Lưu trữ | 11:20 Chiều

VIẾNG NÚI BÀ TÂY NINH

1 Th1

VIẾNG NÚI BÀ TÂY NINH

 

Ngàn dặm uy linh tiếng tỏa xa,

Núi non như dệt gấm, thêu hoa.

Ngoài sân hương khói bong hai mắt,

Trong cốc tiên nương ngự một tòa.

Trên án ê hề mâm ngũ quả,

Dưới thềm ngồn ngộn đít trăm bà!

Cầu xin cũng phải lo quà cáp,

Trong giới thánh thần cũng thế a?

 

Kha Tiệm Ly


KHA TIỆM LY

99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang

Tel: 0987  701  952   –   01229  880  130

Email: khatiemly@gmail.com

 

Vấn đề nan giải dịch chương Nhã Ca trong cựu ước – Tác phẩm tình dục tuyệt tác của nhân loại – VHNA

1 Th1

Thứ hai, 31 Tháng 12 2012 20:23

Vấn đề nan giải dịch chương Nhã Ca trong cựu ước – Tác phẩm tình dục tuyệt tác của nhân loại

  • Email
  • In

Nhã Ca là một tác phẩm văn chương cổ đại của dân tộc Do Thái, cách chúng ta khoảng 630 năm trước Tây lịch. Một áng văn chương trữ tình, mỹ tình dục nói lên lời yêu đương tình cảm và thân xác đôi trai gái. Một tác phẩm tuyệt tác trong kho tàng văn học nhân loại. Vào thời đại đồ sắt, nước Do Thái bị chia đôi làm hai nước và 12 bộ tộc, để thống nhất dân tộc Do Thái bị chia rẽ, ảnh hưởng việc vua Ai Cập đương thời chủ trương một vị thần duy nhất là thần Mặt Trời, thay vì hàng ngàn thần, vị vua đương thời Josias đã đề ra 7 điều thống nhất: Một vị thần Yavée duy nhất cho dân Do Thái, một dân tộc duy nhất, một vị vua duy nhất, một bộ sách giáo khoa duy nhất, một thủ đô duy nhất là Jérusalem, một ngôi đền duy nhất, một nghi lễ tôn giáo Do Thái Giáo duy nhất. (Xem Israël Finkelstein et Neil Asher Silberman. La Bible dévoilée. Bayard. Paris 2002.)

Bộ sách giáo khoa Cựu Ước duy nhất của dân tộc Do Thái, được các « học giả tiên tri » đương thời san định từ 39 quyển sách chép tay trên da cừu.. Gồm bốn đề mục: 5 quyển sách của Moise, 12 quyển sách về các vua Do Thái, 5 quyển sách văn thơ , và 17 quyển sách các tiên tri. Còn khoảng 40 quyển khác có kể tên nhưng đã thất truyền. Sự ra đời của Cựu Ước đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, chữ viết đã hoàn chỉnh, chữ viết đầu tiên của nhân loại được tìm thấy trên thẻ đất nung vùng Lưỡng Hà, trên mui rùa tại Trung Quốc. Tại Trung Quốc Khổng Tử san định Tứ Thư, Ngũ Kinh chép trên các thanh tre (thanh sử). Tại Ấn Độ các nhà sư Phật Giáo tổ chức kết tập kinh điển ghi chép những lời Phật dạy chép trên lá bối, lá buôn và kết lại bằng hai sợi dây hai đầu gọi là kinh. Tại Hy Lạp, Thơ Homère được ghi chép trên giấy da, Aristote chép lại những lời dạy của Socrate, Platon.Tại Ai Cập sách Tử Thư viết về việc ướp xác, dẫn hồn người đi về cõi bất tử, chép trên giấy thủy trúc, dòn dễ gảy. Nền văn minh Hy Lạp đã tiếp nối Ai Cập thiết lập tại Alexandrie và Athène những thư viện đầu tiên với hàng trăm ngàn cuộn sách da. Hiện nay trong số 1600 văn bản giấy da trước công nguyên, tìm thấy được ở Ai Cập, phân nửa là văn bản thơ Homère. Có hai vùng biết làm giấy trong thời đại này là vùng Ai Cập làm giấy bằng cây thủy trúc và Nam Trung Quốc, Giao Châu làm giấy bằng vỏ cây dó, cây tràm. Ngày xưa chưa có kỹ thật để nghiền gỗ thành bột giấy, kỹ thuật làm giấy thủ công nghệ dùng thân cây thủy trúc mềm, lột vỏ cán mỏng, hay vỏ cây dó cây tràm bốc ra thành từng tờ, dùng một lớp nhựa cây, hay bột nấu là có thể kết dính thành giấy như làm bánh tráng. Nhưng giấy tại Giao Châu mềm và bền hơn. Thế kỷ thứ 10, thương thuyền Á Rập, bắt cóc được một người Giao Châu đem về để dạy nghề làm giấy, từ đó kỷ thuật làm giấy tại các nước Á Rập phổ biến sang Tây Phương.

Năm quyển sách văn thơ trong Kinh Thánh gồm: Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn, Truyền Đạo và Nhã Ca.

Tương truyền chương Nhã Ca của Vua Salomon, nhưng có lẽ là những bài thơ vua Salomon ưa thích thì đúng hơn, vì các bài thơ tả tình yêu của một cô gái thành Jerusalem với một anh chăn cừu, và có đoạn tả vua Salomon, lẽ nào vị vua lại tả mình. Chương Nhã ca gây rất nhiều tranh luận, và làm khó chịu các nhà tu hành Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo. Vì sao một quyển sách nhỏ thơ dâm tình, hay mỹ tình dục lại lọt vào bộ sưu tập Thánh Kinh ? Có người cho rằng nó dùng để hát trong nghi lễ động phòng hoa chúc. Có người cho đó là tình yêu của Chúa với Giáo Hội, hay Chúa với dân tộc Do Thái. Tuy nhiên toàn bộ các bài thơ này không có câu nào cầu chúa, hay lời của chúa, mà chỉ nói chuyện tình yêu, tình dục tự nhiên, không theo phép tắc lễ nghĩa đương thời, nhất là luật Do Thái, trai gái giữ trinh tiết trước khi hôn nhân . Các bản dịch cố gắng giảm bớt những sống sượng, thay vì gọi là âm hộ thì gọi là cái rún hay ổ gà « Rún nàng giống như cái ly tròn, rượu thơm không có thiếu » Thánh Kinh, Nhã Ca tr 794 . Bài thơ thứ chín lược dịch động tác làm tình lộn ngược 6,9 : « Và ổ gà mình như rượu ngon.. Chảy vào dễ dàng cho lương nhơn tôi. Và tuôn nơi môi kẻ nào ngủ. » Kinh Thánh, Nhã Ca 7 :6 trang 795.

Trong tiến trình văn minh của nhân loại, sau thời gian xuất hiện khoảng 5 triệu năm của con người, văn minh nhân loại chỉ xuất hiện mới khoảng 5000 năm với nền văn minh Ai Cập, từ ba ngàn năm nay sự tiến bộ nhân loại ngày càng nhanh chóng với sự ra đời các tôn giáo, chữ viết, các bộ sách, các trường ca, sử thi.. Các bộ tộc thành hình từ những đơn vị một vài chục ngàn dân, cai trị bởi một người có sức mạnh nên sống lâu hơn những người khác, thuở ấy nhân loại chỉ thọ trung bình khoảng 30 tuổi, nhưng thời ấy chưa phát minh ra số, các chữ viết con số có nguồn gốc tại Ấn Độ thời Đức Phật. Do đó trí nhớ người thời cổ đại trong Thánh Kinh Do Thái thường gán cho họ sống 400, 500, 200 năm, ông Bành Tổ của Trung Quốc sống đến 900 năm. Yahvé của dân tộc Do Thái có nguồn gốc là một thầy mo, thầy phù thủy, thầy đồng bóng, hay còn gọi là tiên tri, lãnh tụ của bộ tộc tương tự như vua Hùng Vương của Việt Nam ta, có nguồn gốc là một người có sức mạnh giết được con cá sấu hung dữ (đánh thủy quái), chặt được cái cây to lớn (đánh mộc tinh), đánh bẩy được con cáo khôn ngoan phá hoại mùa màng (đánh hồ tinh).. được dân chúng kính phục tôn làm lãnh tụ. Các « tiên tri » làm được các phép lạ, biết dùng cây cỏ chữa bệnh, biết dùng phân dơi làm nổ, bốc cháy hay học được phép đi trên lửa, cầm than hồng trên tay, chạy phóng nhanh trên núi, chạy lướt trên nước (điều này không lạ với sự luyện tập phái võ Thiếu Lâm, hay các nhà sư Tây Tạng..) Tiên tri, thầy mo, thầy phù thủy, ông đồng, bà bóng có mặt khắp các nền văn minh, nối dây liên hệ giữa người sống và người chết. Ngày nay chúng ta nhìn với cặp mắt hiện đại nhìn việc « lên đồng » là « mê tín », nhưng lên đồng có một vai trò rất quan trọng trong lịch sử văn minh con người. Vì bản năng con người do sự chống chọi với thiên nhiên, bảo vệ sinh tồn của mình nên rất hiếu chiến, hiếu chiến với các bộ lạc khác, và hiếu chiến cả với những người lân cận, người lên đồng dựa trên sự quan hệ với thần thánh, để thiết lập sự cai trị. Ở vùng cận đông gọi là các nhà tiên tri, họ là người tự nhận có năng khiếu mặc khải được với thần thánh. Họ là người duy nhất tiếp xúc được với thần thánh, sau một nghi lễ cúng tế múa may, thần nhập vào họ phán truyền. Những điều được xem là lời Chúa, lời Yahvé, truyền qua lời các tiên tri. Ở Hy Lạp nên văn minh tiến xa hơn, nơi đầu tiên hình thành các khoa học, họ xem « lên đồng » là nguồn gốc của kịch nghệ, người kịch sĩ viết kịch nhập vai nhân vật, và họ đùa bởn cả với các thần thánh Hy Lạp. Trong Odyssée của Homère có đoạn biểu diễn một vở hài kịch thần Vệ Nữ ngoại tình với thần Chiến tranh, bị chồng là Thần Hoả Thái làm máy bẩy trên giường bắt nhốt hai thần dính vào nhau không cục cựa được, phải nhờ các thần khác hoà giải, bảo lãnh mới được tha.

Trong buổi bình minh con người, người tiên tri « lên đồng » thiết lập trật tự trong cộng đồng : Ví dụ Anh A đánh anh B mù mắt, hay gảy răng, qua hôm sau anh B trả thù, ăn gan, uống máu anh A, bỏ anh A vào nồi nấu, hay « xơi tái ». Các sự kiện này vẫn còn xãy ra ở các bộ tộc các đảo Thái Bình Dương, hay Châu Phi cách đây vài chục năm. Làm thế nào để người tù trưởng thiết lập luật lệ : Anh A đánh B mù con mắt, thì B chỉ có quyền đánh A lại mù mắt. A đánh B gảy răng, thì B đánh A lại gảy răng không có quyền bỏ A vào nồi ăn thịt. Tù trưởng mà ăn nói lơ mơ, có khi B sẽ ăn thịt cả tù trưởng. Để thiết lập uy quyền tù trưởng, ban đêm đốt lửa lên đồng, uống rượu hay dùng các cây cỏ kích thích, nhảy múa và đóng kịch : Thần Yahvé hiện ra phán rằng : « A đánh B đui một mắt, thì B đánh lại A đui mắt, A đánh B gảy răng thì đánh lại nó gảy răng, mi ăn thịt nó sẽ bị Yahvé trừng phạt móc cổ mi ói mửa ». Yahvé là thần khai sáng cả vũ trụ, sanh ra muôn loài, chúa tể vũ trụ, chẳng ai biết ; nhưng ói mửa là việc có thật do ăn thịt sống không tiêu, nên rạp mình cầu xin Yahvé tha tội, và được tiên tri cho cây lá chữa bệnh. Tấm gương B bị Yahvé trừng phạt được loan truyền thế là luật : « mắt thay mắt, răng thay răng » được thiết lập.

Yahvé xuất thân là người thủ lãnh có làm nhiều điều tốt, dân chúng nhớ ơn, nên các đời sau khi có điều gì khó khăn đều lên đồng, cầu Yahvé qua miệng người tiên tri phán xét : Kinh Ê sai, Thánh Kinh trang 800 3 :16 ta nghe lời lẽ một người « lên đồng » mắng các cô gái Si ôn lẵng lơ :

« Đức Giê hô va phán rằng :

« Vì những con gái Si ôn kiêu ngạo, ngóng cổ bước tới, liếc mắt trêu ngươi, vừa đi vừa ỏng ẹo, vừa khua động tiếng dưới chơn, nên Chúa sẽ làm cho đỉnh đầu con gái Si ôn đóng vẩy và Đức Giê hô va sẽ lột truồng chúng nó. »

Thời cổ đại, vùng Sion ít sông suối các cô gái ít tắm gội, tóc dài trùm khăn kín cả người, bị gàu đóng vẩy trên đầu, ngứa ngáy. Quen trùm khăn đen cả người chỉ thấy có hai con mắt, bị Yahvé doạ lột truồng là một « hình phạt khủng kiếp ». Chương Khải Huyền nói về tận thế chúng ta thấy tiên tri hay người lên đồng dùng ma túy kích thích, nên hình ảnh chập chờn, nói lên những lời siêu thực.

« Đoạn, tôi thấy ở dưới biển lên một con thú có mười sừng, bảy đầu, trên những sừng có mười cái mão triều thiên và trên những đầu có danh hiệu sự phạm thượng. Con thú tôi thấy đó giống như con beo, chơn nó như chơn gấu, miệng như miệng sư tử và con rồng đã lấy sức mạnh, ngôi và quyền phép lớn mà cho nó… » Khải huyền 12.12 tr 318.

Đồng thời với Thánh Kinh, trong Truyện Thơ Odyssée của Homère, Ulysse, vua một bộ tộc Hy Lạp đảo Ithaque cũng cầu tiên tri Tirésias để báo cho các biến cố sắp đến, và gặp lại mẹ đã mất, cũng như gặp lại hồn các phu nhân, các anh hùng Hy Lạp. (Xem Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh. Truyện Thơ Odysée. Thi hào Homère qua 12110 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2005 ; tr 85-195.)

Trong Sử thi Iliade, tiên tri Calchas đi theo đoàn quân đánh thành Troie, khi khai quân, khi có trận dịch, hay khi có điềm chim trời, thường cầu đảo, cúng tế để tìm ra câu giải đáp : (Xem Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh. Sử thi Iliade Thi hào Homère qua 16933 câu thơ lục bát. Khuê Văn Paris 2009.)

Thời thượng cổ, con người sống rất đơn sơ. Người ta chỉ biết có mẹ, mà không biết có cha. Loài người còn sống trần truồng sống hái lượm cây trái trong rừng, sau khi ăn xong bên đống lửa thì thích ai làm tình nấy, nên không biết ai là cha. Dần dà việc săn thú ăn thịt làm bộ óc con người phát triển hơn, đàn ông đi săn trở nên có sức mạnh họ dành riêng những người đàn bà cho mình. Nhưng loài người vẫn còn đa thê, đàn ông nhiều vợ. Từ đó mới có tình yêu nam, nữ. Đến Đức Jésus dạy dỗ gia đình chỉ một nam, một nữ và tình thương yêu và gia đình, một tiến bộ nhân bản của nhân loại. Giá trị đó ngày nay trở thành luật lệ và đạo đức cho toàn nhân loại. Và ngày nay chúng ta dùng giá trị đó để phát xét lại các thời đại trước.

Bản năng con người có nhiều động thái súc vật, tiềm ẩn, không chỉ tham sân si, mà còn dục vọng, thích ăn thịt người, thích dâm dục. Một vị Tổng Giám Đốc ngân hàng quốc tế FMI, tài giỏi biết bao, dân chúng Pháp sẵn sàng bầu làm Tổng Thống, thế mà không kiềm chế nổi cái dục, để cô bồi phòng xấu xí kiện cáo, thế là sự nghiệp tan tành ra mây khói. Một quan tòa, đang giữa phiên toà bổng rơi vào tình trạng mất trí, ngồi thủ dâm. Một sinh viên tiến sĩ Nhật du học tại Pháp, con một nhân vật quan trọng Nhật Bản, ăn thịt một cô bạn người Hoà Lan tại Paris. Một thanh niên người Đức tìm người để ăn thịt trên internet, thế mà cũng có người tìm đến để được ăn thịt.. Không phải chuyện cách đây hai ba ngàn năm mà là chuyện trong thế giới hiện đại.

Nghi lễ ăn mình Chúa, uống máu Chúa trong Thiên Chúa Giáo, đáp ứng được nhu cầu bản năng con người thời nguyên thủy còn tồn tại trong mỗi cá nhân, thích ăn thịt uống máu lẫn nhau. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh đáp ứng nhu cầu thích nói chuyện dâm tục trong mỗi con người, người nông dân gặp nhau sau vụ gặt, nói chuyện với nhau rồi cũng đem chuyện dâm ra đùa bởn, ngày nay bạn bè cũ lập lại thành một mạng trên internet, trao đổi nhau thế nào cũng có những chuyện cười dâm tục. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh đáp ứng nhu cầu tiềm tàng dâm tục của con người.

Trong các tác phẩm dân ca văn chương của người da đỏ tại Mễ Tây Cơ, Péru.. họ mô tả cảnh làm tình, tinh trùng bắn tung tóe vào mặt rất tự nhiên. Tại Ấn Độ những đền tháp Khajuraho đầy tượng điêu khắc cảnh làm tình tập thể, người lớn với con nít, trai gái lẫn lộn cả cảnh ngựa với người, voi với người thật hổn loạn, làm cho người nhìn cho đã đời no nê cái bản năng dâm tục tiềm ẩn trong mỗi người.

Thiên Chúa Giáo có nguồn gốc từ Do Thái Giáo, Chúa Jésus giảng dạy những điều không ngoài bộ sách này, nhưng bản tính cương trực, đuổi các người buôn bán thần thánh ra khỏi nhà thờ, nên không được các lãnh đạo Do Thái Giáo đương thời chấp nhận, nên họ vu cáo là “cách mạng” chống chính quyền đô hộ của La Mã đương thời. Chúa Jésus bị bắt và xử tử đóng đinh năm 33 tuổi. Các môn đệ bị truy lùng với lòng mơ ước Jésus không chết, còn sống sẽ trở lại, phải lẫn tránh đi khắp nơi để truyền đạo qua khắp các nước Cận Đông, họ bị bức tử, cấm đạo khắp nơi, người ngoài dân tộc Do Thái ngày một nhiều và biến thành một tôn giáo cả hoàn cầu. Nhưng tôn giáo này vẫn giữ bộ sách nguyên thủy làm sách duy nhất của dân tộc Do Thái giảng dạy ngày nay gọi là Cựu Ước và Tân Ước gồm 27 quyển là 4 môn đệ kể chuyện Chúa Jésus và lời Thánh Paul được xem là người tổ chức sáng lập tôn giáo. Khác với các kinh điển đạo Phật, đạo Khổng chỉ dạy lời đạo đức ; Quyển Cựu Ước kể trong sách tất cả những xấu xa, tội lỗi của cuộc đời : chuyện anh em giết nhau, cha lấy con loạn luân, thành Sodome làm tình hổn loạn, con người thờ tiền bạc, thờ bò.. Bản chất con người là tội lỗi, chỉ Yahvé mới cứu được con người.

Bản dịch Thánh Kinh đầu tiên được các vị Thừa Sai Bồ Đào Nha và Pháp soạn thảo tại Việt Nam từ thế kỷ 17, các vị thừa sai ngoại quốc mới học tiếng Việt vài ba năm nên dịch kinh lời lẽ ngây ngô. Người đọc không thông, không hiểu Nhã Ca nói gì, chữ nghĩa chập chờn kỳ quái, lại thêm các giống cây cỏ, hương liệu, hình ảnh sa mạc, đàn dê, đàn cừu, các địa danh Do Thái tiếng Việt không có, phải Việt hóa ra sao ? Ta thử đọc một đoạn:

“Nguyện người hôn tôi bằng cái hôn của miệng người.

Vì ái tình chàng ngon hơn rượu,

Dầu chàng có mùi thơm tho;

Danh chàng thơm như dầu đổ ra;

Bởi cớ ấy các gái đồng trinh yêu mến chàng.

Hãy kéo tôi; chúng tôi sẽ chạy theo chàng.

Vua đã dẫn tôi vào phòng Ngài.

Chúng tôi sẽ vui mừng và khoái lạc nơi chàng.”

Đoạn thơ tả cô gái xinh đẹp cái gì cũng sánh đôi không gì riêng lẻ (Chacun a sa jumelle et nulle n’en est privée): hai gò má, hai cái môi, hai cái vú thì lại hiểu lầm là con cừu thảy đều sanh đôi, không con nào son sẻ:

Hỡi bạn tình ta, nầy mình đẹp đẽ thay , mình đẹp đẽ thay !

Mắt mình trong lúp giống như mắt bồ câu;

Tóc mình khác nào bầy dê nằm nơi triền núi Ga -la –át,

Răng mình như thể bầy chiên mới hớt lông,

Từ ao tắm rửa đi lên,

Thảy đều sanh đôi, không một con nào son sẻ.

Môi mình tơ sợi chỉ hồng,

Miệng mình có duyên thay,

Má mình trong lúp tợ như nửa quả lựu.

Cổ mình như tháp Đa vít, xây cất để treo binh khí,

Ngàn cái khiên treo tại đó, là các khiên của tay anh hùng.

Hai nương long mình như cặp con sanh đôi của hoàng dương,

Thả ăn giữa đám hoa huệ. “

Câu: Mon bien aimé est frais et vermeil (Người yêu tôi tươi mát và hồng hào) dịch thành : Lương nhân tôi trắng và đỏ.

Tóm lại hàng bao nhiêu năm qua, bao triệu người Việt Nam đọc bản Nhã Ca, Kinh Thánh mà chẳng ai hiểu gì cả ! Hiểu trật và dịch trật từng câu. Nêu hết các câu trật có người lại hiểu lầm là chống lại thánh kinh, lỗi đức bác ái. Bao năm qua hàng trăm vị linh mục, mục sư được du học, đỗ Tiến Sĩ Thần Học, nhiều vị sáng suốt đã thấy khuyết điểm này, nhưng lại bị kẹt giữa vấn đề làm linh mục, mục sư mà phải dịch những đoạn thơ đầy dục tình, tả thân thể người con gái, tả việc làm tình thì “tội nghiệp” cho chức vị linh mục. Các vị giỏi tiếng Pháp thì tiếng Việt lại không rành, không biết làm thơ Việt. Người biết làm thơ lại không rành tiếng Pháp, thì nói chi phải tham khảo bằng tiếng Do Thái và từng đi qua vùng này để thấy cây cỏ, khí hậu. Vấn đề khó khăn là phải dịch làm sao cho thấy cái tình yêu thanh tao, trinh khiết của đôi trai gái mà không sa vào dâm tục. Từ tình yêu vùng sa mạc xứ nuôi dê, cừu, chuyển vào Việt Nam đã thấm nhuần đạo đức Phật Giáo, Khổng Giáo mà không thấy chướng tai, gai mắt.

Những điều ngày xưa, xem là thiêng liêng không ai dám đụng đến đều được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn đem ra khảo sát. Thời Trung Cổ, quyển Kinh Thánh chỉ dành riêng cho các linh mục, đọc và diễn giảng cho tín đồ. Từ thế kỷ 15 đạo Tin Lành ra đời chủ trương mọi tín đồ đều đọc được Kinh Thánh. Ngày nay thì ai cũng có thể mua Kinh Thánh để đọc để biết trong Kinh Thánh viết gì ?. Chương Nhã Ca trong Thánh Kinh người Do Thái không phải là lời Chúa mà chỉ là một tác phẩm văn chương. Cái hay cái đẹp của tác phẩm này phải được dịch ra để người Việt Nam hiểu rõ, để thưởng thức, không thể để tác phẩm trong mơ hồ, xem sự mơ hồ là siêu việt, thiêng liêng người nào không hiểu cái siêu việt đó là dốt thì cũng giống như chuyện ông vua ở truồng của Anderson, bị lường gạt bởi hai tên gian manh là mặc bộ áo trí tuệ, người thông minh mới thấy. Vua không hiểu nhưng sợ mình dốt nên hãnh diện trong sự trần truồng của mình, quần thần nịnh bợ ca tụng là vua mặc áo trí tuệ, thi sĩ tâng bốc áo người đại trí, dân chúng sợ hải uy quyền không dám nhìn và cứ thế vua trần truồng nhỡn nhơ đi kiệu cả ngày trong thành, cho đến khi một em bé cất tiếng : « Vua trần truồng như nhộng », thì vua và mọi người mới tỉnh thức.

Kinh Kim Cương Phật Giáo được Bảng Nhản Lê Quý Đôn ca tụng không tiếc lời, nhưng thi hào Nguyễn Du đọc nghìn lượt vẫn thấy : Những ý nghĩa gọi là sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng và quan niệm rằng Nghìn lời lưu lại ích chi, chỉ để bọn ngu tằng đời sau đọc điếc tai người ta. Không ai cho rằng Nguyễn Du phản đạo, phá hoại đạo, ma quỷ xúi dục, mà mọi người đều đồng ý với Nguyễn Du. Kinh điển, văn chương, thi ca cũng phải rõ ràng, để ai cũng hiểu được, nếu mọi người không hiểu thì lẽ vì đâu ? Nhiệm cụ của dịch giả, của nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu phải làm sáng tỏ. Bản dịch Nhã Ca được các vị thừa sai thiếu trình độ dịch thuật, chữ nghỉa lủng củng, câu cú không thông, cần phải được dịch lại.

Giáo Sư Đào Mộng Nam cũng đã dịch chương Nhã Ca và in thành sách tại California nhưng bản dịch vẫn chưa đáp ứng lại điều mong muốn. Tôi đã từng học Hán Văn với GS Long tại Hội Khổng Học Sài Gòn, năm 1967.

Tôi có hai người bạn rất thân là: Giáo Sư Võ Thu Tịnh, tác giả các sách Giáo Khoa Việt Văn Trung Học, từng là môn sinh của Giáo Sư Nghiêm Toản tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Giáo sư Tịnh giảng dạy Văn Chương Việt Nam đào tạo các mục sư Tin Lành tại Hải Ngoại và Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Đán Bình, linh mục dòng Xuân Bích Saint Sulpice, phụ trách Ban Việt Học. Trường Ngôn Ngữ Phương Đông, Viện Đại Học Paris VII.

Biết tôi ngoại đạo nhưng đã có kinh nghiệm dịch thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và mười năm dịch Odyssée và Iliade, 30 000 câu thơ ra thơ lục bát, tác phẩm nổi tiếng khó dịch thơ nhất của nhân loại, hai vị tặng cho tôi các quyển Thánh Kinh Pháp và Việt và nhờ tôi làm công việc khó khăn này. Theo hai vị thì sách Nhã Ca khó dịch nhất, và dịch thành thơ Việt thành công thì xưa nay chưa ai làm được. Và sau đây là bản dịch của tôi: theo La Bible de Jérusalem. Eds du Cerf & Desclée de Brouwer Paris 1999, và quyển Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. United Bible Societies in tại Đại Hàn năm 1994. Ngoài ra tôi còn tham khảo La Bible . Nouvelle traduction Bayard 2001 và Ancien Testament. Traduction œcuménique de la Bible. Eds Cerf. 1977. Các sách này dễ dàng có được nên bài viết này lược bớt phần trích dẫn bản dịch tiếng Pháp, tiếng Anh, để nguyên tác chữ Do Thái thì cũng chẳng ai đọc được.

Tiếc thay lúc hai vị nhờ tôi, thì tôi đang bận phải hoàn tất hai quyển Odyssée và Iliade ra thơ lục bát và bận soạn quyển Tự Điển Tình Yêu bằng thơ tình Xuân Diệu mà nhà thơ Xuân Diệu ký thác tôi toàn bộ di cảo từ năm 1981. Bây giờ tôi dịch xong thì GS Võ Thu Tịnh và LM Phạm Đán Bình đã qua đời hai năm rồi. Bản dịch này để tưởng nhớ hai người bạn vong niên thân thương.

Mục đích bản dịch này, là mong chuyển được cái hay cái đẹp của thi ca cổ đại Do Thái ra Việt ngữ, để mọi người Việt Nam thưởng thức. Và bác bỏ cái thần thoại, hiểu theo nghĩa nông cạn đây là lời Chúa phán truyền, tự tay Chúa hay sai các tiên tri chép ra, mà phải hiểu và đặt câu hỏi : vì đâu con người thích hướng đến cái đẹp, cũng như cái chân, cái thiện. Cái đẹp nó tồn tại từ ba ngàn năm qua. Người dịch giả không chịu được những câu thơ xấu xí, thô kệch, hiểu sai làm cho một áng văn kiệt tác bị vùi vào vũng bùn. Người Hồi Giáo gọi cái đẹp là Thượng Đế, người Thiên Chúa Giáo gọi tình yêu là Thượng Đế. Cái cao vời tuyệt diệu nằm trong đó. Chứ không phải là một chương, một quyển sách nhân danh là của Thượng Đế.

NHÃ CA

Nhã ca của vua Sa–lô–môn

bản dịch của TS PHẠM TRỌNG CHÁNH

DẠO KHÚC

NGƯỜI YÊU NỮ Môi uống làn môi say rượu đào,

Tình chàng mơn trớn rượu thanh tao ;

Danh chàng như tựa dầu hương đổ,

Bao gái xuân thì yêu xuyến xao .

Kéo bước em đi, chân chạy nhanh,

Quân vương đưa gót đến cung phòng ;

Là cả niềm vui và lạc thú,

Dâng hiến yêu đương chén rượu nồng.

CHÚ THÍCH :

Le Cantique des Canthiques : có nghĩa le chant des chants, bài hát hay nhất trong những bài hát. Đây là những bài hát hay nhất của vua Salomon. Vua Salomon ngày xưa có một harem, rất nhiều vợ. Điều này khác với Chúa Jésus chủ trương một vợ. Salomon có nghĩa là Thái Bình.

Gái xuân thì : gái đến tuổi lấy chồng, có con , nhưng chưa có.

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

NGƯỜI YÊU NỮ : Em gái Giê ru sa lem, xinh đen da,

Như lều Quế Đa, màng San Ma ;

Mặt trời rạm nắng màu da mật,

Chớ có nhìn em vì màu da.

Các anh trai đã giận gì tôi ,

Bắt giữ vườn nho dang nắng trời,

Và tôi chẳng giữ,

Mảnh vườn tôi !

Chàng của lòng em hãy nói đi :

Từ phương nào đến, chàng chăn bầy ;

Nơi đâu chàng nghỉ trời trưa bóng ?

Em biết tìm chàng, chẳng lạc đây !

Gần bên bầy thú, bạn sum vầy.

HỢP XƯỚNG Hỡi chàng có biết một cô gái xinh,

Lần theo bầy thú, theo bước chân ;

Theo chàng theo dấu bầy dê bước,

Bên lều mục tử đã lên gần.

NGƯỜI YÊU NAM Hỡi người tình xinh

như ngựa xe Ai Cập Vương,

Cổ ngọc trân châu đẹp tuyệt trần ;

Giữa vòng bạc, má xinh hồng thắm,

Anh sẽ cho em bạc vàng vòng.

CÙNG HÁT Khi Quân Vương ngự dự tiệc trần,

Hương sắc lòng tôi tỏa hương xuân,

Người yêu tôi đóa hoa mộc dược,

Ngủ giữa lòng tôi đôi vú căng.

Người yêu tôi tựa chùm hoa phượng,

Trong Suối Dương vườn nho xanh.

Người anh yêu hỡi, em xinh lắm,

Đôi mắt em xinh

Như bồ câu.

Người em yêu hỡi trai thanh lịch,

Giường chúng ta xanh màu lá xanh.

Sườn mái nhà ta bằng gỗ bách,

Vách ván tường ta bằng gỗ tùng.

Tôi đóa thủy tiên vùng Sa Long ,

Là hoa huệ chốn thung lũng xanh;

Người tình ta giữa bầy xuân nữ,

Như đóa huệ thơm giữa gai đồng.

Như cây táo giữa vướn cây lá,

Bạn tình ta giữa trai thanh xuân.

Trong bóng chàng tôi ngồi lòng vui,

Trái chàng dịu ngọt cung tình tôi;

Chàng đưa tôi đến phòng tiệc yến,

Tình yêu cờ xí lộng trên người.

Nâng lấy lòng tôi như bánh nho,

Hồi sinh tôi với trái thơm tho;

Vì tôi nhuốm bệnh đau tình ái,

Tay trái chàng nâng lấy đầu tôi,

Tay phài chàng ôm xiết người tôi.

Tôi van xin

Các nàng xuân nữ Giê ru sa lem,

Bằng gót chân hoảng chân nai đồng nội,

Chớ làm kinh động, đánh thức ái tình ta,

Trước giờ hoan lạc.

CHÚ THÍCH

Đen da: cô gái không phải da đen như người Nam Phi Châu, mà da rạm nắng vì phơi nắng, giữ vườn nho.

Lều Quế Đa cung San-Ma : tentes de Qédar, rideaux de Salomon, Lều bằng da dê màu đenhình ảnh tương phản với cô gái đen sạm nắng và đẹp.

Tình yêu: trong tiếng Do Thái chơi chữ: vuốt ve và yêu mến có nghĩa là tình yêu.

Giê ru sa lem : Jérusalem, Kinh đô nước Do Thái, theo các nhà khảo cổ, cách đây 3000 năm chỉ có khoảng 15 000 dân.

Ai Cập Vương : Pharaon, Vua Ai Cập.

Gỗ bách, gỗ tùng: ta có thể hiểu hai người gặp nhau trong thiên nhiên lá xanh dưới gốc cây bách Ly Băng tán rất rộng như sườn nhà, và rừng cây tùng như vách chung quanh.

Suối Dương : En-Gaddi có nghĩa là suối các con hoảng, con dê.

Thủy tiên: có bản dịch là hoa hồng.

Sa Long : Saron vùng đồng bằng ở phía nam Carmel.

Cây táo : Chàng như cây táo , giữa các cây lá không mùi vị, không ăn được, cây táo có vị thuốc kích dục.

TÌNH KHÚC THỨ HAI

NGƯỜI YÊU NỮ Tôi nghe tiếng người yêu.

Kìa chàng đã đến,

Băng qua núi,

Vượt qua đồi.

Chàng như con hoảng

Con nai khỏe.

Chàng sau song cửa

Sau tường vôi.

Chàng đã cất lời nói với tôi :

Đứng dậy em yêu, bước đi thôi,

Vì mùa đông đã qua rồi nhỉ ?

Mưa chẳng còn đâu mưa dứt rồi.

Ngàn hoa đã nở trên mặt đất,

Mùa hát hội vui đã đến gần ;

Tiếng chim cu gáy vang trời đất,

Cành vả nụ đầy, nho trổ bông.

Đứng dậy em yêu,

Dời bước chân.

Em yêu dấu, bồ câu trong hốc đá,

Còn thẹn thùng ẩn lánh sườn non cao.

Hãy cho anh em gương mặt em nào,

Hãy cho anh nghe tiếng em khẽ nói.

Vì tiếng nói em êm ru,

Trên khuôn mặt quyến rũ.

Hãy bắt giùm chúng tôi những con chồn,

Những con chồn nhỏ phá nho vườn,

Vì vườn nho chúng tôi hoa nở.

Em thuộc về anh, anh thuộc về em,

Như mục tử chăn bầy giữa đồng hoa huệ.

Trước khi gìó mát rạng đông,

Xua tan bóng tối.

Đến đây em, cùng bước,

Em yêu dấu ơi,

Như chân hoảng, chân nai,

Trên núi đồi Bê Thiết.

CHÚ THÍCH:

Song cửa: chàng trai đứng ngoài song cửa, không vào nhà vì muốn cô gái theo chàng ra ngoài.

Con chồn: Chơi chữ tiếng Do Thái:” Chồn” nghĩa là “ đào lổ”, “phá” nghĩa là “có thai”. Khu vườn là cô gái. Nghĩa bóng nguyên câu là chàng trai “đào lổ”, làm cho cô gái có thai.

Bê Thiết: Bètèr: nơi không rõ, nhưng có nghĩa là chia hai, chia phân, từ giả. Nghĩa cuối cùng bài thơ là chia tay và hẹn gặp lại tối nay.

TÌNH KHÚC THỨ BA

Nằm trên giường suốt đêm,

Tôi chờ người lòng tôi yêu mến,

Tôi chờ nàng mà chẳng thấy nàng.

Tôi chổi dậy, lang thang khắp phố,

Trên những con đường, trên những công trường.

Tôi kiếm mãi, người lòng tôi yêu mến,

Tôi kiếm hoài mà chẳng gặp nàng.

Những kẻ canh tuần

quanh thành tôi gặp :

Các anh có thấy người yêu tôi chăng ?

Họ vừa đi khỏi,

Tôi đã gặp người lòng tôi yêu mến,

Tôi nắm lấy nàng không thể buông ra,

Tôi đưa nàng bước trở lại nhà,

Ngôi nhà mẹ tôi đã hoài thai tôi đó.

NGƯỜI YÊU NAM Tôi van xin

Các xuân nữ Giê ru sa lem,

Bằng bước chân hoảng, chân nai đồng nội,

Chớ kinh động, chớ thức giấc ái tình ta,

Trước giờ hoan lạc.

TÌNH KHÚC THỨ TƯ

HỢP XƯỚNG Người là ai từ sa mạc đi lên,

Như làn khói

Hương dược thảo, trầm hương ,

Và tất cả hương thơm xứ lạ.

Kìa kiệu vua Sa lô môn,

với sáu mươi hộ vệ,

dũng sĩ Y sơ ra el,

điêu luyện trong gươm kiếm,

lão luyện trong đánh giặc,

gươm mang bên mình,

phòng bất ngờ đêm tối.

Vua Sa lô môn

Chế cho mình chiếc kiệu,

bằng gỗ trắc Ly Băng,

cán ngù trụ bạc,

lộng gấm thêu vàng,

ghế dựa nhung tím,

Thêu với tấm lòng,

Bao xuân nữ Gê ra sa lem,

Hãy đến chiêm ngưỡng,

hỡi các thiếu nữ Si ôn.

Vua Sa lô môn

với vương miện

bà Thái Hậu tấn phong,

Trong ngày hôn lễ,

Ngày vui trái tim ngài.

CHÚ THÍCH :

Sa lô môn : Vua Salomon

Y so ra ên : Israël, người Do Thái.

TÌNH KHÚC THỨ NĂM

NGƯỜI YÊU NAM Bao xinh đẹp hỡi em yêu dấu !

Hỡi em yêu xinh đẹp biết chăng!

Đôi mắt bồ câu sau làn tơ mỏng,

Suối tóc chảy dài như đàn sơn dương lượn

sườn núi Ga Lăng.

Răng em trắng như bầy cừu mới hớt.

Từ suối tắm em lên.

Từng đôi song song,

Chẳng gì riêng lẻ.

Đôi môi em sợi chỉ hồng rạng rỡ,

Và lời em dịu ngọt êm đềm.

Má hây đỏ nửa đôi thạch lựu,

Sau làn khăn tơ.

Cổ em vững như tháp lầu Đa Việt.

Tóc cuộn tròn ngàn chiếc khiên treo,

Khiên của bao dũng sĩ mến yêu.

Đôi vú em đôi nai con hồng phấn;

Song sinh một nai tơ,

giữa cánh đồng hoa huệ.

Trước gió nhẹ ngày lên,

thổi tan bóng đêm,

ta sẽ đến núi phương quế,

và đồi trầm hương.

Em xinh đẹp biết bao hỡi em yêu dấu,

Chẳng chút bụi nhơ !

Hôn thê ơi, hãy đến cùng ta từ Ly Băng,

Đến từ Ly Băng em bước vào.

Ngước mắt nhìn đỉnh Ái Sơn cao,

Đỉnh Sa Niên và Hạc Môn,

Hang loài sư tử,

Rừng núi loài beo.

Em đã mang hồn ta đi mất,

Hỡi em yêu và hỡi người yêu.

Một thoáng nhìn ta trong mắt,

Một vòng kiềng cổ yêu kiều.

Tình em đó biết bao là yêu dấu,

Hỡi em yêu và hỡi người yêu.

Tình ái em rượu nồng ngào ngọt,

Hương thơm em hơn tất cả các mùi hương;

Môi em yêu, hỡi người yêu dấu,

Mật ngọt khiết trinh,

Dưới lưỡi là sữa mật.

Và hương y trang em

Như hương vị Ly Băng.

Em là một vườn tình kín cổng,

Hỡi em yêu và hỡi người yêu.

Vườn kín cổng,

Suối nguồn khóa chặt ;

Nước mát phun tưới thạch lựu trong vườn.

Với biết bao trái thơm ngào ngọt.

Chùm nho mộng và cam vàng óng,

Mía ngọt ngon và bưởi chín thơm.

Và biết bao cây nhựa hương,

Trầm hương, kỳ nam

Thanh khiết mùi thơm.

Suối các khu vườn,

giếng nguồn sống động

róc rách từ Ly Băng !

NGƯỜI YÊU NỮ : Hỡi gió bấc, hãy vươn mình trổi dậy,

Hỡi gió nam, hãy đến dịu êm!

Thổi qua vườn tôi,

Cho hương tỏa êm đềm,

Người yêu dấu bước vào vườn rộng,

Và môi cắn trái thơm chín mộng.

NGƯỜI YÊU NAM: Tôi bước vào vườn,

Hỡi em yêu và hỡi người yêu,

Gặt hái hương hoa nồng thắm,

Ăn trái ngon, mật ngọt trên cành.

Uống rượu ta và sữa của ta.

HỢP XƯỚNG Hỡi bạn hữu hãy cùng nhập tiệc,

Hãy say sưa này các bạn thân yêu.

CHÚ THÍCH:

Ga Lăng: Galaad ở phía đông Jourdain, gần Yabboq.

Tháp Đa Việt: Tour de David tiếng Do Thái talpiyoth, viết giống như chữ người yêu.

Ly Băng: Liban. Ái Sơn: Amana. Sa Niên: Sanir. Hạc Môn : Hermon. Núi phía Bắc Palestine, Có bài thơ trong thần thoại cananéen, Thần mời thần nữ người yêu đi săn vùng này, nhưng vì không cẩn thận bị thú dữ giết chết. Trong đoạn thơ này ngược lại nhắc người yêu tránh xa nơi hiểm trở này.

Trong bản tiếng Pháp họ dùng các tên le roseau odorant, le safran, le cinnnamome.. nhiều loại trái cây tại Tây Phương thời xưa chỉ có táo, nho, lê, không có cam, mía, lựu.., bản tiếng Việt dịch hoa phụng tiên, cây cam tòng, xương bồ, nhục quế, lư hội, trái cây bên Tàu không chính xác, và cũng chẳng ai hiểu là cây gì.. Nhưng tại Do Thái lại có các trái cây như Việt Nam : mía, cam, bưởi, mảng cầu, dưa hấu.. Tôi thay bằng các cây trái, hương liệu Việt Nam cho gần gủi.

Núi phương quế đồi trầm hương : tượng trưng cho hai cái vú thơm.

Em yêu : Ảnh hưởng Ai Cập, người vợ được chấp nhận như em người chồng.

Khu vườn : tượng trưng cho người yêu, sở hữu riêng của người chồng.

TÌNH KHÚC THỨ SÁU

NGƯỜI YÊU NỮ

Tôi đang ngủ, nhưng lòng tôi tỉnh giấc,

Nghe tiếng người yêu gõ cửa gọi rằng :

« Mở cửa cho anh, hỡi em yêu, bạn yêu,

bồ câu ta yêu, hỡi người tình tuyệt diệu.

« Đầu anh đầy sương móc,

Tóc thấm giọt sương đêm ; »

-« Em đã cổi áo

mất công em mặc lại ?

Em đã rửa chân rồi,

lại lấm bụi dơ . »

Người yêu tôi luồng tay qua song cửa,

Tôi xúc động vì chàng.

Tôi chổi dậy

để mở cửa cho người tôi yêu mến.

Nhưng bàn tay chỉ còn chút dư hương.

Trên ngón tay tôi mùi hương thanh khiết,

Trên chốt cửa nhà.

Khi tôi mở cửa thì người tôi yêu mến,

Đã giận dỗi quay lưng và đi mất đâu ?

Chàng bỏ đi và tôi hoảng hốt,

Tôi kiếm gọi chàng mà chẳng thấy đâu ?

Lính tuần tiểu

Dang đi vòng quanh thành, gặp tôi,

Họ đánh tôi, họ làm tôi thương tích.

Họ lột áo choàng tôi,

Những kẻ giữ thành.

Tôi van xin

Hỡi các xuân nữ Giê ra sa lem

Nếu gặp được người tôi yêu dấu,

Hãy nói với chàng rằng :

Tôi mang bệnh tương tư.

CHÚ THÍCH :

Các khảo cổ ngày nay cho thấy nhà thời xưa rất nhỏ, nền đất, nên trước khi lên giường họ cổi áo và rửa chân.

Bài thơ còn cho thấy, luật lệ thành Jeruselem ban đêm cấm phụ nữ ra đường một mình, ai bất tuân lính canh bắt gặp bị cổi áo choàng đánh cho mấy roi.

TÌNH KHÚC THỨ BẢY

HỢP XƯỚNG Hỡi người anh yêu thương nhất trên đời,

Người xinh đẹp nhất trần đời.

Hỡi người em yêu nhất trên đời,

Ta thề nguyện yêu thương nhau mãi mãi.

NGƯỜI YÊU NỮ : Người yêu em tráng kiện, hồng hào,

Nổi bật giữa vạn người.

Đầu chàng là vàng, vàng ròng,

Tóc chàng như tàu lá,

Sắc quạ đen tuyền.

Đôi mắt như bồ câu,

Bên bờ suối nước,

Tắm sữa bên bồn phun.

Đôi má chàng như luống hoa màu mở,

Khóm hoa ngát thơm.

Đôi môi chàng là hoa huệ,

Ngào ngọt hương tình.

Tay óng xuyến vàng long lanh hoàng ngọc Tất Xi

Ngực ngà khối chạm ngọc lam xanh biếc.

Trên bệ vàng ròng

Chân như trụ cẩm thạch.

Dáng chàng như dáng núi Ly Băng.

Chẳng gì bằng, chàng như cây tùng xanh.

Chàng nói lời êm dịu,

Nhân cách chàng đáng yêu .

Người yêu tôi, người chồng tôi thế ấy,

Hỡi các xuân nữ Giê ru sa lem.

HỢP XƯỚNG Em về đău, hỡi em yêu dấu ?

Xinh đẹp nhất trên đời.

Người em yêu đi về hướng nào em nhỉ ?

Chúng tôi sẽ tìm hộ giùm em !

NGƯỜI YÊU NỮ : Người yêu em đã đến khu vườn,

Mảnh đất hương hoa màu mở.

Chàng đứng giữa bầy thú trong vườn,

Để hái cành hoa huệ,

Em thuộc về chàng và chàng thuộc về em,

Như bầy thú giữa đồng hoa huệ.

CHÚ THÍCH :

Tất Xi : Tarsis : pierres de Tarsis : topazes, xuyến đeo tay bằng hoàng ngọc.

Nổi bật giữa vạn người : chàng hơn tất cả, ngay cả thần vùng cananéen, chàng như pho tượng thần.

Mắt bồ câu : sữa trong bình có ý vòng trắng quanh mắt bồ câu.

Núi Ly Băng (Liban) có nghĩa là núi trắng. Mont-blanc

TÌNH KHÚC THỨ TÁM

NGƯỜI YÊU NAM : Em xinh đẹp, như Tiên Sa người tình ơi !

Duyên dáng như Giê ru sa lem.

Đáng sợ khác chi một binh đoàn,

Quay mặt chớ nhìn anh,

Vì làm anh bối rối

Tóc em lượn như bầy sơn dương trên sườn núi Gia Lăng,

Răng em trắng như bầy cừu đi lên, mới tắm,

Tắt cả đều sánh đôi,

Chẳng gì riêng lẻ.

Đôi má em nửa đôi thạch lựu,

Sau tấm màn tơ.

Dù có sáu mươi hoàng hậu,

Tám mươi vương phi,

Và bao cung nữ trên đời,

Chỉ có bồ câu yêu thương của tôi,

Tuyệt vời.

Em là con một, mẹ sinh ra,

Người yêu em nhất sinh em ra.

Bao thiếu nữ thấy em đều xưng tụng,

Bao hoàng hậu, vương phi cũng tán dương.

Em là ai hiển hiện như hừng đông,

Đẹp như vầng trăng.

Rạng rỡ như ánh dương,

Đáng sợ như binh đoàn.

CHÚ THÍCH :

Tiên Sa : Tirça, thủ đô Do Thái đương thời, một tên khác của Jérusalem.

Bồ câu : người Do Thái, người Tây Phương thường gọi người yêu mình là con bồ câu của tôi.

Đáng sợ như binh đoàn: Tương đương nghĩa trong tiếng Pháp: Elle est belle et terible : đẹp và kinh khủng.

TÌNH KHÚC THỨ CHÍN

NGƯỜI YÊU NỮ Trong vườn hạnh đào chân em bước tới,

Ngắm nhìn thung lũng những chồi non,

Nhìn vườn nho lá mới xanh rờn,

Xem thạch lựu đỏ hoa chưa nhỉ ?

Nhưng em chẳng biết lòng em đã,

Bước lên xe An Mỹ – Nam Di.

HỢP XƯỚNG Hãy về đây, hãy về đây hỡi nàng Sa La Mỹ

Hãy về đây, hãy về đây ta đã chờ trông.

NGƯỜI YÊU NAM A! hãy đến hỡi nàng Sa La Mỹ,

Như điệu múa trong hai ban hợp ca.

Chân em xinh mang hài công chúa,

Vòng vế em như chuổi ngọc,

bởi bàn tay nghệ sĩ tuyệt vời.

Rốn em như ly rượu ngọt,

Rượu chẳng hề vơi.

Mình em bồ lúa mạch,

Hoa huệ vây vòng quanh.

Đôi vú căng đôi nai con hồng phấn,

Song sinh một nai tơ.

Cổ em một tháp ngà,

Mắt em hồ Hải Thủy,

Bên cửa Bát Khuê Môn.

Mũi em tháp Ly Băng,

Hướng về thành Đa Mạc.

Trán em vời vợi núi Cát Môn.

Tóc bính tím hoa sim.

Gót quân vương quấn quít suối mây vương.

Em xinh đẹp, hỡi em quyến rũ,

Hỡi tình ta vui thú tuyệt vời.

Dáng em tựa bóng dừa xanh mát,

Và ngực em tròn trịa trái đôi.

Anh khẽ nói: anh sẽ trèo lên dừa ấy,

Vin lá cành,

ôm đôi trái thanh xuân.

Hơi thở em nhẹ nhàng như hương táo.

Anh uống ly rượu em, uống mãi rượu ngon,

Anh xiết chặt hình hài em yêu dấu,

Chảy trên môi em giấc mộng say.

Anh thuộc về em yêu dấu,

Em bên anh trong khát vọng dâng đầy.

CHÚ THÍCH

An Mỹ Nam Di: Ammi nadiîb: nghĩa là trên chiếc xe của dân tộc kiêu hùng tôi. Như Thượng Đế bởi dân Do Thái.

Điệu múa trong hai ban hợp ca: Điệu múa ngày cưới, hai người nhảy giữa hai nhóm, khi hát khi nhảy xoay vòng.

Rốn: dùng thay chữ âm hộ để tránh thô tục, đoạn trên rốn em như ly rượu ngọt, đoạn dưới, anh uống ly rượu em, uống mãi rượu ngon. Và người con gái cũng hôn say sưa cái người con trai và để để chảy vào môi.

Đa Mạc: Damas, thủ đô dân Araméens ở Syrie

Cát Môn: Carmel: Cái mũi nhô ra ở Địa Trung Hải, còn có nghí là vườn nho nhỏ.

Tóc: nguyên tóc màu tím đen, tôi dùng màu tím hoa sim để Việt hóa.

TÌNH KHÚC THỨ MƯỜI

NGƯỜI YÊU NỮ Anh hãy đến hỡi anh yêu dấu,

Ta cùng đi đến chốn đồng xanh.

Chúng ta sẽ ngủ qua đêm trong những xóm làng,

Ngày mai đó ta sẽ đến cánh đồng nho trái.

Ta sẽ đi xem những chồi non mơn mởn,

Hoa có nở bông,

Thạch lựu vừa khoe đỏ.

Em sẽ cho anh ân huệ tình yêu.

Cây táo tình yêu thoang thoảng mùi hương,

Và cạnh cửa nhà ta đầy trái ngọt;

Trái non, trái già,

Em dành hết cho anh hỡi em yêu dấu.

A ! em xem như anh,

Chung vú mẹ một bầu.

Gặp anh ở ngoài, em có thể ôm hôn anh,

Chẳng ai dị nghị tình em.

Em sẽ dắt anh, sẽ dẫn anh về,

Trong ngôi nhà mẹ, để anh dạy dỗ.

Em rót anh uống ly rượu ngọt,

rượu mùi thạch lựu của em.

Tay trái anh nâng lấy đầu em,

Và tay mặt anh ôm xiết em.

NGƯỜI YÊU NAM: Tôi van xin,

Các xuân nữ Giê ru sa lem,

Chớ kinh động tôi, chớ thức giấc tình tôi,

Trước giờ hoan lạc.

CHÚ THÍCH :

Cây táo tình yêu : dịch từ cây mandragore, cây phong già, có đặt tính ăn vào có nhiều kích hích tăng trưởng sinh sản.

CHUNG KHÚC

HỢP XƯỚNG Nàng là ai đến từ sa mạc,

Đứng tựa vai người yêu tôi ?

NGƯỜI YÊU NỮ Dưới cây táo thơm tôi đánh thức chàng,

Nơi mẹ chàng đã hoài thai ra chàng,

Nơi hoài thai và nơi sinh chàng.

Hãy để em tựa chiếc ấn giữa lòng chàng,

chiếc ấn trên tay chàng.

Vì tình ái mạnh như cái chết,

Lòng đam mê cháy như địa ngục,

Sức nóng là ngọn lửa,

Ngọn lửa của thần sấm.

Nước bao nhiêu không dập tắt được tình yêu,

Không con sông nào cuốn trôi đi tình yêu.

Ai đem hết gia tài để mua tình ái,

Chỉ mua được khinh khi.

LẠI VIẾT THÊM

NGƯỜI ANH Em tôi bé bỏng, ngực chưa đầy,

Ta sẽ làm gì khi ai hỏi nó đây ?

Nếu nó là trường thành,

Ta sẽ xây thêm tháp bạc,

Nếu nó là cánh cửa,

Ta sẽ ráp lên trên cửa ván gỗ tùng.

NGƯỜI YÊU NỮ Nếu tôi là bức tường,

Vú tôi là đôi tháp,

Bao giờ trước mắt em,

Tôi tìm được bình an

NGƯỜi YÊU NAM Sa lô môn có khu vườn nho ở Bá Hạ Môn,

Người giao vườn cho những kẻ canh giữ.

Mỗi người phải trả hoa lợi nghìn nén bạc.

Vườn nho của tôi trước mặt tôi,

Hỡi Sa lô môn, trả ông nghìn nén bạc,

Và hai trăm cho kẻ giữ vườn.

Em ở trong khu vườn

Các bạn bè đến lắng nghe tiếng em.

Hãy lên tiếng đi em,

NGƯỜI YÊU NỮ Này anh yêu, hãy trốn đi

Hãy nhẹ bước chân như con hoảng con nai.

Trên núi trầm hương đó.

CHÚ THÍCH:

Đoạn thơ cuối cùng này có vẻ không liên hệ gì tới bài thơ, như một trang thơ nào chép lạc vào đây.

Lửa của Yavé còn có nghĩa là lửa của thần Sấm. Hy Lạp Zeus là Thần Sấm, cai trị cõi con người và trời là gốc tích chữ Dieu của Tây Phương.

Paris 6-12-2012

 

Hôm nay Quy định ‘chặn, lục soát tàu’ của Trung Quốc trên Biển Đông có hiệu lực – TP

1 Th1

Hôm nay Quy định ‘chặn, lục soát tàu’ của Trung Quốc trên Biển Đông có hiệu lực

> Trung Quốc điều tàu tuần tra có sân bay Hải tuần 21 ra Biển Đông
> Trung Quốc đang đóng thêm 36 tàu hải giám?

Ngày 31-12, Trung Quốc tuyên bố không có ý đồ dùng bộ đội biên phòng tỉnh Hải Nam để kiểm soát biển Đông. Nhưng nguồn tin từ Bắc Kinh cho biết các hạm đội tàu tuần tra Trung Quốc đã được tăng cường tàu quân sự.

 

Hôm nay Quy định ‘chặn, lục soát tàu’ của Trung Quốc trên Biển Đông có hiệu lực

> Trung Quốc điều tàu tuần tra có sân bay Hải tuần 21 ra Biển Đông
> Trung Quốc đang đóng thêm 36 tàu hải giám?

Ngày 31-12, Trung Quốc tuyên bố không có ý đồ dùng bộ đội biên phòng tỉnh Hải Nam để kiểm soát biển Đông. Nhưng nguồn tin từ Bắc Kinh cho biết các hạm đội tàu tuần tra Trung Quốc đã được tăng cường tàu quân sự.

 

 
Một tàu tuần tra Trung Quốc (bìa phải) và hai tàu tuần duyên Nhật chạy trong vùng biển gần quần đảo Senkaku/Điều Ngư. Ảnh: Asahi Shimbun.

 

Hôm nay 1-1-2013, quy định mới của tỉnh Hải Nam cho phép bộ đội biên phòng “chặn và lục soát tàu nước ngoài” trên biển Đông bắt đầu có hiệu lực.

Tuy nhiên, hôm qua Hãng tin Reuters dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết quy định mới này sẽ chỉ được áp dụng trong phạm vi 12 hải lý tính từ bờ biển đảo Hải Nam theo luật đã được Trung Quốc thông qua năm 1999.

“Điều tôi muốn nhấn mạnh là những quy định địa phương do chính quyền tỉnh Hải Nam đưa ra chỉ để nhằm tăng cường kiểm soát biên giới ven biển và quản lý hàng hải. Mục tiêu là ngăn chặn tội phạm và đảm bảo hòa bình trên biển. Sẽ không có thay đổi về phạm vi mà luật mới được áp dụng so với quy định năm 1999” – bà Hoa Xuân Oánh khẳng định.

Xuống thang rồi lại leo thang

Giới quan sát quốc tế nhận định với tuyên bố này, Trung Quốc muốn hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông bùng phát dữ dội sau khi chính quyền tỉnh Hải Nam công bố quy định “chặn và lục soát tàu nước ngoài” trên biển Đông mà không giải thích rõ ràng.

Trước đó giới học giả quốc tế và hàng loạt nhà ngoại giao Đông Nam Á cũng như phương Tây đều cảnh báo quy định của chính quyền tỉnh Hải Nam, nếu áp dụng trên biển Đông sẽ dẫn tới các vụ đụng độ trên biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế khu vực. Khi đó Chính phủ Mỹ đã đòi Bắc Kinh phải giải thích rõ ràng.

Tuy nhiên động thái xuống thang của Bắc Kinh lại đi kèm với một hành vi leo thang căng thẳng nghiêm trọng.

Theo trang web Đằng Tấn – cổng thông tin Internet lớn nhất Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh đã đưa tàu quân sự vào hạm đội tàu tuần tra trên biển. Cùng ngày, báo Nhà lãnh đạo quốc tế của Tân Hoa xã cũng đưa thông tin tương tự.

Theo các nguồn tin trên, Bắc Kinh đã bổ sung hai tàu khu trục (destroyer) Nam Kinh 131 và Nam Ninh 162 vào hạm đội tàu tuần tra trên biển.

Trang Sino Defence cho biết tàu Nam Kinh 131 hoạt động trong hải quân Trung Quốc vào năm 1977, tàu Nam Ninh 162 bắt đầu vận hành năm 1979.

Cả hai tàu đều đã “về hưu” trong năm 2012. Khi còn trong hải quân, hai tàu này được trang bị súng có tầm bắn 29km, tên lửa chống tàu và nhiều loại vũ khí khác.

Một tàu sẽ hoạt động trên biển Hoa Đông, tàu còn lại hoạt động trên biển Đông. Hỗ trợ chúng sẽ là tàu thăm dò, tàu phá băng, tàu kéo… AFP cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm 31-12 ở Bắc Kinh, đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã từ chối trả lời các câu hỏi của giới phóng viên quốc tế về hai con tàu này. Bộ Quốc phòng Trung Quốc và Cơ quan Hải giám Trung Quốc cũng im lặng.

Tăng sức mạnh tàu tuần tra

“Với hai tàu khu trục, sức mạnh của hạm đội tuần tra trên biển đã được tăng cường. Khả năng thực hiện nhiệm vụ cũng được cải thiện đáng kể. Đó là sự đảm bảo cơ bản cho việc hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là bảo vệ những lợi ích hàng hải của Trung Quốc” – báo Nhà lãnh đạo quốc tế dẫn lời ông Úc Chí Vinh, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu phát triển hàng hải Trung Quốc, khẳng định.

Ông Úc cho biết từ năm 2000 đến nay, hạm đội tàu tuần tra hàng hải Trung Quốc đã tiếp nhận 13 tàu hoàn toàn mới. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ đóng thêm 36 tàu tuần tra hàng hải từ nay đến năm 2015.

“Cơ quan Hải giám Trung Quốc sẽ sản xuất thêm rất nhiều tàu và máy bay với năng lực mạnh mẽ và thiết bị hiện đại” – ông Úc nhấn mạnh.

Thời gian qua, tàu tuần tra Trung Quốc liên tục tung hoành trên biển Đông và biển Hoa Đông. Theo báo Japan Times, ngày 31-12 ba tàu tuần tra Trung Quốc đã xâm nhập vùng biển quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật kiểm soát.

Tàu của Lực lượng tuần duyên Nhật (JCG) yêu cầu các con tàu này rời vùng biển Senkaku. Đáp trả lại, một tàu tuyên bố đó là vùng biển của Trung Quốc.

Hai ngày trước đó, JCG ở Fukuoka đã bắt giữ một tàu cá của Trung Quốc cùng thuyền trưởng và hai thuyền viên vì tội xâm nhập lãnh hải Nhật và khai thác trái phép san hô. Nguồn tin báo Asahi cho biết thuyền trưởng tàu này đã thừa nhận hành vi.

Theo Tân Hoa xã, chính quyền Trung Quốc đã cử nhân viên ngoại giao ở Nhật đến Fukuoka để gặp ba người này.

Theo Mỹ Loan – Sơn Hà
Tuổi Trẻ

Một tàu tuần tra Trung Quốc (bìa phải) và hai tàu tuần duyên Nhật chạy trong vùng biển gần quần đảo Senkaku/Điều Ngư. Ảnh: Asahi Shimbun.

 

Hôm nay 1-1-2013, quy định mới của tỉnh Hải Nam cho phép bộ đội biên phòng “chặn và lục soát tàu nước ngoài” trên biển Đông bắt đầu có hiệu lực.

Tuy nhiên, hôm qua Hãng tin Reuters dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh cho biết quy định mới này sẽ chỉ được áp dụng trong phạm vi 12 hải lý tính từ bờ biển đảo Hải Nam theo luật đã được Trung Quốc thông qua năm 1999.

“Điều tôi muốn nhấn mạnh là những quy định địa phương do chính quyền tỉnh Hải Nam đưa ra chỉ để nhằm tăng cường kiểm soát biên giới ven biển và quản lý hàng hải. Mục tiêu là ngăn chặn tội phạm và đảm bảo hòa bình trên biển. Sẽ không có thay đổi về phạm vi mà luật mới được áp dụng so với quy định năm 1999” – bà Hoa Xuân Oánh khẳng định.

Xuống thang rồi lại leo thang

Giới quan sát quốc tế nhận định với tuyên bố này, Trung Quốc muốn hạ nhiệt căng thẳng trên biển Đông bùng phát dữ dội sau khi chính quyền tỉnh Hải Nam công bố quy định “chặn và lục soát tàu nước ngoài” trên biển Đông mà không giải thích rõ ràng.

Trước đó giới học giả quốc tế và hàng loạt nhà ngoại giao Đông Nam Á cũng như phương Tây đều cảnh báo quy định của chính quyền tỉnh Hải Nam, nếu áp dụng trên biển Đông sẽ dẫn tới các vụ đụng độ trên biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế khu vực. Khi đó Chính phủ Mỹ đã đòi Bắc Kinh phải giải thích rõ ràng.

Tuy nhiên động thái xuống thang của Bắc Kinh lại đi kèm với một hành vi leo thang căng thẳng nghiêm trọng.

Theo trang web Đằng Tấn – cổng thông tin Internet lớn nhất Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh đã đưa tàu quân sự vào hạm đội tàu tuần tra trên biển. Cùng ngày, báo Nhà lãnh đạo quốc tế của Tân Hoa xã cũng đưa thông tin tương tự.

Theo các nguồn tin trên, Bắc Kinh đã bổ sung hai tàu khu trục (destroyer) Nam Kinh 131 và Nam Ninh 162 vào hạm đội tàu tuần tra trên biển.

Trang Sino Defence cho biết tàu Nam Kinh 131 hoạt động trong hải quân Trung Quốc vào năm 1977, tàu Nam Ninh 162 bắt đầu vận hành năm 1979.

Cả hai tàu đều đã “về hưu” trong năm 2012. Khi còn trong hải quân, hai tàu này được trang bị súng có tầm bắn 29km, tên lửa chống tàu và nhiều loại vũ khí khác.

Một tàu sẽ hoạt động trên biển Hoa Đông, tàu còn lại hoạt động trên biển Đông. Hỗ trợ chúng sẽ là tàu thăm dò, tàu phá băng, tàu kéo… AFP cho biết trong cuộc họp báo thường kỳ hôm 31-12 ở Bắc Kinh, đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã từ chối trả lời các câu hỏi của giới phóng viên quốc tế về hai con tàu này. Bộ Quốc phòng Trung Quốc và Cơ quan Hải giám Trung Quốc cũng im lặng.

Tăng sức mạnh tàu tuần tra

“Với hai tàu khu trục, sức mạnh của hạm đội tuần tra trên biển đã được tăng cường. Khả năng thực hiện nhiệm vụ cũng được cải thiện đáng kể. Đó là sự đảm bảo cơ bản cho việc hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là bảo vệ những lợi ích hàng hải của Trung Quốc” – báo Nhà lãnh đạo quốc tế dẫn lời ông Úc Chí Vinh, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu phát triển hàng hải Trung Quốc, khẳng định.

Ông Úc cho biết từ năm 2000 đến nay, hạm đội tàu tuần tra hàng hải Trung Quốc đã tiếp nhận 13 tàu hoàn toàn mới. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ đóng thêm 36 tàu tuần tra hàng hải từ nay đến năm 2015.

“Cơ quan Hải giám Trung Quốc sẽ sản xuất thêm rất nhiều tàu và máy bay với năng lực mạnh mẽ và thiết bị hiện đại” – ông Úc nhấn mạnh.

Thời gian qua, tàu tuần tra Trung Quốc liên tục tung hoành trên biển Đông và biển Hoa Đông. Theo báo Japan Times, ngày 31-12 ba tàu tuần tra Trung Quốc đã xâm nhập vùng biển quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư do Nhật kiểm soát.

Tàu của Lực lượng tuần duyên Nhật (JCG) yêu cầu các con tàu này rời vùng biển Senkaku. Đáp trả lại, một tàu tuyên bố đó là vùng biển của Trung Quốc.

Hai ngày trước đó, JCG ở Fukuoka đã bắt giữ một tàu cá của Trung Quốc cùng thuyền trưởng và hai thuyền viên vì tội xâm nhập lãnh hải Nhật và khai thác trái phép san hô. Nguồn tin báo Asahi cho biết thuyền trưởng tàu này đã thừa nhận hành vi.

Theo Tân Hoa xã, chính quyền Trung Quốc đã cử nhân viên ngoại giao ở Nhật đến Fukuoka để gặp ba người này.

Theo Mỹ Loan – Sơn Hà
Tuổi Trẻ

Giới trí thức Trung Quốc kêu gọi cải tổ chính trị để tránh cách mạng bạo động – RFI

1 Th1

Giới trí thức Trung Quốc kêu gọi cải tổ chính trị để tránh cách mạng bạo động

Người dân địa phương biểu tình chống dự án xây dựng một tuyến đường cao tốc mới nối Bắc Kinh đến Thẩm Dương, ngày 09/12/2012.

Người dân địa phương biểu tình chống dự án xây dựng một tuyến đường cao tốc mới nối Bắc Kinh đến Thẩm Dương, ngày 09/12/2012.

REUTERS/Petar Kujundzic
 

Một nhóm học giả có tên tuổi tại Trung Quốc đã gửi thư ngỏ cảnh báo ban lãnh đạo đảng Cộng sản về nguy cơ đất nước rơi vào một cuộc « cách mạng bạo động », nếu chính phủ không đáp ứng những đòi hỏi của người dân và không cho phép tiến hành các cải cách chính trị vốn đã bị trì hoãn từ lâu.

 

Theo Reuters, 73 học giả, viện sĩ hàn lâm, giáo sư tại các trường đại học có danh tiếng, luật gia, trong số này có những người đã nghỉ hưu, nhấn mạnh rằng cải cách chính trị đã không theo kịp cải cách kinh tế.

Bức thư viết: « Nếu các cải cách mà xã hội Trung Quốc đang rất cần … tiếp tục ngưng trệ không có tiến bộ, nạn tham nhũng chính thức và sự bất bình sẽ ngày càng lớn … thì một lần nữa, Trung Quốc lại bỏ lỡ cơ hội để cải tổ một cách hòa bình và sẽ rơi vào tình trạng xáo trộn, hỗn loạn của một cuộc cách mạng bạo động ».

Bức thư ngỏ được lưu hành trên internet từ đầu tháng 12, tuy nhiên, những bài viết trên báo chí Trung Quốc nhắc đến bức thư này đã bị rút xuống.

Theo những người ký tên vào bức thư, chính phủ dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1949, cần phải khuyến khích dân chủ và sự độc lập của hệ thống tư pháp, đẩy mạnh cải cách thị trường.

Ông Hạ Vệ Phương (He Weifang), giáo sư luật pháp ở Đại học Bắc Kinh, một trong những người ký tên vào bức thư, cho rằng các đề nghị trong bức thư là có chừng mực, nhưng đã đến lúc cần phải thực hiện, vào lúc ông Hồ Cẩm Đào chuẩn bị chuyển giao chức Chủ tịch nước cho ông Tập Cận Bình, người vừa được chỉ định làm Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 18 hồi tháng 11 vừa qua. Theo vị giáo sư này, Trung Quốc đang ở thời điểm thay đổi ban lãnh đạo. Người dân hy vọng tiếp tục có những bước tiến nếu tiến hành cải cách hệ thống chính trị.

Trong số những người ký tên vào thư ngỏ có ông Trương Tư Chi (Zhang Sizhi), nguyên là luật sư của Giang Thanh, vợ Mao Trạch Đông, người cầm đầu « Tứ nhân bang », lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa Trung Quốc (1966-1976) gây ra một thời kỳ hỗn loạn khủng khiếp tại Trung Quốc.

Vào giữa tháng 12, khoảng 65 học giả, luật sư và các nhà hoạt động nhân quyền cũng đã ký tên vào một thư ngỏ kêu gọi các lãnh đạo cấp cao của đảng Cộng sản Trung Quốc khai báo tài sản của họ và coi đây là biện pháp cơ bản để chấm dứt nạn tham nhũng.

Sau đại hội Đảng 18, các nhà phân tích tìm kiếm xem có những tín hiệu nào cho thấy là ban lãnh đạo mới có ý định cải cách chính trị hay không, như nới lỏng hơn quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin trên internet, thử nghiệm mô hình dân chủ hoặc trả tự do các tù chính trị. Thế nhưng, Bắc Kinh vẫn không chấp nhận bất kỳ sự đối lập nào với vai trò của đảng Cộng sản, đặt ổn định, tức bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng, lên trên hết. Không hề có tín hiệu khả quan nào theo hướng thông thoáng hơn về chính trị, cho dù tân Tổng bí thư Tập Cận Bình cố gắng tạo dựng cho mình hình ảnh một nhà lãnh đạo mềm dẻo, cởi mở hơn so với người tiền nhiệm.

Trong bối cảnh đó, các học giả ký tên kêu gọi cải cách chính trị cảnh báo ban lãnh đạo mới ở Bắc Kinh rằng dân chủ, Nhà nước pháp quyền và sự tôn trọng nhân quyền là một xu thế của thế giới không gì ngăn cản nổi. Bức thư viết: « Lịch sử 100 năm đẫm máu và bạo lực của Trung Quốc – đặc biệt là bài học đau đớn và bi kịch của cuộc Cách mạng Văn hóa trong một thập niên, cho thấy là một lần nữa chúng ta đang đi ngược trào lưu dân chủ, nhân quyền, chính phủ quản lý theo Hiến pháp và pháp luật, người dân sẽ phải hứng chịu thảm họa và không thể có ổn định chính trị và xã hội ».

Đầu tháng 12, một cơ quan trực thuộc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho công bố một bản nghiên cứu, báo động về hố ngăn cách giàu nghèo trong xã hội, mầm mống của sự bất bình và bạo động. Theo đó, tại Trung Quốc, hệ số GINI, thước đo mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của cải trong xã hội, đã tăng từ 0,421 trong năm 2000 lên 0,61 trong năm 2010.

Hệ số GINI dao động từ 0 – hoàn toàn bình đẳng – đến 1, bất bình đẳng tuyệt đối về giàu nghèo. Theo giới chuyên gia, hệ số GINI 0,6 trong một xã hội không dân chủ, toàn trị, báo hiệu nguy cơ rất cao về bất ổn xã hội.

Cơ cấu và hoạt động của lực lượng tình báo Trung Quốc – reds.vn

1 Th1

Cơ cấu và hoạt động của lực lượng tình báo Trung Quốc

Quân sự – Tình báo
Đăng ngày Thứ hai, 31 Tháng 12 2012 10:17

Chiến lược sử dụng điệp viên bên trong cộng đồng Hoa kiều trên toàn thế giới khiến tình báo Trung Quốc được đánh giá là lực lượng tình báo mạnh thứ ba thế giới.

Cơ cấu tổ chức tình báo quân đội của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa:
  • Bộ 2 – điệp báo, chỉ đạo các cứ điểm tình báo;
  • Bộ 3 – tình báo vô tuyến điện tử.

Cơ cấu tổ chức Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc (trực thuộc Trung ương ĐCS Trung Quốc):

  • Cục 1 – điệp báo trong lãnh thổ Trung Quốc;
  • Cục 2 – các chiến dịch hải ngoại;
  • Cục 3 – các chiến dịch ở Hồng Công, Macao, Đài Loan;
  • Cục 4 – bảo đảm kỹ thuật nghiệp vụ;
  • Cục 5 – quản lý các sở khu vực của Bộ An ninh Quốc gia;
  • Cục 6 – phản gián;
  • Cục 7 – xử lý và phân tích tin tức tình báo;
  • Cục 8 – Viện Quan hệ quốc tế;
  • Cục 9 – an ninh nội bộ, quản lý các phòng đặc biệt trong quân đội;
  • Cục 10 – thu thập thông tin KHKTrung Quốc;
  • Cục 11 – tình báo vô tuyến điện tử và an ninh máy tính (tương tự như NSA của Mỹ);
  • Cục Đối ngoại – các quan hệ chính thức với các cơ quan đặc vụ nước ngoài;
  • Tân Hoa Xã – hãng thông tấn.

Tình báo vô tuyến điện tử

Các cơ quan tình báo Trung Quốc rất lạc quan nhìn về tương lai vì các cơ cấu sức mạnh của nước này đang trải qua một cuộc cách mạng thật sự, lần này là về kỹ thuật.

Lãnh đạo quân đội Trung Quốc chính thức thừa nhận rằng, về các chủng loại vũ khí thông thường, quân đội Trung Quốc không thể đạt được sự cân bằng với Mỹ và đầu năm 2000, Bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc đã xây dựng chương trình hiện đại hoá các phương tiện chiến tranh thông tin.

Vật thí nghiệm đầu tiên cho các phương pháp tác chiến thông tin là Đài Loan. Đài Loan đã lên tiếng báo động từ tháng 12 và thừa nhận rằng, từ tháng 8/1999, các hacker Trung Quốc đã đột nhập các mạng máy tính của các cơ quan chính quyền Đài Loan 165 lần. Mục tiêu của tin tặc là các site của quân đội, các bộ tư pháp, kinh tế và quốc hội. Các mạng máy tính của Nhật cũng bị tin tặc Trung Quốc tấn công.

Việc chuyển sang chiến tranh không thể thiếu các cơ quan tình báo Trung Quốc và điểm tựa được chọn là tình báo vô tuyến điện tử. Tháng 5/1999, các bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc và Cuba đã ký thoả thuận xây dựng ở Cuba một trung tâm chặn thu vô tuyến điện và theo dõi vệ tinh Mỹ.

Trước đó ở Cuba chỉ có 1 trung tâm chặn thu ở Loudres do các cơ quan đặc vụ Nga sử dụng. Năm 1999, Trung Quốc đã phóng 4 vệ tinh chụp ảnh và 2 vệ tinh chặn thu vô tuyến trên bầu trời châu Á, còn tháng 3 năm nay, Giang Trạch Dân trong cuộc họp của Quân uỷ TW cũng đã hạ lệnh tiến hành chương trình 1-26 nhằm chế tạo các loại vũ khí công nghệ cao, trong đó có các vệ tinh do thám.

Trước đó, năm 1994, Trung Quốc đã thuê của Myanmar 3 hòn đảo để triển khai các trung tâm do thám vô tuyến (bao quát Ấn Độ Dương, vịnh Bengal và eo biển Malacca). Năm 1995, theo thông tin của Mỹ, tất cả các trung tâm chặn thu vô tuyến của Trung Quốc ở châu Á: trên một hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và trên đảo Hải Nam ở biển Đông. Ngoài ra, trung tâm chặn thu vô tuyến Sop-Khau gần Lào từng hoạt động mạnh trong những năm 1960-1970 thời chiến tranh ở Việt Nam cũng được khôi phục.

Công tác kế hoạch

Cựu chỉ huy phản gián của CIA là Paul Redmond đã tuyên bố về việc bắt giữ gián điệp mới của Trung Quốc ở Mỹ:

“Ở cấp độ văn hoá, họ (người Trung Quốc) sống ở một môi trường và những khuôn khổ thời gian hoàn toàn khác. Người Trung Quốc tư duy không phải bằng giờ, ngày hay tuần mà bằng hàng chục năm. Họ là một nền văn minh cổ đại, và biết hoạch định cho nhiều năm dài”.

Một trong những kết quả của lối suy nghĩ đó ví dụ là từng là một trong những nước châu Á lạc hậu nhất đã Trung Quốc khéo léo có được vũ khí hạt nhân của Liên Xô mà không phải nhận bất kỳ cam kết nào.

Trong những năm tháng hợp tác tốt đẹp nhất với chế độ Mao Trạch Đông, các chuyên gia Liên Xô không được phép nhúng mũi vào các mục tiêu đóng kín, và khác với các đồng nghiệp Đông Âu của mình, tình báo Trung Quốc chưa bao giờ gửi người sang Liên Xô thụ giáo KGB.

Các cơ quan tình báo Trung Quốc thậm chí còn hăm doạ được nước Mỹ, quốc gia nhiều năm thực tế đang phải chịu cái nạn đánh cắp công nghệ quân sự bí mật để không xảy ra cắt đứt quan hệ. Điều không phải là bí mật là người Trung Quốc đã phóng được tên lửa vũ trụ sau khi bắt buộc người Mỹ giao cho họ nhà khoa học tên lửa gốc Hoa (thực ra để đổi lấy sự lãnh nhạt của Trung Quốc trong quan hệ với Liên Xô).

Một thành tựu không kém phần chấn dộng của các cơ quan tình báo Trung Quốc là việc áp đặt được sự kiểm soát đối với nhiều ngân hàng lớn nhất của các nước thuộc “những con hổ châu Á”. Người ta thậm chí khẳng định rằng, các nhóm tội phạm có tổ chức tầm cỡ nhất ở Đông Nam Á – các hội Tam Hoàng – nằm dưới “sự bảo trợ” của Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc.

Phản gián

Bên cạnh đó, khả năng của các cơ quan tình báo Trung Quốc được minh hoạ tốt nhất bởi các ấn tượng cá nhân của các vị khách tiếp chuyện của phóng viên tờ Segodnya.

Thật khó có một nước nào khác có thể có tình thế mà một cán bộ tình báo GRU về hưu vào giữa thập niên 1990 miêu tả:
“Sau khi về hưu, tôi đã từng đến Trung Quốc với tư cách phiên dịch. Nhưng việc trao đổi tự do bằng tiếng Trung lập tức thu hút sự chú ý của các nhân viên Cảnh sát Nhân dân vũ trang đối với tôi. Tại một thị trấn hẻo lánh, tôi định ghé vào quán bar.
Đón tôi ở cửa là 2 người lạ, họ rất lịch sự hỏi tôi định làm gì. Tôi trả lời trung thực là tôi muốn uống. Chúng tôi cùng lên quán bar, người ta nhường cho chúng tôi một cái bàn nhỏ, và tôi đã buộc phải uống cùng với 2 người đồng hành.
Nửa giờ sau, có thêm một người Trung Quốc nữa nhập bọn với chúng tôi, người này nói tiếng Nga rất giỏi. Họ không hề giấu giếm chuyện họ đang phục vụ trong Cảnh sát Nhân dân vũ trang. Câu hỏi đầu tiên là: “Thế anh học tiếng [Trung] ở đâu?” Dĩ nhiên là tôi trả lời: “Ở Đại học các nước châu Á và châu Phi”. Họ cười xoà thân thiện: “Tất cả các anh đều nói vậy. Thôi được, chúng tôi sẽ không hỏi họ tên thầy giáo của anh”. Nhìn chung, chúng tôi hiểu nhau”.

Còn đây là lời kể của một cán bộ tình báo đối ngoại Nga từng nhiều năm công tác tại tổ tình báo ở Trung Quốc: “Thời cách mạng văn hoá, các cơ quan tình báo Trung Quốc đã khôi phục hệ thống chỉ điểm cổ xưa được nghĩ ra từ thời các hoàng đế. Nó gọi là “Ngũ Thập Bách” (5, 10, 100).

Đó là khi ngũ trưởng giám sát các thành viên của gia đình mình, thập trưởng đối với các nhân viên hay láng giềng của mình… Kết quả là chúng tôi đụng phải tình thế hoàn toàn không thể làm điệp báo ở nội địa Trung Quốc, bởi vì có rất đông người tình nguyện bám sát từng bước chân bạn.

Hơn nữa là có cả trẻ em, bởi vì các đội theo dõi ngoại tuyến có cả thiếu niên. Tuyển điệp viên ở đâu đó ngoài lãnh thổ Trung Quốc như chẳng hạn như các sinh viên ở Liên Xô thì dễ hơn nhiều”.

Tham gia vào kinh tế

Giữa thập niên 1980, khi Đặng Tiểu Bình lựa chọn chiến lược cải cách Trung Quốc, Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc đã vạch ra một chương trình toàn cầu nhằm tìm kiếm các nguồn lực tài chính và công nghệ tiên tiến.

Đặng Tiểu Bình rất tán thưởng chương trình này nên đã đưa ra quyết định chiến lược về việc ưu tiên đầu tư tài chính và củng cố Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc như một công cụ bảo đảm cho các cải cách triệt để ở Trung Quốc. Những hệ quả của quyết định này đến nay vẫn có thể cảm thấy được.

Chẳng hạn, ngày nay, nhiều người cho rằng, người được bầu đứng đầu Đặc khu hành chính Hongkong vào cuối năm 1996, chủ hãng tàu thuỷ “Orient Overseas International” Đổng Kiến Hoa là một cán bộ Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc.

Theo một số nguồn tin, dưới bình phong công ty khổng lồ này (tài sản cá nhân của Đổng Kiến Hoa được đánh giá là hơn 1 tỷ USD), tình báo Trung Quốc đã hoạt động thành công từ cuối thập niên 1970. Chính tình báo Trung Quốc đã “cứu” ông Đồng vốn quê Thượng Hải khỏi bị phá sản bằng cách giúp nhận được khoản tín dụng 120 triệu USD. Kết quả là Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc đã tránh được những rối loạn khi tái thống nhất Hongkong với Hoa lục.

Hoặc là nhân vật thú vị như doanh nhân Hongkong Li Ka-shing. Đến nay, đã có nhiều báo cáo của CIA về hoạt động của ông ta. Lần đầu tiên, Li Ka-shingkhiến người Mỹ kinh hãi vào năm 1998, khi biết ông ta định giành quyền kiểm soát đối với kênh đào Panama.

Năm 1996, công ty Hutchison Whampoa của ông ta, nay gọi là Panama Ports Co., thuê được của chính phủ Panama trong vòng 50 năm các cảng chủ chốt của kênh đào kể cả ở đầu Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Bộ Ngoại giao Mỹ lập tức tuyên bố thoả thuận này là “bất hợp pháp” và “sặc mùi tham nhũng”.

Sau đó, đã xuất hiện một báo cáo của Lầu Năm góc buộc tội Li Ka-shing định dùng kênh đào Panama “để buôn lậu công nghệ từ phương Tây về Trung Quốc hoặc để tạo điều kiện dễ dàng đưa vũ khí vào lãnh thổ Mỹ”. Người ta không thể biết chắc chắn vì sao Li Ka-shing làm việc cho tình báo Trung Quốc – do các quan hệ cá nhân của doanh nhân này với các nhà lãnh đạo Trung Quốc như một số báo nói hay đây là sự hợp tác hai bên cùng có lợi.

Tuy vậy, còn có một sự kiện thú vị nữa. Tháng 3/2000, con trai Li Ka-shing là Richard Li đã tiến hành thương vụ mua hãng điện thoại Hongkong Cable&Wireless HKT với giá 38 tỷ USD.

Nếu không có sự cho phép của chính quyền Trung Quốc thì thương vụ này không thể thành được. Theo đánh giá của Mỹ, hiện nay, Li Ka-shing và con trai ông ta đang kiểm soát khoảng 1/3 toàn bộ cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường chứng khoán Hongkong.

Tuy vậy, hoàn toàn có thể là sự hợp tác mật thiết của Li Ka-shing với chính quyền Trung Quốc có thể giải thích là ông ta cũng giống như Đổng Kiến Hoa đã chịu ơn các cơ quan tình báo Trung Quốc. Vấn đề là ở chỗ, trong những năm 1996-97, băng Big Spender đã bắt cóc 2 đại doanh nhân ở Hongkong, trong đó có Victor Li, con trai thứ hai của Li Ka Shin. Món tiền chuộc yêu cầu là 205 triệu USD đã được thanh toán, nhưng sau đó là cuộc săn đuổi toàn quốc đối với băng Big Spender ẩn náu ở Trung Quốc đã khai diễn.

Cuối cùng, tháng 1/1998, tại thành phố Quảng Châu, miền Nam Trung Quốc, toàn bộ băng tội phạm này gồm 35 tên do chính trùm Big Spender, người Hongkong 43 tuổi Cheung Chi Keung, cầm đầu đã bị bắt. Thật khó để Li Ka-shing quên đi ơn nghĩa này của các cơ quan tình báo Trung Quốc.

Điệp báo

Trong 20 năm gần đây, các cơ quan tình báo hàng đầu thế giới ngày càng chú ý đến các công nghệ cao. Bởi lẽ, moi tiền từ ngân sách cho loạt vệ tinh do thám mới, xây dựng các trạm chặn thu vô tuyến dễ hơn nhiều là tiến hành hoạt động điệp báo tỉ mẩn và không mấy an toàn. Ít ra là nguy cơ nổ ra các vụ xì căng đan quốc tế khi điệp viên bị bắt giữ giảm mạnh.

Tuy vậy, ở đây Trung Quốc cũng có con đường riêng: họ tiếp tục dựa vào hoạt động điệp báo. Dưới đây là lời kể của một cán bộ cơ quan tình báo điện tử của Nga FAPSI, vào đầu thập niên 1990, đã làm việc mấy năm tại một trạm chặn thu vô tuyến trên biên giới với Trung Quốc, gần Blagoveshchensk: “Các bản điện mật mã của Trung Quốc chúng tôi thường “phá thủ công”, trình độ của họ không cao.

Trong khi kể cả Ấn Độ cũng đã sử dụng các bộ máy mã điện tử , người Trung Quốc vẫn bằng lòng với các mã đơn giản nhất. Dĩ nhiên, cũng có những mục tiêu “không đọc được” như căn cứ bên hồ Lopnor, nơi Trung Quốc tiến hành các vụ thử hạt nhân. Nhưng những mục tiêu như thế chỉ cần 1-2 lần là đọc được”. Và người Trung Quốc vẫn hài lòng với chuyện đó. Tất cả phương tiện được đầu tư vào điệp báo, nhưng đây không phải là sự bướng bỉnh thuần tuý.

Nước Trung Quốc quá đông dân là nguồn cung cấp người di cư chủ yếu. Đến nay, cộng đồng Hoa kiều ở Mỹ đã vượt quá 1,3 triệu người, ở Nga, tại vùng Viễn Đông và Siberia, trong 5 năm gần đây, số người Hoa đã vượt quá 1 triệu người, người Hoa cũng xâm nhập mạnh vào châu Âu – các cộng đồng Hoa kiều mạnh nhất được hình thành ở Rumani và Hungary. Chính chiến lược này – sử dụng điệp viên bên trong cộng đồng Hoa kiều trên toàn thế giới – đã mang lại cho tình báo Trung Quốc vinh dự là lực lượng tình báo mạnh thứ ba thế giới.

Tuy nhiên, việc Trung Quốc hiện quyết tâm đuổi kịp tình báo các nước khác về trình độ kỹ thuật không thể không làm cho Mỹ và Nga dè chừng.

PM (VIETNAMDEFENCE.COM)

Kinh tế Việt Nam 2013 trong mắt doanh nghiệp nước ngoài

1 Th1

Kinh tế Việt Nam 2013 trong mắt doanh nghiệp nước ngoài

Trong năm qua, chính sách kinh tế vĩ mô bất ổn kéo dài đã khiến cho bức tranh về nền kinh tế Viêt Nam trở nên khá ảm đạm đối với các doanh nghiệp nước ngoài.

Trước những nỗ lực thắt chặt tài khóa và tiền tệ để giảm lạm phát, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng… mà Chính phủ đang thực hiện thì liệu các nhà đầu tư nước ngoài có cái nhìn sáng sủa hơn về tình hình kinh tế Việt Nam trong năm tới hay không? Những chia sẻ của ông Herb Cochran, Giám đốc Điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại TP. Hồ Chí Minh, ông Yasuzumi Hirotaka, Giám đốc Điều hành Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP. Hồ Chí Minh và ông Paul John Jewell, Giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) sẽ phần nào giải đáp câu hỏi này.

Triển vọng của nền kinh tế Việt Nam năm 2013

Trong năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong cải cách kinh tế nhưng chưa có những kết quả rõ rệt. Theo đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài thì liệu kinh tế Việt Nam có sự phục hồi trong năm 2013?

Ông Yasuzumi Hirotaka: Cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản đã nhận thấy những dấu hiệu phục hồi nền kinh tế Việt Nam vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013. Đây là một kết quả khá lạc quan có được nhờ chính sách ổn định lạm phát của Chính phủ. Hy vọng rằng Việt Nam sẽ tiếp tục vận hành nền kinh tế vĩ mô ổn định và liên tục trong tương lai.

Ông Yasuzumi Hirotaka,
Giám đốc Điều hành Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP. Hồ Chí Minh

 

Ông Herb Cochran: Mặc dù không còn là điểm đến hàng đầu trong khu vực nhưng Việt Nam vẫn còn rất nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư. Vì vậy, các doanh nghiệp của AmCham vẫn sẽ tiếp tục tăng cường nguồn vốn vào thị trường này. Tuy nhiên, chúng tôi không nghĩ rằng nền kinh tế Việt Nam có thể hồi phục trong năm tới, đặc biệt là kinh tế nội địa. Những bất ổn trong nền kinh tế đã có từ những năm 2007-2008 và ngày càng trầm trọng, muốn ổn định trở lại có lẽ phải chờ đến năm 2014 hoặc 2015.

Ông Paul John Jewell: Các chính sách thắt chặt tài khóa và tiền tệ của Chính phủ đạt những hiệu quả đáng kể về các chỉ số kinh tế vĩ mô nhưng việc duy trì đà tăng trưởng này trong năm tới là điều không dễ dàng. Các doanh nghiệp châu Âu lo ngại rằng tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam vốn đã khó khăn sẽ còn tiếp tục suy giảm trong sáu tháng đầu năm 2013. Còn khá nhiều dấu hiệu tiêu cực khó giải quyết ngày một ngày hai như sự sụt giảm lực lượng lao động, giá bất động sản sụt giảm và nguy cơ phá sản trong doanh nghiệp tăng…

Hiện những ngành kinh tế nào được xem là có tiềm năng phát triển?

Ông Paul John Jewell: Hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam đều có tiềm năng và được các thành viên của EuroCham đầu tư trong thời gian qua. Chúng tôi cũng hy vọng sẽ tăng nguồn vốn đầu tư cả về chất và lượng vào nhiều ngành kinh tế hơn nhưng tình hình kinh tế chưa có những cải thiện đáng kể khiến chúng tôi vẫn còn e ngại trong việc mở rộng kinh doanh.

Ông Herb Cochran: Những ngành mà Amcham cho là rất tiềm năng phát triển là ngành hàng tiêu dùng, ngành sản xuất hiện đại xuất khẩu trên toàn thế thới (như Intel, GE, Honeywell, Jabil, Samsung, Foxconn, Nidec, Canon…) và ngành dịch vụ. Ngày càng nhiều công ty Mỹ đầu tư nguồn vốn vào ngành công nghiệp hiện đại Việt Nam với các sản phẩm tạo giá trị gia tăng xuất khẩu.

Ông Yasuzumi Hirotaka: Các nhà đầu tư Nhật Bản thì rất chú trọng vào ngành công nghiệp phụ trợ (ngành hỗ trợ việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng thông qua cung cấp các bộ phận chi tiết, linh kiện sản phẩm hàng hóa trung gian khác) và ngành công nghiệp dịch vụ. Hình thức đầu tư không còn thiên về gia công xuất khẩu như trước đây mà mở rộng đầu tư theo nhu cầu trong nước và thị trường ASEAN.

Bên cạnh đó thì những ngành nào được cho là kém hấp dẫn nhất hiện nay?

Ông Herb Cochran: Những ngành không còn hấp dẫn như trước đây là: may mặc, giày da, đồ nội thất… vì chi phí lao động tăng và bị cạnh tranh gay gắt với các thị trường Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Mexico, Campuchia và Myanmar.

Những vấn đề đáng lo ngại của kinh tế Việt Nam

Những vấn đề cơ bản nhất gây cản trở sự phát triển kinh tế Việt Nam là gì?

Ông Herb Cochran: Trong tình hình kinh tế vĩ mô bất ổn của Việt Nam, hai vấn đề nghiêm trọng nhất là nợ xấu tràn lan và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả. Ngoài ra, Chính phủ quản lý quá gay gắt hoạt động của doanh nghiệp như: việc định giá, giới hạn hàng nhập khẩu, giới hạn doanh nghiệp được phép kinh doanh, chương trình được phát sóng…, gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài.

Ông Yasuzumi Hirotaka: Theo JETRO thì còn khá nhiều vấn đề trong nền kinh tế Việt Nam gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế. Dễ thấy nhất vấn đề cơ sở hạ tầng chưa quan tâm đúng mức. Bên cạnh đó, sự thay đổi liên tục và không thống nhất trong các chính sách cũng gây trở ngại lớn cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là ngành công nghiệp xe hơi.

Những bất cập trong chính sách, pháp luật Việt Nam là một trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế không?

Ông Paul John Jewell: Tôi cũng đồng ý rằng vấn đề nằm ở các văn bản pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các văn bản quy định hoạt động của doanh nghiệp nước ngoài. Chẳng hạn như pháp luật về luật sư thông qua ngày 20-11 năm nay, giới hạn hoạt động của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam. Điều luật này chẳng khác nào một phản ứng nhằm giảm nguồn đầu tư nước ngoài của Chính phủ.

Ông Paul John Jewell,
Giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham)

 

Ông Yasuzumi Hirotaka: Ngoài ra, khó khăn của nền kinh tế cũng xuất phát từ vấn đề ngân hàng như: thông tin ngân hàng không minh bạch, cải cách ngân hàng, nợ xấu…

Với rất nhiều trở ngại như trên thì liệu Việt Nam còn có thể là một điểm đến hấp dẫn cho các công ty nước ngoài?

Ông Paul John Jewell: Một điều cần khẳng định là các doanh nghiệp châu Âu ngày càng cảm nhận rõ Việt Nam sẽ là trung tâm ASEAN, có thể xây dựng thành một trung tâm kinh tế phục vụ tốt cho cả khu vực. Nhưng điều này khó thành hiện thực khi chưa giải quyết được những vấn đề mà chúng tôi đã đưa ra trong Sách trắng (Whitebook 2013) về“Các vấn đề thương mại, đầu tư và kiến nghị”. Trong đó, các vấn đề lớn là tái cấu trúc ngân hàng, giá cả, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và quyền sở hữu trí tuệ.

Giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam từ nhà đầu tư nước ngoài

Những giải pháp nào nên được thực hiện để thay đổi màu sắc của bức tranh về kinh tế Việt Nam trong năm tới?

Ông Yasuzumi Hirotaka: Không có cách nào khác hơn là cố gắng thay đổi để vừa phát triển nội lực vừa thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam hiện đang được xem là một điểm đến có nhiều thuận lợi trong khu vực nhưng liệu những ưu điểm này sẽ duy trì được bao lâu? Việt Nam nên gia tăng tính thuận lợi trong đầu tư, tạo sức hấp dẫn với doanh nghiệp nước ngoài.

Làm cách nào để gia tăng tính thuận lợi trong đầu tư?

Ông Yasuzumi Hirotaka: Bằng cách xúc tiến giải quyết các vấn đề sau: Đầu tiên là tháo gỡ bớt các quy định giới hạn tính tự do trong các hoạt động doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là ngành công nghiệp ôtô. Thứ hai, Chính phủ tích cực hơn trong việc thực thi các chính sách, chiến lược phù hợp với từng ngành công nghiệp. Các bộ, ngành không nên phó mặc cho hoạt động của các doanh nghiệp riêng lẻ mà cần có chiến lược phát triển quy hoạch nhiều ngành công nghiệp. Thứ ba là thực hiện một cách hiệu quả và có kế hoạch về cơ sở hạ tầng. Ngoài ra, vấn đề cần giải quyết cấp bách nhất vấn nạn tham nhũng. Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ nỗ lực giải quyết các vấn đề trên càng nhanh càng tốt vì thời điểm năm 2015 không còn xa.

Còn theo cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ và châu Âu thì sao?

Ông Herb Cochran: Theo AmCham, chính phủ nên lắng nghe ý kiến đóng góp của các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Thực tế cho thấy rất nhiều ý kiến đóng góp của chúng tôi lẫn các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài khác đều chưa được Chính phủ lưu tâm thực hiện. Một số kiến nghị của chúng tôi gồm:

– Cải thiện giáo dục và đào tạo để các sinh viên tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng là lực lượng lao động chất lượng, có thể làm việc ngay.

– Cải thiện chất lượng dịch vụ hải quan, nhất là dịch vụ hải quan điện tử (e-Customsin). Hàng ngàn container từ cảng Cái Mép (Bà Rịa – Vũng Tàu) qua Thái Bình Dương đến bờ Tây Hoa Kỳ chỉ mất 15 đến 16 ngày trong khi thủ tục hải quan mất đến 21 ngày.

– Phát triển chất lượng các đơn vị cung ứng trong nước.

– Thay vì sử dụng các mẫu tham vấn kiến nghị từ doanh nghiệp, Chính phủ nên có những cuộc nói chuyện, trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài.

– Nỗ lực hết mình để loại bỏ tham nhũng – vấn đề nghiêm trọng nhất của Việt Nam.

Ông Herb Cochran,
Giám đốc Điều hành Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ (AmCham) tại TP. Hồ Chí Minh

 

Ông Paul John Jewell: Như tôi đã nói, những vấn đề mà các thành viên EuroCham muốn Chính phủ lưu tâm để giải quyết là giá cả, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và quyền sở hữu trí tuệ.

– Về giá cả: Chính phủ có thái độ không nhất quán trong vấn đề giá thị trường tự do và trong nhiều ngành. Trong khi doanh nghiệp nước ngoài muốn tự định giá theo chi phí sản xuất và sự cạnh tranh thì việc kiểm soát giá của Chính phủ tạo ra lo lắng cho nhà đầu tư.

– Về vai trò doanh nghiệp nhà nước: Đóng góp của doanh nghiệp nhà nước ước tính đạt khoảng 40% ngân sách quốc gia, thường được nhận những ưu đãi trong vay vốn, tiếp cận đất đai, các mục tiêu lợi nhuận hạn chế… nhưng lại hoạt động không hiệu quả, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế chung.

– Về quyền sở hữu trí tuệ: Việt Nam mong muốn chuyển từ nền kinh tế chuyên sâu về lao động sang nền kinh tế công nghệ và các giá trị gia tăng. Nhưng các nhà đầu nước ngoài sẽ không muốn mang công nghệ của họ vào Việt Nam một khi vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chưa được thực hiện.

Lúc nào EuroCham cũng sẵn sàng đóng góp ý kiến để Việt Nam vượt qua khủng hoảng và tăng chất lượng đầu tư dài hạn từ nước ngoài. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam cần có những tín hiệu rõ ràng thể hiện khát vọng phát triển kinh tế trong tương lai qua thỏa thuận Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và giải quyết sớm những vấn đề nêu trên.

TheoXuân Lộc/DNSG cuối tuần

Việt-Trung-Xô thời chiến và thời nay – BBC

1 Th1

Việt-Trung-Xô thời chiến và thời nay

Cập nhật: 16:39 GMT – thứ hai, 31 tháng 12, 2012
Tuần hành ở Moscow năm 1968 ủng hộ Bắc Việt Nam chống Mỹ Tuần hành ở Moscow năm 1968 ủng hộ Bắc Việt Nam chống Mỹ

Nhân kỷ niệm 40 năm trận ‘Điện Biên Phủ trên không’ tháng 12/1972-2012, lãnh đạo Việt Nam đã đón các phái đoàn quân sự Nga và Trung Quốc để cảm ơn sự giúp đỡ của các cựu đồng minh thời chiến nhưng với các thông điệp khác nhau trước nhu cầu an ninh khu vực khác trước.

Trung tướng Viktor Bondarev, Tư lệnh Không quân Liên bang Nga và Thiếu tướng Vương Nghĩa Sinh, Phó Tham mưu trưởng Không quân Trung Quốc đã được cả Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân và Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, đón tiếp hôm 29/12 vừa qua.

 

Nhân dịp này, BBC xin giới thiệu lại một số tư liệu lịch sử nước ngoài về sự tham gia của Liên Xô và Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là trong các trận chiến phòng không, không quân trên miền Bắc chống lại Không lực Hoa Kỳ.

Hàng vạn quân Trung Quốc

Bob Seals trong một bài đăng trên trang Military History hồi 2008 đã trích nhiều từ các tác giả Trung Quốc có sách xuất bản ở Phương Tây, Địch Cường (Qiang Zhai) và Lý Tiểu Binh (Li Xiaobing) viết rằng Bắc Kinh tiếp tục hỗ trợ cho Hà Nội sau chiến tranh Đông Dương lần 1 dù viện trợ quân sự giai đoạn chiến tranh Đông dương lần 2 (1965-1975) có mục tiêu chính trị khác trước.

Đặc biệt, sự dính líu quân sự của Trung Quốc vào thời gian chiến tranh Mỹ Việt khác cuộc chiến Pháp Việt ở chỗ có sự hiện diện của hàng vạn quân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu trong các binh chủng công binh và phòng không.

“Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với 150 nghìn quân”

“Tài liệu tối mật của CIA ghi nhận bảy đơn vị lớn của Quân Giải phóng Trung Quốc (PLA) tại Bắc Việt, gồm sư đoàn phòng không 67, và con số ước tính 25 đến 45 nghìn quân tác chiến Trung Quốc cả thẩy.

“Ngoài phòng không, PLA còn cung cấp tên lửa, đạn pháo, hậu cần, đường xe lửa, xe phá mìn và các đơn vị công binh hàn gắn lại cơ sở hạ tầng bị các đợt oanh kích của Hoa Kỳ phá hủy.”

Giới nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam cho rằng đây là vai trò rất quan trọng vì từ năm 1965 đến 1972, Hoa Kỳ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam.

Sau chiến tranh chỉ còn lại chút ít dấu tích các điểm phòng không với vũ khí Trung Quốc ở Việt Nam

Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với 150 nghìn quân.

Bài trên Military History cũng nói phía Trung Quốc cho rằng họ đã bắn hạ 1707 máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam.

Nhưng dù trước đó, ông Hồ Chí Minh đã đề nghị ông Mao Trạch Đông trợ giúp quân sự, quan hệ Trung – Việt có chiều hướng xấu đi từ 1970 vì lý do bất đồng quanh Hòa đàm Paris.

Ngoài ra, quan hệ Trung – Việt cũng chịu ảnh hưởng của bang giao Trung – Xô không còn tốt, với việc tiếp cận Washington của Bắc Kinh, và Trung Quốc bắt đầu rút dần quân của họ về nước.

Dù vậy, Bắc Kinh lại tiếp tế mạnh cho Hà Nội từ sau chiến dịch Xuân – Hè 1972 (Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive, hay Mùa Hè Đỏ Lửa theo cách gọi của Việt Nam Cộng hòa), khi lực lượng cộng sản miền Bắc thiệt hại nặng, mất tới 450 xe tăng và chừng 100 nghìn quân.

Đợt tấn công của quân Bắc Việt ở miền Nam bằng 20 sư đoàn, đông hơn số quân Tướng Patton chỉ huy thời Thế chiến 2 tại châu Âu, đã phải trả một cái giá khủng khiếp, theo đánh giá của Hoa Kỳ.

Nhưng từ năm 1973, Trung Quốc lại cung cấp cho Việt Nam về vũ khí và xe tăng đủ phục hồi 18 sư đoàn, góp phần vào trận tấn công cuối cùng, đem lại thắng lợi cho Hà Nội vào tháng 4/1975.

Quân Liên Xô bắn máy bay Mỹ

Từ sau Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu xuất hiện tin tức hoặc sử liệu nói về sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại miền Bắc Việt Nam.

Hồi 2008, nhân chuyện Thượng nghị sỹ John McCain ra tranh cử tổng thống Mỹ, hãng tin Nga (RIA Novosti) đưa tin một cựu phi công Liên Xô, ông Bấm Yury Trushvekin, nói chính ông là người đã bắn hạ phi cơ của ông John McCain trên bầu trời Hà Nội năm 1967.

Ông John McCain thăm lại Hà Nội, nơi có trưng bày ảnh ông bị bắn rơi năm 1967

Nhưng hãng tin Nga cũng nói sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại Bắc Việt Nam hồi đó “chưa bao giờ được công nhận chính thức” dù sau khi Liên Xô tan rã các nhóm “cựu chiến binh từ Việt Nam’ của Nga vẫn làm lễ kỷ niệm không chính thức.

Có vẻ như khác với người Trung Quốc, các sỹ quan và binh sỹ Liên Xô đã tác chiến cùng đồng đội Việt Nam, như theo lời kể của ông Trushvekin.

Trong một bài gần đây trên trang Bấm topwar.ru bằng tiếng Nga được một số trang mạng tiếng Việt dịch lại, một cựu sỹ quan Nga khác đã xác nhận chuyện cùng chiến đấu và sinh hoạt với bộ đội Việt Nam.

Ông Nicolai Kolesnhik, một cựu chiến binh Nga ở Việt Nam, trả lời trang web của Nga, nói từ năm 1965, ông cùng các đơn vị Liên Xô tham gia phòng thủ Bắc Việt Nam bằng tên lửa chống lại không quân Hoa Kỳ.

Ông Kolesnhik cũng nói về sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô rất lớn “khoảng hai triệu USD một ngày trong suốt tất cả những năm chiến tranh” và trong đó vũ khí, khí tài chiếm số lượng lớn.

“Hai nghìn xe tăng, bảy nghìn pháo và súng cối, hơn năm nghìn súng cao xạ phòng không, 158 tổ hợp tên lửa phòng không, hơn 700 máy bay, 120 máy bay trực thăng, hơn 100 tàu chiến,” ông Koleshnik nói.

Ông cũng cho biết: “Từ tháng 7/1965 đến cuối 1974 gần 6500 nghìn sĩ quan và tướng lĩnh và hơn 4500 binh lính hạ sĩ quan của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia tác chiến tại Việt Nam.”

Trung tướng Phạm Tuân và các khách Nga thăm Hà Nội nhân kỷ niệm trận đánh nổi tiếng Linebacker II/Điện Biên Phủ trên không

Nhưng nếu như sự hiện diện quân sự của Trung Quốc không còn sau cuộc chiến Mỹ – Việt, Liên Xô tiếp tục có mặt về quân sự dù ít hơn về quân số tại Việt Nam và ở cả Campuchia trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ ba.

Liên Xô cũng hỗ trợ nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ cộng sản và là thành viên khối Hiệp ước Warsaw do Moscow chỉ đạo chống trả lại cựu đồng minh là Trung Quốc trong giai đoạn xảy ra xung đột biên giới Việt – Trung năm 1979.

Và ngày nay, với căng thẳng trên Biển Đông lên cao, Hà Nội tiếp tục mua các vũ khí tối tân trị giá hàng tỷ USD từ Moscow để phòng thủ biển đảo.

Thăm lại Hà Nội nhân dịp 40 năm đợt không tập của Hoa Kỳ, Trung tướng Nga, Anatoly Ivanovich Khiupenen, trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam từ 1972 đến 1975, tin tưởng rằng ngày nay “không nước nào có thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam”, theo Bấm báo chí nước chủ nhà.

Có vẻ như sự trở lại của người Nga giúp Hà Nội tự tin hơn một khi có xảy ra xung đột trong khu vực Đông Nam Á, nơi Trung Quốc đang có những động thái nhằm làm chủ các vùng biển tranh chấp với Việt Nam và một số nước Asean.

%d bloggers like this: