Lưu trữ | 7:55 Sáng

NGUYỄN PHI KHANH CHỐNG THAM NHŨNG – trannhuong

26 Th10

NGUYỄN PHI KHANH CHỐNG THAM NHŨNG

Vũ Bình Lục

( VỀ BÀI THƠ THÔN CƯ CẢM SỰ KÝ TRÌNH
BĂNG HỒ TƯỚNG CÔNG
Của Nguyễn Phi Khanh

Phiên âm:

THÔN CƯ CẢM SỰ KÝ TRÌNH
BĂNG HỒ TƯỚNG CÔNG

Đạo huề thiên lý xích như thiêu,
Điền dã hưu ta ý bất liêu?
Hậu Thổ sơn hà phương địch địch,
Hoàng Thiên vũ lộ chính thiều thiều!
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
Hảo bả tân thi đương tấu độc,
Chỉ kim ngọa bệnh vị năng triều.

Dịch nghĩa:
Ở QUÊ XÚC ĐỘNG TRƯỚC SỰ VIỆC XẢY RA,
GỬI TRÌNH TƯỚNG CÔNG BĂNG HỒ

Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,

Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu.

Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ,

Mưa móc của Hoàng Thiên hãy còn xa vời!

Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt,

Mỡ màng của dân đã cạn hết nửa,

Xin đem bài thơ mới này thay cho tờ tấu,

Hiện nay đang nằm trên giường bệnh chưa thể đến chầu được!

Bản dịch thơ của Vũ Bình Lục:

Ruộng nương khô cháy cả rồi

Đồng quê than vãn hỏi trời nơi đâu?

Non sông nứt toác mặc dầu

Móc mưa thiên đế trên đầu quá xa

Tham quan liếm sạch sơn hà

Mỡ màu dân, chỉ còn ba bốn phần

Xin đem lời mới thay dân

Thân tàn mong được xá phần tôi con!

Đây là bài thơ Nguyễn Ứng Long viết gửi ngài Tướng công Băng Hồ, tức Trần Nguyên Đán, khi Ứng Long đang nằm trên giường bệnh ở nhà mình. Ta từng biết, Ứng Long được quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán gả con gái yêu là Trần Thị Thái, sau sinh ra người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Mặc dù Ứng Long đã thi đỗ tiến sĩ, nhưng không được bổ làm quan, vì vua Trần Nghệ Tông bảo thế là phạm lễ, vì thường dân mà mà dám lấy con gái hoàng thất. Ứng Long phải ở nhà, dạy học kiếm sống, mãi đến đời nhà Hồ, mới ra làm quan, vào năm 1401. Bài thơ thay cho tờ tấu của người thường dân, gửi vị đại quan trọng yếu của triều Trần, như một bản báo cáo về hiện tình đất nước, cùng nỗi lo của kẻ sĩ trước vận mệnh của nước nhà. Bốn câu đầu, tác giả tập trung mô tả cảnh đại hạn ở chốn dân quê:

Ruộng nương nghìn dặm đỏ như cháy,

Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu.

(Đạo huề thiên lý xích như thiêu,

Điền dã hưu ta ý bất liêu)

Ruộng nương của dân đang lâm vào cảnh khô hạn, đỏ như cháy (xích như thiêu). Nghĩa là không còn nhìn thấy màu xanh, màu tươi non của sự sống nữa. Không chỉ một nơi, mà cái họa ghê gớm này là ở khắp nơi, những ngàn dặm (thiên lý) kia! Thế thì thiên tai đã thật là khủng khiếp, cấp bách lắm rồi! Nhưng dân đen còn biết làm gì? Biết kêu ai, biết chờ ai cứu giúp đây? Kêu trời ư? Trời cao thăm thẳm, sao nghe thấu! Kêu triều đình ư? Triều đình xa dân lắm, đâu có nghe? Cho nên, Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu…Đó chính là một hiện thực đau xót, được tác giả khái quát trong hai câu thơ đầu.

Hai câu tiếp theo, vẫn là nói cảnh đại hạn, nhưng ở mức cụ thể hơn, sâu sắc hơn:

Non sông của Hậu Thổ đang nứt nẻ,

Mưa móc của Hoàng Thiên hãy còn xa vời.

(Hậu Thổ sơn hà đương địch địch,

Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều).

Hậu Thổ, tức thần Đất. Vậy, non sông của thần Đất (Hậu Thổ sơn hà) mà còn nứt nẻ như thế, đến như thần linh cũng bất lực, thì dân đen biết làm thế nào? Hoàng Thiên, tức Ngọc Hoàng thượng đế, tức ông trời, cũng chưa chịu ban mưa móc xuống trần gian cứu giúp dân lành. Chữ Mưa móc (vũ lộ), vừa có ý nói là mưa, những cơn mưa từ trên trời, lại vừa có ý chỉ ơn huệ của Hoàng Thiên, cũng có thể ngầm chỉ cái ơn “mưa móc” của triều đình. Vậy mà trông trời, trời cao vời vợi, hy vọng mong manh, xa vời lắm! Cũng là nói về cảnh đại hạn, nhưng ở đây lại đề cập đến những đấng quyền lực, quyền năng siêu nhiên, để gửi chút tâm trạng ấm ức, bất bình của tác giả, cũng là tâm trạng của muôn dân.

Hai câu 5 và 6, tỏ thái độ bất bình, phê phán quyết liệt đối với bọn quan lại tham nhũng:

Lưỡi tham quan lại vơ vét hết kiệt,

Mỡ màng của dân đã cạn mất nửa.

(Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,

Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu).

Cái lưỡi dơ bẩn của bọn tham quan ô lại (lại tư võng cổ) đã vơ vét sạch, liếm sạch, liếm đến cạn kiệt (đa kiệt) của dân đen rồi. Thóc lúa, của cải của cùng dân khốn khổ, chúng cũng vơ vét sạch. Thế thì dân đen còn biết sống bằng gì? Đến như Mỡ màng của dân đã cạn mất nửa! Nguyễn Trãi sau này có lẽ cũng tiếp thu tinh thần của hai câu thơ này của cha mình, mà phát triển thành những câu văn tố cáo tội ác của giặc Minh sắc hơn kiếm: “…kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”…(Bình Ngô đại cáo). Đương nhiên, đối tượng tố cáo là khác nhau, nhưng tội ác của nội tặc, nào có kém chi tội ác của ngoại xâm? Đơn giản, bởi chúng đều là những kẻ bất nhân bất nghĩa cả!

Hai câu cuối, dường như có vẻ không nằm trong nội dung bài thơ. Nó chỉ có ý nghĩa như một lý do không thể đến trình tấu trực tiếp của người đang nằm bệnh tại nhà, thế thôi! Nhưng mà thế cũng là đủ.

Hà Nội-Xuân 2012

TẠ TỴ: HỒI KÝ VĂN NGHỆ – nguyentrongtao

26 Th10

TẠ TỴ: HỒI KÝ VĂN NGHỆ 

Quantcast
TẠ TỴ

Tạ Tỵ - Trịnh Cung vẽ
Tạ Tỵ – Trịnh Cung vẽ

Bài thơ dài, tôi chỉ chép lại phân nửa , còn nửa dưới, Nguyên Sa chỉ dùng thơ để chửi đổng cuộc đời và coi cuộc đời là chốn mua bán ô trọc, cần ném tất cả xuống biển sâu.   Nguyên Sa thay vì khóc, đã reo mừng cho người chết, thoát được kiếp làm người!   Nguyên Sa làm báo cũng tài tử lắm, ít khi anh tới tòa soạn, mọi công việc đều giao cho Thanh Nam và Thái Thủy.   Tuy chịu trách  nhiệm về đường lối, cũng như sự  sống chết của tờ báo mà Nguyên Sa cũng chỉ đóng góp và viết bài như các nhà văn, nhà thơ cộng tác thôi.   Sự thu chi , lời lỗ ra sao; chỉ có Thái Thủy  biết và nói lại vói Nguyên Sa.   Vấn đề làm báo , với Nguyên Sa , hình như chỉ là cái cớ, để có dịp gặp anh em; chứ Nguyên Sa không cần tiền, vì cái cơ sở tư thục do Nguyên Sa làm hiệu trưởng đã cung cấp cho Nguyên Sa quá dư dật về đời sống vật chất.

Một chiều, tôi và Nguyên Sa ngồi uống nước ở quán CÁI CHÙA , trong tay Nguyên Sa cầm tờ  HIỆN ĐẠI  mới phát hành.   Sau khi chuyện vãn vài câu, bỗng, Nguyên Sa nhìn tôi, hỏi:
– Ông dã đọc thơ của  Nhã Ca đăng trong số này chưa ?

Tôi trả lời, chưa nhận được báo.   Nguyên Sa lật trang báo, đọc cho tôi nghe bài thơ của Nhã Ca.   Đọc xong, Nguyên Sa nói:
–  Tôi không biết con bé xứ Huế này là ai, sao nó làm thơ hay thế ?

Từ đó, hầu như số báo Hiện đại nào cũng có đăng thơ Nhã Ca.   Có lẽ tạp chíHiện đại đã mở đường  cho  Nhã Ca bước vào khung trời văn học từ dạo ấy, và mấy năm sau, Nhã Ca trở thành một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng và Nguyễn Thị Thụy Vũ.   Nhưng   mỗi nhà văn nữ đều có môi trường trưởng thành khác nhau, tuy sinh cùng thời và khởi sắc cùng không gian cũng như thời gian.
Từ ngày sống ở miền Nam, tuiy giao du nhiều; nhưng không có thời giờ để gặp gỡ.   Tôi quá bận trong công việc nhà binh, lại làm việc riêng, không viết thì vẽ, không viết, vẽ, thì lại làm thơ – do vậy, hiếm có thời giờ nghỉ ngơi thoải mái.   Lắm lúc nghĩ lại, thấy câu nói của anh Nguyễn Đức Quỳnh là đúng: ” .. ôm rơm chỉ nặng bụng…” – nhưng đã là cái nghiệp, bỏ cũng chẳng xong !

Tôi và Phạm Duy cùng sống ở Sài Gòn , nhưng ít khi gặp nhau.   Ban nhạc THĂNG LONG  mỗi ngày một thăng hoa, lại có thêm một giọng hát nữa là Khánh Ngọc.   Sự gặp gỡ  tuy là ít, nhưng không phải vì thế; mối giao hảo giữa tôi và Phạm Duy phai lạt.   Tôi mừng cho Duy, cũng như ban Thăng Long gặt  hái  nhiều thành công qua các Đại nhạc hội được dân chúng yêu mến, đều qua tiếng hát Thái Thanh .  Trời đã ban phát cho Thái Thanh  có  một làn hơi phong phú , mỗi lần tiếng hát thoát ra, như cả 1 rừng chim véo von hòa nhịp.   Tiếng hát vừa cao, vừa trầm ấm thiết tha, nửa như ru, nửa như niu kéo người nghe đi vào dòng huyễn mộng !   Tiếng hát nghe có lúc như ngất đi, như chết lịm giữa một vùng âm thanh  bao la, bát ngát- có lúc nó  dạt dào như cơn sóng  thủy triều vỗ vào chân đá, có lúc nó hồn nhiên, thanh thoát như mây trời phiêu lãng , bềnh bồng !   Ôi! tiếng hát sao mà [ kỳ diệu] đến vậy !

Ban  hợp ca Thăng Long , ngoài Phạm Duy – linh hồn của nhóm –  còn có Thái Hằng, Thái ThanhKhánh Ngọc, Hoài Trung và Hoài Bắc.   Tuy chơi thân với Phạm Duy, nhưng tôi yêu Hoài Bắc nhất.   Hoài Bắc tính tình đôn hậu, ăn nói nhẹ nhàng, chơi với bè bạn rất lịch sự, phong nhã.  Ngoài tài hát, Hoài Bắc (Phạm  Đình Chương)  còn sáng  tác  cá khúc rất nổi tiếng như MƯA SÀI GÒN, MƯA HÀNỘI phổ thơ Hoàng Anh Tuấn; NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU phổ thơ Thanh Tâm Tuyền trong phim CHÂN TRỜI TÍM, TIẾNG DÂN CHÀI và  bản trường ca HỘI TRÙNG DƯƠNG .  Thái Thanh trong thời gian đó đã trở thành1 thiếu nữ, chứ không còn là cô bé kẹp tóc bưng phở cho khách ở Chợ Đại năm xưa.   Rồi do duyên số, Khánh Ngọc kết bạn trăm năm với Hoài Bắc và sau nhiều năm tháng theo đuổi, bám víu, Thái Thanh cũng ngã vào  đôi tay của Lê Quỳnh …  –  khi cuộc tình giữa Hoài Bắc và Khánh Ngọc đã tan vỡ do bàn tay của Định mệnh .(1)

Từ ngày  Khánh Ngọc dứt áo  ra đi khỏi ban Thăng Long, để lại  1 khoảng trống không bao bít nổi ! Cũng kể từ ngày đó, Hoài Bắc mang tâm sự u hoài, đi tìm lãng quên trong men rượu; nhưng men rượu cũng không  đủ sức làm Hoài Bắc nguôi ngoai phiền muộn, một thứ phiền muộn ray rứt mỗi đêm không ngủ, một  mình một  bóng với nhớ thương chen lấn hờn giận, như độc tố ngấm dần vào cơ thể làm chết lần mòn  nguồn sống .   Chỉ còn 1 cách , dìm mình vào hương khói quê nâu, may ra mới thoát !   Phù Dung tiên nữ có  đôi tay mầu nhiệm , đã ru biết bao nhiêu tâm sự chán chường, bước vào vùng trời quên lãng !

Sau khi cuộc tình tan vỡ,  Hoài Bắc không sống cô đơn lâu dài, có nhiều vóc dáng đàn bà đã đi qua cuộc đời đau khổ ấy.

Riêng Hoài TrungPhạm Đình Viêm)  ít bị xáo trộn,  về vấn đề tình cảm.  Bên cạnh ban Thăng Long, còn có gia đình Phạm Đình Sỹ với nữ kịch sĩKiều Hạnh .  Phạm Đình Sỹ là  anh ruột của  Hoài Trung, Hoài Trung là anh cùng cha khác mẹ với Hoài Bắc, Kiều Hạnh là chị dâu.  cái gia đình này có đời sống riêng biệt, nên hình như, không dính líu gì về chuyện riêng tư của ban Thăng Long.   Kiều Hạnh, một nữ kịch sĩ  có tài, đóng được rất nhiều vai [ diễn].   Tính  tình   hiền hậu, nét đẹp thùy mị, vẻ đoan trang cúa ngươi đàn bà đông phương.   Nhưng hôm nay, Kiều Hạnh không còn nữa, đã vĩnh viễn đi vào cõi hư vô, sau nhiều năm sống  dưới chế độ… CS tại miền Nam.

Vì câu chuyện  Phạm Duy + Khánh  Ngọc – 1 thời gian sau – ban hợp ca Thăng Long không còn ở chung tại tòa biệt thự ở đường bà huyện Thanh Quan nữa; mà phân tán thành các đơn vị nhỏ.   Hoài Bắc sống chung với đứa con trai, vẫn đi hát cho đài phát thanh và các phòng trà mỗi tối.   Ban Thăng Long mất dần uy thế.

Khi trước, nhờ có Phạm Duy lèo lái, ban Thăng Long đã có nhiều dịp xuất ngoại.  Đi đâu, đến đâu , đều được tiếp đón nồng hậu.   Tróng 1  chuyến  viễn du trình diễn tại Philippimes do Quân đội  [ làm trưởng đoàn ] hướng dẫn  * , ban Thăng Long chỉ đi cò người: Phạm Duy và Thái Thanh.   Còn Lê Quỳnh có mặt trong ban vũ của Hoàng Thư.  Ngoài ra, còn có nhiều nghệ sĩ thuộc các bộ môn dân ca,  có cả Hồ Điệp ngâm thơ.   Sau buổi trình diễn tại sân khấu 1 đại học, các chuyên viên về âm nhạc Philippines, họ nói với nhau: ”Trong tất cả các ca sĩ Việtnam, chỉ có 1 mình Thái Thanh biết hát thôi !”. (2)

Ai cũng biết Phi luật tânPhilippimes) là xứ của âm nhạc.   Cây đàn Hoki-Lili là 1 nhạc khí  thông dụng cho cả trẻ con, lẫn người lớn tại xứ này.   Cũng may câu nói đó, rất ít người được nghe, do vậy, không khí của Đoàn văn nghệ [VN] xuất ngoại vẫn vui vẻ.  Ngay cả Thái Thanh cũng không biết về lời phát biểu này; nhưng tôi tin, sẽ có người nói lại.   Đài Vô tuyến truyền hình Phi luật tân có mời Đoàn  chơi một show, cho toàn nước Phi, được biết tài năng, đặc tính nền văn nghệ Việt Nam, xuyên qua các bài hát, câu thơm điệu múa.

***

Từ ngày thôi làm báo ĐỜI MỚI, rồi NGUỒN SỐNG MỚI , tôi và Hoàng Trọng Miên  ít gặp nhau.   Một buổi tối, có lòng nhớ, tôi đến thăm Hoàng Trọng Miên .  Khi đến, tôi gặp 1 người có 1 dáng điệu tráng kiện, trắng trẻo, bận đồ soọc trắng  , trông có vẻ trí thức- đang ngồi nói chuyện với HTMiên  ở phòng khách.   Thấy tôi đến, HTMiên đứng dậy, giới thiệu:
– Đây, Thanh Nghị, anh ruột tôi.

Tôi nhìn Thanh Nghị bằng con mắt ngạc nhiên, vì trông trẻ hơn HTMiên nhiều.  Đã có lần HTMiên cho tôi biết, có người anh đang soạn bộ tự điển, đồng thời ông ta chưa có vợ, và đang mê nữ ca sĩ  Tâm Vấn .  HTMiên vừa nói vừa cười , có  vẻ như chê tư cách người anh.   Riêng tôi, không có  ý kiến, tuy tôi đã được nghe nhiều người nói về sự phục vụ của nhà trí thức Thanh Nghị đối với ca sĩ Tâm Vấn.   Mỗi lần Tâm Vấn đến  Đài phát thanh hát, Thanh Nghị dùng xe đưa đón đi, về và chầu chực, nhiều khi, cả nửa ngày ở ngoài xe, mà không hề than van!    Ít lâu sau, Tâm Vấn trở thành bà Thanh Nghị , mưa dầm lâu cũng lụt, là vậy !

Sau vài câu chuyện vãn , Thanh Nghị ra về; còn tôi và HTMiên. Miên rủ tôi lại thăm Tam Ích.  Tôi biết tiếng Tam Ích lâu rồi, anh học rộng, chịu đọc sách,  tinh thần khuynh tả.  Anh thường viết bài  nhận định về văn học, hay trích dẫn văn danh nhân, để chứng tỏ tài học của mình.  Tam Ích sống bằng nghề dạy học.  Trước khi gặp Tam Ích, HTMiên nói sơ qua cho tôi biết về gia cảnh, tính  nết ra sao ?   Tam Ích có người vợ Tàu lai, anh lại là đệ tử nàng Tiên nâu, tính tình vẫn rất kiêu bạc, không thích ai là không tiếp, dù cho anh có ở nhà đi nữa.  Nhà của Tam Ích lúc ấy ở con hẻm giữa Võ Tánh và Phạm Ngũ Lão (3) .  Đến nới, nhìn vào, tôi thấy  1 tủ sách, tòan những cuốn sách đóng bìa da, chữ mạ vàng.  Như vậy, Tam Ích là người đọc và quý sách. Khi được thông báo, Tam Ích từ trong nhà đi ra, anh mặc bộ bà ba trắng, dáng người mập mạp, nước da xỉn xỉn, khuôn mặt hơi thô với đôi lưỡng quyền cao và chiếc miệng khá rộng.

Sau lời giới thiệu nồng nhiệt của HTMiên , Tam Ích tiếp tôi như  1 người bạn quen từ lâu.   Anh nói đến  các trào lưu   văn học tây phương và đợt sóng mới, lại đề cập cả triết học.   Anh nói thao thao bất tuyệt như giảng bài.   Tôi và HTMiên chỉ ngồi nghe,. có lẽ biết mình đi quá đà, anh ngưng lại, hỏi tôi [ về ] hội họa   và các trường phái.   Qua câu chuyện hội họa, tôi biết Tam Ích không mấy để ý đến ngành này, chỉ chuyên chú vào văn học, triết học.   Tôi liếc mắt nhìn vào tủ sách, thấy cuốn  LE CAPITALISME  dày cộm, đặt bên cạnh các cuốn của Marx, Engels!   Tôi biết anh đã đọc và nghiên cứu về Đệ Tam chủ nghĩa .  Anh đã chịu ảnh hưởng và bị chi phối.   Do vậy, các bài anh viết đều có khuynh hướng thiên tả, tuy không quá lộ liễu.   Dù muốn, dù không, sau nhiều lần giao tiếp với anh và trở nên thân thuộc, tôi phải thừa nhận Tam Ích, con người có tài, đọc nhiều, hiểu rộng; nhưng oan trái thay, chỉ vài năm sau, anh dọn nhà đi nơi khác- ít khi tôi và Tam Ích có cơ hội gặp nhau.   Bỗng 1  buổi nghe tin Tam Ích  đã treo cổ tự tử, bằng cách [ đứng lên trên] chồng sách quí ở dưới chân, [ đạp ra] cho thân xác treo lơ lửng trên chiếc đà ngang, đến chết !

Đám tang Tam Ích, tôi có đưa tiễn tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.   Tôi được Hoàng Trọng Miên cho biết, vì quá túng thiếu – hơn nữa vợ con đối với Tam Ích chẳng ra gì – nên Tam Ích mượn sợi dây oan nghiệt đễ giã biệt cuộc đời !.   Sau khi ném 1 bông hoa và cục đất xuống huyệt, để chào vĩnh biệt Tam Ích; tôi ra về  với Lê Ngộ Châu , lúc đó đang làm chủ nhiệm tờ BÁCH KHOA. Châu bảo tôi:
-… Cậu phải làm 1 bài thơ khóc Tam Ích, vì lúc sống, Tam Ích quí cậu lắm !

Tôi nghe lời , làm bài thơ đăng vào số Bách Khoa mới nhất.   Bài thơ không dài lắm; nhưng lâu ngày, tôi quên nhiều đoạn, chỉ nhớ vài câu :

Tam Ích  , Tam Ích hồn đi đâu ?
Nếu trở lại mai sau
Xin đừng về chốn cũ
Lưới nhện dã giăng sầu …!

Nói cho đúng, sự nghiệp văn học của Tam Ích không để lại cho cuộc đời được bao nhiêu; nhưng ai biết anh, đều cảm  phục thái độ sống và cái học, cái đọc của anh qua sách vở …

***

Tôi  vẫn vẽ tranh để chuẩn bị cho cuộc Triển lãm lần thứ 2 tại Sài Gòn,  được dự định vào 1961- nghĩa là theo chu kỳ – cứ 5 năm 1  lần.    Phương pháp vẽ của tôi bắt đầu thay đổi.   Tôi cảm thấy trường họa lập thể đã già rồi  và cái chiều hướng thứ tư ( 4 ème dimension)  không còn mấy quyến rũ – hơn nữa, cái trường họa này vẫn phải tựa vào con người, cũng như sự vật- mới có tác phẩm- trong khi đó, một trường hợp mới ra đời sau Đệ 2 thế chiến đang phát triển mạnh- đó là trường trừu tượngabstraire.  )
Trường họa này  có điểm đặc biệt là không tựa vào cái gì để có, để tạo nên tác phẩm.   Nó hoàn toàn tự do, nhưng cũng vô vàn khó khăn – khi muốn có 1 tác phẩm đẹp.   Nó là sáng  tạo.  Nó là sự thanh thoát mở đường cho mỗi cá nhân họa sĩ, tùy theo bản ngã, tài năng riêng biệt, để tạo [ra] một thế giới riêng , thật riêng biệt- ngay cả người tạo ra nó cũng biến thành người thưởng ngoạn đầu tiên của công trình khám phá do chính mình xây dựng.    Còn đứng về phía người xem tranh, yêu hội họa; nó giải phóng tầm nhìn, nó không bắt người yêu tranh phải lệ thuộc vào hoạ sĩ – mà người yêu tranh cũng là kẻ sáng tạo, khi đứng trước bức tranh, để tỉm hiểu, mình đã nghĩ gì về nó, nó đã gợi cho mình những ấn tượng nào khả dĩ chấp nhận được ?

Theo ý riêng,  tranh trừu tượng là chiều sâu thăm thẳm  của suy tư, muốn nắm được nó,  họa sĩ phải có tài năng vững về chuyên môn; họa may, mới có thể tung hoành nét bút, nét dao trên mặt vải.   Những hình thể và màu sắc chứa đựng trong họa phẩm, không thể thiếu, cũng không thể thừa.   Tất cả đều phải gắn bó với nhau, như 1 tòa kiến trúc, không thể tháo gỡ được.   Có nhiều người hiểu lầm,tranh trừu tượng muốn vẽ  sao cũng xong, miễn khuôn vải được che kín bởi hình thế và màu sắc.   Nghĩ  vậy không đúng !   Những gì có trong 1 họa phẩm trừu tượng, người ta không thể làm hơn và kém đi – nếu không – tấm tranh chỉ còn cách đem vứt bỏ.   Quả thực mấy chục năm cầm bút  vẽ trong tay, tôi chưa thấy lối vẽ nào khó hơn vẽ tranh trừu tượng.    Nhưng dù khó đến đâu, đứng trước trào lưu tiến hóa , tôi vẫn cứ phải lao vào, như con thiêu thân ném mình  vào lửa !    Cũng may nhờ 1 phần vào tuổi còn trẻ, một phần, mỗi tháng có 1 số lương nhất định để nuôi sống gia đình – do vậy – tôi yên tâm sáng tạo, nếu có thất bại !   Nhưng sự làm việc về hội họa của tôi cũng không thường xuyên, khi nào có hứng thì vẽ, bằng không, để thì giờ làm chuyện  khác.

***

Có những buổi sáng chủ nhật, tôi thường la cà tại  phố Lê Lợi, đôi khi ngồi quán KIM SƠN uống cà  phê,  tán dóc với vài  ba người bạn.  Chính tại nơi này, tôi đã gặp Thế Phong.  Khi đó, anh đang  chủ trương nhà xuất bản ĐẠI NAM VĂN HIẾN .  Sách của nhà xuất bản này đặc biệt in bằng máy rô-nê-ô ( ronéo) , và do Thế Phong  vừa biên soạn, vừa đánh máy.   Sau khi in ra, chính tay anh mang đi phát hành.   Tất cả những gì do nhà ĐẠI NAM VĂN HIẾN xuất bản đều không mang số kiểm duyệt, tức in lậu.   Thế Phong thường được các nhà văn trẻ gọi đùa là : nhà văn nghệ cao bồi – vì anh có cái tướng  trông ngang tàng, bất cần ai và sẵn sàng đánh lộn, nếu cần.   Thế Phong hớt tóc ngắn, lởm chởm, vì sợi tóc khô, cứng.   Khuôn mặt trông khắc khổ, cặp mắt sắc sảo, với chiếc cằm nhọn.   Đặc biệt anh có bàn tay 6 ngón.   Thân hình tuy không to lớn, nhưng gân guốc, khỏe mạnh.   Thế Phong viết phê binh rất độc.   Anh không sợ sự oán giận của người bị anh phê bình, do đó anh viết cả 1 cuốn sách để nói về cuộc đời của Nguyễn Đức Quỳnh , để mạt sát người đã dìu dắt và nâng đỡ anh trong bước đầu  vào khung trời văn học.    Nhưng không phải Thế Phong chỉ nói và chửi người khác đâu, anh dám nói cả những thói hư, tật xấu của riêng anh nữa.

Cho đến hôm nay , tôi cũng không hiểu vì lý do nào, Thế Phong lại mến phục tôi, vì lúc nào gặp, hoặc nói về tôi, anh đều dè dặt, có vẻ giữ lời, chứ không buông thả, chửi bới tùm lum như đối với những người khác.

Thế Phong , con người rất đam mê , không những văn học mà còn đàn bà.   Những người được anh mê, chắc cũng khổ tâm lắm- như Cao Mỵ Nhân và nữ sĩLinh Bảo.   Thế Phong cứ viết đại ra , không biết viết như vậy, làm hại danh dự của người khác; nhất là giới phụ nữ, nhưng hình như, anh không cần 2 chữ danh dự- anh viết, chỉ nhằm mục đích được nói hết những gi mình nghĩ.

Thế Phong còn ký  dưới bút hiệu khác như: Đinh Bạch Dân, Đường Bá Bổn v. v. …
Tên thật Thế Phong là Đỗ Mạnh Tường. Tôi cũng không hiểu sao ,Thế Phong lại có tiền để làm công việc, mà tôi tin rất ít kết quả.  Sách in ronéo lem nhem, , chữ còn chữ mất, lại in lậu, nên phải  bàn giấu giếm, chứ không công khai như các loại sách có kiểm duyệt.

Thế Phong, nhà văn nghệ cách mạng muốn lành mạnh hóa nếp sống tinh thần qua  phương tiện văn chương; nhưng có điều Thế Phong quên, trước khi muốn sửa người, hãy tự sửa mình- nghĩa là phải soi gương trước khi nhìn người khác.   Tôi tin rằng, Thế Phong nay đã gần 60 tuổi trời, khi quay lại nhìn lại những hình ảnh cũ, thế nào cũng nhận ra một số lỗi lầm và ân hận !

(còn tiếp)

—–
(1) Tạ Tỵ đổ lỗi cho định mệnh an bài- chỉ là một lối nói , để bênh vực Phạm Duy –  chính Phạm Duy đã tằng tịu ”
đi ăn chè Khánh Hội“  với vợ của em vợ ,  hậu quả đầu  tiên làm tan nát  1 gia đình, sau ,tới ban Thăng Long .  Nhờ sự độ lượng, khoan dung, chiu đựng tuyệt vời hiếm có 1 người vợ  đối với chồng, Thái Hằng đã khuyên can em vợ ( Phạm Đình Chương ) tha thứ anh rể, không đưa ra  tòa  .  Rồi Khánh Ngọc đi du học  ở Hoa kỳ, gặp người chồng tốt  sau này , hiện nay sống  hạnh phúc ở Mỹ .  Sau  1975, khi Phạm Duy viết Hồi kýin tại Hoa Kỳ) cũng phải  tự thú nhận tội lỗi ,  nhưng ‘ tội lỗi thú nhận trước bình minh’ , chỉ đâu đó không quá  ít  dòng chữ . (TP).


(2) nếu tôi không nhầm, chính trung tá Tạ Tỵ, Biệt đoàn trường văn nghệ  thủ đô , hướng dẫn phái đoàn qua Manila trình diễn, sau đó còn sang Tokyo ( Nhật bản) nữa, thì phải ? (TP) .

(3) Nhà của  Tam Ích, khi ấy, ở trong hẻm  Lê văn Duyệt ( nay Cách mạng Tháng 8 , khúc ngã 3 Nguyễn Du )  thông qua Võ  Tánh. (TP) .

Nguồn: Thế Phong Blog

Bắc Triều Tiên hành quyết cựu Thứ trưởng Quốc phòng bằng đạn pháo – RFI

26 Th10

Bắc Triều Tiên hành quyết cựu Thứ trưởng Quốc phòng bằng đạn pháo

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un (giữa) vẫy chào trong chuyến đi thăm một đơn vị quân đội đóng tại một đảo miền tây nam, ngày 19/08/2012.

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un (giữa) vẫy chào trong chuyến đi thăm một đơn vị quân đội đóng tại một đảo miền tây nam, ngày 19/08/2012.

REUTERS/KCNA
 

Báo chí Hàn Quốc hôm nay 25/10/2012 đưa tin, ông Kim Chol, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Bắc Triều Tiên đã bị bắt từ hồi đầu năm, vì đã phạm tội uống rượu, vui chơi trong dịp tang lễ cố lãnh đạo Kim Jong Il.

Theo nguồn tin này, theo lệnh của Kim Jong Un, người lên thay cha lãnh đạo đất nước từ tháng 12 năm ngoái, ông Kim Chol đã bị bắt từ hồi đầu năm nay. Để thực hiện mệnh lệnh của lãnh đạo Bình Nhưỡng là phải « xóa hết mọi dấu vết, kể cả sợi tóc của ông ta », cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Bắc Triều Tiên đã bị đem ra hành quyết bằng đạn pháo để « xóa hết » mọi vết tích của kẻ phạm tội.

Việc hành quyết ông Kim Chol chỉ là một trong những ví dụ về các vụ thanh trừng các nhân vật trong quân đội và đảng Lao động Triều Tiên, những người bị quy tội đe dọa vai trò lãnh đạo của Kim Jong Un.

Theo các thông tin tình báo Hàn Quốc cung cấp cho Ủy ban Đối ngoại, Thương mại và Thống nhất của chính quyền Seoul, đã có 14 nạn nhân trong các vụ thanh trừng. Trong số này có ông Ri Yong Ho, nguyên Tổng tư lệnh quân đội và ông Ri Kwang Gon, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Bắc Triều Tiên.

Giới phân tích nhận định rằng Kim Jong Un, lên cầm quyền sau cái chết của người cha Kim Jong Il, đã hành động như vậy nhằm củng cố quyền lực và dập tắt mọi chỉ trích, phê phán rằng ông ta còn quá trẻ và không có kinh nghiệm. Tuổi của Kim Jong Un được giữ bí mật. Theo một số ước đoán, ông ta khoảng 28 hoặc 29 tuổi.

Một nguồn tin cho báo Hàn Quốc Chosun Ilbo biết, « Khi Kim Jong Un trở thành lãnh đạo Bắc Triều Tiên sau cái chết của người cha hồi tháng 12 năm ngoái, nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội bắt đầu bất bình ». « Theo các thông tin được tập hợp từ tháng trước, chúng tôi kết luận rằng có hơn một chục sĩ quan quân đội bị thanh trừng ».

Dường như là Kim Jong Un đã ra lệnh cho những quan chức trung thành với ông ta sử dụng tội danh có những hành vi không phù hợp trong thời kỳ tang lễ Kim Jong Un, để loại trừ các đối thủ tiềm tàng.

Một số quan chức khác đã bị xử bắn, kể cả ông Ryu Kyong, nguyên là một quan chức cấp cao trong ngành tình báo Bắc Triều Tiên.

Kể từ tháng 9/2010, thời điểm Kim Jong Un được cha là Kim Jong Il bổ nhiệm làm Phó chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương đảng Lao động Triều Tiên, dường như đã có ít nhất 31 quan chức cao cấp bị cách chức.

In tiền để tăng lương?! – nguyenvanphu

26 Th10

In tiền để tăng lương?!

 
Tuần qua, vấn đề tăng lương lại nóng lên khi được đưa ra bàn trước Thường vụ Quốc hội. Theo lộ trình cải cách tiền lương, từ ngày 1-5-2013, lương tối thiểu sẽ tăng từ 1,05 triệu đồng lên mức 1,3 triệu đồng/tháng. Thế nhưng Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ cho biết không thể bố trí nguồn ngân sách để thực hiện lộ trình tăng lương, “trừ phi Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền”.
Phải nói thẳng, đây là một tuyên bố không nghiêm túc!
Việc tăng lương nằm trong lộ trình đã định từ trước, có nghĩa ngân sách 2012 và 2013 đã chuẩn bị trước các nguồn tiền để thực hiện. Nay ngân sách không kham nổi thì Bộ trưởng Tài chính phải chịu trách nhiệm giải trình vì sao, hụt thu ở nguồn nào, cách giải quyết ra sao trước khi loại bỏ một mục chi lớn đã được phê duyệt. Ngân sách nhà nước cũng không phải là chuyện nhỏ để muốn tăng chi ở một mục nào đó thì chỉ cần Thường vụ Quốc hội đồng ý cho in thêm tiền. Đây là một cách nói dễ gây hiểu nhầm rất tai hại. Quốc hội là nơi thông qua ngân sách hàng năm, kèm theo đó là mức bội chi được phê duyệt chung. Nhiệm vụ của Chính phủ là thuyết trình vì sao cần tăng thêm bội chi, cho khoản mục nào, cách bù đắp sau đó sẽ ra sao để thuyết phục đại biểu Quốc hội bấm nút thông qua. Không hề có chuyện Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền cho in thêm tiền để tăng lương! Vậy mà cũng chẳng thấy các quan chức trong Thường vụ Quốc hội nói lại cho rõ.
Ở hướng ngược lại, Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội hoàn toàn có lý khi gợi ý thay vì tăng lương từ 1,05 triệu lên 1,3 triệu đồng/tháng thì có thể chỉ tăng lên 1,15 triệu đồng/tháng. Nhưng để ý kiến này mang tính thuyết phục cao hơn, cần yêu cầu Bộ Tài chính trình bày cụ thể, với phương án này mức tăng cho ngân sách là bao nhiêu, với phương án kia, thiếu hụt sẽ lên đến bao nhiêu và các phương án bù đắp. Quốc hội là nơi buộc các thành viên của Chính phủ phải trần tình với số liệu chuẩn bị đầy đủ – chứ không phải là nơi mặc cả chuyện… in tiền để chi tiêu.
Trong câu chuyện này, cần phân biệt hai khái niệm “tăng lương” và “bù trược giá”. Lương tối thiểu của công chức, viên chức được tăng từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng trong năm 2011 (tăng 13,7%) và lên 1.050.000 đồng/tháng trong năm 2012 (tăng 26,5%). Trong khi đó lạm phát của năm 2010 là 11,75% và năm 2011 là 18,13%. Như thế nếu loại trừ yếu tố trược giá, mức tăng lương trong những năm vừa qua là không đáng kể. Hay nói cách khác mức tăng lương này không theo kịp mức tăng danh nghĩa tổng thu nhập quốc dân (GDP danh nghĩa năm 2010 tăng 19,4% và năm 2011 tăng 28%).
Như vậy những “mức tăng” lương tối thiểu những năm trước chưa thể nào gọi là góp phần nâng cao mức sống của cán bộ, công chức, người lao động… mà chỉ mới phần nào bảo vệ thu nhập của họ trước cơn bão tăng giá.
Nay cũng vậy, ngân sách phải có nhiệm vụ ít nhất bảo đảm thu nhập tối thiểu của người hưởng lương từ ngân sách không bị hao hụt vì lạm phát chứ khoan nói gì đến chuyện tăng lương. Đặt vấn đề như thế để thấy trách nhiệm của Bộ Tài chính là bảo đảm ngân sách kham được chuyện này, ít nhất như các năm vừa qua.
Điều đáng nói hơn nữa, trong những lần tăng lương tối thiểu trước đây, rõ ràng không phải tất cả khoản tăng dồn về ngân sách trung ương phải gánh chịu. Chẳng hạn để tăng lương các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành y tế được sử dụng tối thiểu 35% khoản thu được để lại trong khi ngành này vừa tăng viện phí trong năm nay. Không biết Bộ Tài chính đã tính toán chi ly những khoản như thế hay chưa trước khi tuyên bố ngân sách không kham nổi.
 

CHẮC THỦ TƯỚNG CHƯA QUÊN ! – BVB

26 Th10

 CHẮC THỦ TƯỚNG CHƯA QUÊN !

 
Bộ đội địa phương Kiên Giang giúp dân chống lũ

         

 * Minh Diện
            Trong cuốn sổ tay phóng viên của tôi còn ghi lại một chuyện xảy ra cách đây 34 năm.
             Hôm ấy là ngày 21-8-1978, một đoàn cán bộ Trung ương Đoàn do Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn, Anh hùng quân đội Lê Thanh Đạo, dẫn đầu đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang sau vụ thảm sát của  Khmer đỏ. Đại tá Lê Thanh Đạo, sĩ quan không quân, phi công dũng cảm tham gia 8 trận đánh, tiêu diệt 6 máy bay F4 của giặc Mỹ. Cùng đi có nhà báo lão thành Ba Dân, nguyên Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, cùng các nhà báo Việt Thảo, Đình Khuyến, Phạm Hậu…
 
           Từ sáng sớm, đoàn chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn bằng hai chiếc xe  U-OÁT cũ kỹ, theo quốc lộ 4 về miền Tây. Con đường bị tàn phá trong chiến tranh, lại bị lũ lớn xói lở, ổ gà ổ trâu lổn nhổn, thỉnh thoảng phải tránh những hố bom hố pháo chưa kịp lấp. Hai bên đường làng xóm xác xơ. Cứ cách vài cây số lại gặp một trạm Ba-rie chắn ngang đường, đó là những trạm kiểm soát liên hợp, kiểm tra tất cà các phương tiện giao thông chống buôn lậu, vượt biên, đặc biệt là ngăn người lên biên giới vì chiến sự đang hết sức căng thẳng.
          Càng đến gần biên giới không khí càng ngột ngạt. Người dân bồng bế con, gồng gánh chạy từ biên giới về, bộ đội hành quân lên biên giới thanh niên nam nữ vác chông tre đi rào làng.  
           Đất nước mới hòa bình chưa bao lâu, hố bom chưa kịp lấp, vết thương trên da thịt chưa kịp lành, đang phải ăn bo bo thay gạo, lại xảy ra chiến tranh, kẻ thù lại là người đồng chí từng môi hở răng lạnh, chung một chiến hào đánh Mỹ, từng  hy sinh máu xương vì nhau! Đau quá!
             Chúng tôi đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang, nơi bọn lính Pôn bốt mới tràn sang tàn sát đồng bào ta đêm 17 rạng 18 tháng 4. Không bao giờ tôi có thể quên được những gì mình nhìn thấy buổi chiều năm ấy. Những đống xác người chồng chất trong chùa, trong trường học, dưới chân núi Tượng, núi Dài, bên bờ kinh. Người bị chặt đầu , người bị cắt cổ , mổ bụng , trẻ em bị lưỡi lê đâm , phụ nữ bị lột hết quần áo lấy cọc tre đóng vào cửa mình . Không thể đếm xuể bao nhiêu xác chết. Bọn lính Pôn Pốt tràn sang lúc nửa đêm, khi bà con ta vẫn ngủ say. Chỉ  bảy, tám tiếng đồng hồ, chúng đã giết hại hàng ngàn người dân vô tội.

 
Hành quân lên biên giới
              Bộ đội và dân quân lấy bao ni lông gói xác người đưa lên xe bò  chở ra hố chôn tập thể . Người thân của các nạn nhân còn sống sót chạy tản cư hết , làng xóm bỏ hoang, điêu tàn. Cách chỗ chúng tôi chưa  đầy một  tầm đạn súng cối , bọn Khmer đỏ núp trong công sự dưới rặng thốt nốt vẫn thường xuyên bắn sang và  rình rập , lừa phía ta sơ hở là tập kích bất ngờ gây thêm tội ác . Khắp xã Ba Chúc , từ núi Tượng đến ngôi chùa của người Miên , nồng nặc mùi tử khí , rải rác xác  người chết, từng bầy chó hoang  nháo nhác vục mõm vào xác chết đang phân hủy…
              Từ Ba Chúc , An Giang , chúng tôi sang Kiên Giang, đến Trung đoàn 152 (Bộ đội địa phương Kiên Giang) đang chiến đấu bảo vệ biên giới. Đồng chí Chủ nhiệm chính trị ân cần đón tiếp chúng tôi. Đó là một đại úy rất trẻ . Anh nói những diễn biến trên  tuyến biên giới do đơn vị mình phụ trách , và quyết tâm của anh em trong đơn vị đánh trả bọn Pôn bốt . Khi kể lại chuyện bọn Pôn bốt giết hại đồng bào mình , người đại úy trẻ nghẹn lời , lấy tay chùi nước mắt . Gương mặt anh  quắt lại , mắt đỏ ngầu .
             Chúng tôi đề nghị ra thăm bộ đội ngoài trận địa , chủ nhiệm chính trị hơi ngần ngừ vì cuộc chiến đấu đang hết sức căng thẳng , nhưng khi anh Lê Thanh Đạo nói,  hầu hết thành viên trong đoàn đếu là người đã qua khói lửa , đồng chí đại úy trẻ kêu thêm hai chiến sỹ bảo vệ , cùng mình dẫn chúng tôi lên chốt .
            Trên đường ra trân địa có một đoạn lầy , bánh xe bị lún sâu không lên được  . Chủ nhiệm chính trị hô: “ Nào các đồng chí theo tôi !”.  Anh nhảy xuống ghé lưng cõng nhà báo lão thành từ xe qua vũng lầy .Tiếp đến chị Hằng . Hai chiến sỹ  cùng chúng tôi, cả anh Lê Thanh Đạo  nhảy xuống  làm theo đồng chí đại úy. Mọi người khiêng bổng hai chiếc xe qua bãi lầy. Khi xe tiếp tục lăn bánh, viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”. Lẽ thường vốn vậy, tốt-xấu do mình, khen chê là quyền của mọi người, ai cũng có cách nhìn nhận và chính kiến của họ.
            Buổi tối hôm ấy , Ban chỉ huy trung đoàn 152  mời chúng tôi ăn cơm với thịt trâu luộc . Bấy giờ đang thời buổi đói kém, và đã trải qua một ngày vất vả , mệt nhọc , nhưng chúng tôi không tài nào nuốt nổi miếng cơm vì hình ảnh ghê rợn ở Ba Chúc vẫn còn lởn vởn trước mắt . Tôi kê cuốn sổ tay lên đầu gối ghi lại những việc xảy ra trong ngày , và tự nhiên bật ra những câu thơ không vần điệu .Trước khi tạm biệt Ban chỉ huy trung đoàn , tôi đọc bài thơ ấy cho mọi người nghe :
             Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
              Mộc Hóa, Tân Biên lửa ngút ngàn
              Máu dân nhuộm đỏ đồng Ba Chúc
              Sa Mát, Cà Tum …trắng khăn tang.
              Những tên lính áo đen
              Ném trẻ con vào lửa
              Đập đầu , mổ bụng người già
               Đâm cọc nhọn vào cửa mình phụ nữ
              Miệng hô vạn tuế Ăng-ca
               Những tên đập  đầu dân Cam-pu-chia
              Xây dựng “chính quyền năm không” quái dị
              Chúng với ta từng là đồng chí
              Thắm tình hữu nghị anh em
              Đường hành quân về biên giớ Tây Nam
              Qua những hố bom chưa kịp lấp
              Qua những chiếc cầu đổ sập
              Gặp những mẹ già chua kịp xả khăn tang
              Ta lại hành quân về biên giớ Tây Nam
              Thành phố sau lưng chập chờn ánh điện
               Con khát sữa chụp bình cháo loãng
               Mẹ đói lòng nhai tạm bo bo
              Vợ ta còm cõi xác xơ
              Đêm ngày lại đỏ mắt chờ đợi ta!
         Mọi người lặng đi một lát . Đồng chí đại úy chủ nhiệm chính trị bắt tay tôi và xin bài thơ chép tay để đăng báo tường đơn vị.
       Đồng chí đại úy trẻ ấy chính là Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.
        Hơn ba chục năm đã qua chưa một lần tôi gặp lại ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng tôi không quên hình ảnh người đại úy trẻ khóc khi kể về những người đồng bào của mình bị sát hại và nhảy xuống cõng nhà báo lão thành qua đầm lầy lên mặt trân biên giới năm ấy.
        Tôi  nghĩ, ông Nguyễn Tấn Dũng là một người được sinh ra giữa đồng đất Nam Bộ phì nhiêu , giữa những người dân trọng nghĩa hiệp , phóng khoáng, là  người từ gian khổ hy sinh mà trưởng thành. Một con người biết khóc trước nỗi đau của dân, biết tôn trọng một nhà báo lão thành, biết tìm về tận quê người bạn chiến đấu là anh Phan Trung Kiên để trả ơn, một người như thế không thể “hỏng ” được – Tôi dùng chữ “HỎNG” là chữ của cố nhà báo, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, nguyên Trưởng Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam. Chắc Thủ tướng chưa quên những năm tháng lăn lộn, sống chết vì nhan dân và chiến sĩ để đánh Pôn Pốt, tay sai của Trung Nam Hải; chưa quên những gian nan cơ cực của người dân vùng đầu nguồn lũ ĐBSCL. Nay trước giá cả tăng vọt, đại gia lại cướp tiền bán cá, nợ tiền mua lúa, mua mía của dân, ngân hàng khó khăn nên dân cũng khó cậy nhờ, cơ cực lắm! Cùng với sự mất giá trầm trọng của đồng tiền, tỉ lệ hộ nghèo ở các địa phương trong cả nước đều tăng …

 

             Vậy thì những sai lầm khuyết điểm của Thủ tướng là do đâu?
             Vừa qua Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tự kiểm điểm sâu sắc và các Ủy viên Bộ chính trị, rồi Ủy viên Trung ương đã đóng góp thẳng thắn , chí tình chí lí rồi . Thủ tướng đã nhận khuyết điểm trước Quốc hội rồi.
           Nhưng, với góc nhìn  của một người không ở phe nhóm nào và không có bất kỳ tham vọng hay nhu cầu lợi lộc nào, tôi trộm nghĩ, không đến mức do những hối thức của kinh tế thị trường mà Thủ tướng quên hết những năm tháng gian nan, thử thách khi là một sĩ quan “Bộ đội Cụ Hồ”. Vợ con, gia đình Thủ tướng có hối thúc, xúi bẩy hoặc can thiệp gì không? Sai lầm lớn nhất của Nguyễn Tấn Dũng  là  chủ quan, liệu rằng có nhẹ dạ, cả tin, lại không biết lắng nghe và  không tin dùng người hiền tài, trung chính và có tâm huyết.
           Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn thể hiện vị trí độc lập của Chính phủ, muốn xóa cái lối mòn in đậm trong hành pháp của nước ta, là Chính phủ chỉ thi hành mọi chủ trương chính sách của Bộ Chính trị vạch sẵn , Thủ tướng chỉ như một Trưởng ban, thậm chí không bằng trưởng ban Tổ chức Trung ương dưới thời Lê Đức Thọ. Ông Phạm Văn Đồng đã làm Thủ tướng như  vậy mấy chục năm . Ông Võ Văn Kiệt đã nới rộng cái vòng kim cô ra một chút . Đến ông Phan Văn Khải thì co vào. Ông Nguyễn Tấn Dũng quyết bung ra , tập trung quyền hành vào mình.
           Những người có quyền hành thường nhiễm bệnh quan liêu , mệnh lệnh, chủ quan duy ý chí , coi mình như trời, lời nói là khuôn vàng thước ngọc, không lắng nghe người ngay nói thẳng. Phải thật tỉnh táo thì mới tránh được điều đó. Ông Võ Văn Kiệt quy tụ bên mình những trí thức hàng đầu, cả người của chế độ cũ như tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh mà ai cũng biết rất thẳng. Ông Phan Văn Khải thành lập một Ban tư vấn gồm các nhà kinh tế, khoa học, văn hóa . Ông Sáu Dân và ông Sáu Khải biết lắng nghe những lời nói thẳng, biết chọn lựa cái tinh, gạt bỏ tạp chất qua “cái rây” phản biện của những trí thức tâm huyết với đất nước. Đáng tiếc, ông Nguyễn Tấn Dũng lại giải tán  cái cơ quan  người tiền nhiệm đã sử dụng có hiệu quả, hơn nữa, còn ép  dẹp Viện nghiên cứu phát triển ISD do Tiến sỹ Nguyễn Quang A,  Lê Đăng Doanh, Hoàng Tụy, Phạm Chi Lan và nhiều trí thức tên tuổi khác thành lập, không dùng kinh phí nhà nước, chỉ muốn giữ vai trí phản biện độc lập, để giúp Chính phù có những lựa chọn công bằng và hợp lý hơn trong quyết sách xây dựng và phát triển kinh tế.

         Giá như Thủ tướng biết lắng nghe họ, biết đâu đã có thể hạn chế những sai lầm nghiêm trọng như Vinasin, Vinaline, đã có  thể cảnh giác với nhóm lũng đoạn ngân hàng.

          Trong khi giải tán nhóm phản biện độc lập, vì là phản biện nên họ thường đưa ra những ý kiến trái chiều, thường căn vặn những ý tứ chưa rõ và soi mói những góc khuất, thì Thủ tướng lại chọn nhóm tư vấn mà trong đó, có  những chuyên viên không có tâm, còn thấp tầm, bụng dạ chứa đầy chất cơ hội. Đó là những kẻ chỉ nịnh nọt, không can gián bề trên, thậm chí nói sai nói điêu, xúi giục bề trên đưa ra những chính sách có lợi cho phe nhóm mình. Qủa thật, tôi không tin tự tâm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn ra lệnh bắt bớ người biểu tình khi chính ông nói cần có luật biểu tình. Không phải tự tâm ông muốn đàn áp những người dân Văn Giang giữ đất khi ông vừa ra lệnh xử nghiêm vụ Tiên Lãng. Cũng chẳng phải cái tâm muốn xỷ lý các trang mạng khi ký chỉ thị 7169. Và  cũng không phải ông ngây thơ chính trị đến mức tháng trước cho con gái làm Phó Chủ tịch Ngân hàng Bản Việt, tháng sau đề bạt con trai làm Thứ trưởng,  giữa lúc kinh tế đang khó khăn, vụ Vinasin, Vinaline chưa giải quyết và lòng dân đang bức xúc vì tham những không giảm khi ông là người cầm đầu lực lượng chống tham nhũng.
           Phải chăng bị lợi dụng bởi những kẻ đứng sau xu nịnh, cơ hội xúi bẩy, khuấy lên những chuyện đó làm mất uy tín của ông để  đục nước béo cò? Có những kẻ dựa bóng, mượn danh ông gây ra những vụ oan khốc, thậm chí tàn ác, liệu Thủ tướng có biết? Chưa chắc những kẻ đó đã có báo cáo thật với Thủ tướng về những việc đã làm. Nhưng, hậu quả và tai tiếng thì chính Thủ tướng phải gánh chịu. Tôi hiền giúp cho vua sáng, tớ gian giật đổ ngai vàng. Đời vốn vậy!
           Tôi nghĩ, với sự sắc sảo, thông minh và tham vọng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nếu ông biết lắng nghe và chọn những người có tài, có đức thực sự để giúp việc cho mình thì ông sẽ thành công. Việc không thể khác là tự nhận ra mình, xem lại “đội ngũ đệ tử”, nghe lời khuyên phải, trọng dụng hiền tài.
 
Khuất Nguyên
         Sử cũ còn ghi lại nhiều chuyện để răn đời: Khi vua chúa quá kém trong thuật dùng người, bị kẻ tiểu nhân mơn trớn, xúc xiểm, cậy quyền lại trở thành bạo chúa, lộng quyền, để lại ô danh muôn đời, sinh bao cảnh nước mất nhà tan, oan khiên dậy đất. Sở là một nước mạnh, đứng đầu các nước Tần, Tề, Yên, Hàn, Triệu, Ngụy thời Chiến quốc. Khuất Nguyên vừa là nhà thơ vứa là nhà chính trị lỗi lạc, được vua tin yêu phong đến chức Tả đồ. Khuất Nguyên nhận ra triều đình rệu rã, nhiều chính sách sai, nhiều quan tham ăn chơi thác loạn, bè phái hoành hành, dân chúng lầm than bị ức hiếp, nên thẳng thắn tâu vua sửa sai. Nhưng vì kiêu ngạo, lại cả tin lời sàm nịnh ton hót, Sở Hoài Vương chẳng những không nghe Khuất Nguyên mà gét bỏ ông, đày đi biệt xứ. Ông thương nước Sở, hận Sở Vương, trút hết nỗi sầu vào thi phẩm Ly Tao và trầm mình xuống dòng sông Mịch La. Đời sau Lý Bạch khóc Khuất Nguyên: “Khuất Bình tử phú huyền nhật nguyệt. Sở Vương đài tạ không sơn khâu !” (Gía như Sở Vương lắng nghe lời ngay của Khuất Nguyên thì nước Sở còn, sự nghiêp Sở Hoài Vương còn).
      Ở nước ta đời vua Trần Nghệ Tông (1321-1391) lúc đầu theo nếp cũ vua cha Minh Tông lấy pháp luật nghiêm minh làm thước đo, lấy dưỡng dân làm nền tảng sách lược nên nước thịnh, nhưng sau ông lại tin dùng kế của kẻ nịnh, cất nhắc bọn Đỗ Tử Bình và Qúy Ly, nên bị quan quân phân rã, lòng dân oán thán, ngoại bang vốn lăm le từ lâu thừa cơ ra tay, dẫn đến cơ nghiệp nhà Trần sụp đổ.
     M.D

ASEAN VÀ TRUNG QUỐC ĐANG ĐI QUA VÙNG BIỂN ĐẦY BIẾN ĐỘNG – BS

26 Th10

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

ASEAN VÀ TRUNG QUỐC ĐANG ĐI QUA VÙNG BIN ĐY BIN ĐỘNG

TTXVN (Băngcốc 23/10)

 Trong bài viết liên quan tới vấn đề Biển Đông được đăng trên tờ “The Nation”, Yang Razali Kassim – một nghiên cứu sinh cao cấp của Học viện Nghiên cứu quốc tế Rajaratnam, trường Đại học Tổng hợp Công nghệ Nanyang (Xinhgapo) – cho rằng ASEAN và Trung Quốc đang đi qua những vùng bin đy biến động. ASEAN cần phải có sự đoàn kết và thống nhất để đi phó với những thách thức từ sự cạnh tranh giữa các siêu cường. Nội dung bài viết như sau:

Trong năm 2012, kỷ niệm 45 năm ngày thành lập ASEAN, Ngoại trưởng Inđônêxia Marty Natalegawa đã bày tỏ sự lạc quan rằng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) nhằm điều chỉnh các hành vi ứng xử trên Biển Đông sẽ sẵn sàng vào cuối năm.

Để chứng minh cho điều này, ông Marty chỉ ra sự chuyển động của ASEAN tiến tới một giai đoạn mới tích cực hơn trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông bằng việc thúc đẩy việc sớm thông qua COC được chờ đợi lâu nay. Tinh thần lạc quan này của Ngoại trưởng Inđônêxia xuất hiện sau những thành công của ông trong việc đạt được sự đồng thuận trong ASEAN thể hiện qua nguyên tắc sáu điểm trên Biển Đông.

Nguyên tắc này đã hàn gắn lại sự rạn nứt trong ASEAN giữa các thành viên có tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và Campuchia Chủ tịch ASEAN, nước từ chối tìm kiếm một lập trường thỏa hiệp, dẫn tới lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm ASEAN không ra được thông cáo chung. Campuchia cần tập trung sửa lại vết rạn này trong ASEAN để họ có thể tổ chức một hội nghị thượng đỉnh đáng tin cậy vào tháng 11/2012.

Để sớm đạt được COC, ASEAN cũng cần phải sửa chữa lại vết rạn xung quanh những tranh chấp lãnh thổ giữa một số thành viên của mình với Trung Quốc, một cường quốc đang nổi trong khu vực. Điều này đã dẫn tới một thái độ hợp tác hơn từ phía Trung Quốc. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì, trong chuyến thăm Giacácta gần đây, đã cam kết xây dựng lòng tin, tiến tới thông qua COC.

Mặc dù có lập trường chung như vậy, nhưng ASEAN vẫn cần đạt được sự thống nhất về mục tiêu để lựa chọn hướng đi của cả khối, ông Marty từng nói rằng bạn có thể có một ASEAN ở trung tâm khu vực nếu ASEAN tự nó thống nhất và gắn kết. Sự thống nhất là điều quan trọng đối với ASEAN để thực hiện mục tiêu lớn hơn của họ về một Cộng đồng chung vào năm 2015, trong khi một ASEAN thống nhất là cơ sở cho vai trò của họ như một bên tham gia trung tâm trong quá trình kiến thiết an ninh và kinh tế Đông Á.

Tuy nhiên, ASEAN không hoàn toàn đã hết những khó khăn khi khu vực này bước vào một giai đoạn bất ổn sâu sắc. Tình tiết Phnôm Pênh đã thể hiện ba mối quan tâm, đầu tiên và trước hết là về sự đổ vỡ trong lòng ASEAN.

Kể từ khi ASEAN mở rộng lên 10 thành viên vào cuối những năm 1990, đôi khi xuất hiện những câu chuyện về sự phát triển của một “ASEAN hai tầng”. Một tầng là những thành viên nòng cốt tạo nên ASEAN như Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan, Xinhgapo, Philíppin và Brunây gia nhập năm 1984. Tầng kia là “lớp bên ngoài” mới của ASEAN, bao gồm các nước từng nằm bên lề của ASEAN – một số thậm chí còn có tư tưởng ngược lại hoàn toàn – và được sáp nhập sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Họ là những quốc gia Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam (CLMV).

Việc gia nhập của các nước CLMV từng được đưa ra trong viễn cảnh về một Đông Nam Á thống nhất của những người sáng lập ASEAN. Tuy nhiên, một số thành viên lại lo ngại về một sự mở rộng quá nhanh. Liệu các nước CLMV, là các quốc gia xã hội chủ nghĩa hoặc kinh tế tập trung, có phù hợp với giá trị văn hóa chính trị thông thường và những giá trị chủ đạo của ASEAN hay không? Nhưng những người hợp nhất khu vực đã thuyết phục được và giành chiến thắng hôm nay.

Thực têd, trong thập kỷ tiếp theo, một ASEAN mở rộng đã tạo được dấu ấn của mình về một khu vực rộng lớn hơn, mở đường cho những sáng kiến như ASEAN+3 (Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc). Một Đông Nam Á thống nhất đã phát triển một cách đầy tự tin rằng ASEAN thậm chí còn có thể theo đuổi chiến lược ngoại giao đầy tham vọng để trở thành trung tâm của kiến trúc khu vực rộng lớn hơn, ví dụ như Hội nghị cấp cao Đông Á.

Tuy nhiên, việc mở rộng này đã xuất hiện nhiều xu hướng. Đầu tiên, việc kết nạp Mianma, nước gây thất vọng đối với các đối tác phương Tây, làm tổn hại xu thế chủ đạo của ASEAN. Thứ hai, Campuchia đang chứng tỏ là một thành viên mới gai góc. Kể từ sau khi ASEAN hình thành, các thành viên đã tranh cãi về những tranh chấp song phương nhưng chưa bao giờ họ phải sử dụng tới “chiến tranh”. Tuy nhiên, lần đầu tiên trong năm 2008, khi Campuchia và Thái Lan xung đột trong một cuộc tranh chấp biên giới, súng đã nổ. Việc dễ dàng để xảy ra một cuộc xung đột vũ trang chưa co tiền lệ này, gợi lại tình trạng thù địch trong lịch sử là một điều báo xấu. Liệu có tồn tại một vấn đề sâu sắc giữa ASEAN chủ đạo và ASEAN bên lề?

Lớp các nước thứ hai, như những lo ngại ban đầu, đã mang đến một loạt những thách thức mới. Một số cho rằng đó là những vết thương nên được xem xét. Nhưng thất bại của Hội nghị Phnôm Pênh trong việc đưa ra một thông cáo chung phản ánh sự chia rẽ ngày càng lớn trong nội bộ. Không có thành viên ASEAN cốt lõi trong vai trò chủ tọa có thể sẽ để cho hội nghị thường niên kết thúc mà không có được một thông cáo chung – một sự ghi nhận quan trọng về những quyết định then chốt. Một thành viên chủ chốt ASEAN có thể phải vận dụng một vài mưu mẹo trong ngôn từ ngoại giao trong văn bản để phản ánh những mối quan tâm chung. Việc Chủ tịch Campuchia dễ dàng gạt bỏ thông cáo chung một lần nữa phản ánh vấn đề sâu sắc hơn: Liệu các nước CLMV có cam kết giống với ASEAN và tất cả có vì điều đó hay không?

Mối quan ngại thứ hai là tác động của sự rạn nứt này đối với việc hình thành Cộng đồng ASEAN. Kế hoạch này hiện đang bên bờ của sự đổ vỡ và hiện vấn đề đáng quan tâm đang xoay xung quanh việc ai sẽ làm chủ tịch khối này trong vòng ba năm tới. Brunây và Malaixia là những thành viên chính, Mianma thì không phải. Thực tế, Mianma sẽ chèo lái ASEAN vào một thời điểm nhạy cảm trong tiến trình phát triển của tổ chức này. Liệu Mianma có phải là nước tiếp theo gây bất ngờ không?

Mối quan ngại thứ ba là sự can dự ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc vào lĩnh vực hoạch định chính sách đối ngoại của ASEAN. Rõ ràng Bắc Kinh đã dựa vào Phnôm Pênh, một đồng minh thân cận, để tác động tới cách xử lý các tranh chấp trên Biển Đông trong thông cáo chung của ASEAN. Hành động của Trung Quốc sẽ chỉ làm tăng thêm mối lo ngại sâu sắc trong khu vực rằng nước đang trỗi dậy như một siêu cường này chỉ là kẻ hay gây sự thậm chí là kẻ hay can thiệp vào chuyện người khác. Những dấu hiệu này đang là vật cản trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc.

Trung Quốc đã áp đặt ý chí của họ lên ASEAN mà không phải động chân tay. Tất cả những gì họ làm chỉ là thì thầm vào tai một đồng minh khu vực. Kéo dài những căng thẳng ngấm ngầm sẽ khiến Biển Đông trở thành một điểm bùng nổ mà nhiều người đang lo ngại và ASEAN đang đi vào vùng biển đầy biến động tiềm tàng này.

Tuy nhiên, các nhà quan sát ASEAN đã chỉ ra những điểm bù đắp trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc đó là giữ yên vùng biển đầy trục trặc này. Đang xuất hiện ngày càng nhiều mối quan hệ nhiều mặt giữa tất cả các thành viên ASEAN và Trung Quốc, từ kinh tế, xã hội tới quân sự và an ninh. Một số quốc gia ASEAN cốt lõi như Malaixia và Xinhgapo có quan hệ thương mại với Trung Quốc nhiều hơn các quốc gia bên lề. Cùng thời điểm này, nhiều nước trong ASEAN cũng có quan hệ hợp tác lâu dài về an ninh và quốc phòng với Mỹ và các cường quốc phương Tây.

ASEAN có các thỏa thuận hợp tác kinh tế với các nước như Ôxtrâylia, Nhật Bản và Ấn Độ để cân bằng với Trung Quốc. về phần mình, Bắc Kinh có một phần vai trò trong sự thống nhất và gắn kết của ASEAN để đảm bảo khu vực này vẫn thân thiện. Những nhân tố này sẽ củng cố sự thống nhất và đoàn kết của ASEAN khi họ đang đối mặt với những thách thức xuất phát từ sự ganh đua của hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

***

Tờ “The Nation” gần đây cũng đăng các bài viết của Yang Razali Kassim khẳng định sự cần thiết phải có Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) nhằm xoa dịu những tuyên bố lãnh hải. Việc chuyển từ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) sang COC là cấp thiết nếu khu vực này muốn kiềm chế và giải tỏa căng thẳng trên Biển Đông.

ASEAN đang thể hiện mong muốn sớm đạt được COC trên Biển Đông. Tinh thần này đã từng được thể hiện trong thông cáo chung giữa lãnh đạo Việt Nam và Xinhgapo nhân chuyến thăm Xinhgapo gần đây của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Sự cấp thiết về việc bắt đầu phải đàm phán về COC cũng đã được thể hiện ở từng nước ASEAN kể từ khi khối này khôi phục được một phần uy tín bằng Nguyên tắc 6 điểm hôm 26/7 sau thất bại tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao lần thứ 45 ở Phnôm Pênh không ra được thông cáo chung về tranh chấp trên Biến Đông.

Dự thảo COC, từng được ASEAN thảo luận tại Phnôm Pênh, phải được đưa ra đàm phán với Trung Quốc và phải được chuẩn bị săn vào đúng thời điểm Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tháng 11 tới. Các nhà lãnh đạo ASEAN sẽ gặp nhau trước và sau đó sẽ có các cuộc gặp thượng đỉnh với các các đối tác Đông Á Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng 5 cường quốc khác, trong đó có Mỹ. Những bên tham gia chủ chốt này có quyền lợi trong một khu vực có những căng thẳng liên tiếp về tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Những người theo chủ nghĩa dân tộc bài Nhật tại Trung Quốc đang đe dọa đẩy nhanh tới một cuộc đối đầu giữa hai quốc gia láng giềng này xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á sắp tới vì thế sẽ là những cuộc gặp quan trọng nhất của các nhà lãnh đạo khu vực trong năm. Chúng sẽ có ảnh hưởng tới hòa bình khu vực và sự hình thành kiến trúc an ninh của không chỉ với Đông Á mà còn cả khu vực rộng lớn hơn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Với khoảng thời gian chỉ còn hơn một tháng, thì việc thúc đẩy tiến trình COC để sẵn sàng cho đàm phán ít nhất là về khuôn khổ là điều quan trọng. Nếu có thể thực hiện được, một COC có khả năng cũng sẽ trở thành một khuôn mẫu cho việc giải quyết tranh chấp trên Biển Hoa Đông. Mỹ, trong khi vẫn tuyên bố trung lập, đã khuyến cáo về một cuộc xung đột có thể xảy ra nếu có sự tính toán sai lầm xung quanh tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư đang trở nên ngày càng căng thẳng. Không cần phải nói, những lời bóng gió giống nhau đằng sau sự vội vàng gần đây của ASEAN về COC là vì Biển Đông.

Tuy nhiên, Trung Quốc, với tư cách là một bên tham gia trong các tranh chấp lãnh thổ ở cả hai vùng biển và là một bên then chốt trong COC với ASEAN, dường như lại không vội vã. Trong chuyến thăm Giacácta, một phần trong hành trình khu vực gần đây, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì cho biết Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với ASEAN để thực hiện DOC. Nhưng vào thời điểm hiện nay, việc làm này nên “dựa trên cơ sở của sự nhất trí” để tiến tới “thông qua COC”, Ông này cũng nhắc lại rằng Trung Quốc sẽ tiếp cận COC “khi thời điểm chín muồi”.

Nói một cách khác, cho dù ASEAN có nhất trí thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thì họ cũng vẫn chưa có được sự đồng tình của Trung Quốc. Bên cạnh đó, trước khi COC được thỏa thuận, Bắc Kinh vẫn còn muốn tập trung vào thực hiện DOC – là một bước quan trọng trước khi có coc. Rõ ràng việc đàm phán COC là rất khó khăn vì sẽ bị kéo dài. Trong khi ASEAN và các bên khác muốn thúc đẩy việc này, đặc biệt là khi căng thẳng trong khu vực ngày càng gia tăng, thì Trung Quốc dường như lại có ý định chờ một cơ hội khác.

Không giống như DOC, COC được cho là có sự ràng buộc. Nhưng liệu nó có cần phải như vậy khi chưa có sự chắc chắn. ASEAN đã đề xuất các nhân tố then chốt để phản ánh các nguyên tắc chính trong việc giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình; tuân thủ luật pháp quốc tế; và các cơ chế cho việc giải quyết tranh chấp và giám sát việc thực hiện COC. Cho tới nay, các nhân tố then chốt này đã được chuyển cho phía Trung Quốc xem xét.

Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ tham gia ở điểm nào trong việc soạn thảo COC? Ngày 4/4, phía Philíppin đã nói rằng chỉ có các thành viên ASEAN mới được tham gia soạn thảo. Ngoại trưởng Inđônêxia Marty Natalegawa, có một chiến thuật khác, cho biết cần có trao đổi liên tục thông qua khuôn khổ ASEAN-Trung Quốc trước khi ASEAN có được lập trường cuối cùng.

Theo Trung Quốc, tranh chấp trên Biển Đông nên được đưa ra chỉ trong khuôn khổ Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc (ASEAN+1). Nói một cách khác, việc soạn thảo COC nhất thiết phải có sự nhất trí của Bắc Kinh. Công thức của Ngoại trưởng Marty về sự tham gia của Trung Quốc trong quá trình soạn thảo như vậy là một sự thỏa hiệp: nó cho phép ASEAN có khoảng trống của riêng mình để thảo luận về những gì lả quan trọng có thể ảnh hưởng tới các nước thành viên có tuyên bố chủ quyền trong khi vẫn tiến hành trao đổi với Trung Quốc như một bên đàm phán.

Như biện pháp xây dựng lòng tin, một COC khu vực phù hợp với địa chiến lược của Trung Quốc. Cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình từng đưa ra công thức giải quyết tranh chấp lãnh thổ: các bên tranh chấp nên gác lại các tuyên bố của mình cho tới khi có được một giải pháp và trong khi vẫn cùng phát triển các khu vực tranh chấp. Nếu Bắc Kinh thực hiện cái gọi là “giải pháp Đặng Tiểu Bình”, việc cùng phát triển sẽ là một trong những nhân tố then chốt trong dự thảo của Trung Quốc về COC.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa nó sẽ được các nước ASEAN tuyên bố chủ quyền chấp nhận. Trong khi công thức của Đặng Tiểu Bình là thực dụng, tranh chấp cơ bản về chủ quyền vẫn sẽ theo cách này. Trên thực tế, một số nước ASEAN tuyên bố chủ quyền có thể ưu tiên cách tiếp cận “phát triển trước, giải quyết sau”. Nhưng họ sợ rằng việc chấp nhận như vậy có thể là ngụ ý công nhận tuyên bố của Trung Quốc trong các khu vực tranh chấp.

Nhưng dù sao, việc chuyển từ DOC sang giai đoạn COC vẫn là điều quan trọng nếu khu vực này muốn kiềm chế và giải tỏa căng thẳng gần đây trên Biển Đông. Thực tế, nó có thể cũng có ảnh hưởng tới những căng thẳng ở phía Bắc trên Biển Hoa Đông, nơi người ta kêu gọi cần có những cái đầu lạnh.

***

TTXVN (Giacta 24/10)

Biển Đông không chỉ là nơi có các tranh chấp lãnh thổ, mà một số khu vực trên vùng biển này còn có thể là những nơi khởi nguồn các trận động đất gây sóng thần cường độ mạnh, gây tác hại lớn cho các nước xung quanh. Từ thực tế đó, tác giả Syamsidik –  Phụ trách bộ phận nghiên cứu ứng dụng – Trung tâm Nghiên cứu sóng thần và giảm nhẹ thiên tai (TDMRC), đồng thời là giảng viên Đại học Syiah Kuala, Banda Aceh (Inđônêxia) có bài viết đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta”, nhan đề “Quản lý thảm họa sóng thần và xung đột ở Biển Đông”. Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến nghiên cứu, ý kiến chuyên môn về đặc điểm địa chất, khả năng gây động đất sóng thần trên một số khu vực ở Biển Đông đang có tranh chấp; đưa ra cách tiếp cận về hợp tác nghiên cứu, chia sẻ thông tin, đối phó và giảm nhẹ thiên tai giữa các nước có tranh chấp và không có tranh chấp, trong đó những quốc gia như Inđônêxia có thể và cần đóng vai trò điều phối trung gian. Sau đây là nội dung bài viết này.

Quan ngại về các vùng biển tranh chấp giữa các nước Đông Á đã được nhiều nhân vật nổi tiếng nhắc đi nhắc lại, trong đó có Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton – người đã có lần cảnh báo về khả năng tranh chấp leo thang.

Những đụng độ ngoại giao gần đây nhất là các tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông và bãi Scarborough/Hoàng Nham ở Biển Đông. Từ một góc độ khác, các vùng lãnh thổ nói trên cũng là nơi khởi nguồn của thiên tai trên biển, chẳng hạn như sóng thần.

Bằng chứng địa chất của sóng thần đã rõ và các biện pháp giảm thiểu tác động của sóng thần cần những nỗ lực khẩn cấp, to lớn và nhất quán từ các quốc gia xung quanh.

Điều này đã được thể hiện trong các trận động đất cường độ 7,6 độ ríchte xảy ra ngày 31/8, làm rung chuyển các thành phố ven biển ở miền Nam Philíppin. Mặc dù tâm chấn không nằm trong các khu vực tranh chấp, nó có thể là một thử nghiệm về khả năng phản ứng của các nước và các cộng đồng ven biển trước nguy cơ sóng thần. Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương ở Hawaii đã phát hành một cảnh báo sóng thần cho các nước có khả năng bị ảnh hưởng, bao gồm Inđônêxia, nơi có tỉnh Bắc Sulawesi tiếp giáp với vùng biển miền Nam Philíppin. Các mối đe dọa sóng thần từ trong lãnh thổ Philíppin đã được đặt trong sự giám sát chặt chẽ.

Mặt khác, chính rãnh Manila cũng nằm trong lưu vực của Biển Đông đang có tranh chấp, được sử dụng như là giới hạn tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc. Đối với Inđônêxia, các tranh chấp kéo dài ở Biển Đông và Biển Hoa Đông đã cản trở những nỗ lực để giảm thiểu nguy cơ thảm họa sóng thần.

Tranh chấp Biển Đông đã bước vào một giai đoạn mới sau khi Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tháng 7/2012 tại Phnôm Pênh không đạt được một thoả thuận giữa các quốc gia có chủ quyền. Lịch sử lâu dài của các tranh chấp chưa bao giờ được giải quyết sau khi xảy ra tranh chấp đầu tiên giữa các bên trong những năm 1970. Nhiều học giả cũng nhận thấy rằng tranh chấp Biển Đông sẽ nổi lên như là nguồn xung đột tiềm tàng lớn nhất ở khu Vực trong tương lai.

Bên cạnh các vấn đề về lãnh thổ, khu vực này đã được mô tả như là một lưu vực của các trận bão gây chết người và các trận động đất gây sóng thân. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để các quốc gia đang tranh chấp chủ quyền có thế quản lý vấn đề sóng thần? Trong tranh chấp tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, làm thế nào để các nước sẽ không bị phân tâm nhằm bảo vệ công dân của họ từ bất kỳ trận sóng thần nào đó trong tương lai?

Nơi có khả năng xảy ra sóng thần lớn nhất trên Biển Đông là đảo Luzon ở Philíppin. Các nhà khoa học đã đặt tên cho khu vực này là Rãnh Manila, nơi có khả năng tạo ra rãnh vỡ đáy biển dài 1.500 km nếu xảy ra một trận động đất cường độ rất mạnh. Độ dài đó gần như tương đương với sự đứt vỡ đã xảy ra dọc theo biển Aceh-Andaman năm 2004.

Rãnh Manila là nơi lục địa Âu-Á tiếp giáp với địa tầng biển Philíppin. Trong hơn 100 năm qua nơi đây chưa xảy ra trận động đất nào có cường độ lớn hơn 7,6 ríchte. Nhiều nhà nghiên cứu sóng thần đã cảnh báo điều này. Rãnh này đã tích lũy năng lượng trong gần năm thế kỷ và đã sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào. Và thật đáng tiếc khi biết rằng một số bộ phận năm trong rãnh này cũng là một phần của khu vực tranh chấp giữa Philíppin và Trung Quốc.

Nếu các nhà nghiên cứu từ hai nước bận tâm bởi các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, quá trình nghiên cứu về các mối đe dọa sóng thần trong tương lai sẽ bị gián đoạn.

So với Trung Quốc, Philíppin được xác định là dễ bị tổn thương bởi thiên tai, vì nước này nằm gần khu vực có thể tạo động đất gây sóng thần hơn so với Trung Quốc. Sóng thần sẽ tràn tới bờ biển Philíppin nhanh hơn so với các nước khác. Nếu xảy ra một sự sụt vỡ đáy biển lớn ở nơi này, các cơn sóng thần có thể vươn tới Xinhgapo, Trung Quốc đại lục, Serawak-Sabah ở Malaixia, Việt Nam, Campuchia và một số địa phương của Thái Lan.

Biển Đông có thể là vùng thiên tai nguy hiểm nhất thế giới trong trường hợp kịch bản xấu nhất xảy ra. Từ sự nghiên cứu các bằng chứng địa chất trong Rãnh Manila, chuyên gia Philip Liu từ Đại học Cornell đã xác nhận rằng mối đe dọa sóng thần đối với khu vực là có thật. Các nhà khoa học Philíppin cũng đã có nhiều nỗ lực khoa học để xác minh các mối đe dọa này.

Chuẩn bị cho cộng đồng sẽ là một trong những yếu tố quan trọng nhất đóng góp vào nỗ lực giảm nhẹ thiên tai.

Sau khi tìm hiểu về các mối đe dọa sóng thần và thảm họa thiên tai trên biển khác có thể tấn công xung quanh vùng Biển Đông, cam kết của các nước trong tranh chấp ưu tiên cho các vấn đề nhân đạo là bắt buộc. Quá trình hành động tích cực của các quốc gia trong việc xây dựng sự chuẩn bị sẵn sàng cho cộng đồng dân cư trước thiên tai cần phải được tiếp tục và tăng cường. Công tác này bao gồm chia sẻ bài học giữa các cộng đồng ven biển và kiểm tra, thử nghiệm hệ thống cảnh báo sớm của khu vực — những cách thức có thể giảm thiểu rủi ro một cách có hiệu quả.

Liệu các quốc gia có tranh chấp có thể cho phép bất cứ con tàu nào qua lại các vùng biển vì các mục đích nghiên cứu thảm họa mà không làm xấu đi tranh chấp? Nếu không, điều này sẽ là động lực cho một quốc gia không có tranh chấp đi tiên phong. Inđônêxia là một trong những quốc gia có khả năng thực hiện đầy đủ vị trí này với tư cách là một “người anh em lớn” trong cộng đồng ASEAN.

Inđônêxia có thể đóng một vai trò trung gian bằng việc mời các nhà nghiên cứu điều tra các nguồn nghi vấn gây sóng thần tại các vùng lãnh hải đang bị tranh chấp. Điều đó sẽ giúp tăng cường các chương trình bảo vệ bờ biển trong cộng đồng dân cư Inđônêxia.

Với thực tế Inđônêxia cũng đã nhiều lần phải hứng chịu thảm họa sóng thần, thì những nỗ lực duy trì cam kết của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở mức độ nghiên cứu thảm họa và hỗ trợ nhân đạo là những vấn đề quan trọng. Đây là một công việc hợp lý cho Inđônêxia, trừ khi quốc gia này quá bận rộn trong xử lý các thảm họa lớn của mình./.

Thế giới 24h: Obama “nài nỉ” Hillary

26 Th10

Thế giới 24h: Obama “nài nỉ” Hillary

– Tổng thống Mỹ cho biết Ngoại trưởng Hillary Clinton quyết định sẽ rời ghế; Nga ngăn chặn kịp thời một âm mưu khủng bố lớn… là các tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Tổng thống Barack Obama hôm 24/10 cho biết, bà Hillary Clinton vẫn cương quyết rời ghế Ngoại trưởng Mỹ dù ông có tái đắc cử vào Nhà Trắng hay không.

“Bà ấy đã làm được những việc phi thường. Bà ấy đã đi lại liên tục, làm việc vô cùng chăm chỉ”, ông nói trong chương trình “Tonight Show” trên kênh NBC.

Tổng thống Mỹ bày tỏ, ông rất mong muốn bà Hillary Clinton sẽ tiếp tục giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nếu như ông được tái cử chức vụ tổng thống.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Ngoại trưởng Hillary Clinton. (Ảnh: Getty)

“Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu bà ấy đồng ý ở lại”, ông Barack Obama nói trên kênh NBC. “Tuy nhiên, dù tôi đã nài nỉ, bà ấy vẫn nhất quyết ra đi”, ông cho hay.

Bà Hillary Clinton từng là đối thủ của ông Barack Obama trong cuộc bầu chọn ứng cử viên của đảng Dân chủ ra tranh cử chức tổng thống ở kỳ bầu cử trước.

Sau đó, ông Obama thắng cuộc và tiếp tục đánh bại đối thủ đảng Cộng hòa, trở thành Tổng thống Mỹ. Ông đã thuyết phục được bà Hillary làm ngoại trưởng.

Trong bốn năm qua, bà Clinton, cựu đệ nhất phu nhân, đã chứng minh được bản thân là “tài sản đáng giá” trong chính quyền của Tổng thống Barack Obama.

Đầu tháng này, bà đã “giơ đầu chịu báng” thay ông Obama, nhận lỗi về cách xử lý của Nhà Trắng trong vụ Lãnh sự quán Mỹ tại Libya bị tấn công hôm 11/9.

“Tôi nghĩ rằng đã tới lúc bà ấy muốn dành thời gian cho gia đình của mình. Tôi không thể tự hào hơn về những gì mà bà ấy đã làm”, Tổng thống Mỹ cho biết.

Tin vắn

– Quân đội Mỹ hôm 25/10 xác nhận đã lại xuất hiện tình trạng cảnh sát Afghanistan nổ súng vào lực lượng NATO làm hai binh sĩ Mỹ thiệt mạng.

– Quân nổi dậy Syria đã kiểm soát khu vực người Kurd mang tầm quan trọng chiến lược tại Aleppo và chiếm một chốt quân sự ở vùng đông bắc.

– Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra hôm 25/10 xác nhận việc bà đệ trình danh sách cải tổ nội các lần thứ 3 để chờ Hoàng gia phê chuẩn.

– Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara tuyên bố từ bỏ cương vị người lãnh đạo thủ đô Nhật Bản để tiến hành kế hoạch thành lập chính đảng mới.

– Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã bác bỏ thông tin về kế hoạch thử một tên lửa có khả năng phá hủy vệ tinh trong tháng 11 tới.

– Cơ quan an ninh Nga thông báo đã ngăn chặn được kịp thời một âm mưu thực hiện vụ tấn công khủng bố lớn ở nước cộng hòa tự trị Tatarstan.

– Hãng tin Yonhap dẫn lời một quan chức quân đội Hàn Quốc cho biết, một tàu tuần tra Triều Tiên đã xâm phạm lãnh hải Hàn Quốc trưa 25/10.

– Đài Tiếng nói Nước Nga ngày 25/10 cho hay, nước này đã thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo xuyên lục địa thế hệ 5 từ bệ phóng di động.

– Theo tuần duyên Nhật, sáng 25/10, 4 tàu thuộc sở hữu của Chính phủ Trung Quốc đã vào vùng lãnh hải quanh quần đảo tranh chấp với Nhật.

– Trong ngày hôm qua (25/10), Hàn Quốc đã bắt đầu tiến hành cuộc tập trận thường niên có quy mô lớn, mang tên “Bảo vệ đất nước” (Hoguk).

– Liên hợp quốc “quan ngại sâu sắc” về tình trạng bạo lực tôn giáo tái bùng phát ở Tây Myanmar, đồng thời kêu gọi các bên liên quan kiềm chế.

Tin ảnh

 

Bên trong tàu USS George Washington. (Ảnh: THX)

Siêu tàu sân bay hạt nhân USS George Washington của Mỹ hôm 24/10 đã thả neo ở vịnh Manila, trong chuyến thăm Philippines kéo dài 5 ngày.

Phát ngôn ấn tượng

Ảnh 3: Thuyền trưởng Gregory Fenton. (Ảnh: THX)

Chỉ huy tàu USS George Washington, Gregory Fenton ngày 25/10 cho biết sự hiện diện của Hải quân Mỹ ở châu Á sẽ giúp đảm bảo “tự do hàng hải”.

 

Thuyền trưởng Gregory Fenton. (Ảnh: THX)

“Một trong những lý do khiến chúng tôi triển khai ở toàn khu vực này là vì chúng tôi có thể giương cao lá cờ tự do hàng hải”, ông Gregory Fenton nói.

Ngày này năm xưa

Nhà soạn nhạc nổi tiếng người Italy, Giuseppe Domenico Scarlatti (26/10/1685 – 23/7/1757) được gọi là cha đẻ của nghệ thuật chơi piano hiện đại.

 

  • Thanh Vân (tổng hợp)

 

%d bloggers like this: