Lưu trữ | 11:07 Chiều

Nỗi buồn Nam Cao – VHNA

28 Th10

Nỗi buồn Nam Cao

Lê Thị Thanh Tâm

 (Viết nhân kỷ niệm ngày sinh nhà văn Nam Cao 29-10-1917)

Tưởng nhớ một nhà văn tên tuổi, hẳn cũng nên viết trong tâm tình chân thật. Đọc lại Nam Cao một chiều mùa thu, nhận ra cái gì lớn vẫn lớn, cái gì thiếu vẫn thiếu.

Nhân vật của Nam Cao hầu hết là không thể tự quyết định được cách sống của mình. Từ Chí Phèo, Thị Nở, Binh Chức, Năm Thọ đến Lão Hạc, Hộ, Thứ, Điền…, tất cả họ đều có chung một thân phận là bị điều kiện hóa tối đa. Họ muốn thế này thế khác, nhưng “xã hội không cho”. Họ muốn vươn tới những điều cao cả, nhưng bị cuộc sống mòn mỏi nên không thể làm gì được. Họ muốn cao quí mà thành ra thấp hèn, muốn yêu thương mà thành quỉ dữ. Đó là một kiểu nhân vật quá đặc biệt của một thời, nhưng chiều sâu của nó lại vượt khỏi dự cảm “phê phán hiện thực” của Nam Cao, để trở thành sự “phô bày căn tính”- điều mà Nam Cao dường như chưa có ý nói rõ.

Một đóng góp khác rất đáng chú ý của Nam Cao là các nhân vật của ông thường phải đứng giữa các lằn ranh, giữa nhiều lưỡng lự . Chính lựa chọn thông minh này giúp cho Nam Cao thể hiện tối đa khả năng bậc thầy về miêu tả tâm lý. Hầu hết nhân vật của ông bao giờ cũng là nhân vật tình huống. Tình huống bi thảm như Chí Phèo chết đi để mong được tỉnh, tình huống bà cụ ăn một bữa no mà chết, tình huống mua hay không mua nhà, tình huống bán hay không bán chó, tình huống chọn lựa giữa gia đình và sự nghiệp (mà kỳ thực là thất bại ở cả hai lựa chọn)… Nhân vật sống trong mặc cảm và ngạo mạn, sợ hãi và biến dạng là những chủ đề rất hấp dẫn trong văn chương thế giới. Ở phương diện này, Nam Cao đã gặp gỡ rất nhiều với các danh gia. Ngòi bút của ông ít khi vụng về khi lách sâu vào nỗi đau và hy vọng của con người.

Nam Cao dường như là người có biệt tài kể về những uẩn khúc nặng nề của tầng lớp trí thức. Viết về trí thức, nhất là trong những thời điểm quá “nhạy cảm” của lịch sử xã hội Việt Nam, bao giờ cũng khó, rất khó. Người trí thức là tâm điểm của những dày vò về tinh thần. Nói cho sòng phẳng, tác phẩm càng lớn thì thử thách về sự sâu sắc của người trí càng lớn. Từ đó, cũng cần thấy rằng hình tượng “con người tự khóc” là sáng tạo độc đáo và bứt phá  của Nam Cao. Con người tự khóc cho mình, cho những chuyến đi quá xa vào sự tha hóa, cho những cái “chết trong tâm hồn”, cho sự dằn vặt giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, khóc bởi quá nhiều chọn lựa… Các nhân vật của Nam Cao thường có gương mặt bên trong rất âm thầm, rất ám ảnh.

Tác phẩm Nam Cao cung cấp những băn khoăn rất sâu về căn tính dân tộc. Phải dùng từ “cung cấp” vì ông không có ý đặt nó thành “vấn đề”. Ông bày nó ra. Đọc lại truyện Nam Cao, người đọc vẫn luôn có cơ hội “cày xới”, nghiền ngẫm lại những “tập tính tập khí” đầy “bản sắc” của một Việt Nam xưa: chửi rủa, cạnh khóe, than vãn, kỳ thị, ăn vạ Những “tập khí” lạ lùng này không biết xuất hiện từ bao giờ, nếu nhìn từ một nền văn hiến mà bản lĩnh dân tộc từng được xem là tinh hoa của khu vực, từng trở thành “học phong”, “hào khí”?

Tất cả những điều nói trên là cống hiến tuyệt vời của Nam Cao cho văn chương nước nhà. Người đọc qua nhiều thời đã trân trọng, cảm thương những nhân vật từng đổ nước mắt trên trang viết Nam Cao. Tấm lòng và tài năng của nhà văn xứng đáng được tưởng nhớ dài lâu.

Người đọc hiện thời, dù rất mực chia sẻ với các nhân vật “bị nạn” của Nam Cao, vẫn có thể nghĩ mãi một điều này: Con người có quyền đau khổ nhưng có nhất thiết phải băng hoại như một phương cách chống đối không? Rằng họ chắc sẽ được thương yêu nhiều hơn khi bị “vong hóa”, biến dạng?

Nam Cao đã “lỡ tay” nhiều lần để cho các nhân vật tự tung tự tác, đi về hướng băng hoại với những lời lầm bầm kết tội xã hội, đất trời. Đó là sự yếu đuối, nếu không phải của nhân vật thì của tác giả, nếu không phải của tác giả thì của nơi đã tạo ra tác giả… Sự yếu đuối này không thể xem là một khía cạnh của tài năng sáng tạo.

Nam Cao giàu ý tưởng. Tuy nhiên ý tưởng về một sự nghiền ngẫm cay đắng của con người trước thời cuộc mà ông thể hiện chứa chan trong từng tác phẩm đã không tìm thấy một mô hình sáng tạo tương hợp để ông có thể trở thành nhà văn của thế giới. Mô hình của Nam Cao khá “nghèo nàn”. Người đọc thường bắt gặp những biểu hiện tự thuật của Nam Cao như: anh giáo (giáo khổ), nhà văn, những người vợ nông nổi, …kể cả sự từng trải, biến cố trong đời các nhân vật cũng hao hao anh giáo Trần Hữu Tri. Mô hình này không chuyên chở nổi những ý tưởng kiểu như: sống mòn, sống thừa, sống vô nghĩa – những ý tưởng vốn là những suy tư “cao cấp” của những bậc thầy văn chương thế giới. Nỗi buồn của Nam Cao là nỗi buồn của sự bất lực đã bị nhìn thấy từ hệ quả của xã hội bần cùng. Công bằng mà nói, Nam Cao đã chọn cách nhìn như vậy cho nỗi buồn của mình (chứ không chắc rằng đó là lý do cốt yếu?!). Nỗi buồn của Nam Cao đã bị chính ông nhìn sang hướng khác, hướng ngoại, điều ấy không làm nên một Nam Cao vĩ đại. Những phát ngôn kết án xã hội, qui kết cộng đồng, than vãn về sự trì trệ… không thể làm nên một Nam Cao vượt tầm.

Tài năng thiên phú của Nam Cao về ngôn từ tâm lý, về cách tạo dựng hồn vía nhân vật chỉ giúp cho ông sáng tạo nên những điển hình xúc động và sống động. Còn cái gì đó sâu xa hơn đằng sau nỗi buồn của ông vẫn chưa được chính ông bày tỏ. Nếu như nhà văn đặt nỗi buồn trong một chiều kích khác (trong quan hệ tương chiếu giữa con người này và tha nhân, con người này với thế giới, con người này với chính nó…), đồng thời tìm lấy ở nội tâm sâu sắc của mình một câu trả lời nào đó bớt “làng xã” hơn, bớt “vụn vặt” hơn, thì hẳn những Chí Phèo, những Thứ, những Hộ, … vẫn có thể đánh động người đọc nhiều hơn. Phần lớn các nhân vật “kinh điển” trong kho tàng văn chương thế giới thường phải chạm đến những vấn đề của bản ngã, định mệnh và suy tư triết học về tồn tại. Đó là điều mà Nam Cao hãy còn dè dặt… Có phải, cái chết sớm đã không cho ông cơ hội nào để nói thêm với người đọc về những lựa chọn của mình? Về xu thế mà ông sẽ đi theo? Tiếp tục tỏa sáng? Hay lặng lẽ trong tìm kiếm?…

Nam Cao bằng việc viết văn, bằng việc sáng tạo nhân vật, bằng những giới hạn của các thiên truyện, đã vô tình cho thấy nhiều hơn sự hạn hẹp cố hữu và di truyền của bản tính Việt, mặc dù tư tưởng ông rõ ràng hướng tới một quan niệm tương đối “dễ đọc”hơn: thương yêu người nghèo, bênh vực người nghèo, suy nghĩ có nhân cách và phê phán xã hội. Cái “bản tính Việt hạn hẹp có tính di truyền” ấy ẩn hiện trong tác phẩm Nam Cao, được nhà văn vô tình (hay cố ý?) bàn đến, có lẽ là “phẩm hạnh” và “tầm thấp” của những con người vì nhiều lý do mà đánh mất mọi thứ, dễ dàng đánh mất và dễ dàng đổ lỗi cho ai đó. Hay đúng hơn, họ (các nhân vật này) không được chuẩn bị nhiều cho sự trưởng thành về tâm hồn – một sự trưởng thành có được do những am hiểu nhẫn nại về nội tâm và ý chí. Phải chăng, nông thôn Bắc bộ những năm lao khổ, gần kề cái đói, đã làm lu mờ, tan mất sự trưởng thành ấy? Phải chăng, một dân tộc nhiều đau khổ thì phải méo mó đi, nhất định biến thái, mới là sản phẩm của một hiện thực? Phải chăng, việc đòi người khác cho mình được sống lương thiện lại trở thành xu hướng đáng “hoan nghênh” đến thế, xuất phát từ một chủ nghĩa cảm thương? … Chúng ta có quyền suy tư những gợi ý này từ di sản quá nhiều thao thức mà Nam Cao để lại.  

Do ánh sáng ngôn ngữ trần thuật độc đáo của Nam Cao mà người đọc cảm nhận những trang viết của ông “hình như” có nhiều tư tưởng. Nhưng tư tưởng được phát biểu giống như một lời khuyên của nhà phê bình, có lẽ, về bản chất không phải là tư tưởng của nghệ thuật. Tư tưởng đích thực toát ra từ tác phẩm nghệ thuật không nên “bị phát biểu ra” thẳng tuột trong một tình thế thiếu hư cấu, mà nó phải “tự phát tiết qua hình tượng” mới đúng. Nam Cao đã phát biểu quá nhiều, nói chen vào nhân vật quá nhiều. Những phát biểu này đậm đặc đến nỗi chúng thường được dẫn chứng như là “tư tưởng chủ đề”, “quan niệm nghệ thuật” độc đáo của Nam Cao.

Không! Trong trò chơi văn chương, chính Nam Cao cũng không ngờ chuỗi ngôn từ mà ông khổ công sử dụng lại mang một tinh thần khác. Nhìn vào các nhân vật của Nam Cao, người ta có thể hình dung một hệ thống các nạn nhân; hết nạn nhân của sự bần cùng hóa đến nạn nhân của “cơm áo ghì sát đất”, hết nạn nhân của đời sống rỉ mòn về tinh thần đến nạn nhân rất “cá biệt”: bị từ chối quyền làm người… Dĩ nhiên nhà văn có thể chọn bất kỳ đề tài nào, kể cả các đề tài về những nạn nhân. Song, điều đáng nói là ông đặt cái nhìn từ phía nạn nhân và chỉ từ phía nạn nhân, cất lên tiếng nói thầm thì từ cơn trầm cảm triền miên của những số phận không còn niềm tin nào với đời. Bởi vậy mà mỗi tác phẩm của Nam Cao đều rất dễ nhận lấy sự cảm thông của người đọc, nhưng lâu dài thì không thể thuyết phục những cách đọc khác, những rung động khác…- những cách đọc và rung động không an tâm với kiểu suy nghĩ đơn sơ về sự tồn tại của nỗi đau. Tâm sự “chậm dần đều” và u uất trong tác phẩm Nam Cao thường dừng lại ở những chiêm nghiệm có tính tự thuật, tự truyện, tự vấn của nhà văn, chưa đủ chi tiết để có thể nằm sâu trong cấu trúc nghệ thuật, chưa đủ thành một thứ nghệ thuật tinh lọc và nghiệt ngã.

Lẽ nào điều lớn lao duy nhất trong văn chương Nam Cao là chủ nghĩa nhân đạo như nhiều người đọc từng tâm đắc, rằng tư tưởng quan trọng nhất của ông là thương yêu hết thảy những người nghèo khó?

Xét cho cùng, cảm thông với các nạn nhân là đức tính quí báu. Nhưng chỉ nhìn con người như những nạn nhân lại không hẳn là sâu sắc. Cái nhìn ấy có thể thấm đẫm tình người, nhưng rất khó đi xa.

Nỗi buồn Nam Cao để lại trên trang viết khiến người đọc băn khoăn: bởi chính tác giả cũng chỉ truy vấn nỗi buồn trong một chiều tác động, bởi chính tác giả còn “di lý” nỗi buồn ấy sang cái nhìn đơn giản về quan hệ con người-xã hội (theo kiểu: con người chỉ tốt lên nhờ xã hội, chỉ xấu đi bởi xã hội), thì làm sao người đọc có thể tin rằng nhà văn Nam Cao thực sự là một tài năng tầm cỡ?

Nam Cao rất có tài, rất có tâm, song chưa thể là nhà văn tầm cỡ. Riêng điều ấy đã là một nỗi buồn lớn!

                                                                                                                        Giảng Võ, tháng 10 năm 2012

 

NHỮNG SỰ KỲ LẠ VỀ RÙA THẦN HỐ GƯƠM – vietsuky

28 Th10

NHÌN LẠI LỊCH SỬ *

NHỮNG SỰ KỲ LẠ VỀ RÙA THẦN HỐ GƯƠM

KS. PHAN DUY KHA

Bà con Việt kiều ta ở nước ngoài, với nỗi lòng không nguôi nhớ về Tổ quốc, thường treo bức ảnh Hồ Gươm với Tháp Rùa cổ kính ở những chỗ trang trọng nhất trong căn phòng ấm cúng. Bạn từ miền Nam, miền Trung ra, bạn từ miền núi có dịp về thủ đô, không thể không dành chút ít thời gian ghé thăm Hồ Gươm. Còn trong đời, nến bạn chưa một lần được về Hà Nội, bạn cũng đã có ít nhất đôi ba lần nhìn thấy toàn cảnh Hồ Gươm, trên màn ảnh nhỏ, với cuộc đua xe đạp, những cuộc chạy việt dã vòng quanh bờ hồ mà ống kính truyền hình trực tiếp đặt ở bốn góc hồ truyền đi khắp nước. Gần nhất, người dân thủ đô, trên đường đến cơ quan, có thể mỗi ngày đôi lần đi qua bờ hồ. Gần hơn nữa, những người ở xung quanh bờ hồ sáng sáng vẫn ra đây tập thể dục dưỡng sinh, hoặc chiều chiều bách bộ một vòng quanh hồ đón làn gió mát để xua bớt đi ưu tư trong cuộc sống bề bộn đời thường… Hồ Gươm gần gũi và thân thương biết bao trong đời sống mỗi người chúng ta.

 

Hồ Gươm (hay còn gọi hồ Hoàn Kiếm) nằm ở giữa lòng thủ đô Hà Nội. Có thể gọi Hồ Gươm là trung tâm của thủ đô với cả ý nghĩa về mặt địa lý cũng như tâm linh, tình cảm. Nhìn lên bản đồ thành phố, Hồ Gươm như một tấm gương hình bầu dục dẹt, đặt theo hướng Bắc Nam, với chiều dài hơn 600m, chiều rộng khoảng 200m, đường chu vi khoảng 1700m. Với một diện tích hạn hẹp 12 ha mặt nước, trong lòng hồ có đến hai hòn đảo. Hòn đảo ở phía Bắc lớn hơn được gọi là đảo Ngọc, trên đó có đền Ngọc Sơn. Vì đảo ở gần bờ nên người ta bắc một chiếc cầu nhỏ để đi ra đền. Đó là cầu Thê Húc (Thê Húc nghĩa là đọng ánh nắng ban mai). Hòn đảo ở gần giữa hồ bé hơn, là nơi rùa có thể bò lên phơi nắng nên được gọi là Gò Rùa. Ngôi tháp nhỏ trên Gò Rùa được gọi là Tháp Rùa. Với mực nước sâu khoảng 1,5m và lớp bùn dày khoảng 1m, Hồ Gươm chất chứa trong lòng bí ẩn lớn nhất: đó là loài rùa Hồ Gươm, gắn liền với truyền thuyết chổng giặc ngoại xâm của dân tộc ta đầu thế kỷ XV.

Chuyện kể rằng, thuở ấy nước ta bị giặc Minh xâm lược. Chúng đặt ách đô hộ lên đầu lên cổ nhân dân ta: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai họa (Nguyễn Trãi – Cáo Bình Ngô). Từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa), người anh hùng dân tộc Lê Lợi được thần nhân trao cho một thanh gươm báu đuổi giặc. 10 năm sau, ông đã tiến ra bao vây kinh thành Thăng Long mà hồi ấy gọi là Đông Đô, buộc tướng giặc Vương Thông phải cởi giáp cầu hòa: Đông Đô đất cũ thu về (Nguyễn Trãi –Cáo Bình Ngô). Đất nước thanh bình. Một lần, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và đoàn tùy tùng bơi thuyền dạo chơi trên hồ Lục Thủy (Lục Thủy có nghĩa là nước xanh), bỗng có một con rùa lớn nổi lên, đòi lại gươm báu: Lê Lợi tung thanh gươm về phía con rùa thì lạ thay, rùa liền cắp lấy thanh gươm, lặn sâu xuống nước. Lê Lợi bảo tả hữu:

– Đức Long Quân cho ta mượn gươm báu đế trừ giặc Minh, nay việc lớn đã thành, sông núi đã thanh bình, Người sai Rùa thần lên lấy lại.

Từ đó, hồ Lục Thủy được mang tên là hồ Trả Gươm (cũng gọi là Hoàn Kiếm) mà nhân dân ta quen gọi là Hồ Gươm. Câu chuyện trên đây mang một triết lý sống của dân tộc ta. Đó là nhân dân ta luôn luôn khát khao hòa bình và chỉ cần đến vũ khí khi có giặc ngoại xâm.

Câu chuyện trả gươm cho Rùa thần là một huyền thoại. Nhưng rùa Hồ Gươm lại là những sinh vật có thực. Bạn là người ở xa về thủ đô, chắc chưa có dịp nào nhìn thấy rùa Hồ Gươm, vì rất hiếm khi rùa nổi lên mặt nước. Nhưng bạn có thấy tiêu bản của một con rùa Hồ Gươm khi vào thăm đền Ngọc Sơn. Con rùa này khi còn sống dài 2,1m, ngang 1,2m và nặng tới 250kg, chết vào năm 1968. Theo các nhà khoa học, tuổi của nó có thể đến 400 – 500 năm, tức là có thể được sinh ra vào khoảng thời Lê Thái Tổ. đuổi xong giặc Minh và trả gươm cho Rùa thần. Có nhà nghiên cứu từng thống kê lần rùa xuất hiện trên mặt hồ trong những năm gần đây: năm 1991 – 3 lần; năm 1992 – 3 lần; năm 1993 – 14 lần; năm 1994 – 7 lần (theo tài liệu của phó giáo sư sinh vật Hà Đình Đức). Cũng theo ông Hà Đình Đức thì năm 1993 do nạo vét lòng hồ, làm xáo trộn sự yên tĩnh hàng ngàn năm của rùa nên rùa mới nổi lên nhiều như thế.

Hồ Gươm thời Lê còn ăn thông với sông Hồng. Hồ kéo dài, cắt qua các phố Hàng Khay, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, ăn dọc theo phố Hàng Chuối, thông ra sông Hồng khoảng cảng Hà Nội ngày nay. Điều đó đã được các bản đồ kinh thành Thăng Long lập từ thời Hồng Đức (1490) xác nhận. Có người sẽ nghĩ rằng có thể từ thuở xa xưa, rùa từ sông Hồng vào ẩn mình sinh sống ở đây, rồi sau này hồ bị lấp nên không còn đường ra nữa. Thế nhưng, trong lịch sử từ xưa tới nay, chúng ta không hề thấy có tài liệu nào ghi chép về việc rùa lớn xuất hiện ở sông Hồng. vả lại, từ xa xưa, sông Tô Lịch ăn thông với sông Hồng và còn thông với các hồ ở Thăng Long. Thế nhưng, có một điều hết sức kỳ lạ là trong hàng chục hồ ở thủ đô có diện tích xấp xỉ Hồ Gươm (như hồ Bảy Mẫu, hồ Thiền Quang, hồ Vạn Phúc, hồ Đống Đa, hồ Thủ Lệ…), không có hồ nào có loài rùa lớn sinh sống như Hồ Gươm cả. Ngay Hồ Tây, rộng gấp hơn 40 lần Hồ Gươm (500 ha mặt nước), là một khúc cong của sông Hồng bị bồi lấp dần thành hồ – ta cũng không hề gặp loài rùa lớn này. Phải chăng, rùa Hồ Gươm là sản phẩm duy nhất của Hồ Gươm và đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử, khi thiên nhiên mới tạo ra châu thổ sông Hồng? Sự xuất hiện và tồn tại của nó phải chăng liên quan đến loài tảo lục của Hồ Gươm? Cũng theo phó giáo sư Hà Đình Đức, rùa Hồ Gươm là một loài hoàn toàn đặc biệt chưa hề có trong các sách từ điển về rùa của quốc tế (cuốn Encyclopedia of Tortles – Kiến thức bách khoa về rùa và cuốn Tortles of the World – Các loài rùa trên thế giới).

Một điều bí ẩn nữa là đứng về mặt cộng đồng, một loài vật sống trong môi trường tách biệt như thế thì số lượng cá thể trong loài phải đủ lớn để duy trì nòi giống (nhà văn Nguyễn Dậu từng sống hàng chục năm bên bờ hồ đếm được 17 con rùa có đặc tính, màu sắc khác nhau và có chiều dài khoảng từ 0,5 đến 2,7m). Mà khi có một quần thể như thế thì hiện tượng sinh, lão, bệnh, tử ắt phải xảy ra. Hiện tượng rùa sinh đẻ, chúng ta đã biết. Nhà văn Nguyễn Dậu từng mô tả về hiện tượng này trong tập truyện Rùa Hồ Gươm của ông. Nhưng còn hiện tượng rùa già và chết một cách tự nhiên là hết sức hiếm (trừ trường hợp những kẻ bất lương, ác độc cố tình giết chúng như trường hợp con rùa bị chết vào năm 1968 đã nhắc ở trên). Phải chăng, rùa Hồ Gươm có cuộc sống trường tồn? Nhưng dù trường tồn thì rùa Hồ Gươm vẫn là những sinh vật theo đúng nghĩa đen của từ này. Là sinh vật, chúng phải ăn, uổng và trao đối khí oxy vói môi trường. Một sự thay đổi nhỏ của môi trường cũng có thể ảnh hưởng lớn đến đời sống của loài rùa quý này, gây tác hại mà chúng ta không the lường hết được.

Rùa Hồ Gươm là một loài rùa đặc biệt chỉ có ở Hồ Gươm như chúng tôi đã căn cứ vào điều kiện địa lý – lịch sử trong phần phân tích ở trên. Về mặt sinh học, các nhà chuyên môn sẽ nghiên cứu để có kết luận xác đáng hơn. Tuy nhiên, việc nó tồn tại ở Hồ Gươm, trong một môi trường hạn hẹp, giữa lòng đô thị tách biệt hàng ngàn năm nay là một sự bí ấn kỳ lạ. Chỉ xét riêng về sự bí ẩn kỳ lạ trong đời sống của loài sinh vật này, chúng ta có thể coi rùa Hồ Gươm là Rùa thần. Chúng tôi xin được dùng danh từ Rùa thần ở đầu bài với ý nghĩa này. Việc gắn Rùa thần vào một thời kỳ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta càng làm cho lịch sử hiện lên gần gũi chúng ta hơn nhưng cũng lung linh huyền ảo hơn. Vì vậy, Rùa thần Hồ Gươm phải được coi là quốc báu. Nó không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn về cả khoa học, không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn với cả thế giới!

Những trục giao thông chính của nước ta đều hướng về thủ đô. Đến lượt những đường phố chính của thủ đô lại hướng về Hồ Gươm. Hồ Gươm là một điếm sáng trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân tộc. Trong tình hình mật độ dân số gia tăng, các công trình xây dựng kiến trúc phát triển ồ ạt ở thủ đô hiện nay, vấn đề đảm bảo một môi trường sống không đổi cho rùa Hồ Gươm cần phải được đặt ra ngay từ bây giờ. Xin hãy xem Hồ Gươm như một sinh thể nhạy cảm. Mọi đụng chạm đến địa điểm này cần phải được cân nhắc thận trọng, tránh tái diễn những công trình cải tạo phản khoa học, phản văn hóa tương tự như việc xây kè bê tông quanh mép Gò Rùa vào năm 1993 (làm mất chỗ rùa đào hố đẻ trứng và bò lên những khi cần thiết). Điều kiến nghị cuối cùng, việc bảo vệ Hồ Gươm cần phải được nâng lên thành luật. Nhắc đến Hồ Gươm là nhắc đến bề dày truyền thống của văn hóa, của lịch sử dân tộc. Vì vậy, luật bảo vệ Hồ Gươm phải có những đặc thù riêng, không thế chỉ là luật bảo vệ môi trường chung chung.

* Nguồn: NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.

Mời đọc: + 159. THỜI DỰNG NƯỚC TRONG TƯ DUY CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY; + 160. VIỆT THƯỜNG THỊ TRONG BUỔI ĐẦU NỀN VĂN MINH DÂN TỘC; + 161. THỬ LÝ GIẢI GIẤC MƠ CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG; + 162. ĐÂU LÀ QUỐC ĐÔ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT ?; + 163. VỀ CỘI NGUỒN VÀ HAI CUỘC THIÊN DI CỦA NGƯỜI VIỆT; + 164. BÍ ẨN NHỮNG HÌNH KHẮC TRÊN ĐÁ Ở SA PA, + 165. NHỮNG LÀNG CỔ CÓ TÊN LÀ “KẺ”; + 166. LẠC LONG QUÂN – ÂU CƠ MỘT TRUYỀN THUYẾT ĐẸP CỦA DÂN TỘC TA; + 167. THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI CHỬ ĐỒNG TỬ – TIÊN DUNG; + 168. THỬ GIẢI MÃ TRUYỀN THUYẾT THÁNH GIÓNG; + 169. THỬ VÉN MÀN HUYỀN THOẠI AN DƯƠNG VƯƠNG; + 170. VÌ SAO AN DƯƠNG VƯƠNG GẶP KHÓ KHĂN KHI XÂY THÀNH ỐC?; + 171. TRIỆU ĐÀ LÀ CON CHÁU VUA HÙNG Ư?; + 172. ĐI TÌM NÚI NÙNG TRÊN ĐẤT THĂNG LONG; + 173. CÂY GẠO LÀNG DƯƠNG LÔI, SƯ VẠN HẠNH VÀ VUA LÝ CÔNG UẨN; + 174. THĂM ĐỀN RỒNG, NGHĨ VỀ SỐ PHẬN ÉO LE CỦA LÝ CHIÊU HOÀNG; + 175. BÍ ẨN VỀ CÁI CHẾT CỦA HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG; + 176. THỬ GIẢI NGHĨA ĐÔI VẾ CÂU ĐỐI Ở CHÙA BỘC; + 177. ĐI TÌM VÓC DÁNG NGOẠI HÌNH VUA QUANG TRUNG.

NGUYÊN CT QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN CŨNG TỎ RA THẤT VỌNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TW 6 – PVĐ

28 Th10

NGUYÊN CT QUỐC HỘI NGUYỄN VĂN AN CŨNG TỎ RA THẤT VỌNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TW 6

 
Sáng nay, Câu lạc bộ Thăng Long là nơi tập hợp các lão thành cách mạng sinh hoạt thường kỳ để tham gia góp ý cho việc sử đổi Hiến pháp 1992; Đây là Câu lạc bộ dưới sự chủ trì của 2 ông Nguyễn Văn An và Đặng Quốc Bảo…
Theo một vài nguồn tin của vài cử tọa tham gia sinh hoạt sáng nay cho biết, phát biểu tại buổi sinh hoạt, ông Nguyễn Văn An cũng đã bày tỏ sự thất vọng về kết quả của Hội nghị TW 6 ?
 
PV

Tới nơi có những kẻ bắt cóc thân thiện nhất thế giới – vnn

28 Th10

Tới nơi có những kẻ bắt cóc thân thiện nhất thế giới

Gần đây, khoảng trống an ninh đã khuyến khích một nhóm người Bedouin ở nửa nam bán đảo Sinai đòi trả tự do cho người cùng bộ tộc ngồi tù bằng một chiến thuật lạ đời: bắt cóc du khách nước ngoài và dùng họ làm lá bài mặc cả.
TIN BÀI KHÁC:

Bài viết của nhà báo Sarah A. Topol trên tạp chí Mỹ The Atlantic:

Người Bedouin đối xử với con tin rất tốt và lịch sự.

Người tiếp đón tôi, Sheikh Ahmed Hashem, một lãnh đạo bộ lạc Bedouin năm nay 37 tuổi, đã mời tôi nhiều li trà ngọt đến nỗi tôi không đếm nổi. Đó là một buổi chiều nóng nực vào đầu tháng 7, nơi chúng tôi ngồi trên sàn nhà của người đàn ông này ở Wadi Feiran, một ngôi làng hẻo lánh nằm sâu trong Bán đảo Sinai của Ai Cập.

Một dây cáp điện kết nối những căn nhà thấp bé bằng xi-măng ở ngôi làng này; một con đường chạy qua những ngọn núi xung quanh ra thế giới bên ngoài. Mọi thứ cảm giác rất thư thả, kể cả lời giải thích của Hashem, thông qua một phiên dịch viên, về những than phiền của dân làng anh về chính phủ Ai Cập.

Nhưng khi tôi hỏi tại sao người Bedouin lại bắt cóc du khách, anh nhanh chóng đính chính: “Đó không chỉ là bắt cóc. Đó là một hành trình du lịch (tourist safari)”. 

Người em trai Mohammed của Sheikh Ahmed Hashem gật đầu: “Du khách tới Ai Cập và trả tiền cho kiểu trải nghiệm này”, anh nói và cười rạng rỡ. 

Trong cuộc cách mạng Ai Cập năm ngoái, các cơ quan an ninh của đất nước này gần như đã rút hết khỏi Sinai, một bán đảo hình tam giác nằm giữa đại lục Ai Cập ở phía tây và Israel ở phía đông. Buôn lậu ma túy và vũ khí tăng cao; ở phía bắc bán đảo, đọ súng giữa các tay súng Hồi giáo và cảnh sát trở nên thường nhật; đường ống gas nối Ai Cập và Israel liên tục bị đánh bom.

Trong những tháng gần đây, khoảng trống an ninh đã khuyến khích một nhóm người Bedouin ở nửa nam của bán đảo vận động việc trả tự do cho người cùng bộ tộc ngồi tù bằng một chiến thuật lạ đời: bắt cóc du khách nước ngoài và dùng họ làm con bài để mặc cả. Từ tháng 2 và đầu tháng 7, các thành viên bộ tộc Bedouin đã bắt cóc 3 cặp người Mỹ, 3 người Hàn Quốc, một cặp người Brazil, và một người Singapore trong chiến dịch “safari” kéo dài từ vài giờ đến vài ngày. 

Người Bedouin ở Ai Cập – một bộ lạc Ảrập du cư đã sống ở Sinai nhiều thế kỷ – có nhiều than phiền về chính phủ. Sau khi Israel trả bán đảo này cho Ai Cập năm 1982 sau 15 năm chiếm đóng, chính phủ Ai Cập cáo buộc người Bedouin hợp tác với Israel; người Bedouin bị từ chối nghĩa vụ quân sự và hầu hết các công việc trong chính phủ.

Người Bedouin than phiền rằng các cơ quan an ninh của nhà nước đối xử với họ rất khắc nghiệt, bỏ tù hàng trăm thành viên mà không qua xét xử. Các ngôi làng Bedouin rất nghèo về cơ sở hạ tầng, y tế hoặc trường học so với phần còn lại của đất nước. Và mặc dù bờ Biển Đỏ của Sinai có nhiều khách sạn sang trọng, các bộ tộc than phiền rằng tiền thu từ du lịch không cải thiện được cuộc sống của họ vì các hãng du lịch không thuê họ làm việc. 

Chiến dịch bắt cóc đã được sắp đặt thời gian để làm bẽ mặt chính phủ Ai Cập. Nền kinh tế của đất nước này đang rơi tự do, và du lịch bãi biển là một nguồn thu ngoại tệ chính của đất nước. Vì vậy, chính phủ phải nỗ lực đảm bảo tự do cho bất kỳ ai bị bắt cóc càng sớm càng tốt. Nhưng một điều lạ đã xảy ra: những người bị bắt cóc mô tả tình cảnh của họ bằng những ngôn từ hào hứng đến ngạc nhiên. 

“Tất cả là một ký ức không thể nào quên”, Norma Supe, một y tá 63 tuổi đến từ California bị bắt cóc hồi tháng 2, kể với hãng tin AP. Bà gọi những kẻ bắt cóc là người tốt và lịch sự. Supe bị bắt cóc cùng một thành viên khác trong nhóm tour, Patti Esperanza 66 tuổi, trên một con đường gần Saint Catherine’s, một tu viện có từ thế kỷ thứ 6 ở chân núi Sinai. Hướng dẫn viên của họ, Hisham Zaki, tình nguyện đi cùng làm người phiên dịch. Như Zaki hồi tưởng sau đó, Esperanza đã yêu cầu một người trong nhóm đừng hút thuốc: “Tôi bảo bà ấy: Bà đùa sao? Bà đang bị bắt cóc đấy!”. Nhưng người bắt cóc kia đã nghe lời, ném điếu thuốc ra khỏi cửa xe.

Vào một lúc khác, Esperanza nhớ lại, những kẻ bắt cóc đã dừng lại để chuẩn bị cà phê cho hai con tin, nhưng khi biết Esperanza không uống cà phê, họ bèn pha trà mời bà. 

Khi tôi dùng xong tách trà của mình, Hashem đồng ý đưa tôi tới nơi mà Esperanza và Supe từng bị giữ. Chúng tôi lên chiếc xe tải của anh và đi khoảng một giờ đồng hồ trước khi đỗ lại dọc một triền cát ở chân núi. Chúng tôi ngồi xuống và Hashem giới thiệu cho tôi Attwa, người anh mô tả là đã bắt cóc hai bà già đến từ California. (Attwa không cho biết họ của anh nhưng một nguồn tin trong cơ quan an ninh Ai Cập xác nhận anh tham gia). Attwa sống trong một túp lều gần đó và, như hầu hết những người Bedouin trong khu vực, anh kiếm sống nhờ buôn ma túy. Attwa cho biết, anh đã cố gắng tuyệt vọng để tìm một công việc khác song tự hào mình đã giữ được cho các con tránh xa việc buôn bán ma túy. 

Attwa đã kể cho tôi nghe câu chuyện safari. Anh giải thích, vào cuối tháng 1, anh hay tin một trong số các con trai của mình bị giết chết và hai con khác bị bỏ tù sau một cuộc cãi lộn với cảnh sát. Chục ngày sau đó, hy vọng sẽ đòi được tự do cho các con, Attwa và một người bạn tự trang bị vũ khí và lái xe tới Saint Catherine’s. Bắt cóc Supe và Esperanza từ một chiếc xe du lịch là việc dễ đến ngạc nhiên. Attwa nói: “Tôi nhờ người phiên dịch làm cho họ bình tĩnh, vì họ sẽ không phải sợ bất kỳ điêu gì. Tôi giải thích là tôi cần chuyển một thông điệp tới chính phủ và đây là cách duy nhất tôi được lắng nghe”.

Attwa nói anh đã chuẩn bị bánh mì, pho mát và nước hoa quả cho các con tin. Vậy anh sẽ làm gì nếu họ bị kích động? Attwa cho biết anh sẽ thả họ đi nhưng hai người không khóc nên anh đã mang họ tới đây. 

Hashem nói rằng người Bedouin chỉ bắt vài du khách một lúc bởi vì chăm cho các nhóm lớn hơn sẽ rất tốn tiền. “Khi một Bedouin bắt cóc ai đó, anh ta phải chịu trách nhiệm về lòng hiếu khách khi đưa họ đi trên hành trình safari – thức ăn, đồ uống, vệ sinh và giấc ngủ. Nếu đối xử với họ tồi tệ, anh ta sẽ phải gánh trách nhiệm”, Hashem nói, nhắc đến hệ thống luật lệ của bộ lạc.  

Attwa cho biết, vài giờ sau khi anh bắt cóc hai phụ nữ Mỹ, chính phủ Ai Cập hứa sẽ trả tự do cho các con trai anh và anh đã giao nộp con tin. Nhưng khi chúng tôi có mặt ở đây, 5 tháng sau, các con anh vẫn chưa được thả.  

Thanh Hảo (Theo The Atlantic)

 

Trung Quốc sẽ lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng?

28 Th10

Trung Quốc sẽ lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng?

 

Ngoài những đường chồng lấn trên bản đồ, tình thế đối đầu đã xuất hiện tại các khu vực tranh chấp lãnh thổ Biển Đông.

Tranh chấp đang ngả theo hướng trở thành điểm nóng quân sự và tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn khu vực xoay quanh những toan tính an ninh năng lượng phức tạp trong tham vọng dài hạn là đóng một vai trò lớn hơn trong địa chính trị khu vực của Trung Quốc.

Tiềm năng dầu khí tại Biển Đông

Để đánh giá đúng tầm quan trọng của vấn đề an ninh năng lượng, có lẽ nên nhìn vào khu vực qua lăng kính của những toan tính về năng lượng. Theo Thống kê của BP, năm 2011, khu vực châu Á – Thái Bình Dương chỉ chiếm 2,5% trữ lượng dầu được kiểm chứng trên toàn thế giới, nhưng chiếm tới trên 1/3 lượng tiêu thụ. Về khí tự nhiên, châu Á – Thái Bình Dương đóng góp 8% trữ lượng đã được kiểm chứng trên toàn thế giới và 18% tổng tiêu thụ toàn cầu.

Châu Á – Thái Bình Dương là khách hàng tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, chiếm gần 40% tổng mức tiêu thụ. Kể từ năm 2001, sức tiêu thụ dầu và khí gas của khu vực tăng hơn gấp đôi tốc độ tăng trưởng tiêu dùng năng lượng trên thế giới. BP dự báo, lượng tiêu thụ của châu Á – Thái Bình Dương sẽ còn tiếp tục duy trì cao hơn gấp đôi tốc độ gia tăng tiêu thụ năng lượng toàn thế giới cho tới năm 2030. Trung Quốc là một trong những nhân tố chính đóng góp vào sự gia tăng này.

Rủi ro kinh tế đang tăng lên. Khi châu Á ngày càng khát dầu và khí tự nhiên. Do vậy, việc đảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định sẽ có ý nghĩa quan trọng mang tính quyết định. An ninh năng lượng đòi hỏi giảm phụ thuộc vào nguồn cung ở những nơi xa xôi và hay rối loạn trong các xung đột. Do vậy, yếu tố địa chính trị được quan tâm hàng đầu.

Dưới đáy Biển Đông được cho là có một trữ lượng dầu khí tương đối lớn. Trữ lượng ước tính dao động từ 28 tỷ thùng cho tới 213 tỷ thùng; nếu đúng là con số 213 tỷ thùng thì điều này sẽ đưa Biển Đông lên vị trí thứ ba trong số các khu vực có trữ lượng dầu được kiểm chứng lớn nhất. Khoảng 50% cơ hội vùng biển này có 3,8 nghìn tỷ m3 khí gas, tương đương khoảng ¼ trữ lượng khí tự nhiên được kiểm chứng của khu cả châu Á – Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là tuyến lưu chuyển dầu khí quan trọng trong khu vực. Giá trị kim ngạch thương mại ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD.




Trung Quốc: Đối thoại hay đối đầu?

Do những toan tính lợi ích kinh tế, nên việc Trung Quốc mong muốn thực thi mở rộng tầm ảnh hưởng là điều dễ hiểu. Biển Đông có thể được coi là cứu cánh cho nước này khi mà cơn khát năng lượng đang nàng càng lớn. Hàng năm, Trung Quốc đang phải nhập khẩu ròng dầu khí. Do đó Trung Quốc sẽ không bỏ qua cơ hội triển khai quyền lực ra khu vực. Khối lượng dầu khí dưới đáy Biển Đông cũng có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam và Philippine, hai nước cũng nhập khẩu ròng dầu khí, trong khi Brunei và Malaysia là những nước xuất khẩu ròng.

Giai đoạn hiện nay chính là cơ hội để Trung Quốc triển khai sự lãnh đạo chiến lược và gia tăng ảnh hưởng trong khu vực cũng như ra thế giới. Nhưng một thái độ cẩu thả và sẵn sàng gây khiêu khích ở thời điểm quan trọng này có thể làm giảm sút nghiêm trọng uy tín của Trung Quốc không chỉ với các nước trong khu vực mà còn cả với các đối thủ địa chính trị toàn cầu. Để trỗi dậy là một thành viên có trách nhiệm trong phạm vi toàn cầu, Trung Quốc cần phải lựa chọn giữa đối thoại hay đấu súng.

Triển vọng đạt được một giải pháp mang tính tập thể cho vấn đề, có thể dưới sự trung gian của ASEAN, có vẻ rất mờ nhạt, thể hiện ở sự bế tắc chưa từng có giữa các nước thành viên. Việc không thể thông qua bản thông cáo chung lần đầu tiên trong 45 năm qua tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN cũng không phải là điều quá bất ngờ khi khả năng đạt được một sự đồng thuận trên thực tế cho vấn đề Biển Đông còn rất hạn chế. Tuyên bố duy nhất được đưa ra, Nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông, lại dẫn chiếu rõ ràng hai lần tới Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Một điểm mà Trung Quốc phản đối không áp dụng cho tình huống hiện nay là nó liên quan đến chủ quyền lịch sử.

Do vậy, dễ hiểu khi Trung Quốc ưu tiên đàm phán song phương hơn là xây dựng sự đồng thuận đa phương, khi nước này có sức nặng đàm phán lớn hơn với từng quốc gia nhỏ lẻ, nhờ vào vị thế kinh tế vượt trội. Việc các cuộc đàm phán song phương có nhằm đạt được các hiệp ước đa phương hay không vẫn là điều phải bàn cãi. Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục sử dụng ngoại giao song phương để giành sự ủng hộ của các quốc gia nhỏ hơn không tranh chấp, kết hợp với thể hiện những sự khiêu khích nhỏ.

Việc Trung Quốc cảm nhận thời điểm leo thang vấn đề, trong bối cảnh sắp diễn ra cuộc bầu cử tại Mỹ, đã mở đường cho “những kẻ cơ hội”. Tuy nhiên, Trung Quốc phải cân nhắc cuộc chuyển giao lãnh đạo cấp cao sắp diễn ra ở trong nước, nơi những lợi ích nhóm riêng sẽ trỗi dậy. Một động thái hiếu chiến với khối ASEAN có thể làm trầm trọng thêm vấn đề, khi đẩy các nước nhỏ hơn vào vòng tay của Mỹ. Hậu quả, Trung Quốc sẽ phải lựa chọn giữa chấp nhận, hay thể hiện lập trường cứng rắn. Thiệt hại sẽ rất lớn nếu đụng độ dẫn tới một cuộc đối đầu toàn diện.

Mỹ: Quan sát thận trọng

Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ công khai nhìn nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc là một ảnh hưởng địa chính trị cần được tính đến, bên cạnh sự trỗi dậy như một cường quốc kinh tế. Quyết định “xoay trục” chiến lược về châu Á của Mỹ thể hiện những quan ngại trong việc quản lý sự trỗi dậy quá nhanh chóng của Trung Quốc trong cuộc đối đầu quyền lực toàn cầu. Washington đang đứng trước nhiều câu hỏi cấp bách là nên xuống thang hay leo thang khi cuộc bầu cử đang tới gần. Cuộc tranh luận cô lập hay can thiệp từ thời Franklin D. Roosevelt lại nổi lên với “những vấn đề phương Đông” – Israel-Iran, Syria ở Trung Đông và Biển Đông ở Viễn Đông. Dường như Mỹ đang cảm thấy có trách nhiệm can thiệp vào trên cơ sở để bảo vệ lợi ích của mình, không chỉ về mặt thương mại mà cả về địa chính trị, trong khu vực.

Sau khi đóng một vai trò quan trọng trên phạm vi toàn cầu trong gần nửa thế kỷ, Mỹ sẽ thận trọng hơn với những hành động có thể đánh mất sự kiểm soát cho đối thủ, đặc biệt là Trung Quốc. Sự can thiệp của Mỹ có thể có khả năng gây nguy hiểm cho mối quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc, khi mà mức độ căng thẳng nào đó đang tồn tại dưới lớp vỏ hài hòa, đe dọa dẫn tới sự rạn nứt “đại hồng thủy”. Có rất nhiều bất đồng từ cả hai bên, với Trung Quốc nghi ngờ Mỹ cố tình gây cản trở sự vươn lên về quân sự và kinh tế của mình.

Hậu quả, sự tiếp tục chính sách bên miệng hố chiến tranh quân sự của Trung Quốc sẽ là trao lợi thế cho phía Mỹ. Điều này sẽ tạo cho Mỹ cái cớ để triển khai theo ý mình trong tình huống này, đứng về phía các quốc gia nhỏ hơn trong khối ASEAN. Nếu Trung Quốc thể hiện lập trường hài hòa với các nước láng giềng, Mỹ sẽ rất khó tham gia về mặt ngoại giao. Mặc dù tính chất chính trị bầu cử ở trong nước, Mỹ sẽ vẫn đảm nhận tốt vai trò của người quan sát thận trọng trong cuộc xung đột, và để cho các bên liên quan trong khu vực đi đến một giải pháp hòa bình.

Việt Nam và Philippine: Lựa chọn nào?

Trong lời cáo buộc mạnh mẽ sau khi không thể đưa ra thông cáo chung, Philippine đã nhắc đến Trung Quốc là “láng giềng phương Bắc” và thẳng thắn nêu ra nhu cầu cần phải giải quyết đa phương hơn là thảo luận song phương. Những hành động ăn miếng trả miếng giữa các bên càng làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn. Các nước nhỏ hơn rõ ràng có lý do để lo ngại về sự chuyển dịch cán cân quyền lực trong khu vực. Nỗ lực quốc tế hóa vấn đề đi ngược với nỗ lực khu vực hóa của Trung Quốc. Sự bế tắc này có thể nhanh chóng leo thang hơn nữa nếu không có những cuộc đối thoại tích cực.

Mối quan hệ về thương mại với Trung Quốc đã đặt Việt Nam và Philippine vào thế yếu hơn trong các cuộc đàm phán với Trung Quốc trong phạm vi kinh tế, quân sự. Theo một số cách, các nước nhỏ có thể tìm sự ủng hộ từ phía Mỹ nếu Trung Quốc vẫn ngoan cố leo thang đối đầu.

Trung Quốc nên góp phần củng cố an ninh khu vực

Cũng trong thời điểm này, rắc rối giữa Trung Quốc và Nhật Bản vẫn đang âm ỉ xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông. Những tuyên bố cứng rắn của Trung Quốc có nguy cơ đẩy một tranh chấp lãnh thổ nữa giữa hai nước láng giềng vốn không ưa nhau vượt ra khỏi tầm kiểm soát. Các nhà hoạt động Trung Quốc đã đổ bộ lên các hòn đảo và truyền thông Trung Quốc lập tức nắm bắt lấy những hình ảnh này để thổi bùng tinh thần chủ nghĩa dân tộc. Khi các nhà hoạt động Nhật Bản đáp lại, các cuộc biểu tình chống Nhật Bản lập tức nổ ra ở khắp Trung Quốc. Vấn đề lãnh thổ có xu hướng dễ dàng làm kích động tâm lý dân tộc chủ nghĩa của dân chúng. Đây sẽ là một vấn đề mà các chính phủ rất cần thận trọng giải quyết nếu nó vượt quá ngưỡng chịu đựng.

Một mặt, Trung Quốc tuyên bố đây là vấn đề chủ quyền, do đó nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của UNCLOS; mặt khác cũng thể hiện sẵn sàng khẳng định các tuyên bố chủ quyền trong khu vực. Tuy nhiên, Trung Quốc không nên leo thang sức mạnh hải quân và thay vào đó dành sức lực cho các nỗ lực đảm bảo an ninh khu vực. Quyết tâm của Trung Quốc sẽ được chào đón, nếu nó hướng tới đạt được giải pháp đa phương cho vấn đề và không đi quá phạm vi các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Một sự phân phối cân bằng và khai thác chung các nguồn tại nguyên dầu khí dưới đáy biển có lẽ là giải pháp hợp lý nhất cho các bên liên quan trong khu vực. Tuy nhiên, triển vọng giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa các bên tuyên bố chủ quyền còn rất mờ nhạt, nếu không nói là đang sa lầy trong bế tắc. Thái độ của các bên đang làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang. Trong khi đó, sự trung gian hòa giải của Mỹ có thể đồng nghĩa với việc làm sứt mẻ hình ảnh của Trung Quốc với tư cách là một nhà lãnh đạo có trách nhiệm mới trên trường quốc tế.

Đình Ngân (theo foreign policy journal)

%d bloggers like this: