Lưu trữ | 9:19 Chiều

Chủ nhân Man Booker 2012: “Cần có chỗ cho văn chương nghiêm túc” – TT&VH

19 Th10

Chủ nhân Man Booker 2012: “Cần có chỗ cho văn chương nghiêm túc” 

(TT&VH) – Hilary Mantel, nhà văn vừa giành giải văn học danh giá Man Booker lần thứ 2, cho rằng truyện kỳ ảo như Harry Potter hay truyện khiêu dâm như Fifty Shades of Grey hiển nhiên dễ dàng nổi tiếng nhưng độc giả cần có gu đọc “lành mạnh” hơn thế.

Mantel đưa ra lời phát biểu trên trong chương trình Radio 4 của kênh BBC vào ngày 17/10 khi được hỏi về “vị thế hiện tại của tiểu thuyết” và những gì người ta đang đọc. Bà không trực tiếp nhắc đến tên hai cuốn sách bán chạy bậc nhất thế giới, Harry Potter của J.K. Rowling và Fifty Shades of Grey của E.L. James, nhưng qua cách mô tả, không ai là không nhận ra bà đang nói về chúng (đặc biệt là Fifty Shades of Grey).

Văn chương có thể vừa hay vừa ăn khách

Mantel nói: “Tôi nghĩ là một sai lầm khi người ta quá đói khát những thứ liên quan đến khổ dâm và ác dâm (ám chỉ Fifty Shades of Grey)”.

“Thời nào cũng có các tiểu thuyết thể loại (viết theo thể loại cụ thể cho một nhóm độc giả cố định), kể cả có là roi da và xiềng xích (ám chỉ Fifty Shades of Grey) hay cậu bé phù thủy (ám chỉ Harry Potter), rất nổi tiếng và thành công về thương mại. Nhưng điều quan trọng là vẫn tồn tại một thứ gu lành mạnh, thứ người ta vẫn gọi với thái độ tiêu cực là tiểu thuyết nghiêm túc”.

Ý của Mantel là nhiều người nghĩ “nghiêm túc” đồng nghĩa với ít độc giả, hoặc tệ hơn là chẳng ai thèm đọc.

“Nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng, tiểu thuyết có thể vừa rất nổi tiếng vừa hay và đáng đọc lại lần thứ hai”.

Nữ tiểu thuyết gia người Anh đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hai luồng văn chương: nghiêm túc và ăn khách ngay từ khi khởi nghiệp viết lách. Bà chọn viết tiểu thuyết lịch sử, một đề tài khó nhằn, trong khi người ta chủ yếu muốn đọc về phụ nữ, đàn ông, chuyện tình dục… Không có đề tài thấp kém, chỉ có khả năng viết thấp kém, và Mantel kiên trì với tiểu thuyết lịch sử vì đó vô tình lại là mảng đề tài yêu thích của bà.

Nhà văn Hilary Mantel. Ảnh: David Rose

 

 

Sách người lớn và sách “cho người trưởng thành”

Có thể Hilary Mantel không đánh đồng chất lượng văn học của Harry Potter và Fifty Shades of Grey; dù sao thì cuốn tiểu thuyết cho “người lớn” cũng bị chê bai nhiều hơn hẳn câu chuyện về cậu bé phù thủy. Nhưng, có thể thấy bà không mấy ủng hộ dòng văn học đáp ứng thị hiếu của một nhóm độc giả chuyên biệt.

Với Mantel, “văn chương nghiêm túc” có vai trò lớn lao hơn thế, và chắc chắn gặp nhiều thách thức hơn.

Điều thú vị là chính J.K. Rowling cũng không chấp nhận “ngồi chung chiếu” với E.L. James. Theo trang Books & Review, mới đây, khi quảng bá cuốn sách mới The Casual Vacancy của mình, tác giả Harry Potter bày tỏ, bà vui mừng với việc Fifty Shades of Grey đang là cuốn tiểu thuyết “người lớn” thành công nhất thế giới.

Nhưng, Rowling nhấn mạnh, có sự khác biệt rất lớn về yếu tố người lớn giữa hai tác phẩm của bà và E.L. James. “Khác nhau ở chỗ, trong sách của tôi cũng có cảnh làm tình nhưng không phải viết ra để người đọc thưởng thức và thỏa mãn”.

Rowling muốn người ta xếp cuốn sách của bà vào một hạng mục khác, “tiểu thuyết dành cho những người trưởng thành”, lưu ý rằng bà không muốn người đọc nghĩ mình vừa chuyển từ thế giới huyền bí của các phù thủy sang kiểu khiêu dâm như trong sách của E.L. James.

Say sưa với tiểu thuyết lịch sử

Trở lại với Hilary Mantel, bà được trao giải Man Booker 2012 hôm 16/10 với tác phẩm mới nhất Bring Up the Bodies, một tiểu thuyết lịch sử. Đây là cuốn thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết Thomas Cromwell. Trong cuốn sách này, tác giả kể về cuộc đời vị hoàng hậu nổi tiếng và tai tiếng Anne Boleyn thông qua góc nhìn của một người đàn ông, chính là Thomas Cromwell.

Mục Góc nhìn của tờ Telegraph đưa ý kiến của hội đồng trao giải Man Booker nhận xét về Hilary Mantel: “Bà sử dụng văn xuôi để làm những thứ mình thích, giống như một ca sĩ hay một nhạc công piano”.

“Bà viết tiểu thuyết lịch sử mà như khiến người đọc cảm thấy điều mà lịch sử đã cảm thấy. Đó là một sức mạnh đặc biệt, khi bà có khả năng làm cho Robespierre đáng cảm thông trong cuốn sách trước, và với cuốn sách này là

Thomas Cromwell. Và bây giờ, ở đỉnh cao của sức mạnh đó, bà đang viết tiếp cuốn thứ ba trong bộ ba”.

Mantel cũng tâm sự về quá trình sáng tác Bring Up the Bodies, đặc biệt là khi viết về những phút cuối cùng trong cuộc đời Anne Boleyn. Nhà văn nói, khó nhất là đoạn hoàng hậu ấy bị “xóa khỏi lịch sử”. Đó là đoạn khiến bà phải suy nghĩ rất nhiều, nhưng cuối cùng lại chỉ mất “khoảng một phút” để viết xong. “Một khi bạn tìm được đúng từ cần dùng, bạn sẽ viết không đắn đo”.

Vài nét về nữ nhà văn 2 lần đoạt giải Man Booker
Hilary Mantel sinh năm 1952, từng được Nữ hoàng Anh phong tước CBE vào năm 2006. Bà cũng là một tác giả vừa được nhiều giải thưởng vừa có sách bán khá chạy.

Giải Man Booker trao hàng năm cho các nhà văn Anh, Ireland và Khối thịnh vượng chung, là một trong những giải thưởng văn học lớn và có giá trị nhất thế giới. Người chiến thắng được trao 50.000 bảng Anh.

Đến nay, mới có 3 nhà văn từng 2 lần giành giải Man Booker, trước đây là JM Coetzee và Peter Carey. Hilary Mantel là nhà văn Anh đầu tiên và cũng là người phụ nữ đầu tiên đạt được thành tích này.

 

 

Hạ Huyền

Thơ Kha Tiệm Ly: LỜI CHÍNH KHÍ

19 Th10

LỜI CHÍNH KHÍ

 

Kha Tiệm Ly

 

Không cam lòng sống kiếp tôi đòi

Thà cổ bị lìa, hơn chết toi.

Bởi Đá Bạc bầm mình hứng lửa,

Nên Hoàng Sa Nộ Khí xung trời.

Một bọc mẹ cha, chung giọt máu,

Mười vạn anh em, rặt giống  nòi.

Muôn lạch đều xuôi về biển lớn,

Trăm non mãi mãi vẫn cao vời!

 

Kha Tiệm Ly

Ôtô gỗ tự chế đầu tiên tại Việt Nam

19 Th10

Ôtô gỗ tự chế đầu tiên tại Việt Nam

Ngoại trừ gầm và hệ thống truyền động nhập về, tất cả chi tiết còn lại trên chiếc ôtô tự chế của anh Lê Nguyên Khang đều làm thủ công bằng gỗ.

Từ ý tưởng muốn làm điều gì đó độc đáo với gỗ, anh Lê Nguyên Khang, người theo ngành gỗ từ năm 1990 ở quận 7 TP HCM quyết định làm chiếc xe bằng gỗ đầu tiên ở Việt Nam.
Chiếc xe hơi gỗ bắt đầu lên khuôn vẽ do chính anh cùng đội ngũ nhân viên tự thiết kế, đến tháng 4/2011 anh bắt tay vào làm. Khung gầm, động cơ, hộp số, dàn nhíp, hệ thống truyền động, vô lăng của hãng BMW được nhập về, còn lại tất cả đều làm thủ công từ gỗ. Xe nặng 1.420 kg.
Trong quá trình làm sản phẩm này, có lúc các nhân viên, thợ đã phải bỏ ngang do quá khó. Tuy nhiên, với quyết tâm, sau nhiều tháng anh đã hoàn thành ôtô gỗ độc đáo này. Chiếc xe mui trần có chiều dài 4,6 m, rộng 1,8 m.
Phía đầu xe thiết kế chạm trổ với chữ Le Lumber cùng hình rồng. Anh Khang cho biết các hoa văn, họa tiết này mang ý nghĩa biểu tượng Việt.
Đèn giả phía trước. Thiết kế xe này được chủ nhân cho biết không giống bất kỳ khuôn mẫu nào.
Tên xe được đặt là Achilles. Các bộ phận của xe được làm từ gỗ căm xe, tần bì, walnut (óc chó) nhập từ nước ngoài.
Phía bên hông xe trạm chổ hoa văn và Phụng. Tay mở cửa cũng được làm công phu.
Đèn chiếu hậu làm từ gỗ.
Kính chiếu hậu với hoa văn ở viền cửa xe.
Lốp xe dùng là lốp bình thường cho các loại ôtô.
Các chi tiết, bản lề cửa được làm tỉ mỉ. Xe có thể dùng trong nhà hàng, khách sạn, sân golf, khu du lịch. Ngoài ra, chủ nhân chiếc xe cũng đang ấp ủ dự định làm những chiếc xe gỗ chạy bằng điện phục vụ du lịch cho TP HCM.
Anh Khang cho biết, xe có thể chạy an toàn với tốc độ 60 km/h. Giá bán của chiếc xe này là 24.000-25.000 USD. Toàn bộ số tiền bán xe sẽ dùng làm từ thiện. Về việc kiểm định, nếu người mua cho chạy ngoài đường thì cần phải đi kiểm định. ‘Tôi hoàn toàn tin tưởng việc kiểm định cho chiếc xe này”, anh Khang nói.
Bài và Ảnh do Kha Tiệm Ly gởi đến Vô Ngã

Truyện ngắn ở Thành phố Hồ Chí Minh: một vài ghi nhận – PBVH

19 Th10
 

Truyện ngắn ở Thành phố Hồ Chí Minh: một vài ghi nhận 

Lê Văn Thảo – Huỳnh Như Phương

 Hình thành từ khi Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược sứ lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn cách nay hơn 300 năm, Thành phố Hồ Chí Minh – tên gọi được chính thức xác định khi nước Việt Nam thống nhất năm 1975, bao gồm địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định trước đây – có một lịch sử đặc biệt và một số phận khác thường.

 

Trong ba thế kỷ xây dựng và phát triển của nó, Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều chế độ khác nhau: phong kiến, thuộc địa, tư bản – thực dân cũ và thực dân mới – và nay là xã hội chủ nghĩa. Nó đã chứng kiến và chịu ảnh hưởng của nhiều sự kiện lịch sử lớn lao làm biến đổi xã hội và con người: cuộc xâm lược của những đoàn quân viễn chinh; những cuộc nổi dậy và kháng chiến giành độc lập; sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây; những cuộc di dân từ miền Bắc, miền Trung, từ nông thôn miền Đông và miền Tây Nam Bộ; những cuộc chính biến và đổi ngôi của các thế lực cầm quyền…

Tất cả những điều đó đã làm cho thành phố này mang một cấu trúc đa dạng và đa sắc trong tiến trình lịch sử về mọi lãnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, cơ cấu dân cư, văn hoá, tư tưởng và cả văn học nghệ thuật. Trong những giai đoạn chuyển tiếp của lịch sử, thành phố này từng là hợp thể của những đối cực về văn hoá mà những giá trị thực sự muốn giành vị trí để được thừa nhận rộng rãi nhiều khi phải trải qua nhiều thời gian tranh cãi, thuyết phục. Cho đến nay một công trình tổng kết đầy đủ hành trình văn hoá, văn học của 300 năm lịch sử thành phố vẫn là dự án còn ở phía trước.

Chỉ tính riêng 37 năm từ ngày đất nước thống nhất, việc tổng kết những thành tựu trên lĩnh vực văn học cũng chỉ là công việc bước đầu. Những cuốn sách tập hợp và tuyển chọn tác phẩm văn học của người thành phố hay viết về thành phố, bao gồm cả một số tác giả định cư ở nước ngoài, hiện chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Khó khăn đặt ra ở đây không chỉ về tư liệu mà còn về một quan niệm, một cách nhìn thoả đáng, có khả năng được sự đồng thuận trong văn giới, đối với những giá trị cần được khẳng định và lưu giữ.

Người viết truyện ngắn ở thành phố hiện nay có đến cả trăm, với những phong cách khác nhau, chọn những tác giả nào đại diện cho một nền văn xuôi là chuyện không dễ. Mỗi tác giả lại không phải chỉ có một tác phẩm hay, chọn truyện ngắn nào tiêu biểu cho một phong cách cũng là chuyện phải cân nhắc. Truyện ngắn hay với người này chưa chắc đã hay với người khác, tác phẩm được bạn đọc trong nước hoan nghênh có thể nhận sự thờ ơ của bạn đọc nước ngoài.

Những nhà văn cao niên viết truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh hầu hết là những người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Sơn Nam, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Thanh Giao, Đoàn Minh Tuấn, Đinh Phong… Sau năm 1954, nhiều người thuộc thế hệ của họ tập kết ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Genève, và chấp nhận tình cảnh bị cắt đứt với cái nôi của phong tục và ngôn ngữ miền Nam. Chính vì vậy mà ở trên miền Bắc, họ hầu như chỉ viết về thiên nhiên và con người nơi quê hương xa cách với những hồi ức và kỷ niệm. Điều đó lại tiếp tục khi họ trở về quê hương, ngay khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi ác liệt hay khi đất nước đã thanh bình, đoàn tụ. Trần Kim Trắc, vốn được biết đến nhờ một vài truyện ngắn được phổ biến thời chống Pháp ở Nam Bộ, ra đến miền Bắc, vì một lý do riêng, đã ngưng sáng tác cho đến ngày trở về miền Nam sau 1975, mới cầm bút trở lại và khai thác những câu chuyện ngày cũ bị bỏ dở. Đoàn Giỏi nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, kết hợp đặc sắc chất phương xa và nghệ thuật miêu tả phong tục, khi trở lại cố hương tiếp tục phát huy thế mạnh của mình qua câu chuyện Tiếng gọi ngàn.

 Cùng thế hệ đó, trên miền Bắc, Bùi Đức Ái, Nguyễn Sáng kịp xuất bản một vài cuốn sách với tên thật thuở mới vào nghề, trước khi đổi bút danh thành Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng để trở về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với Nguyễn Thi, Trần Hiếu Minh, Đinh Quang Nhã, Võ Trần Nhã… Trong khi đó, Viễn Phương, Trang Thế Hy ở lại Sài Gòn, chịu cảnh tù đày rồi thoát ra chiến khu, nơi “tập kết” mới không chỉ của những người đi từ Bắc vô Nam dọc con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, mà cả những người trẻ hơn, từ bỏ cuộc sống thị thành, chấp nhận cầm bút viết văn trong hoàn cảnh đối diện với cái chết, như Lê Văn Thảo, Nguyễn Hồ, Lê Văn Duy… Có thể nói họ những nhà văn am hiểu sâu sắc cuộc sống và con người Nam Bộ trong kháng chiến lần thứ hai.

Những người ra đi từ miền đất này, mãi hơn 20 năm sau, mới gặp lại nhau trên thành phố Sài Gòn, nay đã đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh: người theo chân chiến dịch Hồ Chí Minh về sớm, người giã từ Hà Nội hồi hương muộn hơn đôi chút. Họ cũng gặp gỡ những nhà văn từng sống và cầm bút trong nội thành (Sơn Nam, Vũ Hạnh, Nguyễn Nguyên, Lưu Nghi, Trần Hữu Lục, Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Đoàn Thạch Biền…), những nhà văn quê gốc miền Bắc định cư ở thành phố (Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Văn Lê, Triệu Xuân, Lê Điệp, Dương Trọng Dật, Hoàng Đình Quang, Nguyễn Quốc Trung…) cùng với những cây bút thuộc thế hệ mới, trẻ hơn, những người chung một niềm khát khao xây dựng nền văn học trên đất nước nay đã hoà bình độc lập, trong một hoàn cảnh không phải đã hết những ngộ nhận và mặc cảm về nhau, những ngộ nhận và mặc cảm mà tất cả đều biết rằng sự giải toả bằng ứng xử nghề nghiệp và bằng chính ngòi bút không phải là chuyện một sớm một chiều.

Không phải ngẫu  nhiên mà Bàn thờ tổ của một cô đào (Nguyễn Quang Sáng), Tiếng hát và tiếng khóc (Trang Thế Hy) cùng đặt vấn đề về lý tưởng nghề nghiệp, quan niệm nghệ thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ. Người viết văn cũng như đào cải lương Thanh Sa, vừa phải diễn cho hay đồng thời vừa phải để công chúng tôn trọng về nhân cách. Dù là đối thoại bằng ngôn ngữ dân dã hay hơi văn hoa, trí thức, những nhân vật ấy ý thức rằng nghệ thuật luôn đặt trên một niềm tin về lý tưởng. Có tra vấn về lý tưởng, nhưng họ không quá dằn vặt, không đến mức phải cố gắng để mà sống, lại càng không rơi vào tình trạng khủng hoảng lòng tin.

Trong những nhà văn cao niên, Mạc Can là một trường hợp đặc biệt: là một nghệ sĩ ảo thuật, ông bước vào nghề văn khá muộn, hoàn toàn như một người “tự đào tạo”. Khẩu thuật là truyện ngắn tiêu biểu gắn liền với vốn sống do nghề nghiệp đem lại cho ông. Nó cũng thể hiện cách viết sở trường của Mạc Can: “người nói giọng bụng” là tiếng nói thứ hai từ trong tiềm thức của ông, nó là tiếng nói của tấm lòng, của sự chân thành trước khi là tiếng nói của tài năng.

Như một quy luật, nếu biểu đồ sáng tác của những nhà văn cao niên ngày càng thưa thớt, thì ấn phẩm của thế hệ trẻ ngày càng dày lên trên các kệ sách. Ở tuổi đôi mươi khi miền Nam đổi thay chế độ, Nguyễn Thị Minh Ngọc là Nguyễn Thị Ngọc Minh, Ngô Thị Kim Cúc là Vô Ưu mà truyện ngắn được chú ý trên báo định kỳ của Sài Gòn thời cũ, hơn ba thập kỷ qua đã cùng Lý Lan, Nguyễn Đông Thức… làm chứng cho những đổi thay trong bước chuyển xã hội nhiều khi làm quặn thắt lòng người.

Không có gì khó hiểu khi tác phẩm của thế hệ chuyển tiếp này mang dấu ấn bi kịch của xã hội. Truyện ngắncủa Nguyễn Thị Minh Ngọc, Lý Lan  mang không khí bước chuyển của thời đại, đồng thời với dấu hiệu của tuổi trẻ hoang mang và khủng hoảng. Nhân vật không những tra vấn về lý tưởng mà còn tự tra vấn về chính sự hiện hữu của mình. Sống, bây giờ, đối với họ là một cố gắng. Đi tìm căn cước của chính mình giữa một thế giới chuyển động ở ngoài ý muốn, nhân vật trong Cô con gái của Lý Lan đối mặt với sự giả dối, khi mà “nói dối trở thành một nghệ thuật sống”. Ý tưởng này còn bắt gặp trong ẩn dụ về Rượu của Nguyễn Đông Thức: nhà văn mượn chuyện lẫn lộn rượu thật, rượu giả để nói về chuyện thật giả ở đời vốn khó lường.

Ở những nhà văn trẻ hơn, hầu hết lớn lên sau ngày hoà bình, nhận thức về đời sống gắn liền với ý thức về số phận tuổi trẻ trong bối cảnh mới của xã hội. Trên một phối cảnh rộng, những truyện ngắn vềchủ đề “vào đời”của Phan Triều Hải, Tiến Đạt… phơi bày một đời sống đa diện. Trên một trắc diện hẹp, truyện ngắn Có con của Phan Thị Vàng Anh bộc lộ nỗi hoang mang trong tình cảm lẫn lộn mơ hồ của một cô gái với cái bào thai dường như đang tượng hình trong bụng: một mặt, nó như cái neo của tình yêu; mặt khác, nó đe doạ tự do sống và tự do chết của chính mình.

Trong kháng chiến, các nhà văn ít viết chuyện gia đình, nếu có thì cũng là nhân đó nói chuyện chiến đấu, chuyện xã hội. Khi hoà bình trở lại, những biến chuyển xã hội dội vào bên trong gia đình, cá nhân đối mặt với khủng hoảng và bi kịch ngay trong tổ ấm của mình. Những gì mà lịch sử tưởng rằng đã giải quyết trên bình diện xã hội, thì lại ngấm ngầm gây ra những vết thương ở đằng sau những cánh cửa. Chị em, một truyện ngắn cảm động của Nguyễn Thị Châu Giang, cho thấy thiện ý của con người nhắm đến sự hoà giải trong một gia đình sau chiến tranh.

Có thể thấy cái nhìn ưu tư và dằn vặt về đời sống trong nhiều truyện ngắn của Trần Nhã Thuỵ, Vũ Đình Giang, Nguyễn Vĩnh Nguyên, nhưng cách ứng xử để giải quyết thì mỗi người mỗi vẻ. Đối mặt với vấn đề thế sự qua những cảnh đời oan khổ trên đất nước hiện nay, truyện ngắn Đất của Nguyễn Danh Lam có dáng dấp một truyện vừa thu gọn, kế thừa truyền thống hiện thực của văn xuôi viết về người nông dân bị cách ly khỏi mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Nhưng nếu các tác phẩm trước đây của Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam gắn với nông thôn thời chiến qua số phận của những người nông dân chân lấm tay bùn, thì truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nói đến cuộc đổi dời gây chấn thương trong tâm hồn những người trẻ vừa rời ghế nhà trường. Không có những tìm tòi nghệ thuật, Đất của Nguyễn Danh Lam khiến người ta chú ý vì nó cho thấy những nhà văn trẻ vẫn không quay mặt với đám đông khốn khổ và vẫn muốn xem văn học như những lời cảnh báo.

Nhiều cây bút trẻ hiện nay chủ yếu sống ở miền Nam, nhưng họ không ngại viết về những con người của Hà Nội và nông thôn miền Bắc. Dễ hiểu thôi, đất nước bây giờ đã thống nhất, người vùng này đi lại, giao tiếp nhiều ở vùng kia, ngôn ngữ địa phương từng bước hoà trộn vào ngôn ngữ dân tộc. Những nhà văn trẻ bây giờ không còn sự dè dặt của những nhà văn đàn anh sống trên đất Bắc để chỉ viết về quê hương bản quán. Sự hội nhập về văn hoá sẽ dẫn đến sự hội nhập về ngôn ngữ và việc đi tìm ngôn ngữ Nam bộ thuần khiết chắc sẽ khó khăn, cũng như không còn cần thiết, trong một thành phố đa dạng về dân cư như Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố ở bến sông, gần cửa biển, đã chứng kiến những cuộc giao lưu và tiếp biến văn hoá. Văn học thành phố vẫn không thôi nuôi khát vọng mở cửa ra với thế giới. Qua tấm gương của truyện ngắn, bạn đọc có điều kiện cảm nhận được những nét chính trong sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật ở thành phố này.

Sức sống của truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất trong sinh hoạt báo chí. Như thông lệ, vào độ cuối năm, các toà soạn báo tập trung làm báo Tết. Mỗi tờ báo Tết đều phải chuẩn bị vài ba truyện ngắn của những tác giả được ưa thích. Có tác giả ăn khách một cái Tết đăng được ba, bốn truyện ngắn, nhận tiền nhuận bút gần bằng nửa năm lương công chức. Muốn vậy, người viết phải chuẩn bị từ mấy tháng trước, suy nghĩ đề tài nào phù hợp với mùa xuân, cốt truyện hấp dẫn nhưng đừng buồn quá. Viết xong rồi, nếu không phải chính toà soạn đặt bài, thì còn cân nhắc nên gửi cho báo nào để chắc chắn được sử dụng.

Khoảng 20 năm nay, từ khi hệ thống báo chí nước ta phát triển đa dạng, truyện ngắn là thể loại văn học được hưởng lợi nhất. Hàng tuần báo nào cũng giới thiệu truyện ngắn, có truyện ngắn với tư cách “đoản thiên tiểu thuyết”, truyện ngắn 1.200 chữ, truyện ngắn trong lòng bàn tay, truyện ngắn “vi hình”, truyện cực ngắn và tuyệt ngắn. Nhiều tập truyện ngắn là kết quả một thời gian tác giả “cày bừa” trên mặt báo, sau đó tập hợp lại thành sách. Cứ trung bình một truyện ngắn đăng báo được trả hai triệu đồng, viết 12 truyện sẽ được khoảng 24 triệu; nhưng nếu những truyện đó in thành sách, với tirage 1.000 bản thì nhuận bút cũng chỉ bằng một phần ba số đó.

Như vậy, hiện nay cả về sức phổ biến lẫn sự đãi ngộ, báo chí trở thành bà đỡ cho truyện ngắn. Mặt báo là nơi tập dượt và thi thố của các tài năng văn xuôi. Hầu như không một người viết truyện ngắn đích thực nào thành danh mà không đi vào thế giới văn chương qua cửa ngõ của báo chí. Tình hình này khác với báo chí miền Bắc trong chiến tranh, lúc truyện ngắn chỉ xuất hiện trên một số tờ báo định kỳ và hầu như vắng mặt trên nhật báo. Còn ở miền Nam thời ấy, nhật báo lại ưu tiên cho tiểu thuyết feuilleton, có tờ mỗi ngày đăng cùng lúc sáu tiểu thuyết; trong khi các tạp chí văn nghệ mới là đất dụng võ của truyện ngắn.

Thật thú vị khi chứng kiến hiện tượng không hề ngẫu nhiên này: trước đây ở Sài Gòn các nữ sĩ nổi tiếng đều viết tiểu thuyết. Đó là Bà Tùng Long, Tuý Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Lệ Hằng… Còn hiện nay thế mạnh của những cây bút nữ ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là truyện ngắn: Lý Lan, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Dạ Ngân, Bích Ngân, Hồng Duệ, Phan Thị Vàng Anh, Trầm Hương, Hiền Phương, Phạm Thị Ngọc Liên, Lưu Thị Lương, Nguyễn Thị Châu Giang, Phan Hồn Nhiên, Trầm Hương, Nguyễn Thu Phương, Kim Quyên, Thu Trân, Nguyễn Thuý Ái, Dương Thuỵ, Liêm Trinh… Nói như vậy không phải là phủ nhận những cuốn tiểu thuyết hay của các nhà văn nữ; nhưng rõ ràng là họ chiếm lĩnh thị trường chữ nghĩa chủ yếu ở lĩnh vực truyện ngắn. Thật sự chưa lúc nào trên địa bàn này có nhiều nhà văn nữ viết truyện ngắn như hiện nay.

Một cái lợi nữa của người viết truyện ngắn hiện nay là những thiên truyện thành công thường được in lại nhiều lần trong các tuyển tập. Dạo một vòng qua các hiệu sách, ta sẽ thấy một loạt sách Truyện ngắn hay, Truyện ngắn nữ, Truyện ngắn trẻ… Trên cái nền chung đó, chọn lựa một tập truyện ngắn của những tác giả thời danh để dịch sang tiếng Anh nhằm quảng bá cho văn học Việt Nam là việc khả thi.

Có thể nói truyện ngắn vẫn đang được những cây bút thuỷ chung bền bỉ khơi dậy sức sống tiềm tàng của nó. Đối với những nhà văn cao niên đã từng thao dượt và thu hoạch thành quả trên nhiều thể loại, nếu độc giả không còn trông đợi ở họ những bộ tiểu thuyết dài hơi, thì vẫn có hy vọng gặp lại cái duyên của ngòi bút họ qua những thiên truyện ngắn. Đọc những tập truyện của những phong cách đã định hình, bạn đọc phát hiện những ý tưởng thâm trầm ẩn chứa trong những cốt truyện và tính cách được sáng tạo từ những trải nghiệm lịch lãm. Còn với những nhà văn trẻ thì sức khai phá của thể truyện ngắn chứa đựng nhiều hứa hẹn chưa thể nào tiên đoán hết.

Tất nhiên, cũng như các thể loại khác, trong cái biển truyện ngắn hiện nay, bên cạnh những tác phẩm đặc sắc, những tác phẩm trung bình và tẻ nhạt nhiều không kể xiết. Điều này khiến cho một số người lo âu rằng sự phát triển về số lượng sẽ mâu thuẫn với chất lượng. Nhưng thử hỏi, ngay trong thời bao cấp, việc công bố tác phẩm hết sức khó khăn, bản thảo phải sắp hàng chờ đợi lâu, mà chất lượng cũng có phải tương xứng đâu! Thành ra, trong cuộc sống căng thẳng và bận rộn này, độc giả đừng sốt ruột thêm với văn chương, cứ thong thả mà đọc, trong năm bảy tập truyện gặp một cuốn hay, trong một cuốn gặp vài truyện hay, hẳn đó là niềm vui không dễ dãi mà cũng không uổng phí.

Nguồn: Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Nghĩ về đổi mới thơ từ trường hợp Hàn Mặc Tử – PBVH

19 Th10
 

Nghĩ về đổi mới thơ từ trường hợp Hàn Mặc Tử

Trần Thiện Khanh

1. Hàn Mạc Tử: một đỉnh núi lạ

Từ địa hạt thơ Đường bước sang lãnh địa thơ lãng mạn rồi thơ tượng trưng, Hàn Mạc Tử đã có đóng góp không nhỏ cho công cuộc cách tân thi ca Việt Nam. Thơ của Hàn Mạc Tử không chỉ mới ở thi tứ và ngôn từ, mà còn mới ở cách thức giải phóng yếu tố cá nhân trong những giấc mơ vô thức, ở sự thể hiện “vũ trụ tinh thần” bí ẩn hoàn toàn siêu nghiệm, siêu linh. Hàn Mạc Tử cùng với nhiều nhà thơ khác trong Trường thơ Loạn và nhóm Xuân Thu nhã tập đã đổi mới phương thức trữ tình bằng cách kéo gần thơ tới âm nhạc. Thi sĩ “dùng chiếc sáo của mình, chơi những điệu mình thích” (Mallarmé), biến nhạc thơ thành một thứ nhạc chiêu hồn, gợi lên những sắc thái tinh tế nhất của tâm trạng và những cảm niệm mơ hồ, kì lạ.

 

Vườn thơ của Hàn Mạc Tử “rộng rinh không bờ bến”.

Nhưng vườn thơ của Hàn Mạc Tử có phải được dựng lên một cách dễ dàng? Hoài Thanh kể: “Đương thời người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm, họ bảo: Hàn Mạc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm.” Còn Xuân Diệu, sau khi tuyên bố vẻ chắc chắn: “Hàn Mạc Tử không phải hạng “chân thi sĩ””, đã thẳng thắn đề nghị: “Người thơ ấy tốt hơn cứ tỉnh táo mà “yên lặng sống”.” Chưa ai công bằng khi đứng trước tài thơ, nguồn thơ lạ lùng của Hàn Mạc Tử. Chưa ai công nhận những câu thơ siêu linh- mới cho đến tận hôm nay.

Chỉ có Chế Lan Viên sớm nhìn ra tài thơ, con đường thơ của thi sĩ họ Hàn. Ông nói: “Mai kia, những cái tầm thường, mực thước sẽ mất đi, còn lại chút gì đáng kể của thời này, đó là Hàn Mạc Tử.” Lời tiên đoán ấy, ngoài Chế Lan Viên, không ai viết nổi. Phải can đảm lắm, Chế Lan Viên mới viết lời giới thiệu xác quyết mạnh mẽ nhường đó.

Thì ra công cuộc đổi mới thơ nào cũng đầy thử thách, đòi hỏi người nghệ sĩ phải dám dấn thân. Có niềm say mê, khát khao thôi, chưa đủ, mặc dù điều đó rất đáng quí. Tài năng ư? Dĩ nhiên cần, nhưng chưa xong. Đổi mới thơ sẽ trở thành câu chuyện phù phiếm, viễn tưởng nếu người nghệ sĩ thiếu đi phông văn hoá cần thiết, thiếu đi bản lĩnh giải phóng tư tưởng của mình và tư tưởng của con người nói chung ra khỏi những “điều cấm kị” vốn đang trở thành thiết chế khắc nghiệt nhất đối với kẻ cầm bút.

Tiền đề của đổi mới thơ, phải chăng bắt nguồn từ sự khám phá ra một thế giới văn hoá trong thế giới nhân sinh, thế giới của sự tự do dân chủ. Câu chuyện cách tân văn chương đến nay và mai sau vẫn luôn xoay quanh vấn đề tư tưởng, quan điểm của nghệ sĩ đối với thực tại, đối với sự sống.

Chẳng bao giờ có nhà nghệ sĩ lớn, nếu anh ta không được sáng tạo tự do – trong ý nghĩa nghiêm ngặt và đời thường nhất của nó. Thử hình dung thế này: một người “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” thì sản phẩm của anh ta cả khi còn trong trứng nước lẫn khi chào đời – khao khát được sống với đời sống riêng của nó, sẽ không thể vượt quá giới hạn thực tế cho phép. Chừng nào tư tưởng, ngôn ngữ còn bị gông xiềng trói buộc thì chừng đó còn có nhiều bi kịch. Một số độc giả thích “sự nổi loạn” quyết liệt của nghệ sĩ. Nhưng người thơ ít tạo ra “sự nổi loạn” đáp ứng mong mỏi của họ. Không hiểu sao tôi thích Trường thơ Loạn, thích “sự điên” của người làm thơ. Phải chăng vì trong sự điên ấy – theo cách nói của Hàn Mạc Tử – những bí mật của con người được phơi bày ra đầy đủ nhất, chân thành nhất. Phải chăng nhờ “sự điên cố ý” ấy, tôi và các bạn đọc khác được biết đến một thế giới khác – thế giới của vô thức, siêu linh, thế giới của linh hồn, ý niệm. Chứ không hẳn tôi tò mò, vì điều đó sẽ chóng qua đi. Cũng có thể hiện tượng “điên loạn cố ý” của người cầm bút đã tạo ra cảm giác lạ, nhận thức lạ trong khi những người giáo điều, bảo thủ không thể đem lại điều đó. Đến đây thì không hẳn tôi ủng hộ “người phá phách ngôn từ”, vì tôi biết sự vô lối thường yểu mệnh. Tôi chợt nghĩ, nhà thơ đôi khi phải “đồng bóng” một chút, ngôn từ phải ma mị một chút.

Đọc thơ Hàn Mạc Tử, Hoài Thanh cho rằng nhiều lúc thi sĩ lạc vào thế giới đồng bóng. Hàn Mạc Tử lạc tới một cõi thơ, một miền thơ ít được người đời biết đến. Hàn Mạc Tử thường nói tới khu vực bí ẩn chứa mọi sự tương giao. Ở đó không còn chỗ đứng cho nếp tư duy cũ kĩ, sáo mòn. Thi sĩ thành thực bày tỏ: “Thế giới kì dị” của tôi được “tạo ra khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút”. Chính ở “thế giới đồng bóng” ấy, sự tự do của người thơ mới được thể hiện trọn vẹn, đầy đủ nhất. Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ, sắm vai một người khách lạ, trụ vững trong làng Thơ mới với tầm vóc một đỉnh núi lạ.

Tôi nghĩ, ý thức đổi mới thơ biểu hiện rõ rệt ở khát khao phá bỏ những thành trì kiên cố đang ngự trị trong đời sống văn hoá tinh thần của tộc loại, từ đó mở ra những con đường mới mà ý thức phong bế, lệ thuộc không làm được. Con đường thơ ấy có thể dài rộng tuỳ theo điều kiện văn hoá chính trị cho phép, có thể ngắn ngủi đến không ngờ. Biết bao nhà thơ phải lao tâm khổ tứ cả khi sống, lẫn khi sáng tạo. Thậm chí phải trả giá đắt, vì muốn có được một chuyến đi xa trọn vẹn cho riêng mình. Theo đuổi một lối thơ đến kiệt cùng, đâu có dễ gì. Tạo ra một lối thơ mới, càng khó khăn hơn. Huống chi khi chập chững bước vào nghề, đã bắt đầu chịu ảnh hưởng một lối thơ nào đó rồi, mà muốn có thành tựu gì đáng kể, nếu không phải người có tầm vóc tư tưởng lớn lao thì đâu có thể vượt lên nổi. Những người “theo đóm ăn tàn” chắc chắn sẽ bị chính lối thơ có vẻ tân kì kia nhấn chìm, đè bẹp. Trường hợp của Hàn Mạc Tử thì sao? Cứ theo hành trạng thơ thì thấy: thi nhân đã phải rẽ ngang ở đoạn đường nào đó. Văn chương cũng cần lắm, sức mạnh khai sơn phá thạch của người thơ. Tôi nghĩ mọi cuộc cách mạng, trong đó có thơ ca, để nảy sinh, phải hội đủ những điều kiện nào đó. Ví dụ, ở phương diện chủ quan, phải tính tới ý thức cá nhân cá tính, ý thức về sự tự do, dân chủ trong sáng tạo. Ở phương diện khách quan, nên quan tâm tới bối cảnh văn hoá chính trị đã chi phối tới sự viết, sự sống của kẻ cầm bút. Nghĩ thế, có phần xa rời thực tế. Vì hầu hết những thử nghiệm, cách tân thơ ca ở ta đều bắt nguồn từ sự tiếp biến tư tưởng văn hoá phương Tây,  ít có cuộc cách tân nào thuần nội tại. Người thơ luôn luôn đến muộn, muộn so với người mấy chục năm, chừng hàng trăm năm.

Công bằng, không phải nhà thơ Việt “chậm chạp” đổi mới, mà thực ra những điều kiện văn hoá xã hội nào đó chưa chín muồi, chưa có những điều kiện cần thiết để ý thức đổi mới văn học đơm hoa kết trái. Một số “cánh chim đầu đàn” chưa mạnh dạn theo đuổi đường bay mới. Số ít táo bạo hơn trong cách nghĩ, cách làm thì gặp không ít trở ngại, thậm chí “bị thương”. Kẻ hậu sinh cầm cây bút lên, thấy vết thương cũ của người năm ấy chưa lành, vết thương mới lại xuất hiện, thì cũng dè dặt lắm.

Thơ Việt Nam giai đoạn 1930-1945 chứng kiến: nhiều thi nhân tìm đến Baudelaire, Mallarmé, Verlaine chẳng khác gì tìm kiếm một lối thoát cho những bế tắc về tư tưởng, về nghệ thuật biểu hiện, lối viết. Số còn lại đón nhận nồng nhiệt Baudelaire để tiếp sức cho công cuộc cách tân thơ bền bỉ. Thế Lữ, người đầu tiên tuyên bố cuộc sống thoát li cũng tìm đến Baudelaire hòng giữ địa vị bá chủ của mình trong Thơ mới. Xuân Diệu, Huy Cận đều tiếp nhận dè dặt tinh thần sáng tạo của Baudelaire – “ông tổ tượng trưng” và Verlaine, một đại biểu xuất sắc của trào lưu đó. Chịu ảnh hưởng đậm nét của Baudelaire, Edgar Poe, Mallarmé, Valéry phải kể đến: Hàn Mạc Tử và Chế Lan Viên. Xem ra, cách tân thơ liên quan mật thiết với “con người tư tưởng”. Hàn Mạc Tử đến với thơ tượng trưng từ bao giờ? Năm 1936, tập Gái quê ra đời. Thi sĩ họ Hàn trút bỏ phong vận Đường thi từ đấy (Lệ Thanh thi tập). Cùng năm đó, Trường thơ Loạn được thành lập, Hàn Mạc Tử giữ vai trò chủ soái. Tập thơ Gái quê với tính cách tượng trưng của nó đã đóng vai trò như một bước đệm trong hành trình sáng tạo của Hàn Mạc Tử. Như vậy, có một bài học sáng tạo ở đây: nhà thơ cần làm mới con người tư tưởng ở mình, trước khi muốn làm mới văn chương. Để làm mới được, dĩ nhiên không thể thiếu bản lĩnh.

Cách tân thơ càng trở nên có ý nghĩa và tạo thành “vệt đậm”, thành “trường phái” khi có một nhóm người cầm bút cùng nhau theo đuổi một lối viết. Số phận của công cuộc cách tân thơ một phần phụ thuộc vào “cánh chim đầu đàn”, phần nữa do các thành viên cùng chí hướng quyết định.

Ta thấy, mọi ý đồ cách tân thơ đều không mấy dễ dàng thành công. Ban đầu, “người thơ” thường chịu sự ghẻ lạnh, hắt hủi, mạt sát của người đời, vì cái mới-cái lạ kia phá vỡ trạng thái lặng lẽ sống, lặng lẽ viết của họ, phá vỡ những gì họ đang bám víu. Sau nữa, giả định khuynh hướng sáng tác mới chứng minh được “lí do tồn tại tất yếu của mình”, nó sẽ có chỗ đứng đáng kể trong sân thơ chật hẹp nhường ấy. Hiển nhiên, nếu thiếu ý thức tranh đấu quyết liệt cho sự tồn tại của khuynh hướng thơ tích cực thì ý đồ cách tân thơ nào đó sẽ nhanh chóng thất bại. Hơn nữa, theo tôi, chính nội lực sáng tạo dồi dào, tài hoa của người viết sẽ quyết định đường hướng thơ, số phận thơ của họ. Lấy trường hợp Hàn Mạc Tử làm ví dụ. Tập thơ Đau thương, một tập thơ đậm tính cách tượng trưng nhất của Hàn Mạc Tử, được soạn từ năm 1937 và chỉ một năm sau thì hoàn thành. Song sinh với Đau thương, có Điêu tàn của Chế Lan Viên (1937). Tinh huyết của Bích Khê ra đời muộn hơn (1939). Tập thơ Tinh huyết lại do chính Hàn đề tựa, sau khi ông đã giới thiệu Chế Lan Viên trên báo Tràng An (1936), và Xác thu của Hoàng Diệp (1937). Tại thời điểm Tinh huyết chào đời, Hàn Mạc Tử đã đi qua lối thơ tượng trưng và bắt đầu đặt chân lên mảnh đất siêu thực. Thi tài của Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Bích Khê… được thừa nhận. Và chúng ta không thể nhắc đến công sức của người này mà bỏ đóng góp quan trọng của người kia.

2. Hàn Mạc Tử với nhiều ngã rẽ

Phan Sào Nam tiên sinh từng hết lời ca ngợi thơ Đường luật của Hàn Mạc Tử. Tưởng Hàn Mạc Tử cứ phong vận đó đến với chúng ta. Ai ngờ thi sĩ họ Hàn kia đã sớm cởi bỏ y phục cũ kỹ, mặc “Âu phục” để bước vào làng Thơ mới. Từ năm 1936, Hàn Mạc Tử sánh vai với Gái quê đi về cõi hư linh, bay lên với trăng sao, với hồn, nhạc… Thế giới thơ Hàn Mạc Tử thánh thiện và huyền diệu. Ở đó, hư thực không thể phân biệt rõ ràng. Hàn Mạc Tử trở thành một “điềm lạ”, một hiện tượng thơ phức tạp và còn nhiều bí ẩn.

Đọc Hàn Mạc Tử lâu nay, xem trọng tinh thần lãng mạn, ít chú ý tới yếu tố tượng trưng và yếu tố siêu thực – cái làm nên bản sắc thơ của một tài năng kì lạ và “đau thương tột cùng” này. Trong bài “Đôi nét về Hàn Mạc Tử”, Quách Tấn, bạn tâm giao với thi sĩ sớm nhận thấy: “Ngay từ tập Thơ điên, Hàn Mạc Tử đã “đi từ lãng mạn đến tượng trưng”. Từ Xuân Như ý đến Thượng thanh khí, thơ Tử lần lần từ địa hạt tượng trưng đến địa hạt siêu thực”. [1] Thật hiếm có trường hợp nào, chỉ trong vài năm, đã làm ba cuộc cách mạng thơ ca như Hàn Mạc Tử.

Hàn Mạc Tử không biến mình thành “cây đàn độc điệu”, không chịu buông neo một chỗ. Ông tìm mọi cách tự vượt mình trong nhiều lối thơ tân kì. Thơ Hàn Mạc Tử không vẽ vời hình thức thơ ca, mà đổi mới từ trong cốt tuỷ. Không ai giống Hàn Mạc Tử trong bản hoà âm độc đáo ấy. Tôi xem thơ Hàn Mạc Tử hiện đại nhất, dị thường nhất. Vương Trí Nhàn nói: “Trước mắt chúng ta có một giọng thơ độc đáo không chia sẻ âm hưởng với ai hết”.[2] Thơ Hàn Mạc Tử đại diện cho một khuynh hướng thơ độc đáo, với nhiều tìm tòi táo bạo. Có thể tìm thấy điệu thơ của Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ,Đinh Hùng… trong hồn thơ Hàn Mạc Tử. Nhưng để tìm thấy một bản sao nguyên cảo “lối thơ điên” nữa, thì thật khó thay!

3. Hàn Mạc Tử tiếp nhận để cách tân thơ

Không phải ngẫu nhiên, khi Thơ mới nở rộ, đạt nhiều thành tựu cao, thì trường phái thơ tượng trưng được chào đón nồng nhiệt hơn cả. Baudelaire trở thành “đường viền” của sáng tác thơ ca. Ngôi sao Thế Lữ bị lu mờ, bởi “nguồn thơ Thế Lữ đã cạn không đi kịp thời đại” (Hoài Thanh). Thế Lữ đến với Baudelaire khá muộn. “Nguyễn Bính chỉ còn thiếu một hiểu biết Tây học nên không thành nổi nhà thơ đầu đàn.” [3] Như vậy, có trường hợp tiếp nhận để cách tân thơ.

Hàn Mạc Tử tiếp nhận những gì? Thơ Mallarmé gắn bó với âm nhạc. Thơ Hàn Mạc Tử cũng có bản hoà âm huyền ảo của: “ánh sáng (…) tiếng suối (…)”. Thi pháp của Apollinaire gắn bó với hội hoạ. Thi sĩ họ Hàn thường lấy chất liệu màu sắc để tạo nên thế giới thơ. Chủ nghĩa tượng trưng cho rằng: sáng tạo thơ ca tương đồng với sự sinh sôi của tạo hoá. Thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng muốn nắm được cái huyền diệu của thơ, của tạo vật. Nhà thơ hăm hở “đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời” (Quan niệm thơ), và coi nghệ thuật là “tác phẩm của trời đất” (Nghệ thuật là gì?).

Theo tôi, đỉnh cao thơ Hàn Mạc Tử, đóng góp lớn nhất của thi sĩ là ở mảng thơ tượng trưng và chớm siêu thực, tạo nên vũ trụ thơ Hàn Mạc Tử đặc sắc nhất, vẻ vang nhất, “kì dị” nhất bắt đầu từ Đau thương. Ngay từ Đau thương, kiến trúc ngôn từ đã đồng nhất với cảnh chiêm bao vô thức. Thi sĩ “siêu hoá những ước mơ không được thoả mãn”:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng

Không nói không rằng nín cả hơi?

(“Cô liêu”)

Ta là ta hay không phải là ta?…

Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ

(“Siêu thoát”)

Tôi còn ở đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu

Dù trong thời kì đầu và chặng cuối con đường, thơ của Hàn Mạc Tử trong sáng, nhưng về cơ bản, Hàn Mạc Tử không có vóc dáng lí tưởng của một thi sĩ lãng mạn thuần nhất. Tôi nhấn mạnh: Từ tập Gái quê trở về trước, Hàn Mạc Tử sáng tạo ra “thơ hội hoạ”. Sau nó nghiêng hẳn về “thơ âm nhạc”, “thơ điên”. Tập Thơ điên minh chứng cho con đường đi riêng của thi sĩ về nhịp, nhạc, về khả năng biểu hiện bản giao hưởng của tâm hồn. Chính Hàn Mạc Tử, trước khi vào nhà thương Quy Hoà, đã từng dặn Quách Tấn: “Nếu Chúa ban phước cho tôi lành mạnh, tôi sẽ đốt tập Thơ điên… Không nên để cho người đời thấy những bí ẩn của lòng mình.” Tôi thấy quan niệm thơ khá thú vị của Hàn Mạc Tử trong câu nói có vấn đề này: Sáng tạo thơ đồng nghĩa với khám phá và biểu hiện con người thứ hai trong mình. Con người trong thơ thuộc về thế giới ẩn ức, tiềm thức đầy bí ẩn, nó là kẻ luôn giấu mặt. Con người trong thơ như được tự do sống với bản lai diện mục của mình. Trong khi sáng tạo, nhà thơ sống với cảnh giới mà mình chưa hề biết, với trạng thái mà mình chưa trải qua, với thời gian, không gian phi hiện thực. Tất cả đều bí ẩn đối với người viết và đối với người đọc.

Hàn Mạc Tử yêu cầu thơ ca phải phát ra tiếng kêu than rền rĩ:

Tôi muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng trong máu vọt

Cho mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại hồn thơ ta đang xiết

Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh…

(Rướm máu)

Nếu xem điên là một trạng thái sáng tạo mãnh liệt, giây phút sáng láng của hồn thơ, thì thực chất bài thơ “Rướm máu” khẳng định: Thơ ra đời từ một trạng thái “quay cuồng”, “ngất ngư” không gì kiềm chế nổi. Thơ khởi phát từ trạng thái xuất thần, từ “đáy tâm linh”. Ngôn ngữ tâm linh, ngôn ngữ nội tâm trong cảnh giới sáng tạo của thi sĩ hoá thân tự nhiên thành ngôn ngữ thơ. Chính cảnh ngộ đau thương hiện thực và tâm thức cái chết đương liền kề đã đem lại “cái rung động sung sướng” cho thi sĩ (Nghệ thuật là gì?). Trạng thái “điên” trong thơ Hàn Mạc Tử gần với khoảnh khắc “quên” kì diệu của thơ Thiền. Người làm thơ “không có thì giờ nghĩ về mình”, anh ta như bị thôi miên, lạc vào cõi huyền diệu, khám phá ra “cái siêu tôi”. Hàn Mạc Tử khẳng định: “Tôi làm thơ… nghĩa là tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật… tôi mất trí, phát điên” (Tựa Thơ điên). Thi sĩ họ Hàn coi trọng tiềm thức, vô thức, chủ trương một lối viết tự động. Thi sĩ “để mặc cho giai âm rên rỉ”, khẩn khoản với mọi người: “Đừng nắm lại hồn thơ ta đang xiết…” rồi dứt khoát khẳng định “không ai ngăn cản được tiếng lòng tôi”. Theo tôi, lối viết tự động ở Hàn Mạc Tử khá gần gũi với lối viết tự do đã được André Breton đề xướng từ năm 1929 trong “Tuyên ngôn thứ nhất” và bản “Tuyên ngôn thứ hai của chủ nghĩa siêu thực”[4] . Thêm một bài học ở đây: cái tôi được kiến tạo bởi một cơ chế tâm lý – sáng tạo riêng có ở mỗi chủ thể phát ngôn, nó ra đời cùng lúc với văn bản, lời nói, chứ không phải là sản phẩm có sẵn, có trước, ở phía bên kia văn bản.

4. Cách tân từ quan niệm mới về thể loại

Bằng chứng đáng tin cậy nhất của sự sáng tạo đổi mới chính là diện mạo của tác phẩm trong đời sống văn học. Muốn cách tân thơ, nhà thơ cần hình thành cho mình một quan niệm thơ mới mẻ trước đã. Quan niệm về thể loại chẳng mới mẻ gì, thì chẳng bao giờ tác giả tạo được cho thơ ca một khuôn mặt mới.

Với Hàn Mạc Tử, khi sáng tạo, một mặt nhà thơ khai thác những dữ kiện trực tiếp của ý thức cá nhân, mặt khác thi nhân sẽ “quên cả thói quen phân tích của tư duy lô gíc… để cho trực giác của tâm linh trỗi dậy”. Thơ “đưa chúng ta vào một trạng thái tâm lí bất ổn” (Béc-xông). Nhà thơ cố gắng nắm bắt những cảm xúc tột cùng của con người, “những cái trừu tượng đang vận động”. Thơ chợt về với nghệ sĩ ở những giây phút máu cuồng và hồn điên, sự kiện viết thơ ở thi sĩ không thể có sự kiểm duyệt tỉnh táo, nghiêm ngặt của ý thức và những thiết chế văn hóa xã hội hiện hành : “Thơ trong trắng – như một khối băng tâm” (Ave Maria). Quyền lực của thơ là quyền lực liên tưởng tự do không cố ý, là sự tự do khai triển những mơ mộng, tưởng tượng. Văn bản thơ không phải là đích cuối cùng của người viết thơ, thực tế nó vừa là vật chứng chỉ dấu những bí mật tâm lý, vừa là một kẻ trung gian giữa người viết hiện thực và vùng vô thức, tiềm thức của anh ta; thơ là kẻ lạ, khó hiểu, bí mật đối với  tất cả chúng ta.

Hàn Mạc Tử không giấu những đau thương, thi sĩ cứ muốn ở mãi trong đau thương: Thơ tôi thường huyền diệu (Cao hứng), lời thảm thương rền khắp nẻo mơ (Trút linh hồn). Hàn Mạc Tử nhận thấy “nhà nghệ sĩ bao giờ cũng điên”, sự sáng tạo của anh ta luôn luôn bị đặt trong tâm thế tự thuật về những ám ảnh, những cảnh mộng, trong trạng thái tự chất vấn “tôi vẫn ở đây hay ở đâu?”. Muốn phát điên, anh ta phải “sống mãnh liệt và đầy đủ”, muốn bay tới địa hạt huyền diệu, anh ta phải “mộng”, phải có trí tưởng tượng dồi dào, đặc biệt phải sành âm nhạc và màu sắc. Nhà thơ muốn đến bến bờ tượng trưng cần “có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao…”

Thơ Hàn Mạc Tử rất dồi dào trong việc tạo sinh các hình ảnh, thứ hình ảnh thường là phi thực, ít rõ ràng, đập mạnh vào giác quan của chúng ta: đúng hơn, đó là những ảo ảnh. Thế giới thơ Hàn được đầy lên bởi những suy nghĩ vô thức, những giấc mơ sáng tạo dai dẳng, cuồng nhiệt. Theo nhiều nhà phân tâm học, vô thức, tiềm thức luôn chuyển hóa thành những dạng hình ảnh có vẻ thực, chúng xuất hiện dưới dạng những lớp hình ảnh, chuỗi hình ảnh (hình ảnh này tiếp nối, xếp chồng, gợi đến hình ảnh kia, đổi thay thành hình ảnh khác), chúng cũng bị biến thành các vật, các ngôn ngữ với một cấu trúc đặc biệt. Thơ Hàn, theo tinh thần như thế, luôn trượt từ cái biểu đạt này sáng cái biểu đạt khác, nghiêng hẳn về hoạt động tượng trưng hóa, kí hiệu hóa.

5. Vũ trụ thơ của Hàn Mạc Tử: kì dị và lạ thường

Kết quả của sự cách tân thơ, sau cùng phải đem lại cho người đọc một thế giới nghệ thuật mới, một hình thức mới của cái nhìn nghệ thuật. Không có thế giới nghệ thuật mới lạ thì coi như chưa đổi mới thơ. Vậy, Hàn Mạc Tử đã sáng tạo ra thế giới nghệ thuật nào?

Trong bài viết “Nghệ thuật là gì?” năm 1935, Hàn Mạc Tử nhấn mạnh: nhà thơ cần có “năng lực mạnh mẽ về tinh thần, thứ năng lực ấy nó làm cho con người thêm hứng khởi đi tìm cái sự lạ”. Hàn Mạc Tử “đi tìm cái sự lạ” “ở chốn xa xăm, thiêng liêng và huyền bí”. Nhà thơ “nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”, thơ Hàn có một nguồn “sáng lạ”, lời thơ và tâm thế của người thơ rất kì dị.

Đọc thơ Hàn Mạc Tử, nhà phê bình Hoài Thanh có cảm nhận mình như lạc vào “cái thế giới kì dị”, “đi trong mờ mờ”, thấy nguồn thơ của thi sĩ nảy nở thật lạ lùng. “Xuân như ý” có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng”; cảnh vật trong “Máu cuồng và hồn điên” “…không thấy có tí gì giống với cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử (…) trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn.”

Trong cái nhìn nghệ thuật của Hàn Mạc Tử, cái sự lạ kia biểu hiện như một cảnh thực, thứ hiện thực ảo. Cái sự lạ trong vũ trụ thơ ấy xuất hiện cùng với tâm trạng ngạc nhiên, ngỡ ngàng của chủ thể trữ tình.

Tiếng động sau vùng lau cỏ mọc [5]

Tiếng ca chen lấn từ trong ra…

Áo quần vo xắn lên đầu gối

Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình…

Nụ cười dưới ấy và trên ấy

Không hẹn, đồng nhau nở lẳng lơ…

(Nụ cười)

Gió rủ nhau đi trốn cả rồi

Nhỏ to, câu chuyện, ô kìa coi

Trong lau như có điều chi lạ

Hai bóng lung lay thấy cọ mài…

(Khóm vi lau)

Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu

Lời nguyện, gẫm xanh như màu huyền diệu

Não nề lòng viễn khách giữa cơn mơ

Nhà thơ đi tìm cái lạ chưa đủ, anh ta cần phải chiếm lĩnh cho được cái kì dị. Hai thứ đó đan xen với nhau tạo ra hứng thơ mạnh mẽ và vô tận.

Lời thơ ngậm cứng, không rên rỉ

Và máu tim anh vọt láng lai

Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt

Tiếng vang tha thiết dội muôn nơi…

Tiếng thông vi vút như van lơn…

Mây buồn vơ vẩn bay đầu non…

Ngây tình, bóng liễu câm không nói

Trong khóm vi lau có tiếng than

(Trên bờ)

Tất cả đường thơ mà thi sĩ họ Hàn đi qua, ngay cả “Đường thi” cũng đã trổ ra những ánh khác lạ [6] . Mỹ học thơ Hàn có thể gói gọn trong hai phạm trù thẩm mỹ: kì dị và lạ thường. Thơ Hàn Mạc Tử không bình dị và không đài các. Lối thơ thứ nhất, có tính cách phổ thông, chưa biết đến cái lạ. Lối viết thứ hai thuộc cái thông bệnh của thi sĩ Hán học, nên không thể trở thành cái kì dị được. Thơ Hàn Mạc Tử: kì dị và khác lạ. Kì dị và khác lạ trước hết ở thi ảnh, thi cảm.

Nhà thơ Baudelaire từng hết lời ca ngợi những người tự do, biết: “bay vào những trường sáng sủa và thanh sạch…” (Lên cao), tôn vinh “người hiểu được ngôn ngữ của những sự vật câm lặng”. [7] Theo Baudelaire, nguyên tắc mĩ học của thơ ca thuộc về nghệ thuật biểu tượng. Ông nhấn mạnh chính “trí tưởng tượng đã dạy cho con người cái ý nghĩa tinh thần của màu sắc, của đường nét, của âm thanh, của mùi hương, từ khởi thuỷ nó đã… tạo ra phép ẩn dụ”. [8] Đọc thơ Hàn Mạc Tử, ta thấy lời thơ cũng đầy ánh sáng. Thi cảm,thi ảnh được “nuôi mãi trong nguồn ánh sáng thiêng liêng”. Thi nhân “say sưa đi trong mơ ước”, “đi đến cõi ước mơ hoàn toàn”, “ọc ra từng búng thơ sáng láng”. Thế giới thơ Hàn Mạc Tử có vẻ đẹp của một giấc mộng.

Verlaine chủ trương giấc mơ hơn thực tại. Hàn Mạc Tử cũng nói nhiều đến giấc mơ, cảnh chiêm bao, tới thế giới không nhìn thấy. Theo Hàn Mạc Tử, ý thơ nảy sinh từ trời mộng, thơ diễn tả “những tiếng ca của tình cảm, của tưởng tượng, của mơ màng” (Không nên có luật thơ mới, Chiêm bao với sự thật), thi sĩ bị ánh sáng của chiêm bao vây riết. Theo tôi, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” khá tiêu biểu cho khuynh hướng tìm tòi sáng tạo này. Vì rằng, để có được “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mạc Tử đã phải đối thoại âm thầm với tấm bưu ảnh, đối thoại với đối tượng lặng câm, với tình yêu đơn phương vô vọng. Hình thức đối thoại ảo đã truyền tả được khát vọng được yêu, được sống mãnh liệt của nhà thơ. Nhà thơ phá vỡ thế độc thoại bên trong để tạo vẻ đối thoại ảo. Đường nét huyền ảo xa vời của thôn Vĩ hiện về trong tâm thức đau thương của một hồn thơ cô đơn cảm thấy mình đang rời bỏ trần gian từng ngày. Thi sĩ tưởng tượng ra một cố nhân đang mong chờ mình, mời mình về thôn Vĩ. Thi sĩ mơ tiếng gọi thiết tha trìu mến của người thương, ao ước nghe thấy lời chào mời giục giã của cô gái ấy. Thế giới “Đây thôn Vĩ Dạ” tràn đầy ánh sáng, thực ảo chập chờn chuyển hoá lẫn nhau. Con thuyền thơ cứ chảy trôi trong thế giới mộng ảo, trong cõi mơ.

Nếu thơ Xuân Diệu đề cập nhiều đến sắc và hương thì thơ Hàn Mạc Tử nói nhiều về âm thanh và ánh sáng. Chỗ mạnh của Hàn Mạc Tử là cảm nhận được ánh sáng và âm điệu của sự vật. Hàn Mạc Tử quan niệm: đời sống bí mật riêng tư của sự vật nằm ở ánh sáng và âm điệu của nó.

Hàn Mạc Tử lạc vào thế giới của cái kì dị và lạ thường, thế giới của âm thanh và ánh sáng lạ. Thế giới ấy có cấu trúc riêng, ý nghĩa riêng, quy luật vận động riêng. Chẳng phải vô cớ Hàn Mạc Tử luôn chú ý tới nắng. Nắng trong thơ thi sĩ họ Hàn trở thành tín hiệu báo mùa:

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan

(Mùa xuân chín)

Nắng ửng có vẻ riêng trong cái nhìn xuân tình của tác giả. Nắng ửng không chỉ báo hiệu “bóng xuân sang” mà còn đánh dấu khoảnh khắc: mùa xuân bắt đầu chín. Nắng ửng gắn liền với tâm trạng rạo rực xôn xao ở hồn người. Bài thơ “Mùa xuân chín” đọng lại cái nắng hắt ra từ cõi nhớ. Nắng trong hoài niệm, thứ nắng hoài vọng chín theo sự chín của mùa xuân, tình xuân. Nắng chín dĩ nhiên đẹp, nhưng phảng phất buồn. Đẹp bởi cảnh xuân, tình xuân nồng nàn. Buồn bởi “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”. Trong tác phẩm “Ngủ với trăng”, nhân vật trữ tình “khao khát trăng gió” và “đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy”. Nắng chang chang đốt lòng người thực ra là hình ảnh phái sinh của kiểu nắng cháy. Nhưng nếu nắng chang chang loang ra dọc bờ sông trắng, thì nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy ở đây lại xuất hiện trong một không gian khá đặc biệt: “trên sóng cành, sóng áo cô gì má đỏ hây hây”. Ngừng, reo, cháy ứng với ba cung bậc tình cảm khác nhau của con người: lặng im, xao xuyến  cuồng si. Ba trạng thái tình cảm ấy đồng nhất với ba cảm xúc sáng tạo. Hoá ra, nắng biểu hiện thi hứng, thi cảm của nhà thơ.

Nắng trong thơ Hàn Mạc Tử có “tuổi” và có tình. Người ta thường nói: trăng sáng, sao sáng, còn Hàn Mạc Tử lại cảm thấy nắng sao. Nắng reo đã lạ, nắng sao, nắng trong đêm thì lại càng kỳ. Có lẽ thứ nắng ấy chỉ xuất hiện trong thế giới thi ca của Hàn Mạc Tử với một tâm thế trữ tình đặc biệt “buồn trong mộng” (Buồn ở đây). Nắng trong thơ Hàn thường phảng phất duyên tình: “nắng vàng con mắt thấy duyên đâu”. Nắng gắn với duyên phận, nỗi niềm cô đơn: “không duyên hồ dễ mong theo nắng” (Duyên kỳ ngộ). Nắng, thứ ánh sáng đặc biệt trong thơ Hàn, biến ảo theo cường độ nỗi đau, nỗi nhớ. Biên độ nắng không có giới hạn, rộng mở theo không gian xa cách, theo “thế giới ảo huyền”. Nắng ửng làm “khói mơ tan”, nắng dọi làm “bài thơ cháy”. Ngay cả nắng mai cũng “dìu dịu mối sầu vương” (Duyên kỳ ngộ).

Nắng là một loại ánh sáng đặc biệt, “ánh sáng của chiêm bao, huyền diệu” (Chơi giữa mùa trăng). Nắng trở thành tín hiệu thẩm mỹ, báo hiệu mùa thơ đang chín (Kêu gọi). Nắng kích thích trí tưởng tượng của nhà thơ bay vào cõi mơ:

Nắng càng cao lòng ta càng hừng hực

Thơ lên rồi bay quá giải nhàn vân…

(“Duyên kỳ ngộ”)

Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắng

Lộng vào xiêm áo mỏng manh sao…

Sự vận động của Nắng tạo ra thi giới của “cái tột cùng”. Nắng vừa hoá giải đau thương vừa ràng rịt nỗi đau. Nắng được nhìn qua lăng kính của hồn và xác.

Nắng ơi, nắng có lên cao

Làm sao da thịt hồng hào thế kia

(Duyên kỳ ngộ)

Nói đến hồn, đến thơ không thể không nhắc tới nắng. Nắng hoà quyện với hồn, với thơ. Nắng và hồn ở trong thơ – cái vũ trụ do Hàn Mạc Tử sáng tạo ra.

Hàn Mạc Tử ít nói đến nắng thu, nắng hè… thi sĩ có ấn tượng nhiều hơn với nắng xuân. Nắng xuân ám ảnh, quấn riết lấy thi sĩ. Xuân trong thi giới của Hàn Mạc Tử cũng khá lạ: “xuân mộng”, “xuân gấm” (Xuân đầu tiên) “xuân thơm” (Nhớ thương), “xuân lịch sự”. Hình tượng Xuân chẳng qua do con người hoá thân mà thành, nhưng không phải con người trần tục, trần thế mà một người “ngọc”, người của cõi mộng, cao quí thanh sạch (“Cô gái đồng trinh”). Tuổi xuân là Ngọc như ý, tên xuân là Dạ lan hương. Xuân gắn với mơ ước, xuân tắm nắng tươi (Tiếng vang), nắng mới.

Ánh sáng trong thơ thi sĩ họ Hàn có hình khối, hương sắc, nó chiếm vị trí quan trọng trong thơ, gần như trở thành một đơn vị đo đếm thế giới. Bên cạnh ánh sáng của nắng, Hàn Mạc Tử còn ưa tả ánh sáng của trăng. Hàn Mạc Tử thường tả ánh sáng trong trẻo của trăng rằm. “Trăng (…) tượng trưng cho một mùa ao ước (…) và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chê chán.” (Chơi giữa mùa trăng). Trong trăng có hương thơm, có nhạc, có hơi thở và có tình. “Tình thoát ra ở điệu nhạc mênh mang trong bờ bến của chiêm bao.” Trong chiêm bao, trong vùng mộng phi thời gian, đến gió cũng “phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa.” Thế giới ánh sáng thu hẹp ở hình tượng “trăng”. Thế giới trăng, thế giới của những ao ước, nhớ thương hợp thành một thể thống nhất: thế giới nghệ thuật, thế giới của những ký hiệu, biểu tượng.

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi…

Trăng nằm, thơ mộng, chông chênh và hư huyền quá. Mà lại nằm sóng soải thì thật táo bạo, gợi tình. Cảm xúc thơ bừng lên, rạo rực men say ái tình. Cái khao khát “cuồng điên” của trăng biểu hiện trong tư thế, cả trong cái ý nghĩ trần thế: để lả lơi. Thơ Hàn Mạc Tử bộc lộ nhiều ẩn ức và ham muốn.

Con người trong thơ Hàn Mạc Tử được bao bọc “bằng ánh sáng, bằng huyền diệu”, “say sưa và ngây ngất vì ánh sáng”, bầu trời càng sáng con người càng “hứng trí”. Thậm chí đi trong ánh sáng “đê mê, không biết là có mình và nhận mình là ai nữa.” Ánh sáng tạo ra ở chủ thể sáng tạo cảm giác siêu thoát hay hư vô. Ánh sáng với vẻ trắng trong, đồng trinh, thanh thoát của nó – trong cảm quan của Hàn Mạc Tử – là hiện thân của Đấng tối linh, của Đức Mẹ. Ánh sáng được ví với thứ ma lực vô song, “xô thi sĩ đến bờ huyền diệu”. “Mùa trăng bát ngát… lòng tôi rực lên cảm hứng”, “từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết…” (Chiêm bao với sự thực). Ánh sáng vừa vĩnh viễn vừa không vĩnh viễn. Có ánh sáng thực, ánh sáng mộng. Có thứ ánh sáng “tan thành bọt”, có loại ánh sáng muôn năm mà thi sĩ khao khát chiếm giữ được. Ánh sáng “giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt…”

Trong cảm quan Hàn Mạc Tử, ánh sáng của các vì tinh tú giống như “châu ngọc”, “hào quang”, ánh sáng của sao, trăng hợp lại thành một “vùng trời mộng”, “khí hạo nhiên”. Có biết bao nhiêu thứ ánh sáng, nhưng nổi bật là ánh trăng. Chỗ nào cũng trăng, “tưởng chừng như bầu thế giới… cũng đang ngập lụt trong trăng, đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác”, “cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiếu diễu…” Trên con đường sáng láng ấy, Hàn Mạc Tử đi “tìm Chân lý ngàn năm” (Chiêm bao với sự thực).

Bên cạnh hình ảnh ánh sáng, thơ Hàn Mạc Tử cũng tràn đầy âm thanh. Đó là “tiếng thất thanh rùng rợn”, là “giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng”. Thơ Hàn Mạc Tử là tiếng nói chấn thương. Chính những chấn thương, những cú sốc trong cuộc sống, tình yêu đã đưa Hàn Mặc Tử đến với một trường thơ độc đáo. Thi sĩ bộc bạch: Nàng đánh tôi đau quá / Tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Hơn một lần thi sĩ nghe thấy âm thanh kì dị ở chốn âm u:

Một khối tình nức nở giữa âm u

Một hồn đau rã lần theo hương khói

Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi

Một lời run hoi hóp giữa không trung

(Trường tương tư) 

“Trường tương tư” tái hiện “tiếng nói siêu thực”, tiếng nói dị thường, cho thấy một trong những biểu hiện chấn thương của chủ thể phát ngôn. Cảm quan về sự tồn tại của cái lạ thường, cái không sao kiểm soát nổi đã xui khiến Hàn Mạc Tử tìm đến thế giới Hư Vô, tới “cõi vô cùng”.

Mới hay cõi siêu hình cao tột bậc

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao

(Siêu thoát)

Cũng hình như, em hỡi, động Huyền Không

Mà đêm nghe, tiếng khóc ở đáy lòng

Ở trong phổi trong tim trong hồn nữa..

(Trường tương tư)

Thi nhân nhạy cảm với mọi âm thanh, đặc biệt là âm thanh vang lên từ tư tưởng, từ cõi mờ, cõi huyền của cuộc sống.

Xuân Diệu đôi mắt xanh non biếc rờn nên nhìn mọi thứ đều tươi mới. Xuân Diệu không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần / Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất. Còn Hàn Mạc Tử cứ đi mãi vào sâu thế giới tâm linh, thế giới huyền hoặc của hồn và máu. Hàn Mạc Tử thấy mọi vật đang ở chặng cuối cùng hoặc đương lao nhanh về ngày tận thế, nên ông thấy trước cả “thế giới âm u”. Hàn Mạc Tử thường tạo ra một thế giới mênh mông, không giới hạn: “Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng và nàng cũng trăng”. Nhà thơ của những “Hương thơm” và “Mật đắng” thường nắm lấy tính chất tượng trưng của mọi hiện tượng. Thi nhân đồng hoá Hữu Thể với Hư Vô:

Đây là tất cả người anh tiêu tán

Cùng trăng sao bàng bạc xứ mơ say

Theo cách diễn đạt của Hàn Mạc Tử, thì Hư Vô là một thực tại đặc biệt, có thanh-sắc, hình hài:

Ánh trăng mỏng quá không che nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét buồn buồn tơ liễu rủ

Những lời năn nỉ của Hư vô

Mới hay cõi siêu hình cao tột bực

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao

Xa lắm rồi, xa lắm, hãi nhường bao

Ai tới đó chẳng mê man thần trí

Hàn Mạc Tử viết bằng tưởng tượng và “giấc mơ” trọn vẹn của chính mình. Mọi thứ trong thế giới thơ Hàn Mạc Tử đều huyền ảo. “Cái huyền ảo luôn đẹp, bất kỳ cái huyền ảo nào cũng đẹp” (André Breton). Đọc thơ Hàn Mạc Tử, người đọc phải tư duy và nhìn theo nhà thơ; nghĩa là đọc thơ Hàn không thể bằng cơ chế kiểm duyệt của mình và của thời đại.

Phong Châu 5-2006  (Hà Nội 8- 2012, có chỉnh sửa)

Chú thích

[1]Hàn Mạc Tử thơ và đời (Lữ Huy Nguyên, sưu tầm, tuyển chọn). Nxb Văn học, 2000, tr 180.

[2]Vương Trí Nhàn, Những kiếp hoa dại. Nxb. Hội Nhà văn, tr 98.

[3]Phan Ngọc, “Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam trong giai đoạn 1932-1940″ / Tạp chí Văn học số 4-1993, tr. 25.

[4]Xem thêm: Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5-2004.

[5]Toàn bộ thơ được trích dẫn ở đây, căn cứ vào cuốn: Hàn Mạc Tử, tác phẩm, phê bình và tưởng niệm (Phan Cự Đệ tuyển, H. Nxb. Văn học, 2002) và Hàn Mạc Tử thơ (Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, Nxb. Văn học, 1987).

[6]Đỗ Lai Thuý. Mắt thơ, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 2000, tr. 214.

[7]Dẫn theo Phạm Văn Sĩ. Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1986, tr. 42.

[8]Dẫn theo Phạm Văn Sĩ: Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1986, tr. 46.

Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 10 – 2012.  Bản vi tính Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Chai rượu văn hóa – TS

19 Th10

Chai rượu văn hóa

Trần Trọng Dương

Em tập in tranh Đông Hồ ở Bảo tàng Dân tộc học
 
Dân tộc hóa giáo dục ở phương diện văn hóa là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hóa văn hóa, bởi trong “bữa tiệc hội nhập”, mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu” của riêng mình.
Xã hội Việt Nam truyền thống đã có những biến động rất lớn kể từ khi Pháp đến. Người Pháp mang theo văn hóa và khoa học (kỹ thuật cũng như nhân văn) của phương Tây. Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hóa trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán – Nôm, hưng Quốc ngữ”1, nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” [trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886]2. Tuy nhiên, phải nói một cách công bằng rằng, văn hóa truyền thống vẫn được bảo lưu trong hệ thống làng xã và được người Pháp nghiên cứu khá chi tiết. Mặt khác, người Pháp đã tạo nên một thế hệ những trí thức Tây học trên cơ sở văn hóa bản địa. Nhiều người nói, đây là thế hệ một đi không trở lại trong lịch sử của trí thức Việt Nam.

Năm 1945, chữ Quốc ngữ chính thức là thứ văn tự duy nhất của quốc gia. Chữ Hán, chữ Nôm biến mất khỏi hệ thống giáo dục và đời sống sau 2.000 năm hiện diện trên mảnh đất văn hiến. Có thể coi đây là bước ngoặt lớn thứ hai về văn hóa, kể từ đợt tiếp xúc của cơ tầng Đông Nam Á với Trung Hoa. Trong suốt mấy chục năm chiến tranh, văn hóa truyền thống (lễ hội, di tích, thư tịch, phong tục tập quán…) bị biến mất, biến dạng nhanh và nhiều đến mức không thể kể hết và cho đến nay vẫn chưa có ai thực hiện việc thống kê xem văn hóa truyền thống Việt Nam từng có những gì, đã mất những gì. 20 năm nay, các lễ hội cổ truyền được phục dựng ở khắp nơi bởi các nhà đạo diễn văn hóa quần chúng từ cấp địa phương đến cấp quốc gia. Sân khấu hóa và rập khuôn lễ hội là tình trạng phổ biến. Trong khi ngàn vạn tài liệu thư tịch về hương ước và lễ tục làng xã vẫn nằm chết cứng trong các thư viện của nhà nước và đang mục nát trong dân gian. “Niềm tự hào dân tộc” thường chỉ lấp ló trong những khoảnh khắc chiến thắng của thể thao hay núp sau tà áo dài hoa hậu. Giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế loanh quanh cũng chỉ là ca múa nhạc dân tộc hay rối nước. Đến như tranh Đông Hồ, mang đi triển lãm khắp nơi trên thế giới, nhưng chỉ là những nét khắc ngờ nghệch, chữ nghĩa thậm xấu và sai chính tả đến mức không thể chấp nhận được, đề tài phần lớn là của tranh Tàu (trừ Hứng dừa và Đánh ghen). Ở nhà trường, học sinh vẫn học suông mấy chữ “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” một cách hồn nhiên mà chưa bao giờ được hỏi: “làm thế nào để tạo nên màu dân tộc ấy?”

Bấy lâu nay khẩu hiệu giữ gìn và phát huy văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc chỉ được thực thi thông qua các hoạt động festival, lễ hội văn hóa, giao lưu văn hóa; tức là văn hóa truyền thống chỉ được tái hiện một phần nào đó thông qua các diễn viên, và mang tính biểu diễn mà những người đến xem chỉ là… khách. Giữ gìn bản sắc, theo chiều sâu, phải là sự tái dụng văn hóa truyền thống trong đời sống thường nhật của con người, tức là đưa những vị khách (vốn là những người chủ của văn hóa kia) trở về với đúng vị trí của mình.
Dĩ nhiên, việc trau dồi văn hóa cổ truyền chỉ là một cạnh khía trong sự nghiệp của một đất nước. Nhưng thiết nghĩ, hun đúc tình yêu dân tộc không chỉ đơn thuần ở việc ngợi ca non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc được; lại càng không thể kêu gọi, hô hào hay ép buộc con em phải yêu nước. Tình yêu bao giờ cũng cần được nuôi dưỡng, cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thường nhật, liên tục với số lượng đông đảo của chủ thể, chứ không phải bằng những sáo ngữ cũ mòn. Đó chính là hành vi “thân giáo” (giáo dục bằng chính hành động của thầy) – phương pháp giáo dục của Nho gia mà Khổng Tử đề xướng. Phương pháp này không ép buộc mà hoàn toàn tôn trọng vào sự chọn lựa của người học. Nó tương đồng với “nguyên tắc tự do của chủ thể” trong triết học giáo dục của Éric Plaisance và Gérard Vergnaud3. Như thế, mỗi một người lớn là một thầy cô giáo, mỗi một gia đình là một ngôi trường. Và ngược lại, mỗi thầy cô giáo lại là một chủ thể văn hóa, mỗi mái trường là một mái ấm gia đình, để con người tự do trong tình yêu nhỏ, tình yêu nhỏ sẽ góp nên những tình yêu rộng lớn hơn.

Đối với trẻ em, việc xác lập tình cảm và hứng thú thường rất dễ dàng nếu có cách truyền thụ hợp lý. Cách truyền thụ văn hóa hữu hiệu nhất chính là biến các em thành chủ thể, tức người được đích thân tham gia vào các hoạt động văn hóa, để từ đó nảy sinh những tình cảm và lựa chọn những yếu tố nào phù hợp nhất với tư chất của mình. Đương nhiên, một con người hiện đại là người tích hợp của nhiều nền văn hóa, và đây cũng chính là một trong những mục đích của nền giáo dục hiện đại.

Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học là cơ quan văn hóa hoạt động hiệu quả nhất về phương diện này. Bảo tàng đã kết hợp được với một số trường học, đưa học sinh đến học ngoại khóa. Học sinh đến đây sẽ được đích thân nhuộm vải, in tranh Đông Hồ, học đan lát, học cách in hoa văn bằng sáp ong của người Hmông, cách nhuộm ikat của người Thái, cách thêu của người Việt, tập khâu vá, cắt may, tập làm búp bê giấy, búp bê vải,4… Những việc làm này giúp các em nhận thức về văn hóa, và được tham gia vào đó với tư cách của một thành tố văn hóa.

Bài viết chưa đề cập đến việc giáo dục con người để trở thành chủ thể của nền văn hóa trong mối tương quan với văn hóa khu vực và thế giới. Nhưng việc này không đáng lo lắm bởi người Việt vốn nắm bắt rất nhanh những yếu tố văn hóa từ bên ngoài mới vào. Vấn đề là ở chỗ giáo dục như thế nào để người Việt Nam có thể ý thức, thực thi và phát huy được năng lực của mình với tư cách là công dân của đất nước và của địa cầu. Thế giới ngày càng phẳng và nền giáo dục ngày càng trở nên có xu hướng quốc tế hóa, đó là điều không thể cưỡng lại. Dân tộc hóa giáo dục ở phương diện văn hóa là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hóa văn hóa, bởi trong “bữa tiệc hội nhập” mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu” của riêng mình. Văn hóa làm cơ sở, làm bản vị để mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phát triển bền vững hơn. Nước chảy xa vì nguồn nó sâu. Kinh tế có phát triển ổn định là bởi sau lưng nó là cả một nền văn hóa có độ đằm của lịch sử. Phát triển bền vững ắt hẳn phải bắt đầu từ vấn đề chủ thể văn hóa của chúng ta hiện nay!

Một số ảnh màu Việt Nam giai đoạn 1914 -1921

19 Th10

Một số ảnh màu Việt Nam giai đoạn 1914 -1921

Blog người hiếu cổ  Ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy những hình ảnh khắc họa xã hội xưa, nhưng hầu hết là ảnh đen trắng và rất mở. Tuy nhiên, chúng tôi thấy những bức ảnh in trong “Albert Kahn Le monde en couleurs” đều là ảnh màu, rất đẹp. Xin giới thiệu một số bức ảnh trong sách như sau:
 
Liền bà Hà Nội 1914
Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông 1914
 
 Cử nhân 1915
 Quan lại Hà Nội 1915
Một buổi tế lễ ở làng quê Hà Nội 1915
 Sài Gòn 1915
 
Sài Gòn 1915
 Hải Phòng 1916
 Hà Nội 1921
 
 Hà Nội 1915
 
 Hà Nội 1915
 Hà Nội 1915
 
Hà Nội 1915

Read more: http://nguoihieuco.blogspot.com/2012/10/them-mot-so-anh-mau-viet-nam-giai-oan.html#ixzz29hgE0MIX

Hoàn cảnh ra đời của CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM – BS

19 Th10

Xưa & Nay

Hoàn cảnh ra đời của

CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Lê Xuân Khoa

TRÊN XƯA&NAYĐÃ CÓ NHIỀU BÀI ĐÁNH GIÁ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM DO NHẬT DỰNG LÊN 1945. ĐỂ GIÚP BẠN ĐỌC CÓ THÊM TƯ LIỆU TÌM HIỂU VẤN ĐỀ NÀY, CHÚNG TÔI XIN TRÍCH MỘT ĐOẠN TRONG CUỐN SÁCH CỦA GS. LÊ XUÂN KHOA, VIỆT NAM 1945 -1975, TẬP 1, XUẤT BẢN TẠI HOA KỲ NĂM 2004. GS. LÊ XUÂN KHOA LÀ NHÀ SỬ HỌC, ĐÃ TỪNG LÀ PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIÊN ĐẠI HỌC SÀI GÒN TRƯỚC NĂM 1975, NĂM 1990 LÀ GIÁO SƯ THỈNH GIẢNG TẠI TRƯỜNG CAO HỌC VỀ NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ, ĐẠI HỌC JOHNS HOPKINS Ở WASHINGTON D.C(1)

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỷ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập (dù mới chi một phần) mà không phải hy sinh xương máu. Sau khi nước Pháp bị Đức chiếm đóng vào tháng Sáu, 1940 và Toàn quyền Decoux phải nhường cho Nhật quyền làm chủ về quân sự ở Đông Dương vào tháng Chín, thì uy tín và quyền thế của Pháp bị sụp đổ mau chóng đối với các xứ thuộc địa ở Đông Dương. Các đảng phái chính trị Việt Nam bỗng thấy có động lực mới và thời cơ hoạt động để đòi lại độc lập cho đất nước. Trừ những lãnh tụ chính trị đã lưu vong ở Trung Hoa và đang hợp tác với chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật – kể cả Hồ Chí Minh – hầu hết các lãnh tụ chính trị và trí thức ở trong nước đều muốn dựa vào thế lực của Nhật để loại trừ Pháp ra khỏi Đông Dương. Tổ chức có triển vọng nhất lúc bấy giờ là Việt Nam Phục quốc Đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để thành lập ở Nhật (thường được gọi là Nhóm Phục Quốc) đã từng tổ chức lực lượng quân sự mang tên là Việt Nam Kiến Quốc Quân đi theo quân đội Thiên Hoàng về đánh Pháp ở trận Lạng Sơn ngày 23-9-1940. Một số lãnh tụ, trong đó có Ngô Đình Diệm, từ lâu đã liên lạc với nhóm Phục Quốc để mưu đồ chống Pháp, có nhiều hi vọng sẽ được Nhật ủng hộ thành lập chính quyền trong trường hợp Pháp bị lật đổ.

Tuy nhiên, vì còn bận chiến đấu với quân đội Đồng minh, mục đích trước mắt của Nhật là sử dụng Đông Dương vào mục tiêu quân sự nên Nhật đã bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về mặt hành chính. Năm 1944, Nhật bắt đầu nghĩ đến việc loại bỏ Pháp để phòng ngừa việc Pháp có thể làm hậu thuẫn cho liên quân Anh-Mỹ vì mặt trận đã được mở rộng sang vùng Đông Nam Á. Mặt khác, giải phóng cho các nước Đông Dương khỏi bị lệ thuộc vào nước Pháp cũng sẽ giúp cho Nhật củng cố được ảnh hưởng và thế lực của “khối Đại Đông Á” mà Nhật muốn lãnh đạo để chống lại khối Tây phương. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương (9-3-1945), Nhật duy trì hoàng đế Bảo Đại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Bảo Đại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Để về nước cầm quyền, ông đã hỏi Đại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải với ngai vàng”. Nhưng Đại sứ Nhật đã trả lòi: “Những người gieo mầm không phải là người gặt hái kết quả”. Điều đó cho thấy lý do thật không ủng hộ Cường Để vì không tiện lập một chính phủ Việt Nam tuy chống Pháp nhưng thân Nhật, trong khi Bảo Đại không phải là người của Nhật và có thể được dân chúng tin tưởng nếu ông chống lại mưu toan của Pháp trở lại Việt Nam. Người chuẩn bị cho Cường Để trở về thay thế Bảo Đại và cho Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là trung tá tình báo Hayashi Hide- zumi, Vào giữa năm 1944, tin đồn về chuyện này được lan truyền trong các giới chính trị khá lộ liễu đến nỗi, để tránh cho Ngô Đình Diệm khỏi bị mật thám Pháp lùng bắt, Nhật phải cải trang cho ông Diệm thành một sĩ quan Nhật và đưa ông từ Huế vào Sài Gòn ẩn náu trong một nhà thương quân đội Nhật. Đến tháng Giêng, 1945, hai tháng trước ngày đảo chánh, Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuichi quyết định không dùng lá bài Cường Để nữa(2).

Đến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Đại. Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muôn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hòa, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hóa Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vĩ Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể

nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ Ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai”, Bộ Tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chánh được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy”(3).

Những lý do trên cho thấy tại sao Nhật không mời Phạm Quỳnh cũng như không mời Ngô Đình Diệm là những người có kinh nghiệm về chính quyền mà lại mời Trần Trọng Kim, một trí thức không đảng phái, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng không phải là một người làm cách mạng. (Xem thêm chương 16 về lý do Ngô Đình Diệm không được mời, hay được mời nhưng không nhận). Đối vói Trần Trọng Kim, đây là một chuyện rất bất ngờ mà chỉ sau khi gặp Bảo Đại lần thứ hai, sau mười ngày trì hoãn, ông mới nhận trách nhiệm thành lập chính phủ. Bảo Đại thúc giục ông:

Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vây ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chinh phủ để lo việc nước.

Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là “bù nhìn” do Nhật tạo ra là chỉ đem lại cho Việt Nam một nền “độc lập bánh vẽ”. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngcại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.

Trần Trọng Kim thành lập chính phủ trong tình trạng nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nêu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội Đồng minh. Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình (LMDTDCHB) trong hệ thống mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở”, nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập Chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất”(4).

Luật sư Thảo cũng cho biết một chuyện đáng lưu ý khác là Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại của Thái Lan. Nhân vật này là Pridi Banomyong, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Thái Lan, vốn là bạn cùng lớp rất thân của luật sư Dương Văn Giáo tại Đại học Luật khoa Paris và khi làm Bộ trưởng đã mời luật sư Giáo làm cố vấn chính trị. Khi đó chính phủ Thái Lan do Thống chế Phibul Songram cầm đầu, bắt buộc phải thân Nhật lúc đó đang có 50.000 quân trú đóng ở Thái Lan. Pridi Banomyong khi đó phải sang Sài Gòn để hoạt động cho vai trò trung lập của Thái Lan. Trong thời gian này ông được Dương Văn Giáo giới thiệu với Trịnh Đình Thảo. Pridi cho hay trong khi Phibul Songram đi với Nhật thì một số chính trị gia Thái ở Anh và Mỹ hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi chiến tranh chấm dứt. Những chính khách lưu vong này thành lập một chính phủ trù bị để khi cần thiết sẵn sàng thay thế chính phủ Phibul Songram và được Đồng Minh thừa nhận. Lời khuyên của Pridi Banomyong cho Trần Trọng Kim là “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật”(5).

CHÚ THÍCH:

1. Tựa đề do Tòa soạn đặt.

2. Marr, Vietnam1945: the Quest for Power (California University of California Press, 1995). 89-90.

3. CAOM. HCI-101. Mars Masayu- ki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề “Mémoires personnels écrits en réponse au questionnaire des autorités francaises de Hué sur les évènements survenus en Indochine en Mars 1945″ (Hồi ký cá nhân viết ra để trả lời bản câu hỏi của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự việc xảy ra ở Đông Dương vào tháng Ba, 1945″. Marc Yokohama có vợ Pháp tên là Jeanne A. Vicart và một con trai tên Jean-Marie Masayumi Yokohama sinh tại Paris năm 1926. Ngày 13-12- 1946, vợ và con của Marc được chính phủ Pháp cho phép hồi hương vì có công giúp đỡ kiều dân Pháp ở Hà Nội sau vụ đảo chính. Không thấy nói gì tới biện pháp đối với Marc Masayuki Yokohama. “Trần Trọng Kim, Một cơn  gió bụi (Sài Gòn, Vĩnh Sơn, 1969), 51.

4. Trịnh Đình Khải, Decolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne (Paris: L’Harmattan, 1994), 62. Tác giả cuốn hồi ký bằng Pháp văn này là luật sư Trịnh Đình Thảo, viết sau năm 1975 và trước khi ông mất năm 1986 nhưng tới năm 1994 mới được xuất bản ở Pháp, do trưởng nam của ông là luật sư Trịnh Đình Khải đứng tên tác giả.

5. Ibid, 62-63.

Công khai sẽ làm sập đổ cả hệ thống ngân hàng – Hữu Nguyên

19 Th10

Công khai sẽ làm sập đổ cả hệ thống ngân hàng

Thừa nhận của một quan chức Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đúng là chuyện chỉ có ở Việt Nam! Hehe… vậy là từ xưa tới nay hệ thống ngân hàng Việt Nam luôn hoạt động bí mật (hay trong bóng tối?).

“Đối với hoạt động thanh kiểm tra thì có yêu cầu công khai các kết luận. Hiện nay các kết luận thanh tra sẽ công khai từng phần. Vì (nếu) có những kết luận thanh tra công khai ra sẽ làm sập đổ cả hệ thống luôn. Đó là những vấn đề hết sức nhạy cảm, phải xem xét và làm thận trọng. Thậm chí những vấn đề liên quan đến yếu tố hình sự thì phải chờ cơ quan công an tiến hành những thủ tục tố tụng, NHNN không thể tự ý đưa những vấn đề đó”. Đó là chia sẻ của ông Trương Ngọc Anh – Chánh văn phòng Cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) với báo giới tại một hội nghị đối thoại về chính sách diễn ra ngày 16/10 đăng trên trang infonet của Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam (xem chi tiết ở đây).

 Đưa cái hình này lên đề phòng trang này có thể bị rút xuống

Ông Trương Ngọc Anh cũng tiết lộ thêm: “NHNN đang xây dựng đề án về công khai minh bạch thông tin. Vụ Thanh tra Tổ chức tín dụng trong nước là đơn vị được giao thực hiện đề án này. Dự thảo đã được trình Thống đốc để báo cáo lên Thủ tướng”.

Như vậy là rõ rồi, đề án về công khai minh bạch thông tin trong hệ thống ngân hàng đang được xây dựng có nghĩa là từ trước tới nay việc công khai minh bạch thông tin trong hệ thống này là hết sức mù mờ. Cũng có nghĩa là người dân Việt Nam đang thực sự “đánh bạc” với các chủ ngân hàng trong tư thế bị “bịt mắt, bịt tai và đôi khi bị bịt cả miệng”. Trong khi phần lớn các chủ ngân hàng Việt Nam ngày nay thì lại không coi trọng chữ tín, xem ngân hàng và hệ thống này chẳng khác gì sòng bạc được điều khiển bởi các “bồ già”.
Tháng trước, ngày 28/9, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s vừa thông báo hạ bậc tín nhiệm chung của Việt Nam và tám ngân hàng thương mại trong nước (xem chi tiết ở đây).
Trái phiếu bằng đồng ngoại tệ và cả nội tệ của Việt Nam bị hạ bậc từ B1 xuống B2. Điều này đồng nghĩa với việc nước này sẽ phải đối mặt với chi phí vay mượn cao hơn nếu muốn bán trái phiếu mới. Trần xếp hạng tiền gửi ngoại tệ của Việt Nam cũng bị Moody’s hạ một bậc từ B2 xuống B3. Tám ngân hàng thương mại trong đó có ACB, BIDV, MB, SHB, Sacombank, Techcombank, Vietinbank và VIB đều bị hạ một bậc trong xếp hạng khả năng tín dụng độc lập từ E+ xuống E.
Trong bản thông cáo, Moody’s cho rằng cần có một kế hoạch cải cách để cải thiện hồ sơ tín nhiệm của ngành ngân hàng, đồng thời hạ mức rủi ro bất thường cho chính phủ. Moody’s cũng yêu cầu minh bạch và quản lý chặt chẽ hơn đối với quản lý tài chính cũng như vĩ mô, đồng thời xây dựng một lý lịch ổn định vĩ mô dài hơn để đảm bảo độ cạnh tranh cũng như phát triển.
 

Thủ tướng và cái giá của sự ‘ngạo mạn’ – BBC

19 Th10

Thủ tướng và cái giá của sự ‘ngạo mạn’

Nhật Bình

Nguyễn Tấn Dũng

 

Việt Nam của năm 2012 là đất nước chìm trong khối nợ xấu khổng lồ, bắt nguồn từ hệ thống ngân hàng, khối quốc doanh yếu kém, những doanh nghiệp tư nhân thoi thóp vì thiếu vốn và sự thao túng nền kinh tế của các nhóm lợi ích.

Trong bối cảnh đó, những năm qua nhiều ý kiến chỉ trích đã hướng về phía thủ tướng đương nhiệm, ông Nguyễn Tấn Dũng vì quản lý lỏng lẻo và chủ nghĩa bè phái, với cao trào là Hội nghị Trung ương 6 vừa bế mạc ngày 15/10.

Bài viết nhìn lại về một vài dấu ấn của ông lên nền kinh tế Việt Nam từ lúc nhậm chức hồi năm 2006.

“Thủ tướng hiện đại”

Từ góc nhìn của giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc, ông Dũng là “Thủ tướng hiện đại đầu tiên của Việt Nam”.

Là người mà Thayer gọi là “kinh tế gia theo chủ nghĩa dân tộc” trong một cuộc phỏng vấn với BBC ngày 16/10, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dẫn đầu trong việc giám sát tăng trưởng kinh tế Việt Nam kể từ năm 2006 và là người lãnh đạo cao cấp trong việc lèo lái và thỏa thuận với các chính khách và nhà đầu tư nước ngoài.

Ngay từ lúc nhậm chức, ưu tiên hàng đầu của ông là hỗ trợ xuất khẩu tài nguyên năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, các sản phẩm hải sản và may mặc; ngoài ra còn có phát triển những nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ví dụ như thủy năng và năng lượng hạt nhân.

Ngoài ra, việc đầu tư vào những công trình như nhà máy lọc dầu Dung Quất của chính phủ cho thấy xu hướng muốn tách dần ra khỏi việc xuất khẩu tài nguyên dạng thô bằng cách trang bị cho kinh tế nội địa khả năng chế biến trước khi xuất khẩu nhằm nâng cao vị trí của Việt Nam trên chuỗi giá trị toàn cầu.

Nhận xét về những thành tựu nổi bật trong nhiệm kỳ của thủ tướng, giáo sư Carl Thayer nói: “Khi Việt Nam phải gánh chịu khủng hoảng hồi năm 2008, thủ tướng đã đề xuất và thực hiện gói kích cầu để tạo một lá chắn khá tốt cho Việt Nam.”

Một ý kiến khác từ chuyên gia Châu Á của hãng phân tích ONDD, ông Raphael Cecchi thì cho rằng “Nghị quyết số 11 của chính phủ vào năm ngoái đã giúp ổn định kinh tế vĩ mô đáng kể, kiềm chế thành công lạm phát”.

‘Ngạo mạn’

Hàng triệu người bị ảnh hưởng bởi lạm phát và kinh tế yếu kém trong vài năm qua.

Là “một thủ tướng nhiều quyền lực nhất trong lịch sử Việt Nam và là người theo đuổi chính sách tăng trưởng nóng”, tuy nhiên, “điểm yếu lớn nhất của ông Dũng là sự ngạo mạn và thiếu khả năng lắng nghe những ý kiến quan trọng,” giáo sư Carl Thayer bình luận.

Để giúp tiến hành cải cách kinh tế, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thành lập Tổ chuyên gia tư vấn về cải cách kinh tế và hành chính. Đến khi thủ tướng Phan Văn Khải kế nhiệm, ông đưa tổ chuyên gia này lên thành Ban nghiên cứu về kinh tế đối ngoại của Thủ tướng Chính phủ.

Thế nhưng ngay khi nhậm chức, ông Dũng đã giải thể ban nghiên cứu này qua Quyết định số 1008/QĐ-TTg (ban hành ngày 28/7/2006).

“Ông Dũng đã loại bỏ đội ngũ cố vấn của thế hệ đi trước và thay vào đó bằng một mạng lưới bè phái của riêng mình” – Giáo sư Carl Thayer nhận xét.

Sự ngạo mạn này còn được cho là thể hiện qua cách ông đề bạt nhân sự.

“Chỉ cần nhìn cách thủ tướng đề bạt người nhà và những người thân cận vào các vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước cũng đủ thấy ông tự tin thế nào vào sức mạnh vây cánh của mình.” Một người có quan hệ cấp cao trong bộ máy Đảng Cộng sản nói với BBC.

“Thực ra ngay từ lúc đầu của Hội nghị Trung ương, những người trong cuộc đều biết rằng cả ông và những người thân tín của ông trong Đảng sẽ không mất chức. Tin đồn rằng thủ tướng bị cách chức chứng tỏ dư luận vẫn còn quá ngây thơ”, người muốn ẩn danh này nói thêm.

Thói quen bỏ ngoài tai những lời khuyên can đã trở thành một điều được nói đến thường xuyên của chính phủ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó có những lời khuyên can về sự bành trướng của mô hình Tập đoàn Nhà nước, những đầu tư công thiếu hiệu quả, làm thâm hụt vốn, ảnh hưởng môi trường cũng như sự bùng nổ của tăng trưởng tín dụng từ những kinh tế gia, nhà khoa học trong và ngoài nước cũng như các lãnh đạo và cựu lãnh đạo quốc gia mà tiêu biểu có tướng Võ Nguyên Giáp, cựu phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.

Tín đồ của tăng trưởng nóng

Ông Dũng có tham vọng biến Vinashin thành tập đoàn mạnh cấp khu vực.

Sai lầm lớn nhất của Thủ tướng Dũng là đã theo đuổi tăng trưởng bằng mọi giá, lấy trọng tâm là khối quốc doanh trong lúc nền kinh tế đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất khu vực trong suốt một thập niên qua.

Không ít các ý kiến cho rằng với tham vọng tăng trưởng thần kỳ, việc ông Dũng xây dựng các tập đoàn Nhà nước lấy ý tưởng từ Bấm mô hình Chaebol của Nam Hàn để trang bị cho nền kinh tế những ‘cú đấm thép’ là không có gì đáng ngạc nhiên.

Tương tự với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước của thủ tướng được ưu đãi những khối tín dụng khổng lồ, được đảm bảo từ phía chính phủ. Nếu tăng trưởng tín dụng trong những năm 90 chỉ có 20% thì đến năm 2010, mức này lên đến 136%. Tín dụng chủ yếu được bơm vào các doanh nghiệp Nhà nước và các thế lực đầu cơ chứng khoán, bất động sản.

Tuy nhiên khác với Chaebol, các tập đoàn Nhà nước Việt Nam không được hình thành qua quá trình tích tụ vốn, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và không những không thay thế được xuất khẩu mà còn đẩy cán cân thương mại sang nhập siêu khi nhập khẩu quá nhiều vật liệu.

Không những thế, quyết định cho phép các doanh nghiệp nhà nước đầu tư đa ngành trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2006 – 2010 kèm theo sự quản lý yếu kém của thủ tướng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này lạm dụng nguồn cung cấp tín dụng dồi dào để phát triển đa ngành, lũng đoạn nền kinh tế nội địa với các công ty con làm ăn thua lỗ, khiến 70% nợ xấu trong tổng 200 nghìn tỷ nợ xấu tại các ngân hàng thuộc về khối quốc doanh.

“Điểm yếu lớn nhất của ông Dũng là sự ngạo mạn và thiếu khả năng lắng nghe những ý kiến quan trọng”

Giáo sư Carl Thayer, học viện quốc phòng Úc

Thu hút vốn đầu tư và vay vốn lãi suất thấp từ Trung Quốc để khắc phục thâm hụt mậu dịch là một phần khác trong chiến lược tăng trưởng của thủ tướng; tuy nhiên điều này không những gây phản ứng mạnh mẽ từ dư luận trong bối cảnh tranh chấp lãnh hải trên biển Đông giữa hai nước mà còn khiến Việt Nam ngày càng phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc.

Theo số liệu của Bộ Công thương thì trong 4 tháng đầu năm 2011, nhập siêu Việt Nam là gần 4,9 tỷ đôla, trong đó riêng nhập siêu từ Trung Quốc chiếm gần 4 tỷ đôla.

Điều đáng chú ý là nhập siêu với Trung Quốc dưới thời thủ tướng Dũng là ở mức 12,7 tỷ đôla, cao gấp 5 lần mức 2,67 tỷ đôla năm 2005 trong nhiệm kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải.

Sự nhập siêu này được Trung tâm nghiên cứu kinh tế và Chính sách VEPR, đại học quốc gia Hà Nội lý giải là dưới thời thủ tướng Dũng, có đến 90% các dự án lớn, chủ yếu là công nghiệp thượng nguồn của các tập đoàn kinh tế Việt Nam trụ cột với giá trị trúng thầu từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đôla có nhà thầu là Trung Quốc.

Không những thế, các nhà thầu này thường chỉ sử dụng lao động và thiết bị đem từ Trung Quốc sang, dẫn đến việc Việt Nam không được hưởng chút lợi ích nào về lao động việc làm trong các thương vụ với Trung Quốc. Trong khi đó, đầu tư nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc chỉ chiếm 1,5% tổng FDI của Việt Nam.

Để bù đắp cho sai lầm trong chính sách mậu dịch với Trung Quốc, chính phủ thủ tướng Dũng đã phải tìm kiếm những khoản FDI khác từ nước này để cân bằng cán cân thương mại, bất chấp những quan ngại về sự phá hoại môi trường và an ninh quốc phòng.

Tín dụngTăng trưởng tín dụng của Việt Nam so với khu vực qua các năm

Dự án Bauxite Tây Nguyên mà tác giả David Pilling trong bài viết đăng ngày 6/5/2009 trên Financial Times gọi là sự ‘triều cống’ của Việt Nam để đổi lại khoản đầu tư 15 tỷ đôla nhằm giải quyết 11 tỷ đôla nhập siêu năm đó là một trong những dự án như vậy.

Để đảm bảo tăng trưởng, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng còn phải chỉ đạo thu hồi đất nông nghiệp cho các dự án biệt thự, sân golf, công nghiệp.

Nhiều vụ trong số này đã trở thành cưỡng chế bạo lực, dẫn đến những vụ như Văn Giang hồi tháng Tư năm nay. Điều này khá giống với tình hình tại Trung Quốc trong bản báo cáo mới nhất của Ân xá Quốc tế.

Chỉ tính trong 5 năm từ 2006-2010, cả Việt Nam đã mất khoảng 200 nghìn ha đất cho các dự án công nghiệp, sân golf, biệt thự, dẫn đến gần 2,5 triệu lao động mất việc và người nông dân có 3-4 tháng nông nhàn mỗi năm, theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội.

Lạm phát “quán quân” khu vực

Bất ổn vĩ mô đã kéo theo biến động trong khu vực ngân hàng Việt Nam

Không có nước nào trong khu vực hoặc thậm chí có điều kiện tương tự mà lạm phát liên tục cao hơn tăng trưởng như Việt Nam những năm qua

Hồi tháng 10/2007, trả lời báo chí trong nước, ông Nguyễn Sinh Hùng (lúc đó là phó thủ tướng) tự tin khẳng định “chỉ tiêu tăng trưởng 9% trong năm 2008 là khiêm tốn”. Thậm chí ông cho rằng trong điều kiện thuận lợi, khả năng tăng trưởng lên đến hai con số là hoàn toàn có thể.

Có lẽ lúc đó ông Hùng đã không lường trước rằng, thứ duy nhất tăng lên hai con số năm 2008 là … lạm phát.

Lạm phát năm 2007-2008 bùng nổ vì nhiều lý do, trong đó có sự tăng mạnh của mức lương tối thiểu, gia tăng giá cả của hàng hóa quốc tế và việc luồng đầu tư nước ngoài đổ vào ồ ạt sau khi Việt Nam gia nhập WTO cuối năm 2006 mà không có chính sách kiểm soát; kèm theo chính sách tiền tệ lỏng lẻo, thiếu linh hoạt cũng như tỷ giá cứng nhắc.

“”Việt Nam của năm 2012 là nơi của một chính phủ đưa ra quyết định xây dựng những công trình ở những vị trí kỳ cục””

Geoffrey Cain, cây bút trên Foreign Policy

Ngân hàng Nhà nước lúc đó phải bơm tiền đồng vào nền kinh tế để giảm nhẹ áp lực tăng tỷ giá, làm trầm trọng hơn tình trạng lạm phát, đưa lạm phát tháng Tám năm 2008 lên mức 28,2%, cao nhất kể từ năm 1993, theo số liệu từ Tổng cục thống kê.

Không những thế, những chi tiêu công quá mức (chiếm khoảng 20% GDP, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương) thiếu hiệu quả, không tạo ra sản phẩm tương ứng, không tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế cũng như các khoản vay theo quan hệ và sự độc quyền giá xăng, điện khiến lạm phát như quả bom chỉ chực bùng nổ và thực tế đã tiếp tục leo lên 23,2%, mức cao nhất Châu Á trong tháng Tám năm 2011.

Cũng kể từ năm 2008, mặc dù triển vọng tăng trưởng vẫn bị hạ thường xuyên nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn liên tục trượt mốc chỉ tiêu, với tăng trưởng trượt dốc từ mức 8,2% năm 2006 xuống còn 5,2% trong năm 2012 theo báo cáo tháng Mười của Ngân hàng Thế giới.

Đầu tư để kiếm lỗ?

Nguyễn tấn dũngThủ tướng Dũng trong những phút cuối diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 6 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

Một trong những dấu ấn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lên kinh tế Việt Nam là việc hướng đầu tư công vào những dự án hoặc có rất ít, hoặc không có chút giá trị kinh tế nào trong khi cả người dân lẫn doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều than vãn về hạn chế cơ sở hạ tầng của Việt Nam.

Chỉ số được sử dụng rộng rãi trong việc đo đạt hiểu quả đầu tư là Hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR). Mục đích của hệ số này là tính ra phải mất bao nhiêu đồng vốn đầu tư mới tạo ra một đồng tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chỉ số ICOR càng cao đồng nghĩa với vốn đầu tư được sử dụng kém hiệu quả.

Nếu báo cáo của Tổng cục Thống kê cho thấy ICOR dưới thời cố thủ tướng Võ Văn Kiệt giai đoạn 1991-1995 chỉ là 3,5 và tăng lên 3,9 trong nhiệm kỳ của thủ tướng Phan Văn Khải thì dưới thời thủ tướng Dũng, hệ số ICOR tăng vọt lên 6,15 trong giai đoạn 2007-2008 và đến năm 2009 thì lên đến 8.

Dù con số này đến năm 2010 đã giảm xuống mức 6,9 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.

Đáng chú ý hơn, ICOR của khu vực Nhà nước năm 2010 là 10,2 lần, cao gấp rưỡi hệ số chung trong khi đó, ICOR của khu vực ngoài Nhà nước năm 2010 là 3,9 lần, thấp hơn hệ số 4,9 lần của năm 2006, chứng tỏ sự vượt trội trong hiệu quả đầu tư.

Ngoài ra báo cáo của sứ quán Anh hồi tháng Sáu cũng chỉ ra khoảng cách năng suất lao động của các doanh nghiệp Nhà nước so với cả khu vực doanh nghiệp nói chung tăng ngày càng lớn qua thời gian, từ 1:4 năm 2000 đến 1:8 năm 2008.

Chỉ cần lấy ví dụ những công trình mà thủ tướng đích tay ký như cảng Vân Phong, với tổng mức đầu tư 3,6 tỷ đôla và lễ khởi công hoành tráng tốn kém hơn 4,144 nghìn tỷ đồng giờ chỉ còn lại “114 cọc thép và một xà lan toàn những máy móc rỉ” (theo AP); những câu chuyện như sự tiêu phí 4 tỷ đôla của Vinashin hay các dự án bỏ hoang của Vinaconex thì cũng dễ hiểu tại sao cây bút Geoffrey Cain lại phải thốt lên “Việt Nam của năm 2012 là nơi của một chính phủ đưa ra quyết định xây dựng những công trình ở những vị trí kỳ cục” trong bài viết trên trang Foreign Policy hồi tháng Bảy.

Sau những thành tựu

Nỗ lực làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước của ông Nguyễn Phú Trọng được một số người đánh giá cao.

Trong những năm gần đây, Việt Nam liên tục được “phong tặng” các danh hiệu nhất nhì bởi các tổ chức quốc tế.

Về kinh tế, Việt Nam là nước thứ nhì ASEAN từ dưới đếm lên trong năng lực cạnh tranh toàn cầu, theo báo cáo tháng Chín của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF); tụt tổng cộng 16 bậc trong hai lần xếp hạng gần nhất của tổ chức này.

Báo cáo hồi tháng Sáu năm nay của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng chỉ ra rõ những cái ‘nhất’ khác của kinh tế Việt Nam như lạm phát, tăng trưởng tín dụng, lãi suất và tỷ lệ nợ xấu cao nhất Châu Á những năm qua.

Đó là chưa kể đến những danh hiệu phi kinh tế khác như “nước bảo vệ động vật hoang dã tồi nhất” của Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WFF) hay vị trí 172/179 trong xếp hạng những nước thù địch tự do Internet của Tổ chứng phóng viên không biên giới (RSF).

Những sai phạm nghiêm trọng trong điều hành của ông Dũng được cho là lý do khiến Trung ương Đảng phải họp kín sớm hơn dự đoán hồi đầu tháng Mười.

Trả lời về kết quả Hội nghị Trung ương Sáu sau buổi bế mạc ngày 15/10, giáo sư Carl Thayer nói:

“Nguyễn Xuân Phúc là ứng cử viên khá sáng giá, vì không những là người được ông Dũng chọn đầu tiên mà còn là phó thủ tướng duy nhất nằm trong Bộ Chính trị”

Giáo sư Carl Thayer

“Trên thực tế, Thủ tướng Dũng đã được Trung ương trao cho một nghị trình để thực hiện. Và hội nghị trung ương lần tiếp theo, rất có thể sẽ mở ra vào tháng 12 hoặc đầu năm tới.

Và từ nay tới đó, Thủ tướng Dũng phải làm tốt, căn cứ vào những gì ông ta đã hứa khi tự phê. Sẽ có nỗ lực phối hợp để xác định rõ và xử những ai bị cho là chịu trách nhiệm về Vinashin và Vinalines. Ban Kinh tế Trung ương sẽ họp để tư vấn cho Đảng qua các phân tích nhằm buộc ông Dũng phải có trách nhiệm về hành vi của mình.

Bộ Chính trị cũng sẽ phải ra được một kế hoạch hành động mang tính phối hợp nhằm giải quyết các điều yếu kém đã nêu ra ở hội nghị trung ương lần này.”

Nhận định về người có khả năng kế nhiệm Thủ tướng Dũng, ông Thayer cho rằng phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là ứng cử viên khá sáng giá, vì không những là người được ông Dũng chọn đầu tiên mà còn là phó thủ tướng duy nhất nằm trong Bộ chính trị.

“Nhiều người cho rằng phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là người khá trung lập trong quan hệ trong Đảng cộng sản. Tuy nhiên thực tế là ông Phúc là người rất thân tín của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,” nguồn tin giấu tên có quan hệ cấp cao trong Đảng nói với BBC.

“Trong mắt ông Dũng, ông Phúc là người ‘dễ bảo’ và có đường lối ôn hòa.”

THẮNG LỢI TỘT ĐỈNH CỦA “DÂN CHỦ ĐỈNH CAO” (?!) – BVB

19 Th10

THẮNG LỢI TỘT ĐỈNH CỦA “DÂN CHỦ ĐỈNH CAO” (?!)

 
Lần gặp gỡ này hiếm thấy cử tri cừơi!
* Trần Bình (cựu nhà báo, nhà đài)

Mấy tháng nay, cố gắng giữ cho cái đầu mình thật lạnh, nhủ lòng ráng giữ im lặng giữa bộn bề xáo trộn lẽ đời, trần thân cơ khổ khi giá cả leo thang, đồng tiền quá mất giá, và cố quên những cái không cần nhớ để mà sống cho thanh thản: “Sự đời dzốn dzậy, nghĩ mần chi nhiều cho mệt!”. Thậm chí, có lúc thèm được “ngu si”, “tự ngu hóa” để cầu mong được “chút thái bình”… Thế nhưng, thực tình, thành tâm nà nói, mấy ngày nay, sau 2 tuần “hội kín” của 175 “vị La Lớn chùa Thăng Long”, thì bao nhiêu cố gắng ấy của tôi đã bị phá sản ráo trọi.
Ghé mắt vào tivi tối 15/10 để tự mình cảm nhận những thông tin sự thật về kết quả “hội kín” của “đỉnh cao quyền lực” suốt 2 tuần đó, sự thể ra sao? Nhưng tôi đã bị đốt cháy lập tức, thất vọng ê chề bởi vài giây nghẹn ngào của bác Tổng Trọng – vị lãnh đạo “không dưới ai, trên 90 triệu người” mà học hàm, học vị cũng hơi bị tối đa, ghế Thiên triều cũng đạt đến tột đỉnh. Sợ mình không hẳn tỉnh táo có nghe nhầm không, tôi chuyển kênh HTV9 của thành phố trung tâm kinh tế cả nước để nghe – nhìn kỹ một lần nữa, thẩm định cho chắc ăn, sợ lý do gì đó mình bị “tẩu hỏa nhập ma” khi xem VTV1 chăng?…
Khốn khổ thân tôi, đến nỗi tôi giận luôn mình. Cái phương châm “chữa bệnh cứu người”, “thương yêu đồng chí” của bác Tổng làm tai tôi lùng bùng. Chưa hết, “100% Bộ chính trị nhất trí… xin được nhận một kỷ luật từ Ban chấp hành Trung ương” và được đồng tình “không quyết định kỷ luật tập thể bộ chính trị và một đồng chí Ủy viên Bộ chính trị”… đến đây thì tôi thật sự điếc đặc, điếc đặc… toàn diện.
 
Bác Tổng Trọng ơi, ông anh đồng môn khoa Ngữ văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội từ cái năm chiến tranh sơ tán lên Đại Từ. Nay cho phép tôi gọi thân tình, gọi cho con, là bác Cả Trọng, hay bác Tổng. Ông bác “tài cao đức lớn” đã là Tổng Bí thư Đảng ta, nhà lý luận đầy ắp toàn thân, vị tiền bối tối cao, tối thượng có giải mã nổi cái logich lý luận của các Cả, chứ riêng tôi thì chịu bó tay thực sự đấy, bác a!
Hơn 30 năm chung sống với vùng nước nổi Nam bộ, những tưởng thoát cơ chế quan liêu bao cấp, thoát khỏi cấm chợ, ngăn sông để mở mang phát triển kinh tế và hội nhập với thế giới… sẽ là chân trời mới cho đất nước nông nghiệp ngàn đời này.
            Ai dè đâu…càng ráng sức, càng thấy chịu hết nổi!
Thế mà trong giờ phút phaỉ ra được quyết đinhj chính xác, đủ độ cần thiết trước những vấn đề, sự việc đã rõ như ban ngày, thì bác Cả và tập thể hơn chục vị “thuyền Rồng”, 14 “ngôi sao chói sáng nhất” của đất nước, lại đi làm cái chuyện “không giống ai”. Làm chuyện trái ngược, đi ngược qui luật hơn 82 năm của một tổ chức tiền phong, lãnh đạo đất nước, một “pho lịch sử bằng vàng”. Rõ là các vị đang “buông hết ráo trọi cái cần phải nắm, nhưng lại lo nắm quá chặt những cái cần phải buông” – một phương pháp cách mạng choãi ngang, chọi ngược.
Tôi đã tạm gác bút – cây súng của “người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng” – trước khi bác Tổng và 174 “đồng chí ưu tú” của bác “họp kín” 2 tuần. Tôi cũng có nhiều người bạn, người em thân thiết trong đội ngũ 175 người ấy, nên yên tâm chờ đợi với bao nhiêu kỳ vọng…
Thế mà, hỡi ơi ! Bài phát biểu bế mạc của bác Tổng đâu chỉ làm một mình tôi buồn…
Những đoạn nêu nội dung được xem là “đạt mức” nhất chỉ đem lại nỗi thất-vọng-không-thể-thất-vọng-hơn, một sự ngán ngẩm ê chề tràn ngập đến tận cùng tim óc…
Ý kiến, quan điểm có đầy đủ trách nhiệm của đông đảo trí thức, các giới công dân trong và ngoài nước đã quá nhiều, quá đủ rồi. Sự quá thất vọng và bực dọc đến mức như tiến sĩ Hồ Bất Khuất lại dùng điển tích dân dã là “nguyên lý mâm thịt chó”. Còn giáo sư Tương Lai thì lại đánh giá là “sự thất bại thảm hại”. Trong lúc đó, cựu trợ lý Thủ tướng một thời, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thì cho đó là “điều chưa xảy ra bao giờ”. Nhà văn Phạm Viết Đào thì gọi đây là sự “ù xọe”…
Ở đây, công-dân-tôi chỉ xin nêu vài suy nghĩ vụn để minh thị cho tâm tư, nỗi lòng một công dân đối với đất nước, trong những ngày sôi sục này.
Nhìn từ “hơi thở cuộc sống”, cuộc “hội kín” suốt 2 tuần của bác Tổng và các đồng chí của bác, từ ngữ của “thế hệ tương lai đất nước”, của thời văn minh @ gọi nó là “game show” – trận đấu, cuộc chơi. Đó thực sự là một cuộc chơi tốn kém, tổn hại nghiêm trọng niềm tin và sức lực của cả dân tộc.
Nói như vậy liệu đã bõ công trước bao nhiêu nhân lực, tài lực cả nước đầu tư cho cuộc “hội kín” của 175 “đồng chí ưu tú” trong suốt 2 tuần qua?
Bác Tổng ơi, ông anh đồng môn đáng suy ngẫm ơi !
Là người chỉn chu biết bao trong việc “báo hỷ” đám cưới của con trai, thay vì mời tiệc lùm xùm; bác sống mực thước ngay thẳng; bác ân cần với người dân trồng mía Hậu Giang (năm 2010 tôi đã nắn nót đưa hình này vào cuốn sách của tỉnh nhân dịp đại hội Đảng bộ địa phương), hay trả nghĩa cảm động với cô giáo tiểu học năm xưa… thế mà sao bác đã chẳng có lời nào khi lũ Tàu cướp biển quậy phá, lấn chiếm cương thổ ngoài biển khơi? Nhưng thôi, chuyện chủ quyền lãnh thổ đã có Đảng, Nhà nước lo, không nên bàn thêm.
Là nhà-lý-luận-trên-mọi-nhà-lý-luận, mà sao bác lại để cho luận lý nó kéo bác chìm và rối trong mớ bòng bong không có lối ra? Đạo lý nào đã được bác vận dụng để tạo nên hoạt cảnh “cha xin con quất roi vào lưng mình” khiến mọi người phải ôm bụng mà cười đến chảy nước mắt, đau cả “dzuột”, giống như hôm gặp của tri quận Tây Hồ mấy tháng trước bác đã nói là “tham nhũng nhìn đâu cũng có, sờ đâu cũng thấy, Đảng “xốt cả dzuột” (?!). Ôi, úm ba la con gà cục tác.
Khi bác bước lên vị trí đứng-trên-muôn-người, mọi người chúc mừng bác, nhưng có một nhà báo trả thẻ hành nghề lại gọi bác là “ông không ấn tượng”, khiến tôi cay cay nơi sống mũi, dụi dụi đôi khóe mắt, vì họ nói trúng. Mà có lần bác cũng nói là Đảng tin, dân cử thì bác làm TBT, nhưng bác cũng “không muốn để lại dấu ấn gì”. Tuy vậy, sau đó bác cũng kịp giao cho cấp phó của mình ký văn bản cấm đón rước rình rang mấy ông trung ương thuộc cấp của bác đi kinh lý các địa phương. Cái đó tuy là chuyện vặt, chẳng đáng gì, nhưng cũng thể hiện bác Tổng là người có thể hiện “đổi mới” chút xíu. Ai cũng biết là cụ Tổng Nông suốt hai nhiệm kỳ hết một thập niên “trường  kỳ” đã buông lỏng, thả quá lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều mà nhân dân cả nước mong chờ và xem bác phát tiết năng lực, chí quyết thế nào khi bác cho ra đời được Nghị quyết Trung ương 4.
Tuy vậy, cũng đâu có cấm nổi một ông đi đến đâu cũng được “đệ tử cùng hội cùng thuyền” cấp tỉnh, thành săn đón từ xa, vẫn những cuộc đưa rước cờ rong, trống mở, xe cộ hú hét dẹp đường, tưng bừng bảng hiệu “nhiệt liệt chào mừng” và vệ sĩ thì vòng trong, vòng ngoài nghênh cái vẻ mặt gằm gằm muốn để tỏ ra quan trọng bảo vệ Đại nhân… Chẳng đâu xa lạ, ông đó chính là “một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị” mà bác cố ý không nhắc, né sợ gì đó, hoặc bỗng dưng quên tên trong phát biểu bế mạc vừa rồi.
Có nhiều người “kháo” nhau rằng: Cái bài diễn văn bế mạc nặng về vân vi giải thích, như bài văn bình giảng, rào trước chặn sau ấy có bị ai khống chế cái gì khôg? Nó khác hoàn toàn với  các phát biểu của bác tại Hội nghị 4 và Hội nghị 5 trước đó. Hầu như khi ông Trời cho bác đầu thai kiếp này làm vua, nhưng lại quên một con chíp, hoặc là quên cài đặt tế bào phần mềm bản lĩnh, chí quyết cần có của một quân vương, cho nên thấy bác mếu máo mà tôi cũng mủi lòng.
Ấy thế mà, thế rồi nỡ nào bác để vuột mất.
Trong sâu thẳm suy nghĩ, vẫn biết bác cũng có cái khó rất-khó-vượt-qua, đó là giữ gìn đoàn kết, uy tín của đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. “Con ngươi mắt mình” ấy đã hơn 82 năm tuổi nên lại càng phải giữ gìn thật kỹ càng , chu tất chăng? Nhưng có khi nào cái sự “cố giữ gìn” hóa ra lại tệ hại hơn là cần phải thay đổi? Bởi đại đa số dân chúng của bác lại nghĩ khác! Họ thấy rằng “thời đã thế, thế thời phải thế”, cái gì đã cần thay đổi, cần lột xác để tốt hơn, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” thì tại sao bác Tổng lại để cho lý luận và “tình đồng chí kiểu Lôi Phong” làm mờ mịt quyết định đáng ra phải thật sáng suốt?
Bác có những câu nhận định chí lý, chí phải: “Một khi Đảng tự nhận ra sai lầm, khuyết điểm và tự nghiêm khắc, quyết tâm khắc phục, sửa chữa thì sức mạnh của Đảng càng được nâng lên; nhân dân càng tin yêu và ủng hộ Đảng”. Nhưng bác Cả Trọng hầu như chưa nhận ra là bác đang đứng trên vũ đài chính trị chứ không phải nói vo khi tiếp xúc với bà con ở nhà văn hóa phường.
Chắc bác Tổng cũng phần nào đã hiểu ra rằng, ở ngoài cuộc “hội kín” đó, đại đa số dân chúng cả nước, “một bộ phận không nhỏ” các đảng viên không dự “hội kín” và thậm chí, còn có hơn-một-đồng-chí dự hội kín nữa cũng đã mong mỏi một-bước-ngoặt-thật-sự do bác cầm chịch tạo ra. Một-bước-ngoặt-thật-sự để lại dấu ấn vẻ vang, chứ không phải chỉ là sự uốn éo của “Tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, gúp nhau cùng tiến bộ…chẳng qua cảnh báo, camnhr tỉnh, giáo dục, răn đe” là coi như Hội nghị thành công tốt đẹp.
    Chập tối qua (17/10/2012), tivi đưa tin bác và Chủ tịch nước đi tiếp xúc cử tri. VTV ở Hà Nội không xả băng ý kiến cử tri, chỉ thấy nhiều nụ cười nên không đo được sức nóng của mối quan tâm. Với cử tri Thủ đô, bác khẳng định “là kết quả bước đầu”, “còn tiếp tục”…
      Bước đầu ư? Bước đầu ngay tại cấp cao nhất, gội ngay giữa đỉnh đầu, mà như vậy thì coi như xuôi tuội rồi còn ai hy vọng được gì khá hơn được nữa ở các cấp bên dưới? “Trên làm gương cho dưới…”, bác đã  từng nhiều lần nói như vậy kia mà!
VTV phía Nam đưa về cuộc tiếp xúc của Chủ tịch nước…khá hơn, có nhiều đoạn có tiếng nói cử tri lớn tuổi, họ bày tỏ sự quan tâm nghiêm túc, buồn lo thực sự và có vẻ đau đáu như mất mát cái gì lớn lao. Nhưng sao VTV1 ở ngay Thiên triều Hà Nội thì có vẻ lựa ý, dò tứ, chọn người, tìm, hỏi, mớ mào cho các “ông chủ” để ngụ ý rằng “đầy tớ vừa rồi làm vậy cũng ngon” (?!). Còn Chủ tịch nước thì nói “Chúng tôi có lỗi lớn, nhưng cô bác anh chị cũng phải nghĩ về trách nhiệm của mình, cùng hệ thống chính trị đấu tranh chống tham nhũng”. Câu này nghe quen quá, hình như các vị vẫn chưa xóa được sự mặc định “dân trí thấp” cho nên mới tiếp tục lừa mị, nhử mồi, hứa hẹn rất ngon mà làm thì trần thân không được mấy… như vậy?
Tóm lại, diễn biến dù khác nhau, nhưng dù thế nào, không khác được, người-dân-cử-tri đã thể hiện tròn trách nhiệm công dân một đất nước đang chịu nhiều thách thức ở cả trong và ngoài nước.
Thách thức, hiện thực kinh tế suy giảm, đời sống người dân tiếp tục khó khăn hơn và “nguy cơ đe dọa sự tồn vong của đảng” vẫn còn nguyên đó.
Bác Tổng ơi, Hội nghị Trung ương 6 đã kết thúc, bác lại mở ra một cuộc trường chinh mới nữa mà người dân lại phải tiếp tục chịu đựng. Liệu rằng người dân mình có còn đủ sức chịu đựng? Bác lại muốn thử thách tính kiên trì của toàn Đảng, toàn dân trong sự tiếp tục chờ đợi một cuộc “tắm gội” toàn thân được sạch sẽ, thơm tho đến đâu chứ gì? Cũng lặp lại cuộc tiếp xúc cử tri giữa Hà thành, lần này, đứng trước bà con bác có thấy ngượng vì những lời hứa lần trước hay không? Chúc bác khỏe để tiếp tục sự nghiệp “cảnh báo, cảnh tỉnh” và thường xuyên “giáo dục, răn đe”, trước hết là trong sự nghiệp đổi mới đất nước!
Bác Cả ạ! Thói thường ở trên đời những lời nịnh, lời khen thường nghe sướng tai, cười được ngay, còn lời nói thật, nói thẳng, lại có chút cương trực, gọi là kém “nghệ thuật sống” thường khó nghe, mặt đăm đăm, mắt liếc xéo. Nhưng, dù sao chỗ anh em đồng môn được đào tạo chính quy, thi cử đàng hoàng, không phải thứ bằng cấp dịch vụ hoặc chiếu cố chính sách, tôi cũng khuyên anh, và như con tôi gọi là bác Cả, xin bác Cả dù có đang bức xúc điều gì thì cũng mong chút bình tâm khi đọc bài viết thay cho thư ngỏ này. Chúc bác “Thành công, đại thành công” như khẩu ngữ quen phát biểu mọi nơi, mọi cuộc của cụ Tổng Nông mượn lời của Bác Hồ!
 
Rạng sáng, 18.10.2012.
T.B (Tác giả gửi bản thảo đến Bvbqd)
——————————

1 nhận xét:

Nặc danh nói…
Trần Bình Rạng sáng 18.10.2012 vẫn chưa ngủ. Và còn hàng triệu người vẫn chưa ngủ vì những nổi đau buồn như Trần Bình, tuy họ không viết được bài chính luận sắc sảo như Ông.”Bài phát biểu bế mạc của bác Tổng đâu chỉ làm một mình tôi buồn…” Sự quá thất vọng và bực dọc đến hết mức chịu đựng đối với bất kỳ những ai quan tâm, yêu tha thiết nước đất nước VN này. Bác Tổng Trọng ơi, nếu Bác đừng đọc bài phát biểu bế mạc này nữa, để lại cho con dân VN một tý ti hy vọng nữa thì có phải hay hơn không? Phải chăng đó là quán triệt sâu sắc Chủ nghĩa Mác- Lênin tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh? Phải chăng đó là lí luận đi đôi với hoạt động thực tiễn sáng tạo của 175 ủy viên TW, đỉnh cao của trí tuệ VN!?
Cảm ơn Trần Bình và bác Bồng rất nhiều!

23:36 Ngày 18 tháng 10 năm 2012

Ngư dân Trung Quốc gây sự với tất cả các nước láng giềng – ĐV

19 Th10

Ngư dân Trung Quốc gây sự với tất cả các nước láng giềng

 
Từ ngoài khơi khu vực Viễn Đông Nga, qua vùng biển Hàn Quốc đến tận Phlippines, ngư dân Trung Quốc đang ngày càng đẩy Bắc Kinh vào tình thế “đối đầu” với tất cả các nước láng giềng.

 

Tuần duyên Hàn Quốc diễn tập chống đánh bắt cá trộm.
Ảnh South China Morning Post

Giữa lúc căng thẳng với các nước Đông Nam Á về Biển Đông vẫn còn đó và tranh chấp với Nhật Bản trên biển Hoa Đông tiếp tục gay go, ngày 17/10, lại xảy ra sự cố trên biển Hoàng Hải giữa ngư dân Trung Quốc với tuần duyên Hàn Quốc.

Theo AFP, ngày 16/10, lực lượng tuần duyên Hàn Quốc đã mở chiến dịch ngăn chặn khoảng 30 chục tàu đánh cá Trung Quốc bị cho là hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc trên biển Hoàng Hải. Cảnh sát biển Hàn Quốc đã bắt giữ hai chiếc tàu trọng tải gần 100 tấn và kéo về cảng Mokpo (mạn Tây Nam Hàn Quốc), đồng thời giam giữ 23 thủy thủ Trung Quốc.

Tuy nhiên, theo nguồn tin Hàn Quốc, khi bị chặn bắt, ngư dân Trung Quốc đã dùng dao, búa, gậy gộc và nhiều loại vũ khí khác… đánh lại lực lượng tuần duyên. Một nhóm cảnh sát biển Hàn Quốc đã phải dùng súng bắn đạn cao su để chống trả. Một ngư dân Trung Quốc 44 tuổi đã bị trúng đạn cao su vào ngực và đã qua đời khi được trực thăng chở đến bệnh viện.

Sự cố bi thảm này đã lập tức khuấy động quan hệ Trung Hàn. Đại sứ quán Trung Quốc tại Seoul đã lập tức yêu cầu chính quyền Hàn Quốc là phải điều tra vụ việc “một cách kỹ lưỡng và nghiêm túc”. Về phần mình, Bộ Ngoại giao Hàn Quốc cũng lên tiếng tỏ ý lấy làm tiếc về cái chết của ngư dân Trung Quốc.

Phát biểu với báo chí ngày 17/10, ông Kang Seong Hee – chỉ huy lực lượng tuần duyên thành phố Mokpo – cho biết là thi hài của người ngư dân Trung Quốc sẽ được xét nghiệm để xác định xem có phải đúng là viên đạn cao su đã gây ra cái chết của nạn nhân hay không. Tuy nhiên, viên chức này xác định : “Chúng tôi không bao giờ sử dụng đến đạn cao su nếu họ không đánh trả”.

Việc tàu đánh cá Trung Quốc ồ ạt lấn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc trên Hoàng Hải để đánh bắt trái phép không phải là hiếm hoi, và càng lúc càng gia tăng. Theo số liệu của tuần duyên Hàn Quốc, nếu trong năm 2010, chỉ có 370 tàu thuyền đánh cá Trung Quốc bị bắt giữ, qua năm 2011, số lượng này đã lên đến 475 chiếc.

Phản ứng của ngư dân Trung Quốc khi bị chặn bắt cũng càng lúc càng dữ dội hơn, không ngần ngại tấn công vào lực lượng tuần duyên lên bắt họ. Chẳng hạn như vào tháng tư vừa qua, bốn lính tuần duyên Hàn Quốc đã bị thủy thủ Trung Quốc đánh bị thương.

Thậm chí trước đó, vào tháng 12 năm 2010, một ngư dân Trung Quốc đã đâm chết một lính tuần duyên Hàn Quốc và làm một người lính khác bị thương nặng. Vụ này đã làm công luận Hàn Quốc hết sức phẫn nộ và vào tháng tư vừa qua, thủ phạm đã bị một tòa án Hàn Quốc kết án 30 năm tù. Trước đó hai năm, vào tháng 9 năm 2008, một người tuần duyên Hàn Quốc cũng bị chết đuối khi tìm cách khám xét một chiếc tàu cá Trung Quốc.

Theo các nhà quan sát, vấn đề nổi cộm trong các vụ đánh bắt cá trái phép này là thái độ hung hăng của ngư dân Trung Quốc. Trong số các nguyên nhân đã đến thái độ này, có những tuyên bố của giới chức Trung Quốc phản bác các đòi hỏi của Hàn Quốc về vùng đặc quyền kinh tế của mình, qua đó kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa của ngư dân Trung Quốc.

Có tin nói, chính quyền một số địa phương Trung Quốc để cho ngư dân của họ tự vũ trang khi đi đánh bắt tại nhưng khu vực mà Trung Quốc tự nhận chủ quyền nhưng có tranh chấp với nước khác. Một trong những ví dụ điển hình là tại Biển Đông. Theo “Hoàn cầu Thời báo” (Golbal Times) ngày 28/6/2012, lãnh đạo tập đoàn đánh cá Trung Quốc Bảo Sa ở đảo Hải Nam đã không ngần ngại cho rằng cần phải vũ trang cho ngư dân Trung Quốc “để biến họ thành lực lượng trù bị trên biển và dùng họ để giải quyết vấn đề biển Nam Hải” (Biển Đông). 

 
Minh Châu (theo RFI)

Chuyên gia Nhật phơi bày sức mạnh thật của Trung Quốc – PNTD

19 Th10

Chuyên gia Nhật phơi bày sức mạnh thật của Trung Quốc

(Quốc phòng)-Sức mạnh quân sự Trung Quốc đang có sự phát triển vượt bậc trong thời gian trở lại đây vươn lên đứng thứ hai thế giới. Nhưng…

Nhanh, nhiều

Mặc dù đang giữ vị trí “á quân” trên bản đồ quân sự thế giới nhưng rõ ràng Trung Quốc vẫn còn ở một khoảng cách khá xa với nước thứ nhất là Mỹ. Xét về yếu tố số lượng khí tài và binh lực chuẩn bị cho chiến tranh thì Trung Quốc đang dần khẳng định vị thế của mình, Yamoto, một chuyên gia quân sự của Nhật Bản đã nói vui rằng: “Bắc Kinh có thể điều thuyền kín đặc biển Hoa Đông kể cả thuyền cá được trang bị súng máy”.

Nếu so về tư duy chiến thuật của Trung Quốc thời gian gần đây cũng thấy được sự đổi khác. Vào thập niên 80 của thế kỷ trước Bắc Kinh còn chưa dám mơ tới việc đi quá xa trên biển khi họ chỉ tập trung vào việc phòng ngự duyên hải. Thế nhưng 10 năm sau khi bắt đầu sở hữu những chiến tầu cỡ lớn, Trung Quốc mới có ý định vươn xa và thấm thía nỗi đau của một cường quốc thiếu sức mạnh biển.

Việc đẩy nhanh tới mức không ngờ việc chế tạo tầu thuyền, máy bay, tên lửa, khí cụ quân sự đã biến Trung Quốc thành một cường quốc trên biển về mặt lý thuyết. Tính tới thời điểm hiện tại, quốc gia tỷ dân này đã có trong tay đủ bộ tầu chiến giống như Mỹ và vượt mặt Nhật Bản như tầu sân bay, tầu khu trục, tầu tên lửa, tầu ngầm…

Trung Quốc hiện đang đứng thứ 2 thế giới về sức mạnh quân sự dựa trên số lượng vũ khí và binh lính nhiều...
Trung Quốc hiện đang đứng thứ 2 thế giới về sức mạnh quân sự dựa trên số lượng vũ khí và binh lính nhiều…

Thế nhưng có một điểm khác biệt về chất khi mang ra so sánh tương quan sức mạnh giữa Trung Quốc và Nhật, đó là vũ khí của Trung Quốc phần nhiều vẫn là những loại vũ khí lạc hậu, dù đã có nhiều vũ khí, tầu chiến mới nhưng tất cả đều chưa được kiểm nghiệm và đưa vào sử dụng đại trà.

Mặc dù tổ chức khá nhiều cuộc tập trận tiêu tốn không ít tiền chi cho hoạt động quốc phòng nhưng rõ ràng Trung Quốc vẫn còn phải toát mồ hôi mới bám kịp Nhật.

“Nếu xét về yếu tố số lượng thì Bắc Kinh chiếm ưu thế hơn hẳn Tokyo cũng như nhiều quốc gia Đông Nam Á khác, nhưng thực chất các loại vũ khí được biên chế trong quân đội Trung Quốc đều chưa được hiện đại hóa đồng bộ”, Fujitsu, chuyên gia quân sự Nhật khẳng định.

Lịch sử đã chứng minh trong bất kỳ giai đoạn nào, yếu tố căn bản làm nên chiến thắng của một quốc gia không năm ở việc quốc gia đó sở hữu lượng đông đảo hay không mà nó nằm ở chất lượng chiến đấu. “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” là khái niệm mà các chuyên gia trong lĩnh vực quân sự luôn muốn hướng tới…

Ảnh nóng: Trung Quốc mang tên lửa ra bắn thử

Tự sát nếu phát động chiến tranh

Một câu hỏi luôn được đặt ra khi tình hình tranh chấp trên biển Hoa Đông chưa có dấu hiệu lắng dịu là: giữa Trung Quốc và Nhật Bản liệu có xảy ra một cuộc chiến? Nhà quân sự học Nicholia của Úc khẳng định: Sẽ khó có một cuộc chiến xảy ra vào thời điểm này trên biển Hoa Đông bới những lý do sau.

Một là, nếu xét trên khía cạnh sức mạnh quân sự Trung Quốc có thể nhỉnh hơn Nhật để chiếm vị trí thứ 2 trên thế giới nhưng phân tích đánh giá sức mạnh tổng hợp một quốc gia với 5 yếu tố cấu thành trực tiếp là lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, dân số, kinh tế, quân sự, và 4 yếu tố ảnh hưởng là là phát triển xã hội, tính bền vững, an ninh và chính trị trong nước thì thứ tự lại có sự đổi khác.

Theo đó, sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc chỉ đứng thứ 8 trên thế giới và nhường vị trí á quân vào tay của Nhật Bản.

Các chuyên gia cho rằng sức mạnh quân sự của Nhật không được đánh giá cao bằng Trung Quốc bởi sức mạnh quân sự của Nhật có đặc điểm là ít nhưng mà tinh.

Hai là, nếu xảy ra xung đột khu vực thì Mỹ sẽ không đứng ngoài cuộc chơi. Mặc dù quân số của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản chỉ bằng 1/10 Quân đội Trung Quốc, nhưng Tokyo còn có một ưu thế khác, đó là đồng minh Mỹ.

Căn cứ vào Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật, một khi xảy ra cuộc chiến xâm lược đối với Nhật Bản, Washington có nghĩa vụ tiến hành can thiệp. Và đến lúc này khả năng đại bại của Trung Quốc đã hiển hiện rõ.

Trung Quốc khó lòng bắt nạt được Nhật trong trường hợp xấu nhất xảy ra...
Trung Quốc khó lòng bắt nạt được Nhật trong trường hợp xấu nhất xảy ra…

Ba là, quân đội Trung Quốc thực ra có những điểm yếu cố hữu nếu Nhật nghiên cứu kỹ sẽ dễ dàng vô hiệu hóa sức mạnh tưởng chừng hết sức to lớn của Bắc Kinh. Điểm yếu thứ nhất nằm ở lực lượng ngầm của Trung Quốc, một lực lượng có số lượng vào loại khủng nhưng không được đánh giá cao về chất lượng cũng như kinh nghiệm tác chiến.

Điểm thứ hai đó là sự non nớt trong khả năng phòng không của Trung Quốc, điều này lý giải tại sao ngoài những cuộc tập trận đổ bộ chiếm đảo, quân đội Trung Quốc vẫn thường lưu tâm tới những buổi diễn tập, tập trận phòng không.

Một điểm khác nữa cũng xuất phát từ việc hay copy công nghệ của nước này, thế nên hầu hết các sản phẩm “nhái” của Trung Quốc đều không bằng một nửa sản phẩm “thật”, nên khả năng bị vô hiệu hóa đối với những loại vũ khí như vậy không phải là một công việc không khả thi.

Từ những lý do trên có thể khẳng định Trung Quốc sẽ tự tay thiêu hủy hết số củi mà mình đã tích lũy trong vài chục năm trở lại đây nếu phát động một cuộc chiến.

Thế nhưng không sử dụng sức mạnh quân sự thì Bắc Kinh lại khó trong việc giành lại chủ quyền trên biển mà Trung Quốc khẳng định là của mình.

Trung Quốc khoe cảnh khử độc, tắm táp tàu sân bay
  • Thái Yên

Tàu sân bay Mỹ lượn khắp Thái Bình dương – VNE

19 Th10

Tàu sân bay Mỹ lượn khắp Thái Bình dương

Hàng không mẫu hạm USS George Washington di chuyển khắp khu vực châu Á – Thái Bình dương trong thời gian qua, sẵn sàng bảo vệ các lợi ích hàng hải của Mỹ và đồng minh.
> Chiến hạm các nước đổ về Biển Đông
> Mỹ điều tàu tới tây Thái Bình dương

Tàu USS George Washington di chuyển tại Thái Bình dương trong nhiệm vụ tuần tra thông thường hôm 12/9. Theo tạp chí TIME của Mỹ, tàu sân bay này thuộc một nhóm tàu chiến đấu được điều tới khu vực châu Á – Thái Bình dương, cùng với một nhóm tàu khác có hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis. Mỗi tàu sân bay nói trên có 80 chiến đấu cơ. Mỗi nhóm tàu chiến đấu mà hai tàu này tham gia còn có nhiều tuần dương hạm mang tên lửa dẫn đường, khu trục hạm, tàu ngầm và tàu hậu cần.
Hôm 21/9, USS George Washington tới đảo Guam trong chuyến thăm cảng kéo dài 4 ngày.
Các thủy thủ kéo các kiện hàng trên boong tàu USS George Washington hôm 2/10. Chiến hạm này hiện cùng với phi đội máy bay chiến đấu của nó đang hợp thành một lực lượng sẵn sàng, nhằm bảo vệ các lợi ích hàng hải của Mỹ cùng các đồng minh, đối tác ở khu vực châu Á – Thái Bình dương.
Các thủy thủ kéo một đường ống trên tàu USS George Washington trong khi thực hiện việc tiếp liệu trên biển với tàu chở dầu USNS Pecos hôm 2/10.
Binh sĩ Mỹ giới thiệu về tàu USS George Washington cho người dân địa phương và thành viên Lực lượng Vũ trang Malaysia trong một tour tham quan con tàu hôm 10/10.
Binh sĩ Mỹ rước quốc kỳ nước này cùng cờ của hải quân và cờ riêng của tàu USS George Washington hôm 13/10, khi tàu đang ở eo biển Malacca, phía nam của Malaysia.
Các phóng viên Malaysia và quốc tế theo dõi chiếc chiến đấu cơ đáp xuống boong tàu hôm 12/10, khi USS George Washington đang hoạt động tại biển Andaman, phía đông của Ấn Độ Dương.
Một chiếc E-2C Hawkeye từ từ đáp xuống boong tàu USS George Washington hôm 15/10. Sự xuất hiện của các tàu sân bay Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình dương gây nhiều chú ý, do khu vực này đang có những tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa một số nước, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian qua.
Hai thủy thủ trên siêu tàu sân bay Mỹ cùng tham gia một bài tập cảnh báo an ninh hôm 16/10.
Chiếc chiến đấu cơ F/A-18F Super Hornet cất cánh từ boong tàu USS George Washington trong một chuyến bay thông thường ngày 17/10.

Hà Giang
(Ảnh: Facebook USS George Washington

Mỹ – Trung căng thẳng vì ‘gián điệp kinh tế’ – VNN

19 Th10

Mỹ – Trung căng thẳng vì ‘gián điệp kinh tế’

Gần đây, khi cuộc chiến tiền tệ với những cáo buộc Trung Quốc thao túng tỷ giá đồng NDT từ phía Mỹ lắng xuống thì hàng loạt các vấn đề khác như gián điệp thương mại, vấn đề kinh tế ảnh hưởng tới an ninh quốc gia lại nổi lên. Ngoài vấn đề thương mại, liệu những vụ việc này còn mang một tín hiệu nào khác khi bầu cử Tổng thống Mỹ đang bước vào giai đoạn quyết định.

 


Gián điệp thương mại nổi lên

Một loạt các vụ việc căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế số 1 và số 2 thế giới liên tục bùng phát trong tháng 10 mà một động thái mới nhất là ngày 10/10/2012, Bộ Thương mại Mỹ đã ra phán quyết áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với pin mặt trời của Trung Quốc.

Theo đó, Mỹ có thể đánh thuế từ 30-250% đối với các sản phẩm pin năng lượng mặt trời của Trung Quốc, trước mắt là nhắm vào hai người khổng lồ của Trung Quốc là Suntech Power và Trina Solar. Trung Quốc đang sở hữu khoảng 60 công ty sản xuất pin mặt trời lớn, trong đó có Suntech Power là tập đoàn lớn thứ hai thế giới trong lĩnh vực này, chỉ sau First Solar của Mỹ. Tuy nhiên, đây chưa phải là quyết định cuối cùng. Dẫu vậy, nó cũng làm dấy lên nguy cơ về cuộc chiến thương mại mới giữa hai cường quốc kinh tế.

Ngay lập tức, Bắc Kinh đã lên tiếng phản đối và cho rằng Mỹ cố tình gây cọ xát thương mại, đi ngược với xu thế của thế giới về ứng phó với biến đổi khí hậu và thách thức về an ninh năng lượng.

Trước đó 10 ngày, một công ty tư nhân của Trung Quốc là Ralls Corp đã khởi kiện Tổng thống Obama vì đã “hành động một cách vô luật pháp và không có thẩm quyền” sau khi ông quyết định phong tỏa một dự án điện gió của công ty này do lo ngại về vấn đề an ninh.

Đây là vụ đầu tư nước ngoài đầu tiên bị ngăn cản ở Mỹ trong vòng 22 năm trở lại đây. Quyết định này được đưa ra sau đề xuất hồi tháng 9 của một ủy ban của Mỹ chuyên theo dõi các hậu quả về an ninh quốc gia của các dự án đầu tư nước ngoài.

 

Quyết định này của Tổng thống Obama đã buộc Ralls Corp phải từ bỏ phần hùn trong các dự án nằm gần khu vực bị hạn chế tiếp cận thuộc quyền sử dụng của cơ sở huấn luyện hệ thống vũ khí hải quân Mỹ ở bang Oregon. Phía Mỹ nói rằng “có bằng chứng đáng tin cậy để tin rằng Ralls Corp có thể có những hành vi làm suy yếu an ninh quốc gia Mỹ”, rằng Ralls Corp chỉ là bình phong của Sany Group, một công ty có quan hệ rộng rãi với giới quân sự tại Bắc Kinh.

Cũng trong ngày 1/10, theo các nguồn tin tình báo và quân sự Mỹ, hacker có liên hệ với chính phủ Trung Quốc đã thâm nhập vào hệ thống của Văn phòng Quân sự Nhà Trắng phụ trách kiểm soát vũ khí hạt nhân. Các vụ tấn công được cho là đã được tiến hành từ hồi tháng 9, đây được xem là một trong những vụ tấn công mạng liều lĩnh nhất nhằm vào nước Mỹ, đồng thời làm bật lên sự thất bại của chính quyền Obama trong cuộc chiến chống lại các vụ tấn công mạng liên tiếp từ phía Trung Quốc.

Tiếp đó, ngày 7/10, dự thảo báo cáo của Ủy ban tình báo Hạ viện Mỹ tiết lộ hai công ty Hoa Vi (Huawei) và Trung Hưng Thông tấn (ZTE) hoạt động “hoạt động không độc lập với chính phủ Trung Quốc và rất có thể sẽ thi hành lệnh làm gián điệp kinh tế lẫn quân sự cho Bắc Kinh”. Cơ quan tình báo Mỹ cho rằng chính phủ Trung Quốc thông qua việc tấn công mạng chính phủ và công ty Mỹ nhằm đánh cắp thông tin tình báo và bản quyền thương mại. Hai công ty kể trên có mối liên hệ mật thiết với giới quân sự và được chính phủ Trung Quốc hậu thuẫn và hỗ trợ về nhiều mặt.

Phía Trung Quốc ngay lập tức lên tiếng phản đối và cho rằng, báo cáo của Ủy ban Tình báo Mỹ thiếu căn cứ và không đưa ra được bằng chứng nào chứng tỏ các sản phẩm của Hoa Vi và ZTE mang mục đích gián điệp. Người phát ngôn của Hoa Vi, William Plummer cũng lên tiếng đe dọa các công ty Mỹ hoạt động ở nước ngoài có thể sẽ bị đối phương trả đũa bằng biện pháp tương tự.

Hoa Vi hiện là tập đoàn viễn thông lớn nhất của Trung Quốc, có sản phẩm được sử dụng trên 150 quốc gia và tới 2/3 trong 32.4 tỷ USD doanh thu hàng năm của tập đoàn đến từ các hoạt động kinh doanh bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Sự việc đã đẩy quan hệ thương mại Mỹ-Trung trước những cơn sóng gió mới. Còn nhớ, trước đây chưa đầy 1 tháng, Cơ quan đại diện Thương mại Mỹ USTR đã có đơn khiếu nại lên WTO cáo buộc Trung Quốc trợ giá cho ngành ô tô và phụ tùng thay thế trong nước, gây bất lợi cho các doanh nghiệp Mỹ.

Điều gì xảy ra nếu M.Romney đắc cử?

Các vụ việc được tung ra vào lúc TTh Obama đang phải chịu sức ép ngày càng tăng từ đối thủ Mitt Romney, ứng cử viên của Đảng Công hòa, người từ đầu chiến dịch tranh cử luôn cáo buộc Nhà Trắng đã quá nhu nhược đối với các tập tục thương mại của Bắc Kinh. Ông Romney tuyên bố nếu được bầu làm Tổng thống, ông sẽ coi Trung Quốc là quốc gia thao túng tiền tệ.

Trong một tuyên bố mới nhất trong chiến dịch tranh cử trước vòng tranh luận về các vấn đề quốc tế và chính sách đối ngoại, ông Romney hứa sẽ cứng rắn hơn với Trung Quốc nhằm giúp những người lao động Mỹ, đánh thuế vào hàng hóa giá rẻ của nước này đang làm thiệt hại cho các nhà sản xuất Mỹ. Như vậy nếu ông Romney đắc cử, quan hệ thương mại Mỹ-Trung có thể sẽ phải đối mặt với nhiều sóng gió, thậm chí là kích nổ cuộc chiến tranh thương mại giữa hai cường quốc.

Trong khi đó, theo báo chí Trung Quốc, Mỹ đang trong giai đoạn bầu cử, do đó, nước này đang lợi dụng vấn đề Trung Quốc làm công cụ để hai đảng cạnh tranh với nhau và cho rằng các cáo buộc gần đây của chính phủ Mỹ đã gây trở ngại cho hợp tác thương mại giữa hai nước. Chuyên gia về WTO của Đại học Kinh doanh và Kinh tế quốc tế Bắc Kinh Tu Xinquan cho rằng đây là những vấn đề mang màu sắc chính trị hơn là thương mại. Cả hai chính phủ đang phải chịu những áp lực từ trong nước, khi cả Mỹ và Trung Quốc đang trong giai đoạn nước rút của cho chiến dịch tranh cử tổng thống và chuyển giao thế hệ lãnh đạo.

A(Tổng hợp)

 

Thế giới 24h: Tuyên bố của ông Putin

19 Th10

Thế giới 24h: Tuyên bố của ông Putin

 – Ông Putin tuyên bố chỉ có Hội đồng Bảo an mới hạn chế được Nga xuất khẩu vũ khí; Trung, Hàn chỉ trích quan chức Nhật thăm đền Yasukuni… là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Theo hãng tin Reuters, hôm 17/10, Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố, chỉ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mới có thể hạn chế Nga xuất khẩu vũ khí ra nước ngoài.

Tuyên bố trên của Tổng thống Putin được đưa ra trong bối cảnh có nhiều lời chỉ trích nhằm vào điện Kremlin, cáo buộc rằng Nga đã cung cấp vũ khí cho Chính phủ Syria.

“Chỉ những biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mới có thể coi là cơ sở để hạn chế việc cung cấp vũ khí”, hãng thông tấn Itar-Tass dẫn lời ông Putin.

Tổng thống Nga Vladimir Putin. (Ảnh: Reuters)

“Trong mọi trường hợp khác, không ai có thể lấy bất kỳ lý do nào buộc Nga phải giao dịch với ai và ra sao”, ông Putin nói tại cuộc họp của ủy ban hợp tác kỹ thuật quân sự.

Theo Đài tiếng nói nước Nga, cũng ở cuộc họp trên, ông Putin đã chỉ thị nâng quan hệ hợp tác quân sự, kỹ thuật với các nước BRICS và Việt Nam lên mức độ mới về chất.

Sự nâng cấp này có nghĩa là sẽ chuyển từ quan hệ buôn bán thông thường sang hợp tác nghiên cứu, sản xuất, chế tạo vũ khí, cùng hợp tác xuất khẩu sang các nước thứ ba…

Tổng thống Nga Putin cho biết, tính tới ngày 1/10, nước này đã xuất khẩu được số vũ khí, kỹ thuật quân sự ra nước ngoài có giá trị 10,7 tỷ USD, bằng 80% kế hoạch năm.

Tin vắn

– Trung Quốc chỉ trích chuyến thăm Yasukuni của hai bộ trưởng Nhật, động thái làm trầm trọng thêm quan hệ Bắc Kinh và Tokyo.

– Cùng ngày, phía Hàn Quốc cũng đã lên tiếng chỉ trích việc hai bộ trưởng trong nội các của Nhật Bản tới thăm ngôi đền Yasukuni.

– Hải quân Trung Quốc có thể sẽ cùng Cục Ngư chính, Cơ quan Giám sát hàng hải tiến hành tập trận trên biển Hoa Đông vào 19/10.

– Giới chức ngoại giao Phương Tây cho biết Iran đang tăng cường khả năng làm giàu urani tại cơ sở Fordow nằm sâu trong lòng đất.

– Phó Thủ tướng Nga Dmitry Rogozin ngày 18/10 cho rằng khái niệm của Mỹ về phòng thủ tên lửa sẽ đe dọa an ninh của nước Nga.

– Tổng thống Iran hối thúc một cuộc ngừng bắn tại Syria, đồng thời kêu gọi đối thoại trong nước nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng.

– Hàn Quốc tuyên bố sẽ tiến hành một cuộc tập trận thường niên vào tuần sau với quy mô lớn để đáp lại các đe dọa của Triều Tiên.

– Tổng thống Hàn Quốc bất ngờ thăm hòn đảo gần vùng biên giới với Triều Tiên, nơi xảy ra vụ nã pháo gây chết người 2 năm trước.

– Đặc phái viên Mỹ Glyn Davies đã tới Seoul để thảo luận về các vấn đề khu vực, chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.

– Hàng loạt vụ nổ đã xảy ra gần Sở chỉ huy Sư đoàn thiết giáp số 1 tại Saana (Yemen) khiến một kho chứa tên lửa Katyusha phát nổ.

– Xung đột giữa lực lượng vệ binh quốc gia Libya và một nhóm vũ trang tại Bani Wali làm 10 người chết, hàng chục người bị thương.

– Ngày 18/10, 3 người Philippines và 2 người Trung Quốc đã thiệt mạng do một tàu thuộc lực lượng bảo vệ bờ biển Hàn Quốc bị lật.

Tin ảnh

Trẻ em tỵ nạn người Syria tại tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ. (Ảnh: THX)

Phát ngôn ấn tượng

“Khi ông ấy nói sẽ mạnh tay với Trung Quốc, hãy nhớ rằng Thống đốc Romney đã đầu tư vào những công ty là tiên phong trong việc thuê gia công tại Trung Quốc, và hiện đang đầu tư vào những công ty chế tạo thiết bị giám sát cho Trung Quốc”, Tổng thống Mỹ Barack Obama công kích đối thủ Mitt Romney trong cuộc khẩu chiến nảy lửa sáng 17/10.

Ngày này năm xưa

19/10/1987 được gọi là “Ngày thứ hai đen tối” (Black Monday), khi chỉ số chứng khoán Mỹ Dow Jones “bốc hơi” 22,61% xuống 1.738,74 điểm.

Thanh Vân (tổng hợp)

%d bloggers like this: