Lưu trữ | 10:42 Chiều

Châu Á đang trải qua quá trình tái cấu trúc địa chính trị? – VHNA

4 Th1

Châu Á đang trải qua quá trình tái cấu trúc địa chính trị?

  • Email
  • In

 

 Theo đánh giá mới đây của mạng tin “Chân trời chiến lược”, một “siêu liên hiệp” châu Á đã hình thành. Chúng ta đang chứng kiến siêu liên hiệp này qua mô hình tăng cường gia nhập các tổ chức liên chính phủ châu Á, cùng sự xuất hiện các chính sách đối trọng với Trung Quốc, nhất là dựa vào Ấn Độ. Cam kết của Mỹ đối với Đông Á và Nam Á cũng góp phần củng cố siêu liên hiệp này. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Bắc Kinh từ năm 2008 đang giúp Oasinhtơn gia tăng ảnh hưởng tại châu Á bất chấp Mỹ đang trong giai đoạn suy tàn trên trường quốc tế.

Từ gần 10 năm nay, giới phân tích luôn nhấn mạnh đến khái niệm liên hiệp an ninh khu vực. Chúng ta đang đề cập đến sự xuất hiện của giả thiết một siêu liên hiệp tam giác nổi Nam Á và Đông Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. 5 xu hướng lớn bao trùm quá trình tái cấu trúc địa chính trị của châu Á 10 năm qua gồm: sự phát triển của Trung Quốc, Ấn Độ, sự suy yếu của Mỹ, các cuộc tranh giành ảnh hưởng để xác định một bản sắc khu vực châu Á và sự xuất hiện các chính sách đối trọng với Trung Quốc.

Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ

Chúng ta đã ghi nhận những số liệu về sự gia tăng sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Sự phát triển này là điều hiển nhiên và hết sức ấn tượng. Phần lớn người Trung Quốc bày tỏ niềm tự hào. Tuy nhiên, cũng xuất hiện hai thái độ khác nhau: một mặt là chủ nghĩa quốc tế ở cấp độ nào đó và dự định hành động tích cực với phần còn lại của thế giới; mặt khác là chủ nghĩa dân tộc cứng rắn, trong đó những người bảo vệ xu hướng này cho rằng Bắc Kinh cần phải sử dụng quyền lực mới đạt được của mình để áp đặt quy chế cường quốc, yêu sách lãnh thổ và để làm lợi cho sức mạnh kinh tế bao trùm. Vì vậy, chúng ta đang chứng kiến hai nước Trung Quốc: một muốn hội nhập với cộng đồng quốc tế và cải cách bên trong, trong khi số khác từ chối và bảo vệ một khái niệm thực dụng, có tính truyền thống và tự điều hòa quan hệ hơn là một cường quốc phải duy trì với các đối tác khác của cộng đồng quốc tế. Theo diện mạo mà Trung Quốc muốn thể hiện, đất nước bị chứng “tâm thần phân liệt” này có thể xuất hiện một cách vô hại hơn là đe dọa. vẫn cần phải tìm hiểu xem hai xu hướng trên sẽ tiến triển trong lòng đất nước này như thế nào và mức độ chúng sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ của Trung Quốc với môi trường châu Á và với cộng đồng quốc tế một cách tổng thể. Chúng ta hãy phác thảo một bản tổng kết quá trình tiến triển của đất nước này trong 10 năm qua. Các điểm tích cực cũng nhiều. Trung Quốc đang hội nhập với các thể chế Đông Á xoay quanh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đã đóng vai trò hàng đầu trong các thể chế khu vực khác, nhất là Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các cuộc đàm phán 6 bên về hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên. Trung Quốc cũng ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với các nước Đông Nam Á láng giềng và cho rằng đã thực hiện một chính sách có trách nhiệm trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990. Những mối quan hệ căng thẳng với Đài Loan đã giảm, về mặt quốc tế, Trung Quốc từ nay đóng góp một phần quan trọng vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình; tham gia các chiến dịch chống cướp biển ngoài khơi Xômali và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tại nhiều nước, đầu tư và các sản phẩm của Trung Quốc được chào đón. Trung Quốc đã đóng vai trò bình ổn khi mua trái phiếu kho bạc Mỹ để đổi lại Mỹ mở cửa thị trường cho lĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc. Những điểm tiêu cực cũng không ít. Bắc Kinh đã công khai chứng tỏ tham vọng tăng cường khả năng quân sự và trấn áp mạnh tay đối với các phe đối lập trong nước, những phần tử đòi tự do trong xã hội hay những người dân không thuộc dân tộc Hán tại Tây Tạng hay Tân Cương. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản luôn căng thẳng: tranh chấp lịch sử lại được khơi lại; đa số người Trung Quốc vẫn nung nấu tinh thần chống Nhật; những tranh chấp lãnh hải làm tăng mối hận thù giữa hai nước. Một vấn đề báo động khác là thái độ hung hăng của Trung Quốc trong các yêu sách chủ quyền tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và với Ấn Độ. Viện trợ mà Bắc Kinh dành cho Pakixtan trong lĩnh vực hạt nhân cũng là một mối quan tâm. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng công khai cùng các nước khác ngăn cản Nhật Bản đạt được quy chế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Lập trường của Trung Quốc trong các chủ đề toàn cầu, nhất là khí hậu trái đất nóng lên, đã cho thấy một sự thụt lùi trước nước Mỹ do những lợi ích quốc gia. Trung Quốc cũng từ chối đảm đương vai trò lãnh đạo hay làm theo những thỏa thuận mà các nước khác đưa ra. Việc dự báo những tác động mà cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ ảnh hưởng đến địa vị của nước này trong nền kinh tế thế

giới là điều vẫn còn khó khăn, song sự ủng hộ kiên định của Chính phủ Trung Quốc đối với các doanh nghiệp nhà nước nắm quyền kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực kinh tế dự báo một sự tăng cường chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, là điều đáng lo ngại.

Liệu Trung Quốc có thực sự là một cường quốc nguyên trạng?

 

 Tất cả những điều trên đang làm xói mòn sự tin cậy về một nước Trung Quốc muốn trở thành cường quốc nguyên trạng, gắn với một sự phát triển hòa bình và duy trì quan hệ hài hòa với các đối tác. Liệu đó chỉ là những tuyên truyền nhạt nhẽo hay một sự lừa bịp rõ rệt? Mối nghi ngờ được củng cố bởi một sự tương quan bề ngoài giữa thái độ cương quyết của Trung Quốc trước sự suy yếu của Mỹ và phương Tây kể từ năm 2008. Kịch bản thích hợp với nhừng hành động thực dụng, dự báo rằng các cường quốc khu vực sẽ trờ nên khiêu khích hơn trong quá trình phát triển và tìm cách đảo lộn quy chế nguyên trạng, Sự sợ hãi và lo ngại, được tạo ra bởi sự tăng cường sức mạnh của Trung Quốc, đã gia tăng do ảnh hưởng đáng kể từ tư duy thực dụng tại nhiều nước, từ các môi trường đại học đến các tầng lớp chính trị. Nếu Bắc Kinh đang tìm cách hưởng lợi từ sự suy yếu của Mỹ và nếu sự suy yếu này là hiện thực, các nước láng giềng của Trung Quốc có cái để mà lo ngại. Và nếu thái độ đe dọa của Trung Quốc làm các nước láng giềng lo ngại thì cũng sẽ khiến Ấn Độ tham gia một chính sách đối trọng với Trung Quốc cho dù có Mỹ hậu thuẫn hay không.

Giả thiết về một nước Trung Quốc có thể trỗi dậy một cách hòa bình được đưa ra, song không dễ như vậy. Vi điều này, Bắc Kinh sẽ phải thực hiện một chính sách rất thận trọng và dè dặt trước các nước láng giềng. Đó không phải là trường hợp của ngày hôm nay và tình hình hiện nay sẽ có thể tiến triển một cách thực dụng. Thất bại trong cách phát triển hòa bình của Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một siêu liên hiệp châu Á yà đè nặng lên mối quan hệ Bắc Kinh – Oasinhtơn.

về phần mình, Ấn Độ hiện không nổi lên một cách ấn tượng và không đạt được mức độ phát triển bằng Trung Quốc song hưởng một tốc độ tăng trưởng kinh tế khá đều đặn. Tham vọng cường quốc mới nổi của Ấn Độ sẽ vượt ra khỏi không gian Nam Á. Nếu tiến triển dân chủ của Ấn Độ không khiến phương Tây lo ngại bằng Trung Quốc thì một số nước biên giới, hiển nhiên có Pakixtan, đang cảm thấy bị đe dọa bởi gã láng giềng khổng lồ này. Việc Ấn Độ thắt chặt quan hệ với Mỹ đã cho phép nước này gần đạt được mục đích, đó là quy chế cường quốc trên trường quốc tế. Ấn Độ đã đạt được một bước nữa theo hướng trên nhờ vào thỏa thuận với Oasinhtơn khi chính thức gia nhập Câu lạc bộ các cường quốc hạt nhân. Ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự của Niu Đêli đang được thiêt lập tại nhiều khu vực trên thế giới. Nếu Ấn Độ đang cho thấy tham vọng trở thành cường quốc châu Á cai quản Ấn Độ Dương thì nước này cũng sẽ có một lý lẽ bổ sung để đạt quy chế cường quốc. Trung Quốc cũng đã bắt đàu các bước đi như vậy, nhất là tăng cường phát triển hải quân. Một số nhà phân tích ít nghiêng về giả thiết coi Ấn Độ là một cường quốc. Tuy nhiên, chừng nào Ấn Độ còn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nước này sẽ có được những dự báo lạc quan để tiếp cận quy chế mong muốn trên, như điều Trung Quốc đã làm từ lâu.

Trung Quốc và Ấn Độ là các cường quốc mới nổi trong khi Mỹ đang đứng bên bờ dốc, kèm với sự suy yếu toàn cầu của phương Tây. Theo chu kỳ, chúng ta đang chứng kiến thảm kịch suy tàn của Mỹ – mô hình đã hoành hành đầu những năm 1970 và cuối những năm 1980. Sự suy tàn hiện nay bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và là thách thức đối với Oasinhtơn. Chủ nghĩa đơn cực của Chính quyền Bush cùng những cách thức trong “cuộc chiến chống khủng bố” đã giáng một đòn mạnh vào tính hợp pháp của Oasinhtơn trong vai trò lãnh đạo cộng đồng quốc tế. Siêu cường duy nhất này cũng đã thiệt hại trong các cuộc chiến tranh dài hạn và tốn kém tại Irắc và Ápganixtan. Nếu Mỹ đang bị tụt hơi trên trường quốc tế thì họ vẫn đang đóng vai trò trọng tài và là người điều tiết quan trọng hơn tại Đông Á và Nam Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và thái độ ngày càng hung hăng của nước này đối với các nước láng giềng đã cho phép Mỹ củng cố địa vị tại châu Á. Việc thiết lập lại quan hệ với Ấn Độ được bắt đầu từ những năm 1990 và vẫn sẽ tiếp tục diễn ra. Liên minh quân sự với Nhật Bản và Ôxtrâylia cũng đã được củng cố.

Bản sắc khu vực như thế nào cho châu Á: cạnh tranh và cuộc chiến giành ảnh hưởng?

Sự phụ thuộc của các nước Đông Nam Á theo các cấp độ khác nhau vào các tổ chức liên chính phủ (IGO) châu Á là một dấu hiệu nữa chứng tỏ sự tương tác gia tăng giữa hai phức hệ an ninh và đặt ra vấn đề nóng bỏng liên quan tới bản sắc của châu Á với tư cách là một khu vực. Loại hình tổ chức này đã được tăng cường trong những năm 1990. Như nhà phân tích T.J. Pempel nhận xét, Đông Á khác với các khu vực khác bởi có nhiều IGO với quy mô khiêm tốn và tồn tại không chồng lấn lên nhau. Không một IGO khu vực nào tập hợp đầy đủ các Nhà nước như tại Đông Á. Diện mạo Đông Á đặc biệt này được gọi là “cuộc chạy đua gia nhập hiệp hội”, nơi các Nhà nước khu vực đang lao vào một cuộc cạnh tranh dữ dội để xác định nước muốn trở thành thành viên của tổ chức hay nhóm nước nào qua cách mà nước đó thể hiện quan niệm về bản sắc, vai trò khu vực và địa vị của mình trong một cộng đồng quốc tế được phương Tây sắp xếp và quản lý.

ASEAN+3 (APT) và các cơ quan gắn với tổ chức này có tính đại diện nhất cho Đông Á, song không bao gồm Bắc Triều Tiên hay Đài Loan. Khởi nguồn, ASEAN có sự phân biệt giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á, song hiện tổ chức này tập hợp hai khu vực trên từ những năm 1990. về phần mình, Đông Bắc Á không bao giờ được tính vào các IGO khu vực, ít nhất là đến năm 2008 khi Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc đưa ra nguyên tắc nhóm họp tại hội nghị thượng đỉnh ba bên độc lập với APT. Bảng tổng kết các hội nghị trên sau hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 năm 2011 cho thấy vẫn còn khiêm tốn. Sự xuống cấp của mối quan hệ giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Hàn Quốc đã xếp lại dự định đối thoại thành yếu tố thứ yếu. Ban đầu Bắc Kinh mong muốn Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) tập hợp các Nhà nước trong khu vực, song Nhật Bản đã gây sức ép thành công để việc tổ chức EAS mở rộng ra ngoài phạm vi Đông Á. Bắc Kinh và Tôkyô đã lao vào một cuộc đấu không khoan nhượng trong hậu trường để nắm quyền thành lập và cơ cấu các IGO khu vực và thông qua các tổ chức này thể hiện tầm nhìn khu vực cũng như các tham “vọng của mình trong bối cảnh cộng đồng quốc tế bị ảnh hưởng bởi phương Tây. Trước nguy cơ đơn giản hóa IGO, chúng ta có thể thấy rằng Trung Quốc thường thể hiện sự đề cao các tổ chức liên chính phủ Đông Á hơn số khác bởi có thể áp đặt sự bá quyền. Chiến lược này tiếp nối khuynh hướng tiêu biểu của các cường quốc ủng hộ chủ nghĩa đa phương: Đó là tham gia các IGO khác nhau trong khi bảo đảm rằng mỗi một tổ chức bị chia tách với số khác. Trung Quốc hoàn toàn ý thức được sự cần thiết phải thể hiện ít đe dọa đối với các nước láng giềng và đánh giá những rủi ro gắn với hành động gia tăng cạnh tranh chống Tôkyô. Cam kết của Trung Quốc với ASEAN diễn ra theo chiều hướng ôn hòa, nhưng Bắc Kinh luôn thể hiện lập trường là nòng cốt cứng rắn của Đông Á, được hoàn thành bởi một hệ thống hợp tác khu vực rộng hơn, ví dụ trong khung cảnh EAS hay Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Ấn Độ và Nhật Bản có thể hỗ trợ nhau ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế trong “cuộc chạy đua” giành một ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bản an Liên hợp quốc. Nhật Bản, cũng như nhiều nước thành viên ASEAN khác, muốn kết nạp Ấn Độ và các Nhà nước khác vào HĐBA LHQ để một mặt giảm tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh và mặt khác tạo mối quan hệ mạnh hơn giữa khu vực với cộng đồng quốc tế – phương Tây. Có hai yếu tố mang tính quyết định ở đây, đó là sự thiếu vắng mọi IGO-có tầm vóc là đầu cực gắn kết toàn bộ các Nhà nước Đông Á và mô hình khu vực bao gồm các IGO phạm vi hẹp. Các yếu tố trên giải thích sự tồn tại của một số lượng lớn IGO xung quanh Đông Á, gồm một hay nhiều Nhà nước Đông Á và kết nối các nhà nước này với một tình hữu nghị rộng hơn. Các IGO trên đang cho phép các nước thành viên Đông Á thiết lập các mối quan hệ đặc biệt với một khu vực láng giềng. Thông qua đó, các Nhà nước Đông Á đôi khi phối hợp

hành động trực tiếp với cộng đồng quốc tế – phương Tây. Cũng cần thiết đánh giá các IGO là khu vực để chứng kiến sự lặp lại của mô hình xã hội trên và phải thừa nhận rằng mô hình này cho phép thiết lập các mối quan hệ mạnh mẽ và đông đảo giữa các khu vực khác nhau.

Ở phía Bắc, chúng ta chứng kiến “các cuộc đàm phán 6 bên” và SCO. Mỹ, Nga, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc đang tham gia các cuộc đàm phán để thuyết phục Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân. SCO gồm các nước thành viên Trung Quốc, Nga, Udơbêkixtan, Tátgikixtan, Cadắcxtan và Cưrơgưxtan, cùng các nước quan sát viên Ấn Độ, Pakixtan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Mông cổ và Tuốcmênixtan. Mục đích của SCO là nhằm loại bỏ vai trò của Mỹ, dựa vào Nga và gắn kết Trung Quốc với Trung Á. Các nước quan sát viên đang thiết lập mối quan hệ đan chéo với Nam Á và Trung Đông. Ở phía Đông và Nam Á trải dài đến tận hai bờ Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tập hợp đa số-các Nhà nước Đông Á, Bắc Mỹ, châu Đại Dương và một số Nhà nước Nam Mỹ. Các diễn đàn ba bên khác nhau bao gồm cả APEC, có tham vọng thông qua các thỏa thuận an ninh song phương với Mỹ: Nhóm Giám sát và Phối hợp ba bên (TCOG) gồm Mỹ, Nhật Bàn và Hàn Quốc; một mô hình khác như trên gồm Mỹ, Ôxtrâylia và Nhật và một hội nghị thượng đỉnh mới đây gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ. Oasinhtơn qua các điều kiện trên đã chen một chân vào khu vực và chúng ta tự hỏi châu Đại Dương có thực sự thuộc về châu Á không hay trước tiên là tiền đồn của đầu cực quốc tế – phương Tây. Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Đại Tây Dương (TPP) vừa góp phần tăng vai trò vào đầu cực này. Ôxtrâylia, Brunây, Chilê, Malaixia, Niu Dilân, Pêru, Xinhgapo, Mỹ và Việt Nam đang tập hợp xung quanh một kế hoạch thỏa thuận mậu dịch tự do. Canada, Nhật Bản và Mêhicô sẽ có thể gia nhập. Nếu một hiệp định hoàn chỉnh và có chiều sâu ra đời, mối quan hệ đối tác trên sẽ trở nên rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để dự báo sự ra đời của dự án này. Nếu Bắc Kinh vẫn đứng ngoài TPP thì nước này có thể sẽ trở thành một công cụ chính trị đối trọng mới do nhiều nước lập ra dưới sự hô hào của Mỹ để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Với giả thiết ngược lại nếu Trung Quốc cuối cùng gia nhập TPP, mọi ý định của nước này nhằm cô lập Đông Á trong một khu vực chặt chẽ hơn để dễ cai trị, cũng sẽ bị cản trở. Khả năng cuối cùng, TPP sẽ có thể trở thành một “vỏ ốc trống rỗng”, ít có hiệu lực như những diễn đàn đa phương khác trước đó. Ở phía Nam cũng như phía Tây gần Ấn Độ Dương, chúng ta có Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), tập hợp toàn bộ các Nhà nước Nam Á và đã trao quy chế quan sát viên cho Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Mianma và Ôxtrâylia. SAARC ở phạm vi nào đó là tổ chức sóng đôi với SCO, nơi Ấn Độ và Pakixtan là quan sát viên. Cuối cùng, ARF và EAS đảm bảo mối quan hệ cấp thế giới khi củng cố quan hệ liên khu vực cấp cao. ARF cũng kết nối các Nhà nước từ Đông Á đến châu Đại Dương, Bắc Mỹ, Nga và Liên minh châu Âu (EU). EAS cũng gồm các thành viên như Ôxtrâylia, Niu Dilân, Ấn Độ, Nga và Mỹ. Hình ảnh lưu lại từ những tổ chức trên là một phạm vi rộng lớn các đầu cực, các tổ chức hợp tác đang mở rộng tâm ảnh hưởng xa hơn và chồng lấn nhau từng phần, xích lại gần Đông Á và Nam Á, đôi khi kết nối hai khu vực này với Nga và phương Tây. Một số lượng lớn các Nhà nước Nam Á đang gia nhập các IGO Đông Á và các IGO này lại mở ra cho các nước thành viên ngoài châu Á. Tính thích đáng của quy mô khu vực đã bị chất vấn, hoặc bị mất đi bởi những tương tác trên và những mối quan hệ cắt ngang, hoặc mở rộng. Ý tưởng một “khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” đôi khi được Chính quyền Obama bảo vệ đang làm cho khái nhiệm về khu vực trở nên phi lý. Như đã từng đề cập, ý tưởng trên nằm trong chiến lược linh hoạt chống lại khu vực mà Mỹ triển khai từ nhiều năm qua. Nguyên tắc của chiến lược là Mỹ tham vọng tham gia nhiều tổ chức khu vực (Đại Tây Dương, châu Á-Thái Bình Dương, châu Mỹ) để hợp pháp hóa sự can dự của mình vào công việc của các nước và tạo một sự ảnh hưởng cần thiết để chống lại việc hình thành các tổ chức mà Mỹ bị cách ly (tại châu Âu, Đông Á, Mỹ Latinh). Xu hướng trên nằm trong các chiến lược đối trọng cấp siêu liên hiệp châu Á.

“Siêu liên hiệp” châu Á đã hình thành. Chúng ta thấy mô hình này qua sự gia nhập tăng cường đan chéo các tổ chức liên chính phủ châu Á với sự xuất hiện các chính sách đối trọng chống Trung Quốc, đặc biệt dựa vào Ấn Độ. Mỹ cam kết tại Đông Á và Nam Á cũng tham gia siêu liên hiệp này. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Bắc Kinh từ năm 2008 đang giúp Oasinhtơn gia tăng ảnh hưởng tại châu Á bất chấp Oasinhtơn đang trong giai đoạn suy tàn trên trường quốc tế. Việc lôi kéo một số Nhà nước láng giềng của Trung Quốc làm đối trọng là chiến lược làm hài lòng giới diều hâu tại Oasinhtơn, song đang cho thấy mối lo ngại rằng thái độ cương quyết mới đây của Trung Quốc liên quan tới những tranh chấp lãnh thổ cũng như trong các vấn đề nội bộ dự báo còn tồi tệ hơn. Mối lo ngại này đến từ các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam, Philíppin hay Ôxtrâylia, đang đẩy các nước này củng cố liên minh với Mỹ, nước đóng vai trò chiến lược tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ấn Độ và nhiều Nhà nước Đông Nam Á đang tìm cách liên minh với nhau, cả với Nhật Bản và Mỹ để hình thành một mặt trận chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc. Đó chính là một món quà ngoại giao và chiến lược thực sự mà những phe phái theo đường lối cứng rắn tại Trung Quốc ban tặng cho Mỹ. Vừa mới đây, Oasinhtơn đã chuyển hướng chiến lược đặt châu Á là trọng tâm chính sách an ninh của Mỹ. Việc tăng cường quan hệ chiến lược giữa Nam Á và Đông Á sẽ chủ yếu phụ thuộc vào cách thức trỗi dậy lần lượt của Ấn Độ và Trung Quốc. Từ nay chúng ta có thể nhận thấy được những dấu hiệu của một sự tương tác chiến lược, dù còn hạn chế song là thực tế giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Hai nước này đang đối đầu trực tiếp – tranh chấp biên giới và nguồn nước, đối đầu gián tiếp – cam kết của mỗi nước vào phạm vi ảnh hưởng của đối phương. Theo các nhà phân tích I. Rehman và D. Scott, Ấn Độ và Trung Quốc đang lao vào một cuộc chơi ngăn chặn và chống ngăn chặn, bị vướng vào những mối đe dọa an ninh. Nhìn chung, những phe phái theo chủ nghĩa thực dụng của Ấn Độ và Trung Quốc lo ngại về sự phát triển của một chủ nghĩa đối kháng sâu sắc giữa hai cường quốc mới nổi này mà theo họ là không thể tránh khỏi do những tranh chấp biên giới, việc sở hữu vũ khí nguyên tử, cạnh tranh hải quân, kinh tế và quy chế quốc tế.

Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật phân tán sự tập trung của Ấn Độ khi hỗ trợ các Nhà nước láng giềng; đang tăng cường sự hiện diện tại Nam Á – Pakixtan, Mianma và Xri Lanca. Trung Quốc đang cố gắng kiềm chế Ấn Độ tham gia các IGO Đông Á và HĐBA LHQ. Bắc Kinh cũng tăng cường sức mạnh quân sự tại Ấn Độ Dương, nhất là xây dựng các cơ sở hạ tầng cầu cảng và giao thông tại Pakixtan, Mianma và Xri Lanca; ưu tiên thúc đẩy trao đổi thương mại để triển khai sự hiện diện quân sự. Những kết quả từ việc gia tăng đáng kể trao đổi thương mại giữa Trung Quốc với Ấn Độ còn chưa rõ ràng. Theo nhà phân tích B.R. Nayar, hiện tượng trên có tác động đổi mới tại Trung Quốc, làm giảm sự kích động các Nhà nước Nam Á thù nghịch với Ấn Độ. Tuy nhiên, đó không phải là những điều chúng ta thấy ngày nay. Trung Quốc đang thông qua một chiến lược cứng rắn hơn bao giờ hết liên quan tới những tranh chấp biên giới với Ấn Độ và cũng đang cung cấp các lò phản ứng hạt nhân cho Pakixtan. Giống như Mỹ, Ấn Độ đang tìm cách hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào các lĩnh vực nhạy cảm như năng lượng hay viễn thông.

Ấn Độ xích lại gần Oasinhtơn

Yếu tố chính trong chính sách đối trọng của Ấn Độ với Trung Quốc là xích lại gần Mỹ, và được bắt đầu năm 2000. Chính sách này đã cho phép Niu Đêli được thừa nhận là cường quốc hạt nhân. Tuy nhiên, Ấn Độ không dự định liên kết hay khép kín trong cuộc cạnh tranh với đối thủ Trung Quốc. Ấn Độ nuôi dưỡng một kế hoạch với tham vọng tăng cường các lực lượng, ví dụ một lực lượng hải quân hoạt động tầm xa được trang bị 3 tàu sân bay để khẳng định tư cách một cường quốc hàng hải tại Ấn Độ Dương. Niu Đêli cũng đã phát triển “chính sách hướng Đông” trước tiên nhằm đưa đất nước trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế của khu vực tới cam kết tổng thể hơn tại Đông Á. Ấn Độ và Trung Quốc đang lao vào một cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng tại Mianma. Ấn Độ duy trì quan hệ hữu nghị truyền thống chặt chẽ với Việt Nam với hy vọng biến Hà Nội thành một đồng minh trung thành giống Pakixtan đối với Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, Ấn Độ đang thiết lập quan hệ tốt đẹp với Xinhgapo và Inđônêxia. Hải quân Ấn Độ thường xuyên có mặt trong khu vực và tham gia các cuộc tập trận hải quân với các nước khu vực. Điều này đóng vai trò làm đối trọng trước sự hiện diện của Trung Quốc. Niu Đêli cũng đang đóng vai trò gia tăng ảnh hưởng trong khai thác tài nguyên tại Biển Đông, khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước ven biển.

Từ những năm 2000, quan hệ giữa Ấn Độ với Nhật Bản đã được cải thiện, nhất là với Tuyên bố chung về hợp tác an ninh năm 2008. Mối quan hệ mới này trước tiên phục vụ mục đích chính trị, nhưng đến nay vẫn còn chưa được tăng cường, chưa có một thỏa thuận quân sự hay chưa thúc đẩy trao đối thương mại. Tuy nhiên, hải quân Ấn Độ đã mở rộng khu vực tập trận đến vùng lãnh hải của Nhật Bản và Hàn Quốc. Ấn Độ mong muốn có được công nghệ phòng thu tên lửa đạn đạo (DAMB), trong đó Nhật Bản hoặc Mỹ có thể là các đối tác cung cấp. Ấn Độ và Nhật Bản đă biết lựa chọn đứng về một phe trong cuộc chiến bá quyền giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh. Bên cạnh đó, ngay từ năm 2007 một trục dân chủ đã từng bước được xây dựng tại châu Á giữa các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Mỹ. Điều này cũng làm Trung Quốc lo ngại. “Quân bài dân chủ” cho phép Ấn Độ tiến xa hơn mà không phải vội vàng và giúp liên kết với hệ thống các liên minh khu vực được xây dựng xung quanh Mỹ. Các mối quan hệ chính trị, quân sự và trong một phạm vi nào đó là kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa Đông Á và Nam Á đang mở ra một siêu liên hiệp mới tại châu Á. Bị đặt bên ngoài lục địa châu Á, Nga trở nên quá yếu đến mức không thể gây ảnh hưởng thực sự từ sự năng động của mình. Việc Nga bị gạt ra khỏi khu vực dẫn đến khả năng Mátxcơva sẽ tăng cường phát triển quan hệ một cách nhanh chóng với các nước châu Á trong thời gian tới. vấn đề còn lại là các cuộc xung đột mở: giữa Trung Quốc và Đài Loan; hai miền Triều Tiên; Ấn Độ với Pakixtan. Từ lâu Trung Quốc là đối tác ủng hộ Pakixtan trong khi Ấn Độ không tham gia giải quyết tranh chấp liên quan tới hai miền Triều Tiên hay giữa Trung Quốc với Đài Loan. Thời gian tới có thể Ấn Độ sẽ thực hiện điều này. Hai trung tâm căng thẳng trên có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào song lại không ảnh hưởng đáng kể đến những biến động tổng thể của siêu liên hiệp.

Từ nay, sự tồn tại của một siêu liên hiệp châu Á là thực tế chứ không còn phôi thai nữa. Quan hệ giữa Đông Á và Nam Á về chính trị và an ninh đang được củng cố. Ấn Độ và Trung Quốc đang duy trì một sự liên quan chiến lược trong đó hai nước nhận biết rõ những thách thức. Trung Quốc mạnh hơn Ấn Độ và cảm thấy ít bị de dọa bởi đối thủ trong khi Ấn Độ thì ngược lại. Vị trí của Trung Quốc tại Nam Á có tính lâu đời và vững chắc hơn là vị trí của Ấn Độ tại. Đông Á. Tuy nhiên, Ấn Độ có một quân át chủ bài, đó là liên minh với Mỹ. Trung Quốc quả thực đang trên con đường phát triển song lại không liên kết với một cường quốc nào khác. Các nước láng giềng của Ấn Độ ủng hộ cam kết của Trung Quốc tại Nam Á, cũng như các nước Đông Á – Nhật Bản, Hàn Quốc không tin tưởng vào Mỹ – ủng hộ vai trò của Ấn Độ trong khu vực mình. Hầu như toàn bộ các nước Đông Á và Nam Á đang tìm cách tự bảo vệ mình trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một liên minh đang hình thành mở rộng từ Nhật Bản tới Ấn Độ, đi qua Việt Nam và Ôxtrâylia với sự hỗ trợ từ Mỹ.

Liệu có hình thành một liên minh chống lại Bắc Kinh?

Nếu Trung Quốc duy trì chính sách cứng rắn kể từ năm 2008, liên minh sắp được hình thành trên sẽ cứng rắn hơn. Các nước khu vực sẽ tìm cách tự bảo vệ chống lại mối đe dọa của Trung Quốc bằng cách củng cố sức mạnh quân sự trong khi hợp tác hơn nữa về an ninh và tìm kiếm sự hỗ trợ từ Mỹ. Một cuộc chiến tranh khu vực là ít có khả năng bởi nhiều nước có vũ khí hạt nhân trong khi Oasinhtơn đã cam kết trong khu vực và tất cả các nước châu Á đồng thuận cần thiết bảo vệ tăng trưởng. Tại Đông Á, sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau đang đóng vai trò điều hành trong dài hạn bằng cách ngăn cản mọi cuộc xung đột chính trị phát sinh. Trừ những thay đổi cấp tiến, sự phụ thuộc kinh tế sẽ cần phải giữ chức năng là sứ giả hòa bình. Yếu tố này không có thế mạnh tại Nam Á và tầm ảnh hưởng còn yếu trong quan hệ giữa Đông Á và Nam Á. Tuy nhiên, có khả năng các nước châu Á đang lao vào một cuộc chạy đua vũ trang và thực hiện các chính sách đối trọng. Mong muốn của Trung Quốc là bảo vệ hay đạt được những mục tiêu của một cường quốc hàng đầu – vũ khí nguyên tử, khả năng không gian, hải quân tầm xa – là điều hợp lệ, song Bắc Kinh cần trông chờ những điều mà các nước láng giềng hành động. Nhật Bản, Đông Nam Á và Ấn Độ liên quan tới sức mạnh quân sự gia tăng từ Trung Quốc. Các nước đang đáp trả bằng các phương tiện tương tự. Đó là một thế tiến thoái lưỡng nan an ninh cổ điển dẫn đến một cuộc xung đột vũ trang nếu Trung Quốc không quay trở lại với thái độ ôn hòa và gắn kết hơn với ý tưởng phát triển hòa bình, song trước hết lại đang là một nền “hòa bình lạnh” có vũ trang.

Siêu liên hiệp châu Á từ nay bao gồm toàn bộ các hoạt động tương tác giữa Đông Á và Nam Á về an ninh và hội nhập cùng sự tham gia trước đây và hiện nay của Mỹ vào những biến động khu vực. Lúc này, Đông Á và Nam Á gắn nhiều với những biến động an ninh hơn là quan hệ kinh tế; còn cần phải xem xét sự cân bằng hay mất cân bằng sẽ đi đến đâu. Sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ được coi như một chất xúc tác hòa trộn giữa những biến động an ninh khu vực châu Á với những biến động của thế giới, bắt đầu với Ấn Độ và Trung Quốc. Do sự đan chéo trên, các nước châu Á khác đang bị cuốn vào một cuộc chơi của chủ nghĩa cân bằng để tự bảo vệ mình trước một nước Trung Quốc đang trỗi dậy và có tiềm năng đe dọa, trở nên chín muồi trước một nước Mỹ đang trong giai đoạn suy tàn; tránh mọi sự lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Trung Quốc, nước sẽ không phục vụ cho lợi ích của khu vực. Hai yếu tố, động lực giải thích cho những biến động trên: sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như tương lai phát triển khó đoán định của nước này và cách thức Trung Quốc sẽ sử dụng trên vai trò là cường quốc mới. Bắc Kinh đang gặp khó khăn trong việc thuyết phục rằng mình khát khao một sự phát triển hòa bình và thái độ của nước này chỉ có thể khiến các nước láng giềng lo ngại. Đó là một mối lợi bất ngờ cho Mỹ, nước đang suy yếu và xem đây là dịp để bảo vệ và củng cố vị trí của mình tại châu Á. Thật nghịch lý là trong khi trấn an các nước láng giềng châu Á thì Bắc Kinh lại đặt Oasinhtơn vào thế khó…

***

Thời kỳ đô hộ 500 năm của phương Tây đối với thế giới đã chấm dứt. Đó là luận đim của nhà sử học người Anh và giáo sư Trường Đại học Havard, Niall Ferguson. Phân tích vn đề này trên tạp chí “Statafrik”, ông cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ năm 2011 chỉ là những triệu chứng của việc sức mạnh kinh tế được chuyển từ Tây sang Đông.

Hai cuộc khủng hoảng nói trên cũng không phải là chu kỳ kinh tế đơn thuần, mà là triệu chứng và chất xúc tác thúc đẩy nhanh quá trình thay đổi về cơ bản tình trạng cân bằng sức mạnh thế giới với trọng lực dường như ít nhiều dịch chuyển từ phương Tây sang châu Á. Các cường quốc kinh tế tương lai sẽ không phải là Mỹ và châu Âu nữa, mà là Trung Quốc và Ấn Độ.

Năm 1913, của cải rõ ràng nằm trong tay các nước thực dân. Tại các nước Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nga, Anh và Mỹ, tập trung tới 61% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới, trong khi các nước thuộc địa chỉ nắm giữ 18%. Trong khi đó, về diện tích, các nước thuộc địa bao phủ tới 48% tổng diện tích thế giới và có 31% dân số thế giới.

Người ta nhận thấy rằng từ năm 1500, cán cân hầu như không thay đổi: các cường quốc phương Tây nắm giữ tới 43% GDP thế giới. Nếu tính theo GDP theo đầu người, vào năm 1600, tình trạng mất cân đối còn nặng nề hơn giữa các nước phương Tây và các nước khác. Dân chúng ở các nước phương Tây giàu hơn rất nhiều so với người dân ở các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, đến thế kỷ 20 diễn ra chu trình đuổi bắt với tốc độ rất nhanh. Tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người ở Ấn Độ, vào năm 1600 chỉ bằng 2% so với của Anh, sau tăng lên mức 10%. Ở Mỹ so với ở Trung Quốc cũng như vậy. Vào thế kỷ 20, cuộc đuổi bắt diễn ra ở các nước châu Á với nhịp độ nhanh hơn ở các nước phương Tây trước đây. Tăng trưởng GDP trong cả thời kỳ Cách mạng công nghiệp là 4,4% ở Anh, 5,3% ở Mỹ, 7,7% ở Nhật Bản và 10,3% ở Trung Quốc. Tăng trưởng trung bình hàng năm GDP trong các thời kỳ “cách mạng công nghiệp” này là 2,2% ở Anh (từ năm 1830 đến năm 1900), 3,9% ở Mỹ (1870-1913), 9,3% ở Nhật Bản (1950-1973) và 9,4% ở Trung Quốc (1978-2004).

Tăng trưởng đều đặn ở các nước phương Đông dĩ nhiên dẫn đến hệ quả là phần GDP thế giới của các nước Khu vực đồng euro, Canađa, Nhật Bản, Anh và Mỹ suy giảm hay chững lại. Tỷ lệ đóng góp trong GDP thế giới của Trung Quốc, trái lại, tăng lên kể từ đầu những năm 2000. Tăng trưởng ở Trung Quốc dường như vẫn chưa dừng lại. Mức tăng GDP của Trung Quốc và Ấn Độ bỏ xa mức tăng ở các nước phương Tây. Chỉ có Mỹ là sẽ giữ được mức tăng trưởng GDP tương đối đều đặn sau năm 2025. Theo dự báo của Goldman Sachs, Trung Quốc có thể sẽ trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới, vượt lên trước Mỹ bắt đầu từ thời kỳ 2026- 2027. Kể cả ở các nước có số dân ít hơn, mức độ chênh lệch giữa các nước Đông và Tây cũng thể hiện rõ. Tăng trưởng mạnh ở các nước châu Á còn hiển thị trong so sánh tiến triển GDP của Anh và Nhật Bản trong thời kỳ 1870-2008. Từ đầu những năm 1960, tăng trưởng kinh tế ở Nhật Bản cao hơn hẳn so với của Anh.

Liệu đó có phải là tiến trình phi công nghiệp hóa thế giới phương Tây không? Khái niệm này lúc này đang được nói đến nhiều, theo đó, về sản xuất công nghiệp, Trung Quốc là nước duy nhất có được tăng trưởng từ đầu những năm 1990, còn tất cả các nước khác chững lại hay giảm đáng kể, chẳng hạn như ở Mỹ. Có thể coi Trung Quốc giống như một chiếc xe khỏe trong thế kỷ 21. Sự phát triển mạnh mẽ của nước này được khẳng định qua các con số về GDP so với của Mỹ. Cụ thể là GDP của Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan cộng lại đạt xấp xỉ 90% GDP của Mỹ vào năm 2009 so với hơn 10% một chút vào năm 1950.

Phương Tây suy thoái không phải chỉ về kinh tế mà cả về dân số. số dân của các nước phương Tây trong dân số thế giới giảm từ 20% vào năm 1950 xuống còn 10% vào năm 2050. Trong khi tăng trưởng dân số ở các nước phương Tây đang trục trặc, món nợ của các nước được gọi là phát triển ngày càng lớn… Theo con số của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, món nợ của các nước đứng đầu trong số các nước thuộc nhóm G20 từ nay đến năm 2015 sẽ lên tới gần 120% GDP của các nước này so với 66% vào năm 2000. Số nợ của các nước đang phát triển giảm từ hơn 80% GDP vào năm 2000 xuống còn chưa đến 40% vào năm 2015. Tệ hơn thế là món nợ đó ngày càng tăng… Theo kịch bản tồi tệ nhất, món nợ đó có thế lên tới hơn 300% GDP của Bồ Đào ,Nha, Tây Ban Nha hay Ai Len vào năm 2040, 400% GDP của Hy Lạp, 450% GDP của Mỹ và hơn 500% GDP của Anh…

Những món nợ chồng chất như vậy không thể không gây hậu quả đối với sự ổn định chính trị của thế giới. Vì chưa bao giờ có một cuộc khủng hoảng nợ nào kết thúc mà không gây ra tình trạng tiền tệ hóa và/hay lạm phát, nên Trung Quốc ý thức rõ nguy cơ mà các nước phương Tây gây ra đối với sự ổn định kinh tế của thế giới. Bộ trưởng Thương mại nước này Trần Đức Minh từng tuyên bố rằng Mỹ in tiền mà không hề kiểm soát và giá nguyên liệu tiếp tục tăng khiến Trung Quốc phải chịu lạm phát nhập khẩu. Tình trạng không chắc chắn đó gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho doanh nghiệp.

Liệu điều đó có dẫn đến một cuộc chiến tranh tỷ giá không? Bởi lẽ các nựớc phương Tây cho rằng chính chính sách tỷ giá của Trung Quốc gây ra nhiều vấn đề cho nền kinh tế thế giới. Đồng nhân dân tệ được định giá thấp về phương diện cơ cấu. Cách đây vài tháng, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, tuyên bố tại Liên hợp quốc rằng nếu Trung Quốc không có biện pháp – để chấm dứt thao túng đồng tiền của mình, Mỹ sẽ có cách khác để bảo vệ lợi ích của mình. Liên quan đến một cuộc “chiến tranh ngoại tệ” có thể xảy ra, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo phản ứng lại khi nói rằng không nên gây áp lực về tỷ giá đồng nhân dân tệ. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã phải đóng cửa và công nhân phải trở về quê hương mình. Nếu Trung Quốc phải chịu một cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế, đó sẽ là thảm họa đối với thế giới. Trên thị trường hối đoái, tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ và đồng nhân dân tệ đã giảm từ năm 2005.

Trước nguy cơ mất ổn định xã hội và chính trị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra một kế hoạch đơn giản: tiêu thụ nhiều hơn nữa. Số xe hơi Trung Quốc bán được tăng từ 2 triệu chiếc/năm vào năm 2005 lên 14 triệu chiếc hiện nay (so với 11 triệu ở Mỹ). Và mức cầu xe hơi ở Trung Quốc có thể tăng gấp 10 lần. Năm 2035, Trung Quốc sẽ sử dụng 20% năng lượng của thế giới, tăng 75% so với năm 2008.

Mức tiêu thụ đó cũng dẫn đến tăng hàng nhập khẩu. Trung Quốc trở thành một trong những nước nhập khẩu nhiều nhất thế giới. Trung Quốc là khách hàng lớn của Braxin (12,5% hàng xuất khẩu của nước này vào năm 2009), Nam Phi (]0,3%), và Ôxtrâylia (21,8%). Mức tăng trưởng đó phải được duy trì: theo Viện than thế giới, Trung Quốc tiêu thụ 46% sản lượng than của thế giới. Năm 2009, mức tiêu thụ thép thô của nước này cao hơn hai lần so với của Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật Bản cộng lại.

Trung Quốc cũng thực hiện chính sách đầu tư và mua hàng chiến lược của nước ngoài. Chẳng hạn châu Phi thư hút tới 41% tổng lượng đầu tư của Trung Quốc, chỉ đứng sau các nước châu Á (44%). Tháng 1/2010, các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư trực tiếp 2,4 tỷ USD vào 420 doanh nghiệp nước ngoài của 75 nước, chủ yếu trong các lĩnh vực viễn thông, vận tải và công nghiệp hóa dầu. Gần 800.000 người Trung Quốc ra làm việc ở nước ngoài – không tính số người di cư – trên khắp thế giới để quản lý số vốn đầu tư này.

Tại Pháp, người ta không có dầu mỏ, song có ý tưởng. Khẩu hiệu của những năm 1970 này liệu có còn giá trị đối với các nước phương Tây trước thực trạng này không? Có, gì mới về sáng chế ở các nước phát triển không?

Nhật Bản đứng đầu, Mỹ đứng thứ hai nhờ “nhập khẩu” ồ ạt chất xám của nước ngoài. Tiếp đó là Hàn Quốc. Các nước có tỷ lệ bằng phát minh sáng chế cao nhất là Nhật Bản với số bằng tăng từ 180.000 (năm 2005) lên 240.000 (năm 2008), và Trung Quốc tăng khoảng 100% trong ba năm (từ 25.000 lên 50.000 trong cùng thời gian trên).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự phân bố bằng phát minh sáng chế trên thế giới đó cũng phản ánh năng lực của các hệ thống giáo dục. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Anh và Italia là hai nước có tỷ lệ cao nhất số thanh niên không có trình độ hay có trình độ thấp. Đứng đầu các nước có số thanh niên có trình độ cao nhất là Hàn Quốc. Học sinh châu Á là những người lập được nhiều kỷ lục cao nhất trong các kỳ thi quốc tế. Chẳng hạn về toán học trong số học sinh ở độ tuổi 14 tuổi, trong Top 5 hoàn toàn là các nước châu Á, theo thứ tự là Đài Loan, Hàn Quốc, Xinhgapo, Hồng Công và Nhật Bản. Trong các kỳ thi về khoa học cũng gần như vậy, với Xinhgapo đứng đầu, sau đó là Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Như vậy, các nhà khoa học và nghiên cứu của tương lai phải chăng chắc chắn sẽ hoàn toàn là người của phương Đông?

Trong cuốn sách của mình xuất bản vào tháng 11/2012, Niall Ferguson cho rằng sự sụp đổ của các nền văn minh lớn diễn ra rất nhanh. Đế chế La Mã “vỡ tan chỉ trong vòng một thế hệ”, “cuộc chuyển tiếp thảm họa giữa cân bằng Khổng Tử và tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc thời nhà Minh diễn ra chỉ trong gần một thập kỷ và Liên Xô rơi thẳng từ vách đá xuống. Các nền văn minh là những hệ thống rất phức tạp dựa trên tác động tương hỗ của một số rất cao yếu tố cấu thành nhưng được sắp xếp một cách phi đối xứng khiến cấu trúc của chúng giống như một tổ mối ở Namibia hơn là một kim tự tháp ở Ai Cập. Các hệ thống đó có thể hoạt động ổn định trong một thời gian nhất định, bề ngoài có vẻ cân bằng nhưng trên thực tế lại luôn phải điều chỉnh. Nhưng đến một thời điểm quyết định nhất định, một rối loạn nhỏ cũng có thể dẫn đến một giai đoạn chuyển tiếp giữa tình trạng cân bằng bề ngoài đó và một cuộc khủng hoảng sâu rộng. Chỉ cần một hạt cát nhỏ cũng đủ để làm cho cả tòa lâu đài đó đổ sụp./.  

Nguồn: TTXVN/BS

 

Dư luận phê phán chính sách biển ngang ngược của Trung Quốc – TQ

4 Th1

Dư luận phê phán chính sách biển ngang ngược của Trung Quốc

(Toquoc)-Chủ trương xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển đang là nguyên nhân gây ra sự căng thẳng, mối quan ngại và thúc đẩy các nước hợp tác chống lại mưu đồ của Trung Quốc.

Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ đại dương. Biển chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất, gắn bó khăng khít với sự tồn tại của con người, cũng liên quan chặt chẽ tới sự hưng suy của quốc gia. Nhìn lại lịch sử thế giới, rất nhiều nước trên thế giới đều đã trải qua con đường dựa vào biển để trỗi dậy, nhờ vào biển để cường thịnh. Các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Mỹ trỗi dậy đều từ biển. Bước vào thế kỷ 21, địa vị của biển trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao quốc tế lại càng rõ rệt hơn. Tình hình đặc trưng là xung đột và đấu tranh giành giật không gian biển và nguồn lợi biển tăng mạnh trong thế kỷ 21.

Trung Quốc trong lịch sử từ xa xưa đến tận những năm 1980 là cường quốc lục địa. Bốn hiện đại hóa đã thức tỉnh Trung Quốc trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh biển. Trung Quốc đã không bỏ phí một chút thời gian nào. Sự kiện nổi bật mới đây là Đại hội 18 ĐCS Trung Quốc đã chính thức hóa chiến lược biển, khi tuyên bố: Trung Quốc quyết tâm “nâng cao năng lực khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích biển của quốc gia, xây dựng cường quốc biển”. Mục tiêu là mở rộng không gian hoạt động cho lực lượng hải quân Trung Quốc và tận lực khai thác tài nguyên, hải sản biển để nuôi sống 1,3 tỷ dân Trung Quốc.


Trung Quốc vươn tới tận Nam Mỹ trong hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế trên biển của nước khác: Tàu cảnh sát biển Argentina đang áp tải ra khỏi hải phận hai tàu đánh cá Trung Quốc đánh bắt hải sản bất hợp pháp tại vùng biển của nước này hồi cuối năm 2012

Trong hành động, vô số thế lực chính trị và kinh tế Trung Quốc đã lợi dụng những căng thẳng về lãnh thổ để phục vụ những lợi ích riêng của họ, điều này đã gây sức ép, buộc các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh lên gân lập trường. Theo báo Le Monde Diplomatique (Pháp), nhiều tác nhân Trung Quốc tham gia các phi vụ làm ăn trên Biển Đông, được gọi là “9 con rồng cướp biển”, dựa theo truyền thuyết. Trên thực tế, con số các tác nhân vượt xa so với số lượng con vật huyền thoại kia. Trong số đó có các chính quyền địa phương, Hải quân, Bộ Nông Nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước, các lực lượng an ninh, thuế quan hay Bộ Ngoại giao.

Chính quyền của các vùng ven biển Hải Nam, Quảng Tây và Quảng Đông lại ra sức tìm đầu ra cho các sản phẩm xí nghiệp của họ vì nếu thành công, chỗ đứng của họ trong bộ máy Nhà nước sẽ được đảm bảo. Chừng nào họ càng bày tỏ cứng rắn, họ còn được giao quyền quản lý công việc địa phương. Những ham muốn càng được kích thích bởi sự kết hợp của một chính sách tăng trưởng với một quyền tự trị lớn hơn của các nhà chức trách địa phương. Đó là lý do tại sao họ khuyến khích các ngư dân của nước họ xâm nhập sâu hơn nữa vào các vùng biển tranh chấp, đặc biệt là bằng cách bắt ép các ngư dân phải hiện đại hóa tàu bè của mình và trang bị các hệ thống dò đường bằng vệ tinh. Việc ưu tiên cấp giấy phép đánh cá cho các tàu đánh cá lưới rê cỡ lớn nhất chính là một sự kêu gọi khác theo hướng này.

Nội hàm “cường quốc biển” của Trung Quốc là gì?

Báo Hải dương Trung Quốc số ra gần đây đăng bài viết của Cục trưởng Cục hải dương quốc gia Trung Quốc về một số vấn đề cần xem xét liên quan đến công tác xây dựng cường quốc biển theo tinh thần mà Đại hội 18. Ngày nay Trung Quốc xác định họ vừa là nước lớn lục địa, cũng vừa là nước lớn về biển.

Nội hàm “cường quốc biển” của Trung Quốc gồm 5 phương diện là nhận thức về biển, sử dụng biển, sinh thái biển, quản lý biển và biển hài hòa.

Về nâng cao nhận thức về biển, giới lãnh đạo Bắc Kinh chủ trương tăng cường nghiên cứu khoa học biển. Họ chủ trương tăng cường nghiên cứu gien sinh vật dưới biển sâu, nâng cao trình độ nghiên cứu công nghệ thăm dò biển. Trung Quốc chủ trương đào tạo nhân lực mới về công nghệ biển, quản lý ngành biển, nhân tài nghiên cứu cơ sở về biển. Trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài mũi nhọn theo mô hình sáng tạo, hoàn thiện thể chế, cơ chế về công tác nhân tài biển. Bắc Kinh chủ trương mở rộng công tác văn hóa biển và tuyên truyền về biển, mở rộng diện phổ cập kiến thức về khoa học công nghệ biển, kinh tế biển và pháp luật biển, đào tạo, tích lũy và phát huy tinh thần biển.

Về sử dụng biển, chú trọng phát triển mở mang kinh tế biển, trù tính chung cả đất liền và biển, hoàn thiện hệ thống phân định khu chức năng biển cấp quốc gia và cấp tỉnh, làm tốt quy hoạch phát triển ngành nghề biển, quy hoạch kinh tế biển, quy hoạch bảo vệ biển đồng thời với những quy hoạch khác, liên kết phối hợp giữa các khu quy hoạch. Nhằm nâng cao trình độ khai thác sử dụng biển, xoay quanh một số mặt như: Cải tạo, nâng cấp ngành nghề biển, cải thiện, khắc phục những khó khăn, bế tắc gặp phải trong quá trình đào tạo con người, giúp đỡ ngành nghề biển mới nổi, mở rộng phối hợp giữa sản xuất, học tập, nghiên cứu, thúc đẩy phát triển kinh tế biển vừa tốt vừa nhanh; khai thác nguồn tài nguyên sinh vật biển, tập trung đột phá vào kỹ thuật đánh bắt cá biển, kỹ thuật nuôi trồng trong môi trường nước biển, kỹ thuật chăm sóc cây trồng có khả năng chịu mặn, làm cho tỉ lệ đóng góp của kỹ thuật trong khai thác sử dụng biển tiếp tục được nâng cao.

Cuộc xâm lấn trên giấy tờ – hành động cướp đất mới nhất của Bắc Kinh

Báo Dân tộc của Thái Lan mới đây đăng bài “Cuộc xâm lấn trên giấy tờ của Trung Quốc”, trong đó bình luận rằng một liên minh ứng phó đang hình thành để phản đối hành động cướp đất mới nhất của Bắc Kinh qua việc in bản đồ vào hộ chiếu Trung Quốc. Việt Nam, Philippines, Ấn Độ và Đài Loan đã kịch liệt phản đối hộ chiếu mới của Trung Quốc. Giáo sư nghiên cứu Đông Á Bruce Jacobs của Trường đại học Monash Australia nhận xét: “Bản đồ này khẳng định bản tính ngang ngược ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc đưa ra tuyên bố đối với các vùng lãnh hải tranh chấp”. Mỹ cho rằng bản đồ trong hộ chiếu mới là “nguyên nhân gây ra sự căng thẳng và mối lo ngại” trong số các nước tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Việt Nam và Philippines đã từ chối đóng dấu thị thực cho các hộ chiếu mới của Trung Quốc và thay bằng việc tạo ra một mẫu thị thực riêng, trong khi Đài Loan thì bác bỏ biên giới biển trong bản đồ nói trên.

Ấn Độ, nổi giận với bản đồ thể hiện 2 bang Arunachal Pradesh và Aksai Chin ở khu vực Himalaya thuộc lãnh thổ Trung Quốc, đang cấp thị thực cho công dân Trung Quốc với dấu nổi in hình bản đồ riêng của New Delhi.

Sau việc đột ngột thúc đẩy hành động của Trung Quốc cướp đất ở Biển Đông, một liên minh an ninh đặc biệt đang nổi lên giữa Nhật Bản và các nước ASEAN tuyên bố chủ quyền, gồm Việt Nam và Philippines, nhằm ngăn chặn hành động xâm lược hung hăng của Trung Quốc thông qua ngoại giao hoặc các biện pháp có khả năng khác. Giám đốc Học viện nghiên cứu Đông Á Yoshide Soeya thuộc Trường đại học Keio Tokyo cho biết: “Chúng tôi muốn xây dựng một liên minh ứng phó của riêng mình tại châu Á nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc đang lấn lướt”./.

Hoài Nam

 

30 gia đình giàu nhất sàn chứng khoán 2012

4 Th1

30 gia đình giàu nhất sàn chứng khoán 2012

VnExpress.net

 

Thị trường năm qua vẫn ghi nhận một gia đình có tài sản vượt mốc 1 tỷ USD và phần lớn thành viên trong Top 30 đều giàu lên bất chấp khó khăn chung. Danh sách năm nay cũng chào đón sự xuất hiện của nhiều gương mặt mới.

>> Unilever, Colgate ‘nuốt’ kem đánh răng Việt cách nào?
>> TP.HCM còn tồn trên 28.000 căn hộ

Tiếp nối danh sách 100 người giàu nhất và 50 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán, VnExpress.net tiếp tục gửi tới bạn đọc số liệu thống kê về 30 gia đình có tài sản lớn nhất, tính theo giá trị cổ phiếu hữu của các thành viên. So với năm 2011, đa số gia đình trong Top 30 đều “giàu lên” trên sàn chứng khoán, khi có tới 70% các gia đình có giá trị cổ phiếu sở hữu tăng so với năm ngoái. Tổng tài sản chứng khoán của 30 gia đình, do đó đạt tới con số gần 55.587 tỷ đồng sau phiên giao dịch cuối cùng của năm 2012, tương đương hơn 2,67 tỷ USD và tăng hơn 300 triệu USD so với năm ngoái.

Gia đình ông Phạm Nhật Vượng tiếp tục giàu nhất trên sàn chứng khoán. Ảnh: Anh Tuấn

Gần một nửa trong số 2,67 tỷ USD này thuộc về các ông bà chủ của Tập đoàn VINGROUP, khi cùng với vợ Phạm Thu Hương và 3 chị em vợ đang sở hữu tổng cộng gần 282,2 triệu cổ phiếu VIC, tương đương tài sản gần 22.576 tỷ đồng (hơn 1 tỷ USD). Nhà họ Phạm, nhờ đó, tiếp tục giữ được ngôi vị là gia đình giàu có nhất trên sàn chứng khoán trong năm thứ 5 liên tiếp.

Nếu như vị trí thứ 2 và thứ 4 không bị xáo trộn trong năm nay khi các thành viên của gia đình Chủ tịch Hoàng Anh Gia Lai – Đoàn Nguyên Đức và Chủ tịch Masan – Nguyễn Đăng Quang vẫn lần lượt giữ thứ hạng này với tổng tài sản tương đương hơn 5.745 tỷ và 2.221 tỷ đồng, thì vị trí thứ 3 lại chứng kiến sự thăng hạng nhanh chóng của các đại diện Tập đoàn Hòa Phát. Tăng hơn 1.000 tỷ đồng so với năm ngoái, Chủ tịch Trần Đình Long cùng vợ (và một số ít cổ phần đang đứng tên mẹ ông), đã tăng 4 bậc trong danh sách năm nay.

Gia đình từng giữ vị trí thứ 3 này trong năm 2011 là 2 chị em ông Đặng Thành Tâm và Đặng Thị Hoàng Yến chuyển xuống xếp vị trí thứ 6, với tài sản giảm hơn 900 tỷ đồng trong 12 tháng qua. Sự sụt giảm tương tự cũng được ghi nhận ở một số đại gia gặp nhiều sóng gió trên thương trường trong năm qua như gia đình ông Nguyễn Đức Kiên, Trần Hùng Huy tại ACB hay nữ doanh nhân địa ốc – Nguyễn Thị Như Loan tại Quốc Cường Gia Lai.

Tuy vậy, sóng gió của năm 2012 cũng là cơ hội để nhiều gương mặt mới xuất hiện trong danh sách các gia đình giàu nhất trên sàn chứng khoán. Tiêu biểu là trường hợp của đại gia Trầm Bê khi vụ thâu tóm tại Sacombank đã giúp ông và các thành viên khác trong gia đình sở hữu khối tài sản chứng khoán hơn 1.434 tỷ đồng và xếp vị trí thứ 11 trong danh sách ngay trong năm đầu tiên góp mặt.

Vụ thâu tóm Sacombank đã đưa gia đình ông Trầm Bê trở thành những triệu phú chứng khoán.

Tương tự là câu chuyện của các đại gia “đất cảng” khi việc niêm yết cổ phiếu HHS trong năm 2012 đã đưa 2 cha con ông Đỗ Hữu Hạ – Đỗ Hữu Hậu và các cổ đông khác trong gia đình tại Tập đoàn Hoàng Huy (Hải Phòng) vào danh sách 30 gia đình giàu nhất trên sàn chứng khoán. Hiện tài sản chứng khoán của gia đình này đang tương đương gần 656 tỷ đồng và xếp thứ 17 trong danh sách.

Danh sách 30 gia đình triệu phú trên sàn chứng khoán chào đón 6 thành viên mới, chưa từng xuất hiện hoặc vắng bóng nhiều năm trong danh sách. Gia đình có nhiều thành viên sở hữu cổ phiếu nhất là 12 người (gia đình bà Cao Thị Ngọc Dung – Chủ tịch PNJ) và ít nhất là 2 thành viên (có 3 trường hợp). Đứng ở vị trí thứ 30 trong danh sách là gia đình đang sở hữu tài sản chứng khoán hơn 290 tỷ đồng, tăng hơn 100 tỷ đồng so với năm ngoái.

Là năm thứ 5 liên tiếp công bố danh sách 30 gia đình giàu nhất trên sàn chứng khoán, xếp hạng năm nay tiếp tục được xây dựng trên cơ sở tổng hợp số liệu, thông tin công bố của hơn 700 doanh nghiệp niêm yết tại 2 Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP HCM. Đây cũng là năm thứ 3 liên tiếp VnExpress.net nhận được sự hỗ trợ từ đối tác cung cấp dữ liệu là Công ty chứng khoán VNDIRECT.

VnExpress.net

>> Sạt nghiệp, hầu tòa vì góp vốn DN
>> Thủ đoạn “lách trần” của ngân hàng

Mỹ và Trung Quốc làm lu mờ phần còn lại của thế giới – SGTT

4 Th1

Mỹ và Trung Quốc làm lu mờ phần còn lại của thế giới

SGTT.VN – Về dự báo, Trung Quốc được giới quan sát cho là sẽ qua mặt Hoa Kỳ thì cũng là lúc bị Ấn Độ bắt kịp! Ngày 2.1 với 257 phiếu thuận và 167 phiếu chống, Hạ viện Mỹ đã thông qua được thoả thuận tránh cho nước Mỹ va vào “vách đứng ngân sách”, tức là tránh cho nước này phải thi hành những biện pháp khắc khổ gắt gao. Tuy thoả thuận này được thông qua, nhưng thương thuyết giữa quốc hội với chính quyền Obama trong những tháng tới vẫn còn gay go.

Mọi dự báo đều cho rằng 2013 là năm Mỹ và Trung Quốc sẽ làm lu mờ phần còn lại của kinh tế thế giới. Đây cũng là thời điểm mà cạnh tranh giữa hai siêu cường kinh tế Mỹ – Trung ngày càng thêm rõ nét vào lúc viễn cảnh tăng trưởng của khối euro trong năm 2013 chưa đạt tới 0,5%, GDP của Mỹ dự phóng tăng 2%, tỷ lệ thất nghiệp được giảm xuống dưới ngưỡng 8% còn GDP của Trung Quốc dự kiến tăng trên 8,6%.

Về dự báo, Trung Quốc được giới quan sát cho là sẽ qua mặt Hoa Kỳ thì cũng là lúc bị Ấn Độ bắt kịp! Ấn Độ là xứ đông dân nhưng trẻ hơn và không bị lão hoá như Trung Quốc. Sức tiết kiệm cũng bằng Trung Quốc mà tỷ trọng về tiêu thụ của thị trường nội địa cao hơn nên ít lệ thuộc vào thị trường xuất cảng. Chẳng cần đợi đến năm 2030, dư luận cũng có thể thấy ra cái lẽ đúng sai của câu chuyện hơn thua này.

Nhìn sang Nhật Bản, các dự phóng cho năm 2013 không quá đen tối, nhưng cụm từ “đình đốn” vẫn được dùng khi nói về nền kinh tế thứ ba trên địa cầu. Các chỉ số kinh tế không mấy tươi sáng cho phép tân Thủ tướng Shinzo Abe mạnh dạn tiến hành hàng loạt các biện pháp cải tổ. Mọi người chờ đợi tiêu thụ của các hộ gia đình sẽ tăng trong năm nay trước khi chính quyền Tokyo tăng thuế TVA. Tuy nhiên, quan hệ giữa Nhật Bản với đối tác thương mại hàng đầu là Trung Quốc sẽ là một yếu tố mang tính quyết định đối với kinh tế xứ hoa anh đào, vốn lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu.

Vẫn tại châu Á, bên cạnh hai nền kinh tế đang trỗi dậy là Trung Quốc và Ấn Độ, tờ The Economist tin tưởng vào tiềm năng của Indonesia và Philippines. Indonesia đã bảo đảm được một nhịp độ tăng trưởng đều đặn trong mười năm qua và năm 2012, lần đầu tiên từ sau khủng hoảng tiền tệ năm 1997, Indonesia đã có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn so với Ấn Độ. Tổng sản phẩm nội địa Indonesia trong năm 2013 sẽ vượt quá ngưỡng tâm lý 1.000 tỉ đôla Mỹ. Còn đối với Philippines, nước đông dân thứ nhì trong khối ASEAN, The Economist dự phóng GDP quốc gia này sẽ tăng 6% trong năm, chủ yếu nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối do xuất khẩu lao động gửi về.

Trên bức tranh kinh tế toàn cầu khá ảm đạm, châu Mỹ Latinh được coi là nơi trời quang, mây tạnh. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong vùng cao hơn đôi chút so với 2012 và sẽ ở vào khoảng từ 3,5 – 4%.

Nguyễn Xuân

‘Chủ bài’ mới trong chiến tranh trên biển của Mỹ – Vnn

4 Th1

‘Chủ bài’ mới trong chiến tranh trên biển của Mỹ 

Trang Wired đưa tin về loại thiết bị không người lái sử dụng trong chiến tranh chống tàu ngầm (ACTUV), một loại tàu rô-bốt được trang bị để theo dấu các tàu ngầm của đối phương trong một hành trình dài.

Một loại tàu do thám trên mặt nước của Mỹ
Đây được coi là loại vũ khí giúp Mỹ phá tan chiến lược chống thâm nhập trên biển mà một số quốc gia đang vận dụng.

 

Nhà thầu trong lĩnh vực quốc phòng của Mỹ là Tập đoàn Quốc tế ứng dụng khoa học (SAIC) đang phát triển loại thiết bị không người lái trên mặt nước trong một hợp đồng trị giá 58 triệu USD với Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tân tiến (DARPA). DARPA là cơ quan thuộc chính phủ Mỹ chịu trách nhiệm theo đuổi các công nghệ mới và đặc biệt.

Nếu thiết bị này được hiện thực hóa thành công như thiết kế, tàu rô-bốt này sẽ củng cố khả năng duy trì liên lạc với các tàu ngầm, thậm chí là các tàu ngầm chạy bằng diesel-điện hầu như không phát ra tiếng động dưới mặt nước.

Khi kết nối và được chiếc máy bay chống tàu ngầm của Mỹ là P-8 Poisedon điều khiển, ACTUV có thể bám trụ và theo sát mục tiêu trong vòng 90 ngày. 

Trang tin Wired cho biết SAIC đang thiết kế sao cho thiết bị không người lái của họ sẽ theo dấu mục tiêu là thuyền đối phương về tận cảng chính. Trở ngại chính là chiếc thuyền này sẽ không có người lái, do đó, nó sẽ không thể tiếp tục hoạt động do thám mà không có sự trợ giúp từ các thiết bị trên biển hoặc trên không khác.

Các đội tàu không người lái cỡ nhỏ, giá thành thấp có khả năng săn các tàu ngầm trong cự ly đáng kể, và không làm mất liên lạc. Điều này sẽ giúp vô hiệu hóa các phương tiện dưới biển theo kiểu phòng thủ chống thâm nhập (mà Iran và Trung Quốc áp dụng).

 

Hải quân Mỹ đang vận hành tàu không người lái
Các phương tiện này cũng sẽ khiến logic phòng thủ chống thâm nhập trở thành ‘gậy ông đập lưng ông’. Chống thâm nhập được nhiều người gọi là ‘các chiến lược cạnh tranh’. Những người áp dụng chiến lược cạnh tranh chọn các loại khí tài và phương thức không tốn kém.

 

Mục tiêu của họ là khiến đối phương chiến lược phải đáp trả bằng một phương thức vô cùng tốn kém (đối phương có thể gần như ‘sạt nghiệp’ cho các biện pháp phản công). Sau cùng, khi đối phương không thể nào trụ nổi, họ sẽ buộc phải đa dạng hóa nguồn lực so với các ưu tiên cấp bách.

ACTUV là một phần trong ‘cuộc chiến tương tác’ – thuật ngữ được sử dụng để mô tả việc tận dụng ưu thế về trí tuệ và vật chất mà trong đó đối thủ có những kế sách chiếm ưu thế chiến lược. Có rất nhiều cách khác để giành phần thắng chứ không chỉ là việc hạ gục đối phương ngay lập tức (chẳng hạn như buộc ai đó không thể thắng, hoặc ở cái giá tương xứng)

Nếu như Hải quân Mỹ có thể ‘phủ đầu’ các hạm đội tàu chạy bằng điện – diesel để tìm cách thâm nhập vào vùng biển ở châu Á, họ sẽ có được các bước tiến dài theo đúng hướng mà Washington muốn.

Và nếu như Mỹ có thể thể hiện tiềm lực đó một cách thuyết phục trong thời bình, họ có thể không cần phải chiến đấu để có thể thâm nhập vào các khu vực trọng yếu.

 

  • Lê Thu (theo Diplomat)

 

Sáu nhóm nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương – PLTP

4 Th1

04/01/2013 – 07:10

Sáu nhóm nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương

 
Một trong những chức năng của Ban Nội chính là đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN cho chủ trương, định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án.

Cùng với quyết định thành lập Ban Nội chính Trung ương do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Lê Hồng Anh đã ký Quyết định 159 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan này.

Theo đó, Ban Nội chính Trung ương được xác định chức năng là cơ quan tham mưu của BCH Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính và phòng, chống tham nhũng (PCTN).

Thường trực của Ban Chỉ đạo chống tham nhũng

Nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương gồm sáu nhóm.

Thứ nhất là nghiên cứu, đề xuất những quan điểm, định hướng lớn của Đảng về công tác xây dựng pháp luật (trọng tâm là những đề án liên quan đến lĩnh vực nội chính và PCTN); một số chủ trương, chính sách về an ninh quốc gia và PCTN; về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nội chính (được xác định gồm VKS, tòa án, tư pháp và các cơ quan có chức năng tư pháp trong công an, quân đội) và Hội Luật gia VN, Liên đoàn Luật sư VN. Cũng trong nhóm này, Ban Nội chính có nhiệm vụ đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN cho chủ trương, định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án.

Thứ hai là hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đôn đốc các cấp ủy, tổ chức đảng trong lĩnh vực nội chính; phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động ở các cơ quan nội chính và hai tổ chức xã hội nghề nghiệp đã đề cập. Phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn xử lý một số vụ việc, vụ án được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN giao.

Ban Nội chính trung ương thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN. Trong ảnh: Xử phúc thẩm vụ án Vinashin. Ảnh: TTXVN

Thứ ba là nhiệm vụ thẩm định các đề án về lĩnh vực nội chính và PCTN trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ tư, Ban Nội chính Trung ương sẽ tham gia ý kiến trong việc bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật với các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý trong các cơ quan nội chính theo phân công, phân cấp, bao gồm cả việc bổ nhiệm kiểm sát viên cao cấp, thẩm phán TAND Tối cao.

Thứ năm, Ban Nội chính Trung ương thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN.

Thứ sáu, Ban sẽ thực hiện một số nhiệm vụ khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.

Quy định cụ thể hơn

Về bộ máy, Ban Nội chính Trung ương gồm trưởng ban và các phó trưởng ban, được tổ chức thành chín đơn vị cấp vụ, trong đó có một vụ theo dõi công tác PCTN, một vụ theo dõi xử lý các vụ án.

So với Ban Nội chính Trung ương trước khi bị giải thể, nhiệm vụ hiện nay được quy định cụ thể hơn, trong đó bổ sung thêm mảng PCTN. Tuy nhiên, lại không có nhiệm vụ thường trực Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương như trước đây. Nhiệm vụ này hiện được tách cho Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về cải cách tư pháp – thuộc Văn phòng Trung ương Đảng.

Được biết, cùng với việc ra quyết định thành lập và chức năng, nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương, Bộ Chính trị cũng giao Ban Tổ chức Trung ương chủ trì cùng các cơ quan liên quan xây dựng đề án chuyển giao tổ chức, bộ máy, con người thuộc Vụ Nội chính, Vụ Pháp luật (thuộc Văn phòng Trung ương Đảng) và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN về Ban Nội chính Trung ương. Ngoài ra, Bộ Chính trị cũng đang hoàn thiện đề án về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN theo mô hình mới do Tổng Bí thư đứng đầu, để kịp ra quyết định thành lập ngay khi cơ sở pháp lý của Ban Chỉ đạo PCTN hiện tại (quy định trong Luật PCTN) hết hiệu lực vào tháng 2 tới.

Trước đó, Bộ Chính trị cũng ban hành Quyết định số 655-QĐNS/TW về việc phân công ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng, giữ chức trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Khái niệm “lĩnh vực nội chính”

Các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ của cả Ban Nội chính hiện tại và trước đây đều sử dụng đến cụm từ “lĩnh vực nội chính” nhưng không định nghĩa là gì. Về việc này, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Trần Đại Hưng, nguyên Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương trước đây, hiện là Phó Chủ tịch Hội Luật gia VN, cho biết khái niệm này thường chỉ được giải thích bằng các công việc cụ thể mà Ban Nội chính Trung ương đảm đương. Vì thế, lĩnh vực nội chính thường được hiểu là liên quan đến an ninh quốc gia và tổ chức hoạt động của các cơ quan nội chính. Nhưng nay có điểm khác là hải quan không được coi là thuộc nhóm cơ quan nội chính nữa.

NGHĨA NHÂN

 

Rối rắm bi hài danh hiệu nhà thơ, nhà văn ở VN – NTT

4 Th1

Hiện nay, nơi xã hội Việt Nam, đang có nhiều người râm ran luận bàn về chuyện ai có thể được gọi là nhà văn, nhà thơ. Có người còn đề quyết, khi được Hội nhà văn VN thừa nhận và kết nạp, mới được gọi là nhà văn, nhà thơ

Cái chuyện cũ mèm, nhàm chán, không liên quan gì tới chuyện đói no cơm áo gạo tiền thiết thực hằng ngày, hòa bình hay chiến tranh, sống hay chết sẽ xuất hiện nơi biên giới đất nước, nhất là phía biển Đông hoặc tham nhũng, lạm phát, vật giá leo thang không dừng do năng lực sản xuất quốc gia yếu kéo, tình trạng các nhóm lợi ích câu kết nhau hoành hành đời sống của nhân dân cả nước, di hại dài lâu tới các thế hệ mai sau sẽ tăng hay giảm trong năm mới này cùng vài ba năm nữa…Nhưng nghe mãi, cũng ngạc nhiên, cũng tò mò, đành nhín ít thời gian tìm hiểu diện mạo vấn đề xem sao.

1-Điều 2, Khoản 1 Điều lệ Hội nhà văn VN chép như sau: “Hội Nhà văn Việt Nam (gọi tắt là Hội) là tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn Việt Nam (bao gồm những người sáng tác: thơ, văn xuôi, kịch bản, lý luận phê bình, dịch thuật văn học) lấy hoạt động văn học là nghề nghiệp của mình”

Rõ ràng, dựa vào Điều 2, Khoản 1 nói trên, trước khi được xét kết nạp, anh A, chị B nào đó đã là nhà văn, nhà thơ trong con mắt nhìn nhận của cộng đồng xã hội từ trước đó, và tất nhiên không thể không căn cứ vào những sáng tác phẩm văn thơ anh A hay chị B đã từng “trình làng, trình xóm” từ trước đó.

Nghĩa là, trước khi anh A hay chị B được kết nạp, thì đã trở thành “thầy” rồi, đã trở thành “nhà văn, nhà thơ” rồi, là “miếng kim loại đã được cộng đồng thừa nhận là vàng 18 hay 24 kara ” rồi, không cứ phải chờ đến khi xuất hiện sự kiện ra quyết định hành chính nội bộ của BCH hội nhà văn VN, có nội dung kết nạp vào một “binh chủng văn học” nào đó của Hội, mới chính thức, mới “nhảy vọt đeo lon” trở thành nhà văn, nhà thơ.

Do vậy, đề quyết rằng, khi được Hội nhà văn VN thừa nhận và kết nạp, mới được gọi là nhà văn, nhà thơ là hoàn toàn sai. Mà đúng ra, chỉ nên nói, một đương đơn “đang là nhà văn, nhà thơ” nào đó vừa được kết nạp, sau khi đã “lọt” qua được khâu thẩm định về tài năng sáng tác thơ văn của bộ phận chuyên môn do BCH Hội nhà văn phân nhiệm, rồi “lọt” qua tiếp khâu thẩm định này lần nữa tại chính ngay Hội nghị BCH Hội nhà văn VN, thì một đương đơn “đang là nhà văn, nhà thơ” nào đó cũng vẫn lại là … “một nhà văn, nhà thơ” như từng là như vậy từ trước, duy có điều này được thêm và khác hơn so với trước: Đó là anh không còn là một nhà văn, nhà thơ “ vô tổ chức chính trị” nữa, mà từ đây trở đi đã là một nhà văn, nhà thơ “hội viên” của một “tổ chức chính trị – xã hội” được thực thi bằng “nghiệp vụ” văn thơ, hoạt động “… dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; … theo đường lối văn hoá văn nghệ (VHVN) của Đảng (Khoản 3, điều 2), cụ thể là theo sự lãnh đạo, theo đường lối của cái BCH vừa ra quyết định kết nạp anh, thể theo ý chí tự nguyện gia nhập của anh trong tư cách danh hiệu một nhà văn, nhà thơ “cơ hữu” từ trước, theo đúng tiêu chí thu tuyển chung từ Điều lệ Hội.

2-Đến đây, sự mắc mứu, nhập nhằng hình như vẫn chưa tháo gỡ xong. Nhiều người cho rằng, đấy đấy, chính cái lúc những tác phẩm văn thơ điển hình nhất của anh A, chị B được hai cấp thẩm định chuyên môn tụ hội lại xem xét, đánh giá, xem chúng “có giá trị văn học” hay không ( Điều 9) để có thể quyết định kết nạp hay thải nạp, thì cũng là lúc “tập thể cộng đồng xã hội”, thông qua sự “mặc khải” cho những vị có sứ mạng thẩm định nói trên, chính thức bày tỏ cụ thể rõ ràng ý kiến tiềm tàng bàng bạc lâu nay của mình, rằng anh hay chị, thật ra, đã xứng gọi là một nhà văn, nhà thơ hay chưa; và như vậy, những ai sau đó được đồng ý kết nạp, thì đương nhiên họ “chính là” những nhà văn, nhà thơ và ngược lại: anh A hay chị B chỉ là những người không phải, hay từng bị “nhận lầm” là nhà văn, nhà thơ từ trước đó mà thôi.

Ngẫm ra, lập luận như vậy, vẫn chưa giải quyết rõ rệt, rốt ráo vấn đề ai có thể được gọi là một nhà văn, nhà thơ; có phải khi được Hội nhà văn VN thừa nhận và kết nạp, mới được gọi là nhà văn, nhà thơ hay không. Vì rằng, không có gì chứng minh được những vị từng nằm, đang nằm (hay sẽ nằm) trong hai cấp thẩm định, đánh giá nói trên, do BCH Hội nhà văn VN phân nhiệm, là những người có năng lực tư cách đại diện toàn bị, bao quát cho sự thẩm định của cả một cộng đồng xã hội đầy tính lập phương rộng rãi đương thời (hay hậu thế); chẳng những vậy, đôi khi trong các vị này có người hay nhiều người lại còn chưa hẳn đang là một nhà văn, nhà thơ theo chuẩn tối thiểu của cộng đồng xã hội đương thời (hay hậu thế) nữa, nếu cần “trưng cầu” xem xét lại họ. Do vậy, các vị này chỉ có thể đại diện cho sự thẩm định riêng của chính mình, tương ứng với trình độ văn học đang có nơi mình; giỏi lắm là còn đại diện thêm được cho quan điểm thẩm định từ cấp trên của họ, những người đang lãnh đạo cùng định ra một đường lối VHVN như thế nào đó mà họ có trách nhiệm điều lệ phải tuân theo. Và rồi, giả thiết những vị trong các khâu thẩm định, đánh giá kia đúng là những nhà văn, nhà thơ tài ba đồng đều cả, từng được cộng đồng xã hội hiện thực say sưa thừa nhận là đỉnh cao đại diện toàn bị cho mình trong lĩnh vực văn học, thì sự thẩm định, đánh giá, kết luận thừa nhận, tái nhận, cùng nhận của các quý vị này cũng luôn phải xảy ra sau khi một writer ứng viên nào đó đã thành nhà văn, nhà thơ giữa cộng đồng xã hội trước rồi, từ những sáng tác phẩm được ra đời, được ấn hành, phổ biến từ trước rồi. Có như thế, điều lệ Hội nhà văn VN mới có thể ghi mình là tổ chức của các “nhà văn Việt Nam”, bằng không, thì đã ghi là tổ chức có thẩm quyền, chức năng “tấn phong danh hiệu nhà văn” cho những người cần thiết và có nguyện vọng, sau khi đương sự có đơn xin gia nhập, và, trong thực tế, rõ ràng, điều này cũng đâu căn bản tồn tại, vận hành như thế .

Thành ra, đối với Hội nhà văn VN hiện nay, một ứng viên nào đó đã, đang, hay sẽ bị thải nhập, vừa có thể là một người không, hay chưa đủ tài năng văn học tối thiểu chung, vào thời điểm bị thải nhập nào đó. Vừa có thể đang là một tài năng văn học nhưng không “ứng hợp” với trình độ văn học “lùn” của một hay nhiều vị đang gác cổng thẩm định. Lại vừa có khi đang là một người chưa hay không có những quan điểm chính trị về VHVN “ứng hợp” với đường lối VHVN đã và đang được định ra bởi tổ chức chính trị cấp trên của Hội nhà văn VN hiện nay. Và, đồng thời, một ứng viên nào đó đã, vừa hay sẽ được kết nạp vào Hội nhà văn VN, có thể đang là những tài năng văn học đích thực, vượt trội hơn so với những vị có chức năng, sứ mạng thẩm định, đánh giá tài năng của họ. Lại vừa có thể nhờ “ứng hợp” với ngưỡng trình độ “ lùn” trong hiện thời của một hay nhiều vị vừa giữ vai trò thẩm định, đánh giá họ. Nhưng dù ra sao, thì cũng đều là những người cầm bút được đánh giá phù hợp với đường lối VHVN của tổ chức chính trị cấp trên của Hội nhà văn VN, có ý chí, nguyện vọng mang tài năng văn học của mình đứng bên dưới ngọn cờ lãnh đạo về VHVN của tổ chức chính trị cấp trên của Hội nhà văn VN mà đại diện là những nhân sự lãnh đạo nằm trong BCH của cái Hội chính trị-xã hội-nghề nghiệp mà họ đã, vừa hay sẽ xin vô.

Thành ra, nơi xã hội VN hiện nay, tuy vẫn là những writer như trong ngôn ngữ của người Anh, người Mỹ khi chỉ về những người chuyên sáng tác văn thơ nói chung, nhưng lại có những nhà văn, nhà thơ chưa, không muốn, không được hay đã thôi là hội viên Hội nhà văn VN, tức là những wirte đang nằm bên ngoài Hội nhà văn VN, nhưng vẫn có thể đang nằm trong một Hội VHNT cấp hạ tầng cơ sở, thuộc về tỉnh hay huyện nào đó trong nước; song song đó, lại có những nhà văn, nhà thơ đã và còn đang là hội viên của Hội nhà văn VN, có trách nhiệm điều lệ, bằng ngòi bút của mình thực hiện đường lối chính trị về VHVN dưới ngọn cờ lãnh đạo từ cấp trên của tổ chức Hội nhà văn VN, được đại diện bởi các lãnh đạo nằm trong BCH Hội nhà văn VN; và cuối cùng, lại có những writer tự ‘nhầm lẫn”, hay từng “được” cộng đồng xã hội nói chung “nhầm lẫn” là nhà văn, nhà thơ vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có chuyện bị mắc bệnh tự kỷ ám thị thể hoang tưởng mình đang là nhân tài hay thiên tài văn học, được/ bị PR quá to, to hơn rất nhiều những gì từng có nơi tài năng, nơi tác phẩm đã xuất bản của họ…

Tóm lại, đang là hội viên Hội nhà văn VN, cũng có thể là một nhà văn, nhà thơ đúng chuẩn, như miếng kim loại màu vàng nào đó có đủ 24 kara hoặc 18 kara chất vàng bên trong, nhưng cũng có thể không phải là một nhà văn nhà thơ đúng chuẩn, như miếng kim loại màu vàng nào đó chỉ có 14 kara, 12 kara chất vàng, hoặc đôi khi chỉ là một miếng kim loại được phủ lớp màu vàng hóa chất nhân tạo; và ngược lại, vẫn có những writer chưa, không muốn, không được, hay đã thôi là hội viên Hội nhà văn VN, nhưng vẫn là một nhà văn, nhà thơ đúng chuẩn, như miếng kim loại màu vàng nào đó có đủ 24 kara hoặc 18 kara chất vàng bên trong, nhưng cũng có thể đang không phải là một nhà văn, nhà thơ đúng chuẩn, như miếng kim loại màu vàng nào đó chỉ có 14 kara,12 kara chất vàng, hoặc đôi khi chỉ là một miếng kim loại được phủ lớp màu vàng hóa chất nhân tạo.

Như vậy, danh hiệu nhà văn, nhà thơ, trước tiên, là một dạng tên gọi, giống như các khái niệm “nhà nông”, “nhà buôn”, “nhà binh”, …mà ngôn ngữ cuộc sống thường dùng chỉ một writer từng đạt tới mức giỏi giang tương đối nào đó, với một xu hướng, tính chất sáng tác như thế nào đó, chứ không phải là một “ ngạch trật, phẩm hàm nhà quan” mà một định chế xã hội quyền lực bất kỳ nào đó có thể tấn phong, và nếu thực sự có ai đó có ý tấn phong thì chỉ có giá trị tiêu xài thuần túy nội bộ đối với họ.

Kế đến, nơi danh hiệu nhà văn, nhà thơ dành cho một người nào đó, luôn tương ứng với một trình độ “ tuổi vàng tài năng sáng tác” nhất định được xác định, nhìn nhận từ một tầm mặt bằng không gian VHNT, một tầm lớp mặt bằng không gian VHNT nhất định và luôn được giao kết, chuyển vần thành tầm cao nơi từng thời kỳ mặt bằng VHNT nhất định, thường do những thăng trầm giao thoa, chuyển động từ các dòng quá khứ tổng hợp nơi cộng đồng lưu tồn, tiếp biến định đặt, trừ những thiên tài có giá trị văn học siêu không gian và thời gian.

Do vậy và vì vậy, nền tảng căn bản đời đời quyết định một người nào đó có phải là nhà văn, nhà thơ hay không, chính là những sáng tác phẩm của họ, nơi tập trung cao nhất phẩm chất cùng trình độ phẩm chất nhà văn, nhà thơ của họ, và tất nhiên cũng phải bị sàng lọc, xếp loại, xếp loại lại mãi theo “dòng thời gian cuộc đời” luôn trôi chảy, vốn có chung một “lòng người” mãi hiện diện bất tận ở bên trong. Và, rõ ràng, giữa một “sat-na” không gian, thời gian nơi thực thể dòng đời đang trôi chảy trong sự giao nhau liên tục đó, ai có những sáng tác phẩm gây được sự xôn xao quyến rũ, hấp dẫn say mê cùng uốn nắn, lôi kéo, nâng đỡ được tâm tư, tình cảm buồn vui nơi người đọc, hướng dần họ về phía “muôn thưở nơi lòng người” nói trên, chấp nhận có nhiều trình độ phẩm chất cao thấp tương đối khác nhau, thì có thể đáng gọi là những nhà văn, nhà thơ, dù chỉ là của một lúc, một khu vực bộ phận giữa mênh mông các khu vực cùng các nền văn học nơi thế gian này. Bằng không, chỉ là một miếng kim loại có màu vàng hóa chất nhân tạo mà thôi, và nếu có giá trị gì đó, chỉ là để đeo tòn ten chơi trên người, giả làm kẻ giàu có, sang trọng, chứ không thể ký gửi được vào ngân hàng vàng thật của lòng đời, lòng người có thể trong ấy đang lưu giữ có cả những miếng vàng chưa đủ 24 kara…

Thiết nghĩ, trừ những nhân vật thời trung cổ từ đâu đó nhảy ra tự xưng mình là vua, là chúa, là thần, là thánh, rồi dùng bạo lực tâm lý hay vật lý bắt thiên hạ xung quanh phải thần phục, tôn xưng mình là chúa, là vua, là thần, là thánh như lòng đang khao khát muốn, thì hiện nay, với vấn đề danh hiệu nơi xã hội, luôn do người đối diện, tức người khác “định danh” cho mình, khi đã nhận ra đủ những phẩm chất cấu tạo căn bản đích thực tương ứng đang có nơi mình, căn cứ vào những sản phẩm tương ứng đã từng làm ra, đã từng hiển lộ giữa cuộc đời. Và trong vấn đề danh hiệu nhà văn, nhà thơ cũng vậy. Khi anh A, chị B đã có những sáng tác phẩm khiến anh hay chị không thể không bị/ được thiên hạ định danh là những nhà văn, nhà thơ, thì đương nhiên anh A hay chị B đã, đang là một nhà văn, nhà thơ. Mà một khi đã được cộng đồng xã hội “định danh” là nhà văn, nhà thơ rồi, thì còn đòi hỏi, còn muốn mọi người thừa nhận, tôn vinh hay luôn muốn tự giới thiệu, tự xưng danh mình là một nhà thơ, nhà văn làm gì? Có thừa thãi không? Có nhăn nhố không? Và có phải, trong trường hợp này, ngay khi anh A, chị B đang khát khao mong muốn được gọi là nhà văn, nhà thơ, cũng chính là lúc đang gián tiếp thừa nhận rằng mình chưa từng có tác phẩm văn học nào có thể giúp mình được gọi tên, hay được định danh hiệu là một nhà văn, nhà thơ, dù đã xuất bản, biếu tặng đi tứ tung rất nhiều?

Và một khi đã chưa là nhà văn, nhà thơ, thì còn làm đơn, hay tính chuyện làm đơn xin vào Hội nhà văn VN để làm gì? Đây chỉ là “tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp” dành riêng cho những người “đang là nhà văn, nhà thơ”, đâu phải dành cho những người chưa phải, hay hoàn toàn không phải là những nhà văn, nhà thơ (chưa bàn tới vấn đề xu hướng chính trị nơi đây).

Rồi thì, trong trường hợp này, nếu như anh bất ngờ được xét duyệt vào Hội, một cách đàng hoàng đi nữa, thì vẫn không phải là những nhà văn, nhà thơ đích thực. Anh chỉ là thành viên của một tổ chức chính trị dành cho những nhà văn, có chức năng chính trị quy tụ một cách tự nguyện vào bên trong những ai đang là nhà văn, nhà thơ, mà anh lại không phải là nhà thơ, nhà văn. Thì rõ ràng anh chỉ có được phân nửa cái thuộc tính nằm nơi danh xưng hội viên của anh, đó là một thành viên cơ hữu chỉ ở khía cạnh chính trị của một tổ chức chính trị cầm quyền lãnh đạo nơi xã hội VN đương thời. Và, trong trường hợp này, anh không đủ phẩm cách được gọi, càng không thể tự xưng mình đang là một nhà văn, nhà thơ. Cái mà anh có thể được gọi, hay có thể tự xưng, thậm chí tự hợm hĩnh, kiêu ngạo, như đang là người thuộc về “cõi trên”, “bề trên”, đó là “tôi đang là một thành tố chính trị, một thành viên chính trị” thuộc về một trong những tổ chức chính trị – xã hội nói chung của cấp Đảng TW, có tầm cấp quản lý, bồi dưỡng, sinh hoạt, sử dụng và có thể có vài thụ hưởng đột xuất về vật chất và tinh thần từ cấp (Đảng) TW, cao hơn những writer quần chúng đang được tập hợp, quy tụ nơi các cấp hạ tầng cơ sở, thuộc tỉnh hay huyện còn lại, và đặc biệt, tôi có thể tận dụng, khai thác hay phiên chuyển vị trí này cho đời hiện tại của tôi, thậm chí thông qua lý lịch tới các đời con cháu của tôi trong việc cạnh tranh tìm kiếm, duy trì một vai trò, một chức vụ chính trị như thế nào đó trong hệ thống các tổ chức chính trị khác nhau do Đảng lãnh đạo hiện nay, từ cấp TW cho đến cấp tỉnh, huyện vốn có nhiều quyền hạn và bổng lộc chính trị kèm theo. Và, một khi như thế rồi, với một nhà văn, nhà thơ hội viên đích thực thì có thể chấp nhận được ít nhiều vì tính lo-gic của nó, xuất phát từ bản chất chính trị của tổ chức Hội nhà văn VN hiện nay mà họ đã được gia nhập một cách đủ chuẩn, có cả khía cạnh tài năng văn học bên trong. Còn với một người chưa hay không phải là một nhà văn, nhà thơ từ trước hay ngay khi vừa được gia nhập ư? Rõ ràng, chỉ còn xứng gọi là một tay hoạt đầu quyền lực chính trị, chí ít cũng là một tay hoạt đầu tìm kiếm mùi vị hư danh chính trị qua ngõ văn chương, hay đúng hơn là qua ngõ tổ chức Hội nhà văn VN, dân gian gọi là “đồ dựa hơi kiếm ăn”, chứ đâu phải là những nhà văn, nhà thơ đích thực, dù cho chỉ đang là những nhà văn, nhà thơ tuyên huấn của một tổ chức chính trị về VHVN nhất định. Và điều này hoàn toàn giống nhiều trường hợp công khai từng xảy ra đông đúc vào thời thực dân -bán phong kiến vừa qua: Dù giàu hay chưa giàu, cũng có lắm kẻ cố tình tung rải tiền của, rượu thịt ra lòn lủi, chạy vạy mua lấy cho bằng được một cái “chức hàm” Đốc phủ sứ để treo nơi vách nhà (vì cũng đang có kẻ chịu bán để thu lại tiền đàng hoàng), dù chưa từng ở trong giới quan trường ngày nào, chưa từng được đặt cái đít thiệt lên chiếc “ngai” Đốc phủ sứ thiệt nằm nơi công đường quyền quý, cao sang thiệt ngày nào. Cũng chỉ vì muốn “lấy le”, “làm hách” cùng người đồng thời, cho thỏa cái thói sĩ diện thư hùng hào kiệt về tuệ, về tâm vốn không hề từng có, hay đủ nơi mình, có lẽ cũng từng rỗng tuếch từ bao đời “tiên vương” của mình, đôi khi cũng là nhằm mưu đồ lưu truyền cái “danh giá” nhà văn, nhà thơ “ảo” lại cho các đời con cháu mai sau có thể dựa vào đó mà tiếp tục bịp bợm người đời một cách vô tình hay cố ý.

Có lẽ, chính cái khía cạnh động cơ đầy “quyến rũ sâu sa” này mà thiên hạ hiện nay có đến gần nửa triệu người, và có lẽ sẽ còn tăng thêm theo hằng năm, vẫn cứ đang hùn hục tranh nhau xếp hàng rồng rắn lo toan, chen chút, chạy vạy chờ tới ngày được “lọt” vào, được “nạp” vào Hội nhà văn VN, để có thể có được một cái “thẻ mề-đay văn thơ” trong tay, bất kể có phải đang là nhà văn, nhà thơ thứ thiệt hay không; những sáng tác phẩm văn học làm ra, đem biếu tặng khắp nơi, có ai chịu nhìn, chịu lật vào một vài trang để đọc hay không, đọc rồi có bị đem ném vào sọt chờ nhúm lửa hay không; thậm chí chẳng biết chuyện nợ nần làm ăn tới ngày nào ngân hàng sẽ làm thủ tục tịch biên nhà cửa của mình …

Ôi, phải chi vào thời nông nghiệp bao cấp, từng nông dân kẻ giỏi người dở nào cũng hăng hái tranh nhau ùn ùn tự nguyện vác ruộng, vác đơn xin làm hội viên Hội nông dân VN, làm hội viên của những tập đoàn sản xuất lúa gạo, sắn khoai trên những cánh đồng hợp tác xã, liên hợp tác xã như những người cầm bút viết văn, làm thơ các loại hiện nay thì hay biết mấy ? Có khi cả thế giới ùn ùn tới VN để học hỏi cách làm ruộng, làm giàu…

Hay là, liên tục mịt mù từ trong truyền thống cho tới hiện tại, ở đâu, và lúc nào cũng bị người khác, hữu diện lẫn vô diện kết hợp nhau giữ vị trí ban phát, ấn định từng buồn vui, suy nghĩ mãi cho mình, xem mình như vật thụ nhận cơ học, chưa bao giờ có được tư cách hiện hữu trước cuộc đời như mình đang là chính mình, một chủ thể có tâm linh và nhân vị riêng, cũng có khả năng tự biết cảm, biết nghĩ độc lập như ai, nên từ trong sâu kín nơi lòng nhiều người biết chút chữ nghĩa ngày nay nẩy mãi lên nỗi khát khao được trở thành nhà văn, nhà thơ, dù chỉ nằm trong tình trạng náo nhiệt ngụy tín hay miễn cưỡng giả mạo nhằm giải tỏa được chút nào đó nỗi mặc cảm ấm ức ấy đang âm ỉ tồn tại mãi nơi lòng, âm thầm khẳng định, chứng tỏ với đất trời vây quanh, rằng đây thật ra hoàn toàn không phải là phần tử im lìm của một khối hỗn mang vô ngã, như từng bị đánh giá,  đang bị đánh giá, sắp tiếp tục bị đánh giá, trừ những người có âm mưu hoạt đầu văn học hay mắc bệnh ham sống trong hư danh phù phiếm qua ngõ văn học, cùng những vị bị/được tạo hóa phân công giữa cuộc đời này phải gánh mãi nghiệp nhà văn, nhà thơ đủ chuẩn thứ thiệt, không thể khước từ như đã nói bên trên?

 .

2/12/2013

 

Tác giả gửi cho NTT blog

 
 
 
 
 

Share this:

Like this:

Be the first to like this.

Posted in Báo chí | Thẻ:

%d bloggers like this: