Lưu trữ | 6:03 Chiều

TỊCH LIÊU – HS.Lê thừa Khiển

20 Th10

TỊCH LIÊU

MẶT TRỜI ƠI! NẮNG LÊN… – Nguyên Hải

20 Th10

MẶT TRỜI ƠI!

NẮNG LÊN…

Nát nhàu hoa nắng lụa

Lá thu say úa vàng

Ngày qua ngày vụn vỡ

Giọt sương trầy phiến tơ

 

Tia nhìn giông chớp lửa

Cháy hồn chiều khói mây

Treo mình trong huyễn hoặc

Ngắm trời đất hao gầy

 

Sợi ngâu buồn hóa thạch

Sông ngân băng tuyết dày

Cầu Ô đang lỗi nhịp

Tiếng thu lạc lối về

 

Đàn chim đau cánh mỏi

Rã rời đêm hoang sơ

Đợi tay ngày mở cổng

Mặt trời ơi!!!

nắng lên…

 

Nguyên Hải

 

 

Cựu Phó VP Quốc hội Trần Quốc Thuận: Nên triệu tập Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ – BS

20 Th10

 Cựu Phó VP Quốc hội Trần Quốc Thuận: Nên triệu tập Đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ

“… lãnh đạo Đảng Cộng sản cần công khai lý do tại sao Bộ chính trị thấy cần chịu kỷ luật và tại sao Bộ chính trị đề nghị kỷ luật một thành viên của mình để các đảng viên và người dân đều biết … phải công khai minh bạch tên của người đó ra và công khai minh bạch những khuyết điểm của người đó ra để toàn đảng, toàn dân và quốc tế biết.”

BBC Tiếng Việt

Cựu quan chức kêu gọi họp Đảng giữa kỳ

Hội nghị 6 không quyết định kỷ luật ai dù có đề nghị

Luật sư Trần Quốc Thuận *, đảng viên 44 năm tuổi đảng và từng 14 năm làm Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói với BBC Đảng nên triệu tập Đại hội giữa kỳ để xử lý việc kỷ luật Bộ chính trị và một ủy viên.

 

Ông giải thích với BBC trong phỏng vấn hôm 19/10: “Đại biểu Đại hội Đảng toàn quốc là cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, rồi giữa hai kỳ Đại hội cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng là Ban chấp hành trung ương. Giữa [các] kỳ họp của Ban chấp hành trung ương cơ quan quyền lực cao nhất là Bộ chính trị, điều hành là Ban bí thư…

“Nếu trên thấy vấn đề này chưa thỏa đáng cần làm tiếp nữa thì triệu tập Đại hội đại biểu toàn Đảng giữa nhiệm kỳ. Tức là những người đã dự Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua và bầu ra Ban chấp hành trung ương khóa này, họ mới họp lại [và] quyết một lần nữa.”

Nhưng ông Thuận nói lãnh đạo Đảng Cộng sản cần công khai lý do tại sao Bộ chính trị thấy cần chịu kỷ luật và tại sao Bộ chính trị đề nghị kỷ luật một thành viên của mình để các đảng viên và người dân đều biết.

“Tôi cho rằng chuyện đó là Trung ương không thi hành đúng nghị quyết của mình là ‘công khai minh bạch’.

“Tôi là đảng viên, tôi cũng kiến nghị phải công khai minh bạch tên của người đó ra và công khai minh bạch những khuyết điểm của người đó ra để toàn đảng, toàn dân và quốc tế biết.

“Bây giờ người ta cũng nói rùm beng ra ngoài hết rồi.

“Tôi đang về quê ở Bình Định, ở một vùng nông thôn rất xa nhưng mọi người dân ở đây đều biết hết rồi.

“Vậy không có gì phải giấu như thế.

“Người Việt Nam có câu tục ngữ là ‘giấu như mèo giấu cái gì đó mà cuối cùng cũng thối uynh.”

‘Chống giặc nội xâm’

Ông Thuận nói các nhà lãnh đạo Việt Nam chưa thể hiện quyết tâm chống tham nhũng như những gì họ nói.

Vị luật sư nói với BBC: “Tôi cho rằng nếu Bộ chính trị quyết liệt đấu tranh chống tham nhũng, thì trong Hội nghị trung ương 4 đã nói rằng nếu đấu tranh kỳ này không xong thì Đảng sẽ có nguy cơ này, nguy cơ kia… có thể chết, [liên quan tới] sự tồn vong của Đảng…, [nhưng] cái cuộc đấu tranh chống tham nhũng cho đến bây giờ người ta không thấy có gì cụ thể cả, chỉ thấy những câu hô khẩu hiệu thôi.

“Rồi là những tiếng ấm ức, rồi không biết có giọt nước mắt nào không, nhưng có tiếng nấc lên, thì đấu tranh chống tham nhũng đâu phải như vậy.

“Đấu tranh thống tham nhũng phải có kết quả và khi đã sai lầm nghiêm trọng thì phải xử lý.”

Ông Thuận nhắc lại chuyện Tổng bí thư Trường Chinh phải từ chức và nhiều quan chức bị kỷ luật sau Cải cách ruộng đất trong khi nhiều chính trị gia cũng phải trả giá sau cải cách giá-lương-tiền.

LS Trần Quốc Thuận, trước cửa Tòa án Nhân dân tối cao, chuẩn bị bào chữa cho TS Cù Huy Hà Vũ, ngày 2/8/2011 (Ảnh: Ba Sàm).

Ông nói thêm: “Nhưng mà cái Trung ương [6] này là sống còn của Đảng mà chẳng thấy ai nhằm nhò gì hết, thì đâu có phải.

“Đây là một màn kịch, đứng lên nấc nấc rồi nói giọng uất hận, đâu có phải [thế].

“Theo quan điểm chống tham nhũng chính là chống giặc. Hồ Chí Minh đã nói rồi, chống tham nhũng chính là chống giặc nội xâm, mà đã là chống giặc thì phải nhìn thấy tử thi của giặc chứ.”

Nhận xét về cuộc bỏ phiếu của 175 ủy viên trung ương trong đó quyết định kỷ luật Bộ chính trị và một ủy viên Bộ chính trị không được đưa ra, ông Thuận nói:

“Cuộc bỏ phiếu đó dẫn đến vấn đề là những người bỏ phiếu đó không biết ngày mai ai sẽ bỏ lá phiếu giống như vậy với mình.

“Cho nên họ rất dè dặt.”

Ông cũng nói cuộc bỏ phiếu cũng cho thấy sự chia rẽ trong Bộ chính trị khi tất cả đều đồng ý đề nghị trung ương kỷ luật nhưng sau đó lại “bẻ cò” và thuyết phục các ủy viên trung ương bỏ phiếu ngược lại.

Ông nói nếu Bộ chính trị đoàn kết thì “không ai dám bỏ phiếu ngược lại” vì cơ quan này có toàn quyền điều động các ủy viên trung ương.

Nguồn: BBC Tiếng Việt

Dừng tăng lương: lợi bất cập hại – TT

20 Th10

Dừng tăng lương: lợi bất cập hại

TT – Đó là ý kiến của ông Đặng Quang Điều – viện trưởng Viện Công nhân và công đoàn, Tổng liên đoàn Lao động VN – khi đề cập việc năm 2013 có thể dừng tăng lương theo lộ trình đối với khu vực hưởng lương từ ngân sách.

>> Sao không tiết kiệm hơn nữa để tăng lương?
>> Không tăng lương: bóp bụng đi làm

 

Theo Bộ LĐ-TB&XH, công nhân thuộc khu vực doanh nghiệp vẫn được tăng lương theo lộ trình – Ảnh: THANH ĐẠM

 

Ông Điều nói:

– Chính sách tiền lương hiện nay đối với công chức, viên chức là một trong những chính sách lạc hậu, chậm thay đổi nhất. Những quy định lạc hậu này đang làm lu mờ nhiều ý nghĩa của tiền lương. Tiền lương thấp đang gây ra không ít hệ quả, khiến nhiều người ăn lương khó khăn hoặc phải tìm mọi cách để có thêm thu nhập…

 

“Với những người sống hoàn toàn bằng lương, khi giá cả tăng (trong đó có nhiều mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, điện nước) mà lương không tăng thì khó khăn của họ sẽ lớn hơn nhiều. Tăng lương đã có lộ trình, nếu quyết định dừng đột ngột sẽ ảnh hưởng trực tiếp đời sống người lao động”

Ông Đặng Quang Điều

* Lương không đủ sống nhưng có khó khăn thì nghĩ ngay đến việc ngừng tăng lương. Lý do: nhiều người nói thời gian qua công chức vẫn sống tốt đó thôi. Đây có phải là điều hợp lý?

 

– Theo tôi, nói lương không đủ sống nhưng sao thời gian qua công chức vẫn sống tốt cũng chỉ là một cách nói. Rất nhiều cán bộ, công chức, viên chức phải làm thêm, tìm mọi cách có thêm thu nhập. Họ vẫn sống tốt vì phải dựa vào nhiều nguồn khác. Nói chung cán bộ, công chức nào cũng phải “làm thêm”, “thu nhập thêm bên ngoài”… chứ chỉ lương không thì không thể sống nổi.

* Có phải lương thấp đang dẫn đến tình trạng rất khó giải quyết như dạy thêm ở giáo viên, phong bì ở bác sĩ, rồi hạch sách đòi bồi dưỡng ở một nhóm công chức?

– Công chức có nhiều cách kiếm thêm để tăng thêm nguồn thu, họ phải tìm mọi cách để có thêm thu nhập…

* Ông nói thế nào nếu cứ để tình trạng lương công chức, viên chức không đủ sống như hiện nay?

– Tôi nghĩ khó khăn là khó khăn chung, người ăn lương cũng như Nhà nước đều khó. Nếu bây giờ khó khăn trong thu ngân sách, rồi quyết định ngừng tăng lương thì nó sẽ tác động đến tiêu dùng của một bộ phận không nhỏ. Tiền lương thấp, sức mua thấp, doanh nghiệp không bán được hàng, không có tiền nộp thuế. Nếu Nhà nước vì khó khăn mà không tăng lương, tôi e chúng ta lại lâm vào vòng luẩn quẩn: người dân thắt chặt chi tiêu, doanh nghiệp không bán được hàng, thu nhà nước lại thấp đi. Vì vậy, cần cân nhắc kỹ. Theo tôi, việc dừng tăng lương do thu ngân sách khó khăn sẽ là lợi bất cập hại. Giải pháp không tăng lương có thể mang lại bất lợi nhiều hơn cho nền kinh tế.

* Bộ Tài chính nói không có tiền thì không lấy đâu ra chi. Nói như vậy liệu có ổn không?

– Theo tôi, Bộ Tài chính cần đảm bảo, chứ không thể nói không có được. Trong bối cảnh khó khăn, Bộ Tài chính nên rà soát xem cái nào quan trọng hơn để tập trung tiền. Thiết nghĩ đầu tư cho con người phải được ưu tiên. Tóm lại, trong tình hình hiện nay chúng ta cần giữ nguyên lộ trình tăng lương bởi tăng lương cũng là biện pháp an sinh xã hội, là chính sách bảo vệ những nhóm lao động đang hưởng lương thấp trước những biến động, cú sốc kinh tế.

CẦM VĂN KÌNH thực hiện

 

Lương khu vực doanh nghiệp vẫn tăng theo lộ trình

Bà Tống Thị Minh, vụ trưởng Vụ Tiền lương – tiền công (thuộc Bộ LĐ-TB&XH), cho biết việc tăng lương trong khu vực doanh nghiệp vẫn sẽ thực hiện đúng với lộ trình.

Theo đó, Bộ LĐ-TB&XH đã trình Chính phủ một trong ba phương án tăng lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp và đang chờ Chính phủ phê chuẩn. Trước đó, trong tháng 8-2012 Bộ LĐ-TB&XH đã đưa ra hai phương án tăng lương tối thiểu khu vực doanh nghiệp để lấy ý kiến nhiều bên.

Hai phương án tăng lương tối thiểu gồm: phương án 1, cao nhất là 2,7 triệu đồng (áp dụng cho vùng I); phương án 2, cao nhất là 2,5 triệu đồng (qua khảo sát lấy ý kiến đã có thêm phương án 3 là 2,4 triệu đồng). Theo lộ trình, Chính phủ sẽ công bố điều chỉnh lương tối thiểu vùng trong các loại hình doanh nghiệp vào tháng 10-2012 và thực hiện từ ngày 1-1-2013.

Bà Tống Thị Minh cũng khẳng định việc Bộ Tài chính đề nghị không tăng lương và Quốc hội đang bàn thuộc khu vực hành chính – sự nghiệp, đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Hoàn toàn không liên quan đến khu vực doanh nghiệp, vì đối tượng hưởng lương từ nguồn ngân sách của doanh nghiệp.

Theo quan điểm của Bộ LĐ-TB&XH, thực tế hiện nay mức lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp mới chỉ đáp ứng được 57-63% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Vì vậy, năm 2013 cần thiết phải điều chỉnh mức lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp theo đúng quy định của Bộ luật lao động và kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (ngày 29-5-2012).

HỒ VĂN

Kinh tế ngầm – VHNA

20 Th10

Kinh tế ngầm

Hồ Phi Phục

 

VHNA: Chuyên luận Kinh Tế Ngầm của kĩ sư/nhà thơ Hồ Phi Phục viết năm 1990, cách đây 22 năm, khi đang còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Ngay từ hồi đó ông đã nhìn thấy những khuyết/bệnh tật của trong cơ thể của một tổ chức xã hội mà chúng ta đã và đang sống trong đó. Nhiều vấn đề, cách lí giải và nhận định của ông đến bây giờ vẫn đúng và mang tính thời sự nóng hổi. Giới thiệu cùng bạn đọc nhân dịp thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN (Khóa XI)…

Về sự hiển nhiên

Một chính khách ở Châu Mỹ có nói: “Cách mạng rất đẹp, nhưng không thể đùa với nó được, vì nó mang theo chất nổ” – Một câu nói rất đáng chú ý của thế kỷ rực rỡ khoa học nhưng đầy bom đạn. Và phải chăng trong số chất nổ đó có kinh tế ngầm với vô vàn vòi bạch tuộc máu me nhuầy nhụa?

Khái niệm kinh tế và kinh tế ngầm trong lĩnh vực kinh tế khác hẳn với các khái niệm thật và ảo, vật chất và phản vật chất v.v… trong các lĩnh vực khác. Bởi kinh tế và kinh tế ngầm đều cùng tồn tại, không đồng nhất đổi dấu. Nền kinh tế chính thống (công khai và hợp pháp) cứ coi như là dễ thấy và dễ hiểu đi. Còn kinh tế ngầm thì không thấy, có khi thấy mà không biết, và có khi thấy rõ đến hoang mang, đau lòng.

Từ xa xưa những chuyện kể thành văn của nhân loại đã nói đến kinh tế ngầm. Có thể xem Phạm Lãi, một nhân vật lịch sử độc đáo, nhưng đồng thời cũng là người am hiểu và vận dụng kinh tế ngầm cao tay biết chừng nào.

Đầu thập kỷ 80 có nhiều chuyên đề nghiên cứu kinh tế ngầm thời bao cấp (mà người viết bài này sớm tiếp thu suy ngẫm), nhưng với cơ chế kinh tế hiện nay, dĩ nhiên nó phải uốn mình thích ứng.

Nhìn chung, kinh tế ngầm tìm kiếm người sản xuất (mua lúa non, lạc non…) và người sản xuất cũng tìm đến kinh tế ngầm (đẩy các gia súc bị bệnh ra chợ…). Có trường hợp đôi bên say sưa tìm nhau cùng thiêu thân (tệ nạn ma tuý…). Nhưng kinh tế ngầm phổ biến thì dính dáng trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều nhất đến giới chức nhà nước, và vì thế, nó quan hệ mật thiết với tham nhũng.

Ở một nước gần ta, có chuyện hai người làm kinh tế ngầm theo hai cách. Một người chức quyền không cao, vợ nhặt từng đồng mà cháu đích tôn mới đẻ có ngay biệt thự hẳn hoi. Không như ngài Tổng thống hớt công quĩ hàng tỉ Đôla, đến nỗi khi chết, thân xác không yên, để lại bà phu nhân hoa hậu lưu vong dở khóc dở cười trong cuộc sống kim cương vàng lụa. Phu nhân đã nát óc tìm mưu tính kế, luồn lọt che đậy, mà vẫn bị điệu ra toà…

Đầu thập kỷ 60, “Tổng thống Tân thế giới ăn kẹo đồng” đúng như lời đoán của Misen, một nhà tiên tri người Âu đã nói trước đó gần 5 thế kỷ. Cả hành tinh rộn lên việc viên đạn quái ác từ đâu nhằm trúng đầu Tổng thống khi đang ngồi trên xe hơi mui trần cùng vợ. Với bộ máy an ninh đồ sộ nhưng mãi đến bây giờ vẫn chưa tìm ra thủ phạm. Thế là bà quả phụ đã phải sớm chấm dứt thời oanh liệt ngắn ngủi mà trước khi làm Đệ nhất phu nhân, với lối quảng cáo bầu cử rùm beng, bà đã được giới báo chí ca ngợi khá xôm trào, dự báo sẽ là giai nhân nghiêng nước, nghiêng thành, xứng đáng nện gót dày trên thềm toà Bạch ốc. Nghe đâu, còn có con tàu lớn đã xin phép kéo cái xu-chiêng của bà lên tận đỉnh cột buồm làm biểu tượng đầy tự hào trên đại dương sóng gió!

Với con người được hâm mộ đến vậy, dĩ nhiên mấy năm sau, việc bà đi bước nữa với Anasi, một chủ tàu người Achentina gốc Hy lạp, lại càng làm xôn xao dư luận. Cuộc hôn nhân với nhà tỉ phú lục tuần này đầy rẫy tính toán. Một hợp đồng được qui định chặt chẽ gần 60 điều khoản: dinh cơ, số người hầu, loại son phấn thường dùng, tiền cấp hàng tháng, chế độ nghỉ hè, mỗi tuần gặp nhau mấy lần v.v…

Điều muốn nói liên quan đến kinh tế ngầm, là sau đó mấy năm Anasi chết, lần này thì dư luận báo chí nghiêng về phía bình luận cách làm ăn của người chồng thứ hai. Ông này một đời hoạt động đã cống hiến ba nguyên tắc gối đầu giường cho những ai muốn vớ bở trở thành tỉ phú. Ba nguyên tắc đó đều hướng về hệ mở:

            * Một là, phải luôn luôn tìm cách triệt để tận dụng vốn của kẻ khác, bất kể tư nhân hay của Nhà nước.

            * Hai là, bất cứ lúc nào cũng phải tìm mọi cách đầu cơ, lậu thuế, tiêu thụ hàng giả, chịu khó bòn mót đến cùng, tích tiểu thành đại.

            * Ba là, phải làm quen, bắt bạn với các nhân vật quyền lực và các nhân vật danh giá.

Nguyên tắc thứ nhất và thứ hai của Anasi cực kỳ phong phú đa dạng, đã từng làm sửng sốt, ngã ngửa nhiều đối thủ cá nhân. Nhiều sân bay, bến cảng của nhiều thành phố ở các châu lục phải qui hàng bái phục trước những pha quyền biến lạ kỳ. Anasi đã dày công tìm hiểu pháp luật các quốc gia và lợi dụng đến cùng, hoặc vượt qua, hoặc né tránh trơn tuột như lươn chạch. Có thể từ đây viết được hàng chục cuốn sách về mánh khoé xuất quỉ nhập thần, cạnh tranh ma quái, vừa bán hợp pháp, vừa giả hợp pháp mà người đời không sao moi óc tưởng tượng nổi để gây dựng cơ đồ.

Song không thể nào coi thường nguyên tắc thứ ba của Anasi được, vì nó là chiếc cầu kỳ diệu mai mối những thông tin quan trọng tin cậy bậc nhất, quyết định sự thành bại. Những thông tin này có khi được tiếp nhận cả từ nguồn tình báo về những phát minh mới mẻ, những bí mật quốc gia, kể cả dự báo chiến tranh…

Nguyên tắc thứ ba còn là chỗ dựa ô dù làm nên cái thế đứng xã hội vững chắc, trụ lại được các cơn phong ba luật pháp. Có thể nói một con người đơn độc, vừa có tài năng, vừa ma mãnh cũng không thể nào chớp nhoáng trở thành tỉ phú. Phải có không ít những đồ đệ, những kẻ tiếp tay, hội kín, giây chuỗi, màng lưới… thì mới nhập nhằng dựa thế quyền lực, chiếm cứ được tài nguyên và các cơ sở hạ tầng ở những khu vực đắc địa… Cũng là điều dễ hiểu khi trên thế giới ngày nay, tháng nào, năm nào cũng có Bộ trưởng vào tù, Thủ tướng từ chức, mặc nhiên rộng diện mafia… Như vậy, cả ba nguyên tắc xoắn xuýt nhau và nguyên tắc thứ ba xuyên suốt, thực chất là bà đỡ, là nhũ mẫu cho hai nguyên tắc trên. Việc nhà tỉ phú cưới Đệ nhất phu nhân một thời, là nằm trong ý đồ “kinh doanh kép” đó. Qua màu sắc của phái đẹp quyền quý, sẽ tiếp cận các nhân vật quyền lực một cách hào nhoáng và hiệu quả hơn nhiều, để nhanh chân chen lên hàng tỷ phú bậc nhì, bậc nhất.

Với câu chuyện đầy ám ảnh của những cơn sóng ngầm kinh tế từ nhiều phía, lôi kéo và xô dạt người đàn bà này, có thể thấy mọi vinh quang, danh vọng, tiền tài, tình yêu và tội ác bủa vây con người đến cùng cực. Bà kinh hoàng chìm mình nhiều năm trong nghề biên tập đầy năng lực, cố quên lãng việc đời. Sinh thời, có nhiều sách viết ca ngợi bà, nhưng bà lơ đễnh. Mới đây, báo chí đưa tin bà qua đời trong tâm trạng chán ngấy cuộc sống nơi đất nước đã sinh ra bà, một đất nước hẳn vô địch và thừa mứa các loại chất nổ…

Ở cái đình làng xã nọ, mọi người còn đọc được một dòng chữ mờ nhạt trên tường: “Uống rượu là hút máu đồng bào”. Dòng chữ đó hình như được viết trong năm 1945, với 2 triệu người chết đói khủng khiếp. Tới thời bao cấp, việc nấu rượu vẫn còn làm trộm, làm lén. Bây giờ thì ung dung hành nghề trong tình trạng vẫn thiếu lương thực. Hãy thử tính sơ sơ nhu cầu tiêu thụ rượu của mỗi địa phương thì biết con số lương thực chi cho công việc này quả là không nhỏ và sẽ nóng ruột nếu như không nhìn cái lợi ở phía chăn nuôi. Thuế nấu rượu vẫn chưa có trong danh mục, hay là đã có mà không ai thực hiện? Điều này vừa vô lý, vừa có lý?…

Nhân nhớ việc cấm rượu theo kiểu nghị quyết của M. Goócbachôp, thì đó lại là một ý đồ khác, ông ta muốn làm một “phép thử chính trị” thâm hiểm như có người đã bình luận. Và vấn đề rút ra, là bất luận thủ đoạn chính trị nào cũng đều lợi dụng cái lý của hoạt động kinh tế, kể cả trường hợp có khi tưởng như công khai, nhưng vẫn là ngầm…

Như vậy, qua vài ba hiện tượng dông dài, chấm phá đôi nét về kinh tế ngầm, đã có thể thấy rõ bức tranh kinh tế và kinh tế ngầm đầy lẫn lộn giữa ánh sáng và bóng tối. Ai mà biết đầy đủ được những gì quay cuồng, điên loạn trong sự nhá nhem đó của đồng tiền phè phỡn, của nước mắt đắng cay và của tội ác rùng rợn. Công bằng mà nói, những điều rối ren đau xót cũng có khi được dẫn độ từ cái tốt đẹp buổi đầu. Còn cuộc vật lộn trong quá trình phát triển diễn biến như thế nào thì lại là chuyện khác.

Hãy tạm rút ra vài ba nhận xét:

            1. Kinh tế ngầm là sản phẩm tất yếu của mọi nền kinh tế. Nó có thể từ nhỏ bé phát triển đến khối lượng tiền bạc lớn, thành qui mô xã hội với nanh vuốt tham lam tàn bạo. Đã có kinh tế ngầm là có ý thức ngầm, tổ chức vây cánh ngầm, hàng giờ, hàng ngày làm đảo điên đời sống xã hội.

            2. Kinh tế ngầm cùng tồn tại và chen lấn kịch liệt với nền kinh tế chính thống. Nó cố tình mọc rễ sâu vào pháp luật, nó mặc nhiên là thước đo trình độ hệ thống quản lý nhà nước và nó phát triển tỷ lệ nghịch với trình độ đó.

            3. Kinh tế ngầm tự phân hóa thành hai bộ phận: bộ phận thứ nhất chạy theo thu nhập tối đa lừa lọc, bất chấp pháp luật, trở nên cực kỳ độc hại. Bộ phận thứ hai lửng lơ, gây hại ít hơn, cần được giới hạn hoạt động trong phạm vi hợp lý và có thể hướng nó từng bước hòa vào kinh tế chính thống (làm rượu làng Vân xuất khẩu…).

Có thể nói kinh tế ngầm không có kết cấu, không định hình là đối thủ nguy hiểm của mọi nền tảng văn hóa. Nó là bóng hình ma quái của quyền lực sơ hở thoái hóa, dai dẳng, bám chặt đến cùng vào trái tim và dạ dày cuộc sống. Muốn phát triển một xã hội bình yên thì điều quan trọng trước hết là phải phát hiện và vẽ ra được đường đi nước bước của những con mồi quấy phá này, mà bộ máy quản lý Nhà nước phải cảnh giác, phải săn đuổi đến cùng – đó là chân dung của các loại kinh tế ngầm độc hại – những mục tiêu cần được khoanh gọn trong kính ngắm.

Nguy cơ tham nhũng 

Ở nhiều nước, tỷ trọng kinh tế ngầm chiếm từ 25 đến 30% giá trị thu nhập quốc dân. Đó là con số kinh hồn, sản phẩm của tầng lớp con buôn và bọn làm ăn bất chính điên cuồng hoạt động quấy phá bằng những thủ đoạn đáng gờm.

1. Về đầu cơ – buôn lậu: Thời bao cấp thấy rõ đầu cơ và buôn lậu đứng riêng rẽ ở hai mục đề. Cái mới giờ đây là dường như hai mục đề đó gắn lại thành khái niệm kép. Cơ chế thị trường mở cửa giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, hàng hóa dồi dào xóa cảnh xếp hàng. Bài học kinh tế năm nào nói chủ nghĩa tư bản đổ hàng hóa xuống biển; bây giờ mới vỡ lẽ cái hay và cái dở của nó. Kiểu tàng trữ hàng trước đây như kiểu tàng trữ lương thực càng lâu càng lãi, giờ đã biến mất. Thủ đoạn đầu cơ tự nó phải đổi mới: nắm chắc thông tin; chộp hàng hời giá, bán nhanh, thu lãi nhanh cả gói (có khi chỉ qua một đêm trở thành tỷ phú). Nghệ thuật đầu cơ (trừ một số hàng bất động sản) xoay quanh vấn đề giá, xoay quanh trục giá, căng thời gian thành từng giọt, đẩy sự năng động kinh doanh đồng nghĩa với khả năng chỉ huy thời gian, tận dụng thời gian và luôn luôn tâm niệm thời gian là tiền. Nhưng nếu vậy thì đầu cơ kiểu ấy có gì là độc hại? Thực ra vấn đề lại là ở chỗ khác, ở chỗ kết hợp thoát thuế, buôn lậu. Và về lĩnh vực này thì bây giờ tài nghệ hoạt động quả là đến mức điêu luyện. Lậu từ khâu cấp giấy phép, định mức, định giá. Lậu A, lậu B trong thủ tục đấu thầu. Mức thuế cao thấp quá bất hợp lý nên lao đao hoặc là phất to, đánh thuế rồi mà vẫn là lậu. Lậu nổi, lậu chìm với nhiều tầng nấc. Dẫn đến nảy ra vấn đề: kinh tế ngầm của kinh tế ngầm! Chưa nói đến cái hại cho Nhà nước, mà đã quá mất công bằng ngay với các chủ thể kinh doanh.

2. Về hàng giả: Loại hàng không đúng tiêu chuẩn chất lượng này nói chung là trốn đăng ký kinh doanh, lừa lọc nhãn hiệu, không đáng giá tiền mua. Nó tác hại đến khách hàng và những người hưởng phúc lợi xã hội ở nhiều mức: hoặc giá trị sử dụng kém, tuổi thọ thấp; hoặc không có giá trị sử dụng (dược phẩm làm bằng bột mì, khoai tây…); hoặc thậm chí gây tai nạn chết người, giết người một cách vô nhân đạo (nhà sập, dược phẩm làm tăng bệnh…). Nên có cách nhìn rộng hơn để thấy hàng giả cũng còn rất nhiều “thể loại” khác dính dáng đến việc muốn làm vừa lòng cấp trên mang bệnh thành tích hoặc tham nhũng cả giây chuỗi. Nó được thể hiện ở đo lường và thống kê xô bồ, không trung thực, dẫn đến các công văn, các văn bản tổng kết, các quyết định cấp phát, văn bằng mang chất hàng giả. Cần nhớ rằng đo lường là khởi đầu của hạch toán, không có đo lường thì không có khoa học và phát triển khoa học. Đo lường giả hoặc mất chính xác dẫn đến tắc tị, phản khoa học, dẫn đến hàng giả…    

Thử tổng hợp lại các báo cáo nêu diện tích khai hoang để lấy tiền Nhà nước thì chắc chắn loại đất đai này đã… lấn sâu vào lãnh thổ các nước láng giềng! Chất lượng những dòng kênh mương đào đi đắp lại, những chiếc cầu đổ sập xuống sông nói rõ điều đó. Còn không ít những công trình xây dựng to đẹp, có thể sừng sững nhiều thập kỷ, nhưng thực chất cũng lại là một loại hàng giả kín đáo. Thương hại thay cho những vật vô tri vô giác đó không biết đã bị lừa, đã bị mất từ 30 đến 60% số tiền được cấp để hóa thân ra nó. Như vậy, bố mẹ nó là những hàng giả (dự án giả, thi công giả, chứng từ giả, kiểm tra giả…). Và ông tổ đáng kính của nó thì chính là những cán bộ giả, viên chức giả đã quá tỉnh táo và mê muội sáng tác, phù phép hàng loạt công đoạn kinh tế ngầm tuyệt diệu!..

3. Về tham ô – hối lộ: Đó là tên hai đứa con sinh đôi của tham nhũng. Một đứa ham muốn chiếm đoạt tài sản về cho cá nhân mình. Một đứa muốn bắt người khác cống nạp của cải cho mình. Đã thèm tiền bất chính thì sẽ tìm cách xoay tiền, hết cách xoay khôn ngoan thì phải tìm đến cách xoay trắng trợn là trộm cắp. Dân thường thì trộm cắp theo kiểu cổ điển, của thường dân. Người có chức quyền thì trộm cắp theo chiều sâu, phải động não để xuyên tạc các thủ tục, để lợi dụng sơ hở của các qui định, luật lệ, đẩy của cải xã hội xê dịch về nơi không đúng chỗ của nó. Đã muốn bắt người khác cống nạp thì phải nghĩ ra cách bắt cống nạp. Nhiều cách lắm. Nhưng cái cách làm dân bực nhất là giải quyết công việc lập lờ, bắt đóng thật nhiều dấu, mở thật nhiều cửa trước, cửa sau, “nghiên cứu” thật kỹ những điều không cần phải nghiên cứu, để trước hết là gây phiền hà về thời gian. Thời gian là tiền, có người mất thời gian thì có kẻ được tiền, mất và được tăng lên nhiều lần và bất hạnh rơi vào ai thì đã rõ.

Đất nước không còn vua, nhưng đã mọc ra quá nhiều quan hoạn xấu xa kiểu mới, lấp ló ở khắp cấp này, cấp nọ. Các thủ trưởng không đủ tư cách và tài năng điều khiển được họ thì họ điều khiển các thủ trưởng. Nhiều cách che mắt thế gian vừa mới, vừa cũ, dấu kín phần ngầm, xôm trò phần nổi, nhưng đều nằm trong cái mốt kinh doanh rất láu là khoét mạnh vào két Nhà nước. Họ vòng tay đằng sau “hồi” lại một khi đã nhận được những lô hàng ghi tăng giá cho công quĩ. Họ vòng tay đằng sau “hồi” lại sau khi tập thể lãnh đạo nhỏ nháy nhau thanh lý cả loạt tài sản với giá rẻ mạt mặc cho cơ sở tan hoang. Họ chờ bão lũ đi qua để trút những khoản từ lâu khó xử vào những tờ trình, biên bản thảm thiết! Họ lập nhiều hợp đồng với các đơn giá khác nhau, nhập nhèm đánh tráo tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác. Những khoản lãi xuất khẩu kếch xù không chia nhau nổi ở trong nước thì cho nó “đi nước ngoài” ít tháng rồi vòng về bằng hàng. Thiếu gì cách dấu doanh thu và lợi nhuận. Họ làm bạc giả bằng cách không đốt bạc thật rách để đổi đi đổi lại nhiều lần. Chi dăm bảy trăm ngàn thì bàn đi, bàn lại, chi hàng tỉ đồng thì lại “xong ngay”, vui vẻ nhẹ nhàng. Buồn cười cho nhiều cuộc tổ chức đấu thầu rôm rả trong khi ở nội thất cồng bà đã quyết! v.v… và v.v… Kịch cuộc đời quả là lắm ngóc ngách và hay hơn kịch trên sân khấu nhiều! Những màn diễn đó sẽ còn tiếp tục lố lăng và nguy cơ biết chừng nào khi chưa xây dựng được một đội ngũ cán bộ công nhân viên ngày càng trong sạch vững mạnh, khi chưa tạo ra được sự chênh lệch trí tuệ thật sự giữa trình độ quản lý kinh doanh, quản lý Nhà nước, trước các mưu toan thủ thuật của kinh tế ngầm.

Thời hiện đại, có nước có cơ cấu lực lượng kinh tế ngầm bộc lộ đến mức làm khuynh đảo không khí chính trị và sức mạnh của bộ máy Nhà nước, dẫn đến chạm trán vũ lực. Chưa có dự báo nào lường hết được những gì nguy hiểm sẽ diễn ra khi hoạt động của bọn chúng đã bắt đầu đánh cắp và buôn lậu nhiên liệu hạt nhân. Chúng không làm được bom H nhưng chúng có thể làm được bom A. Chúng không làm được tên lửa vượt đại châu nhưng chúng có xe tải để chở những những quả bom A cỡ nhỏ. Vốn liếng làm một kíp vũ khí này không quá sức đối với chúng, và chúng có USD giả. Có lẽ cũng không phải là cường điệu, quan trọng hóa vấn đề khi nghĩ rằng trong tương lai, việc khủng bố tống tiền bằng cách sử dụng một số con tin trên máy bay chẳng hạn, sẽ quá nhỏ bé so với việc sử dụng con tin là hàng triệu người dân ở một thành phố, một địa phương.

Đã có dấu hiệu của những sự phát triển tất yếu đầy tội ác. Đó là điều cần cảnh giác cho cả hành tinh. Và các quốc gia, các địa phương không thể nào coi thường mà phải nghiêm khắc ngăn chặn chúng, một khi lực lượng của chúng hãy còn ở qui mô có thể xử lý đỡ tốn kém hơn nhiều.

Tính phức – tạp – hệ – thống

Các triết gia cho rằng nghiên cứu và tranh luận là vô nghĩa đối với những gì đã được phơi bày hoặc còn kín mít, mà đối tượng của nó chỉ bao gồm trong những phần hãy còn hoài nghi. Khi nói đến kinh tế ngầm là sản phẩm của mọi nền kinh tế là muốn nói bản chất của vấn đề quản lý là cực kỳ khó khăn phức tạp. Chừng nào chưa hoàn chỉnh được vấn đề quản lý thì kinh tế ngầm vẫn còn tồn tại. Biết đến bao giờ mới hoàn chỉnh được vấn đề quản lý, dù là hiểu một cách tương đối? Có lý thuyết phân chia độ phức tạp của tất cả mọi thứ trên đời làm 9 cung bậc thì cơ chế sống của cơ thể con người được xếp bậc phức tạp thứ 5, hai bậc 7 và 8 hãy còn để trống, còn vấn đề quản lý được đặt vào bậc phức tạp cao nhất, bậc 9. Từ đó có thể thấy nguyên nhân tự thân dai dẳng của kinh tế ngầm.

Tuy nhiên, còn có rất nhiều nguyên nhân từ các góc độ khác. Mọi người đều biết việc thu thuế ra đời cùng lúc và tồn tại song hành của bộ máy Nhà nước. Biên chế bộ máy đó phải thích ứng với nguồn ngân sách. Một khi ngân sách không nuôi nổi bộ máy một cách hợp lý, một khi nền kinh tế chính thống trì trệ không đáp ứng nổi nhu cầu thu nhập tối thiểu của một bộ phận thành viên xã hội thì họ phải tìm những lối thoát kinh tế tự phát, hoặc là hợp pháp, hoặc là phá phách bất hợp pháp. Và hôm nay phá phách một thì ngày mai phá phách mười theo qui luật “ăn không biết no” của những kẻ đã rơi vào quĩ đạo của kinh tế ngầm độc hại. Mặt khác, trong bộ máy Nhà nước, trong xã hội còn có những người bất mãn, luôn luôn không bằng lòng với phương pháp và mức độ phân phối thu nhập ở qui mô chung, họ không chịu ngồi yên và chủ động vươn tới các đặc quyền đặc lợi một cách điên cuồng, làm rối loạn đời sống kinh tế xã hội. Trong cơ chế kinh tế thời bao cấp, chúng ta thấy rõ và phân biệt rõ người nông dân lao động và người nông dân đầu cơ. Phần kinh tế ngầm của nông dân cũng rất đáng kể và rất đáng ngại, song dù sao thì cũng chỉ là những hoạt động riêng lẻ rời rạc không kết gắn nhau và đã có sự ví von như “bị khoai tây” khi nói về tính chất cộng đồng của họ. Thật là không thấm thía vào đâu so với hàng triệu cái vòi đỉa đói của ý thức tư hữu ở các tầng lớp làm ăn bất chính đang bám chặt những nhân vật quyền lực thoái hóa, đang bám chặt các cơ chế chính sách đã quá lỗi thời, đang bám chặt sự tăng trưởng nói chung của công cuộc đổi mới. Vô vàn cách thức ma giáo điên rồ của quá khứ đã tái hiện vào những cái vòi mới mẻ, gớm ghiếc này, nhiều lúc với cả một hệ thống cố kết hoạt động vừa lộ liễu vừa tinh vi.

Tính phức tạp hệ thống của kinh tế ngầm độc hại, trước hết là ở chỗ hầu hết các trường hợp gây hại nghiêm trọng của chúng đều dính dáng với kinh tế chính thống. Có hai nhận xét sơ bộ:

1. Các đơn vị doanh nghiệp với mức độ kinh tế ngầm cài vào chưa mạnh thì kinh tế ngầm ở trường hợp này không thể phân tuyến rạch ròi về mặt con người xã hội. Dù cho chúng vẫn là một hệ thống năng động trong cơ chế hóa thân tổ chức, có sở trường chuyển thể và thâm nhập nhanh nhạy. Đôi khi chúng cũng để lòi cái đuôi của các bộ phận hợp thành bên dưới, còn những kẻ cầm đầu bên trên thì bí ẩn, ít xuất hiện, ít thay đổi, khó tìm, khó biết. Đây chính là lý do sinh ra một lớp người trung gian hoạt động chỉ trỏ. Chúng nằm trong một dây chuỗi, nhưng vẫn có tính độc lập ngăn cách, để tự bảo vệ yên ổn cho kẻ cầm đầu, và khi cần thì thay thế, thải hồi hoặc thí mạng cái đám tốt đen râu ria chân rết một cách nhẹ nhàng.

2. Ở mức độ quan hệ chặt chẽ, khi đơn vị doanh nghiệp chính thống đã bị kinh tế ngầm độc hại lấn át, đã tự nguyện hay buộc phải biến chất để hòa hợp thành chủ thể kép, vừa chính thống, vừa ngầm thì chủ thể kép này hoạt động vừa công khai vừa lẩn lút với một cơ chế hoạt động vừa đóng, vừa mở. Chúng hoạt động trong bóng tối, đóng kín với các cơ quan nội chính (nếu như chúng không lũng đoạn được) và một số cán bộ viên chức trong đơn vị đang còn lương tâm, trách nhiệm. Đồng thời chúng là một hệ thống mở đối với những người có quan hệ giao dịch qua các đường giây ngầm… Đó là hai vế tồn tại của chủ thể kép. Hai vế đó dường như luôn luôn mâu thuẫn, tránh né, rình mò theo dõi nhau ở trạng thái căng thẳng, ôm sào làm xiếc trên giây. Và chúng vẫn liều mạng biểu diễn khi đã có một sợi giây bảo hiểm vô hình buộc chặt ngang lưng chúng – đó là ô dù các loại.

Trong quá trình phát triển kinh tế ngầm, có thể có hiện tượng lẻ rất tiêu cực, nhưng nếu chỉ diễn ra một vài lần thì không đáng ngại, chỉ cần chộp chúng vào tù là xong. Cái chính là cần chú ý đến cơ chế xã hội tái sản xuất ra chúng để gạt bỏ ngay cơ chế đó, không cho chúng được phát triển theo chiều rộng. Dĩ nhiên kinh tế ngầm còn có kiểu phát triển theo chiều sâu. Một địa phương nào đó, có thể có số vụ chiếm đoạt tài sản công cộng giảm bớt nhưng tổng số giá trị thiệt hại thì lại tăng gấp nhiều lần, khi cơ cấu tổ chức của chúng đã lớn mạnh và được nâng cao từ tích tụ.

Hàng triệu cái vòi đỉa đói đang hàng giờ, hàng ngày vươn ra theo chiều rộng và to mập theo chiều sâu, chắc chắn chúng sẽ không dừng lại lâu trong đường biên của một địa phương, một đất nước. Một khi nền kinh tế chính thống mở cửa thì bản thân chúng cũng muốn tìm hút những thức ăn mới lạ từ bên ngoài. Điều tất yếu ngược lại, là những cái vòi bạch tuộc ở các xứ sở xa lạ sẽ sẵn sàng tiếp xúc chờ đón chúng. Và thường thường, chỗ giáp ranh bao giờ cũng xuất hiện những điều đáng được chú ý theo dõi, trong đó, chắc chắn có sự mai mối của các mưu đồ hoạt động diễn biến hòa bình.

 

 

 

Cuộc đấu tranh phòng chống

Cuộc sống sẽ đi tới đâu? – Sẽ đi tới chỗ mà chúng ta dắt nó tới. Lịch sử dặm đường trường tồn đồng hành lâu dài cái cũ và cái mới, cái xây dựng và cái phá phách, cái thiện và cái ác… như hai dòng đen đỏ chảy mãi trong huyết quản con người. Vấn đề là phủ định, là tồn tại, là phát triển. Khái niệm kinh tế ngầm, với dạng thuật ngữ nào đó, có thể đã có trong từ điển hay đang tiến đến chỗ đó. Còn điều chắc chắn là nó hiện diện trong nền kính tế như một thứ thuốc nổ tất yếu, tiềm tàng và nguy hiểm mà những ai quan tâm xã hội lành mạnh đều suy ngẫm và tự rút ra những nhận xét cho mình. Trong đấu tranh, người xưa đã từng có cái nhìn khái quát: biết mình, biết người, đánh đâu thắng đấy.

Khi kiến thức tăng thì sự bộc lộ dốt nát cũng tăng – triết lý đó nhắc nhở sự hoàn chỉnh quản lý phải làm thường xuyên lâu dài. Kinh tế chính thống đổi mới phát triển thì kinh tế ngầm lập tức đổi mầu và tăng tốc. Nó cũng có trở ngại và cũng có thời cơ, nhưng cơ bản, chất độc hại của nó dù ở nước XHCN hay ở nước TBCN đều giống nhau. Do vậy sẽ xảy ra nhanh chóng việc “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” để phối hợp lực lượng, để trao đổi hàng hóa (kể cả những hàng hóa đặc biệt như bí mật quốc gia, bôi nhọ danh nhân, miệt thị quá khứ…) và nhận làm đại lý, ký gửi đơn đặt hàng thực hiện các mưu đồ gây rối chống đối chế độ…

Nhân dân bao giờ cũng mong muốn bản chất tốt đẹp của Nhà nước nhanh chóng được thực hiện ở chỗ có việc làm, có kỷ cương và có tính văn hóa trong công việc điều hành xã hội. Cuộc đấu tranh chống kinh tế ngầm độc hại cần có quy trình vĩ mô kết hợp chặt chẽ với nhu cầu và khát vọng của quần chúng muốn được sống công bằng. Nhiều khi thực trạng tiêu cực không còn ở mức độ con sâu làm rầu nồi canh nữa, mà lúc nhúc cả lũ… Phải hạn chế những nguyên nhân phát sinh ra nó. Phải xử lý tính phức tạp hệ thống của nó để phòng chống nó có hiệu quả. Phải gỡ bỏ những gốc gác của nó như gỡ bỏ những đầu sán xơ mít đã móc chặt vào dạ dày cuộc sống. Bài thuốc chữa bệnh nan y xã hội này phải thực hiện từ ba phía: Người bốc thuốc, Người bệnh và Lực lượng điều trị.

Nghị quyết chỉnh đốn Đảng và chủ trương cải cách nền hành chính sẽ là bộ lọc nâng cao cái tốt, gạt bỏ cái xấu. Lực lượng cán bộ viên chức tin cậy và những người lao động lương thiện hiển nhiên luôn luôn đa số. Nhưng động lực của cuộc đấu tranh là gì? Mọi hoạt động xã hội sẽ dồn về chỗ hài hòa lợi ích theo quy luật phân phối, đồng thời trong quá trình vận động phải từng bước giải quyết vấn đề hài hòa lợi ích cho mọi đối tượng cụ thể. Cách mạng không bao giờ xóa bỏ giai cấp bóc lột này để sinh ra một giai cấp bóc lột khác tồi tệ hơn. Pháp luật chỉ có một khái niệm đối tượng duy nhất là “công dân”. Pháp luật là những quy định tối thiểu cần thiết buộc mọi người phải tuân theo, song có nhiều hành vi không phạm luật mà vẫn là xấu, là tiêu cực. Đạo đức có thiên chức điều chỉnh những khoảng trống vắng đó. Đạo đức là sự tốt lành tối đa mà mọi người cần vươn tới. Xây dựng cách sống kết hợp pháp luật và đạo đức để loại trừ cách sống “trắng” bàng quan ích kỷ, để giữ vững sự ổn định và đấu tranh với mọi thế lực trì trệ. Người hành pháp có phần quyền và phần chức năng bổn phận, không được biến bổn phận thành quyền, không được làm rối tung lên những luật lệ vốn rất rõ ràng… để gây phiền hà tham nhũng. Công dân không được lợi dụng dân chủ để làm trái, để thực hiện những ý đồ cá nhân có hại cho xã hội. Có phải vấn đề đọng lại bây giờ là làm như thế nào? Hay biết rồi mà không chịu làm? Cuộc đấu tranh phòng chống kinh tế ngầm độc hại mang tính tổng hợp và đồng bộ. Việc lập kế hoạch khái quát là cần thiết, tuy nhiên cái quyết định là phải khắc phục quan liêu, phải tác nghiệp tổng hợp thường xuyên, giải quyết hàng loạt vấn đề cụ thể, hàng loạt vụ việc cụ thể một cách kiên quyết, lấy hiệu quả gây niềm tin, lấy niềm tin đẩy tiếp hiệu quả…

Nói cho cùng, hầu hết những hoạt động kinh tế ngầm độc hại cuối cùng đều phải trả giá: tử hình, nhà tù, sự khinh bỉ của xã hội, bố làm con phá… Và cũng sẽ sai lầm nếu hẹp hòi nhầm lẫn cách nhìn để dẫn đến bình quân chủ nghĩa, dẫn đến trì trệ níu kéo công việc và gây tâm lý hoài nghi tất cả. Ngày trước, có ông quan phong kiến Đặng Huy Trứ đã sắp xếp được 104 kiểu hối lộ, trong đó có dăm ba kiểu, theo ông, có thể nới tay. Như vậy có sự giấp giới giữa pháp luật và đời thường, giữa cái tốt và cái chưa rõ, qua sự xen ngang của phong tục, của quan niệm. Không ai sống bằng nước lã, nhưng sự mưu cầu giàu sang chính đáng luôn luôn gắn bó với tâm hồn thanh thản. Xã hội có cái “barie” của xã hội, và mỗi người cũng phải tự hình dung ra cái “barie” của mình. Cách nhìn, cách đánh giá của đông đảo những người lương thiện bao giờ cũng là cái đòn cân tỉnh táo của trình độ văn hóa.

 

                                                                                       Biên soạn: 1990

                                                                                In báo: 1994

                                                                                In sách: 2002

 

Từ Lỗ Tấn đến Mạc Ngôn – nghĩ về hội chứng ăn thịt người trong văn học Trung Quốc – nguyentuongthuy

20 Th10

Từ Lỗ Tấn đến Mạc Ngôn – nghĩ về hội chứng ăn thịt người trong văn học Trung Quốc

Trần Mạnh Hảo

 

“Mình là một kẻ có truyền thống ăn thịt người trên bốn nghìn năm”…”Mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”…

(Lỗ Tấn – Nhật Ký người điên)

Viết kỷ niệm 76 năm ngày giỗ của đại văn hào Lỗ Tấn ( 19.10.1936 – 19.10.2012)

Lỗ Tấn là nhà văn Trung Quốc nổi tiếng, bậc thầy thể loại truyện ngắn, người đặt nền móng cho văn chương hiện đại Trung Quốc. Chủ đề “truyền thống ăn thịt người của dân tộc Trung Hoa” ám ảnh suốt những trang văn của ông như một lời cảnh báo nước Trung Hoa đã, đang và sẽ bị chủ nghĩa DUY ÁC thống trị.

 Mạc Ngôn, người vừa được giải Nobel văn chương là một hậu duệ tuyệt vời của Lỗ Tấn, vẫn tiếp tục đưa món thịt người khoái khẩu Trung Hoa vào văn chương của mình, đặng hoàn tất hành trình mấy nghìn năm văn học  Trung Quốc về nỗi ám ảnh người ăn thịt người. Tác phẩm Mạc Ngôn có chuyện ăn thịt người thật ru ? Có đấy, hồi sau sẽ rõ.


Ngay sau khi nhận giải văn chương Nobel, trả lời một báo Pháp, Mạc Ngôn nói ông thích nhất tác phẩm “Tam quốc chí” của La Quán Trung. Ngày bé, đọc “Tam quốc chí”, kẻ viết bài này quá kinh hãi khi đọc đến đoạn có một người ái mộ Lưu Bị ( lúc còn hàn vi) đến mức mời vị hoàng thân nhà Hán này đến nhà chơi, nhưng vì nghèo quá, không có gà lợn ngan ngỗng, đã giết thịt bà vợ yêu quý của mình làm bữa cỗ thịnh soạn đãi Lưu Bị.

Trong danh tác “Thủy hử” của Thi Nại Am, bàng bạc một không khí ăn thịt người, bánh bao nhân thịt người, thịt người giả thịt nai, thịt người ngon hơn thịt lợn dê hay trâu bò khiến người đọc có khi nổi da gà vì thú ăn thịt người của dân Trung Hoa. Nhân vật Lý Qủy giả làm Lý Qùy chuyên chặn đường giết người cướp của. Khi Lý Qùy bắt được Lý Qủy, bèn ngả anh này ra cắt tiết làm thịt như làm thịt một con chó, rồi ăn ngon lành trong mấy ngày túy lúy mồi ngon rượu ngọt…

Vợ chồng Trương Thanh & Tôn Nhị Nương trong “Thủy Hử”trước khi lên Lương Sơn Bạc từng làm nghề giết thịt người để ăn, đem thịt người giả làm thịt bò, thịt heo mang ra chợ bán. Hai vợ chồng này mở quán bán các món nhậu làm bằng thịt người trên đồi Thập tự, chuyên đánh thuốc mê giết người xẻ thịt. Võ Tòng đả hổ chỉ chút nữa đã bị Tôn Nhị Nương thọc tiết như heo…

Trước khi lên Lương Sơn bạc, Tống Giang suýt nữa đã bị mổ bụng lấy gan làm thuốc giải rượu cho đầu lĩnh Trương Anh…

Tuyệt tác “ Tây Du ký” của Ngô Thừa Ân mô tả sư phụ Trần Huyền Trang và đệ tử Trư Bát Giới đi thỉnh Kinh Thiên Trúc đã mấy lần bị yêu quái, bị bọn đầu lĩnh lục lâm thảo khấu toan làm thịt ăn nếu không có đệ tử Tôn Ngộ Không kịp đến cứu thoát…Ngay cả một số nữ yêu quái xinh đẹp cũng thèm ăn thịt nhà sư điển trai này…

“Đông Chu liệt quốc” từng kể nhiều chuyện ăn thịt người như là một truyền thống văn hóa Trung Hoa. Chỉ xin nêu ra mấy thí dụ :

Tề Hoàn công được coi là minh quân thời Xuân Thu, từng làm chủ soái chư hầu trong 35 năm, được sử phong là vua tốt có văn hóa “Hoàn văn”, lại chỉ thèm món thịt trẻ con, nghe nói ngon lắm mà mình chưa được ăn. Dịch Nha là bề tôi nịnh thần chiều ý nhà vua, bèn về đè con trai thừa tự của mình ra giết thịt, làm ra các món ngon tuyệt dâng Tề Hoàn công. Tề Hoàn công khen món thịt trẻ con ngon nhất trần đời, bèn ngỏ ý tháng nào cũng ăn cho đỡ nhớ…

Một thuở Nước Sở vây thành nước Tống. Người Tống hết lương thực, bèn đổi con cho nhau mà giết ăn, còn xương trẻ con thì dùng thay củi nhóm lửa để nhà này xào nấu thịt trẻ con nhà khác và ngược lại…

Tấn Châu Xước bắt được hai tướng nước Tề là Thực Xước và Quách Tối bèn giết thịt ăn, da hai ông này dùng làm nệm trải gường vừa êm vừa ấm…

Đến các thủy thần trên hàng nghìn con sông lớn bé Trung Hoa mỗi năm cũng ăn thịt đến hàng trăm ( có thể hàng nghìn) gái trinh vô tội. Mỗi lần thủy thần dâng vỡ đê lụt lội, dân làng lại phải ném một cô gái trinh còn sống xuống sông cho Thủy thần ăn tươi nuốt sống…

Sử Trung Hoa chép : Lã hậu vợ Lưu Bang Hán Cao tổ từng giết đại tướng Hàn Tín rồi băm nát như tương để làm mắn ông này, đoạn gửi cho các chư hầu ăn món mắn Hàn Tín để thấy thứ mắn tuyệt chiêu của nhà Hán có ngon không ?

Thuở Phục Ba tướng quân Mã Viện chinh nam đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, bị Hai Bà đánh trả tới cùng. Khi bị quân Hán dùng kế tiện nhân cởi truồng tấn công nữ binh của Nữ vương Việt, quân Việt xấu hổ quá đã thua trận. May mà Hai Bà nhảy xuống Hát giang trầm mình tự tử; nếu không, Hai Bà không may rơi vào tay Mã Viện, chắc chắn đã biến thành hai hũ mắn gửi về dâng vua Hán dùng thử xem mắm làm bằng thịt hai vua bà xứ Man di này ngon tới đâu ?

Dân tộc Trung Hoa có nền văn minh sớm vào bậc nhất thế giới. Ngay từ thời cổ đại, Trung Hoa đã sinh ra nhiều vị thánh tuyệt vời cứu nhân độ thế : Khổng tử, Mạnh tử, Lão tử, Trang tử, Chu Văn Vương, Mặc tử, Tuân tử…Thời bách gia chư tử ( Xuân Thu Chiến quốc) là thời loạn lạc nhưng cũng là thời nở hoa nhân bản của hàng chục nhà lấp thuyết nhân văn giúp nền văn minh Trung Hoa hướng thiện.

Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân sinh năm 1881 ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, mất ở Thượng Hải 1936

Lẽ nào, trong một xứ sở có nền văn minh xuất chúng như thế, nơi ánh sáng của triết học, thi ca rạng ngời như thế, lại cũng là nơi mà cái ác, cái xấu xa ghê tởm của thói người ăn thịt người dã man tới mức đầu thế kỷ XX, văn hào Lỗ Tấn còn đau đớn thốt lên cái thuộc tính Trung Hoa ăn thịt lẫn nhau kia kinh tởm đến vô cùng bằng truyện ngắn “ Nhật ký người điên”, viết về một trí thức chống lại chế độ man rợ bị nhà cầm quyền vu cho là điên và bắt nhốt chuẩn bị làm thịt. Xin quý vị đọc một ít đoạn trích từ truyện ngắn này, như sau :

“…Mấy hôm trước, người tá điền bên thôn Lang Sói sang báo mất mùa, kể chuyện với ông anh mình rằng bên ấy, có một tên đại ác vừa bị người ta đánh chết. Có kẻ đến moi tim moi gan đem về rán mỡ ăn cho được can đảm. Mình nói xen vào mấy câu thì ông anh và người tá điền trố mắt nhìn. Hôm nay, mới biết là ánh mắt họ cũng giống hệt ánh mắt những người gặp ngoài đường kia! 

Nghĩ lại mà lạnh từ đầu đến chân.
Họ đã ăn được thịt người thì vị tất lại không ăn được thịt mình!
Rõ ràng câu nói “Ăn thịt mày một miếng…” của người đàn bà nọ, tiếng cười của những người mặt tái mét, răng nhọn hoắt kia, và mẩu chuyện của người tá điền hôm trước, đều là những ám hiệu cả. Mình thấy rõ trong lời nói của họ có thuốc độc, trong giọng cười họ có dao găm. Răng thì nhăn ra trắng hếu. Toàn là bọn ăn thịt người!
Theo mình nghĩ, tuy mình không phải là một người ác, nhưng từ ngày mình giẫm lên cuốn sổ ghi nợ của cụ Cố Cữu, thì không còn thể nói chắc được nữa. Hình như họ có ý định gì, không thể nào đoán ra được. Huống hồ, họ giở mặt một cái là có thể đổ riệt cho người ta là người ác. Còn nhớ hồi ông anh bầy cho mình làm luận. Mặc dù nhân vật đem ra bàn tốt đến đâu, hễ tìm được cách chê vài câu là ông ta khuyên cho mấy khuyên. Và đối với những nhân vật xấu, hễ lựa lời bào chữa, là ông ta phê ngay bên cạnh “Phiên thiên diệu thủ, dữ chúng bất đồng ” (Có tài biện luận! Độc đáo!). Như vậy thì mình làm sao đoán biết được tâm địa họ thế nào? Huống hồ khi họ đã muốn ăn thịt mình!
Việc gì cũng phải suy nghĩ mới vỡ nhẽ. Cổ lai, việc ăn thịt người thường lắm, mình cũng còn nhớ, nhưng không được thật rõ. Liền giở lịch sử ra tra cứu thử. Lịch sử không đề niên đại, có điều trang nào cũng có mấy chữ “nhân, nghĩa, đạo đức” viết lung tung tí mẹt. Trằn trọc không sao ngủ được, đành cầm đọc thật kỹ, mãi đến khuya mới thấy từ đầu chí cuối, ở giữa các hàng, ba chữ: “Ăn thịt người”.
Những chữ đó trên trang sách và những lời nói của người tá điền cũng lại cười khì khì và trợn mắt nhìn mình một cách quái gở.
Mình cũng là người, họ định ăn thịt mình thật!

Dịch Nha(8) nấu thịt con cho Kiệt, Trụ ăn. Đó là chuyện ngày trước. Ai biết được từ khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, người vẫn ăn thịt người, cho đến con Dịch Nha, và từ con Dịch Nha cho đến ông Từ Tích Lâm(9) rồi từ ông Từ Tích Lâm cho đến cái anh gì bên thôn Lang Sói! Năm ngoái, trên tỉnh có mấy tên phạm nhân bị chém, còn có người mắc bệnh lao lấy bánh bao chấm máu liếm(10).

Đứa em gái mình bị ông anh ăn thịt, mẹ có biết thế hay không, mình làm sao hiểu được! 

Nghĩ có lẽ mẹ cũng biết. Chẳng qua khi khóc, mẹ không nói ra đó thôi. Chắc cũng cho là phải. Còn nhớ hồi lên bốn lên năm, mình đang ngồi hóng mát trước nhà, nghe ông anh nói rằng: Cha mẹ ốm đau, con phải cắt một miếng thịt, nấu chín, dâng cho cha mẹ, mới là có hiếu. Mẹ cũng không cãi lại. Ăn được một miếng thì tất nhiên có thể ăn cả con người. Nhưng bây giờ nhớ lại thì hôm ấy, nghe mẹ khóc, thương tâm quá đi mất! Thật là một chuyện lạ lùng!

XII

Không thể nghĩ được nữa.
Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay”(hết trích)

 

Lỗ Tấn mang trong mình cả một nước Trung Hoa cổ hủ và tàn ác, hèn hạ và dối trá, nghèo đói và thất học trong cơn mê ngủ ảo tưởng về mình đang bị các đế quốc xâu xé. Ông sinh ra trong cuối thời Thanh mạt, từng chứng kiến ông nội mình bị vua Quang Tự ra lệnh xử tử hình vì tội hối lộ trong trường thi.

Khi nhìn thấy trong phim cảnh người Nhật chém đầu một người Trung Hoa mà dân Trung Hoa lại hí hửng chen nhau xem cảnh ô nhục đó, Lỗ Tấn bèn bỏ giở ngành y ông đang học tại Tokio, về nước dùng ngòi bút cứu nước. Ngay khi còn học tại Nhật, ông đã tham gia “Quang phục hội” là hội của những người sau này tham gia cách mạng Tân Hợi ( 1911) lật đổ nhà Thanh tạo ra Trung Hoa Dân quốc.

Lỗ Tấn cho rằng căn bệnh trầm kha của Trung Hoa là căn bệnh tinh thần, căn bệnh ảo tưởng, mê ngủ kinh niên, phải chữa bằng ngòi bút chứ không thể chữa bằng dao kéo hay ống chích y khoa. Liệu Lỗ Tấn có thể chữa nổi căn bệnh ung thư tinh thần của nước Trung Hoa lên cơn thèm thịt đồng loại đang trong giai đoạn ung thư cuối cùng này chăng ?

Ông nhìn thấy nước Trung Hoa chính là một con bệnh điên đang bị giam nơi nhà tù có tên là lịch sử trong ám ảnh bị thời đại ăn thịt, như suốt bốn nghìn năm hội chứng ăn thịt nhau phải chăng là nghiệp chướng Trung Hoa ? “Nhật ký người điên” là tác phẩm đầu tay viết năm 1918 lại cũng chính là một kiệt tác của Lỗ Tấn.

Ông nhìn thấy nước Trung Hoa, dân Trung Hoa trong số phận của chú AQ khờ khạo, ngu dốt, khôn lỏi, cả tin, ấm ớ dễ bị lừa, ảo tưởng, tự huyễn hoặc mình, tự lừa mình bằng phép thắng lợi tinh thần luôn luôn là miếng mồi ngon cho các triều đại, cho các thể chế chính trị trên đất nước rồng điên này ăn thịt.

Một anh nông dân điển hình AQ vừa đói, vừa dốt, vừa hèn hạ khôn vặt, vừa ảo tưởng vừa rất thiêu thân, dễ bị

kích động, ấm ớ, mơ ngủ…sao có thể làm cách mạng? Chẳng qua cũng chỉ là thứ cách mạng a dua, thứ cách mạng súc vật. Hàng tỉ anh AQ này chỉ là phương tiện cho bọn cai chính trị, bọn lãnh tụ buôn chính trị, buôn cách mạng lợi dụng tính cả tin ngu xuẩn, tính thiêu thân khi bị kích động, bị bơm nước đường của AQ, để rồi cuối cùng chú và các chú thành nạn nhân của cách mạng.

Thiên tài Lỗ Tấn bằng truyện “AQ chính truyện” đã tiên đoán số phận bi kịch của hàng trăm triệu các chú nông dân thất học, đói rách, tự dối lừa mình và bị bọn cai đầu dài cách mạng lừa dối, dụ dỗ đi tìm thiên đường ảo tưởng; để rồi anh em nhà AQ bị cuộc cách mạng cộng sản tàn bạo nhất trong lịch sử bốn nghìn năm ăn thịt người của nước Trung Hoa giết hoặc bị chết đói ngót trăm triệu nhân mạng trong thời cải cách ruộng đất, thời hợp tác hóa, thời đại nhảy vọt, thời cách mạng văn hóa (cách mạng phản văn hóa, diệt văn hóa mới đúng).

Tác phẩm “AQ chính truyện” là kiệt tác hàng đầu của Lỗ Tấn được in trong tập truyện “Gào thét” ( 1923). Năm 1926, tập truyện lừng danh của Lỗ Tấn có tên là “Bàng Hoàng” ra đời đưa ông lên vị trí số một của văn đàn Trung Hoa về thể loại truyện ngắn. Ngoài ra, Lỗ Tấn còn xuất bản thêm bảy tập tạp văn kiệt xuất.

Viết truyện ngắn “Thuốc” kể lại chuyện bài thuốc gia truyền kinh tởm chữa bệnh lao của người Trung Hoa bằng cách ăn bánh bao chấm máu tử tội bị chém đầu. Các sách giáo khoa văn từ phổ thông lên đại học của Trung cộng và Việt cộng dạy về “Thuốc” rằng: Lỗ Tấn lên án chế độ phong kiến giữ nhiều hủ tục man rợ, chủ trương ngu dân để dễ cai trị.

Không, chế độ phong kiến Trung Hoa mấy nghìn năm không hề chủ trương ngu dân mà luôn khuyến học, trọng kẻ sĩ: “nhất sĩ nhì nông”, “nhân bất học bất tri lý”…

Trong lịch sử nhân loại, chỉ những người cộng sản mới chủ trương ngu dân để dễ cai trị bằng cách diệt trí thức: “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”, coi trí thức không bằng cục phân (câu nói của Lê Nin được Mao nhắc lại”

Viết truyện “Thuốc”, Lỗ Tấn công bố một tư tưởng sâu sắc rằng máu (tức cách mạng bạo lực “súng đẻ ra chính quyền” của Mao) mãi mãi không thể là phương thuốc chữa nổi con bệnh Trung Hoa, không cứu nổi nước Trung Hoa chìm trong cơn mê ảo tưởng, lạc hậu, nghèo hèn. Mao đã vay máu của hàng trăm triệu chú AQ, chắc chắn chỉ có thể trả bằng máu…Và quả thực, lời tiên tri bằng văn học của Lỗ Tấn rất chính xác: Mao Trạch Đông đã tắm máu nước Trung Hoa không phải chỉ một lần. Mao còn tìm cách tắm máu các dân tộc khác bằng món bánh bao chấm máu người có tên là “tư tưởng Mao Trạch Đông”…

Trước hết, phải khẳng định một sự thực, rằng Lỗ Tấn chưa bao giờ là một người cộng sản, mặc dù ông từng là bạn thân một nhà văn, một lãnh tụ cộng sản Trung Hoa là Cù Thu Bạch (bị Quốc Dân đảng xử bắn năm 1935). Ông từng cùng với Cù tiên sinh lập ra phong trào Tả liên – các nhà văn cánh tả. Lỗ Tấn mãi mãi là một người quốc gia, yêu nước Trung Hoa của người nghèo khổ bị cả bốn nghìn năm quan quyền bần cùng hóa, AQ hóa…

Chính là Mao Trạch Đông đã “vơ  vào”, đã lôi tên tuổi kiểu nhận vơ ông vào phong trào cộng sản của mình sau khi ông chết năm 1936, để gọi ông là nhà văn vô sản số một Trung Hoa, là tấm gương cách mạng Trung Hoa, coi ông như là Goocki của Trung quốc.

Từ năm 1949 Trung Quốc đã cho dạy văn chương Lỗ Tấn trong nhà trường, từ năm 1954 ở Việt Nam cũng dạy học về Lỗ Tấn y chang Trung Quốc, đều dùng lăng kính cộng sản để soi vào văn Lỗ Tấn, biến ông thành công cụ tuyên truyền cho đảng cộng sản chính là công cuộc giết chết  văn tài Lỗ Tấn.

Giả sử trời cho Lỗ Tấn sống thọ đến U 90, thì năm 1966, năm Mao làm cách mạng văn hóa, chắc chắn Lỗ Tấn đã phải bị đấu tố tới chết hoặc cùng đường phải tự tử như Lão Xá mà thôi.

Suốt cả đời, Lỗ Tấn luôn chống chủ trương ngu dân của những kẻ nhân danh cách mạng, như ông viết trong lời tựa tập truyện “ Gào thét”(1923), như sau:

 “Dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khỏe mạnh, cường tráng chăng nữa, cũng chỉ có thể làm thứ người mà người đưa ta đưa ra chém đầu thị chúng và làm thứ người đứng xem cuộc thị chúng vô vị như thế kia mà thôi.. Cho nên, điều chúng ta cần phải làm trước là biến đổi tinh thần họ, và theo tôi hồi đó, thì muốn biến đổi tinh thần họ, tất nhiên không gì bằng dùng văn nghệ…” (Tựa viết lấy cho tập Gào thét, Trương Chính dịch)

Tinh thần ngạo nghễ nhưng hiền dịu, nhu mì của Lỗ Tấn chừng như giấu ẩn trong câu thơ tuyệt vời này của ông :

Hoành mi lãnh đối thiên phu chi
Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu.

Xin tạm dịch là:

Trợn mắt xem khinh ngàn lực sĩ
Cúi đầu làm ngự các nhi đồng.

 

Lỗ Tấn một bác sĩ chữa bệnh tinh thần cho nước Trung Hoa rất tài giỏi, gọi tên căn bệnh ấy là bệnh mê ăn thịt người, bệnh ảo tưởng cho cái ngu của mình là tài giỏi, cho cái ấm ớ của mình là minh triết, cho cái hèn hạ của mình là anh hùng, cho cái tàn ác vô song của mình là thiện căn…Nhưng căn bệnh tinh thần của đời mình, Lỗ Tấn chừng như không chữa nổi.

Một người có tham gia vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào cuộc cách mạng Tân Hợi, xóa bỏ mấy nghìn năm phong kiến, trao nước Trung Hoa vào tay nhân dân gọi là dân quốc, thế mà Lỗ Tấn vẫn còn bị hủ tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đó hành hạ một đời. Đang du học tại Nhật thì mẹ ông là Lỗ Thụy gọi về cưới vợ. Cuộc hôn nhân không có tình yêu này là bi kịch cả đời ông.

Đêm tân hôn ông mới biết mặt cô dâu Chu An là một phụ nữa xấu, lại mù chữ nên suốt cả đêm động phòng hoa chúc, ông quyết không động phòng, thức đến sáng đọc sách. Và cả đời ông cho đến chết vẫn không hề động phòng với bà vợ lấy do mẹ ông chọn. Cuộc hôn nhân này đã là nấm mồ chôn bà Chu An ngay trên cõi dương thế. Và tâm hồn ông chừng cũng bị chôn sống trong nỗi đau khổ cô đơn, khi nhìn thấy sự bất hạnh ghê gớm của bà vợ Chu An bị chữ hiếu cực đoan của mình giết chết ngay trong cõi sống…

May là cô sinh viên của ông: Hứa Quảng Bình đã đến yêu ông và trở thành vợ hai của ông, cho ông một đứa con trai nối dõi.

Bi kịch từ nhau của người em ruột Chu Tác Nhân (cũng là một nhà văn, một giáo sư đại học) vì chuyện không đâu do cô vợ ngươi Nhật của ông em ghét anh chồng, vu cho Lỗ Tấn rình xem trộm em dâu tắm, đã trở thành nỗi đau lớn trong tâm hồn Lỗ Tấn, cùng với nỗi đau không một lần ân ái với bà vợ cả do không có tình yêu, khiến ông sinh bệnh mà chết sớm lúc 55 tuổi.

Sau 13 năm Lỗ Tấn qua đời, nước Trung Hoa đã rơi vào tay bạo chúa Mao Trạch Đông. Mao nhất quyết dùng máu, hơn nữa dùng cả biển máu chữa căn bệnh Trung Hoa bằng mấy cuộc tắm máu sau: năm 1949 sau chiến thắng do cuộc tranh hùng Mao-Tưởng, Mao đã tắm máu hàng triệu đảng viên Quốc Dân đảng, rồi cuộc tắm máu cải cách ruộng đất, cuộc đại chết đói do phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đại chết đói trong cuộc đại nhảy vọt, cuộc đại tắm máu 1966 cách mạng văn hóa…

Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử Trung Hoa mà cái ác, cái xấu, cái đểu cáng dối lừa lại được tôn vinh đến thế. Chưa bao giờ máu Trung Hoa lại đổ nhiều đến thế, hội chứng ăn thịt người lại trở thành kinh khủng như dưới thời Mao đến thế. Xin quý độc giả xem hai đoạn trích dưới đây :

 “Ngày 27-5-2012, Tân Hoa xã đưa tin, công an đã bắt Trương Vĩnh Minh, 56 tuổi, người thôn Nam Môn, thị trấn Tấn Thành, huyện Tân Ninh, tỉnh Vân Nam vì bị cáo buộc giết người hàng trăm người để ăn thịt và lấy thịt người giả làm thịt đà điểu đưa ra chợ bán nhiều năm.

Năm 1992, vợ chồng ký giả Nicholas D.Kristof và Sheryl Wudunn của tờ New York Times tìm được một số hồ sơ tiết lộ chi tiết về những vụ ăn thịt người tập thể trong giai đoạn Đại cách mạng văn hóa tại một số khu vực ở tỉnh Quảng Tây hồi cuối thập niên 60.

Theo những tài liệu kể trên, đã có ít nhất 137 người đã bị ăn thịt – mỗi nạn nhân bị cả chục người cùng ăn. Hầu hết những người liên quan đến việc ăn thịt người tại tỉnh Quảng Tây chỉ bị phạt nhẹ sau khi kết thúc Đại cách mạng văn hóa.

Theo cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng: Trong tình cảnh này xuất hiện nạn ăn thịt người ở tỉnh Tứ Xuyên và nhiều nơi khác – khi chôn người chết chỉ vùi sơ sài, đợi đến tối bới lên lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng.

Tàn nhẫn nhất là nạn ăn thịt trẻ con ở Đội sản xuất số 1, Đại đội 5, Công xã Đông Dương, huyện Sùng Khánh, khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.

Đội sản xuất này có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong 1 năm (từ tháng 12-1959 đến tháng 12-1960) đã có 48 bé gái (từ 7 tuổi trở xuống) bị người lớn làm thịt và 83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người.

Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện tình trạng ăn thịt trẻ con bởi khi đó tuy nhà ăn tập thể đã ngừng hoạt động trên thực tế vì không còn lương thực, nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp.Các gia đình đổi con cho nhau để giết thịt chúng cho bớt đau lòng.

Đêm ấy, đến lượt Vương Giải Phóng cùng 2 người khác đi tuần và họ phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Khi ập vào nhà Mạc Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, còn lại 6 người, nhưng khi đó chỉ thấy có 5 bởi bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết, xẻ lấy thịt và đang luộc trong nồi.

Trong lúc tổ tuần tra tìm cây trói can phạm, Mạc Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài, ăn ngấu nghiến. Lãnh đạo địa phương sau khi cân nhắc đã quyết định ỉm vụ này đi vì sợ bị kỷ luật – sau 1 ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa được phóng thích.

Những tưởng các câu chuyện kể trên chỉ có thể diễn ra trong thời kỳ “đói kém”, nhưng sự kiện Trương Vĩnh Minh thực sự khiến dư luận bị sốc bởi bởi lẽ xã hội Trung Quốc ngày nay không làm gì có chuyện đói kém đến thế.

Ngày 225-2012, Vince Weiguang Li, người nhập cư gốc Trung Quốc không bị kết án cho dù đã chặt đầu và ăn thịt Tim McLean trên xe buýt Greyhound ở Canada trước sự chứng kiến của hành khách hôm 30-7-2008 bởi ông ta bị coi mắc bệnh tâm thần phân liệt chứng hoang tưởng.”

http://www.tienphong.vn/the-gioi/579975/Su-that-chuyen-an-thit-nguoi-o-Trung-Quoc-tpol.html

Báo chí Hàn Quốc đưa tin từ tháng 8.2011 hải quan Hàn Quốc đã ngăn chặn tới 35 vụ buôn lậu thuốc làm từ thịt trẻ em tán bột và cho rằng chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ đã tịch thu 17.451 viên được cất giấu trong hành lý của du khách hoặc chuyển qua đường bưu điện. Nhiều người cho rằng, loại thuốc này có khả năng trị bách bệnh và tăng cường sinh lực. Cơ quan Giám định pháp y quốc gia Hàn Quốc đã kiểm định, cho thấy 99,7% thành phần trong viên thuốc tương ứng với ADN của người.

Có nhiều thông tin khác nhau về thứ thuốc “thịt người” này. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng đó chỉ là những mẩu nhau thai được lấy từ các bệnh viện phụ sản, mà theo y học cổ truyền, đó cũng là những vị thuốc chữa bệnh. Nhưng một đài truyền hình lớn của Hàn Quốc đã mất công điều tra công nghệ làm thuốc kinh hoàng này. Những người trực tiếp chế thuốc dường như không có cảm giác ghê tay. Họ cắt nhỏ từng xác thai nhi ra thành từng mảnh, sau đó đưa vào lò vi sóng sấy khô. Khi những lớp da và thịt đã khô cong, những miếng nhỏ này được đưa ra, bỏ vào máy nghiền, hoặc máy đập để tán nhỏ thành bột. Sau đó, chất bột này được trộn đều với các loại thảo dược theo tỷ lệ vừa đủ để đóng thành viên nang hòng che giấu thành phần thực sự của nó với mục đích đánh lừa các nhà điều tra y tế và các nhân viên hải quan…”

http://nhavantphcm.com.vn/doc-duong-van-hoc/lo-tan-cung-that-kinh-%E2%80%9Cthuoc-thit-nguoi%E2%80%9D.html

Lỗ Tấn hình như đã truyền lại cho hậu duệ Mạc Ngôn ám ảnh một nền văn minh nghiện ăn thịt người suốt bốn nghìn năm? Trong các tác phẩm của Mạc Ngôn có thấy nhân vật nào giết thịt người  ăn đâu? Nhầm!

Chả lẽ con người chỉ có thể xác mà không có tâm hồn ru? Này nhé, các nhân vật của Mạc Ngôn hầu như đã bị bọn quan quyền, bọn buôn cách mạng,bọn đầu lậu chính trị ăn thịt hết linh hồn họ là gì?

Cứ nhìn các bà các chị trong “ Mông to vú nở” bị cán bộ nông trang buộc rọ vào miệng khi bóc vỏ đậu để họ khỏi ăn hạt đậu sống vì đói, thì họ có khác gì con vật đâu ? Những người đàn bà này và hàng ngót tỉ chú AQ tân thời hình như đã bị tà thuyết của các bác ăn thịt hết linh hồn, khiến họ sống y như súc vật đó sao?

Xin hãy đọc dòng văn học vết thương được mở đầu bằng truyện “Chủ nhiệm lớp” (1977) của nhà văn Tứ Xuyên Lưu Tâm Vũ, các tác giả kế tiếp: Lý Bích Hoa, Tông Phác, Trương Khiết, Trần Thế Cưu, Trịnh Nghĩa, Vương Á Bình, Vương Tống Hán, Ngô Cường, Lục Văn Phu…Rồi đến các tác phẩm của Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Vương Mông…Hầu hết các nhân vật bi kịch của dòng văn học vết thương nơi các tác giả trên đều đã bị tà thuyết của bác Mao ăn thịt hết linh hồn…

Văn học mô tả con người ăn thịt thân xác nhau đã kinh khiếp như Lỗ Tấn đã viết; chẳng lẽ việc con người bị kẻ khác ăn thịt hết linh hồn của mình như nhân vật của Mạc Ngôn lại ít kinh hãi hơn sao ?

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin nhắc các vị cầm quyền Việt Nam rằng, đừng quên chuyện Trương Phụ tướng nhà Minh sang cướp nước ta vẫn thích ăn thịt người dân Việt, đã tiếp sứ thần/

Nguyễn Biểu thay mặt vua hậu Trần là Trùng Quang đến gặp tướng nhà Minh Trương Phụ cầu hòa. Trương Phụ đãi sứ Việt ngay trên đất Việt món đầu người luộc để thử gan tướng Việt nhà hậu Trần có dám xơi thịt người như chúng hay không? Xin trích từ điển mạng Wikipedia mục “Nguyễn Biểu”:

“Ông đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối thời Trần, làm quan đến chức Điện Tiền Thái sử (Ngự Sử). Khi quân nhà Minh xâm lược Đại Ngu, ông đã phò vua Trần Trùng Quang Đế (1409-1413) tổ chức cuộc kháng chiến.

Năm 1413, quân Minh đánh vào Nghệ An, vua Trùng Quang Đế chạy vào Hóa Châu, sai ông đi sứ giảng hoà. Tướng giặc là  Trương Phụ dọn cỗ đầu người để thử lòng. Nguyễn Biểu móc mắt ăn, rồi làm thơ đòi quân Minh công nhận chủ quyền Đại Việt, ông tức giận mắng Trương Phụ: “Trong bụng thì mưu đánh lấy nước, bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa. Đã hứa lập con cháu nhà Trần, lại đặt quận huyện, không chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu, lại còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược”.  Trương Phụ trả thù bằng cách buộc ông vào cột cầu sông Lam để cho nước dâng lên ngập chết. Tương truyền ở dưới chân cầu ông dùng móng tay vạch vào thân cầu tám chữ: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử” (Nguyễn Biểu tử tiết ngày 11 tháng 7).

Vua Trùng Quang Đế cảm kích của với khí tiết đáng trân trọng của ông đã làm bài thơ tiễn Nguyễn Biểu đi sứ và bài văn tế Nguyễn Biểu. Cả hai bài này đều được lưu truyền đời sau.”(hết trích)

Than ôi, vòng kim cô 16 chữ vàng và 4 tốt mà hậu duệ bác Mao ban cho hậu duệ bác Hồ liệu có cứu nổi hội chứng ăn thịt người Trung Hoa, bắt đầu bằng cuộc ăn thịt 16.000 km2 mặt biển của ta và hàng ngàn km2 đất liền Việt Nam, lại toan ăn thịt hết linh hồn các bác lãnh đạo nước Việt ta chăng?

Xin các vị nhớ, rằng hàng tỉ chú AQ nước họ , mà họ còn xơi thịt cả thân xác lẫn tâm hồn, lẽ nào họ lại đi thương bọn ngoại tộc mà họ từng khinh bỉ gọi là man di?

Sài Gòn ngày 19-10-2012 (ngày giỗ thứ 76 văn hào Lỗ Tấn)

Trần Mạnh Hảo

Tác giả gửi cho NTT  blog

20 Th10

TẠP CHÍ XƯA & NAY

Sự phổ biến chữ Quốc ngữ trên

Đông Dương tạp chí Nam Phong tạp chí

Lê Văn Phong

Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều tổ chức và cá nhân truyền bá chữ Quốc ngữ. Trong đó, phương tiện quan trọng để phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ, chính là sự xuất hiện và phát triển của báo chí Quốc ngữ. Tờ báo Quốc ngữ xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam là Gia Định báo, ra đời năm 1865, do Trương Vĩnh Ký điều hành. Trương Vĩnh Ký đã đưa ra ba mục tiêu cho tờ báo là “Truyền bá chữ Quốc ngữ trong nhân dân. Cổ động tân học trong nước. Khuyến khích nhân dân học chữ Quốc ngữ”(1). Đến cuối thế kỷ XIX, sau tờ Gia Định báo, một số tờ báo chứ Quốc ngữ khác cũng được ra đời, như Phan Yên báo (1868), Nhật Trình Nam kỳ (1883), Nam kỳ địa phận (1883).

 

Năm 1907, các nhà Duy tân trong Đông Kinh Nghĩa Thục sử dụng tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, sau này đổi thành Đăng cổ tùng báo in bằng hai thứ chữ, chữ Hán do Đào Nguyên Phổ phụ trách, chữ Quốc ngứ do Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách. Ngay trong số đầu tiên báo đăng tải bài Người An Nam nên biết chữ An Nam của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, để tuyên truyền, cổ vũ việc học và sử dụng chữ Quốc ngữ trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân.

Song, chỉ đến khi Đông Dương tạp chí (1913) và Nam Phong tạp chí (1917) ra đời, thì vai trò truyền bá, phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc ngữ của báo chí mới thực sự nở rộ. Hai tờ tạp chí đều được xuất bản ở miền Bắc nên cách viết, cách sử dụng từ, sử dụng câu và cách phát âm có phần chuẩn hơn các tờ báo ở miền Nam. Cách viết tương đối thống nhất và hoàn chỉnh, dùng từ dễ hiểu, loại bỏ nhiều phương ngữ, góp phần không nhỏ vào quá trình hoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ trên hai tờ tạp chí này.

Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh điều hành, được sự tài trợ của chính quyền thuộc địa. Mỗi tuần ra một số, có sự tham gia của những cây bút xuất sắc nhất về Tây học lúc bấy giờ, như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn và những cây bút xuất sắc về Nho học, như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục. Trên Đông Dương tạp chí, xuất hiện nhiều bài viết luận bàn về cái hay, cái đẹp, cái lợi ích của chữ Quốc ngữ so với chữ Hán, chữ Nôm, qua đó khuyến khích, cổ vũ nhân dân theo học. Tạp chí Đông Dương đưa ra mục tiêu “Phổ biến văn hóa Tây phương, cổ động học chữ Quốc ngữ, giới thiệu kiến thức thực nghiệm như canh nông, công nghệ…”(2). Việc Đông Dương tạp chí đăng tải các bài có nội dung phê phán những hạn chế của chữ Hán, chữ Nôm và lối học khoa cử, bàn về tính tiện ích của chữ Quốc ngữ, về cách in ấn, cách thống nhất trong khi nói và viết, hay bàn về sự cần thiết phải tiếp nhận chữ Quốc ngữ – một sản phẩm của phương Tây ảnh hưởng đến Việt Nam.

Ngoài ra, Đông Dương tạp chí đăng tải nhiều vấn đề về cách dạy chữ Quốc ngữ từ cách đánh vần, viết chính tả, cách phát âm, tư thế ngồi viết đến phân biệt cách phát âm giữa tiếng miền Nam với miền Bắc. Những bài luận bàn về chữ Quốc ngữ trên Đông Dương tạp chí, tiếp tục góp phần tích cực trong tiến trình cổ vũ, phổ biến và xác lập vị trí chủ đạo của chữ Quốc ngữ trong xã hội Việt Nam.

Năm Thượng thư của triầi đình Huế sau cải cách năm 1933 của vua Bảo Đại (từ trái sang): Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toàn, Ngỏ Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn

Người đóng góp lớn lao vào quá trình truyền bá, cổ vũ cho chữ Quốc ngữ trên Đông Dương tạp chí là Nguyễn Văn Vĩnh. Ông và những cộng sự trong tạp chí Đông Dương nhận thấy chữ Quốc ngữ là một lợi khí, một phương tiện để mở mang dân trí, nâng cao dân khí và phục hưng nền văn hóa dân tộc. Nên Nguyễn Văn Vĩnh đã tích cực viết nhiều về vấn đề này, tiêu biểu như: “Chữ Quốc ngữ”, “Cách viết chữ Quốc ngữ”, “Chữ Nho nên để hay nên bỏ”, “Tiếng An Nam”… Qua đó, phân tích, lý giải để khẳng định, đối với nhân dân Việt Nam, việc cần thiết phải sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm. Ông khuyên nhân dân bỏ chữ Hán, chữ Nôm mà học ngay lấy chữ Quốc ngữ, vì chứ Hán và chữ Nôm khó học, tốn nhiều thời gian không phải ai cũng học được, còn “Chữ Nho chỉ nên giữ lại để mà dạy ở khoa trung đẳng nam học mà thôi… Bây giờ trẻ con xin nhất quyết đừng cho học chữ Nho nữa, mà các tràng Pháp Việt cũng xin bỏ lối dạy chữ Nho đi”(3). Theo ông, người biết chữ Quốc ngữ đọc được, hiểu được mà người không biết chữ nghe người biết chữ đọc cũng hiểu ngay. Ông khẳng định, việc học chữ Quốc ngữ ai có chí thì vài ngày, ngu đần một tháng cũng biết đọc, biết viết. Trong khi, việc học chữ Hán, chữ Nôm mất hàng nửa đời người, mà trăm người học không được một người hay, học được cũng chỉ ích lấy một mình. Công cuộc truyền bá chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy, một mình ông thực hiện, thì không thể mang lại nhiều thành công và ông đã kêu gọi “những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước, phải chuyên vào nghề văn Quốc ngữ” và đề xuất “nào báo quốc ngữ, nào sách học quốc ngữ, nào thơ quốc ngữ, nào văn chương quốc ngữ, án kỳ, hành trình, tiểu thuyết, nghị luận, tờ bồi việc quan, đơn từ kiện tụng, nên làm bằng toàn chữ Quốc ngữ hết cả”(4). Ngoài việc kêu gọi, cổ vũ mọi người tham gia học và sử dụng chữ Quốc ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh còn đưa vấn đề ngữ pháp ra bàn luận, nhằm cố gắng làm cho hoàn thiện chữ viết này. Ồng nêu vấn đề cách đặt câu, chấm câu, cách viết, cách nói thống nhất trong cả ba miền “nay bản quán lấy việc cổ động cho chữ Quốc ngữ làm chủ nghĩa, tưởng cũng đem hết các khuyết điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại”(6).

Vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh đối với chứ Quốc ngữ và văn Quốc ngữ được nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất có công với quốc văn nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch trên này mà ông có công ấy. Ông có công lớn với quốc văn là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học vào buổi mà đối với văn chương, mọi người còn bỡ ngỡ. Ông lại hội họp được những cây bút có tiếng, gây nên được phong trào yêu mến quốc văn trong đám thanh niên trí thức đương thời, vì ngoài một vài quyển tạp chí có giá trị, thanh niên hồi xưa không làm gì có những sách quốc văn như bây giờ để đọc. Mà ĐôngDương tạp chí hồi đó như thê nào? Người Tây học có thể thấy trong đó những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học có thể thấy trong đó những tư tưởng mới của Tây phương là những tư tưởng mà người Việt Nam ta cần phải biết rõ để mà thâu thái. Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương tạp chí, ngày nay giở đến người ta vần còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai”(6).

Tiếp sau Đông Dương tạp chí, là sự ra đời của Nam Phong tạp chí, vào năm 1917, do Louis Marty, thanh tra mật thám Đông Dương sáng lập. Trong đó, Phạm Quỳnh phụ trách về phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác chịu trách nhiệm về phần chữ Hán. Tạp chí nhanh chóng cuốn hút được nhiều cây bút xuất sắc lúc bấy giờ, như Nguyễn Bá Học, Lê Dư, Phạm Duy Tôn, Nguyễn Hữu Tiến… Trong việc cổ vũ, truyền bá chữ Quốc ngữ trên Nam Phong, là sự kế tiếp và phát triển mạnh mẽ hơn Đông Dương tạp chí. Các tác giả trên Nam Phong tiếp tục nghiên cứu, biên soạn từ điển, dịch nhiều tác phẩm nước ngoài ra chứ Quốc ngữ, nhất là mạnh dạn đề nghị việc sử dụng chữ Quốc ngữ trong công văn giây tờ và đưa chữ Quốc ngữ vào giảng dạy trong trường học. Nam Phong tạp chí còn có công lớn trong việc xây dựng và hệ thống hóa, chuẩn hóa kho từ vựng, bổ sung các thuật ngữ khoa học, kỹ thuật hiện đại.

Nam Phong tạp chí đăng tải nhiều nội dung bàn về các vấn đề liên quan đến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu như “Công văn phải dùng bằng chữ Quốc ngữ”, “Quốc ngữ Cổ”, “Khảo về chữ Quốc ngữ”, “Quốc ngứ quốc văn”, “Phan Châu Trinh đối với chữ Quốc ngữ” hay “Sự tiến hóa của tiếng An Nam”, “Tiếng An Nam có cần phải thống nhất không”, “Văn Quốc ngữ”, “Văn chương Quốc ngữ”, “Bảo tồn Quốc ngữ”…

Người nổi bật nhất trong Nam Phong tạp chí, không ai khác, chính là chủ bút Phạm Quỳnh, ông đã góp phần vào công việc truyền bá, cổ vũ và sử dụng chữ Quốc ngữ thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm, để xây dựng một nền quốc văn cho đất nước. Trong bài Khảo về chứ Quốc ngữ, đăng trên Nam Phong tạp chí, số 122, Phạm Quỳnh đã khảo sát về sự ra đời của chữ Quốc ngữ. Ông khẳng định, các nhà truyền giáo người châu Âu khi đến Việt Nam đã tìm mọi cách nhằm sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, để phục vụ cho công việc giảng kinh, truyền đạo. Ông nêu lên quá trình ảnh hưởng, phát triển của chữ Quốc ngữ đến với nhân dân, nhất là, khi thực dân Pháp sử dụng nó trong công việc hành chính. Phạm Quỳnh nhận thấy sự tiện ích và phù hợp của chữ Quốc ngữ đối với nhân dân Việt Nam, mà các nhà duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục đã nêu ra hồi đầu thế kỷ XX. Và khẳng định, sự cần thiết phải cổ vũ, truyền bá chữ Quốc ngữ đến với nhân dân: “Ngày nay chữ Quốc ngữ đã nghiễm nhiên thành thứ chữ Viết, cái văn tự chung của dân tộc Việt Nam vậy. Học vừa dễ vừa mau, dùng vừa hay vừa tiện, thật là một cái lợi khí để truyền bá sự học trong quốc dân. Nay chúng ta được dùng cái chữ thần diệu đó…”(7).

Ngoài ra, Phạm Quỳnh không khoan nhượng trước một bộ phận người Việt Nam có tư tưởng xem thường chứ Quốc ngữ, coi chữ Quốc ngữ là thứ chữ không đáng học, không thể bằng chữ Pháp: “Chữ Quốc ngữ được thí nghiệm trong ba trăm năm được tiện lợi như thế, vậy mà còn có người bài bác, bao phen vận động muốn sửa đổi lại. Những nhà muốn cải cách ấy chỉ có câu nệ rằng trong chữ Quốc ngữ có nhiều vần không hợp với tiếng Pháp: nhưng tiếng Pháp là tiếng Pháp, Quốc ngữ là Quốc ngữ”(8). Không dừng lại việc bàn luận về tính tiện ích của chữ Quốc ngữ trong công cuộc nâng cao dân trí, chủ bút Nam Phong nêu lên mối quan hệ giữa chữ Quốc ngữ với tiếng Việt, và dùng chữ Quốc ngữ ghi âm tiếng Việt có thành văn chương như các thứ tiếng khác. Thời của Phạm Quỳnh, việc cổ vũ sử dụng chữ Quốc ngữ viết sách, báo là một khó khăn, thách thức lớn. Bởi một bộ phận người Việt Nam luôn có quan điểm: “Phàm văn tự, có khó khăn mới thâm thuý. Nay chữ Quốc ngữ dễ quá, đứa bé lên năm, học trò sơ học mở quyển sách ra cũng đọc lau láu được ngay, thì cái văn chương sản xuất bằng thứ chữ ấy tất là thô thiển bỉ tiện, không xứng đáng là văn chương được”(9), mà họ không biết rằng “chính chữ Quốc ngữ là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy”(10). Nhưng chủ bút Nam Phong với niềm tin “hậu vận nước Nam ta hay hay dở là ở chữ Quốc ngữ, ở văn Quốc ngữ” và ông tiếp tục viết báo, dịch thuật, diễn thuyết và cổ động cho chữ Quốc ngữ phát triển trong xã hội. Trước nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam nên sử dụng chữ Pháp làm quốc văn, làm văn tự chính thức cho dân tộc. Nhưng, Phạm Quỳnh phân tích, lý giải cả chữ Hán và chữ Pháp rồi đi đến kết luận, hai thứ chữ viết trên không thể dùng làm quốc văn, làm chữ viết chính thức cho dân tộc Việt Nam, vì “chữ Hán cũng như chữ Pháp, chỉ có một số người học làm một chuyên khoa, không thể cho quốc dân học làm quốc văn được” và ông khẳng định “chỉ duy còn có chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ nói sao viết vậy. Mà cách viết ấy học rất mau, chi sáu tháng một năm là biết được cả”(11). Ồng xem chữ Quốc ngữ là một thứ chữ “mầu nhiệm” cho nhân dân Việt Nam mở mang dân trí và tin rằng vận mệnh chữ Quốc ngữ sẽ gắn chặt với tiếng Việt, với người Việt và quốc văn cũng nhờ đó mà mỗi ngày một tiến lên rực rỡ. Cuối cùng, Phạm Quỳnh khẳng định, chính chữ Quốc ngữ là công cụ tuyệt diệu giải phóng trí tuệ và thâu thái các khoa học mới cho nhân dân Việt Nam.

Ngoài ra, vào những thập niên đầu thế kỷ XX, xuất hiện nhiều bài viết đăng tải trên các báo chí bàn về các vấn đề: thống nhất tiếng nói, chữ viết, cải cách văn tự để tiếng Việt và chữ Quốc ngữ trở thành phương tiện cho người Việt biểu hiện tình cảm, tư duy, tư tưởng. Cuộc tranh luận về vấn đề này diễn ra rất sôi nổi vào những năm đầu thế kỷ XX, mà tiêu biểu như: “Chữ Quốc ngữ ở Nam kỳ và thế lực của phụ nữ”, “Vấn đề viết chữ Quốc ngữ cho đúng”, “Viết chữ Quốc ngữ phải đúng”, “Phải viết chữ Quốc ngữ cho đúng, dùng danh từ cho đúng”, “Vấn đề viết chữ Quốc ngữ”, hay “Muốn viết chứ Việt Nam cho đúng phải phát âm cho đúng”,… của nhiều tác giả. Trong cuộc tranh luận liên quan đến chữ Quốc ngữ, Phan Khôi đưa ra nhiều lập luận sắc sảo và chính xác. Ông nêu ra việc viết chữ Quốc ngữ sao cho thống nhất trong cả nước, khi mà việc phát âm tiếng Việt vẫn còn những dị biệt ở các địa phương. Ý kiến của ông gặp phải sự phản đối quyết liệt của một số trí thức bảo thủ, cố chấp nhưng phần lớn đều đồng tình và ủng hộ. Trong bài Tại làm sao chúng ta không nên bỏ chữ Quốc ngữ và phải viết cho đúng, đăng trên báo Trung lập, tác giả Phan Khôi đã thẳng thắn phê phán những quan điểm xem thường chữ Quốc ngữ, đồng thời ông phân tích sự tiện ích, phù hợp của chữ Quốc ngữ đối với nhân dân Việt Nam. Quan điểm của Phan Khôi về chứ Quốc ngữ cũng giống như Đông Dương tạp chíNam Phong tạp chí. Mặc dù, họ đều đề cao và yêu mến chữ Pháp, nhằm nâng cao sự hiểu biết về văn minh Pháp và văn minh phương Tây, song giới trí thức trong Nam Phong Đông Dương tạp chí không chủ trương dùng chữ của người Pháp làm văn tự chính thức cho dân tộc. Theo họ, tiếng Pháp không phải là lợi khí, là phương tiện hữu dụng để mở mang dân trí, nâng cao nhận thức cho nhân dân Việt Nam. Và khẳng định, chi duy nhất chữ Quốc ngữ mới là thứ chữ phù hợp với con người và văn hóa Việt: “chữ Quốc ngữ là một thành tựu mới so với chứ Nôm, phải nắm lấy nó, củng cố vững chắc của nó trong sự tồn tại và phát triển của dân tộc”(12).

CHÚ THÍCH:

1. Nguyễn Quang Ân (1998), Lịch sử văn hóa Việt Nam những gương mặt trí thức, tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, tr.371.

2. Nguyễn Văn Vĩnh (1913), Chủ nghĩa, Đông Dương tạp chí, tr.137.

3. Hoàng Tiến (2003), Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đu thế kỷ XX, Nxb Thanh Niên, tr.148.

4. Hoàng Tiến (2003), Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX, xb Thanh Niên, tr.158.

5. Hoàng Tiến (2003), Ch Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ XX, Nxb Thanh Niên, tr.8.

6. Vũ Ngọc Phan (2005), Nhà văn hiện đại, tập 1, Nxb Văn học, tr.52, 53.

7. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về ch Quốc ngữ, tạp chí Nam Phong, tr.335.

8. Phạm Quỳnh (1927), Khảo vê chữ Quốc ng, tạp chí Nam Phong, tr.335.

9. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc ng, tạp chí Nam Phong, tr.337.

10. Phạm Quỳnh (2005), Thượng chi văn tập, Nxb Văn Học, tr. 59.

11. Phạm Quỳnh (1927), Khảo về ch Quốc ngữ, tạp chí Nam Phong, tr.338.

12. Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, tập 1 (2001), Nxb Lao động, Hà Nội, tr.32.

%d bloggers like this: