Học trò ta học rất mau, nhớ cũng rất mau, nhưng chưa chắc đã hiểu thấu đã hóa được những cái người ta dạy mình.
   Một người trí não khô cạn, hay là vì không được tiêm nhiễm những cái tinh hoa của nòi giống mà thành ra khô cạn đi – một người như thế không thể không thể nào hiểu thấu được cái tinh thần của Tây phương. Có đồng hóa chỉ đồng hóa được cái bề ngoài, chỉ bắt chước được cái hình thức.
    Cái cách đồng hóa dễ dàng thô thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt, mà có thể cho là cái tính xấu được. Chưa chắc cái học tiếp thu được dễ dàng như vậy đã làm cho óc được khôn ra, người được chín ra chút nào.
   Đồng hóa một cách cấp tốc, một cách vô độ — há chẳng phải là hại hơn lợi ?
<!–[if !supportLists]–>(1)   <!–[endif]–>tiếp nhận
<!–[if !supportLists]–>(2)   <!–[endif]–>biến cải
<!–[if !supportLists]–>(3)   <!–[endif]–> ngón nghề, mánh lới
<!–[if !supportLists]–>(4)   <!–[endif]–>gốc rễ, cơ bản
Phạm Quỳnh
Giải nghĩa đồng hóa, Nam phong, 1931
Tùy tiện thay đổi, chỉ cốt có lợi
   Trong lịch sử ta biết bao thế hệ nhà nho kế tiếp nhau mài miệt trong sách vở của thánh hiền mà nào có sáng tác được gì đâu.
    Ta không có một nền quốc học nếu quốc học là học thuật riêng của nước. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, ta cơ hồ không có sáng tác gì về học thuật. Ấy cũng vì ta kém óc trừu tượng khái quát, điều kiện căn bản để phát minh về tư tưởng.
     Người phương Tây rất ngạc nhiên thấy ta hôm qua chỉ biết có Tứ thư Ngũ kinh mà hôm nay bỗng tin theo những thuyết rất mới mẻ rất cấp tiến của khoa học hiện kim. Họ không biết rằng học thuật tư tưởng không phải là những căn bản tinh thần của dân tộc ta. Tư tưởng nào có lợi cho đời sống của dân tộc thì ta theo, nhưng một khi tình thế đổi thay, tư tưởng ấy trở nên có hại cho đời sống chung, ta sẽ trút bỏ dễ dàng không tiếc hối.
Hoài Thanh
Có một nền văn hóa Việt Nam, 1946

Ngoại trưởng Nhật Bản: Bản đồ Trung Quốc không có Senkaku – DV

12 Th10

Ngoại trưởng Nhật Bản: Bản đồ Trung Quốc không có Senkaku

(Dân Việt) – Một tấm bản đồ do Trung Quốc xuất bản năm 1960 cho thấy, hòn đảo Senkaku (Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư) được mô tả là thuộc lãnh thổ Nhật Bản.

Nhật Bản khẳng định, đây là bằng chứng để nói rằng, Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền không có cơ sở.

Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba ngày 10.10 đã bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku do Nhật Bản kiểm soát trên Biển Hoa Đông, bằng cách ghi nhận rằng một tấm bản đồ của Trung Quốc xuất bản năm 1960 đã mô tả quần đảo này thuộc lãnh thổ Nhật Bản.

Ngoại trưởng Nhật Bản Koichiro Gemba đã bác bỏ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo Senkaku.

Ông Gemba khẳng định lập trường của Nhật Bản rằng, Trung Quốc đã bắt đầu đòi chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Senkaku vào thập niên 1970. Điều này cho thấy Bắc Kinh trước đó đã không coi quần đảo này là một phần lãnh thổ của họ. Để chứng minh rõ hơn, ông Gemba đã trích dẫn một bức thư đánh giá của viên lãnh sự Cộng hòa Trung Hoa lúc bấy giờ tại Nagasaki vào năm 1920 gửi cho một người Nhật Bản, theo đó mô tả quần đảo này là “quần đảo Senkaku thuộc quận Yaeyama, tỉnh Okinawa”.

Trong khi đó, Trung Quốc khẳng định quần đảo là một phần lãnh thổ nước này từ thời xa xưa và Nhật “đã cướp” quần đảo của Trung Quốc vào năm 1895, ở cuối cuộc chiến Trung-Nhật.

Thủ tướng Nhật Y. Noda cũng nhấn mạnh, Tokyo và Bắc Kinh cần tiến hành các cuộc đàm phán thông qua nhiều kênh khác nhau để đảm bảo không có tác động nào ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.

Căng thẳng lãnh thổ giữa 2 nước leo thang kể từ khi Chính phủ Nhật mua 3 trong số 5 đảo thuộc quần đảo Senkaku một tháng trước. Cho đến nay vẫn không có dấu hiệu cho thấy hai bên sẽ thay đổi lập trường của mình, trong khi những thiệt hại về kinh tế do tranh chấp gây ra đang ở mức báo động. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng nhận định rằng, những căng thẳng kéo dài giữa Nhật Bản và Trung Quốc có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế thế giới.

Ngày 11.10, tờ thời báo tài chính Bloomberg cũng dẫn lời Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda cho rằng, Nhật Bản muốn đàm phán với Trung Quốc để cùng tìm ra giải pháp hạn chế những thiệt hại kinh tế phát sinh từ tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku. Ông Noda cho biết: “Với tư cách là nền kinh tế lớn thứ 2 và thứ 3 thế giới, 2 nước phụ thuộc rất lớn vào nhau. Nếu mối quan hệ của chúng tôi nguội lạnh, đặc biệt là về lĩnh vực kinh tế, thì không chỉ một trong hai nước sẽ bị ảnh hưởng mà cả hai sẽ cùng bị thiệt”.

Quang Minh (tổng hợp)

Phản đối Bắc Kinh lập phòng khí tượng ở Hoàng Sa – vietnam+

12 Th10

Phản đối Bắc Kinh lập phòng khí tượng ở Hoàng Sa

Bản tin đăng trên mạng China News Service về hành động của phía Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (Ảnh chụp màn hình)
CÁC TIN LIÊN QUAN

Yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, không có thêm những hoạt động sai trái.

Nhật Bản kêu gọi tôn trọng UNCLOS ở Biển Đông
Thứ trưởng Ngoại giao Nhật kêu gọi các nước liên quan trong tranh chấp ở Biển Đông nên tuân thủ Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982.

Mạng “Tin tức Trung Quốc” (có địa chỉ http://www.ecns.cn) ngày 10/10 đưa tin phòng khí tượng của cái gọi là “thành phố Tam Sa” ngày 8/10 đã chính thức được thành lập tại đảo Vĩnh Hưng thuộc quần đảo Tây Sa, tức đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đây lại là một hành động mới xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đơn vị hành chính thuộc quyền quản lý của thành phố Đà Nẵng.

Mạng tin trên dẫn tuyên bố của Cục Khí tượng Trung Quốc cho biết, phòng khí tượng “thành phố Tam Sa” được thành lập trên cơ sở các đài khí tượng quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa, Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam), đảm nhiệm các nghiệp vụ về quan trắc bầu trời, mặt đất, radar, mưa axít, bức xạ, tia cực tím, định vị chớp, dự báo khí tượng, xây dựng và bảo vệ hệ thống mạng quan trắc trên các đảo và phát thanh sóng ngắn cảnh báo khí tượng hải dương…

Phòng Khí tượng “thành phố Tam Sa” mới được thành lập sẽ hoạt động dưới sự quản lý của cục khí tượng tỉnh Hải Nam và cái gọi là chính quyền thành phố Tam Sa, trong đó chủ yếu dưới sự lãnh đạo của cục khí tượng tỉnh Hải Nam; thực hiện các chức trách pháp định của cơ quan chủ quản khí tượng khu vực hành chính này, quản lý trạm quan trắc khí tượng trong khu vực, đồng thời phụ trách quản lý nghiệp vụ khí tượng, công tác dịch vụ tương ứng.

Cái gọi là “Thành phố Tam Sa” ngang nhiên thành lập hồi tháng Bảy vừa qua, có “phạm vi quản lý” bao gồm cả huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam) và huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng, Việt Nam).
 
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, trái với nhận thức chung của lãnh đạo hai nước.
 
Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển./.

(Vietnam+)

ÔNG THỦ TƯỚNG KHINH TRÍ TUỆ, TRỌNG BẠO LỰC – BS

12 Th10

ÔNG THỦ TƯỚNG KHINH TRÍ TUỆ, TRỌNG BẠO LỰC

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Câu nói đầu tiên, ngay trong giây phút trang nghiêm, trọng đại nhận chức trách người đứng đầu Chính phủ, giây phút được ghi vào lịch sử mở ra triều đại một Chính phủ mới, câu nói trong giây phút lịch sử không thể lãng quên đó của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là: Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay.

Việc làm đầu tiên của ông Thủ tướng chống tham nhũng bằng ngôn từ hùng hồn là: Giải tán ngay Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nơi hội tụ những chuyên gia, những trí tuệ thông thái hàng đầu của đất nước về quản lí kinh tế và quản lí Nhà nước được hai Thủ tướng đàn anh của ông Dũng là Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải thành lập, tin dùng và kính trọng, coi Ban Nghiên cứu của Thủ tướng như trí tuệ, như túi khôn của nhân dân, của đất nước giúp họ đường đi nước bước và tầm nhìn trong điều hành hoạt động kinh tế và quản lí xã hội.

1.  LỜI NÓI: DỐI TRÁ

Trước thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tham nhũng ở Việt Nam chỉ rải rác, đột xuất và những vụ tham nhũng lớn cũng chỉ vài chục tỉ đồng như vụ đình đám Lã Thị Kim Oanh gây thiệt hại cho Nhà nước 34 tỉ đồng, tham nhũng vài triệu đô la như vụ chấn động PMU18, tham nhũng vài nền nhà ở, mỗi nền nhà chỉ trên dưới một trăm mét vuông đất như vụ ồn ào tư túi đất tái định cư ở Đồ Sơn, Hải Phòng… Chỉ vậy thôi cũng làm cả xã hội kinh hoàng, sửng sốt, đau xót, nhức nhối, phẫn nộ và xao xác, vơi hụt lòng tin vào chính quyền. Vì tham nhũng từ chính quyền mà ra, phải có quyền lực mới có thể tham nhũng.

Đến thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, như được bật đèn xanh, tham nhũng nhất tề, đồng loạt, rầm rộ nổi lên khắp nơi như mầm cỏ dại gặp hơi ấm mùa xuân. Các quan tham từ cấp phường, xã đến cấp Trung ương, Chính phủ đồng khởi ra tay vơ vét, ngang nhiên lộ mặt tham nhũng. Tham nhũng trở thành bình thường đến mức chỉ cấp thấp, tham nhũng vặt không đủ ăn chia cho nhiều người nên thân cô thế yếu mới phải thậm thụt, dấm dúi chiếm đoạt vài chục  triệu đồng tiền trợ cấp bão lụt, trợ cấp xóa đói giảm nghèo, tiền chế độ chính sách thương binh, liệt sĩ, chỉ gây thiệt hại cho vài cá nhân. Cấp thấp, tham nhũng vặt, thân cô thế yếu, bị người dân tố cáo, tham nhũng nhanh chóng bị phanh phui và trừng trị đích đáng. Cấp cao, tham nhũng lớn, ăn chia đều khắp và quyền uy bao trùm thì thản nhiên vẽ ra những dự án hoành tráng để tham nhũng hàng trăm, hàng ngàn hecta đất như dự án ma thu hồi hàng ngàn hecta đất nông trường sông Hậu ở Cần Thơ, như dự án quỉ thu hồi năm trăm hecta đất ở Văn Giang, Hưng Yên. Thản nhiên lập ra những tập đoàn kinh tế lớn để tham nhũng hàng chục ngàn tỉ đồng, hàng trăm ngàn tỉ đồng như tập đoàn công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, Vinashin, tham nhũng, vơ vét làm thất thoát hơn trăm ngàn tỉ đồng.

Trước thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thiệt hai do tham nhũng gây ra chỉ tính tới triệu đô la, người dân đi khiếu kiện bị quan tham cướp bóc chỉ là những cá thể đơn độc. Thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mỗi vụ tham nhũng gây thiệt hại lên đến hàng tỉ đô la, lớn gấp ngàn lần, làm lao đao cả nền kinh tế, dìm đất nước chìm sâu trong nghèo khó, kéo dài cuộc sống khốn khổ, bất an của người dân, làm rối loạn cả xã hội, gây đau khổ, oan khiên cho hàng ngàn, hàng chục ngàn người dân. Dân oan bị quan tham cướp đất lũ lượt từng đoàn hàng trăm người giương cờ, căng banner, giơ cao bảng chữ, đội đơn đi khiếu kiện, tố cáo tham nhũng.

Cả hệ thống quyền lực Nhà nước làm ngơ trước nỗi đau khổ, oan khiên của chúng sinh, làm ngơ trước cường quyền tham nhũng. Tham nhũng ung dung tồn tại và phát triển. Quan tham vẫn bình thản, vững vàng trên ghế quyền lực chăn dân, vẫn cao giọng bảo ban dạy dỗ dân, vẫn hà khắc đe nẹt, cấm đoán, tước đoạt mọi quyền của người dân, đàn áp, bắt bớ dân oan đi khiếu kiện và vẫn nỏ mồm hô hào, chỉ đạo học tập, lên lớp giảng dạy đạo đức Hồ Chí Minh, tạo ra hình mẫu, khuôn thước của một xã hội tham lam và dối trá. Cả một hệ thống quyền lực tham lam và dối trá. Quan tham tồn tại bằng dối trá. Chính quyền cũng tồn tại bằng dối trá!

Tham nhũng tiền bạc. Tham nhũng đất đai. Tham nhũng cả quyền lực. Trong các loại tham nhũng đó thì tham nhũng quyền lực là nguy hại lớn nhất, di họa lâu dài nhất. Lịch sử gần bảy mươi năm cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có thời nào những người lãnh đạo cấp cao của đảng lại ngang nhiên giành những chiếc ghế quyền lực lớn về chính trị, quyền lực lớn về kinh tế cho con cháu, người thân của họ như thời ông Nguyễn Tấn Dũng là lãnh đạo hàng đầu của đảng Cộng sản, là người đứng đầu Chính phủ.

Trong mùa đại hội đảng bộ cơ sở tiến tới đại hội đảng toàn quốc lần thứ 11, con trai cả của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đề cử vào thành ủy thành phố Sài Gòn nhưng số phiếu bầu cho cậu ấm nhà Thủ tướng Dũng thấp thảm hại. Bốn trăm người cầm phiếu bầu, chỉ có mười lăm người để lại tên cậu ấm của Thủ tướng Dũng trong phiếu, còn ba trăm tám mươi nhăm người thẳng thừng xóa tên cậu ấm. Nhưng chỉ ba tháng sau, đến đại hội đảng toàn quốc lần thứ 11, người không đủ tín nhiệm vào ban Chấp hành đảng bộ cấp địa phương, nơi ông ta sống và làm việc, nơi tổ chức đảng gần gũi, hiểu về ông ta đầy đủ nhất, lại ung dung chiếm được ghế ban Chấp hành trung ương, tạo thế cho ông ta bước một bước từ phó hiệu trưởng một trường đại học ở Sài Gòn lên chức Thứ trưởng một bộ mạnh của cả nước, thuộc hàng ngũ thành viên của Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Không vào được ban Chấp hành đảng địa phương lại vào được ban Chấp hành đảng trung ương vì nhiều lãnh đạo hàng đầu của đảng cũng muốn kiếm chiếc ghế ban Chấp hành trung ương đảng đầy lợi lộc và quyền uy cho con cái họ làm bệ phóng vào hàng ngũ quan chức cao cấp Nhà nước chỉ để con cái họ vinh thân phì gia.

Ông Tổng bí thư họ Nông quê tít trên rừng sâu Na Rì, Bắc Cạn, đại hội 10 khóa trước đã đôn đáo đưa con trai vào cơ quan quyền lực Trung ương mà không thành, đại hội đảng toàn quốc lần thứ 11 là cơ hội cuối cùng, ông phải làm được việc còn dang dở đó. Phải làm được việc là nỗi bận tâm lớn nhất của ông ở cương vị Tổng bí thư, ông mới thanh thản rời chính trường về an nghỉ tuổi già. Ông ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đầy quyền lực trước khi nghỉ hưu cũng muốn để lại hương hỏa cho con chiếc ghế quyền lực của đảng. Các ông liền vất bỏ lợi ích của đảng, vất bỏ mục tiêu, lí tưởng và cả thanh danh của đảng để nhân nhượng, thỏa hiệp, ủng hộ nhau giành chiếc ghế quyền lực cho con cái. Tổng bí thư, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Thủ tướng Chính phủ, những quyền uy lớn đó đều có ơn nghĩa với nhiều vị trí khác trong cơ quan lãnh đạo cấp cao nắm quyền quyết định mọi vấn đề của đảng. Những quyền uy lớn đó đã thỏa hiệp, ủng hộ nhau chiếm ghế quyền lực của đảng cho con cái thì việc bỏ phiếu chỉ còn là thủ tục!

Nhìn ba ông Ủy viên Bộ Chính trị, hai ông chờ nghỉ hưu còn đưa được những đứa con ở cấp tỉnh, cấp huyện vào cơ quan quyền lực cấp trung ương của đảng, ông Ủy viên Bộ Chính trị đương chức, lại đương chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương, nơi quản lí, sắp xếp đội ngũ cán bộ cấp cao, nơi phân chia quyền lực thượng đỉnh trong đảng, liền đưa cô con gái mới tốt nghiệp trường báo chí, chưa có đóng góp gì, chưa được trải nghiệm, chưa được thử thách trong cuộc đời, không biết gì về kinh tế, càng không biết những qui luật khách quan và nghiệt ngã của kinh tế và mới hai mươi ba tuổi đời ngơ ngác, nhảy tót lên chiếc ghế quyền lực lớn về kinh tế, đứng đầu một đơn vị kinh tế Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực của kĩ thuật: xây dựng công nghiệp, doanh thu hàng năm cả ngàn tỉ đồng.

Đất nước không thiếu những người được đào tạo bài bản chuyên sâu về khoa học kĩ thuật, giỏi kinh doanh và có tài quản lí kinh tế. Chiếc ghế mà cô con gái hai mươi ba tuổi của ông ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương nhảy tót lên chiếm giữ là chiếc ghế của những người có khoa học kĩ thuật và giỏi quản lí đó. Mặc dù sau hai tháng sỗ sàng ngồi trên chiếc ghế cao của đơn vị kinh tế Nhà nước, cô con gái ông ủy viên Bộ Chính trị đã phải rời ghế nhưng việc chiếm giữ chiếc ghế đó, dù chỉ hai tháng, cùng với việc các ông quyền cao chức trọng khác trong đảng cầm quyền bất chấp những ngang trái và hậu quả tệ hại, giành chiếc ghế quyền lực cho con cái họ đã cho thấy những người được dân cho hưởng ơn cao, lộc lớn để họ chăm lo cho dân, tận tụy với nước nhưng họ chỉ biết bản thân họ và con cái họ, họ chẳng còn biết đến nhân dân, đất nước. Sự việc họ giành bằng được chiếc ghế quyền lực cho con cái họ phải được gọi đúng tên là tham nhũng, tham nhũng quyền lực.

Cả những quan chức hàng đầu của một thể chế, một hệ thống quyền lực Nhà nước cũng thản nhiên tham nhũng, cả ông Thủ tướng Chính phủ hùng hồn tuyên bố chống tham nhũng cũng đi đầu đôn đáo, hăm hở, mê mải tham nhũng, nêu tấm gương lớn cho cả hệ thống quyền lực  tham nhũng, tạo ra cả cơn lốc xoáy tham nhũng, tạo ra một thời bạo liệt tham nhũng thì còn chống tham nhũng nỗi gì?

Trên thượng đỉnh đã ngang nhiên tư lợi, vô cảm và vô lương tâm với dân với nước như vậy, bên dưới tội gì phải giữ mình, giữ lương tâm. Doanh nghiệp thuộc tập đoàn kinh tế Nhà nước trúng thầu một dự án chỉ trên 32 tỉ đồng liền mua ngay hai ô tô mà giá một chiếc ô tô đã trên 2,6 tỉ đồng tặng quan chức Nhà nước đứng đầu tập đoàn chủ dự án. Người được tặng không thiếu ô tô sang trọng và tiền mua ô tô quà tặng không phải là tiền túi của bất cứ ai mà chính là tiền của dân đầu tư cho dự án. Dự án chỉ 32 tỉ đồng đã bị rút ra hơn 4 tỉ đồng mua ô tô tặng nhau. Rồi còn bao nhiêu tỉ đồng rút ra chia nhau từ 32 tỉ đồng của dự án? Phung phí đồng tiền chắt chiu của dân như vậy chính là một dạng tham nhũng. Ngang nhiên tặng nhau quà biếu tham nhũng. Cả người cho và người nhận đều vô cảm, vô lương tâm với đồng tiền chắt chiu của dân, đều nhởn nhơ, vô cảm hưởng thụ cuộc sống giầu sang, thừa thãi trên đất nước xác xơ, trên cuộc sống lam lũ, thiếu thốn, đói khổ của người dân!

Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ nhưng lương quan chức doanh nghiệp Nhà nước cứ ngất ngưởng cả trăm triệu đồng tháng, cao gấp vài chục lần lương bác sĩ sớm khuya miệt mài làm việc trong bệnh viện, cao gấp vài chục lần lương của những trí tuệ giảng dạy đại học. Đồng lương đó không phải do họ tài giỏi làm ra mà là tài sản quốc gia, là vốn liếng của doanh nghiệp, vốn liếng của Nhà nước, vốn liếng của nhân dân. Đó là đồng lương tham nhũng. Quan chức các doanh nghiệp Nhà nước đều thản nhiên và vênh váo nhận đồng lương tham nhũng đó dù doanh nghiệp họ điều hành thua lỗ nặng nề, triền miên.

Tham nhũng quyền lực, tham nhũng của cải làm cho hết Vinashin đến Vinalines, rồi Điện lực, Dầu khí, Than – Khoáng sản .  .  . những tập đoàn kinh tế được đầu tư lớn, được ưu đãi đặc biệt, là trụ cột của ngôi nhà kinh tế đất nước đều thua lỗ, thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng, ngôi nhà kinh tế đất nước xác xơ, trống rỗng. Trống rỗng cả nền tài chính đất nước. Trống rỗng cả lòng tin của người dân vào chính quyền.

Một Chính phủ ngập trong tham nhũng và người đứng đầu Chính phủ đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị nhấn chìm trong tham nhũng. Danh dự và uy tín của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chìm nghỉm, mất hút trong tham nhũng nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không thực hiện lời hứa trang nghiêm, lời hứa danh dự trong giây phút lịch sử trước Quốc hội, trước nhân dân: không chống được tham nhũng tôi xin từ chức ngay.

Lời hứa của danh dự, lời hứa của lịch sử cũng không thực hiện thì liêm sỉ đâu còn nữa. Liêm sỉ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng chìm nghỉm, mất hút trong tham nhũng. Lời hứa của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thành lừa dối với nhân dân, dối trá với lịch sử! Sự dối trá của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nêu tấm gương cho xã hội. Cả xã hội dối trá. Dối trá là lẽ sống. Dối trá được coi trọng. Dối trá lên ngôi thì sự trung thực không còn đất sống.

Điều tốt gọi điều tốt. Cấp trên là khuôn thước của cấp dưới. Quan chức Nhà nước là khuôn thước của xã hội. Công chức Nhà nước nhìn tấm gương liêm khiết của nhau cùng giữ mình vượt lên trên cám dỗ vật chất bất lương, cùng cúc cung, tận tụy làm công bộc của dân, lo cho dân, để lại công trạng, để lại sự nghiệp rạng rỡ cho nước. Đó là thời thịnh. Cái xấu gọi cái xấu. Quan chức rường cột của Nhà nước đua nhau, hùa nhau làm điều xấu, vơ vét của nước, cướp đoạt lợi ích của dân, làm lên một thời xấu xa, tồi tệ, đen tối, để lại vết nhơ muôn đời trong lịch sử. Đó là thời suy.

Ngoài triệu chứng quan tham đua nhau vơ vét của nước, cướp bóc của dân, đàn áp, tù đày, đánh giết dân, thời suy còn một triệu chứng điển hình nữa là quan tham đã gây quá nhiều tội với nước, mắc quá nhiều nợ với dân liền vội vã lấy tiền của nước, lấy mồ hôi và cả máu của dân xây những đền đài thờ tổ tiên, cúng thần phật, cầu xin thần phật dung tha xá tội, cầu xin tổ tiên phù hộ độ trì giữ mãi được ghế quan tham, cứ bền bỉ nhiều đời yên vị ăn trên ngồi trốc vơ vét và cướp bóc. Thời nhà Lê suy tàn, đầu thế kỉ XVI, vua Lê Tương Dực chơi bời xa xỉ, trụy lạc vô độ, đặt ra nhiều sắc thuế bóc lột dân, nhiều hình phạt độc ác đánh giết dân, giết cả 15 thân vương trong triều. Trước tội ác quá lớn, Lê Tương Dực liền sai kiến trúc sư tài hoa Vũ Như Tô xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài nguy nga cầu xin thần linh che chở.

Ngày nay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây nhà thờ họ ở Rách Giá, Kiên Giang, lớn gấp trăm lần đền thờ Anh hùng Nguyễn Trung Trực cách đó vài bước chân, lớp lớp tòa ngang dãy dọc như cung vua nhà Nguyễn ở cố đô Huế. Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng xây nhà thờ họ Nguyễn Sinh trập trùng đền đài hoành tráng trên cả vùng đồi núi mênh mông ở Nam Đàn, Nghệ An. Đó là những Cửu Trùng Đài của triều Cộng sản Việt Nam đầu thế kỉ XXI.

Những Cửu Trùng Đài xây bằng tiền bạc và của cải thừa thãi, xây cả bằng sự vênh váo, hợm hĩnh của quyền uy tưởng sẽ bền vững ngàn niên, vạn niên nhưng những Cửu Trùng Đài xây trên sự tan hoang, kiệt quệ của đất nước, xây trên sự điêu linh, lầm than của trăm họ, xây trên sự căm giận, phẫn nộ của người dân thì chỉ là những lâu đài xây trên cát. Những Cửu Trùng Đài vạn niên đó chẳng bao lâu sau chỉ còn bóng dáng trong câu ca dao mỉa mai của dân gian: Vạn niên là vạn niên nào / Thành xây xương lính, hào đào máu dân. Người dân nhìn những Cửu Trùng Đài nguy nga chỉ thấy ở đó chất ngất của cải tham nhũng, chỉ thấy ở đó biểu tượng của một thể chế, một triều đại đang xa dân diệu vợi, đang lao nhanh vào suy vong không gì cứu vãn!

Thời thịnh hay suy là do chính những người nắm vận mệnh đất nước, nắm thời cuộc quyết định. Quan chức của Đảng, quan chức Nhà nước từ trên xuống dưới đều suy đốn, tham nhũng và dối trá đến như vậy, thời suy của Đảng cầm quyền, thời suy của nước đã là hiển nhiên. Và ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã góp phần rất lớn, phần chủ yếu làm nên thời suy đó cho Đảng cầm quyền, cho Nhà nước Cộng sản Việt Nam, để lại vết hằn đau buồn, đen tối trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Dối trá lem lẻm. Tham nhũng hết vụ này đến vụ khác. Tham nhũng dây chuyền trong cả hệ thống quyền lực Nhà nước. Kinh tế đổ vỡ. Xã hội rối loạn, bất an. Ở xã hội dân chủ với Nhà nước của dân chứ không phải Nhà nước của Đảng, chỉ cần một vụ việc trong những vụ việc tày đình trên, ông Thủ tướng đã phải tự từ chức. Ông Thủ tướng thiếu lòng tự trọng, không từ chức, Quốc hội thực sự của dân cũng bỏ phiếu phế truất ông. Nhưng ở ta, Nhà nước là của Đảng, Chính phủ của Đảng, Quốc hội cũng của Đảng. Các quan chức Nhà nước tham nhũng đều là những nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng, là những thế lực lớn trong Đảng. Người dân bị tham nhũng cướp đoạt những lợi ích sống còn chỉ còn biết khoanh tay trông chờ Đảng cầm quyền đóng cửa dàn xếp với tham nhũng trong nội bộ Đảng. Những quyền công dân cơ bản để người dân tự vệ trước cường quyền, tham nhũng và bất công, người dân Việt Nam cũng không có!

2.  VIỆC LÀM: KHINH TRÍ TUỆ, TRỌNG BẠO LỰC

Văn hóa bậc thấp, bậc phổ thông cơ sở, ai cũng học được. Nhưng văn hóa bậc cao, bậc trí tuệ quí hiếm thì không phải ai cũng có thể tiếp nhận. Phải có tâm thức văn hóa mới hướng tới trí tuệ, mới tiếp nhận được trí tuệ. Chỉ những người có thể tiếp nhận được trí tuệ mới biết quí trọng trí tuệ. Hai Thủ tướng lớp trước ông Dũng, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải đều biết quí trọng trí tuệ, biết sử dụng trí tuệ.

Nhận trọng trách Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) tháng tám, năm 1991, ông Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt không có một bằng cấp, một chứng chỉ văn hóa nhưng phải là người có tâm thức văn hóa ông mới nói được với lớp trẻ Sài Gòn trong đại hội Đoàn của họ rằng: Thành phố soi thấy tương lai của mình rất sáng trên vầng trán các em. Tâm thức văn hóa đó đã trân trọng mời những trí tuệ hàng đầu của đất nước về khoa học kinh tế và khoa học quản lí Nhà nước vào Tổ Chuyên gia tư vấn về cải cách Kinh tế và cải cách Hành chính mà ngôn ngữ hằng ngày vẫn gọi là Tổ Tư vấn cải cách. Cả những chuyên gia kinh tế hàng đầu của chính quyền Sài Gòn cũ cũng được tâm thức văn hóa Võ Văn Kiệt trực tiếp mời vào Tổ Tư vấn cải cách.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt nêu những vấn đề của đường lối, chính sách kinh tế, xã hội đặt ra với Tổ Tư vấn cải cách và công việc đối nội, đối ngoại của người đứng đầu Chính phủ dù bận đến đâu, hằng tuần tâm thức văn hóa Võ Văn Kiệt vẫn giành thời gian chân tình gặp gỡ, lắng nghe, tiếp nhận đề xuất giải pháp của Tổ Tư vấn cải cách.

Thành lập năm 1993, đến năm 1996 Tổ Tư vấn cải cách được bổ xung thêm những trí tuệ xuất sắc mới nổi lên và được nâng cấp lên thành Tổ Nghiên cứu đổi mới Kinh tế, Xã hội và Hành chính với tên gọi nôm na thường ngày là Tổ Nghiên cứu đổi mới. Đến năm 1998, Tổ Nghiên cứu đổi mới lại được Thủ tướng Phan Văn Khải nâng cấp lên thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Tổ chức tập hợp những trí tuệ, những lõi sáng của đất nước được khai thác, sử dụng hiệu quả mới được hai người đứng đầu Chính phủ Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải trân trọng và liên tiếp nâng cấp lên như vậy.

Tổ chức tập hợp những trí tuệ của đất nước được hai tâm thức văn hóa Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải trân trọng như vậy nhưng ông Nguyễn Tấn Dũng ngồi vào ghế Thủ tướng thì tổ chức tập hợp trí tuệ đó liền bị xóa sổ ngay. Chỉ những người có thể tiếp nhận được trí tuệ mới biết quí trong trí tuệ và làm theo trí tuệ. Giải tán Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liền mời một viên tướng công an có nhiều thành tích đàn áp dân chủ, nhân quyền làm đặc phái viên bên cạnh Thủ tướng, tư vấn cho Thủ tướng.

Trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới từ xưa đến nay, ngay cả trong thời khốc liệt chiến tranh và đầy biến động chính trị, ngay cả với những nhà độc tài khét tiếng như Adolf Hitler, Iosif Stalin, Nicolae Ceausescu, Mobutu, chưa có người đứng đầu Chính phủ nào phải dùng một viên tướng công an làm cố vấn thân cận, một công cụ bạo lực luôn bên cạnh trong công việc như ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Luật pháp Việt Nam cũng không có một điều khoản nào cho phép ông Thủ tướng được có cố vấn an ninh. Cố vấn thân cận nhất là viên tướng công an, điều đó cho thấy Thủ tướng Dũng coi trọng công cụ bạo lực như thế nào và công cụ bạo lực đó chính là tâm thức văn hóa của ông Thủ tướng. Thay những trí tuệ trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng bằng một viên tướng công an, một bạo lực Nhà nước, đất nước bị dẫn dắt vào con đường bạo lực, đời sống dân sự bị công an hóa, bạo lực hóa!

Bị những nhóm lợi ích dẫn dắt, đất nước đã chìm trong những tai họa của tham nhũng. Không có trí tuệ dẫn dắt, đất nước lại chìm trong những tai họa đổ vỡ kinh tế. Khinh trí tuệ, trọng bạo lực, bên cạnh Thủ tướng là viên tướng công an hằm hè nhìn xã hội dân sự qua lỗ tròn của chiếc còng số tám, đất nước lại chìm trong bạo lực Nhà nước và ngột ngạt tăm tối trong những lệnh cấm, những lệnh giới nghiêm trong đời sống tinh thần, văn hóa!

Ban Nghiên cứu của Thủ tướng đã bị giải tán. Nơi những trí tuệ được nói thẳng, nói thật, được đóng góp không còn nữa. Những trí tuệ đích thực thôi đành về với dân gian. Những viện khoa học nọ, viện khoa học kia thì nhiều lắm, bộ nào, ngành nào cũng có những viện khoa học sang trọng, hoành tráng, mĩ miều với đông đảo viện sĩ lấp lánh học hàm, học vị nhưng đó chỉ là nơi những người có bằng cấp khoa học chia nhau chức danh, chia nhau ghế ngồi để lĩnh lương và để nghĩ ra những “đề tài khoa học” nhận tiền tỉ mồ hôi nước mắt của dân về chia nhau. Nghiệm thu xong, chia tiền xong, “đề tài khoa học” xếp vào ngăn kéo, lại hăm hở tìm “đề tài khoa học” mới. Các Bộ, các Tổng cục của hệ thống hành chính Nhà nước có viện khoa học thì các Ban của tổ chức Đảng ngang cấp Bộ cũng phải có Viện khoa học. Viện khoa học Dân vận. Viện khoa học lịch sử Đảng. Viện khoa học Mác Lê nin .  .  .

Những viện khoa học mĩ miều đó nhiều như cây trong công viên, mỗi viện hằng năm ngốn hàng chục, hàng trăm tỉ tiền thuế của dân chỉ để làm dáng thì cứ bền bỉ tồn tại và liên tục phát triển, viện khoa học mẹ đẻ ra viện khoa học con. Đó là những viện khoa học chỉ có danh khoa học, chỉ có học hàm, học vị khoa học mà không có trí tuệ khoa học. Không có trí tuệ khoa học để làm việc nên họ chỉ còn biết mang danh khoa học ra bán. Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng nhưng danh khoa học của họ độc quyền bán cho Đảng của họ và bán cho Nhà nước của Đảng được giá tới bạc tỉ!

Những nhà khoa học chân chính, những trí tuệ đích thực không thể vô cảm và bất lương như vậy. Người thực sự có trí tuệ cần mang trí tuệ đóng góp cho cuộc sống và trí tuệ gọi trí tuệ, lương tâm gọi lương tâm, những trí tuệ và lương tâm đó gọi nhau, tập hợp lại lập lên viện Nghiên cứu Phát triển, IDS. Không nhận một xu từ tiến thuế của dân, trí tuệ đích thực là tài sản quí, là vốn liếng lớn sẽ tạo ra tiền bạc, của cải cho đất nước, tạo ra tiền bạc của cải để phát triển Viện. Nhưng với một ông Thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực, vừa nhận chức người đứng đầu Chính phủ, ông Thủ tướng đó liền kí lệnh đuổi những trí tuệ trong Ban Nghiên cứu của Thủ tướng đi cho khuất mắt thì viện IDS lại là cái gai ông phải dẹp bỏ, ông liền kí quyết định 97/2009QĐ-TTg trong đó có những điều khoản vô hiệu IDS, làm cho IDS không thể hoạt động theo tiêu chí của IDS. IDS liền phải tự giải thể!

Những dự án tham nhũng chiếm hàng trăm, hàng ngàn hecta đất, cướp đất của nhiều làng. Dân nhiều làng phải đội đơn đi khiếu kiện. Hàng trăm gia đình mất đất. Hàng ngàn người bơ vơ. Mỗi gia đình một cảnh ngộ, một nỗi đau. Mỗi người một nỗi oan khiên, không ai có thể đại diện cho ai. Dân đen, thân phận con ong cái kiến, từng tiếng kêu rời rạc, yếu ớt, lạc lõng không ai đoái hoài. Hàng trăm, hàng ngàn người cùng kêu nỗi oan khiên dậy đất của một thời đầy ngang trái oan khiên mới mong động đến cửa quan thì ông Thủ tướng hùng hồn chống tham nhũng bằng ngôn từ lại mau lẹ đứng về phía quan tham lạnh lùng kí Nghị định 136/2006 cấm dân khiếu kiện tập thể!

Cách mạng công nghiệp chấm dứt nếp sống bầy đàn, không có cá nhân của nền sản xuất nông nghiệp thô sơ, cho người dân bình thường ý thức về cá nhân trong cuộc đời. Cách mạng dân chủ tư sản cho người dân quyền con người. Không có cách mạng công nghiệp, chưa có cách mạng dân chủ tư sản, xã hội Việt Nam nôn nóng, hối hả bước vào công nghiệp hóa với những con người vẫn mang tâm lí, nếp sống và thói quen của nền sản xuất nông nghiêp thô sơ, tâm lí, nếp sống an phận và cam chịu. Dù an phận và cam chịu nhưng con giun xéo mãi cũng quằn, những nông dân không còn ruộng đất trở thành công nhân trong những nhà máy của những ông bà chủ tư bản phần lớn là người nước ngoài. Bị chủ tư bản bóc lột tàn tệ, những công nhân không còn cam chịu được nữa phải bảo nhau, gọi nhau tổ chức đình công đòi quyền sống.

Công nghiệp hóa không phải chỉ là máy móc công nghệ, thiết bị kĩ thuật. Công nghiệp hóa trước hết phải là con người, là giải phóng con người, là mối quan hệ công bằng, bình đẳng giữa người với người. Công nghệ kĩ thuật là điều kiện vật chất và giải phóng con người là điều kiện xã hội của công nghiệp hóa. Bước chân công nhân đình công là bước đi tất yếu của xã hội Việt Nam vào công nghiệp hóa, là bước tiến của xã hội Việt Nam.

Những cuộc đình công vừa chính đáng và cần thiết giành quyền sống của người lao động, vừa là sự trưởng thành của xã hội Việt Nam nhưng Thủ tướng Dũng lại sốt xắng đứng ra bảo vệ sự bóc lột tàn nhẫn của những ông chủ, bà chủ tư bản bằng việc kí nghị định 11 và 12/ 2008 cấm công nhân đình công! Cấm công nhân đình công đòi quyền sống, Thủ tướng Dũng đã ngăn chặn bước tiến của xã hội Việt Nam, kìm hãm xã hội Việt Nam mãi mãi dừng lại trong sự bóc lột man rợ của chủ nghĩa tư bản hoang dã.

3.  NGƯỜI DÂN BỊ KHINH RẺ. QUYỀN CÔNG DÂN KHÔNG ĐƯỢC NHÌN NHẬN. CUỘC SỐNG BẤT AN. TÍNH MẠNG MONH MANH

Theo tấm gương người đứng đầu Chính phủ, cả hệ thống quyền lực Nhà nước cứ mặc sức tham nhũng và hành dân. Người dân chỉ được cam chịu chấp nhận. Dân có tiếng nói phản kháng với cái sai, cái ác liền có sự trả lời của công an, tòa án và nhà tù! Mọi quyền Con Người cơ bản của người dân đều bị Cấm! Cấm! Và Cấm! Chưa bao giờ pháp luật bị sử dụng tùy tiện với dân, bạo lực Nhà nước khắc nghiệt, tàn nhẫn với dân như thời Thủ tướng Dũng.

Tiến sĩ luật học Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lạm quyền, cho triển khai dự án bô xít Tây Nguyên không theo đúng qui trình pháp luật, gây thiệt hại nặng nề cho dân, rước tai họa, nguy nan cho nước. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật là hiện thực bình thường ở mọi nước trên thế giới từ mấy trăm năm nay nhưng ở Nhà nước Việt Nam Cộng sản cho đến tận thế kỉ 21 của văn minh tin học, của thế giới phẳng, vẫn chưa có được điều bình thường đó. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật chỉ là dòng chữ vàng son lấp lánh ghi trong Hiến pháp Việt Nam, chỉ để làm đẹp, làm sang cho Hiến pháp Việt Nam. Còn trong thực tế xã hội Việt Nam hoàn toàn không có sự bình đẳng nhân văn đó. Đơn kiện ông Thủ tướng của tiến sĩ Vũ hoàn toàn hợp pháp, là tiếng nói chính đáng, khẩn thiết của nhân dân, của đất nước. Hai cấp tòa, cấp thành phố và cấp tối cao, đều từ chối, không dám vào cuộc thụ lí đơn kiện của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ nhưng công an thì quyết liệt vào cuộc, rình rập, bám sát người đứng đơn kiện từng bước đi, từng cuộc điện thoại.

Tiến sĩ Vũ đi công việc, vào Sài Gòn, ở khách sạn. Công an liền xông vào khách sạn và trong tay công an có ngay hai bao cao su nhầy nhụa, tạo chứng cớ hồ đồ, vu vơ, áp đặt, bẩn thỉu, thấp hèn, mờ ám và tàn bạo để bắt tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Sự mờ ám, thấp hèn và tàn bạo càng bộc lộ rõ trong phiên tòa xử người nói tiếng nói dõng dạc, đàng hoàng, chính đáng và hợp pháp của nhân dân, của đất nước.

Hiến pháp cho người dân quyền tự do ngôn luận, quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội, quyền thảo luận các vấn đề của Nhà nước, quyền kiến nghị với cơ quan Nhà nước. Những bài viết và nói công khai, đàng hoàng về những chính sách sai lầm của Nhà nước, về những việc làm tội lỗi của quan chức Nhà nước của tiến sĩ Vũ là hợp pháp và vô tội. Chỉ có tội khi tòa án chứng minh được người viết và nói không đúng sự thật. Không chứng minh được điều đó, không xét, tòa án chỉ xử, chỉ buộc tội. Áp đặt tội tuyên truyền chống Nhà nước cho những bài viết và lời nói chính đáng, hợp pháp của tiến sĩ Vũ chỉ ra những sai lầm và tội lỗi của Nhà nước, tòa án đã đồng nhất Nhà nước với sai lầm và tội lỗi.  

Mờ ám, thấp hèn và tàn bạo, phiên tòa công khai mà người dân đến dự tòa thì bị đàn áp, bắt bớ. Mờ ám, thấp hèn và tàn bạo, trong phiên tòa, bị cáo và luật sư đều bị chặn họng, không được tranh tụng. Giữa thời văn minh rực rỡ của loài người, phiên tòa xử tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ chỉ là sự tái hiện lại cảnh đấu tố man rợ, mông muội thời cải cách ruộng đất. Ngồi ghế quan tòa không còn là sự công minh, nhân đạo của luật pháp và công lí mà là sự nhỏ nhen, ngạo mạn, nhâng nháo, hùng hổ, hằn học hận thù của công cụ bạo lực!

Mờ ám, thấp hèn và tàn bạo, hai bao cao su tởm lợm là chứng cứ duy nhất để bắt khẩn cấp tiến sĩ Vũ nhưng đến phiên tòa, quan tòa cũng nhục nhã không dám nhắc đến chứng cứ là hai bao cao su ô nhục. Dù không được đưa ra, không được nhắc đến trong phiên tòa mờ ám, thấp hèn và tàn bạo nhưng hai bao cao su nhầy nhụa, ô nhục còn mãi mãi chình ình và bốc mùi tanh tưởi trong lịch sử tư pháp của Nhà nước Việt Nam Cộng sản, còn mãi mãi nhầy nhụa và bốc mùi ô uế trong lịch sử cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam.

Dựa vào quyền uy để tham nhũng, dựa vào bạo lực để bưng bít sự thật, để bóp chết những tiếng nói trung thực, những vụ bắt bớ phi pháp, những phiên tòa mờ ám, thấp hèn và tàn bạo liên tục diễn ra dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Duy trì đảng cầm quyền đứng trên pháp luật để tham nhũng, bộ máy công cụ công an của Thủ tướng Dũng đối xử với những người yêu nước vô cùng tàn nhẫn, mất tính người. Bắt cóc trái pháp luật, giam cầm phi pháp bà Bùi Thị Minh Hằng, khủng bố tinh thần, hủy hoại thân xác để bịt tiếng nói yêu nước của người đàn bà quả cảm. Nhưng bộ máy công cụ bạo lực của Thủ tướng Dũng càng độc ác, man rợ thì tiếng nói lương tâm của người phụ nữ Việt Nam quả cảm, tiếng của lịch sử Việt Nam càng lay động mạnh mẽ những trái tim Việt Nam, càng vang xa ra thế giới văn minh, tố cáo với thế giới văn minh về một Nhà nước bạo lực, chà đạp luật pháp, chà đạp quyền Con Người.

Mờ ám, thấp hèn và tàn bạo với những tiếng nói trung thực và yêu nước là đặc trưng những phiên tòa thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Những phiên tòa đó sẽ đi vào lịch sử với tên gọi Phiên – Tòa – Nguyễn – Tấn – Dũng như lịch sử đã ghi nhận những phiên tòa đưa cổ những người Cộng sản vào máy chém theo luật 10/59 dưới thời ông Ngô Đình Diệm cầm quyền ở miền Nam Việt Nam là Phiên – Tòa – Ngô – Đình – Diệm!

Mức độ mờ ám, thấp hèn và tàn bạo của những Phiên – Tòa – Nguyễn – Tấn – Dũng càng ngày càng tăng và đỉnh điểm về sự mờ ám, thấp hèn, tàn bạo của Phiên – Tòa – Nguyễn – Tấn – Dũng là phiên tòa xử ba nhà báo nồng nàn yêu nước và lẫm liệt khí phách đấu tranh đòi tự do, đòi quyền Con Người, nhà báo Nguyễn Văn Hải, nhà báo Tạ Phong Tần, nhà báo, luật sư Phan Thanh Hải.

Ông tướng công an là cố vấn kè kè bên cạnh ông Thủ tướng nên trong xã hội, công an cũng luôn kè kè bên người dân, công an trở thành chủ thể, là bộ mặt, là tiếng nói của chính quyền với người dân và cũng là hung thần, là hiện thân của cái ác trong cuộc sống.

Những trí thức viết Kiến nghị gửi lãnh đạo Nhà nước, những nơi nhận Kiến nghị đều im lặng. Những người lãnh đạo Nhà nước coi dân, coi trí thức như hư vô, như không có, nếu có cũng chỉ là bầy đàn, bầy ong bầy kiến, không đáng trả lời. Lãnh đạo Nhà nước không thèm trả lời Kiến nghị của trí thức nhưng công an thì đến từng nhà người kí Kiến nghị dằn mặt, răn đe.

Công an chặn cửa không cho người dân ra khỏi nhà đi biểu tình chống Đại Hán cướp biển đảo Việt Nam, giết dân lành Việt Nam. Công an chốt chặn suốt đêm ngày, ngày này qua ngày khác quanh nhà người có chính kiến khác biệt với chính quyền, đi đâu một bước công an bám theo một bước. Người có tiếng nói khác biệt với chính thống vẫn là công dân mà bị công an ngang nhiên tước đoạt quyền công dân, trở thành người tù ngay trong nhà mình, là người tù ngay trong cuộc sống đời thường quí giá của cuộc đời. Công an vô cớ xông vào nhà khám xét, bắt người có chính kiến khác biệt vất lên ô tô chở về đồn công an như chở một đồ vật. Công an bắt người dân yêu nước biểu tình chống Đại Hán xâm lược rồi vật ngửa ra, khiêng lên ô tô như khiêng heo cho một công an khác đứng trên bậc cửa ô tô đạp tới tấp vào mặt người dân yêu nước.

Hành xử với dân như vậy là hành xử của đám lưu manh, côn đồ. Và lưu manh, côn đồ thứ thiệt cũng được công an sử dụng như công cụ bạo lực Nhà nước để khủng bố, đàn áp dân. Tự xưng là thương binh xông vào cơ quan Nhà nước hành hung cán bộ Nhà nước, chửi tục và tụt quần ăn vạ giữa cơ quan Nhà nước thì chỉ có lưu manh, côn đồ mới hành xử như vậy. Người dân bình thường cũng đủ tỉnh táo nhận ra đám người tự nhận thương binh làm trò côn đồ đó theo lệnh của ai. Bảy trăm cơ quan ngôn luận Nhà nước làm ngơ trước những biểu hiện của xã hội đang bị bạo lực hóa, côn đồ hóa nhưng có tờ báo lớn của chính thống lại lu loa lên án người bị nạn, bị côn đồ gây sự đe dọa!

Chế tạo ra những thứ hôi thối, bẩn thỉu ném lên tường nhà, đổ vào cửa nhà dân. Đổ sơn, đốt cổng nhà dân .  .  . Những người dân phải hứng chịu trò côn đồ bẩn thỉu đó là những người đã từng là tù chính trị trong nhà tù Cộng sản, đã nhiều lần bị công an vô cớ bắt giữ, khám xét nên người dân đều biết rõ ai đã ra lệnh cho lũ côn đồ làm trò bẩn thỉu đó!

Công an đánh chết dân ngoài đường, đánh chết dân trong đồn công an diễn ra khắp nơi, ngày càng nhiều. Doanh nghiệp nước ngoài bị mất một số sản phẩm trong kho. Anh công nhân theo dõi việc xuất sản phẩm được mời lên đồn công an hôm trước thì hôm sau đã là cái xác không hồn. Cái chết của anh công nhân cao trên một mét bảy, nặng trên bảy mươi cân được công an giải thích là do anh tự treo cổ bằng sợi dây điện thoại mỏng manh! Anh công nhân mới cưới vợ trẻ, hai vợ chồng trẻ có việc làm ổn định, có cuộc sống vững vàng, đã mua được đất chuẩn bị xây ngôi nhà mơ ước để đón những đứa con của hạnh phúc và điều quan trọng là anh đã khẳng định mình vô tội trong vụ mất sản phẩm của doanh nghiệp và đang chứng minh sự vô tội đó vậy mà viện Kiểm sát tối cao sau ít ngày “điều tra” lấy lệ lại xưng xưng kết luận là anh công nhân tự tìm đến cái chết vì hối hận! Đó là kết luận của những thế lực liên kết tạo thành những nhóm lợi ích, kết luận của bạo lực Nhà nước, không phải là kết luận của công lí, của lương tâm , của lẽ phải.

Thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bạo lực đã thay công lí. Cuộc sống chỉ có Bạo lực! Bạo lực! Và Bạo lực! Công lí như mặt trời trong đêm, không còn có trong cuộc sống nữa. Bóng công an, bóng bạo lực, bóng tối Trung Cổ đè xuống cuộc sống. Công an giết dân. Côn đồ giết dân. Mạng sống của người dân quá mong manh. Xã hội đầy nhiễu nhương, bất an.

Cuộc sống bị công an hóa, bạo lực hóa và Nhà nước đi đầu nêu tấm gương sử dụng bạo lực trong nhiều mối quan hệ dân sự với dân. Đại tá, giám đốc công an thành phố chỉ huy cuộc hành quân binh chủng hợp thành, công an và quân đội phối hợp, bài binh bố trận như một trận đánh sống mái với quân thù, bao vây, nã súng vào ngôi nhà đơn sơ, chơ vơ trên bãi biển chỉ có đàn bà và trẻ con của gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Ba ngàn cảnh sát chiến đấu của Bộ Công an cùng lực lượng công an huyện, công an tỉnh, áo giáp, tay khiên, tay súng trùng trùng đội ngũ, ầm ầm ra quân, trấn áp, xua đuổi vài trăm nông dân tay không, đầu trần, chân đất ở Văn Giang, Hưng Yên. Bạo lực Nhà nước được huy động cao nhất giành mảnh đất sống của người nông dân giao cho nhà tư bản để họ kinh doanh làm giầu trên sự khốn cùng của những người nông dân đã góp xương máu mồ hôi dựng lên Nhà nước này. Hàng chục người dân lương thiện đã bị công an đánh chết trong các đồn công an trên cả nước khi người dân bị công an bắt chỉ vì những lỗi nhỏ trong sinh hoạt như đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, to tiếng cãi nhau với người thân, với hàng xóm .  .  .

Đau xót và tủi nhục cho nền văn minh Sông Hồng rực rỡ và cho mảnh đất Thăng Long – Hà Nội ngàn năm Văn hiến là chính ở trung tâm văn minh Sông Hồng, chính ở kinh đô ngàn năm văn hiến lại là nơi người dân bị công an đánh chết nhiều nhất, chết thương tâm nhất. Giữa thủ đô Hà Nội công an treo cao cái slogan chữ lớn bầy tỏ lòng trung thành của công an với đảng Cộng sản: Công an nhân dân chỉ biết còn đảng còn mình, dưới cái slogan ấy nhiều người dân Hà Nội đã bị công an đánh chết thê thảm: Ngày 21. 11. 2009, anh Nguyễn Mạnh Hùng, 33 tuổi bị đánh chết trong trại tạm giam của công an quận Hà Đông, Hà Nội. Chỉ ba tháng sau, ngày 21. 1. 2010, anh Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, bị đánh chết trong trại tạm giam của công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Năm tháng sau, ông Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi bị hai công an xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mĩ, Hà Nội đánh chết. Tám tháng sau, ngày 28. 2. 2011, ông Trịnh Xuân Tùng, 53 tuổi, bị trung tá Nguyễn Văn Ninh, công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội đánh gãy cổ ở bến ô tô Giáp Bát dẫn đến cái chết trong đau đớn. Đau đớn cho người đang chờ chết, càng đau đớn gấp bội cho người sống còn lương tâm. Người dân Hà Nội còn chưa nguôi ngoai, chưa thể vơi nỗi căm phẫn ghê tởm trước sự độc ác, nhẫn tâm giết người của viên trung tá công an Nguyễn Van Ninh thì ngày 30. 8. 2012, công an xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội ngay trong buổi chiều bắt giam ông Nguyễn Mậu Thuận, 54 tuổi, vì xích mích với hàng xóm, đã đánh chết ông Thuận ngay trong trụ sở công an xã!

Nhà nước nào, xã hội đó. Nhà nước bạo lực tất tạo ra xã hội bạo lực. Những va chạm xích mích nhỏ từ trong gia đình đến ngoài xã hội đều giải quyết bằng bạo lực, bằng máu, bằng sự tước đoạt mạng sống của nhau. Cha giết con. Vợ giết chồng. Anh giết em. Người yêu giết người yêu .  .  . xảy ra hàng ngày trên khắp đất nước. Những cuộc thanh toán đẫm máu thường xuyên xảy ra trên đường phố, trong làng quê. Chú bé Lê Văn Luyện chưa đến tuổi thành niên lạnh lùng vung dao giết cả nhà bốn người chủ tiệm vàng để vơ một nắm vàng. Thời bạo lực Nguyễn Tấn Dũng đã sản sinh ra tội ác Lê Văn Luyện.

Đất nước của những bài dân ca, của những câu ca dao, thành ngữ chan chứa tình yêu thương: Thương Người như thể thương thân, bây giờ là đất nước của bạo lực, hận thù, của máu và nước mắt! Đất nước Việt Nam hiền hòa, gấm vóc của tôi ơi, có bao giờ đau đớn và tối tăm thế này chăng?

Văn minh tin học đã mang lại cho Con Người cuộc sống kì diệu, Với văn minh tin học, Con Người làm được những việc mà trước đây chỉ có thần thánh trong những câu chuyện cổ tích, thần thoại mới làm được.  Con Người đã trở thành thần thánh. Được sống với những tiện nghi kĩ thuật do công nghệ thông tin mang lại, Con Người còn được sống trong những giá trị nhân văn cao cả. Quyền Con Người đã là phổ quát, là đương nhiên ở mọi xã hội. Nhưng trên đất nước Việt Nam thân yêu của tôi với ông Thủ tướng khinh trí tuệ, trọng bạo lực, giữa kỉ nguyên văn minh tin học, người dân Việt Nam vẫn chưa được sống kiếp Người, vẫn chỉ là bầy đàn, bầy ong, bầy kiến, vẫn phải sống trong bạo lực Trung Cổ. Quyền Con Người bình dị vẫn chỉ là thứ xa xỉ, vẫn là nỗi khao khát, mơ ước của người dân Việt Nam!

Tôi viết trong nghẹn ngào, đến đây nước mắt đã làm nhòe tất cả, tôi không thể viết được nữa!

%d bloggers like this: