Lưu trữ | 9:19 Chiều

Chủ nhân Man Booker 2012: “Cần có chỗ cho văn chương nghiêm túc” – TT&VH

19 Th10

Chủ nhân Man Booker 2012: “Cần có chỗ cho văn chương nghiêm túc” 

(TT&VH) – Hilary Mantel, nhà văn vừa giành giải văn học danh giá Man Booker lần thứ 2, cho rằng truyện kỳ ảo như Harry Potter hay truyện khiêu dâm như Fifty Shades of Grey hiển nhiên dễ dàng nổi tiếng nhưng độc giả cần có gu đọc “lành mạnh” hơn thế.

Mantel đưa ra lời phát biểu trên trong chương trình Radio 4 của kênh BBC vào ngày 17/10 khi được hỏi về “vị thế hiện tại của tiểu thuyết” và những gì người ta đang đọc. Bà không trực tiếp nhắc đến tên hai cuốn sách bán chạy bậc nhất thế giới, Harry Potter của J.K. Rowling và Fifty Shades of Grey của E.L. James, nhưng qua cách mô tả, không ai là không nhận ra bà đang nói về chúng (đặc biệt là Fifty Shades of Grey).

Văn chương có thể vừa hay vừa ăn khách

Mantel nói: “Tôi nghĩ là một sai lầm khi người ta quá đói khát những thứ liên quan đến khổ dâm và ác dâm (ám chỉ Fifty Shades of Grey)”.

“Thời nào cũng có các tiểu thuyết thể loại (viết theo thể loại cụ thể cho một nhóm độc giả cố định), kể cả có là roi da và xiềng xích (ám chỉ Fifty Shades of Grey) hay cậu bé phù thủy (ám chỉ Harry Potter), rất nổi tiếng và thành công về thương mại. Nhưng điều quan trọng là vẫn tồn tại một thứ gu lành mạnh, thứ người ta vẫn gọi với thái độ tiêu cực là tiểu thuyết nghiêm túc”.

Ý của Mantel là nhiều người nghĩ “nghiêm túc” đồng nghĩa với ít độc giả, hoặc tệ hơn là chẳng ai thèm đọc.

“Nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng, tiểu thuyết có thể vừa rất nổi tiếng vừa hay và đáng đọc lại lần thứ hai”.

Nữ tiểu thuyết gia người Anh đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hai luồng văn chương: nghiêm túc và ăn khách ngay từ khi khởi nghiệp viết lách. Bà chọn viết tiểu thuyết lịch sử, một đề tài khó nhằn, trong khi người ta chủ yếu muốn đọc về phụ nữ, đàn ông, chuyện tình dục… Không có đề tài thấp kém, chỉ có khả năng viết thấp kém, và Mantel kiên trì với tiểu thuyết lịch sử vì đó vô tình lại là mảng đề tài yêu thích của bà.

Nhà văn Hilary Mantel. Ảnh: David Rose

 

 

Sách người lớn và sách “cho người trưởng thành”

Có thể Hilary Mantel không đánh đồng chất lượng văn học của Harry Potter và Fifty Shades of Grey; dù sao thì cuốn tiểu thuyết cho “người lớn” cũng bị chê bai nhiều hơn hẳn câu chuyện về cậu bé phù thủy. Nhưng, có thể thấy bà không mấy ủng hộ dòng văn học đáp ứng thị hiếu của một nhóm độc giả chuyên biệt.

Với Mantel, “văn chương nghiêm túc” có vai trò lớn lao hơn thế, và chắc chắn gặp nhiều thách thức hơn.

Điều thú vị là chính J.K. Rowling cũng không chấp nhận “ngồi chung chiếu” với E.L. James. Theo trang Books & Review, mới đây, khi quảng bá cuốn sách mới The Casual Vacancy của mình, tác giả Harry Potter bày tỏ, bà vui mừng với việc Fifty Shades of Grey đang là cuốn tiểu thuyết “người lớn” thành công nhất thế giới.

Nhưng, Rowling nhấn mạnh, có sự khác biệt rất lớn về yếu tố người lớn giữa hai tác phẩm của bà và E.L. James. “Khác nhau ở chỗ, trong sách của tôi cũng có cảnh làm tình nhưng không phải viết ra để người đọc thưởng thức và thỏa mãn”.

Rowling muốn người ta xếp cuốn sách của bà vào một hạng mục khác, “tiểu thuyết dành cho những người trưởng thành”, lưu ý rằng bà không muốn người đọc nghĩ mình vừa chuyển từ thế giới huyền bí của các phù thủy sang kiểu khiêu dâm như trong sách của E.L. James.

Say sưa với tiểu thuyết lịch sử

Trở lại với Hilary Mantel, bà được trao giải Man Booker 2012 hôm 16/10 với tác phẩm mới nhất Bring Up the Bodies, một tiểu thuyết lịch sử. Đây là cuốn thứ hai trong bộ ba tiểu thuyết Thomas Cromwell. Trong cuốn sách này, tác giả kể về cuộc đời vị hoàng hậu nổi tiếng và tai tiếng Anne Boleyn thông qua góc nhìn của một người đàn ông, chính là Thomas Cromwell.

Mục Góc nhìn của tờ Telegraph đưa ý kiến của hội đồng trao giải Man Booker nhận xét về Hilary Mantel: “Bà sử dụng văn xuôi để làm những thứ mình thích, giống như một ca sĩ hay một nhạc công piano”.

“Bà viết tiểu thuyết lịch sử mà như khiến người đọc cảm thấy điều mà lịch sử đã cảm thấy. Đó là một sức mạnh đặc biệt, khi bà có khả năng làm cho Robespierre đáng cảm thông trong cuốn sách trước, và với cuốn sách này là

Thomas Cromwell. Và bây giờ, ở đỉnh cao của sức mạnh đó, bà đang viết tiếp cuốn thứ ba trong bộ ba”.

Mantel cũng tâm sự về quá trình sáng tác Bring Up the Bodies, đặc biệt là khi viết về những phút cuối cùng trong cuộc đời Anne Boleyn. Nhà văn nói, khó nhất là đoạn hoàng hậu ấy bị “xóa khỏi lịch sử”. Đó là đoạn khiến bà phải suy nghĩ rất nhiều, nhưng cuối cùng lại chỉ mất “khoảng một phút” để viết xong. “Một khi bạn tìm được đúng từ cần dùng, bạn sẽ viết không đắn đo”.

Vài nét về nữ nhà văn 2 lần đoạt giải Man Booker
Hilary Mantel sinh năm 1952, từng được Nữ hoàng Anh phong tước CBE vào năm 2006. Bà cũng là một tác giả vừa được nhiều giải thưởng vừa có sách bán khá chạy.

Giải Man Booker trao hàng năm cho các nhà văn Anh, Ireland và Khối thịnh vượng chung, là một trong những giải thưởng văn học lớn và có giá trị nhất thế giới. Người chiến thắng được trao 50.000 bảng Anh.

Đến nay, mới có 3 nhà văn từng 2 lần giành giải Man Booker, trước đây là JM Coetzee và Peter Carey. Hilary Mantel là nhà văn Anh đầu tiên và cũng là người phụ nữ đầu tiên đạt được thành tích này.

 

 

Hạ Huyền

Thơ Kha Tiệm Ly: LỜI CHÍNH KHÍ

19 Th10

LỜI CHÍNH KHÍ

 

Kha Tiệm Ly

 

Không cam lòng sống kiếp tôi đòi

Thà cổ bị lìa, hơn chết toi.

Bởi Đá Bạc bầm mình hứng lửa,

Nên Hoàng Sa Nộ Khí xung trời.

Một bọc mẹ cha, chung giọt máu,

Mười vạn anh em, rặt giống  nòi.

Muôn lạch đều xuôi về biển lớn,

Trăm non mãi mãi vẫn cao vời!

 

Kha Tiệm Ly

Ôtô gỗ tự chế đầu tiên tại Việt Nam

19 Th10

Ôtô gỗ tự chế đầu tiên tại Việt Nam

Ngoại trừ gầm và hệ thống truyền động nhập về, tất cả chi tiết còn lại trên chiếc ôtô tự chế của anh Lê Nguyên Khang đều làm thủ công bằng gỗ.

Từ ý tưởng muốn làm điều gì đó độc đáo với gỗ, anh Lê Nguyên Khang, người theo ngành gỗ từ năm 1990 ở quận 7 TP HCM quyết định làm chiếc xe bằng gỗ đầu tiên ở Việt Nam.
Chiếc xe hơi gỗ bắt đầu lên khuôn vẽ do chính anh cùng đội ngũ nhân viên tự thiết kế, đến tháng 4/2011 anh bắt tay vào làm. Khung gầm, động cơ, hộp số, dàn nhíp, hệ thống truyền động, vô lăng của hãng BMW được nhập về, còn lại tất cả đều làm thủ công từ gỗ. Xe nặng 1.420 kg.
Trong quá trình làm sản phẩm này, có lúc các nhân viên, thợ đã phải bỏ ngang do quá khó. Tuy nhiên, với quyết tâm, sau nhiều tháng anh đã hoàn thành ôtô gỗ độc đáo này. Chiếc xe mui trần có chiều dài 4,6 m, rộng 1,8 m.
Phía đầu xe thiết kế chạm trổ với chữ Le Lumber cùng hình rồng. Anh Khang cho biết các hoa văn, họa tiết này mang ý nghĩa biểu tượng Việt.
Đèn giả phía trước. Thiết kế xe này được chủ nhân cho biết không giống bất kỳ khuôn mẫu nào.
Tên xe được đặt là Achilles. Các bộ phận của xe được làm từ gỗ căm xe, tần bì, walnut (óc chó) nhập từ nước ngoài.
Phía bên hông xe trạm chổ hoa văn và Phụng. Tay mở cửa cũng được làm công phu.
Đèn chiếu hậu làm từ gỗ.
Kính chiếu hậu với hoa văn ở viền cửa xe.
Lốp xe dùng là lốp bình thường cho các loại ôtô.
Các chi tiết, bản lề cửa được làm tỉ mỉ. Xe có thể dùng trong nhà hàng, khách sạn, sân golf, khu du lịch. Ngoài ra, chủ nhân chiếc xe cũng đang ấp ủ dự định làm những chiếc xe gỗ chạy bằng điện phục vụ du lịch cho TP HCM.
Anh Khang cho biết, xe có thể chạy an toàn với tốc độ 60 km/h. Giá bán của chiếc xe này là 24.000-25.000 USD. Toàn bộ số tiền bán xe sẽ dùng làm từ thiện. Về việc kiểm định, nếu người mua cho chạy ngoài đường thì cần phải đi kiểm định. ‘Tôi hoàn toàn tin tưởng việc kiểm định cho chiếc xe này”, anh Khang nói.
Bài và Ảnh do Kha Tiệm Ly gởi đến Vô Ngã

Truyện ngắn ở Thành phố Hồ Chí Minh: một vài ghi nhận – PBVH

19 Th10
 

Truyện ngắn ở Thành phố Hồ Chí Minh: một vài ghi nhận 

Lê Văn Thảo – Huỳnh Như Phương

 Hình thành từ khi Chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược sứ lập dinh Trấn Biên và Phiên Trấn cách nay hơn 300 năm, Thành phố Hồ Chí Minh – tên gọi được chính thức xác định khi nước Việt Nam thống nhất năm 1975, bao gồm địa bàn Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định trước đây – có một lịch sử đặc biệt và một số phận khác thường.

 

Trong ba thế kỷ xây dựng và phát triển của nó, Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua nhiều chế độ khác nhau: phong kiến, thuộc địa, tư bản – thực dân cũ và thực dân mới – và nay là xã hội chủ nghĩa. Nó đã chứng kiến và chịu ảnh hưởng của nhiều sự kiện lịch sử lớn lao làm biến đổi xã hội và con người: cuộc xâm lược của những đoàn quân viễn chinh; những cuộc nổi dậy và kháng chiến giành độc lập; sự tiếp xúc với nền văn minh phương Tây; những cuộc di dân từ miền Bắc, miền Trung, từ nông thôn miền Đông và miền Tây Nam Bộ; những cuộc chính biến và đổi ngôi của các thế lực cầm quyền…

Tất cả những điều đó đã làm cho thành phố này mang một cấu trúc đa dạng và đa sắc trong tiến trình lịch sử về mọi lãnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, cơ cấu dân cư, văn hoá, tư tưởng và cả văn học nghệ thuật. Trong những giai đoạn chuyển tiếp của lịch sử, thành phố này từng là hợp thể của những đối cực về văn hoá mà những giá trị thực sự muốn giành vị trí để được thừa nhận rộng rãi nhiều khi phải trải qua nhiều thời gian tranh cãi, thuyết phục. Cho đến nay một công trình tổng kết đầy đủ hành trình văn hoá, văn học của 300 năm lịch sử thành phố vẫn là dự án còn ở phía trước.

Chỉ tính riêng 37 năm từ ngày đất nước thống nhất, việc tổng kết những thành tựu trên lĩnh vực văn học cũng chỉ là công việc bước đầu. Những cuốn sách tập hợp và tuyển chọn tác phẩm văn học của người thành phố hay viết về thành phố, bao gồm cả một số tác giả định cư ở nước ngoài, hiện chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Khó khăn đặt ra ở đây không chỉ về tư liệu mà còn về một quan niệm, một cách nhìn thoả đáng, có khả năng được sự đồng thuận trong văn giới, đối với những giá trị cần được khẳng định và lưu giữ.

Người viết truyện ngắn ở thành phố hiện nay có đến cả trăm, với những phong cách khác nhau, chọn những tác giả nào đại diện cho một nền văn xuôi là chuyện không dễ. Mỗi tác giả lại không phải chỉ có một tác phẩm hay, chọn truyện ngắn nào tiêu biểu cho một phong cách cũng là chuyện phải cân nhắc. Truyện ngắn hay với người này chưa chắc đã hay với người khác, tác phẩm được bạn đọc trong nước hoan nghênh có thể nhận sự thờ ơ của bạn đọc nước ngoài.

Những nhà văn cao niên viết truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh hầu hết là những người đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: Sơn Nam, Trang Thế Hy, Trần Kim Trắc, Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Thanh Giao, Đoàn Minh Tuấn, Đinh Phong… Sau năm 1954, nhiều người thuộc thế hệ của họ tập kết ra miền Bắc theo quy định của Hiệp định Genève, và chấp nhận tình cảnh bị cắt đứt với cái nôi của phong tục và ngôn ngữ miền Nam. Chính vì vậy mà ở trên miền Bắc, họ hầu như chỉ viết về thiên nhiên và con người nơi quê hương xa cách với những hồi ức và kỷ niệm. Điều đó lại tiếp tục khi họ trở về quê hương, ngay khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đang hồi ác liệt hay khi đất nước đã thanh bình, đoàn tụ. Trần Kim Trắc, vốn được biết đến nhờ một vài truyện ngắn được phổ biến thời chống Pháp ở Nam Bộ, ra đến miền Bắc, vì một lý do riêng, đã ngưng sáng tác cho đến ngày trở về miền Nam sau 1975, mới cầm bút trở lại và khai thác những câu chuyện ngày cũ bị bỏ dở. Đoàn Giỏi nổi tiếng ở miền Bắc với tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, kết hợp đặc sắc chất phương xa và nghệ thuật miêu tả phong tục, khi trở lại cố hương tiếp tục phát huy thế mạnh của mình qua câu chuyện Tiếng gọi ngàn.

 Cùng thế hệ đó, trên miền Bắc, Bùi Đức Ái, Nguyễn Sáng kịp xuất bản một vài cuốn sách với tên thật thuở mới vào nghề, trước khi đổi bút danh thành Anh Đức và Nguyễn Quang Sáng để trở về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cùng với Nguyễn Thi, Trần Hiếu Minh, Đinh Quang Nhã, Võ Trần Nhã… Trong khi đó, Viễn Phương, Trang Thế Hy ở lại Sài Gòn, chịu cảnh tù đày rồi thoát ra chiến khu, nơi “tập kết” mới không chỉ của những người đi từ Bắc vô Nam dọc con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, mà cả những người trẻ hơn, từ bỏ cuộc sống thị thành, chấp nhận cầm bút viết văn trong hoàn cảnh đối diện với cái chết, như Lê Văn Thảo, Nguyễn Hồ, Lê Văn Duy… Có thể nói họ những nhà văn am hiểu sâu sắc cuộc sống và con người Nam Bộ trong kháng chiến lần thứ hai.

Những người ra đi từ miền đất này, mãi hơn 20 năm sau, mới gặp lại nhau trên thành phố Sài Gòn, nay đã đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh: người theo chân chiến dịch Hồ Chí Minh về sớm, người giã từ Hà Nội hồi hương muộn hơn đôi chút. Họ cũng gặp gỡ những nhà văn từng sống và cầm bút trong nội thành (Sơn Nam, Vũ Hạnh, Nguyễn Nguyên, Lưu Nghi, Trần Hữu Lục, Mường Mán, Hoàng Ngọc Tuấn, Đoàn Thạch Biền…), những nhà văn quê gốc miền Bắc định cư ở thành phố (Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Trần Văn Tuấn, Văn Lê, Triệu Xuân, Lê Điệp, Dương Trọng Dật, Hoàng Đình Quang, Nguyễn Quốc Trung…) cùng với những cây bút thuộc thế hệ mới, trẻ hơn, những người chung một niềm khát khao xây dựng nền văn học trên đất nước nay đã hoà bình độc lập, trong một hoàn cảnh không phải đã hết những ngộ nhận và mặc cảm về nhau, những ngộ nhận và mặc cảm mà tất cả đều biết rằng sự giải toả bằng ứng xử nghề nghiệp và bằng chính ngòi bút không phải là chuyện một sớm một chiều.

Không phải ngẫu  nhiên mà Bàn thờ tổ của một cô đào (Nguyễn Quang Sáng), Tiếng hát và tiếng khóc (Trang Thế Hy) cùng đặt vấn đề về lý tưởng nghề nghiệp, quan niệm nghệ thuật và sứ mệnh của người nghệ sĩ. Người viết văn cũng như đào cải lương Thanh Sa, vừa phải diễn cho hay đồng thời vừa phải để công chúng tôn trọng về nhân cách. Dù là đối thoại bằng ngôn ngữ dân dã hay hơi văn hoa, trí thức, những nhân vật ấy ý thức rằng nghệ thuật luôn đặt trên một niềm tin về lý tưởng. Có tra vấn về lý tưởng, nhưng họ không quá dằn vặt, không đến mức phải cố gắng để mà sống, lại càng không rơi vào tình trạng khủng hoảng lòng tin.

Trong những nhà văn cao niên, Mạc Can là một trường hợp đặc biệt: là một nghệ sĩ ảo thuật, ông bước vào nghề văn khá muộn, hoàn toàn như một người “tự đào tạo”. Khẩu thuật là truyện ngắn tiêu biểu gắn liền với vốn sống do nghề nghiệp đem lại cho ông. Nó cũng thể hiện cách viết sở trường của Mạc Can: “người nói giọng bụng” là tiếng nói thứ hai từ trong tiềm thức của ông, nó là tiếng nói của tấm lòng, của sự chân thành trước khi là tiếng nói của tài năng.

Như một quy luật, nếu biểu đồ sáng tác của những nhà văn cao niên ngày càng thưa thớt, thì ấn phẩm của thế hệ trẻ ngày càng dày lên trên các kệ sách. Ở tuổi đôi mươi khi miền Nam đổi thay chế độ, Nguyễn Thị Minh Ngọc là Nguyễn Thị Ngọc Minh, Ngô Thị Kim Cúc là Vô Ưu mà truyện ngắn được chú ý trên báo định kỳ của Sài Gòn thời cũ, hơn ba thập kỷ qua đã cùng Lý Lan, Nguyễn Đông Thức… làm chứng cho những đổi thay trong bước chuyển xã hội nhiều khi làm quặn thắt lòng người.

Không có gì khó hiểu khi tác phẩm của thế hệ chuyển tiếp này mang dấu ấn bi kịch của xã hội. Truyện ngắncủa Nguyễn Thị Minh Ngọc, Lý Lan  mang không khí bước chuyển của thời đại, đồng thời với dấu hiệu của tuổi trẻ hoang mang và khủng hoảng. Nhân vật không những tra vấn về lý tưởng mà còn tự tra vấn về chính sự hiện hữu của mình. Sống, bây giờ, đối với họ là một cố gắng. Đi tìm căn cước của chính mình giữa một thế giới chuyển động ở ngoài ý muốn, nhân vật trong Cô con gái của Lý Lan đối mặt với sự giả dối, khi mà “nói dối trở thành một nghệ thuật sống”. Ý tưởng này còn bắt gặp trong ẩn dụ về Rượu của Nguyễn Đông Thức: nhà văn mượn chuyện lẫn lộn rượu thật, rượu giả để nói về chuyện thật giả ở đời vốn khó lường.

Ở những nhà văn trẻ hơn, hầu hết lớn lên sau ngày hoà bình, nhận thức về đời sống gắn liền với ý thức về số phận tuổi trẻ trong bối cảnh mới của xã hội. Trên một phối cảnh rộng, những truyện ngắn vềchủ đề “vào đời”của Phan Triều Hải, Tiến Đạt… phơi bày một đời sống đa diện. Trên một trắc diện hẹp, truyện ngắn Có con của Phan Thị Vàng Anh bộc lộ nỗi hoang mang trong tình cảm lẫn lộn mơ hồ của một cô gái với cái bào thai dường như đang tượng hình trong bụng: một mặt, nó như cái neo của tình yêu; mặt khác, nó đe doạ tự do sống và tự do chết của chính mình.

Trong kháng chiến, các nhà văn ít viết chuyện gia đình, nếu có thì cũng là nhân đó nói chuyện chiến đấu, chuyện xã hội. Khi hoà bình trở lại, những biến chuyển xã hội dội vào bên trong gia đình, cá nhân đối mặt với khủng hoảng và bi kịch ngay trong tổ ấm của mình. Những gì mà lịch sử tưởng rằng đã giải quyết trên bình diện xã hội, thì lại ngấm ngầm gây ra những vết thương ở đằng sau những cánh cửa. Chị em, một truyện ngắn cảm động của Nguyễn Thị Châu Giang, cho thấy thiện ý của con người nhắm đến sự hoà giải trong một gia đình sau chiến tranh.

Có thể thấy cái nhìn ưu tư và dằn vặt về đời sống trong nhiều truyện ngắn của Trần Nhã Thuỵ, Vũ Đình Giang, Nguyễn Vĩnh Nguyên, nhưng cách ứng xử để giải quyết thì mỗi người mỗi vẻ. Đối mặt với vấn đề thế sự qua những cảnh đời oan khổ trên đất nước hiện nay, truyện ngắn Đất của Nguyễn Danh Lam có dáng dấp một truyện vừa thu gọn, kế thừa truyền thống hiện thực của văn xuôi viết về người nông dân bị cách ly khỏi mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Nhưng nếu các tác phẩm trước đây của Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam gắn với nông thôn thời chiến qua số phận của những người nông dân chân lấm tay bùn, thì truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nói đến cuộc đổi dời gây chấn thương trong tâm hồn những người trẻ vừa rời ghế nhà trường. Không có những tìm tòi nghệ thuật, Đất của Nguyễn Danh Lam khiến người ta chú ý vì nó cho thấy những nhà văn trẻ vẫn không quay mặt với đám đông khốn khổ và vẫn muốn xem văn học như những lời cảnh báo.

Nhiều cây bút trẻ hiện nay chủ yếu sống ở miền Nam, nhưng họ không ngại viết về những con người của Hà Nội và nông thôn miền Bắc. Dễ hiểu thôi, đất nước bây giờ đã thống nhất, người vùng này đi lại, giao tiếp nhiều ở vùng kia, ngôn ngữ địa phương từng bước hoà trộn vào ngôn ngữ dân tộc. Những nhà văn trẻ bây giờ không còn sự dè dặt của những nhà văn đàn anh sống trên đất Bắc để chỉ viết về quê hương bản quán. Sự hội nhập về văn hoá sẽ dẫn đến sự hội nhập về ngôn ngữ và việc đi tìm ngôn ngữ Nam bộ thuần khiết chắc sẽ khó khăn, cũng như không còn cần thiết, trong một thành phố đa dạng về dân cư như Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố ở bến sông, gần cửa biển, đã chứng kiến những cuộc giao lưu và tiếp biến văn hoá. Văn học thành phố vẫn không thôi nuôi khát vọng mở cửa ra với thế giới. Qua tấm gương của truyện ngắn, bạn đọc có điều kiện cảm nhận được những nét chính trong sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật ở thành phố này.

Sức sống của truyện ngắn ở TP. Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất trong sinh hoạt báo chí. Như thông lệ, vào độ cuối năm, các toà soạn báo tập trung làm báo Tết. Mỗi tờ báo Tết đều phải chuẩn bị vài ba truyện ngắn của những tác giả được ưa thích. Có tác giả ăn khách một cái Tết đăng được ba, bốn truyện ngắn, nhận tiền nhuận bút gần bằng nửa năm lương công chức. Muốn vậy, người viết phải chuẩn bị từ mấy tháng trước, suy nghĩ đề tài nào phù hợp với mùa xuân, cốt truyện hấp dẫn nhưng đừng buồn quá. Viết xong rồi, nếu không phải chính toà soạn đặt bài, thì còn cân nhắc nên gửi cho báo nào để chắc chắn được sử dụng.

Khoảng 20 năm nay, từ khi hệ thống báo chí nước ta phát triển đa dạng, truyện ngắn là thể loại văn học được hưởng lợi nhất. Hàng tuần báo nào cũng giới thiệu truyện ngắn, có truyện ngắn với tư cách “đoản thiên tiểu thuyết”, truyện ngắn 1.200 chữ, truyện ngắn trong lòng bàn tay, truyện ngắn “vi hình”, truyện cực ngắn và tuyệt ngắn. Nhiều tập truyện ngắn là kết quả một thời gian tác giả “cày bừa” trên mặt báo, sau đó tập hợp lại thành sách. Cứ trung bình một truyện ngắn đăng báo được trả hai triệu đồng, viết 12 truyện sẽ được khoảng 24 triệu; nhưng nếu những truyện đó in thành sách, với tirage 1.000 bản thì nhuận bút cũng chỉ bằng một phần ba số đó.

Như vậy, hiện nay cả về sức phổ biến lẫn sự đãi ngộ, báo chí trở thành bà đỡ cho truyện ngắn. Mặt báo là nơi tập dượt và thi thố của các tài năng văn xuôi. Hầu như không một người viết truyện ngắn đích thực nào thành danh mà không đi vào thế giới văn chương qua cửa ngõ của báo chí. Tình hình này khác với báo chí miền Bắc trong chiến tranh, lúc truyện ngắn chỉ xuất hiện trên một số tờ báo định kỳ và hầu như vắng mặt trên nhật báo. Còn ở miền Nam thời ấy, nhật báo lại ưu tiên cho tiểu thuyết feuilleton, có tờ mỗi ngày đăng cùng lúc sáu tiểu thuyết; trong khi các tạp chí văn nghệ mới là đất dụng võ của truyện ngắn.

Thật thú vị khi chứng kiến hiện tượng không hề ngẫu nhiên này: trước đây ở Sài Gòn các nữ sĩ nổi tiếng đều viết tiểu thuyết. Đó là Bà Tùng Long, Tuý Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Lệ Hằng… Còn hiện nay thế mạnh của những cây bút nữ ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là truyện ngắn: Lý Lan, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Dạ Ngân, Bích Ngân, Hồng Duệ, Phan Thị Vàng Anh, Trầm Hương, Hiền Phương, Phạm Thị Ngọc Liên, Lưu Thị Lương, Nguyễn Thị Châu Giang, Phan Hồn Nhiên, Trầm Hương, Nguyễn Thu Phương, Kim Quyên, Thu Trân, Nguyễn Thuý Ái, Dương Thuỵ, Liêm Trinh… Nói như vậy không phải là phủ nhận những cuốn tiểu thuyết hay của các nhà văn nữ; nhưng rõ ràng là họ chiếm lĩnh thị trường chữ nghĩa chủ yếu ở lĩnh vực truyện ngắn. Thật sự chưa lúc nào trên địa bàn này có nhiều nhà văn nữ viết truyện ngắn như hiện nay.

Một cái lợi nữa của người viết truyện ngắn hiện nay là những thiên truyện thành công thường được in lại nhiều lần trong các tuyển tập. Dạo một vòng qua các hiệu sách, ta sẽ thấy một loạt sách Truyện ngắn hay, Truyện ngắn nữ, Truyện ngắn trẻ… Trên cái nền chung đó, chọn lựa một tập truyện ngắn của những tác giả thời danh để dịch sang tiếng Anh nhằm quảng bá cho văn học Việt Nam là việc khả thi.

Có thể nói truyện ngắn vẫn đang được những cây bút thuỷ chung bền bỉ khơi dậy sức sống tiềm tàng của nó. Đối với những nhà văn cao niên đã từng thao dượt và thu hoạch thành quả trên nhiều thể loại, nếu độc giả không còn trông đợi ở họ những bộ tiểu thuyết dài hơi, thì vẫn có hy vọng gặp lại cái duyên của ngòi bút họ qua những thiên truyện ngắn. Đọc những tập truyện của những phong cách đã định hình, bạn đọc phát hiện những ý tưởng thâm trầm ẩn chứa trong những cốt truyện và tính cách được sáng tạo từ những trải nghiệm lịch lãm. Còn với những nhà văn trẻ thì sức khai phá của thể truyện ngắn chứa đựng nhiều hứa hẹn chưa thể nào tiên đoán hết.

Tất nhiên, cũng như các thể loại khác, trong cái biển truyện ngắn hiện nay, bên cạnh những tác phẩm đặc sắc, những tác phẩm trung bình và tẻ nhạt nhiều không kể xiết. Điều này khiến cho một số người lo âu rằng sự phát triển về số lượng sẽ mâu thuẫn với chất lượng. Nhưng thử hỏi, ngay trong thời bao cấp, việc công bố tác phẩm hết sức khó khăn, bản thảo phải sắp hàng chờ đợi lâu, mà chất lượng cũng có phải tương xứng đâu! Thành ra, trong cuộc sống căng thẳng và bận rộn này, độc giả đừng sốt ruột thêm với văn chương, cứ thong thả mà đọc, trong năm bảy tập truyện gặp một cuốn hay, trong một cuốn gặp vài truyện hay, hẳn đó là niềm vui không dễ dãi mà cũng không uổng phí.

Nguồn: Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Nghĩ về đổi mới thơ từ trường hợp Hàn Mặc Tử – PBVH

19 Th10
 

Nghĩ về đổi mới thơ từ trường hợp Hàn Mặc Tử

Trần Thiện Khanh

1. Hàn Mạc Tử: một đỉnh núi lạ

Từ địa hạt thơ Đường bước sang lãnh địa thơ lãng mạn rồi thơ tượng trưng, Hàn Mạc Tử đã có đóng góp không nhỏ cho công cuộc cách tân thi ca Việt Nam. Thơ của Hàn Mạc Tử không chỉ mới ở thi tứ và ngôn từ, mà còn mới ở cách thức giải phóng yếu tố cá nhân trong những giấc mơ vô thức, ở sự thể hiện “vũ trụ tinh thần” bí ẩn hoàn toàn siêu nghiệm, siêu linh. Hàn Mạc Tử cùng với nhiều nhà thơ khác trong Trường thơ Loạn và nhóm Xuân Thu nhã tập đã đổi mới phương thức trữ tình bằng cách kéo gần thơ tới âm nhạc. Thi sĩ “dùng chiếc sáo của mình, chơi những điệu mình thích” (Mallarmé), biến nhạc thơ thành một thứ nhạc chiêu hồn, gợi lên những sắc thái tinh tế nhất của tâm trạng và những cảm niệm mơ hồ, kì lạ.

 

Vườn thơ của Hàn Mạc Tử “rộng rinh không bờ bến”.

Nhưng vườn thơ của Hàn Mạc Tử có phải được dựng lên một cách dễ dàng? Hoài Thanh kể: “Đương thời người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm, họ bảo: Hàn Mạc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm.” Còn Xuân Diệu, sau khi tuyên bố vẻ chắc chắn: “Hàn Mạc Tử không phải hạng “chân thi sĩ””, đã thẳng thắn đề nghị: “Người thơ ấy tốt hơn cứ tỉnh táo mà “yên lặng sống”.” Chưa ai công bằng khi đứng trước tài thơ, nguồn thơ lạ lùng của Hàn Mạc Tử. Chưa ai công nhận những câu thơ siêu linh- mới cho đến tận hôm nay.

Chỉ có Chế Lan Viên sớm nhìn ra tài thơ, con đường thơ của thi sĩ họ Hàn. Ông nói: “Mai kia, những cái tầm thường, mực thước sẽ mất đi, còn lại chút gì đáng kể của thời này, đó là Hàn Mạc Tử.” Lời tiên đoán ấy, ngoài Chế Lan Viên, không ai viết nổi. Phải can đảm lắm, Chế Lan Viên mới viết lời giới thiệu xác quyết mạnh mẽ nhường đó.

Thì ra công cuộc đổi mới thơ nào cũng đầy thử thách, đòi hỏi người nghệ sĩ phải dám dấn thân. Có niềm say mê, khát khao thôi, chưa đủ, mặc dù điều đó rất đáng quí. Tài năng ư? Dĩ nhiên cần, nhưng chưa xong. Đổi mới thơ sẽ trở thành câu chuyện phù phiếm, viễn tưởng nếu người nghệ sĩ thiếu đi phông văn hoá cần thiết, thiếu đi bản lĩnh giải phóng tư tưởng của mình và tư tưởng của con người nói chung ra khỏi những “điều cấm kị” vốn đang trở thành thiết chế khắc nghiệt nhất đối với kẻ cầm bút.

Tiền đề của đổi mới thơ, phải chăng bắt nguồn từ sự khám phá ra một thế giới văn hoá trong thế giới nhân sinh, thế giới của sự tự do dân chủ. Câu chuyện cách tân văn chương đến nay và mai sau vẫn luôn xoay quanh vấn đề tư tưởng, quan điểm của nghệ sĩ đối với thực tại, đối với sự sống.

Chẳng bao giờ có nhà nghệ sĩ lớn, nếu anh ta không được sáng tạo tự do – trong ý nghĩa nghiêm ngặt và đời thường nhất của nó. Thử hình dung thế này: một người “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” thì sản phẩm của anh ta cả khi còn trong trứng nước lẫn khi chào đời – khao khát được sống với đời sống riêng của nó, sẽ không thể vượt quá giới hạn thực tế cho phép. Chừng nào tư tưởng, ngôn ngữ còn bị gông xiềng trói buộc thì chừng đó còn có nhiều bi kịch. Một số độc giả thích “sự nổi loạn” quyết liệt của nghệ sĩ. Nhưng người thơ ít tạo ra “sự nổi loạn” đáp ứng mong mỏi của họ. Không hiểu sao tôi thích Trường thơ Loạn, thích “sự điên” của người làm thơ. Phải chăng vì trong sự điên ấy – theo cách nói của Hàn Mạc Tử – những bí mật của con người được phơi bày ra đầy đủ nhất, chân thành nhất. Phải chăng nhờ “sự điên cố ý” ấy, tôi và các bạn đọc khác được biết đến một thế giới khác – thế giới của vô thức, siêu linh, thế giới của linh hồn, ý niệm. Chứ không hẳn tôi tò mò, vì điều đó sẽ chóng qua đi. Cũng có thể hiện tượng “điên loạn cố ý” của người cầm bút đã tạo ra cảm giác lạ, nhận thức lạ trong khi những người giáo điều, bảo thủ không thể đem lại điều đó. Đến đây thì không hẳn tôi ủng hộ “người phá phách ngôn từ”, vì tôi biết sự vô lối thường yểu mệnh. Tôi chợt nghĩ, nhà thơ đôi khi phải “đồng bóng” một chút, ngôn từ phải ma mị một chút.

Đọc thơ Hàn Mạc Tử, Hoài Thanh cho rằng nhiều lúc thi sĩ lạc vào thế giới đồng bóng. Hàn Mạc Tử lạc tới một cõi thơ, một miền thơ ít được người đời biết đến. Hàn Mạc Tử thường nói tới khu vực bí ẩn chứa mọi sự tương giao. Ở đó không còn chỗ đứng cho nếp tư duy cũ kĩ, sáo mòn. Thi sĩ thành thực bày tỏ: “Thế giới kì dị” của tôi được “tạo ra khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút”. Chính ở “thế giới đồng bóng” ấy, sự tự do của người thơ mới được thể hiện trọn vẹn, đầy đủ nhất. Thi sĩ xuất hiện giữa làng thơ, sắm vai một người khách lạ, trụ vững trong làng Thơ mới với tầm vóc một đỉnh núi lạ.

Tôi nghĩ, ý thức đổi mới thơ biểu hiện rõ rệt ở khát khao phá bỏ những thành trì kiên cố đang ngự trị trong đời sống văn hoá tinh thần của tộc loại, từ đó mở ra những con đường mới mà ý thức phong bế, lệ thuộc không làm được. Con đường thơ ấy có thể dài rộng tuỳ theo điều kiện văn hoá chính trị cho phép, có thể ngắn ngủi đến không ngờ. Biết bao nhà thơ phải lao tâm khổ tứ cả khi sống, lẫn khi sáng tạo. Thậm chí phải trả giá đắt, vì muốn có được một chuyến đi xa trọn vẹn cho riêng mình. Theo đuổi một lối thơ đến kiệt cùng, đâu có dễ gì. Tạo ra một lối thơ mới, càng khó khăn hơn. Huống chi khi chập chững bước vào nghề, đã bắt đầu chịu ảnh hưởng một lối thơ nào đó rồi, mà muốn có thành tựu gì đáng kể, nếu không phải người có tầm vóc tư tưởng lớn lao thì đâu có thể vượt lên nổi. Những người “theo đóm ăn tàn” chắc chắn sẽ bị chính lối thơ có vẻ tân kì kia nhấn chìm, đè bẹp. Trường hợp của Hàn Mạc Tử thì sao? Cứ theo hành trạng thơ thì thấy: thi nhân đã phải rẽ ngang ở đoạn đường nào đó. Văn chương cũng cần lắm, sức mạnh khai sơn phá thạch của người thơ. Tôi nghĩ mọi cuộc cách mạng, trong đó có thơ ca, để nảy sinh, phải hội đủ những điều kiện nào đó. Ví dụ, ở phương diện chủ quan, phải tính tới ý thức cá nhân cá tính, ý thức về sự tự do, dân chủ trong sáng tạo. Ở phương diện khách quan, nên quan tâm tới bối cảnh văn hoá chính trị đã chi phối tới sự viết, sự sống của kẻ cầm bút. Nghĩ thế, có phần xa rời thực tế. Vì hầu hết những thử nghiệm, cách tân thơ ca ở ta đều bắt nguồn từ sự tiếp biến tư tưởng văn hoá phương Tây,  ít có cuộc cách tân nào thuần nội tại. Người thơ luôn luôn đến muộn, muộn so với người mấy chục năm, chừng hàng trăm năm.

Công bằng, không phải nhà thơ Việt “chậm chạp” đổi mới, mà thực ra những điều kiện văn hoá xã hội nào đó chưa chín muồi, chưa có những điều kiện cần thiết để ý thức đổi mới văn học đơm hoa kết trái. Một số “cánh chim đầu đàn” chưa mạnh dạn theo đuổi đường bay mới. Số ít táo bạo hơn trong cách nghĩ, cách làm thì gặp không ít trở ngại, thậm chí “bị thương”. Kẻ hậu sinh cầm cây bút lên, thấy vết thương cũ của người năm ấy chưa lành, vết thương mới lại xuất hiện, thì cũng dè dặt lắm.

Thơ Việt Nam giai đoạn 1930-1945 chứng kiến: nhiều thi nhân tìm đến Baudelaire, Mallarmé, Verlaine chẳng khác gì tìm kiếm một lối thoát cho những bế tắc về tư tưởng, về nghệ thuật biểu hiện, lối viết. Số còn lại đón nhận nồng nhiệt Baudelaire để tiếp sức cho công cuộc cách tân thơ bền bỉ. Thế Lữ, người đầu tiên tuyên bố cuộc sống thoát li cũng tìm đến Baudelaire hòng giữ địa vị bá chủ của mình trong Thơ mới. Xuân Diệu, Huy Cận đều tiếp nhận dè dặt tinh thần sáng tạo của Baudelaire – “ông tổ tượng trưng” và Verlaine, một đại biểu xuất sắc của trào lưu đó. Chịu ảnh hưởng đậm nét của Baudelaire, Edgar Poe, Mallarmé, Valéry phải kể đến: Hàn Mạc Tử và Chế Lan Viên. Xem ra, cách tân thơ liên quan mật thiết với “con người tư tưởng”. Hàn Mạc Tử đến với thơ tượng trưng từ bao giờ? Năm 1936, tập Gái quê ra đời. Thi sĩ họ Hàn trút bỏ phong vận Đường thi từ đấy (Lệ Thanh thi tập). Cùng năm đó, Trường thơ Loạn được thành lập, Hàn Mạc Tử giữ vai trò chủ soái. Tập thơ Gái quê với tính cách tượng trưng của nó đã đóng vai trò như một bước đệm trong hành trình sáng tạo của Hàn Mạc Tử. Như vậy, có một bài học sáng tạo ở đây: nhà thơ cần làm mới con người tư tưởng ở mình, trước khi muốn làm mới văn chương. Để làm mới được, dĩ nhiên không thể thiếu bản lĩnh.

Cách tân thơ càng trở nên có ý nghĩa và tạo thành “vệt đậm”, thành “trường phái” khi có một nhóm người cầm bút cùng nhau theo đuổi một lối viết. Số phận của công cuộc cách tân thơ một phần phụ thuộc vào “cánh chim đầu đàn”, phần nữa do các thành viên cùng chí hướng quyết định.

Ta thấy, mọi ý đồ cách tân thơ đều không mấy dễ dàng thành công. Ban đầu, “người thơ” thường chịu sự ghẻ lạnh, hắt hủi, mạt sát của người đời, vì cái mới-cái lạ kia phá vỡ trạng thái lặng lẽ sống, lặng lẽ viết của họ, phá vỡ những gì họ đang bám víu. Sau nữa, giả định khuynh hướng sáng tác mới chứng minh được “lí do tồn tại tất yếu của mình”, nó sẽ có chỗ đứng đáng kể trong sân thơ chật hẹp nhường ấy. Hiển nhiên, nếu thiếu ý thức tranh đấu quyết liệt cho sự tồn tại của khuynh hướng thơ tích cực thì ý đồ cách tân thơ nào đó sẽ nhanh chóng thất bại. Hơn nữa, theo tôi, chính nội lực sáng tạo dồi dào, tài hoa của người viết sẽ quyết định đường hướng thơ, số phận thơ của họ. Lấy trường hợp Hàn Mạc Tử làm ví dụ. Tập thơ Đau thương, một tập thơ đậm tính cách tượng trưng nhất của Hàn Mạc Tử, được soạn từ năm 1937 và chỉ một năm sau thì hoàn thành. Song sinh với Đau thương, có Điêu tàn của Chế Lan Viên (1937). Tinh huyết của Bích Khê ra đời muộn hơn (1939). Tập thơ Tinh huyết lại do chính Hàn đề tựa, sau khi ông đã giới thiệu Chế Lan Viên trên báo Tràng An (1936), và Xác thu của Hoàng Diệp (1937). Tại thời điểm Tinh huyết chào đời, Hàn Mạc Tử đã đi qua lối thơ tượng trưng và bắt đầu đặt chân lên mảnh đất siêu thực. Thi tài của Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Bích Khê… được thừa nhận. Và chúng ta không thể nhắc đến công sức của người này mà bỏ đóng góp quan trọng của người kia.

2. Hàn Mạc Tử với nhiều ngã rẽ

Phan Sào Nam tiên sinh từng hết lời ca ngợi thơ Đường luật của Hàn Mạc Tử. Tưởng Hàn Mạc Tử cứ phong vận đó đến với chúng ta. Ai ngờ thi sĩ họ Hàn kia đã sớm cởi bỏ y phục cũ kỹ, mặc “Âu phục” để bước vào làng Thơ mới. Từ năm 1936, Hàn Mạc Tử sánh vai với Gái quê đi về cõi hư linh, bay lên với trăng sao, với hồn, nhạc… Thế giới thơ Hàn Mạc Tử thánh thiện và huyền diệu. Ở đó, hư thực không thể phân biệt rõ ràng. Hàn Mạc Tử trở thành một “điềm lạ”, một hiện tượng thơ phức tạp và còn nhiều bí ẩn.

Đọc Hàn Mạc Tử lâu nay, xem trọng tinh thần lãng mạn, ít chú ý tới yếu tố tượng trưng và yếu tố siêu thực – cái làm nên bản sắc thơ của một tài năng kì lạ và “đau thương tột cùng” này. Trong bài “Đôi nét về Hàn Mạc Tử”, Quách Tấn, bạn tâm giao với thi sĩ sớm nhận thấy: “Ngay từ tập Thơ điên, Hàn Mạc Tử đã “đi từ lãng mạn đến tượng trưng”. Từ Xuân Như ý đến Thượng thanh khí, thơ Tử lần lần từ địa hạt tượng trưng đến địa hạt siêu thực”. [1] Thật hiếm có trường hợp nào, chỉ trong vài năm, đã làm ba cuộc cách mạng thơ ca như Hàn Mạc Tử.

Hàn Mạc Tử không biến mình thành “cây đàn độc điệu”, không chịu buông neo một chỗ. Ông tìm mọi cách tự vượt mình trong nhiều lối thơ tân kì. Thơ Hàn Mạc Tử không vẽ vời hình thức thơ ca, mà đổi mới từ trong cốt tuỷ. Không ai giống Hàn Mạc Tử trong bản hoà âm độc đáo ấy. Tôi xem thơ Hàn Mạc Tử hiện đại nhất, dị thường nhất. Vương Trí Nhàn nói: “Trước mắt chúng ta có một giọng thơ độc đáo không chia sẻ âm hưởng với ai hết”.[2] Thơ Hàn Mạc Tử đại diện cho một khuynh hướng thơ độc đáo, với nhiều tìm tòi táo bạo. Có thể tìm thấy điệu thơ của Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Thế Lữ,Đinh Hùng… trong hồn thơ Hàn Mạc Tử. Nhưng để tìm thấy một bản sao nguyên cảo “lối thơ điên” nữa, thì thật khó thay!

3. Hàn Mạc Tử tiếp nhận để cách tân thơ

Không phải ngẫu nhiên, khi Thơ mới nở rộ, đạt nhiều thành tựu cao, thì trường phái thơ tượng trưng được chào đón nồng nhiệt hơn cả. Baudelaire trở thành “đường viền” của sáng tác thơ ca. Ngôi sao Thế Lữ bị lu mờ, bởi “nguồn thơ Thế Lữ đã cạn không đi kịp thời đại” (Hoài Thanh). Thế Lữ đến với Baudelaire khá muộn. “Nguyễn Bính chỉ còn thiếu một hiểu biết Tây học nên không thành nổi nhà thơ đầu đàn.” [3] Như vậy, có trường hợp tiếp nhận để cách tân thơ.

Hàn Mạc Tử tiếp nhận những gì? Thơ Mallarmé gắn bó với âm nhạc. Thơ Hàn Mạc Tử cũng có bản hoà âm huyền ảo của: “ánh sáng (…) tiếng suối (…)”. Thi pháp của Apollinaire gắn bó với hội hoạ. Thi sĩ họ Hàn thường lấy chất liệu màu sắc để tạo nên thế giới thơ. Chủ nghĩa tượng trưng cho rằng: sáng tạo thơ ca tương đồng với sự sinh sôi của tạo hoá. Thi sĩ Hàn Mạc Tử cũng muốn nắm được cái huyền diệu của thơ, của tạo vật. Nhà thơ hăm hở “đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời” (Quan niệm thơ), và coi nghệ thuật là “tác phẩm của trời đất” (Nghệ thuật là gì?).

Theo tôi, đỉnh cao thơ Hàn Mạc Tử, đóng góp lớn nhất của thi sĩ là ở mảng thơ tượng trưng và chớm siêu thực, tạo nên vũ trụ thơ Hàn Mạc Tử đặc sắc nhất, vẻ vang nhất, “kì dị” nhất bắt đầu từ Đau thương. Ngay từ Đau thương, kiến trúc ngôn từ đã đồng nhất với cảnh chiêm bao vô thức. Thi sĩ “siêu hoá những ước mơ không được thoả mãn”:

Ai đi lẳng lặng trên làn nước

Với lại ai ngồi khít cạnh tôi

Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng

Không nói không rằng nín cả hơi?

(“Cô liêu”)

Ta là ta hay không phải là ta?…

Hồn vội thoát ra khỏi bờ trí tuệ

(“Siêu thoát”)

Tôi còn ở đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu

Dù trong thời kì đầu và chặng cuối con đường, thơ của Hàn Mạc Tử trong sáng, nhưng về cơ bản, Hàn Mạc Tử không có vóc dáng lí tưởng của một thi sĩ lãng mạn thuần nhất. Tôi nhấn mạnh: Từ tập Gái quê trở về trước, Hàn Mạc Tử sáng tạo ra “thơ hội hoạ”. Sau nó nghiêng hẳn về “thơ âm nhạc”, “thơ điên”. Tập Thơ điên minh chứng cho con đường đi riêng của thi sĩ về nhịp, nhạc, về khả năng biểu hiện bản giao hưởng của tâm hồn. Chính Hàn Mạc Tử, trước khi vào nhà thương Quy Hoà, đã từng dặn Quách Tấn: “Nếu Chúa ban phước cho tôi lành mạnh, tôi sẽ đốt tập Thơ điên… Không nên để cho người đời thấy những bí ẩn của lòng mình.” Tôi thấy quan niệm thơ khá thú vị của Hàn Mạc Tử trong câu nói có vấn đề này: Sáng tạo thơ đồng nghĩa với khám phá và biểu hiện con người thứ hai trong mình. Con người trong thơ thuộc về thế giới ẩn ức, tiềm thức đầy bí ẩn, nó là kẻ luôn giấu mặt. Con người trong thơ như được tự do sống với bản lai diện mục của mình. Trong khi sáng tạo, nhà thơ sống với cảnh giới mà mình chưa hề biết, với trạng thái mà mình chưa trải qua, với thời gian, không gian phi hiện thực. Tất cả đều bí ẩn đối với người viết và đối với người đọc.

Hàn Mạc Tử yêu cầu thơ ca phải phát ra tiếng kêu than rền rĩ:

Tôi muốn hồn trào ra đầu ngọn bút

Mỗi lời thơ đều dính não cân ta

Bao nét chữ quay cuồng trong máu vọt

Cho mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại hồn thơ ta đang xiết

Cả lòng ai trong mớ chữ rung rinh…

(Rướm máu)

Nếu xem điên là một trạng thái sáng tạo mãnh liệt, giây phút sáng láng của hồn thơ, thì thực chất bài thơ “Rướm máu” khẳng định: Thơ ra đời từ một trạng thái “quay cuồng”, “ngất ngư” không gì kiềm chế nổi. Thơ khởi phát từ trạng thái xuất thần, từ “đáy tâm linh”. Ngôn ngữ tâm linh, ngôn ngữ nội tâm trong cảnh giới sáng tạo của thi sĩ hoá thân tự nhiên thành ngôn ngữ thơ. Chính cảnh ngộ đau thương hiện thực và tâm thức cái chết đương liền kề đã đem lại “cái rung động sung sướng” cho thi sĩ (Nghệ thuật là gì?). Trạng thái “điên” trong thơ Hàn Mạc Tử gần với khoảnh khắc “quên” kì diệu của thơ Thiền. Người làm thơ “không có thì giờ nghĩ về mình”, anh ta như bị thôi miên, lạc vào cõi huyền diệu, khám phá ra “cái siêu tôi”. Hàn Mạc Tử khẳng định: “Tôi làm thơ… nghĩa là tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật… tôi mất trí, phát điên” (Tựa Thơ điên). Thi sĩ họ Hàn coi trọng tiềm thức, vô thức, chủ trương một lối viết tự động. Thi sĩ “để mặc cho giai âm rên rỉ”, khẩn khoản với mọi người: “Đừng nắm lại hồn thơ ta đang xiết…” rồi dứt khoát khẳng định “không ai ngăn cản được tiếng lòng tôi”. Theo tôi, lối viết tự động ở Hàn Mạc Tử khá gần gũi với lối viết tự do đã được André Breton đề xướng từ năm 1929 trong “Tuyên ngôn thứ nhất” và bản “Tuyên ngôn thứ hai của chủ nghĩa siêu thực”[4] . Thêm một bài học ở đây: cái tôi được kiến tạo bởi một cơ chế tâm lý – sáng tạo riêng có ở mỗi chủ thể phát ngôn, nó ra đời cùng lúc với văn bản, lời nói, chứ không phải là sản phẩm có sẵn, có trước, ở phía bên kia văn bản.

4. Cách tân từ quan niệm mới về thể loại

Bằng chứng đáng tin cậy nhất của sự sáng tạo đổi mới chính là diện mạo của tác phẩm trong đời sống văn học. Muốn cách tân thơ, nhà thơ cần hình thành cho mình một quan niệm thơ mới mẻ trước đã. Quan niệm về thể loại chẳng mới mẻ gì, thì chẳng bao giờ tác giả tạo được cho thơ ca một khuôn mặt mới.

Với Hàn Mạc Tử, khi sáng tạo, một mặt nhà thơ khai thác những dữ kiện trực tiếp của ý thức cá nhân, mặt khác thi nhân sẽ “quên cả thói quen phân tích của tư duy lô gíc… để cho trực giác của tâm linh trỗi dậy”. Thơ “đưa chúng ta vào một trạng thái tâm lí bất ổn” (Béc-xông). Nhà thơ cố gắng nắm bắt những cảm xúc tột cùng của con người, “những cái trừu tượng đang vận động”. Thơ chợt về với nghệ sĩ ở những giây phút máu cuồng và hồn điên, sự kiện viết thơ ở thi sĩ không thể có sự kiểm duyệt tỉnh táo, nghiêm ngặt của ý thức và những thiết chế văn hóa xã hội hiện hành : “Thơ trong trắng – như một khối băng tâm” (Ave Maria). Quyền lực của thơ là quyền lực liên tưởng tự do không cố ý, là sự tự do khai triển những mơ mộng, tưởng tượng. Văn bản thơ không phải là đích cuối cùng của người viết thơ, thực tế nó vừa là vật chứng chỉ dấu những bí mật tâm lý, vừa là một kẻ trung gian giữa người viết hiện thực và vùng vô thức, tiềm thức của anh ta; thơ là kẻ lạ, khó hiểu, bí mật đối với  tất cả chúng ta.

Hàn Mạc Tử không giấu những đau thương, thi sĩ cứ muốn ở mãi trong đau thương: Thơ tôi thường huyền diệu (Cao hứng), lời thảm thương rền khắp nẻo mơ (Trút linh hồn). Hàn Mạc Tử nhận thấy “nhà nghệ sĩ bao giờ cũng điên”, sự sáng tạo của anh ta luôn luôn bị đặt trong tâm thế tự thuật về những ám ảnh, những cảnh mộng, trong trạng thái tự chất vấn “tôi vẫn ở đây hay ở đâu?”. Muốn phát điên, anh ta phải “sống mãnh liệt và đầy đủ”, muốn bay tới địa hạt huyền diệu, anh ta phải “mộng”, phải có trí tưởng tượng dồi dào, đặc biệt phải sành âm nhạc và màu sắc. Nhà thơ muốn đến bến bờ tượng trưng cần “có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao…”

Thơ Hàn Mạc Tử rất dồi dào trong việc tạo sinh các hình ảnh, thứ hình ảnh thường là phi thực, ít rõ ràng, đập mạnh vào giác quan của chúng ta: đúng hơn, đó là những ảo ảnh. Thế giới thơ Hàn được đầy lên bởi những suy nghĩ vô thức, những giấc mơ sáng tạo dai dẳng, cuồng nhiệt. Theo nhiều nhà phân tâm học, vô thức, tiềm thức luôn chuyển hóa thành những dạng hình ảnh có vẻ thực, chúng xuất hiện dưới dạng những lớp hình ảnh, chuỗi hình ảnh (hình ảnh này tiếp nối, xếp chồng, gợi đến hình ảnh kia, đổi thay thành hình ảnh khác), chúng cũng bị biến thành các vật, các ngôn ngữ với một cấu trúc đặc biệt. Thơ Hàn, theo tinh thần như thế, luôn trượt từ cái biểu đạt này sáng cái biểu đạt khác, nghiêng hẳn về hoạt động tượng trưng hóa, kí hiệu hóa.

5. Vũ trụ thơ của Hàn Mạc Tử: kì dị và lạ thường

Kết quả của sự cách tân thơ, sau cùng phải đem lại cho người đọc một thế giới nghệ thuật mới, một hình thức mới của cái nhìn nghệ thuật. Không có thế giới nghệ thuật mới lạ thì coi như chưa đổi mới thơ. Vậy, Hàn Mạc Tử đã sáng tạo ra thế giới nghệ thuật nào?

Trong bài viết “Nghệ thuật là gì?” năm 1935, Hàn Mạc Tử nhấn mạnh: nhà thơ cần có “năng lực mạnh mẽ về tinh thần, thứ năng lực ấy nó làm cho con người thêm hứng khởi đi tìm cái sự lạ”. Hàn Mạc Tử “đi tìm cái sự lạ” “ở chốn xa xăm, thiêng liêng và huyền bí”. Nhà thơ “nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”, thơ Hàn có một nguồn “sáng lạ”, lời thơ và tâm thế của người thơ rất kì dị.

Đọc thơ Hàn Mạc Tử, nhà phê bình Hoài Thanh có cảm nhận mình như lạc vào “cái thế giới kì dị”, “đi trong mờ mờ”, thấy nguồn thơ của thi sĩ nảy nở thật lạ lùng. “Xuân như ý” có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng”; cảnh vật trong “Máu cuồng và hồn điên” “…không thấy có tí gì giống với cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử (…) trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn.”

Trong cái nhìn nghệ thuật của Hàn Mạc Tử, cái sự lạ kia biểu hiện như một cảnh thực, thứ hiện thực ảo. Cái sự lạ trong vũ trụ thơ ấy xuất hiện cùng với tâm trạng ngạc nhiên, ngỡ ngàng của chủ thể trữ tình.

Tiếng động sau vùng lau cỏ mọc [5]

Tiếng ca chen lấn từ trong ra…

Áo quần vo xắn lên đầu gối

Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình…

Nụ cười dưới ấy và trên ấy

Không hẹn, đồng nhau nở lẳng lơ…

(Nụ cười)

Gió rủ nhau đi trốn cả rồi

Nhỏ to, câu chuyện, ô kìa coi

Trong lau như có điều chi lạ

Hai bóng lung lay thấy cọ mài…

(Khóm vi lau)

Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ

Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu

Lời nguyện, gẫm xanh như màu huyền diệu

Não nề lòng viễn khách giữa cơn mơ

Nhà thơ đi tìm cái lạ chưa đủ, anh ta cần phải chiếm lĩnh cho được cái kì dị. Hai thứ đó đan xen với nhau tạo ra hứng thơ mạnh mẽ và vô tận.

Lời thơ ngậm cứng, không rên rỉ

Và máu tim anh vọt láng lai

Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt

Tiếng vang tha thiết dội muôn nơi…

Tiếng thông vi vút như van lơn…

Mây buồn vơ vẩn bay đầu non…

Ngây tình, bóng liễu câm không nói

Trong khóm vi lau có tiếng than

(Trên bờ)

Tất cả đường thơ mà thi sĩ họ Hàn đi qua, ngay cả “Đường thi” cũng đã trổ ra những ánh khác lạ [6] . Mỹ học thơ Hàn có thể gói gọn trong hai phạm trù thẩm mỹ: kì dị và lạ thường. Thơ Hàn Mạc Tử không bình dị và không đài các. Lối thơ thứ nhất, có tính cách phổ thông, chưa biết đến cái lạ. Lối viết thứ hai thuộc cái thông bệnh của thi sĩ Hán học, nên không thể trở thành cái kì dị được. Thơ Hàn Mạc Tử: kì dị và khác lạ. Kì dị và khác lạ trước hết ở thi ảnh, thi cảm.

Nhà thơ Baudelaire từng hết lời ca ngợi những người tự do, biết: “bay vào những trường sáng sủa và thanh sạch…” (Lên cao), tôn vinh “người hiểu được ngôn ngữ của những sự vật câm lặng”. [7] Theo Baudelaire, nguyên tắc mĩ học của thơ ca thuộc về nghệ thuật biểu tượng. Ông nhấn mạnh chính “trí tưởng tượng đã dạy cho con người cái ý nghĩa tinh thần của màu sắc, của đường nét, của âm thanh, của mùi hương, từ khởi thuỷ nó đã… tạo ra phép ẩn dụ”. [8] Đọc thơ Hàn Mạc Tử, ta thấy lời thơ cũng đầy ánh sáng. Thi cảm,thi ảnh được “nuôi mãi trong nguồn ánh sáng thiêng liêng”. Thi nhân “say sưa đi trong mơ ước”, “đi đến cõi ước mơ hoàn toàn”, “ọc ra từng búng thơ sáng láng”. Thế giới thơ Hàn Mạc Tử có vẻ đẹp của một giấc mộng.

Verlaine chủ trương giấc mơ hơn thực tại. Hàn Mạc Tử cũng nói nhiều đến giấc mơ, cảnh chiêm bao, tới thế giới không nhìn thấy. Theo Hàn Mạc Tử, ý thơ nảy sinh từ trời mộng, thơ diễn tả “những tiếng ca của tình cảm, của tưởng tượng, của mơ màng” (Không nên có luật thơ mới, Chiêm bao với sự thật), thi sĩ bị ánh sáng của chiêm bao vây riết. Theo tôi, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” khá tiêu biểu cho khuynh hướng tìm tòi sáng tạo này. Vì rằng, để có được “Đây thôn Vĩ Dạ”, Hàn Mạc Tử đã phải đối thoại âm thầm với tấm bưu ảnh, đối thoại với đối tượng lặng câm, với tình yêu đơn phương vô vọng. Hình thức đối thoại ảo đã truyền tả được khát vọng được yêu, được sống mãnh liệt của nhà thơ. Nhà thơ phá vỡ thế độc thoại bên trong để tạo vẻ đối thoại ảo. Đường nét huyền ảo xa vời của thôn Vĩ hiện về trong tâm thức đau thương của một hồn thơ cô đơn cảm thấy mình đang rời bỏ trần gian từng ngày. Thi sĩ tưởng tượng ra một cố nhân đang mong chờ mình, mời mình về thôn Vĩ. Thi sĩ mơ tiếng gọi thiết tha trìu mến của người thương, ao ước nghe thấy lời chào mời giục giã của cô gái ấy. Thế giới “Đây thôn Vĩ Dạ” tràn đầy ánh sáng, thực ảo chập chờn chuyển hoá lẫn nhau. Con thuyền thơ cứ chảy trôi trong thế giới mộng ảo, trong cõi mơ.

Nếu thơ Xuân Diệu đề cập nhiều đến sắc và hương thì thơ Hàn Mạc Tử nói nhiều về âm thanh và ánh sáng. Chỗ mạnh của Hàn Mạc Tử là cảm nhận được ánh sáng và âm điệu của sự vật. Hàn Mạc Tử quan niệm: đời sống bí mật riêng tư của sự vật nằm ở ánh sáng và âm điệu của nó.

Hàn Mạc Tử lạc vào thế giới của cái kì dị và lạ thường, thế giới của âm thanh và ánh sáng lạ. Thế giới ấy có cấu trúc riêng, ý nghĩa riêng, quy luật vận động riêng. Chẳng phải vô cớ Hàn Mạc Tử luôn chú ý tới nắng. Nắng trong thơ thi sĩ họ Hàn trở thành tín hiệu báo mùa:

Trong làn nắng ửng: khói mơ tan

(Mùa xuân chín)

Nắng ửng có vẻ riêng trong cái nhìn xuân tình của tác giả. Nắng ửng không chỉ báo hiệu “bóng xuân sang” mà còn đánh dấu khoảnh khắc: mùa xuân bắt đầu chín. Nắng ửng gắn liền với tâm trạng rạo rực xôn xao ở hồn người. Bài thơ “Mùa xuân chín” đọng lại cái nắng hắt ra từ cõi nhớ. Nắng trong hoài niệm, thứ nắng hoài vọng chín theo sự chín của mùa xuân, tình xuân. Nắng chín dĩ nhiên đẹp, nhưng phảng phất buồn. Đẹp bởi cảnh xuân, tình xuân nồng nàn. Buồn bởi “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi”. Trong tác phẩm “Ngủ với trăng”, nhân vật trữ tình “khao khát trăng gió” và “đi bắt nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy”. Nắng chang chang đốt lòng người thực ra là hình ảnh phái sinh của kiểu nắng cháy. Nhưng nếu nắng chang chang loang ra dọc bờ sông trắng, thì nắng ngừng, nắng reo, nắng cháy ở đây lại xuất hiện trong một không gian khá đặc biệt: “trên sóng cành, sóng áo cô gì má đỏ hây hây”. Ngừng, reo, cháy ứng với ba cung bậc tình cảm khác nhau của con người: lặng im, xao xuyến  cuồng si. Ba trạng thái tình cảm ấy đồng nhất với ba cảm xúc sáng tạo. Hoá ra, nắng biểu hiện thi hứng, thi cảm của nhà thơ.

Nắng trong thơ Hàn Mạc Tử có “tuổi” và có tình. Người ta thường nói: trăng sáng, sao sáng, còn Hàn Mạc Tử lại cảm thấy nắng sao. Nắng reo đã lạ, nắng sao, nắng trong đêm thì lại càng kỳ. Có lẽ thứ nắng ấy chỉ xuất hiện trong thế giới thi ca của Hàn Mạc Tử với một tâm thế trữ tình đặc biệt “buồn trong mộng” (Buồn ở đây). Nắng trong thơ Hàn thường phảng phất duyên tình: “nắng vàng con mắt thấy duyên đâu”. Nắng gắn với duyên phận, nỗi niềm cô đơn: “không duyên hồ dễ mong theo nắng” (Duyên kỳ ngộ). Nắng, thứ ánh sáng đặc biệt trong thơ Hàn, biến ảo theo cường độ nỗi đau, nỗi nhớ. Biên độ nắng không có giới hạn, rộng mở theo không gian xa cách, theo “thế giới ảo huyền”. Nắng ửng làm “khói mơ tan”, nắng dọi làm “bài thơ cháy”. Ngay cả nắng mai cũng “dìu dịu mối sầu vương” (Duyên kỳ ngộ).

Nắng là một loại ánh sáng đặc biệt, “ánh sáng của chiêm bao, huyền diệu” (Chơi giữa mùa trăng). Nắng trở thành tín hiệu thẩm mỹ, báo hiệu mùa thơ đang chín (Kêu gọi). Nắng kích thích trí tưởng tượng của nhà thơ bay vào cõi mơ:

Nắng càng cao lòng ta càng hừng hực

Thơ lên rồi bay quá giải nhàn vân…

(“Duyên kỳ ngộ”)

Ôi chao thơ ngầm bay theo dải nắng

Lộng vào xiêm áo mỏng manh sao…

Sự vận động của Nắng tạo ra thi giới của “cái tột cùng”. Nắng vừa hoá giải đau thương vừa ràng rịt nỗi đau. Nắng được nhìn qua lăng kính của hồn và xác.

Nắng ơi, nắng có lên cao

Làm sao da thịt hồng hào thế kia

(Duyên kỳ ngộ)

Nói đến hồn, đến thơ không thể không nhắc tới nắng. Nắng hoà quyện với hồn, với thơ. Nắng và hồn ở trong thơ – cái vũ trụ do Hàn Mạc Tử sáng tạo ra.

Hàn Mạc Tử ít nói đến nắng thu, nắng hè… thi sĩ có ấn tượng nhiều hơn với nắng xuân. Nắng xuân ám ảnh, quấn riết lấy thi sĩ. Xuân trong thi giới của Hàn Mạc Tử cũng khá lạ: “xuân mộng”, “xuân gấm” (Xuân đầu tiên) “xuân thơm” (Nhớ thương), “xuân lịch sự”. Hình tượng Xuân chẳng qua do con người hoá thân mà thành, nhưng không phải con người trần tục, trần thế mà một người “ngọc”, người của cõi mộng, cao quí thanh sạch (“Cô gái đồng trinh”). Tuổi xuân là Ngọc như ý, tên xuân là Dạ lan hương. Xuân gắn với mơ ước, xuân tắm nắng tươi (Tiếng vang), nắng mới.

Ánh sáng trong thơ thi sĩ họ Hàn có hình khối, hương sắc, nó chiếm vị trí quan trọng trong thơ, gần như trở thành một đơn vị đo đếm thế giới. Bên cạnh ánh sáng của nắng, Hàn Mạc Tử còn ưa tả ánh sáng của trăng. Hàn Mạc Tử thường tả ánh sáng trong trẻo của trăng rằm. “Trăng (…) tượng trưng cho một mùa ao ước (…) và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chê chán.” (Chơi giữa mùa trăng). Trong trăng có hương thơm, có nhạc, có hơi thở và có tình. “Tình thoát ra ở điệu nhạc mênh mang trong bờ bến của chiêm bao.” Trong chiêm bao, trong vùng mộng phi thời gian, đến gió cũng “phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa.” Thế giới ánh sáng thu hẹp ở hình tượng “trăng”. Thế giới trăng, thế giới của những ao ước, nhớ thương hợp thành một thể thống nhất: thế giới nghệ thuật, thế giới của những ký hiệu, biểu tượng.

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi…

Trăng nằm, thơ mộng, chông chênh và hư huyền quá. Mà lại nằm sóng soải thì thật táo bạo, gợi tình. Cảm xúc thơ bừng lên, rạo rực men say ái tình. Cái khao khát “cuồng điên” của trăng biểu hiện trong tư thế, cả trong cái ý nghĩ trần thế: để lả lơi. Thơ Hàn Mạc Tử bộc lộ nhiều ẩn ức và ham muốn.

Con người trong thơ Hàn Mạc Tử được bao bọc “bằng ánh sáng, bằng huyền diệu”, “say sưa và ngây ngất vì ánh sáng”, bầu trời càng sáng con người càng “hứng trí”. Thậm chí đi trong ánh sáng “đê mê, không biết là có mình và nhận mình là ai nữa.” Ánh sáng tạo ra ở chủ thể sáng tạo cảm giác siêu thoát hay hư vô. Ánh sáng với vẻ trắng trong, đồng trinh, thanh thoát của nó – trong cảm quan của Hàn Mạc Tử – là hiện thân của Đấng tối linh, của Đức Mẹ. Ánh sáng được ví với thứ ma lực vô song, “xô thi sĩ đến bờ huyền diệu”. “Mùa trăng bát ngát… lòng tôi rực lên cảm hứng”, “từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết…” (Chiêm bao với sự thực). Ánh sáng vừa vĩnh viễn vừa không vĩnh viễn. Có ánh sáng thực, ánh sáng mộng. Có thứ ánh sáng “tan thành bọt”, có loại ánh sáng muôn năm mà thi sĩ khao khát chiếm giữ được. Ánh sáng “giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt…”

Trong cảm quan Hàn Mạc Tử, ánh sáng của các vì tinh tú giống như “châu ngọc”, “hào quang”, ánh sáng của sao, trăng hợp lại thành một “vùng trời mộng”, “khí hạo nhiên”. Có biết bao nhiêu thứ ánh sáng, nhưng nổi bật là ánh trăng. Chỗ nào cũng trăng, “tưởng chừng như bầu thế giới… cũng đang ngập lụt trong trăng, đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác”, “cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiếu diễu…” Trên con đường sáng láng ấy, Hàn Mạc Tử đi “tìm Chân lý ngàn năm” (Chiêm bao với sự thực).

Bên cạnh hình ảnh ánh sáng, thơ Hàn Mạc Tử cũng tràn đầy âm thanh. Đó là “tiếng thất thanh rùng rợn”, là “giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng”. Thơ Hàn Mạc Tử là tiếng nói chấn thương. Chính những chấn thương, những cú sốc trong cuộc sống, tình yêu đã đưa Hàn Mặc Tử đến với một trường thơ độc đáo. Thi sĩ bộc bạch: Nàng đánh tôi đau quá / Tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Hơn một lần thi sĩ nghe thấy âm thanh kì dị ở chốn âm u:

Một khối tình nức nở giữa âm u

Một hồn đau rã lần theo hương khói

Một bài thơ cháy tan trong nắng rọi

Một lời run hoi hóp giữa không trung

(Trường tương tư) 

“Trường tương tư” tái hiện “tiếng nói siêu thực”, tiếng nói dị thường, cho thấy một trong những biểu hiện chấn thương của chủ thể phát ngôn. Cảm quan về sự tồn tại của cái lạ thường, cái không sao kiểm soát nổi đã xui khiến Hàn Mạc Tử tìm đến thế giới Hư Vô, tới “cõi vô cùng”.

Mới hay cõi siêu hình cao tột bậc

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao

(Siêu thoát)

Cũng hình như, em hỡi, động Huyền Không

Mà đêm nghe, tiếng khóc ở đáy lòng

Ở trong phổi trong tim trong hồn nữa..

(Trường tương tư)

Thi nhân nhạy cảm với mọi âm thanh, đặc biệt là âm thanh vang lên từ tư tưởng, từ cõi mờ, cõi huyền của cuộc sống.

Xuân Diệu đôi mắt xanh non biếc rờn nên nhìn mọi thứ đều tươi mới. Xuân Diệu không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần / Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất. Còn Hàn Mạc Tử cứ đi mãi vào sâu thế giới tâm linh, thế giới huyền hoặc của hồn và máu. Hàn Mạc Tử thấy mọi vật đang ở chặng cuối cùng hoặc đương lao nhanh về ngày tận thế, nên ông thấy trước cả “thế giới âm u”. Hàn Mạc Tử thường tạo ra một thế giới mênh mông, không giới hạn: “Không gian dày đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng và nàng cũng trăng”. Nhà thơ của những “Hương thơm” và “Mật đắng” thường nắm lấy tính chất tượng trưng của mọi hiện tượng. Thi nhân đồng hoá Hữu Thể với Hư Vô:

Đây là tất cả người anh tiêu tán

Cùng trăng sao bàng bạc xứ mơ say

Theo cách diễn đạt của Hàn Mạc Tử, thì Hư Vô là một thực tại đặc biệt, có thanh-sắc, hình hài:

Ánh trăng mỏng quá không che nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét buồn buồn tơ liễu rủ

Những lời năn nỉ của Hư vô

Mới hay cõi siêu hình cao tột bực

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao

Xa lắm rồi, xa lắm, hãi nhường bao

Ai tới đó chẳng mê man thần trí

Hàn Mạc Tử viết bằng tưởng tượng và “giấc mơ” trọn vẹn của chính mình. Mọi thứ trong thế giới thơ Hàn Mạc Tử đều huyền ảo. “Cái huyền ảo luôn đẹp, bất kỳ cái huyền ảo nào cũng đẹp” (André Breton). Đọc thơ Hàn Mạc Tử, người đọc phải tư duy và nhìn theo nhà thơ; nghĩa là đọc thơ Hàn không thể bằng cơ chế kiểm duyệt của mình và của thời đại.

Phong Châu 5-2006  (Hà Nội 8- 2012, có chỉnh sửa)

Chú thích

[1]Hàn Mạc Tử thơ và đời (Lữ Huy Nguyên, sưu tầm, tuyển chọn). Nxb Văn học, 2000, tr 180.

[2]Vương Trí Nhàn, Những kiếp hoa dại. Nxb. Hội Nhà văn, tr 98.

[3]Phan Ngọc, “Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam trong giai đoạn 1932-1940″ / Tạp chí Văn học số 4-1993, tr. 25.

[4]Xem thêm: Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5-2004.

[5]Toàn bộ thơ được trích dẫn ở đây, căn cứ vào cuốn: Hàn Mạc Tử, tác phẩm, phê bình và tưởng niệm (Phan Cự Đệ tuyển, H. Nxb. Văn học, 2002) và Hàn Mạc Tử thơ (Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, Nxb. Văn học, 1987).

[6]Đỗ Lai Thuý. Mắt thơ, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 2000, tr. 214.

[7]Dẫn theo Phạm Văn Sĩ. Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1986, tr. 42.

[8]Dẫn theo Phạm Văn Sĩ: Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1986, tr. 46.

Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 10 – 2012.  Bản vi tính Copyright © 2012 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Chai rượu văn hóa – TS

19 Th10

Chai rượu văn hóa

Trần Trọng Dương

Em tập in tranh Đông Hồ ở Bảo tàng Dân tộc học
 
Dân tộc hóa giáo dục ở phương diện văn hóa là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hóa văn hóa, bởi trong “bữa tiệc hội nhập”, mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu” của riêng mình.
Xã hội Việt Nam truyền thống đã có những biến động rất lớn kể từ khi Pháp đến. Người Pháp mang theo văn hóa và khoa học (kỹ thuật cũng như nhân văn) của phương Tây. Chính quyền thực dân Pháp tiến hành khai hóa trên nhiều phương diện. Để dễ bề cai trị, từ năm 1869 đến 1919, Pháp lần lượt ban hành các đạo luật G.Ohier, J.Lafont, Le Myre de Villers và Albert Sarraut nhằm “diệt Hán – Nôm, hưng Quốc ngữ”1, nhằm tách dân chúng ra khỏi tầng lớp Nho sĩ, cô lập Đại Nam với các nước đồng văn và quan trọng nhất là “biến những đứa trẻ Annam trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” [trích lời Toàn quyền Paul Bert 1886]2. Tuy nhiên, phải nói một cách công bằng rằng, văn hóa truyền thống vẫn được bảo lưu trong hệ thống làng xã và được người Pháp nghiên cứu khá chi tiết. Mặt khác, người Pháp đã tạo nên một thế hệ những trí thức Tây học trên cơ sở văn hóa bản địa. Nhiều người nói, đây là thế hệ một đi không trở lại trong lịch sử của trí thức Việt Nam.

Năm 1945, chữ Quốc ngữ chính thức là thứ văn tự duy nhất của quốc gia. Chữ Hán, chữ Nôm biến mất khỏi hệ thống giáo dục và đời sống sau 2.000 năm hiện diện trên mảnh đất văn hiến. Có thể coi đây là bước ngoặt lớn thứ hai về văn hóa, kể từ đợt tiếp xúc của cơ tầng Đông Nam Á với Trung Hoa. Trong suốt mấy chục năm chiến tranh, văn hóa truyền thống (lễ hội, di tích, thư tịch, phong tục tập quán…) bị biến mất, biến dạng nhanh và nhiều đến mức không thể kể hết và cho đến nay vẫn chưa có ai thực hiện việc thống kê xem văn hóa truyền thống Việt Nam từng có những gì, đã mất những gì. 20 năm nay, các lễ hội cổ truyền được phục dựng ở khắp nơi bởi các nhà đạo diễn văn hóa quần chúng từ cấp địa phương đến cấp quốc gia. Sân khấu hóa và rập khuôn lễ hội là tình trạng phổ biến. Trong khi ngàn vạn tài liệu thư tịch về hương ước và lễ tục làng xã vẫn nằm chết cứng trong các thư viện của nhà nước và đang mục nát trong dân gian. “Niềm tự hào dân tộc” thường chỉ lấp ló trong những khoảnh khắc chiến thắng của thể thao hay núp sau tà áo dài hoa hậu. Giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế loanh quanh cũng chỉ là ca múa nhạc dân tộc hay rối nước. Đến như tranh Đông Hồ, mang đi triển lãm khắp nơi trên thế giới, nhưng chỉ là những nét khắc ngờ nghệch, chữ nghĩa thậm xấu và sai chính tả đến mức không thể chấp nhận được, đề tài phần lớn là của tranh Tàu (trừ Hứng dừa và Đánh ghen). Ở nhà trường, học sinh vẫn học suông mấy chữ “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” một cách hồn nhiên mà chưa bao giờ được hỏi: “làm thế nào để tạo nên màu dân tộc ấy?”

Bấy lâu nay khẩu hiệu giữ gìn và phát huy văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc chỉ được thực thi thông qua các hoạt động festival, lễ hội văn hóa, giao lưu văn hóa; tức là văn hóa truyền thống chỉ được tái hiện một phần nào đó thông qua các diễn viên, và mang tính biểu diễn mà những người đến xem chỉ là… khách. Giữ gìn bản sắc, theo chiều sâu, phải là sự tái dụng văn hóa truyền thống trong đời sống thường nhật của con người, tức là đưa những vị khách (vốn là những người chủ của văn hóa kia) trở về với đúng vị trí của mình.
Dĩ nhiên, việc trau dồi văn hóa cổ truyền chỉ là một cạnh khía trong sự nghiệp của một đất nước. Nhưng thiết nghĩ, hun đúc tình yêu dân tộc không chỉ đơn thuần ở việc ngợi ca non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc được; lại càng không thể kêu gọi, hô hào hay ép buộc con em phải yêu nước. Tình yêu bao giờ cũng cần được nuôi dưỡng, cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể, thường nhật, liên tục với số lượng đông đảo của chủ thể, chứ không phải bằng những sáo ngữ cũ mòn. Đó chính là hành vi “thân giáo” (giáo dục bằng chính hành động của thầy) – phương pháp giáo dục của Nho gia mà Khổng Tử đề xướng. Phương pháp này không ép buộc mà hoàn toàn tôn trọng vào sự chọn lựa của người học. Nó tương đồng với “nguyên tắc tự do của chủ thể” trong triết học giáo dục của Éric Plaisance và Gérard Vergnaud3. Như thế, mỗi một người lớn là một thầy cô giáo, mỗi một gia đình là một ngôi trường. Và ngược lại, mỗi thầy cô giáo lại là một chủ thể văn hóa, mỗi mái trường là một mái ấm gia đình, để con người tự do trong tình yêu nhỏ, tình yêu nhỏ sẽ góp nên những tình yêu rộng lớn hơn.

Đối với trẻ em, việc xác lập tình cảm và hứng thú thường rất dễ dàng nếu có cách truyền thụ hợp lý. Cách truyền thụ văn hóa hữu hiệu nhất chính là biến các em thành chủ thể, tức người được đích thân tham gia vào các hoạt động văn hóa, để từ đó nảy sinh những tình cảm và lựa chọn những yếu tố nào phù hợp nhất với tư chất của mình. Đương nhiên, một con người hiện đại là người tích hợp của nhiều nền văn hóa, và đây cũng chính là một trong những mục đích của nền giáo dục hiện đại.

Hiện nay, Bảo tàng Dân tộc học là cơ quan văn hóa hoạt động hiệu quả nhất về phương diện này. Bảo tàng đã kết hợp được với một số trường học, đưa học sinh đến học ngoại khóa. Học sinh đến đây sẽ được đích thân nhuộm vải, in tranh Đông Hồ, học đan lát, học cách in hoa văn bằng sáp ong của người Hmông, cách nhuộm ikat của người Thái, cách thêu của người Việt, tập khâu vá, cắt may, tập làm búp bê giấy, búp bê vải,4… Những việc làm này giúp các em nhận thức về văn hóa, và được tham gia vào đó với tư cách của một thành tố văn hóa.

Bài viết chưa đề cập đến việc giáo dục con người để trở thành chủ thể của nền văn hóa trong mối tương quan với văn hóa khu vực và thế giới. Nhưng việc này không đáng lo lắm bởi người Việt vốn nắm bắt rất nhanh những yếu tố văn hóa từ bên ngoài mới vào. Vấn đề là ở chỗ giáo dục như thế nào để người Việt Nam có thể ý thức, thực thi và phát huy được năng lực của mình với tư cách là công dân của đất nước và của địa cầu. Thế giới ngày càng phẳng và nền giáo dục ngày càng trở nên có xu hướng quốc tế hóa, đó là điều không thể cưỡng lại. Dân tộc hóa giáo dục ở phương diện văn hóa là một xu hướng trái chiều nhưng không làm triệt tiêu xu hướng toàn cầu hóa văn hóa, bởi trong “bữa tiệc hội nhập” mỗi dân tộc đều phải có “chai rượu” của riêng mình. Văn hóa làm cơ sở, làm bản vị để mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phát triển bền vững hơn. Nước chảy xa vì nguồn nó sâu. Kinh tế có phát triển ổn định là bởi sau lưng nó là cả một nền văn hóa có độ đằm của lịch sử. Phát triển bền vững ắt hẳn phải bắt đầu từ vấn đề chủ thể văn hóa của chúng ta hiện nay!

Một số ảnh màu Việt Nam giai đoạn 1914 -1921

19 Th10

Một số ảnh màu Việt Nam giai đoạn 1914 -1921

Blog người hiếu cổ  Ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy những hình ảnh khắc họa xã hội xưa, nhưng hầu hết là ảnh đen trắng và rất mở. Tuy nhiên, chúng tôi thấy những bức ảnh in trong “Albert Kahn Le monde en couleurs” đều là ảnh màu, rất đẹp. Xin giới thiệu một số bức ảnh trong sách như sau:
 
Liền bà Hà Nội 1914
Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông 1914
 
 Cử nhân 1915
 Quan lại Hà Nội 1915
Một buổi tế lễ ở làng quê Hà Nội 1915
 Sài Gòn 1915
 
Sài Gòn 1915
 Hải Phòng 1916
 Hà Nội 1921
 
 Hà Nội 1915
 
 Hà Nội 1915
 Hà Nội 1915
 
Hà Nội 1915

Read more: http://nguoihieuco.blogspot.com/2012/10/them-mot-so-anh-mau-viet-nam-giai-oan.html#ixzz29hgE0MIX

%d bloggers like this: