Lưu trữ | 10:59 Chiều

Lược khảo về các tên gọi Viện hàn lâm và Viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại – VH&NN

23 Th10

Lược khảo về các tên gọi Viện hàn lâm và Viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại

 Lê Mạnh Chiến
 
                        (Lê Mạnh Chiến, TC Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125)
 
I. Về Viện Hàn lâm (hay Hàn lâm viện翰 林 院 trong Hán ngữ
1.Hàn lâm viện ở Trung Hoa và ở Việt Nam thời xưa
 
Theo từ điển Từ hải, chữ hàn翰 (trong Hàn lâm viện翰 林 院) vốn có nghĩa là một loai gà núi đẹp, gọi là cẩm kê, dịch sang tiếng Việt là “gà gấm”. Về sau, chữ hàn 翰này còn có nghĩa là cái lông chim dài và cứng. Ngày xưa, ở châu Á cũng như ở châu Âu, người ta dùng những chiếc lông chim dài và cứng để làm bút viết, do đó, chữ hàn翰 lại có nghĩa là cái bút, và còn có thêm vài nghĩa khác nữa. Trong từ hàn lâm翰林thì hàn 翰 nghĩa là bút, lâm 林nghĩa là rừng; hàn lâm 翰 林có nghĩa đen là rừng bút, nghĩa bóng là văn đàn, là chốn tinh hoa về học thuật.
 Thời nhà Đường, năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Đường Huyền Tông tuyển mộ các triều thần “văn hay chữ tốt” để soạn thảo các chiếu chỉ, mệnh lệnh, từ đó sinh ra chức quan Hàn lâm học sĩ (gọi tắt là Hàn lâm) và Hàn lâm viện, mà ngày nay chúng ta gọi là Viện hàn lâm. Thời Tống, quan Câu đương Hàn lâm viện (tức là chủ quản Hàn lâm viện) còn kiêm quản thiên văn, thư nghệ, đồ họa, y dược và cả việc bếp núc trà rượu của triều đình. Nhà Nguyên lập Hàn lâm học sĩ viện, về sau hợp với Quốc sử viện, gọi là Hàn lâm kiêm quốc sử viện. Thời Minh, Hàn lâm viện chính thức trở thành cơ quan ngoại vi của triều đình. Thời nhà Thanh, Hàn lâm viện vẫn đảm nhiệm việc biên soạn quốc sử, ghi chép lời nói và việc làm của hoàng dế, giảng kinh sử, thảo văn kiện có liên quan đến các quy định về lễ nghi.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần Quan chức chí) do Phan Huy Chú biên soạn thì ở Việt Nam, Hàn lâm viện được thành lập từ năm 1086, thời vua Lý Nhân tông, với Mac Hiển Tích là vị Hàn lâm học sĩ đầu tiên. Nhà Trần đặt chức Hàn lâm phụng chỉ, thường do thái sư đảm nhiệm để soạn thảo các chiếu chỉ thay nhà vua. Nhà Lê khi mới dựng nước cũng lập ngay Hàn lâm viện, do Nguyễn Trãi làm Hàn lâm phụng chỉ.
Phan Thanh Giản (1796 – 1867), vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ, lúc mới đỗ đạt đã từng giữ chức Hàn lâm viện biên tu rồi thăng lên chức Hàn lâm viện kiểm thảo, thời vua Minh Mệnh
 Nói tóm lại, dù là ở Trung Hoa hay ở Việt Nam, Hàn lâm viện là nơi tập trung những người có học vấn cao để thực hiện những công việc liên quan đến học vấn.
Từ “Hàn lâm viện” trong Hán ngữ được dịch sang tiếng Latin là Academia(xuất hiện năm1508 – theo từ điển Robert), tương ứng với Academy, Académie, Академия trong các thứ tiếng Anh, Pháp và Nga (chữ Академия được phiên âm là Akademiya). Điều đó cũng được thể hiện trong Từ điển Annam -Latin (Dictionarium Anamitic – Latinum) của A.J.L. Taberd (in năm 1838).
2.      Về các chữ Académie, Academy, Akademiya (trong tiếng Pháp, Anh, và Nga, tương ứng với Academia trong tiếng Latin, với nghĩa là Viện học thuật )
 
Trong cuốn Pháp – Việt từ điển (ra đời năm 1936) của cụ Đào Duy Anh, ở mục từ Académie, chúng ta thấy những lời dịch như sau:
 1. Cái vườn mà Platon giảng triết học ở đó, gần thành Athènes;
 2. Quốc gia học hội, bác-học-viện, hàn-lâm-viện, đại học hiệu, đai học khu.
 3. Du kỹ trường, thể dục trường, như trường kỵ mã, trường đấu kiếm;
4. Bức họa người cổi truồng, khỏa thân họa.
 
Sau đó, tác giả nêu một số ví dụ:
-. Académie française : Pháp quốc hàn lâm viện;
Académie des sciences: Khoa học viện;
Académie des inscriptions et belles-lettres: Bi ký mỹ văn học viện;
Académie des sciences morales et politiques: Luân lý chính trị học viện
 – Académie des beaux-arts: Mỹ thuật viện;
 – Académie de médecine; Y khoa học viện;
 – Académie d’agriculture: Nông phố học viện.
 (Bên cạnh tên của các cơ quan này đều có chữ Hán, chúng tôi xin phép bỏ bớt – LMC)
 
Tất cả các nghĩa 1, 2, 3, 4 đều được ghi trong từ điển Petit Larousse – cuốn từ điển Pháp ngữ rất thông dụng của người Pháp. Học giả Đào Duy Anh đã nêu đầy đủ và đã dịch đúng nghĩa.
 
Pháp – Việt từ điển được biên soạn trước năm 1936, khi mà chữ quốc ngữ mới được sử dụng rộng rãi trong vài chục năm nên còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cách diễn đạt trong Hán ngữ. Trong 4 nghĩa trên đây thì nghĩa thứ hai là thông dụng nhất, có thể dịch sang tiếng Việt hiện nay bằng các cụm từ: Hội học thuật quốc gia; Viện hàn-lâm; Viện nghiên cứu; Học viện; Học hiệu, Trường đại học …
 
Chúng ta nhận thấy rằng, chỉ trong ví dụ đầu tiên thì chữ Académie mới gọi được gọi là Viện hàn lâm, còn trong các trường hợp khác thì được gọi là Viện hoặc Học viện. Nghĩa là, chỉ riêng Académie cao cấp nhất, có uy tín nhất, “danh giá” nhất thì cụ Đào Duy Anh mới gọi là Viện hàn lâm, một tên gọi mang tính tôn nghiêm, trịnh trọng, còn các Académie khác ở cấp thấp hơn thì gọi là viện, học viện. Nghĩa là, người dịch phải biết về hoạt động của từng Académie cụ thể để tìm cho nó một nghĩa tiếng Việt thích đáng. Người dịch có kiến thức và có ý thức trách nhiệm cao mới làm được điều đó..
 
Theo Từ điển Pháp – Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam do Lê Khả Kế chủ biên thì từ Académie được dịch sang tiếng Việt như sau; 1. viện hàn lâm; 2. hội (văn học nghệ thuật); 3. học viện. Académie militaire Học viện quân sự; 4. khu giáo dục (Pháp): Académie de Nancy khu giáo dục Năng-xi; 5. (họa) hình nghiên cứu khỏa thân. Như vậy là, ở đây thiếu hẳn nghĩa 1 và nghĩa 3 trong từ điển của Đào Duy Anh. Tuy nhiên, đó là những nghĩa rất ít gặp.
 
Chữ Academy trong tiếng Anh và chữ Akademiya trong tiếng Nga đều có các nghĩa 1, 2 và 3 như trong Từ điển của cụ Đào Duy Anh, nhưng không thấy có nghĩa thứ 4.
 
Ở Liên Xô trước đây và ở Liên bang Nga hiện nay, có khá nhiều trường đại học được gọi là Akademiya, ví dụ, Военно-воздущая академия = Đại học Không quân, Военно-медицинская академия = Đại học quân y; Академия общественных наук = Học viện khoa học xã hội (chính là trường đảng của Liên xô, nhưng các học viên người Việt cứ gọi là Viện hàn lâm khoa học xã hội).
 
Mặc dầu các quyển từ điển Pháp –Việt và Anh – Việt đều nêu nhiều nghĩa cho các chữ Académie, Academy để giúp người dịch lựa chọn đúng trong từng trường hợp khi dịch sang tiếng Việt, nhưng trên sách báo ở Việt Nam từ nhiều chục năm nay, dường như tất cả các chữ này (cùng các chữ tương ứng trong các thứ tiếng khác) đều được dịch thành “viện hàn lâm”. Các sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam học tại các trường của Liên Xô có tên trong các ví dụ vừa kể đều gọi các trường ấy là “viện hàn lâm”, như Viện hàn lâm không quân, Viện hàn lâm quân y, Viện hàn lâm khoa học xã hội. Gọi như thế là sai, vì Akademiya ở đây có nghĩa là trường học
 
Ở Anh, chữ Academy rất ít khi được dùng để đặt tên cho các viện nghiên cứu hoặc các trường học. Thế nhưng ở Việt Nam hiện nay có một số trường mang tên bằng tiếng Anh có chữ đó, ví dụ: HanoiAcademy (không thấy tên bằng tiếng Việt), Academy of Finance (Học viện Tài chính), Ho Chi Minh National Academy of Politics and Public Administration (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Phải chăng, đó là sự bắt chước từ tiếng Nga?
 
Hiện nay, người Việt Nam vẫn thường nói đến Viện hàn lâm. Nhưng, ở Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macao thì các viện nghiên cứu lớn nhất hoặc các Academy nổi tiếng trên thế giới đều được dịch sang Hán ngữ là Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật….chứ không bao giờ gọi là Hàn lâm viện. Ví dụ, Académie française  được gọi làViện học thuật Pháp; Russian Academy of Sciences mà ta gọi là Viện hàn lâm khoa học Nga, thì người Trung quốc gọi là Nga-la-tư khoa học viện, tức là Viện khoa học Nga
 
Chữ Academy (Académie, Akademiya…..) được dịch sang tiếng Việt là Viện hàn lâm hay Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật…. là do sự cân nhắc của người dịch. Uy tín của mỗi Viện không phụ thuộc vào chữ Academy mà là do những thành tựu của nó trong quá khứ và hiện tại tạo nên. Ở nước Anh, cơ quan khoa học sang trọng nhất, danh tiếng vào bậc nhất thế giới, được thành lập từ năm 1660, có tên là Royal Society = Hội Hoàng gia, để cho rõ hơn một chút, ta có thể dịch là Học hội Hoàng gia . Cái tên đầy đủ của nó thì lại càng “bình dân” hơn nữa: The Royal Society of London for Improving Natural Knowledge = Hội Hoàng gia Luân Đôn nhằm cải tiến tri thức tự nhiên. Trong khi đó, British Academy, tưởng như là cơ quan học thuạt cao nhátlại là một viện về khoa học xã hội và nhân văn, được thành lập năm 1902, ít danh tiếng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay hầu như chữ Academy (Académie, Akademiya…..) được đồng nhất hóa với Viện hàn lâm trong tiếng Việt và mặc nhiên trở nên hết sức khả kính, không mấy ai để ý đến thực chất của nó trong từng trường hợp cụ thể.
 
3. Viện Hàn lâm Pháp
 
Tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20 luôn luôn giàu lòng yêu nước và có hoài bão chống thực dân Pháp để giành độc lập cho nước nhà. Nhưng họ luôn luôn trân trọng, thậm chí, say mê những giá trị cao đẹp của nền văn hóa Pháp, với nhiều danh nhân có tên tuổi lẫy lừng, cống hiến rất nhiều cho nền văn minh của nhân loại. Tôi được biết và tin điều đó từ khi còn rất nhỏ do nghe lỏm các cuộc trò chuyện giữa cụ thân sinh và các bạn học của ông – những người đã tốt nghiệp Cao đẳng Đông Dương (École des Hautes Études Indochinoises), đồng môn và cùng lứa với các liệt sĩ cách mang Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính.
 
Ở Pháp có một tổ chức học thuật có tên là Institut de France (Hiệp hội học thuật Pháp quốc), thành lập năm 1795, bao gồm 5 Viện (Académie) trong số 7 viện mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến ở mục từ Académie trong quyển Pháp – Việt từ điển của ông. Đó là:
 
Académie française  = Viện Hàn lâm Pháp, thành lập năm 1635
Académie des sciences = Viện Khoa học (tự nhiên) Pháp, thành lập năm 1666
Académie des inscriptions et belles-lettre = Viện Bi ký và Mỹ văn, thành lập năm1663
 Académie des sciences morales et politiques = Viện Luân lý và Chính trị, thành lập năm 1785
Académie des beaux-arts = Viện Mỹ thuật, thành lập năm 1815.
 
Trong số 5 viện này, Académie française  – Viện hàn lâm Pháp (ở Trung Quốc người ta gọi là Viện học thuật Pháp) được thành lập sớm nhất, quan trọng và “danh giá“ hơn hẳn các viện khác.
 
Do Hồng y Giáo chủ Richelieu thành lập năm 1635 dưới thời vua Louis XIII, Viện hàn lâm Pháp được giao nhiệm vụ trước tiên là tiêu chuẩn hóa và hoàn thiện ngôn ngữ Pháp, xây dựng những quy tắc ngữ pháp làm cho tiếng Pháp càng thêm trong sáng và dễ hiểu. Trên tinh thần đó, Viện này bắt đầu biên soạn một bộ từ điển có tên là Dictionnaire de l’Académie française (Từ điển của Viện hàn lâm Pháp) xuất bản lần đầu tiên vào năm 1694, sau đó, không ngừng được bổ sung và cải tiến. Lần xuất bản thứ 8 diễn ra trong những năm 1933 – 1935. Hiện nay, lần xuất bản thứ 9 đã in được 3 tập, còn thiếu tập 4. Hàng năm, Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu các tác phẩm, xét duyệt và trao tặng các giải thưởng cho các công trình khoa học có giá trị lớn.
 
Viện Hàn lâm Pháp gồm 40 “ghế bành” (fauteuil), tập hợp những nhân vật nổi tiếng trong đời sống văn học (thơ ca, tiểu thuyết, kịch nghệ, phê bình), các nhà triết học, các nhà sử học cùng các nhà khoa học tự nhiên. Ngoài ra, nò còn thu hút các tướng lĩnh, các chính khách, các chức sắc tôn giáo nổi tiếng. Phải là tác giả của những tác phẩm lớn để lại cho đời sau thì mới được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp và được “giữ ghế” suốt đời (trừ khi có hành vi bất chính). Họ được gọi là những người bất tử (immortels) của nước Pháp, và đương nhiên, phải là công dân Pháp. Mối khi có một viện sĩ (acadénicien) qua đời thì Viện sẽ bầu một viện sĩ mới để thay vào chỗ trống. Nhà tư tưởng vĩ đại Montesquieu, các đại văn hào Voltaire, Victor Hugo, Alexandre Dumas (con), các nhà toán học Joseph Fourier và Jean le Rond d’Alembert, nhà bác học Louis Pasteur… là những tên tuổi sáng ngời đã được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Năm 1855, người ta đã đặt thêm chiếc “ghế bành thứ 41” (tượng trưng) dành cho những con người đúng là “bất tử” nhưng suốt đời không bao giờ có dịp bước vào cửa của Viện hàm lâm Pháp. Trong số đó, cần phải kể đến những tên tuổi quen thuộc với độc giả Việt Nam như Descartes, Molière, Pascal, Rousseau, Diderot, Balzac, Dumas (cha), Stendhal, Maupassant, Baudelaire, Zola, Daudet, Proust, v.v.
 
Trong lịch sử của Viện Hàn lâm Pháp, đã có những viện sĩ bị phế truất vì có hành vi bất chính.
\ Viện sĩ Hàn lâm Pháp được bầu gần đây nhất là ông Jules Alphonse Nicolas Hoffmann (viết gọn là Jules Hoffmann), một nhà sinh vật học gốc Luxembourg, được trao tặng giải thưởng Nobel về Sinh lý học và Y học năm 2011 cùng với Bruce Alan Butler (Mỹ) và Ralph Marvin Steinman (Canada). Ông sinh năm 1941, là viện sĩ của Viện khoa học Pháp (Académie des sciences) từ năm 1992, chủ tịch của Viện này trong những năm 2007 – 2008, trở thành Viện sĩ thứ 726 (trên thực tế là thứ 722 vì có 4 viện sĩ đã bị phế truất, trong đó có Henri Philippe Pétain, vốn là anh hùng dân tộc của Pháp trong Đại chiến I nhưng phạm tội phản quốc trong Đại chiến II) của Viện Hàn lâm Pháp từ ngày 01/3/2012.
 
Trong những năm cuối thế kỷ 20, có một Viện sĩ Hàn lâm Pháp khá quen thuộc với khán giả truyền hình Việt Nam. Đó là ông Jacques-Yves Cousteau (1910 – 1997), nhà thám hiểm hải dương học huyền thoại, cũng là người sáng chế những bộ áo lặn và thiết bị lặn hiện đại đắc dụng nhất, đồng thời là tác giả của nhiều bộ phim và nhiều quyển sách kỳ thú về thế giới sinh vật dưới đáy biển. Ông được bầu vào Viện hàn lâm Pháp ngày 24/11/1988.
 
Viện Hàn lâm Pháp không phải là một cơ quan nghiên cứu khoa học, mà là nơi tôn vinh các nhà khoa học, các nhà văn hóa đã đạt những thành tựu to lớn có ảnh hưởng lâu dài ở trong và ngoài nước Pháp. Đây cũng là tổ chức có uy tín nhất có tác dụng khuyến khích, biểu dương kịp thời những công trình khoa học, văn học và những tài năng mới xuất hiện, bằng những hoạt động như hội thảo, giới thiệu, xuất bản các tác phẩm. Việc hoàn thiện văn phạm và từ điển tiếng Pháp được coi là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và thường xuyên. Đó là một điều khiến chúng ta rất đáng suy nghĩ.
 
Ở Pháp, ngoài 7 cơ quan có tên là Académie… mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến, còn có một số cơ quan nữa cũng được gọi là Académie. Nếu tất cả các Académie ở Pháp không phải là trường học (mà là các viện) đều được gọi là Viện hàn lâm thì nước Pháp có chừng một chục Viện hàn lâm, trong số đó, Viện hàn lâm Pháp, tức Académie française  là lâu đời nhất, danh giá nhất, đáng ngưỡng mộ nhất, ai cũng biết. Mọi người chỉ cần gọi nó là l’Académie (nghĩa là Viện hàn lâm, không cần có chữ française  nghĩa là của nước Pháp), giống như ở Việt Nam người ta nói đại hội đảng có nghĩa là đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam vậy..Nhưng khi nói đến một Viện hàn lâm khác thì nhất thiết phải gọi đầy đủ tên của nó.
 
4. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm khoa học Nga
 
Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô tồn tạitừ năm 1925 đến năm 1991, là cơ quan nghiên cứu khoa học cao nhất của Liên Xô, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, có tên theo tiếng Nga là Академия наук СССР, tên tiếng Anh là USSR Academy of Sciences. Tiền thân của nó là Viện hàn lâm khoa học Nga, do Pyotr Đại đế thành lập năm 1724 tại Saint Petersburg theo khuôn mẫu của Tây Âu (gần giống như Académie des sciences của Pháp ở Paris) nhưng phụ thuộc nhà nước nhiều hơn. Trong thời gian 1917 – 1925, có 69 viện sĩ. Sau khi chuyển thành Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, nó được tổ chức lại theo mô hình mới hoàn toàn và có quy mô càng ngày càng to lớn. Năm 1934, chuyển trú sở từ Petrograd về Moskva. Lúc này, có 80 viện chuyên ngành, với khoảng 2000 nghiên cứu viên. Đến năm 1940, các con số đó đã tăng gấp đôi. Năm 1936 có 98 viện sĩ (akademik). Năm 1985, có 330 cơ quan khoa học, với 57 ngàn cán bộ nghiên cứu, một nửa trong số đó là tiến sĩ và phó tiến sĩ (mà ở Việt Nam đã được nâng bậc thành tiến sĩ). Năm 1989 có 323 viện sĩ, 586 thành viên thông tấn, 138 thành viên nước ngoài.
 
Viện hàn lâm khoa học Liên Xô là viện lớn nhất và “danh giá ‘ nhất ở Liên Xô, bên cạnh nó còn có một số Viện hàn lâm chuyên ngành về kiến trúc, y học, nông nghiệp, sư phạm, nghệ thuật, v.v. Ngoài ra mỗi nước cộng hòa xô viết đều có một Viện hàn lâm khoa học, khiến tổng số các Viện hàn lâm ở Liên xô lên đến nhiều chục. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũng thành lập các viện hàn lâm khoa học theo mô hình của Liên Xô.
 
Ngày 21/11/1991, Tổng thống Liên bang Nga ký sắc lệnh tái lập Viện hàn lâm khoa học Nga với tư cách là cơ quan thừa kế hoàn toàn của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.. Cơ cấu tổ chức từ thời Liên Xô vẫn được giữ nguyên. Hiện nay, Viện hàn lâm khoa học Nga có 3 chi nhánh (ở Siberia, ở Ural và ở Viễn đông.) và 15 trung tâm ở các vùng. Đến cuối năm 2011, Viện hàn lâm khoa học Nga có 531 viện sĩ (akademik) và 769 thành viên thông tấn.
 
Trong những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, những người thuộc thế hệ cha mẹ chúng tôi vẫn chưa già lắm, chỉ mới trên dưới 60 tuổi. Họ cùng với những thanh niên học sinh thuộc lớp con cái của mình được nghe rất nhiều điều kỳ diệu về một nền khoa học đang phát triển rực rỡ ở Liên bang Xô-viết mà trụ cột của nó là Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Những thành tựu khoa học vĩ đại có thật của nó, như việc chế tạo vũ khí nguyên tử, phóng vệ tinh nhân tạo và con tàu vũ trụ đã khiến cả thế giới phải khâm phục.
 Mặt khác, đã xẩy ra rất nhiều sự việc tệ hại liên quan đến Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Điển hình nhất là sự tác oai tác quái của Trofim Denisovich Lysenko (1898 – 1976), kẻ khởi xướng một khuynh hướng khoa học giả hiệu trong sinh vật học và khống chế khoa học nông nghiệp ở Liên Xô từ khoảng năm 1935 đến 1960. Ông ta đã dùng quyền lực chính trị để giết hại nhiều nhà bác học có ý kiến khác mình, bắt bớ và giam cầm khiến họ bị chết trong tù, ví dị như Nikolai Ivanovich Vavilov (1887 – 1943), nhà di truyền học xuất sắc nhất của Liên Xô đã bị bắt giam năm 1940 và chết trong nhà tù ở Saratov ngày 26/01/1943 vì thiếu dinh dưỡng.(Theo http://www.peoples.ru/science/botany/vavilov/index.html
 
Tuy nhiên,những sự thật đen tối như vậy đã được giữ kín, chỉ những người thân của các nạn nhân mới biết nên hầu như không ảnh hưởng đến uy tín của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.trong lòng nhân dân Việt Nam.
 
II. Về tên gọi “Viện sĩ”
 
1.      Thế nào là Viện sĩ ?
 
Câu hỏi này tưởng như là do một kẻ dốt đặc nêu ra, nhưng không hẳn như thế.
TheoTừ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì, viện sĩ là thành viên viện hàn lâm (thường là viện hàn lâm khoa học).
 
Định nghĩa như vậy, xem qua thì thấy không có gì sai, nhưng nghĩ kỹ thì thấy còn chưa ổn.
 
Trong một Viện hàn lâm thì các Viện sĩ phải là những người quyết định các vấn đề khoa học thuộc chương trình hành động của Viện. Đành rằng, trong Viện hàn lâm cũng có ông chủ tịch và các ông trưởng ban nọ, trưởng bộ phận kia, nhưng đó chỉ là những chức vụ về tổ chức chứ không có ý nghĩa quyết định trong các vấn đề khoa học.Trong khoa học, ông chủ tịch Viện hàn lâm cũng là một Viện sĩ, lá phiếu của ông ta không thể có “trọng lượng” hơn của các Viện sĩ khác. Những người chỉ được tham dự một số công việc của Viện hàn lâm thì không thể gọi là Viện sĩ. Các viện nghiên cứu của nước ngoài mà tiếng Việt hiện nay gọi là Viện hàn lâm đều mang các chữ Academy, Académie, và Akademiya trong tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga. Các thành viên trụ cột của các viện nghiên cứu ấy ở Anh, Pháp và Nga được gọi là Acadenician, Académicien, Akademik mới đích xác là viện sĩ. Ở một số Viện hàn lâm của các nước châu Âu, nhiều khi còn có các thành viên ở ngạch thấp hơn, không có tư cách của viện sĩ.
 
Sau đây, tôi xin viện dẫn mục Члены РАН trong bàiРосси́йская акаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga)tại website của Viện này (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia. (Nguồn : http://www.ras.ru/members.aspx)
 
 
. Члены РАН
Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН (академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАН избираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения.  Членами-корреспондентами РАН избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.
 Tôi xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm KH Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:
 
Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga
 
Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ – akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn. (LMC dịch)
 
Như vậy, theo website của Viện hàn lâm khoa học Nga thì tôpr chức này này có hai ngạch thành viên. Thứ nhất là thành viên chính thức (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa có tư cách thành viên đầy đủ, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, trước đây người ta gọi là viện sĩ thông tấn. thì hoàn toàn sai do không hiểu quy chế của Viện này.
 
Còn một ngạch thành viên nữa nhưng không được nhắc đến trong văn bản tiếng Nga này, đó là thành viên nước ngoài hay thành viên ngoại tịch, tiếng Nga là иностранный член, mà ở Việt Nam đã có 5 người được nhận danh hiệu này nhưng ở Việt Nam vẫn gọi họ là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô). Gọi như vậy là sai hoàn toàn. Phải chăng, đây là ngạch thành viên thứ yếu, có tính chất hình thức, lễ nghi, không quan trọng cho nên website của Viện hàn lâm khoa học Nga ?. Quả thật, khó mà có cách giải thích khác hơn. Tuy thế, nó vẫn được nhắc đến trong văn bản tiếng Anh tương ứng trên Wikipedia (dành cho đông đảo độc giả trên thế giới), như sau:

Membership

There are three types of membership in the RAS: full members (academicians), corresponding members and foreign members. Academicians and corresponding members must be citizens of the Russian Federation when elected. However, some academicians and corresponding members had been elected before the collapse of the USSR and are now citizens of other countries. Members of RAS are elected based on their scientific contributions – election to membership is considered very prestigious. As of 2005-2007 there are just under 500 full members in the academy and a similar number of corresponding members.
 
Dịch sang tiếng Việt:
 Tư cách thành viên (của Viện hàn lâm khoa học Nga)
Có ba ngạch tư cách thành viên trong Viện hàn lâm khoa học Nga: thành viên có tư cách đầy đủ, tức là thành viên chính thức (academician), thành viên thông tấn (corresponding member) và thành viên nước ngoài (foreign member). Các viện sĩ và các thành viên thông tấn phải là công dân của Liên bang Nga khi được bầu. Tuy vậy, một số viện sĩ và thành viên thông tấn đã được bầu trước khi Liên Xô sụp đổ, hiện nay là công dân mới của các nước khác. Các thành viên của RAS được bầu dựa trên những cống hiến khoa học của họ, người được bầu làm thành viên được coi là rất có danh giá. Trong những năm 2005 – 2007, ở Viện hàn lâm Nga có gần 500 thành viên chính thức và khoảng ngần ấy thành viên thông tấn (LMC dịch).
 
Như vậy, website của Viện hàn lâm khoa học Nga không nhắc đến ngạch thành viên thông tấn, coi như nó không tồn tại. Nhưng, bài viết về Viện haàn lâm khoa học Nga trong từ điển Wikipedia tiếng Ạnh thì có nhắc đến một chút. Điều đó chứng tỏ rằng, đối với Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô), thành viên nước ngoài (иностранный член, foreign member) chỉ là thành viên hình thức, không thể là viện sĩ. Chưa cần xét đến thành tích và uy tín trong khoa học, chỉ riêng vấn đề quốc tịch đã không cho phép người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô). Thành viên thông tấn (члены-корреспондент, corresponding member) của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga) có tư cách thành viên thấp hơn viện sĩ, có thể coi như “viện sĩ dự bị”
 
Hai tiếng “viện sĩ” hiện nay nghe rất quen tai nhưng hình như cũng mới xuất hiện ở Việt Nam chừng nửa thế kỷ. Trong quyển Hán- Việt từ điển của Đào Duy Anh không có từ này. Giở quyển Pháp – Việt từ điển, xem chữ Académicien, thấy cụ Đào viết: Académicien: 1. Nhà triết học về phái Platon; 2. Hội viên của Quốc gia học hộ,; hội viên tòa Hàn lâm nước Pháp.Lại xem tiếpcác quyển từ điển Pháp – Việt và Việt – Pháp của Đào Văn Tập và Đào Đăng Vĩ in ở Sài Gòn hồi những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, cũng không thể tìm thấy chữ “viện sĩ”. Có lẽ tôi đã đoán đúng về tuổi của từ này.
 
Giở mấy quyển từ điển của Trung Quốc hiện có trên giá sách như Cổ kim Hán ngữ từ điển, Cổ kim Hán ngữ thực dụng từ điển hay Tân hiện đại Hán ngữ từ điển (kiêm tác Anh-Hán từ điển) thì thấy quyển nào cũng có từ “viện sĩ”, với lời diễn giải giống nhau. Quyển Tân hiện đại…viết: 院士 (viện sĩ): academician; nhân viên nghiên cứu cao cấp nhất của các bộ phận thuộc viện khoa học ở một số quốc gia. Tôi cho rằng, định nghĩa như vậy là chính xác.
 
Tiếp tục tìm hiểu thêm thì biết rằng, ở Trung Quốc lâu nay không hề sử dụng tên gọi “viện hàn lâm” để chỉ các viện khoa học, nhưng họ vẫn có các viện sĩ. Hiện tại, ở nước này có hai loại viện sĩ có uy vọng ngang nhau, đó là: Viện sĩ Viện khoa học Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences, CAS)và Viện sĩ Viện công trình Trung Quốc (Chinese Academy of Engineering, CAE), gọi tắt là Viện sĩ Trung khoa việnViện sĩ Trung công viện. Người Trung Hoa bắt đầu có viện sĩ từ năm 1948.
 
2.                      Tên gọi “Viện sĩ” phải đi kèm với tên của Viện hàn lâm (hay Viện nghiên cứu)
 
Như quý vị độc giả đã thấy, nước Pháp có chừng một chục viện học thuật được gọi là Académie…, tức là có chừng một chục viện hàn lâm khác nhau, không thể lẫn lộn. Do đó, không thể có một ngạch viện sĩ chung chung, mà phải phân biệt viện sĩ của Viện hàn lâm X hay của Viện hàm lâm Y. Ở Pháp, Académie française  (mà ta gọi là Viện hàn lâm Pháp).là Académie nổi tiếng nhất, chỉ cần nói đến l’Académie là người ta nghĩ ngay đến Académie française , cũng như ở Việt Nam hay ở Liên xô trước đây, hễ nói đến đảng thì có nghĩa là nói đên đảng Cộng sản. Do đó, từ Académicien (hoặc Membre de l’Académie) nghĩa là viện sĩ của một việnhàn lâm, nhưng khi nó được sử dụng một mình thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (đúng như cụ Đào Duy Anh đã giảng), cũng như ở nước ta, khi nói “ông A là đảng viên” thì đã có nghĩa rằng, ông ấy là đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả khi đảng Dân chủ và đãng Xã hội đang tồn tại cũng vậy. Nhưng ta không thể nói bà Hillary Clinton là đảng viên, mà phải nói rằng, bà Hillary Clinton là đảng viên của đảng Dân chủ ở Mỹ.
 
Ở Trung Quốc, cả Trung khoa viện (Viện khoa học Trung Quốc) và Trung công viện (Viện công trình Trung Quốc) đều chưa có cái nào nổi trội hơn hẳn, cho nên không thể nói đến viện sĩ A hay viện sĩ B, mà phải phân biệt viện sĩ Trung khoa viện với viện sĩ Trung công viện.
 
Trong tiếng Nga, chữ aкадемик (akademik, tương đương với académicien trong tiếng Pháp và academician trong tiếng Anh) có nghĩa là thành viên chính thức của một Академия. Cũng tương tự như ở Pháp, ở Liên Xô (và ở Nga hiện nay) có rất nhiều Академия, tức là rất nhièu Viện hàn lầm, nhưng vì Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (nay là Viện hàn lâm khoa học Nga) quá nổi tiếng và quen thuộc với mọi người ở Nga hoặc Liên Xô trước đây, cho nên, chữ akademik mà không kèm theo định ngữ nào nữa thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, tương tự như từ “đảng viên” ở Việt Nam hiện nay có nghĩa là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Viện sĩ của các viện hàn lâm khác thì phài ghi rõ là akademik của viện nào, nếu nhận là akademik mà không có định ngữ kèm theo (khiến mọi người hiểu là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên xô) thì đó là một sự gian dối.
 
Sở dĩ phải nhấn mạnh mấy chữ thành viên chính thức là vì, ở Liên Xô trước đây và ở Nga ngày nay còn có các ngạch thành viên không chính thức của viện hàn lâm, như chúng tôi đã nói ở trên.
 
III.           Những nhầm lẫn không nhỏ trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”
 
1.      Nhầm lẫn trong việc sử dụng tiếng Việt
 
Như chúng tôi đã nói ở trên, Viện hàn lâm nào cũng có tên rõ ràng và viện sĩ của các Viện ấy được phân biệt với nhau theo tên của từng Viện. Vị thế của một người mang danh hiệu viện sĩ luôn luôn gắn liền với hình ảnh quá khứ và hiện tại của Viện mà ông ta được bầu làm viện sĩ. Bởi vậy, khi nói đến một viện sĩ thì phải nêu rõ là viện sĩ của viện nào, ở nước nào. Ví dụ, nhà bác học Pháp Jules Hoffmann trong những năm 1992 – 2011 là Membre de l’Académie des sciences (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp), cũng đã quá sang trọng, nhưng từ ngày 01/3/2012, ông trở thành Membre de l’Académie (mất các chữ des sciences, nghĩa là các khoa học) tức là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp, đứng vào hàng “bất tử” của nước Pháp. Bây giờ, nếu ai đó không chịu bỏ bớt các chữ des sciences cho ông thì có nghĩa là đã hạ thấp địa vị của ông. Ngược lại, giả sử trước tháng 3/2012, nếu ông Jules Hoffmann để cho anh thư ký “bỏ quên” các chữdes sciences thì điều đó được coi là phạm tội dối trá.
 
Hàng ngày chúng ta thấy báo chí và tivi nhắc đến viện sĩ Nguyễn, viện sĩ Trần, viện sĩ Phan, các viện sĩ X, Y, Z, v.v. Cái danh hiệu viện sĩ ấy không xuất phát từ Việt Nam (vì nhà nước Việt Nam chưa phong tặng danh hiệu viện sĩ cho các viện nghiên cứu cao cấp nhất của một viện nào cả), mà là do họ mang từ nước ngoài về, từ nhiều nước khác nhau. Tuy thế, họ đều được gọi bằng cùng một cái tên là viện sĩ. Như thế thật là không ổn.Thử hình dung một tình huống như sau.. Có 5 ông là Phan A, Trần B, Nguyễn C, và X, Y, mỗi ông đi đến một nước. Ông Nguyễn C sang Nga rồi gia nhập đảng Nước Nga thống nhất, ông Trần B thì sang Nhật rồi vào đảng Dân chủ – Tự do (LDP), ông Phan A sang Pháp rồi gia nhập đảng Cộng sản Pháp, các ông X và Y thì sang Mỹ, vào đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Nói tóm lại là ông nào cũng trở thành đảng viên của một đảng nào đó ở mỗi nước. Khi về Việt Nam, tất cả các ông ấy có thể tự xưng là đảng viên hay không?. Tuy mỗi ông đều là đảng viên của một đảng nào đó nhưng tiếng Việt không thể chấp nhận cách xưng hô như vậy. Các ông ấy nhất thiết phải ghi rõ: Phan A – đảng viên đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn C – đảng viên đảng nước Nga thống nhất, v.v.
 
Đối với danh hiệu viện sĩ cũng tương tự như vậy. Nếu quả thật các GS Phan A, GS Trần B, GS Nguyễn C , v.v. đã trở thành viện sĩ của các Viện nào đó ở các nước kể trên thì họ cũng phải ghi danh vị của mình giống như mẫu kê khai đảng tịch vừa kể. Đương nhiên là hai chữ viện sĩ không thể đứng trước họ-tên của các ông. Chỉ khi nào ở Việt Nam có một Viện hàn lâm, hoặc một Viện nào đó rất nổi tiếng mà toàn dân đều biết như đảng Cộng sản Việt Nam vậy, rồi nhà nước Việt Nam ra quyết nghị phong tặng danh hiệu viện sĩ cho họ, khi dó, các GS kia mới đĩnh đạc ghi danh của mình là VS Phan A, Viện sĩ Trần B, VS Nguyễn C, v.v. Cũng xin nhắc rằng, lúc ấy các ông nên vứt cái chữ GS đi, bởi vì VS sang trọng hơn rất nhiều. Ai cũng biết rằng, những người có chức vụ cao hoặc tước vị cao, người nào mà chẳng trải qua những chức vụ, những tước vị thấp hơn. Cho nên các ông akademik ở Liên Xô (hay ở Nga) chẳng có ông nào ghi thêm danh hiệu giáo sư cả, bởi vì ở Liên Xô có hàng vạn giáo sư, nhưng số akademik (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô) lúc cao nhất chỉ hơn 300 người.
 
2. Sai lệch quá lớn giữa danh vị thật và danh vị được quảng bá.
 Báo chí và đài phát thanh, truyền hinh ở nước ta đã từng đưa tin và nhiều lần nhắc đến việc các giáo sư A, B, C nào đó được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô hoặc Viện hàn lâm khoa học Nga. Cùng một ông, có nơi ghi là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga), có nơi lại ghi là viện sĩ nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Hiên tượng đó chứng tỏ rằng, những người đưa tin (hay cả những người được tặng danh hiệu?) chưa hiểu quy chế về ngạch bậc đối với các thành viên của Viện hàn lâm khoa học này. Họ tưởng rằng, thành viên của Viện hàn lâm thì cũng là viện sĩ. Nhưng sự thực thì không phải như vậy. Chúng tôi đã nói kỹ điều này ở tiểu mục 1. của phần II trên kia.
 
Tra cứu trong danh sách viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô và Viện hàn lâm khoa học Nga, chúng ta không thể tìm thấy tên một người Việt Nam nào cả. Thực ra, sự tra cứu ấy là một việc không cần làm, vì yêu cầu về quốc tịch đã quy định không thể có người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm này. Nhưng trong danh sách các thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (gồm cả từ thời Liên Xô) thì có tên 5 người Việt Nam Hiển nhiên, họ không phải là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) như lâu nay chúng ta đã gọi nhầm, hiểu lầm, mà là thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm ấy. Đối với người Nga, hình ảnh của các thành viên này hết sức mờ nhạt, chỉ có tính chất hình thức, ngoại giao, đến nỗi website chính thức của Viện hàn lâm Nga cũng không hề nhắc đến họ, coi như họ không tồn t ại. Lâu nay, ở nước ta, họ vẫn tự xưng hoặc được mọi người xưng tụng là viện sĩ viện hần lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Bất cứ nơi nào có tên của họ, bao giờ cũng có các chữ VS hoặc viện sĩ đứng ở phía trước. Ví dụ: VS Nguyễn C..hoặc Viện sĩ Trần B. Viết như vậy là đã phạm hai lỗi. Thứ nhất là lỗi về tiếng Việt, vì ở nước ta., từ “viện sĩ” chưa có nghĩa cụ thể như từ “đảng viên”, cho nên, viết như thế thì không ai biết là viện sĩ gì.. Thứ hai là, Nguyễn C hay ông Trần B ấy không phải là viện sĩ Viên hàn lâm khoa học nào cả. Để không phạm phải hai lỗi ấy thì phải viết như sau: Nguyễn Văn X, thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga.
 
Trong thời kỳ mà Liên Xô còn tồn tại, hầu hết các nước XHCN ở Đông Âu cũng đều có Viện hàn lâm khoa học sao chép theo mẫu của Liên Xô. Bởi vậy, nếu có người Việt Nam nào đó đã từng được báo chí trong nước gọi là viện sĩ của nước này nước nọ thì cũng giống như trường hợp ở Liên Xô vậy..
 
3. Cuộc tuyên truyền rầm rộ cho một mỹ hiệu hão huyền
 
Đầu tháng 7/2011, hàng loạt báo chí nước ta rầm rộ đưa tin GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Bản tin của Nhà xuất bản Tri thức (ngày 11/7/20110) có tiêu đề GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp.Trong các cuộc hội nghị và các cuộc liên hoan, ăn mừng, chúc tụng, mọi người đều khẳng định rằng từ nay GS Phan Huy Lê đã trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Lúc đó, tôi thấy nét mặt ông thật hồn nhiên đầy vẻ đắc thắng, mãn nguyện, rạng rõ tươi cười đón nhận mỹ hiệu cao quý ấy. Mọi người hết sức cung kính và thán phục, cảm thấy tự hào khi đứng trước một viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ngót năm thế kỷ vừa qua, chỉ những đại trí thức kiệt xuất nhất của nước Pháp may ra mới được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (Membre de l’Académie française), và họ còn được gọi là những người “bất tử” (Immortels) của nước Pháp, được dân chúng nước Pháp tôn thờ muôn đời. Thế mà từ nay, một người Việt Nam quê ở xứ Nghệ được vinh dự đứng trong hàng ngũ ấy. Thật là một niềm hãnh diện ngút trời đến với mọi người dân đất Việt.
 
Người viết bài này phải nén nỗi bàng hoàng, cố đọc kỹ các bản tin để cho rõ.sự tình. Báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam 16//07/2011 đưa tin như sau:
 
Giáo sư Phan Huy Lê – Niềm tự hào của nền sử học nước nhà
 
 
Giáo sư Phan Huy Lê. (Ảnh: Bùi Tuấn)
(ĐCSVN) – Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Vinh dự này thuộc về Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê khi ông vừa được Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn (thuộc Học viện Pháp quốc) bầu là Viện sĩ Thông tấn. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là niềm vinh dự lớn lao của giới sử học nước nhà, khẳng định vị thế của khoa học lịch sử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Niềm tự hào của giới sử học
Đầu tháng 7-2011, tên tuổi của GS Phan Huy Lê một lần nữa trở thành niềm tự hào của học trò, đồng nghiệp trong nước và quốc tế, bởi ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là sự tôn vinh nền sử học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. GS, Nhà giáo Nhân dân Đinh Xuân Lâm- Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, người đồng hương, đồng môn và đồng nghiệp của GS. Phan Huy Lê khẳng định: Đây là một tin rất vui, tin mừng vì đây không chỉ là tôn vinh cá nhân mà là tôn vinh cả nền sử học của nước ta trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Theo tôi, với việc GS Phan Huy Lê được bầu vào Viện hàn lâm Pháp như vậy tạo điều kiện cho giới khoa học- xã hội VN nói chung và giới sử học nói riêng có điều kiện thuận lợi, có cơ hội để đặt quan hệ rộng rãi với sử học thế giới và trên cơ sở đó chúng ta đi vào thời kỳ hội nhập và phát triển thuận lợi hơn.
.
 Bản tin này in đậm dòng chữ GS Phan Huy Lê đã trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Phápmột Viện hàn lâm có uy tín hàng đầu trên thế giới, tiếng Pháp gọi là L’Académie française. Nhưng, tiếp đó, lại viết rằng, GS Phan Huy Lê là viện sĩ thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm văn khắc và mỹ văn (có tên gốc bằng tiếng Pháp là Académie des Inscriptions et Belles-Letres. màcụĐào Duy Anh dịch làViện Bi ký và Mỹ văn). Tiếp theo, bản tin lại khẳng định răng ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp, và chính GS sử học Đinh Xuân Lâm cũng nhắc lại điều này.
 
Cứ xem danh sách đầy đủ các viện sĩ Viện hàn lâm Pháp từ khi thành lập đến năm 2012 thì biết rằng, đã xẩy ra một sự nhầm lẫn nghiêm trọng và kéo dài. Tuy vậy, vẫn cứ băn khoăn, bởi vì, tôi nhớ rằng, không ở đâu có chức danh viện sĩ thông tấn nước ngoài, mà chỉ có thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) ở Nga mang quốc tịch Nga (mà tiếng Pháp dịch là membre-correspondant), còn bên cạnh các Académie ở Pháp thì có thông tín viên (correspondant, không phải là membre-correspondant). Để kiểm tra lại trí nhớ của mình, tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l’Académie des inscriptions et belles-lettres de l’Institut de France.tức là Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.
 
Danh sách này cho biết, từ khi thành lập (năm 1663) đến năm ngày 02/9/2012, cả thảy có 670 người là thành viên của Viện này, trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm thành viên (tức viện sĩ). Dĩ nhiên là không có tên ông Phan Huy Lê, vì ông thuộc ngạch correspondant.
 
Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên), Associés libres (cộng sự viên tự do) và Associés étrangers (cộng sự viên nước ngoài).
 Trong tất cả các danh sách này, không ở đâu có tên GS Phan Huy Lê.
 
Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm 3 ngạch thành viên, hiện nay chỉ có một ngach, là viện sĩ.
 
Như vậy, chắc chắn rằng, GS Phan Huy Lê không phải là thành viên của Académie des Inscriptions et Belles-Letres, không phải là cộng sự viên, không thể gọi là viện sĩ thông tấn của nó.
 
Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm này, tôi phải tìm website chính thức (Official website) của nó, và đã tìm được tại địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
Tìm đến trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên , và hãy đọc nửa đầu ở trang ấy bằng nguyên văn tiếng Pháp (kèm theo bản dịch ra tiếng Việt), như sau:
 
Membres
 L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
 L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux ; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres. (Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt::
 
Các thành viên (của Viện Bi ký và Mỹ văn)
Viện Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên nước ngoài.
 Viện Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử, ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế của họ.
Khi một chiếc ghế bành (fauteuil) viện sĩ được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ có mặt.
Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện (Bi ký và Mỹ văn) và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện tuyển chọn các thành viên mới, theo thói quen thường có. (LMC dịch)
 Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì sai vê ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng hoàn toàn đúng về thực chất. Còn các correspondant, phâỉ dịch chính xác bằng nhóm từ thông tín viên, vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (chứng cứ là thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa.
 
Mời quý vị độc giả xem văn bản của Viện Bi ký và Mỹ văn về việc chỉ định GS Phan Huy Lê làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger)
 
  
 
Dịch sang tiếng Việt:
PHAN HUY
Hiệp sĩ Lá cọ hàn lâm (Nghĩa là “Người được tặng huy chương Văn hóa – Giáo dục
hạng 3, hạng thấp nhất, tặng cho giáo sư có trên 15 tuổi nghề – LMC chú giải)
, Sinh ở Thạch –Châu (Việt Nam), 23 tháng hai 1934
Nhà Đông phương học, chuyên gia về lịch sử nông thôn, lịch sử văn hóa và lịch sử
 quân sự của Việt Nam, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam.
 Được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger) từ ngày 27 tháng
 5 năm 2011 ở vị trí của Francisco Rico .
 ———————————————————————————–
 
Hơn một năm qua, mọi người đã tôn xưng GS Phan Huy Lê khi thì là viện sĩ, lúc thì là viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm bi ký và mỹ văn Pháp. Nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người, trong đó có GS Đinh Xuân Lâm, đã gọi GS Phan là Viện sĩ hàn lâm Pháp, đồng nghĩa với việc ông trở thành con người “bất tử” của nước Pháp, được người Pháp thờ phụng muôn đời. Nhưng sự thực thì GS Phan Huy Lê chỉ là thông tín viên của Viện bi ký và mỹ văn. Thật là sự phóng đại một tấc đến trời.
 Phải coi việc GS Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên của Viện Bi ký và Mỹ văn là một vinh dự và may mắn quá lớn đối với ông. Tuy thế, đó vẫn là một việc rất nhỏ, chưa đáng để cho báo chí ở Pháp đưa tin, chỉ có thể tìm thấy các bản tin tiếng Việt phóng đại quá sai, rất khó tìm thấy một bản tin tiếng Pháp về việc này. Chúng tôi phải tìm ở website của L’Académie des Inscriptions et Belles Lettres thì mới thấy..
 
Sự hồn nhiên của ông chủ tịch Hội sử học thật đáng trách. Lẽ ra, vinh dự mà mình được hưởng đến đâu thì cứ khoe đến đấy, đằng này lại khoe quá đà, vượt sự thật quá xa, để cho gần một trăm triệu người Việt Nam hiện tại (nếu kể cả mai sau thì còn nhiều lắm) bị lấm lẫn, từ thạch anh lại tưởng là ruby thượng hạng hoặc kim cương, để rồi khi vỡ lẽ ra thì lại thất vọng ê chề, chán chường, bực tác rồi quay ra chửi đổng.
 
Trước đây, khi một thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) xuất hiện trên báo chí dưới danh hiệu là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga), ví dụ, ông Nguyễn B chẳng hạn, bao giờ cũng thấy viết là GS.VS. Nguyễn B. Viết như vậy là sai liền mấy lỗi, như tôi đã phân tích ở trên. Nhưng thật khó biết đó là lỗi của nhà báo, của biên tập viên, lỗi của nhân viên đánh máy hay là lỗi của chính ông Nguyễn B. Riêng về GS Phan Huy Lê, tôi đã thấy có chỗ ông viết tên mình là GS.VS.Phan Huy Lê rồi ký tên và đóng dấu của Hội Khoa học lịch sử.
 
Nói tóm lại, GS Phan Huy Lê chỉ được vinh dự làm thông tín viên (correspondant) của Viện Bi ký và Mỹ văn (L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres), một Viện học thuật nổi tiếng vào hạng thứ tư hoặc thứ năm ở Pháp; ông không hề là “viện sĩ” của một Viện nào cả, lại càng không thể là Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp như chính ông cùng hệ thống báo chí toàn quốc đã ngộ nhận và tuyên truyền rộ, coi đó là một niềm tự hào của đất nước ta.
 
VI. Vài lời cuối bài
 
Đây là bài lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ”. Nếu viết kỹ hơn thì còn rất nhiều điều đáng nói, có cả chuyện “cười ra nước mắt” nữa. Nhưng, tác giả nghĩ rằng, ngần ấy cũng đã khá đủ để chúng ta có những hiểu biết cơ bản về các tên gọi như viện hàn lâm và viện sĩ, académie (hoặc academy, akademiya…) và académicien (hoặc academician, akademik…), và cuối cùng nhận rõ không ít sai lầm trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”
 
Tác giả nhận thấy rằng, ở nước ta, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” có sức mê hoặc phi thường và rất nhiều người muốn khai thác chúng một cách triệt để. Cho nên, cứ hễ ớ đâu có Academy là lập tức được dịch ra ngay thành Viện hàn lâm, hễ dính một chút đến một Academy nào đó là trở thành viện sĩ, và được nhiều người trầm trồ, thán phục. Sự ngưỡng vọng đối với viện hàn lâm và viện sĩ, có lẽ bắt đầu thể hiện đối với Viện hàn lâm Pháp (Académie française ) từ thế hệ cha chú chúng tôi, tiếp đến là đối với Viện hàn lâm khoa hoc Liên Xô, bén rễ trong lòng nhiều thế hệ trước khi Liên xô sụp đổ. Tình cảm ấy bắt nguồn từ đức tính tốt là lòng yêu chuộng tri thức. Nhưng, khi thời thế đổi thay, thói giả dối, bệnh ham chuộng hình thức và hư danh bao trùm lên xã hội thì đức tính tốt ấy bị lợi dụng và khai thác triệt để. Thói dối trá đã ngấm sâu vào máu của những người đã giành được ít nhiều danh lợi, đến mức trở thành bản năng, vô thức, tất yếu.
 
Tôi rất mong muốn nước ta có những “viện hàn lâm” (nếu thấy cần phải gọi như thế) hoặc là một hay vài viện nghiên cứu (của nhà nước và của tư nhân), trong đó nổi lên một viện có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển lành mạnh của đất nước, rất nổi tiếng và toàn dân ai ai cũng biết, dù nó có tên là Viện (hàn lâm) ABXFZ gì đó nhưng chỉ cần nói đến “Viện (hàn lâm)” là đủ biết mà không cần nói rõ tên, giống như từ “đảng’ hiện nay vậy. Khi đó, các thành viên trụ cột (không phải là “tứ trụ” mà có thể là “nhị thập tứ trụ” hay là “tứ thập nhị trụ”, v.v.) được tôn xưng là Viện sĩ của viên ABXFZ, nhưng chỉ cần xưng “Viện sĩ” là đủ.. Lúc bấy giờ, các cụ Phan A, Nguyễn B, Trần C (nếu còn sống) sẽ được gọi là viện sĩ theo đúng nghĩa và họ tha hố vung bút thoải mái viết VS Phan A, viện sĩ Nguyễn B mà không sợ phạm lỗi tiếng Việt. Nhưng lúc đó phải lưu ý cấm các chú vệ sĩ không được viết tắt chữ “vệ sĩ” là VS, mà có lẽ nên cấm ngay từ bây giờ, vì nếu không cấm thì vệ sĩ Mạnh Huỵch chẳng hạn, lúc nào cũng có quyền giới thiệu mình là VS. Mạnh Huỵch mà không cần ai ban phát danh hiệu và không hề phạm lỗi tiếng Việt, bởi vì vệ sĩ gần như là nghề nghiệp của ông ta, như ta vẫn thường nói ca sĩ Hồng Nhung hay nhạc sĩ Trần Tiến vậy. Ngoài ra, nếu Viện ABXFZ được mọi người biết đến vì nó đầy tai tiếng, lúc đó, xét về mặt ngôn ngữ học thì viết VS Phan A hay viện sĩ Nguyễn B cũng đều hoàn toàn đúng, nhưng đó là cái đúng mà chúng ta không mong muốn.
 
Ở nước ta có hai Viện nghiên cứu lớn (không biết đã lớn nhất hay chưa) mà tôi khá quen biết, đó là Viện khoa học xã hội Việt NamViện khoa học và công nghệ Việt Nam. Cả hai Viện ấy có tên bằng tiếng Anh, lần lượt là Vietnam Academy of Social siences Viet Nam Academy of Science and Technology (chữ Việt Nam có khi viết liền, có khi viết rời, có khi viết Vietnamese). Vì khá nhiều người hiểu chữ Academy một cách “hàn lâm” chứ không nghĩ rằng ngày nay nó được sử dụng khá “thông tục” nên họ phê phán rằng, làm ăn chẳng ra gì mà đã huyênh hoang, dám vỗ ngực tự xưng là Academy. Theo tôi thì dịch như vậy không sai, Viện khoa học Trung Quốc cũng có tên bằng tiếng Anh là Chinese :Academy of Sciences cơ mà. Còn cái tên bằng tiếng Việt thì cũng tùy các nhà lãnh đạo cao cấp định đoạt, nhưng nếu gọi là Viện hay Viện hàn lâm thì giá trị của nó cũng không hề tăng lên hay giảm xuống. Chiếc áo không làm nên thày tu, huống chi là một cái tên.
 
Với tư cách một công dân cao tuổi, tôi viết bài lược khảo này để quý vị độc giả và các nhà chức trách tham khảo nhằm hiểu rõ hơn về những danh hiệu mà suốt nhiều năm qua, các cơ quan báo chí và các nhà khoa học cùng toàn thể dân chúng đã hiểu sai, dấn đến những chuyện lố bịch, đáng hổ thẹn. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đông đảo độc giả và cả trước pháp luật về điều mà tôi đã khám phá.
 
Theo những địa chỉ của các nguồn tư liệu từ Internet mà tôi đã sử dụng, bất cứ độc giả nào biết chữ Hán và tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp đều có thể kiển tra ngay trước màn hình của máy tính. Nếu phát hiện thấy tôi đã trích dẫn sai, hiểu sai, diễn giải sai các nguồn tư liệu ấy, tôi kính mong được chỉ dẫn thật rõ, rõ hơn hoặc như tôi đã làm trong bài này. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung của bài này 
  
Trang này cho biết rõ vị trí, tư cách của viện sĩ Viện Bi ký và Mỹ văn, về các cộng sự viên nước ngoài của viện này, trong đó cũng nói rất cụ thể về vai trò của các Correspondant (mà GS Phan Huy Lê là một trong số 50 người nước ngoài giữ vai trò này), ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie = họ bảo đảm vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện. Như vậy, phải dịch chữ Correspondant là thông tín viên, phải như thế mới chính xác.
 
 
 
 
 

10 người đàn bà đẹp huyền thoại Việt Nam (2) – kienthuc

23 Th10

10 người đàn bà đẹp huyền thoại Việt Nam (2)

– Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân, nữ tướng Bùi Thị Xuân, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm… là những người đàn bà đẹp huyền thoại Việt Nam tiếp theo, mà Kiến Thức giới thiệu tới độc giả.
 
TIN LIÊN QUAN

Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân

 
Trong lịch sử Việt Nam, có một nhân vật nữ nổi tiếng, được sử sách nhắc nhiều nhất là công chúa Lê Ngọc Hân (1770 – 1799) – con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông và đồng thời là Bắc cung hoàng hậu của Hoàng đế Quang Trung.

Nhiều sử gia cho rằng, Ngọc Hân lấy vua Quang Trung là cuộc hôn phối chính trị ở lúc thế nước chẳng đặng đừng. Vua Lê đã sử dụng con gái làm “mỹ nhân kế”, nhưng khi cuộc hạnh ngộ anh hùng – mỹ nhân diễn ra thì cuộc hôn nhân ép buộc đã trở thành mối tình đẹp nổi tiếng trong sử Việt.
 
Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ảnh minh họa
Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ảnh minh họa
Vì giỏi văn thơ, Ngọc Hân được Nguyễn Huệ yêu say đắm. Nguyễn Huệ cũng được Ngọc Hân xem như một vĩ nhân hiếm có. Không chỉ yêu vì nết, Nguyễn Huệ còn trọng Ngọc Hân vì tài, nên giao coi giữ các văn thư trọng yếu, phong cho chức nữ học sĩ, dạy dỗ các con cái và các cung nữ. Tuy nhiên, trong thực tế, Ngọc Hân còn trở thành người cộng sự đắc lực, tin cẩn về lĩnh vực văn hóa, giáo dục cho chồng; đồng thời khuyên giải cho chồng trong nhiều việc hệ trọng khác như khuyên chồng chấm dứt cuộc xung đột với Nguyễn Nhạc…
Minh chứng cho điều này, theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung, công việc của Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân trong việc triều chính ở Phú Xuân lúc nhà vua còn sống, đã được ghi lại trong một số biểu văn đương thời. Cụ thể, một số bài biểu chúc mừng Ngọc Hân nhân dịp tết Đoan Ngọ (5 – 5 âm lịch) có đoạn như sau (Bài biểu do triều thần chúc tụng):
“…Kính nghĩ Hoàng hậu là ánh sáng toả lan của lá ngọc cành vàng, là chi nhánh của sông Ngân, sông phái. Lúc bà vu quy cung nhân theo thử bậc, thuận lòng giúp rập, giặt giũ áo xiêm, tiếng tột đã chói lọi, nên cung kính thuận hoà, khi đưa dâu theo hằng trăm cỗ.
Lúc gà gáy, nửa đêm, bà ân cần giúp hoàng đế mặc áo thêm để lo việc triều chính. Đặt nền tảng đầu tiên là bà, có một lần bà đã động viên nhắc nhở quân binh mang áo giáp ra chiến trường thì phải mang về chiến thắng.
Về tề gia trị quốc, bà đã tham gia vào việc chiến chinh của hoàng đế. Bà khiêm nhường hoà nhã, vẫn phát huy mãi cái phẩm chất trong sáng tự nhiên”.
Một bài biểu khác chúc mừng Hoàng hậu Ngọc Hân có đoạn: “Kính nghĩ hoàng hậu bệ hạ là dòng dõi hoàng tộc, ân đức rạng rỡ. Đọc kinh Thư, giải kinh Dịch làm nền tảng cho việc đẹp đẽ dồi dào, siêng cần lo thành tựu nghiệp cả. Sinh nhà Hạ, hưng nhà Chu, tạo lập nên công nghiệp lớn”.
Theo sử sách, Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân từ  trần ngày mồng 4 tháng 12 năm 1799 tại Huế, khi mới 29 tuổi do căn bệnh hậu bối.
Nữ tướng Bùi Thị Xuân
Theo sách Danh tướng Việt Nam, Bùi Thị Xuân người làng Xuân Hòa, huyện Bình Khê (nay thuộc tỉnh Bình Định), sinh năm nào chưa rõ. Bà là vợ của Thiếu phó Trần Quang Diệu, vì thế người đời vẫn thường gọi là bà Thiếu phó.
Năm 1771, khi Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn, Bùi Thị Xuân là một trong những người nhiệt liệt tham gia hưởng ứng đầu tiên. Trong khởi nghĩa Tây Sơn nói riêng và lịch sử quân sự Việt Nam nói chung, Bùi Thị Xuân là một hiện tượng rất đặc biệt. Bà đã góp công lớn trong những chiến thắng lẫy lừng của đội quân áo vải, tiêu biểu là chiến thắng trước 2 vạn quân Xiêm ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút (Tiền Giang) vào năm 1785; trận đại phá quân Thanh tại Ngọc Hồi – Đống Đa vào đầu xuân Kỷ Dậu 1789. Từ một phụ nữ bình thường, bà trở thành một danh tướng được đời đời kính trọng.
 
Nữ tướng Bùi Thị Xuân. Ảnh: Internet
Nữ tướng Bùi Thị Xuân. Ảnh: Internet

Sử sách chép, sau khi vua Quang Trung băng hà, chúa Nguyễn Phúc Ánh được mật báo nội bộ nhà Tây Sơn lục đục, liền tổ chức ngay các cuộc tấn công. Vào tháng 1/1802, Bùi Thị Xuân tham gia trận Trấn Ninh chống lại cuộc phản công của Nguyễn Phúc Ánh. Vì lực lượng ngày một rệu rã, mưu lược, lòng dũng cảm và tài cầm quân của bà cùng với các tướng lĩnh trung thành còn lại không đủ để chống chọi, nên Nguyễn Ánh đã chiếm được Trấn Ninh.

Cùng năm, dọc đường rút quân ra Bắc, bà cùng chồng và con gái bị quân Nguyễn Ánh bắt tại Nghệ An. Tương truyền, chúa Nguyễn đã sai người áp giải bà đến trước mặt rồi hỏi với giọng đắc chí: “Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?”. Bà trả lời: “Chúa công ta, tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà người đi cầu viện ngoại bang, làm tan nát cả sơn hà, cũng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua là ao trời nước vũng”.
Chúa Nguyễn gằn giọng: “Ngươi có tài sao không giữ nổi ngai vàng cho Cảnh Thịnh?”. Bà đáp: “Nếu có một nữ tướng như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không để lạnh. Nhà ngươi khó mà đặt chân được tới đất Bắc Hà…”.
Khi chúa Nguyễn hỏi bà có muốn xin ân xá không, nữ tướng đã nói dõng dạc: “Ta đâu có sợ chết mà phải chịu nhục, hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?”.
Như vậy, trước khí phách ngất trời của Bùi Thị Xuận, Nguyễn Phúc Ánh đã bắt bà chịu hình phạt thảm khốc nhất. Có thuyết nói bà và con gái bị xử tội lăng trì (tức là xẻo thịt từng miếng cho đến chết), nhưng cũng có thuyết rằng, cả hai mẹ con bà bị đem ra cho voi giày.
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm
Đoàn Thị Điểm (1705-1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, là tác giả tập truyện Truyền kỳ tân phả và dịch giả bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết về bà: “Những câu thơ đẹp và bậc nhất trong thơ Việt Nam đã được viết ra từ ngọn bút của người phụ nữ tài hoa lỗi lạc này”.
 
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Ảnh minh họa
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Ảnh minh họa

Là người có tài trí và nhan sắc hơn người, Đoàn Thị Điểm nổi tiếng từ hồi trẻ. Đến năm 37 tuổi, bà mới nhận lời làm vợ kế của binh bộ tả thị lang Nguyễn Kiều. Về các sáng tác của bà, Gia phả nhà họ Đoàn chép: “Trong khi nhàn hạ, ngâm nên thiên hay, câu đẹp; kể đã hàng chục, hàng trăm”. Đó là nhắc tới sáng tác thơ khi bà chưa lấy chồng. Sau khi lập gia đình, theo lời kể của ông Nguyễn Kiều trong bài văn tế thì sáng tác vẫn là công việc chính yếu của bà” “Việc bút nghiên, tài lạ hằng chuyên xếp đặt thơ văn thành tập”. Thế nhưng, cho đến nay, số lớn các tác phẩm của bà đều đã bị thất lạc.

Liên quan tới bản dịch Chinh phụ ngâm của bà, theo Bách khoa toàn thư mở, hiện nay chưa khẳng định là bản nào. Nhiều người cho rằng, đó là bản đang lưu hành rộng rãi, nhưng có ý kiến nói bản đó là của Phan Huy Ích, còn bản của nữ sĩ họ Đoàn là khác. Tuy nhiên, GS. Nguyễn Lộc cho rằng: “Một điều có thể khẳng định được là bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm này”.
 
Vĩnh Khang

“Xuân Quỳnh – còn mãi với tình yêu” – VietQ

23 Th10

“Xuân Quỳnh – còn mãi với tình yêu”

(VietQ.vn) – Sáng nay, Hội nhà văn Hà Nội tổ chức tọa đàm “Xuân Quỳnh – còn mãi với tình yêu” nhân kỉ niệm 70 năm ngày sinh của nữ thi sĩ tài hoa này.
>NSND Thanh Hoa: Cả cuộc đời chung thủy với nhạc đồng quê
>100 năm rồi, Vũ Trọng Phụng vẫn “sống”
>“Nền điện ảnh Việt Nam cũng rất hiếm tài năng”

Tọa đàm “Xuân Quỳnh – còn mãi với tình yêu”

Xuân Quỳnh (1942-1988), là một nhà thơ nữ của nền thi ca Việt Nam hiện đại. Bà được xem là nữ thi sĩ nổi tiếng với nhiều bài thơ tình được nhiều người biết đến như Thuyền và Biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu… Bà được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.

Trước Cách mạng, nhắc tới những đại diện tiêu biểu ở mảng thơ tình, thường người ta vẫn kể tên hai thi nhân Xuân Diệu và Nguyễn Bính. Sau này, bên cạnh tên tuổi hai nhà thơ này, người ta còn nhắc đến Xuân Quỳnh. Ai cũng biết, cả ba tiếng thơ này đều có sức chinh phục đông đảo bạn đọc. Riêng hai giọng thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh đêu giống nhau ở giọng thơ nồng nàn, da diết và đều có chung tâm trạng lo lắng bởi tình yêu là một thứ mong manh dễ vỡ. Tại buổi tọa đàm, nhà thơ Phạm Khải nhận định: có lẽ vì sợ mong manh, dễ vỡ nên nhà thơ Xuân Quỳnh đã có Thuyền và biển. Chưa thỏa mãn với những gì mong muốn, nhà thơ gửi gắm tâm sự vào Sóng. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ai cũng thấy: điều chị nghĩ nhiều nhất, xoáy sâu nhất vẫn là lẽ sống, về tình yêu, về hạnh phúc và đời người.

Do đó, nhà phê bình Văn Giá nhấn mạnh thêm: trang thơ và cuộc đời của nhà thơ Xuân Quỳnh có sự gắn kết chặt chẽ. Thơ trở thành nhu cầu nội tâm, tự cất lên trong đời sống tâm hồn của đời thơ Xuân Quỳnh. Nhà thơ đã biểu đạt tình yêu trong tính thiêng liêng và sự khát khao của tâm hồn: “Trong hình dung của tôi, Xuân Quỳnh bao giờ cũng trẻ. Đây là một nhà thơ không có tuổi mà tại sao đã 70 năm rồi. Tôi cắt nghĩa điều này, hóa ra nhà thơ Xuân Quỳnh trước hết là nhà thơ của tình yêu. Tình yêu thuộc về người trẻ, tâm hồn trẻ và nó sẽ có đời sống của nó. Điều thứ hai, nói tới Xuân Quỳnh là nói tới một hồn thơ nữ tính và mẫu tính. Hai khái niệm này để nói về một tâm hồn hướng về sự quan tâm, âo lo, tha thứ và chở che… từ tâm luôn luôn dành tất cả cho người khác”.

Là người dám sống hết mình cho tình yêu, Xuân Quỳnh đồng thời cũng là người rất biết vun vén cho hạnh phúc gia đình. Tình yêu dành cho chồng, cho con đã đi vào trong thơ ca rất đỗi hồn hậu, tinh tế. Và do vậy, một mảng quan trọng khác của nhà thơ Xuân Quỳnh chính là thơ dành cho thiếu nhi. Nếu mảng thơ về tình yêu là lời nói của trái tim thì trong thơ dành cho thiếu nhi, bà luôn tự nhủ “đừng bắt các em sống và nghĩ theo cách của mình. Nếu muốn giáo dục các em thì phải nhìn bằng con mắt của các em mà nhận xét, đánh giá mọi việc”. Và từ đó, Xuân Quỳnh có Chuyện cổ tích về loài người, Chùm thơ xuân cho ba con nhỏ, Bầu trời trong quả trứng

Phương Quốc

Tranh chấp Nhật – Trung có dẫn tới chiến tranh? – Tin tức/BS

23 Th10

Tranh chấp Nhật – Trung có dẫn tới chiến tranh?

Tờ “Bưu điện Giacácta” (Inđônêxia) số ra mới đây đã đăng bài giới thiệu quan điểm của một học giả Inđônêxia – ông Asra Virgianita, Giảng viên Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Inđônêxia (UI), đồng thời là nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản của UI, hiện làm luận án tiến sĩ tại Đại học Meijigakuin (Nhật Bản) – về câu hỏi liệu tranh chấp lãnh thổ Trung – Nhật tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư có châm ngòi cho một cuộc chiến tranh mở giữa Nhật Bản và Trung Quốc hay không?

 

Tác giả Asra Virgianita cho rằng về mặt lịch sử, các mối quan hệ Nhật – Trung luôn biến động. Sự hiện diện của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản ở Trung Quốc trong quá khứ vẫn là một biện minh cho việc Trung Quốc gây áp lực với Nhật Bản. Ngoài ra, các vấn đề thương mại và các cuộc xung đột biên giới đã ảnh hưởng rõ rệt đến sự thăng trầm của quan hệ song phương. Tranh chấp lãnh thổ Nhật – Trung ở Biển Hoa Đông có thể bắt đầu từ năm 1964, khi Ủy ban Kinh tế châu Á và Viễn Đông của Liên hợp quốc công bố báo cáo trữ lượng dầu tiềm năng tại vùng biển này.
Mặc dù tranh chấp lãnh thổ nhưng hai nước lại phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế, và điều này biểu hiện rõ ở khối lượng trao đổi thương mại giữa hai bên đang tiếp tục gia tăng. Cơ quan Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) cho biết, tổng giá trị trao đổi mậu dịch hai chiều giữa Nhật Bản và Trung Quốc ngày một tăng. Trung Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu của Nhật Bản và Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ tư của Trung Quốc. Theo số liệu thống kê, kim ngạch thương mại hai chiều Nhật – Trung tăng 14,3% (344,9 triệu USD) trong tháng 2/2012, trong đó nhập khẩu của Nhật Bản từ Trung Quốc tăng 20% (183,4 triệu USD), xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc tăng 8,3% (161,5 triệu USD).
Trong những năm gần đây, Nhật Bản tiếp tục viện trợ cho Trung Quốc mặc dù số tiền viện trợ có phần suy giảm. Thực tế này đặt ra câu hỏi: Tại sao Chính phủ Trung Quốc tiếp tục chấp nhận viện trợ nước ngoài của Nhật Bản và tại sao Nhật Bản tiếp tục cung cấp viện trợ cho Trung Quốc trong khi thực tế cả hai là đối thủ của nhau trong việc theo đuổi vai trò lãnh đạo khu vực và tất nhiên trong cả lĩnh vực kinh tế?
Một hiện tượng thú vị là số lượng lao động Trung Quốc làm việc tại Nhật Bản ngày một tăng. Theo thống kê năm 2009, có khoảng 250.000 lao động Trung Quốc làm việc tại Nhật Bản, chiếm một nửa số lượng lao động nhập cư ở Nhật Bản. Động thái trên cho thấy nền kinh tế Nhật Bản khá phụ thuộc vào lao động Trung Quốc. Hơn nữa, dân số Nhật Bản đang phải đối mặt với hiện tượng kim tự tháp ngược do dân số ngày một già đi.
Theo tác giả Asra Virgianita, hiện nay cả Nhật Bản và Trung Quốc đều phải đối mặt với các vấn đề phức tạp trong nước. Trung Quốc đang đau đầu giải quyết các vấn đề như bất bình đẳng kinh tế gia tăng, sự bất ổn ở Tây Tạng và Đài Loan. Trong khi đó, Nhật Bản đang phải đối mặt với suy thoái kinh tế, xã hội lão hóa và giải quyết hậu quả của trận động đất, sóng thần hồi tháng 3/2011. Tại Nhật Bản, những thách thức nói trên trở nên trầm trọng hơn do căng thẳng chính trị xuất phát từ những khó khăn của Đảng Dân chủ cầm quyền (DJP) trong việc thực hiện tuyên bố liên quan đến việc di chuyển các căn cứ quân sự Mỹ tại Futenma như một phần trong nỗ lực xem xét lại Hiệp ước An ninh Nhật – Mỹ. Chính những vấn đề này là nhân tố đang ngăn chặn Nhật Bản và Trung Quốc tiến hành một cuộc chiến tranh mở.
Trên thực tế, hai nước đều có lợi ích trong việc duy trì an ninh và ổn định trong khu vực, đặc biệt là các tuyến đường thương mại. Do đó, một cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia sẽ có hại nhiều hơn lợi. Với thực trạng kinh tế trì trệ của mình và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc, Nhật Bản không có sự lựa chọn nào khác là phải hành xử một cách thận trọng và kiềm chế để duy trì ảnh hưởng trong khu vực. Sự tham gia của hai nước trong Diễn đàn Khu vực Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ARF) là một ví dụ thể hiện sự nỗ lực của cả Nhật Bản và Trung Quốc nhằm duy trì “ảnh hưởng” và “vai trò lãnh đạo” của mỗi nước trong cấu trúc chính trị – kinh tế và an ninh khu vực Đông Á đang định hình mà ASEAN giữ vai trò trung tâm.
Vì vậy, theo tác giả, ASEAN là một tổ chức khu vực có giá trị chiến lược đối với cả Nhật Bản và Trung Quốc, có thể đóng vai trò trung gian hòa giải nhằm giảm bớt căng thẳng giữa hai “gã khổng lồ” châu Á này.
Việt Tú (P/v TTXVN tại Inđônêxia)

 

Hải quân Mỹ tính cách đảm bảo an ninh biển Đông – BS

23 Th10

Hải quân Mỹ tính cách đảm bảo an ninh biển Đông

Tác giả: Hoàng Dương dịch từ FP
Liệu quân đội Mỹ có đủ các nguồn lực cho một thế kỷ châu Á?

Một bài báo trên tờ Washington Post số ra ngày 26/3 đã bàn về một sự mở rộng mới của mối quan hệ quân sự giữa Mỹ và Australia. Theo bài viết này, Hải quân Mỹ đang nỗ lực triển khai khả năng của mình để hoạt động ở Ấn Độ Dương từ tây Australia. Lầu Năm Góc cũng hy vọng sẽ thiết lập một căn cứ do thám trên không tầm xa ở quần đảo Cocos, một đảo san hô vòng hẻo lánh của Australia nằm giữa Perth và Sri Lanka. 

Sự mở rộng năng lực quân sự này của Mỹ về phía đông bắc Ấn Độ Dương diễn ra nhanh chóng tiếp sau một thỏa thuận năm ngoái nhằm bố trí một lực lượng nhỏ lính thủy đánh bộ Mỹ đóng quân lâu dài gần Darwin ở bờ biển phía bắc và để mở rộng sự tiếp cận của Mỹ đối với các căn cứ và bãi huấn luyện của Australia.

Đến lúc này, tôi nhận thấy rằng, sức mạnh quân sự Mỹ ở tây Thái Bình Dương đang tập trung vào Nhật Bản và Hàn Quốc (một di sản của Chiến tranh Lạnh) trong khi khu vực cạnh tranh sức mạnh lớn đang nổi lên – Biển Đông – nằm cách đó 2.000 dặm (3.200km) về phía nam. Các thỏa thuận của Mỹ với Australia, kết hợp với một sự mở rộng lớn các cơ sở quân sự trên đảo Guam, là một nỗ lực tăng cường khả năng của Lầu Năm Góc nhằm duy trì một sự hiện diện tiếp tục lớn hơn ở Biển Đông và Đông Nam Á.

Lợi ích của Mỹ ở Biển Đông là đảm bảo tự do hàng hải thông qua những gì có thể xem là hải trình thương mại quan trọng nhất trên thế giới. Các thỏa thuận với Australia cùng sự tăng cường lực lượng trên đảo Guam là hữu ích nhưng chưa đủ.

Hải quân sẽ cần phải cung cấp một sự hiện diện đủ làm yên lòng những nước tiếp giáp Biển Đông nhằm không để cho những tranh chấp về vùng biển này đe dọa đến lưu thông thương mại ở khu vực. Hiện vẫn còn phải xem liệu Hải quân Mỹ sẽ có đủ năng lực và các kế hoạch thực tế để hoàn thành nhiệm vụ này về lâu dài hay không.

Tuần trước,  Hải quân Mỹ đã gửi tới Quốc hội một bản kế hoạch cập nhật 30 năm của họ, theo đó sẽ tiếp tục xu hướng của một lực lượng hải quân tinh giản hơn bao giờ hết. Kế hoạch mới nêu ra một con số trung bình 298 tàu hoạt động trong vòng 30 năm tới, giảm so với dự báo năm ngoái là trung bình 306 tàu. Và kế hoạch cũng thấy trước Hải quân Mỹ sẽ mua ít tàu mới hơn mỗi năm, tăng đầu tư vào khía cạnh khác.

Theo đánh giá của Văn phòng Ngân sách quốc hội Mỹ về việc đóng tàu của Hải quân thì những kế hoạch đó quá lạc quan và không đủ ngân sách để triển khai.

Vài năm trước, Hải quân đã có các kế hoạch về một hạm đội 313 tàu. Cơ quan Đánh giá Quốc phòng độc lập hàng quý của hai đảng yêu cầu một hạm đội gồm 346 tàu. Hiện không có kế hoạch nào nhằm đạt được một trong hai mục tiêu này. 

Thứ trưởng Bộ Hải quân Robert Work, trong một bài phát biểu hồi tháng 1/2012 trước Hiệp hội Hải quân Mặt nước, đã gạt bỏ những lo ngại về vấn đề cắt giảm tàu của Hải quân. Ông Work khẳng định rằng, các kế hoạch thiết thực của Hải quân về do thám trên không tầm xa, được tiến hành bởi những máy bay mới như P-8A Poseidon và một phiên bản máy bay không người lái Global Hawk của Hải quân, sẽ đảm trách phần lớn các hoạt động tuần tra trên biển thường lệ mà trước kia do các tàu thực hiện.

Các căn cứ ở Australia, quần đảo Cocos, và ở những nơi khác thuộc tây nam Thái Bình Dương sẽ hỗ trợ giám sát Biển Đông. Nếu các tàu được yêu cầu phản ứng trước các vấn đề, các chỉ huy có thể cử chúng đi như vốn vẫn thế. Nhưng theo cách nói của ông Work, ít tàu hơn sẽ được cần đến cho tuần tra thường lệ. Và với ít tàu vận hành hơn thì Hải quân sẽ tiết kiệm được chi phí và đảm bảo các tàu của mình được bảo trì tốt hơn.

Vấn đề là liệu tăng cường giám sát biển từ trên không và ít tàu hơn thực hiện ít các chuyến cập cảng hơn xung quanh Biển Đông và các nơi khác có cung cấp được sự hiện diện ổn định và đảm bảo mà sự hiện diện hữu hình của các tàu Hải quân vẫn đảm nhiệm từ trước đến nay. Học thuyết do thám trên không của ông Work và kích cỡ hạm đội được thu nhỏ của Hải quân kết hợp với nhau tạo thành một học thuyết mới về cung cấp sự hiện diện ổn định ở những chốn chung toàn cầu, chẳng hạn như Biển Đông.

Chúng ta sẽ biết rằng học thuyết này sẽ thất bại nếu lãnh đạo các nước đồng minh của Mỹ gia tăng hành xử cản trở ngoại giao. Các cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, phản ứng nữa trước một sự suy giảm thấy rõ về sức mạnh quân sự của Mỹ, sẽ là một dấu hiệu thất bại khác. Sự gia tăng chi tiêu quốc phòng hàng năm ở mức hai con số của Trung Quốc và một cuộc chạy đua vũ khí tàu ngầm đang xuất hiện trong khu vực không phải là những tín hiệu tốt.

Nhiệm vụ của Hải quân nhằm cung cấp một sự hiện diện ổn định ở Biển Đông và các nơi khác đã trở nên phức tạp hơn trước các mối đe dọa ngày càng lớn về tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm. Những mối đe dọa này đang buộc Hải quân và Không quân phải phát triển các cách thức hoạt động mới chống lại kẻ thù từ các khoảng cách xa, nơi các tàu và máy bay sẽ không dễ bị tấn công bởi tên lửa địch. Mối đe dọa tên lửa cũng khuyến khích Hải quân và Không quân dựa nhiều hơn vào các nền tảng bí mật, chẳng hạn như tàu ngầm và máy bay tàng hình tầm xa. Tất cả những xu hướng này hoạt động trái ngược với khái niệm về một sự hiện diện chủ động hữu hình mà Hải quân từng dùng để ngăn chặn các mối đe dọa ở những nơi chung toàn cầu nhưng lại có thể ngày càng trở nên khó bảo vệ trước các tên lửa địch. 

Các tàu được giao “nhiệm vụ hiện diện”, chẳng hạn như tuần tra Biển Đông và thực hiện các chuyến cập cảng trong khu vực, sẽ chịu rủi ro nhiều nhất từ tấn công tên lửa lúc khởi đầu một cuộc xung đột. Thực tế này sẽ càng khuyến khích Hải quân giữ cho các tàu nổi mặt nước có năng lực và uy tín nhất của mình, chẳng hạn như các hàng không mẫu hạm, khuất tầm nhìn của các đồng minh nằm trong tầm bắn của tên lửa địch. Vì mối đe dọa tên lửa đã chín muồi, các tàu chiến ven biển (LCS) mới và có năng lực khiêm tốn nhất của Hải quân, với vài chiếc trong số đó sẽ được đóng ở Singapore, có thể thực hiện nhiệm vụ hiện diện chủ động, giương cờ trong thời bình và đóng vai trò như những chiếc “bẫy” có thể hy sinh nếu như chiến sự nổ ra. Trong khi đó, hạm đội chính và năng lực tấn công tầm xa khác sẽ chờ đợi ở phía bên kia đường chân trời và khuất tầm nhìn.

Trong trường hợp đó, các nhà hoạch định chính sách ở Washington sẽ trông cậy vào các LCS nhỏ được trang bị vũ khí nhẹ nhằm gây truyền sự kính sợ về năng lực quân sự Mỹ. Với sự mở rộng mới về mối quan hệ với Australia, Lầu Năm Góc đang tìm kiếm một cách thức nhằm tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông. Khi làm thế, họ sẽ phải tìm ra cách tiếp tục cung cấp một sự hiện diện hải quân đảm bảo – điều mà Hải quân đã thực hiện trong nhiều thập niên – trong khi mối đe dọa tên lửa đối với sự hiện diện đó ngày càng lớn. Càng làm cho vấn đề trở nên tồi tệ là ngân sách đóng tàu của Hải quân đang chịu áp lực và không đủ ngay cả cho các kế hoạch đã cắt giảm hiện nay. Các lãnh đạo Hải quân đang nỗ lực khám phá các sách lược mới và các cấu trúc mới để thích ứng với một tình hình ngày càng xấu đi. Nhưng liệu những biện pháp đó có khả năng trấn an các đồng minh và ngăn chặn được các kẻ thù tiềm ẩn?

 

GS Tương Lai : “Việt Nam phải có một Nhà nước pháp quyền thật sự” – BS

23 Th10

RFI – Việt Ngữ

GS Tương Lai : “Việt Nam phải có một Nhà nước pháp quyền thật sự”

Thanh Ph

Hội nghị Trung ương 6 đã kết thúc từ cách đây một tuần, nhưng sự kiện này tiếp tục được bàn tán sôi nổi trong dư luận. Báo chí chính thức thì dĩ nhiên đã đăng rất nhiều ý kiến hoan nghênh “sự thành thật” hay “thái độ quyết liệt” của Bộ Chính trị.Nhưng các báo lề trái thì phản ánh sự thất vọng của nhiều người về kết quả của hội nghị này, nhất là khi thấy là cuối cùng cũng chẳng có ai bị kỷ luật, kể cả “một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị” mà ai cũng thừa biết đó là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Việc ông Dũng không bị kỷ luật mặc dù bị xem là tham nhũng, quản lý kinh tế kém cỏi và lạm quyền cho thấy là đấu đá trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng chưa chấm dứt. Chỉ cần đọc báo chí chính thức cũng đủ thấy là phe Nguyễn Phú Trọng-Trương Tấn Sang còn rất cay cú.

Theo VietnamNet, khi tiếp xúc cử tri ở Sài Gòn ngày 18/10/2012, ông Trương Tấn Sang đã tuyên bố “Nhân dân đã giao nhiệm vụ thì phải hoàn thành, còn thấy mình không hoàn thành thì rút lui”. Về quyết định không kỷ luật thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mà ông Sang gọi là “đồng chí X”, chủ tịch nước của Việt Nam thanh minh: “Chỉ có cân nhắc tình hình hiện nay, cân nhắc lợi hại thì quyết nghị là không thi hành kỷ luật. Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải là cá nhân đồng chí ‘X’ không có lỗi”. Tìm cách trấn an những người sợ bị trù dập khi tố cáo tham nhũng, ông Sang còn hùng hồn tuyên bố: “ Người ta có thể trù úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này”.

Về phần tổng bí thư Đảng Nguyễn Phú Trọng, cũng theo VietnamNet, khi tiếp xúc với cử tri Hà Nội ngày 16/10, tức là ngay sau khi hội nghị trung ương kết thúc, ông Trọng đã nói rằng hội nghị này “cơ bản đạt yêu cầu nhưng chưa phải là xong”. Theo ông, việc phê bình, kiểm điểm sẽ làm lâu dài, thường xuyên, “làm như rửa mặt hàng ngày”.

Riêng ông Nguyễn Tấn Dũng, đại biểu Hải Phòng thì không thấy báo chí đưa tin ông tiếp xúc cử tri trong đơn vị bầu cử của ông, trong khi Quốc hội chuẩn bị khai mạc kỳ họp hôm nay (22/10/2012). Hôm qua, mới thấy tờ Nhân Dân đăng tin là ông Dũng đã “tiếp xúc cử tri theo chuyên đề tại Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh trên địa bàn quận Thủ Ðức, TP Hồ Chí Minh và xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương”, nhưng không thấy ông bình luận gì cụ thể về kết quả hội nghị trung ương 6.

Hôm nay, trước Quốc hội, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn” của người đứng đầu Chính phủ và xin “thành thật nhận lỗi” về tất cả những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ, nhất là những yếu kém, khuyết điểm trong kiểm tra, giám sát hoạt động của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, như Vinashin và Vinalines. Nhưng ông Dũng vẫn rất hận những trang blog mà gần đây đã liên tục đả kích cá nhân ông, nhất là trong thời gian trước và trong khi diễn ra hội nghị trung ương. Thủ tướng Việt Nam tuyên bố là “công tác quản lý thông tin, nhất là thông tin mạng, blog cá nhân chưa tốt, còn bị các thế lực thù địch lợi dụng, bịa đặt, xuyên tạc, gây tác hại xấu “. Điều này cho thấy là sau khi suýt nữa bị mất chức thủ tướng, nay ông Dũng sẽ tiếp tục chiến dịch trấn áp các trang blog nào tiếp tục chỉ trích ông.

Như vậy, rõ ràng là cuộc đấu đá, mà trên mạng có người gọi mỉa là trận chiến Ba – Tư (Ba Dũng và Tư Sang), vẫn chưa chấm dứt, nhưng cho dù hội nghị trung ương lần tới có kỷ luật được một ủy viên nào đi nữa, thì cũng sẽ chẳng có gì thay đổi trong một cơ chế mà Đảng Cộng sản vẫn đứng bên trên pháp luật và khi nào mà Việt Nam chưa thay đổi đường lối, định hướng, khi nào Việt Nam chưa có Nhà nước pháp quyền thật sự, thì vẫn chưa giải quyết được tận gốc rễ những vấn đề tham nhũng, lạm quyền, quản lý kinh tế yếu kém. Đó là nhận định chung của Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học trong phần trả lời phỏng vấn với RFI Việt ngữ sau đây :

RFI : Thưa Giáo sư, sau hội nghị trung ương 6, đã có nhiều dư luận bàn tán sôi nổi về kết quả hội nghị này. Điều người ta chú ý đó là lần đầu tiên Bộ Chính trị công khai thừa nhận những khuyết điểm, sai lầm của mình, nhưng rốt cuộc không có chuyện gì xảy ra tức là không có ai bị kỷ luật. Giáo sư có nhận định như thế nào về kết quả hội nghị này?

Giáo sư Tương Lai : Sau ngày 15/10, nghe bài diễn văn bế mạc của ông Tổng bí thư, rồi đọc thông cáo của hội nghị trung ương, thì đã có nhiều phản ứng. Trên TV, người ta cũng đã đưa lên ý kiến của rất nhiều cán bộ về hưu, cán bộ lão thành, cựu chiến binh, tỏ ra rất xúc động và tin tưởng. Rồi đến ông bí thư thứ nhất trung ương Đoàn Thanh niên thì phát biểu rằng ông “vô cùng khâm phục” trước “thái độ vô cùng dũng cảm” của Bộ Chính trị đã tự phê bình và nhận kỷ luật, …

Nhưng dư luận thứ hai mà tôi nghe được lại là dư luận phẫn nộ và thất vọng, vì thấy đã mất bao nhiêu công của, bao nhiêu sự chuẩn bị kéo dài hàng bao nhiêu tháng, để rồi kết quả là không giải quyết được vấn đề gì.

Nhưng nhận thức của tôi thì khác. Tôi cho rằng nếu như kết luận “nhất trí 100%” của Bộ Chính trị mà được thực thi ở hội nghị trung ương, thì nó cũng chỉ dẫn đến kết quả là xả xú-páp, tức là “chém tế cờ” một nhân vật nào đó, để làm dịu bớt đi sự phẫn nộ của quần chúng nhân dân, để mà vớt vát chút uy tín của ông Tổng bí thư và Bộ Chính trị, mà quá trình tuyên truyền quảng cáo thì rất là rầm rộ. Nếu được như thế đi chăng nữa, thì kết quả cũng chỉ đến thế mà thôi, chứ không giải quyết được cái gốc của vấn đề.

Chống được tham nhũng thì tốt quá, nhưng cân nhắc, suy nghĩ kỹ thì ta sẽ thấy đó chỉ là cái ngọn. Vì sao? Vì gốc của vấn đề là đường lối, định hướng. Xác định kinh tế Nhà nước là chủ đạo, mất kinh tế Nhà nước là mất chủ nghĩa xã hội, cho nên cần phải có những “quả đấm thép”, những tổng công ty. Càng mở rộng những tổng công ty đó bao nhiêu, thì càng chứng tỏ là nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” càng vững vàng. Chính từ đó mới có những chuyện như Vinalines, Vinashin, . . .

Đương nhiên việc quản lý những tổng công ty này là hư hỏng rồi, nhưng vấn đề dù anh có là một nhà quản lý giỏi đi nữa thì anh cũng phải thực hiện theo đường lối ấy, không giải quyết được gì cho nền kinh tế cả. Cơ cấu lại nền kinh tế ấy không phải là làm theo kiểu giật gấu vá vai, mà phải đi lại từ gốc.

Chuyện cướp đất đai gây nên sự phẫn nộ của nông dân khiếu kiện khắp nơi đâu phải chỉ là do cá nhân các ông quan địa phương, những cường hào ác bá kiểu mới, tha hồ chiếm đoạt đất đai. Họ làm được điều đó, vì sở hữu đất đai là sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý. Quyền sở hữu không được xác lập rõ ràng. Khái niệm Nhà nước là khái niệm trừu tượng, cho nên chuyện cướp đất làm sao mà tránh được? Vì dân không được pháp luật bảo vệ. Luật pháp của ta trong thời gian qua biểu hiện sự yếu kém một cách không thể nói gì thêm được nữa. Mà gốc rễ vấn đề không phải là do ông chánh án này, ông thẩm phán kia, ông viện kiểm sát nọ làm việc kém.

Ngay trong hội nghị trung ương, ông Tổng bí thư đã khẳng định, Nhà nước của ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là không công nhận tam quyền phân lập. Mà không công nhận tam quyền phân lập thì làm sao thì gọi là Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó được!

Nhà nước pháp quyền không phải là thành tựu của tư sản. Đó chính là kết quả của thế kỷ ánh sáng, là thành tựu của trí tuệ loài người. Ngay khi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông Hồ Chí Minh đã khẳng định điều đó, bằng cách mở đầu tuyên ngôn độc lập với trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp. Đó là thành tựu của nền văn minh, của trí tuệ cả loài người. Anh không công nhận điều này thì làm sao có được một Nhà nước pháp quyền đúng nghĩa. Một xã hội không thượng tôn pháp luật, mà chỉ được điều khiển bằng các nghị quyết, thì làm sao tránh khỏi những sai lầm, tùy tiện như vừa qua?

RFI : Thưa Giáo sư Tương Lai, gốc rễ vấn đề phải chăng cũng là vì cho tới nay Đảng vẫn đứng bên trên pháp luật, không bị ràng buộc bởi bất cứ một cơ chế nào, cho nên mới có chuyện là Bộ Chính trị “ xin được kỷ luật”, mà Ban chấp hành trung ương lại không dám kỷ luật?

Giáo sư Tương Lai : Ở đây cần tách ra hai vấn đề. Nếu những người điều hành Đảng mà nắm vững điều lệ Đảng thì sẽ thấy là vừa qua có những xử lý sai với nguyên tắc, điều lệ Đảng. Điều lệ Đảng ghi rõ Đại hội Đảng là cơ quan cao nhất của Đảng, họp định kỳ để quyết định chủ trương, đường lối. Giữa hai kỳ Đại hội, Ban Chấp hành trung ương là cơ quan cao nhất của Đảng điều hành mọi vấn đề. Bộ Chính trị và Ban Bí thư là cơ quan thực thi trách nhiệm do Ban Chấp hành trung ương giao phó. Nhưng từ lâu, người ta đã biến Bộ Chính trị thành quyền lực cao nhất, ngồi lên trên đầu cả Đảng, cả Ban Chấp hành trung ương và cả Đại hội.

Bây giờ nói đến chuyện kỷ luật cả Bộ Chính trị thì tôi thấy chuyện này là vô duyên, vì tập thể Bộ Chính trị là cơ quan điều hành do Ban Chấp hành trung ương giao, vậy thì nếu có kỷ luật thì kỷ luật một cá nhân, ví dụ như cá nhân Tổng bí thư, người đứng đầu Bộ Chính trị, hay là kỷ luật ông ủy viên phụ trách Quốc hội, phụ trách Bộ Công an, … Tức là những cá nhân đó bị kỷ luật vì trách nhiệm của họ trước Đảng, trước dân. Chứ làm sao có thể kỷ luật tập thể Bộ chính trị được! Nếu có thì chỉ có thể giải tán cả tập thể đó thôi.

Đài báo cứ nói là từ xưa tới nay chưa có chuyện đó. Nói như thế là không hiểu bìết gì hết. Đã từng có chuyện kỷ luật đấy. Ví dụ, hồi Cải cách ruộng đất, ông Tổng bí thư Trường Chinh đã bị kỷ luật và thôi chức. Ông Lê Văn Lương, ủy viên Bộ Chính trị phụ trách tổ chức, cũng đã bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị.

Chỉ có bây giờ là họ nhập nhằng nói tập thể chung chung, mà không nói cụ thể là, trong tập thể Bộ Chính trị, ai là người chịu trách nhiệm điều hành mà để gây ra những sự rối ren đó. Rồi còn nói “một ủy viên Bộ Chính trị”, tức là đối với Đảng cũng như đối với dân, vẫn cứ nói mập mờ, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Điều đó đủ nói lên cái “sức mạnh” của Bộ Chính trị đó như thế nào.

Trong nội bộ đảng là như thế rồi. Còn chuyện pháp luật đối với dân thì đem ra pháp luật mà bàn sau. Vừa qua chỉ mới là Bộ Chính trị đưa ( vấn đề kỷ luật ) ra, nhưng Ban Chấp hành phủ quyết. Điều đó cho thấy là cuộc đấu tranh giữa những thế lực trong Ban Chấp hành và trong Bộ Chính trị đang còn rất nhiều rắc rối. Thế mà lại nói là đoàn kết nhất trí ! Nói như thế là nói lấy được thôi. Chứ còn người nào tỉnh táo thì đều thấy không đúng như thế.

Bây giờ nếu dám nói đúng vào sự thật, thì phải gọi mặt chỉ tên, chỉ ra những sai lầm A, B, C. Ai phụ trách cái này, ai chịu trách nhiệm cái này và những người ấy phải bị kỷ luật. Không chỉ riêng “một uỷ viên Bộ Chính trị”, mà vừa qua có vấn đề về nhiều mặt lắm : mặt xây dựng Đảng, mặt xây dựng nước. Đây là những vấn đề tù mù, không rạch ròi, không minh bạch, chứng tỏ là về mặt nhận thức thì không thông thoáng và về mặt đoàn kết nội bộ thì không có. Cho nên mới có hiện tượng là Ban Chấp hành trung ương phủ quyết ý kiến của Bộ Chính trị. Tôi cho rằng chuyện phủ quyết chẳng có gì là không bình thường. Đó là một thực tế cần phải ghi nhận để xử lý vấn đề trong thời gian tới, để tỏ rõ là Đảng có sức mạnh, có kỷ luật, có đoàn kết thật, chứ không phải chỉ là đoàn kết trên khẩu hiệu, trên diễn văn.

RFI : Thưa Giáo sư, qua hội nghị trung ương vừa rồi, người dân đóng vai trò như những khán giả, không có tiếng nói gì trong các vấn đề quan trọng của đất nước. Ngay cả Quốc hội cũng chẳng có tiếng nói gì đối với người đứng đầu chính phủ, mà trên nguyên tắc phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội.

Giáo sư Tương Lai : Vấn đề anh đặt ra là đúng thôi, nhưng nó cũng không đúng ở chỗ, đây là hội nghị trung ương, chỉ bàn chuyện thuần túy nội bộ Đảng và người ta lại họp kín. Đã họp kín thì làm sao mà dân làm sao mà tham dự được !

Cũng đã có những ý kiến đóng góp và tôi cũng đã nghe những người được mời đóng góp ý kiến kể nhiều chuyện như là chuyện dài nhiều tập, rất là khôi hài. Đóng góp thì chỉ là đảng viên đóng góp cho Đảng. Còn về phía người dân, thì sau hội nghị trung ương, có một số vị lãnh đạo đi tiếp xúc với các cử tri được coi là đại diện cho dân. Nhưng mọi người ai cũng biết những “đại cử tri” ấy đã được tuyển lựa rất chặt chẽ. Đến những cuộc họp mặt cử tri ấy, họ nói được đến bao nhiêu phần trăm ý kiến của người dân thật? Phải ngồi trên xe ôm hay taxi, nghe ông lái xe nói chuyện, hay ra ngoài chợ nghe lời bình của các bà bán thịt, bán rau, thì đấy mới là ý kiến thật sự của dân. Còn những người đã được tuyển lựa qua bộ lọc của chính quyền, của Đảng, rồi đến họp mặt cử tri thì làm sao có thể là ý kiến của dân? Nếu các đồng chí lãnh đạo tin tưởng vững chắc, “cảm động”, “ thấm thía”, nghĩ rằng đó là ý kiến của dân, thì tôi e rằng họ đang bị lừa đấy.

RFI : Thưa Giáo sư, trong hội nghị trung ương vừa qua thì người ta cũng đặt vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm các lãnh đạo chính phủ trong khóa họp Quốc hội sắp tới. Trong hoàn cảnh hiện nay, mọi việc đều do Bộ Chính trị quyết định, thì có thể thực hiện được việc đó hay không?

Giáo sư Tương Lai : Đương nhiên là nó sẽ có một vài cải tiến nào đó, một vài “biến tấu” nào đó và chắc chúng ta sẽ phải chờ đợi. Bao giờ chúng ta cũng phải hy vọng để mà sống chứ! Nhưng nếu quá lạc quan nghĩ rằng sẽ có bỏ phiếu tín nhiệm thật, để từ đó đi đến những quyết định mang tính công khai, minh bạch, thì kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy chưa đủ dữ liệu để tin rằng chuyện này là thật. Nói như nhân vật trong phim “ Hãy đợi đấy”.

RFI : Chúng tôi xin cám ơn Giáo sư Tương Lai.

Nguồn: RFI – Việt Ngữ

Đặt hàng Quốc hội

23 Th10

Đặt hàng Quốc hội

 
– Diễn ra ngay sau Hội nghị lần thứ 6 của của Ban chấp hành Trung ương Đảng, cử tri kì vọng cơ quan quyền lực cao nhất do dân bầu ra sẽ có nhiều quyết sách quan trọng và để lại dấu ấn, đặc biệt trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội hiện nay.

Lập hiến và lập pháp

Cảm giác chung của nhiều người là các vấn đề được đặt ra từ Nghị quyết 4 và sau Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Đảng vừa qua vẫn còn nóng bỏng, đòi hỏi Quốc hội phải đi thẳng vào các vấn đề cốt lõi của dân tộc, đất nước.
Thảo luận kĩ, sâu về Hiến pháp sửa đổi năm 1992, cử tri mong Quốc hội làm rõ, để đảm bảo đảm bảo quyền dân chủ thực sự, quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế, quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp. Điều không kém quan trọng là dám mạnh dạn gạt bỏ những quan điểm đã lỗi thời, phần nhiều mang tính tuyên truyền, và tăng thêm những quyền và cơ chế thực hiện quyền của dân mang tính thực chất.

Quốc hội kì này cũng đứng trước nhiều vấn đề về xây dựng luật pháp để đảm bảo luật có tính khả thi, các nội dung có tính hệ thống.

Đơn cử, với Luật Đất đai (sửa đổi), nhiều người cho rằng, có những nội dung trên thực tế đã nuôi dưỡng những nhóm lợi ích hưởng nhiều đặc quyền, dẫn đến tình trạng bất công và tham nhũng lan tràn, khoảng cách giàu nghèo ngày càng trầm trọng. Chính sách đất đai đề ra, trước hết phải bảo đảm quyền lợi cho nông dân, không tạo ra kẽ hở để người có quyền và người có tiền thông đồng trục lợi trên lưng người dân như lâu nay vẫn xảy ra.

Ảnh: Lê Nhung

Về công tác giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành pháp , nhân dân mong mỏi Quốc hội phải cụ thể và triệt để (truy đến cùng các vụ thất thoát, các câu kết ngầm giữa các nhóm lợi ích; chỉ mặt gọi tên như Vinashin, Vinalines,…). Quốc hội cần hoàn thiện cơ chế và bộ công cụ giám sát, với những quy định hợp lý, có tính khả thi về việc bỏ phiếu tín nhiệm, điều tra các vụ việc và tăng cường hiệu quả, hiệu lực giám sát. Có lẽ, không nên chỉ dừng ở hình thức thăm dò tín nhiệm, mà các đại biểu Quốc hội có quyền và cần phải bỏ phiếu tín nhiệm trực tiếp đối với những người lãnh đạo được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, một khi những người này không còn xứng đáng với cương vị được giao.

Cử tri mong muốn Quốc hội chủ động xác định các chủ đề giám sát chung có ý nghĩa thiết thực, cấp bách đối với đời sống của người dân, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ví dụ: Giám sát về hoạt động của ngân hàng, về cơ cấu lại kinh tế nhà nước, về chấn chỉnh đầu tư công, thiết thực phòng, chống tham nhũng, hoạt động ngoại giao, quốc phòng gắn với phát huy sức mạnh của lòng dân và sự ủng hộ quốc tế để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tăng cường giám sát các công trình thuộc lĩnh vực mình phụ trách; Ví dụ như dự án khai thác bauxite, khai thác khoáng sản nói chung, việc xây dựng và hoạt động của các nhà máy thủy điện, dự án điện hạt nhân, tu bổ di sản văn hóa…; Việc giám sát thực hiện quyền công dân cũng như tình trạng vi phạm quyền công dân trong các mặt đời sống cũng cần đảm bảo.

Trong việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, Quốc hội cân nhắc kỹ mỗi khi quyết định các dự án về kinh tế có vốn đầu tư lớn và tác động lớn đến an sinh, xã hội và môi trường.

Trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng, Quốc hội cần có nhiều hình thức sử dụng và phát huy đội ngũ chuyên gia mạnh, lành nghề có tư duy độc lập, đồng thời thực hiện cơ chế minh bạch, công khai để khơi dậy khả năng đóng góp ý kiến và tham gia giám sát của nhân dân.

Phản biện xã hội cũng cần được Quốc hội sớm thể chế hóa, coi đó là công cụ bắt buộc, thân thiện và hữu hiệu, không trộn lẫn nó với những khái niệm mù mờ, vượt lên tâm lí sợ lợi dụng, sợ chống phá,… Thực tế, phần lớn các trường hợp phản biện đều trên tinh thần xây dựng và hợp tác, thể hiện thiện chí của những người quan tâm đến phát triển đất nước.

Bài toán về kinh tế

Tình hình kinh tế hiện nay đang rất khó khăn về mọi mặt ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người nghèo. Nhiều chuyên gia có thiện chí, muốn hiến kế cho Nhà nước nhưng đành chịu bó tay bởi thiếu nguồn thông tin số liệu tin cậy để phân tích, đánh giá.

Các Tập đoàn kinh tế độc quyền không công bố thông tin ngay cả đó là đòi hỏi của luật định. Công cụ giám sát của chủ sở hữu Nhà nước, trong khi đó hầu hết là dựa vào báo cáo của chính các đối tượng được giám sát, thường là không đầy đủ, kịp thời; chưa kể tính trung thực của báo cáo thường là khó kiểm chứng.

Nổi cộm bài toán kinh tế là vấn đề ngân hàng “qua mặt” luật tín dụng, vấn đề nợ xấu ngân hàng, đặc biệt là nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước. Nếu các chuyên gia có uy tín và chuyên môn không vào cuộc, xem xét lại toàn bộ luật lệ về tín dụng, chứng khoán, để nhanh chóng sửa đổi thì các vụ bê bối khác có thể tiếp tục nổ ra. Không thể bàn giải pháp nếu không có số liệu cụ thể.

Thảm họa quốc gia về giao thông vận tải

Một trong các vấn đề nhức nhối nhất của xã hội ta hiện nay là thảm họa quốc gia về giao thông vận tài, với mỗi năm trên 10.000 người chết và bị thương, thiệt hại kinh tế khoảng 1 tỷ USD. Người dân Việt Nam không chết vì đói, vì rét mà chết vì tai nạn giao thông như một cuộc chiến tranh là một điều phi lý nhất.

Khi thảo luận về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, cử tri mong Quốc hội đặc biệt quan tâm đến tình trang lãng phí quá lớn đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải với nhiều siêu dự án, tốn kém hàng chục tỷ USD. Vinashin – Vinaline đua nhau xây dựng cảng biển một cách tràn làn, không hiệu quả, thua lỗ triền miên. Ngay dự án cảng Lạch Huyện (đầu tư cả tỷ đô la) còn nhiều bất cập cả về kỹ thuật, kinh tế và môi trường, chưa được Hội đồng đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của Nhà nước xem xét, đánh giá, nhưng đã cho bán 2 gói thầu để làm chuyện đã rồi. Hàng không thì đua nhau xây sân bay kể cả sân bay quốc tế, trong khi thua lỗ, phải giật gấu, vá vai.

Hệ thống đường sắt, trong khi đó, cũ kĩ, lạc lậu, lại đầu tư hàng tỷ đôla để kiên cố hóa đường sắt khổ hẹp (vốn không còn dùng nhiều trên thế giới). Nguy cơ lãng phí nhãn tiền! Đấy là chưa kể trong lúc ngân khố cạn kiệt, không ít người vẫn say sưa với kế hoạch đường sắt cao tốc tốn kém.

Cử tri mong muốn Quốc hội cần có giám sát đặc biệt để ngăn chặn lãng phí đầu tư công trong giao thông vận tải. Cần đột phá vào ngành đường sắt, hàng không để giảm thiểu mật độ lưu thông trên đường bộ, giảm ùn tắc và tai nạn giao thông. Bộ Giao thông vận tải phải đưa ra được giải pháp, lộ trình cụ thể trình Quốc hội để giải bài toán giao thông cho Việt Nam.

Thay cho lời kết

Đảng đã họp xong, đến phiên của Quốc hội. Có 2 việc hệ trọng nhất Đảng đã kết luận rồi. Thứ nhất là sửa Hiến pháp phải trong khuôn khổ Cương lĩnh của Đảng và không có tam quyền phân lập; Thứ hai là Luất đất đai thì Đảng cũng đã quyết ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân do Đảng và Nhà nước đại diện.

Người dân mong muốn và yêu cầu Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp và pháp luật.

Tô Văn Trường

Bóng tối của sân khấu chính trị

23 Th10

Bóng tối của sân khấu chính trị

Rõ ràng, một lần nữa chính sách đối ngoại lại rơi vào bóng tối của sân khấu chính trị, thay vì nổi lên hàng đầu trong mối quan tâm của cử tri cũng như các diễn văn của ứng viên.

>> Obama – Romney: Cuộc đua chưa ngã ngũ/ Mỹ: Thành tổng thống cũng không thể vẽ lại bản đồ thế giới/ Trung Quốc sẽ thúc đẩy cải cách chính trị?

Năm 1968, Richard Nixon tấn công Đảng Dân chủ vì chính sách chiến tranh ở Việt Nam và hứa hẹn sẽ mang lại hòa bình. Đến năm 1980, Ronald Reagan phê phán Tổng thống Jimmy Carter đã để sức mạnh quân sự của Mỹ sụt giảm.

Suốt 40 năm, chính sách đối ngoại đã chiếm giữ vị trí trung tâm trong các cuộc đua tranh vào Nhà Trắng. Nhưng rồi Liên Xô tan rã và Chiến tranh Lạnh kết thúc. Nỗi sợ hãi về một cuộc tấn công hạt nhân đã nguôi ngoai dần. Và khi đánh giá về các ứng cử viên tổng thống, người dân Mỹ đã không còn quan tâm nhiều đến kinh nghiệm đối ngoại của họ mà chú ý nhiều hơn đến năng lực lãnh đạo trong lĩnh vực chính sách kinh tế và đối nội. Trong các cuộc bầu cử năm 1992, 1996, 2000, chính sách đối ngoại hầu như không được đề cập đến, nó chỉ còn là một nhân tố phụ trong lựa chọn của cử tri.

Các cuộc tấn công khủng bố năm 2001 và các cuộc chiến tranh ở Iraq, Afghanistan tiếp sau đó đã khơi gợi lại mối quan tâm đối với chính sách đối ngoại, nhưng rồi mối quan tâm này nhanh chóng phai nhạt bởi cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra cuối năm 2007. Năm 2008, người dân Mỹ đã chọn Barack Obama, người có lẽ có hồ sơ đối ngoại yếu kém nhất thay vì lựa chọn John McCain, một cựu chiến binh, một anh hùng chiến tranh và đã dành gần như cả sự nghiệp chính trị ở Thượng viện để nói về chính sách đối ngoại. Rõ ràng, một lần nữa chính sách đối ngoại lại rơi vào bóng tối của sân khấu chính trị, thay vì nổi lên hàng đầu trong mối quan tâm của cử tri cũng như các diễn văn của ứng viên.

 

Ảnh: Foreign Policy

 

Và giờ là năm 2012. Sau 4 năm làm tổng thống, Obama không còn là một tay mơ về đối ngoại như năm 2008 nữa. Chính quyền của ông đã được thử thách qua nhiều diễn biến phức tạp về kinh tế và quân sự của thế giới hiện đại. Thật khó để định nghĩa chính sách đối ngoại của Obama bởi chúng không gắn kết vào một khuôn khổ ý thức hệ nào cả. Obama và đội ngũ chính sách đối ngoại của mình thay vì thế, đã cố gắng linh hoạt một cách tối đa để ứng phó với những thách thức quốc tế theo những cách riêng. Chẳng hạn, ông sẵn sàng đưa quân đội Mỹ can dự trực tiếp vào các nỗ lực loại bỏ Muammar Gaddafi ở Libya nhưng lại lưỡng lự không làm điều tương tự với Bashar al-Assad.

Vậy Mitt Romney thì sao? Vào ngày 8/10, ông đã có bài diễn văn đầu tiên về chính sách đối ngoại kể từ khi được đề cử làm ứng viên Tổng thống. Ông đã chỉ trích năng lực lãnh đạo của Obama trong lĩnh vực đối ngoại và khẳng định mình sẽ là một nhà lãnh đạo can đảm hơn, cứng rắn hơn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích của nước Mỹ trên trường quốc tế. “Tôi ra tranh cử Tổng thống bởi vì tôi tin rằng nhà lãnh đạo của thế giới tự do phải đảm trách sứ mệnh trước các công dân của mình và bạn bè ở khắp nơi để sử dụng ảnh hưởng lớn lao của Mỹ một cách khôn ngoan, trân trọng, không kiêu ngạo mù quáng nhưng mạnh mẽ và quyết đoán để định hình các sự kiện theo các cách thức bảo vệ được lợi ích của chúng ta, truyền bá các giá trị, ngăn ngừa xung đột và làm cho thế giới tốt đẹp hơn”

Tuy nhiên, đây lại là bài phát biểu hầu như tránh né những chi tiết cụ thể và vì vậy các cử tri có rất ít chỉ dấu để nhận định về những hành động mà Romney có thể thực hiện sẽ khác biệt ra sao so với Obama. Thực tế, bài phát biểu chung chung này của Romney lại mang đến lợi thế cho Obama.

Đó chính là thực tế ngầm định của cuộc bầu cử. Thực ra có rất ít khác biệt giữa hai ứng viên trong lĩnh vực đối ngoại và an ninh quốc gia. Những người thách thức, như Romney luôn chỉ trích tổng thống đương nhiệm đã làm suy yếu quân đội, hay không can thiệp đủ quyết đoán đối với những cuộc khủng hoảng. Thiếu vắng những ý tưởng tốt hơn, những người thách thức đành phải dùng đến phương sách đả kích.

Người Mỹ hiểu điều này. Họ phản ứng bằng cách hướng sự quan tâm của mình đến những vấn đề khác, như chính sách kinh tế và xã hội vốn động chạm trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của họ. Và đáp lại, các ứng viên dành nhiều thời gian cho những mối quan tâm này hơn cả, và đẩy chính sách đối ngoại, một lần nữa, rơi vào bóng tối của chiến dịch tranh cử tổng thống.

GS Calvin Mackenzie (ĐH Colby, Hoa Kỳ)

(Chuyên gia về chính trị Mỹ, hiện đang giảng dạy tại ĐH Colby, Hoa Kỳ. Ông từng là học giả Fulbright tại Trung Quốc và Việt Nam).

 

Thế giới 24h: Lại ồn ào tranh chấp đảo

23 Th10

Thế giới 24h: Lại ồn ào tranh chấp đảo

– Thêm diễn biến mới xung quanh vấn đề tranh chấp biển đảo giữa Trung Quốc và Nhật Bản; Mỹ khuyên Nhật, Trung giảm bớt căng thẳng… là các tin nóng trong ngày.Nổi bật

Lực lượng tuần duyên Nhật Bản hôm 22/10 cho biết, một số tàu hải giám Trung Quốc lại xuất hiện tại vùng biển gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Cụ thể, 4 tàu hải giám Trung Quốc đã tiến vào vùng tiếp giáp lãnh hải gần quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư vào lúc 8h30 sáng 22/10, sau khi đã rời khu vực này tối 21/10.

Cùng ngày hãng tin Jiji cho hay, cảnh sát quốc gia Nhật đã chỉ đạo các đơn vị ở Kanagawa và Osaka điều nhân viên đến Okinawa để hỗ trợ bảo đảm an ninh quần đảo.

Tranh chấp Trung, Nhật tiếp tục căng thẳng. (Ảnh: The Australian)
Nhân viên cảnh sát được điều đến sẽ phối hợp với tuần duyên Nhật tuần tra xung quanh Senkaku/ Điếu Ngư, để ngăn chặn các vụ đặt chân trái phép lên quần đảo này.

Ngoài ra, theo hãng tin của Nhật Bản, cơ quan cảnh sát quốc gia nước này cũng đang xem xét việc đưa ra một chỉ đạo tương tự đối với Sở Cảnh sát khu đô thị Tokyo.

Trước đó một ngày, báo Sankei của Nhật Bản cho hay, quân đội Trung Quốc đang sử dụng các máy bay không người lái vào việc đòi chủ quyền đối với quần đảo trên.

Báo này cho biết, máy bay không người lái xuất phát từ tàu hải quân xâm nhập không phận phía trên quần đảo, và do thám nhằm làm suy yếu kiểm soát của Nhật Bản.

Tin vắn

– Mỹ đã cử một phái đoàn cựu quan chức an ninh đến Nhật, Trung để thuyết phục hai nước giảm bớt căng thẳng trong vấn đề Senkaku/Điếu Ngư.

– An ninh Jordan đã bắt giữ 11 đối tượng thuộc al-Qaeda bị tình nghi lên kế hoạch thực hiện những vụ tấn công khủng bố đẫm máu tại nước này.

– NATO sẵn sàng bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ, và đang soạn thảo các kế hoạch tương ứng trong trường hợp căng thẳng giữa nước này với Syria leo thang.

– Thứ trưởng Ngoại giao Nga về vấn đề Trung Đông kiêm đặc phái viên của Tổng thống Vladimir Putin, Mikhail Bogdanov đã đến thủ đô Tehran.

– Hàn Quốc đã ngăn chặn các nhà hoạt động thả các tờ rơi chống Bình Nhưỡng dọc biên giới sau khi Triều Tiên đe dọa đáp trả không thương xót.

– Quân đội Lebanon cho biết nước này đang ở thời kỳ khủng hoảng sau vụ sát hại giám đốc tình báo lực lượng an ninh, Tướng Wissam al-Hassan.

– Một Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Iran cho biết, những cuộc đàm phán dân tộc Syria sẽ “sớm” được tổ chức tại Tehran hoặc một nước nào đó.

– Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sắp mãn nhiệm của Gruzia, Dimitri Shashkin tuyên bố ông đã rời khỏi Gruzia nhằm tránh bị chính quyền mới truy tố.

– Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Iran ông Ali-Akbar Salehi tuyên bố đàm phán hạt nhân giữa Iran và nhóm P5+1 có thể sẽ được nối lại vào tháng 11 tới.

Tin ảnh

Ngư dân Ấn Độ bị cảnh sát biển Pakistan bắt giữ cuối tuần trước vì tội đánh bắt trái phép trên vùng biển Pakistan. (Ảnh: THX)

Phát ngôn ấn tượng

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov nói, việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ là “vật cản chính” để Nga, Mỹ và NATO lập quan hệ đối tác chiến lược song phương.

Ngày này năm xưa

Ngày 23/10/1946, phiên họp thứ hai của Đại hội đồng Liên hợp quốc được tổ chức ở thành phố New York (Mỹ).

Thanh Vân (tổng hợp)

 
%d bloggers like this: