Lưu trữ | 10:49 Chiều

Nợ xấu ngân hàng: 5 bước xử lý theo mô hình của một A.M.C – baomoi

6 Th1

Nợ xấu là một trong những vấn đề được dư luận và cả nền kinh tế quan tâm nhất hiện nay. Trên các phương tiện thông tin truyền thông, chủ đề về nợ xấu và tái cấu trúc ngân hàng xuất hiện dày đặc. Và cả trong các phát biểu của các quan chức và tại Quốc hội, nợ xấu cũng thường xuyên được nhắc đến trong suốt một thời gian dài.

Để có cái nhìn toàn cảnh về vấn đề nợ xấu và cô đọng lại những diễn biến trong thời gian qua, mời các nhà đầu tư cùng độc giả đón đọc chuỗi bài viết phản ánh hiện trạng, nguyên nhân của nợ xấu hiện nay; những khó khăn trong việc xử lý vấn đề này và những đề xuất về mô hình quản lý nợ xấu đối với Việt Nam.

Kỳ cuối:

Nợ xấu ngân hàng: 5 bước xử lý theo mô hình của một A.M.C

Để xử lý nợ xấu thông qua một A.M.C thì cần phải thực hiện rất nhiều bước phức tạp, cần sự phối hợp của nhiều cơ quan từ Quốc hội, Chính phủ, ngân hàng đến cả doanh nghiệp. Dưới đây là những bước cần thực hiện để cho việc xử lý nợ xấu thành công.

Bước 1: Tạo hành lang pháp lý

Đầu tiền cần rà soát các quy định, luật hiện tại từ Quốc hội hoặc Chính phủ để bổ sung, sửa đổi những văn bản pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý cho công ty mua bán nợ hoạt động.

Các văn bản này phải đưa ra những quy định cụ thể về quy trình xử lý nợ xấu, xử lý tài sản thế chấp, góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp… Ngoài ra, văn bản này cũng “bịt lỗ hổng” luật phá sản… để việc xử lý tài sản thế chấp, phá sản doanh nghiệp diễn ra dễ dàng hơn.

Chỉ khi hệ thống pháp luật hoàn thiện mới có đủ cơ sở pháp lý để xử lý nợ xấu.

Bước 2: Thành lập một A.M.C

Chính phủ cần thành lập một Công ty quản lý tài sản (A.M.C) với số vốn ban đầu khá nhỏ, có thể là 5,000 tỷ đồng. Lượng vốn này có thể được đóng góp bởi Chính phủ, các ngân hàng hay kể cả các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước… Phần lớn số vốn chỉ phục vụ trang trải chi phí cho công ty như tiền lương, tiền thuê chuyên gia và các nghĩa vụ tài chính cấp bách… chứ không dùng trực tiếp để mua nợ xấu (mô hình công ty của Hàn Quốc KAMCO).

Hội đồng quản trị là thành viên của những tổ chức đã góp vốn nhưng Chính phủ vẫn phải đứng đầu công ty này. Tuy nhiên, hồi đồng quản trị, ban lãnh đạo của công ty phải có tính độc lập để hạn chế tối đa việc bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, mục tiêu chính trị… Đây là một tiêu chí cần thiết để đảm bảo tính khách quan, độc lập hiệu quả của công ty.

Một yếu tố không thể thiếu là A.M.C phải có tổ chức vô cùng chặt chẽ và chuyên nghiệp. Những bộ phận không thể thiếu được là bộ phận định giá tài sản, bộ phận tái cấu trúc, bộ phận phận nguồn vốn… A.M.C cũng phải có được nguồn nhân lực hùng hậu trong lĩnh vực tài chính, quản trị, tổ chức… Đặc biệt, A.M.C phải có đội ngũ cố vấn gồm các chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực.

Bước 3: Huy động vốn

Công ty quản lý tài sản này thành lập quỹ (Fund) để huy động vốn trên thị trường cho việc mua bán nợ xấu. Có thể thành lập một lúc nhiều quỹ đầu tư với các tiêu chí mua bán nợ khác nhau. Các chứng chỉ quỹ được bán trên thị trường tài chính để huy động vốn trong và ngoài nước.

Ngoài ra, công ty cũng phát hành trái phiếu có đảm bảo (có thể Chính phủ bảo lãnh trái phiếu) sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu để mua nợ. Cũng có thể đổi trái phiếu lấy các khoản nợ của ngân hàng…

Mô hình này có ưu điểm là Chính phủ không trực tiếp bỏ tiền ra để mua nợ xấu nên không ảnh hưởng xấu lên cân bằng ngân sách và việc lạm quyền. Việc mua bán nợ xấu của các quỹ mà AMC chịu sự kiểm soát của cổ đông và trái chủ nên sẽ hạn chế các hiện tượng tiêu cực nảy sinh.

Khi quản lý các quỹ này, A.M.C sẽ được hưởng phí quản lý nợ và các lợi nhuận được phân chia. Thực tế, việc mua bán nợ thường khá hấp dẫn đối với không ít nhà đầu tư nên phương án hoàn toàn có tính khả thi. Tất nhiên, các quỹ này không phải độc quyền trong việc mua lại nợ xấu mà phải khuyến khích thêm các công ty nước ngoài, công ty tư nhân tham gia. Do vậy, số tiền thực sự sử dụng cho mua nợ xấu sẽ không quá lớn.

Để đảm bảo tính khách quan và giảm thiểu rủi ro thì việc xử lý nợ phải dựa trên quy trình chặt chẽ, đội ngũ nhân sự thực hiện lành nghề và phải có sự giám sát tư vấn của các chuyên gia, tổ chức độc lập trong nước và kể cả nước ngoài.

Bước 4: Mua nợ và phân loại để xử lý nợ

Các khoản nợ xấu của ngân hàng sau khi được định giá một cách cẩn trọng thì công ty mua bán nợ sẽ tiến hành đàm phán với ngân hàng để mua lại các khoản nợ xấu. Giá mua nợ xấu có thể từ 10-60% giá trị sổ sách khoản nợ. Tỷ lệ bao nhiêu tùy thuộc vào việc định giá giá trị khoản nợ…

Sau khi mua được nợ thì A.M.C sẽ tiến hành phân loại và thiết lập các phương án xử lý nợ theo các cách sau:

  1. Bán tài sản thế chấp thu hồi nợ: Đây là cách nhanh nhất và đơn giản nhất nhưng chỉ nên thực hiện với những khách hàng không thể tái cấu trúc hoặc không có phương án trả nợ khả thi.
  2. Chứng khoán hóa các khoản nợ để bán trên thị trường tài chính: Những khoản nợ có chất lượng có thể được chứng khoán hóa và bán lại cho các nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, để làm được điều này cần phải có một thị trường tài chính phát triển và có công ty đánh giá tín nhiệm.
  3. Tái cấu trúc doanh nghiệp: Với những doanh nghiệp do bị mất thanh khoản nhưng phương án kinh doanh vẫn khả thi hoặc tự thanh lý được tài sản thì A.M.C có thể cho doanh nghiệp vay thêm vốn để có thể hoạt động và có lợi nhuận trong tương lai.
  4. Vốn hóa các khoản nợ, trở thành cổ đông lớn: Đối với những doanh nghiệp gặp khó khăn nhưng vẫn có thể “cứu” thì công ty mua bán nợ có thể vốn hóa khoản nợ vay, tiến hành tái cấu trúc công ty một cách toàn diện như tái cấu trúc tài chính, hoạt động kinh doanh, quản trị… để doanh nghiệp có thể hoạt động có lợi nhuận trở lại. Sau đó AMC có thể bán cổ phần của mình trên thị trường tài chính.

Bước 5: Bán nợ thu hồi vốn

A.M.C là một công ty có chức năng xử lý nợ. Để có vốn hoạt động trong tương lai thì A.M.C phải liên tục bán các tài sản là nợ xấu đã mua (đã xử lý hoặc hoặc chưa) để có dòng tiền trả nợ hoặc mua nợ mới. Tùy theo loại nợ và cách xử lý mà A.M.C sẽ bán nợ theo các cách khác nhau.

Cách đơn giản nhất là thanh lý tài sản thế chấp để thu hồi vốn. Phương pháp là chứng khoán hóa các khoản nợ để bán trên thị trường tài chính. Đối với những doanh nghiệp có khả năng thu hồi vốn thì hỗ trợ tài chính, nhân lực cho doanh nghiệp hoạt động và để doanh nghiệp có thể tự trả nợ trong tương lai. Đối với doanh nghiệp bị vốn hóa nợ (biến nợ thành cổ phần) thì A.M.C tái cấu trúc để doanh nghiệp hoạt động sau đó bán cổ phiếu trên thị trường tài chính để thu hồi vốn.

Trên đây là các bước tiến hành xử lý nợ xấu bằng công ty mua bán nợ, thông thường cách làm này sẽ mất một thời gian khá dài mới thu hồi được vốn. Kinh nghiệm ở các quốc gia cho thấy việc xử lý nợ này mất 3-7 năm thậm chí dài hơn. Để thúc đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu đòi hỏi thêm các đối tượng cùng tham gia. Đặc biệt, chính ngân hàng phải tiên phong trong việc xử lý nợ xấu, trích lập dự phòng đầy đủ để có nguồn lực xử lý nợ xấu.

—————————————————

 

Đọc thêm:

* Kỳ 1: Nợ xấu Việt Nam: Những con số đầy ma thuật

* Kỳ 2: Tại sao nợ xấu của Việt Nam ở mức cao?

* Kỳ 3: Những rào cản trong việc xử lý nợ xấu ở Việt Nam

* Kỳ 4: Chỉ nên thành lập công ty mua bán nợ xấu với quy mô nhỏ?

Huỳnh Bá (Vietstock)

Trung Quốc “khuấy động” biển Đông: Kịch bản nào sẽ xảy ra? – ANTĐ

6 Th1

Trung Quốc “khuấy động” biển Đông: Kịch bản nào sẽ xảy ra?

ANTĐ – Ngay trong những ngày đầu năm 2013, khi cả thế giới hân hoan đón chào năm mới trong hy vọng thì Trung Quốc liên tiếp có những hành động “khai màn” bằng những bước đi gây hấn báo hiệu một năm khó yên ả ở Biển Đông. Vùng biển nóng bỏng này chưa phải đã hết nguy cơ khi mà Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách lấn tới trong tham vọng độc chiếm Biển Đông như hiện tại.
 

Tàu chiến Liuzhou Type 054A đã được đưa vào biên chế hạm đội Nam Hải

Diễn biến khó lường

Trong một động thái thể hiện quyết liệt trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, Trung Quốc đã đưa tàu chiến Liuzhou Type 054A hiện đại nhất của Trung Quốc vào biên chế của Hạm đội Nam Hải thuộc lực lượng Hải quân Trung Quốc. Vì Liuzhou được chỉ huy bởi Hạm đội Nam Hải đóng tại Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông, các nhà phân tích cho rằng, nhiệm vụ chính của nó là bảo vệ cái mà Trung Quốc gọi là “quyền lợi” của họ ở các khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Trung Quốc còn cấp thêm nhiều tàu cho đội hải giám ở Biển Đông và Hoa Đông.

Đúng ngày đầu năm, 1-1-2013, Trung Quốc bắt đầu tiến hành tuần tra vùng tranh chấp ở Biển Đông, chính thức thực thi luật gây tranh cãi trong đó cho phép lực lượng cảnh sát nước này chặn và bắt giữ tàu nước khác ở khu vực tranh chấp mà Bắc Kinh tự nhận là thuộc chủ quyền của mình.

Trong một bước leo thang hơn nữa ở Biển Đông, Trung Quốc đã ngang nhiên tiến hành một loạt cuộc tập trận tăng cường khả năng chiến đấu ở nơi mà nước này gọi là “thành phố Tam Sa” nhưng thực chất là bao gồm một loạt quần đảo tranh chấp trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Việc Trung Quốc liên tiếp có những hành động “gây bão” làm nóng căng thẳng ở Biển Đông đã đem đến một dự báo diễn biến khó lường của các cuộc tranh chấp lãnh thổ ở khu vực biển này. Trong khi các nước có tranh chấp ở Biển Đông luôn tìm cách nỗ lực giải quyết các cuộc tranh chấp của mình thông qua con đường ngoại giao, hòa bình thì Trung Quốc liên tục có những động thái mạnh mẽ trong tranh chấp ở khu vực biển Đông  khiến tình hình không thể êm ả.

3 kịch bản cho biển đông năm 2013

Năm 2013 được dự báo sẽ tiếp tục là năm sóng gió ở Biển Đông với sự “khuấy động” mạnh mẽ của Trung Quốc. Tuy nhiên, các chuyên gia tin rằng, khả năng xảy ra xung đột là rất thấp bởi lẽ, mặc dù Trung Quốc là nước lớn và đang mạnh lên nhưng các đối thủ của Trung Quốc cũng không ngừng tăng cường sức mạnh. Các đối thủ của Trung Quốc không chỉ tăng cường sức mạnh chiến đấu mà còn thể hiện một sự quyết tâm, cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền. 

Trong khi ngang nhiên đưa tàu hải giám ra tuần tra vùng tranh chấp đồng thời thực thi một luật bị cộng đồng quốc tế phản đối, Trung Quốc vẫn ngang ngược yêu cầu Việt Nam không được áp dụng Luật Biển mới. Điều đáng kinh ngạc là Trung Quốc phản đối và bày tỏ lo ngại với Luật Biển của Việt Nam khi mà luật này được xây dựng tương thích cao với Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển – UNCLOS 1982. Với những diễn biến ở trên, chắc chắn ai cũng có thể nhận thấy rõ, nước nào mới là nhân tố gây căng thẳng và làm leo thang tình hình ở Biển Đông. Việt Nam luôn thể hiện một lập trường chắc chắn, kiên định trong việc bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, tuân thủ nghiêm túc UNCLOS 1982 và không gây căng thẳng trong khu vực.

Trong diễn biến khác, Tư lệnh Hải quân Ấn Độ, Đô đốc DK Joshi khẳng định, nếu cần thiết, Hải quân nước này sẽ can thiệp để bảo vệ hoạt động đầu tư khai thác dầu khí của Tập đoàn dầu khí ONGC Videsh ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam. “Chúng tôi không phải là một bên liên quan trực tiếp. Không có lợi ích lãnh thổ của chúng tôi. Mối quan tâm chính của chúng tôi là tự do hàng hải. ONGC cũng tham gia đầu tư khai thác một số lô dầu khí ở Biển Đông. Việc triển khai lực lượng hải quân ở đây là để bảo vệ lợi ích quốc gia của Ấn Độ trong lĩnh vực hàng hải”, Đô đốc Joshi tuyên bố. Tuyên bố này của ông Joshi đưa ra trong bối cảnh Trung Quốc đang tăng cường hiện đại hóa quân sự và liên tiếp có những hành động gây hấn ở Biển Đông, gây quan ngại, bất bình trong cộng đồng quốc tế và khiến các nước láng giềng phản đối mạnh mẽ.

Tờ Jakarta Post của Indonesia phân tích ba kịch bản có thể diễn ra ở biển Đông năm 2013, sau khi đã “dậy sóng” nhiều lần trong năm 2012: Kịch bản “Ngày tận thế”, “Giấc mơ” và “Nguyên trạng”. Kịch bản “Ngày tận thế” là trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là cuộc xung đột nổ ra giữa các bên tranh chấp và sẽ có sự tham dự của cường quốc số một thế giới – Mỹ. Kịch bản “Giấc mơ” là khi vấn đề chủ quyền lãnh thổ được giải quyết hoàn toàn một cách hòa bình và tất cả cùng có lợi. Để kịch bản này xảy ra, các bên tranh chấp sẽ phải có quan điểm thực tế và phải đạt được các thỏa thuận. Kịch bản “Nguyên trạng” là kịch bản có khả năng xảy ra nhất trong vòng 10 năm tới. Đó là các bên tranh chấp có thái độ không mặn mà lắm trong việc giải quyết các cuộc tranh chấp ở Biển Đông, giữ nguyên trạng và duy trì sự ổn định.

Những thông tin hiện nay cho thấy, khả năng xung đột lớn xảy ra là rất nhỏ. Theo các nhà phân tích quân sự thuộc IHS Jane’s, các nước Đông Nam Á, trong đó có những nước đang có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đang mạnh tay tăng chi tiêu cho quốc phòng. Cụ thể, năm ngoái, chi tiêu quốc phòng của các nước Đông Nam Á đã tăng 13,5% lên 24,5 tỷ USD. Con số này được cho là sẽ tăng lên 40 tỷ USD vào năm 2016. Điều này sẽ ngăn không cho nước lớn như Trung Quốc gây sức ép  mạnh mẽ lên những nước nhỏ hơn đang có tranh chấp ở Biển Đông để chiếm khu vực lãnh thổ mà họ đòi chủ quyền.

 Một yếu tố khác, đó là Mỹ. Chiến lược hướng trọng tâm của Mỹ vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương được khởi động từ năm 2009 đang được triển khai mạnh mẽ trong khu vực, bao gồm các cam kết giữ cho tất cả các bên đang có tranh chấp trong tầm kiểm soát vì Biển Đông là khu vực có giá trị về mặt kinh tế và chiến lược rất cao. Gần 1/3 các hoạt động thương mại hàng hải của thế giới phải đi qua khu vực này.

Thực tế, Trung Quốc không chỉ có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông với một loạt nước Đông Nam Á, mà nước này còn có tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Việc Trung Quốc có quá nhiều cuộc tranh chấp trên biển như vậy khiến nước này buộc phải giữ cho mọi thứ không vượt quá khỏi tầm kiểm soát, bởi việc dính líu vào bất kỳ cuộc chiến tranh nào cũng không có lợi cho sự phát triển của họ.  

 

MINH ĐIỂM
(Theo Business Insider, Jakarta Post)

Bức xúc cảnh cô dâu Việt khỏa thân, uốn éo để được tuyển làm vợ – DV

6 Th1

Bức xúc cảnh cô dâu Việt khỏa thân, uốn éo để được tuyển làm vợ

Dù biết đàn ông ngoại nghèo khó nhưng so với lấy chồng Việt Nam vẫn hơn, nhiều cô gái đã bất chấp việc khỏa thân, uốn éo… để được tuyển làm vợ người nước ngoài.

“Đa số người nước ngoài lấy vợ Việt Nam theo con đường nhờ mai mối “tuyển vợ” đều là những người đàn ông nghèo khó. Tuy nhiên, với những cô gái Việt Nam tham gia “tuyển chồng” ngoại, họ cho rằng, dù ở nước họ nghèo khó vẫn hơn lấy chồng và sống ở Việt Nam. Nên bất chấp tất cả, kể cả “khỏa thân”, uốn éo để được tuyển làm vợ người nước ngoài”.

PGS.TS dân tộc học Nguyễn Văn Tiệp, Trưởng khoa nhân học, Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM trao đổi với PV xung quang vấn đề bùng nổ xu hướng lấy chồng ngoại của các cô gái ở miền Tây và trên cả nước thời gian gần đây.

Đua nhau “khỏa thân” tuyển chồng ngoại

Liên tiếp trong thời gian qua, nhiều vụ “tuyển vợ” Việt của đàn ông nước ngoài qua môi giới đã bị phát hiện. Nhiều vụ các cô gái Việt “khỏa thân” uốn éo đủ tư thế, cạnh tranh với nhau để lọt vào “mắt xanh” của đàn ông ngoại quốc chủ yếu là Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Chỉ cần gõ cụm từ “khỏa thân tuyển chồng ngoại” trên công cụ tìm kiếm Google, đã cho đến 1.690.000 kết quả trong thời gian 0,38 giây.

Nhiều phụ nữ Việt Nam cảm thấy bị xúc phạm khi nhìn những hình ảnh này

Cũng trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc đau lòng xảy ra liên quan đến các cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc như chuyện cô dâu Phạm Thị Loan (38 tuổi) bị chồng sát hại tại Hàn Quốc sau chưa đầy 2 tháng rời Việt Nam vào tháng 3.2012. Hay như ngày 23.11, chị Võ Thị Minh Phương, quê ở Hòa An, Phụng Hiệp, Hậu Giang ôm 2 con nhảy lầu tự tử do mâu thuẫn với chồng Hàn Quốc. Những vụ việc trên đã không ít lần khiến dư luận trong nước “dậy sóng”, thế nhưng, nhiều cô gái Việt Nam vẫn bất chấp những rủi ro khi sống ở xứ người để tham gia ứng tuyển chồng ngoại với ước mơ…đổi đời.

Mới đây nhất, ngày 27.12.2012, Công an TP Cần Thơ phát hiện Hua Xiaole (37 tuổi) và cô vợ Việt 22 tuổi tổ chức cho 6 người đàn ông Trung Quốc xem mặt 4 cô gái miền Tây tại khách sạn Hoàn Cầu ở phường Thới Bình (Ninh Kiều, Cần Thơ).

Xiaole khai nhập cảnh vào Việt Nam với mục đích du lịch nhưng đã cùng vợ “tuyển” 11 cô dâu miền Tây lấy chồng Trung Quốc, tiền công môi giới 20 triệu đồng một cô. Cùng ngày hôm đó, lực lượng quản lý xuất nhập cảnh Công an TP Cần Thơ phát hiện tại khách sạn Hoàn Cầu có người đàn ông Trung Quốc 42 tuổi tên Hao Bin đang sống như vợ chồng với một cô gái quê tỉnh Hậu Giang. Hai tháng qua, Bin với người tình nhận được 32 triệu đồng là tiền môi giới “tuyển” 2 cô dâu Việt lấy chồng Trung Quốc.

Trước đó, trên nhiều trang mạng xã hội, liên tục xuất hiện các video clip liên quan đến việc các cô gái Việt Nam đua nhau trình diễn “khỏa thân”, uốn éo, phô diễn cơ thể của mình, phân tài cao thấp về nhan sắc với nhau… Tất cả chỉ vì muốn lọt vào trong “mắt xanh” của “cánh mày râu” người ngoại quốc. Họ bất chấp truyền thống văn hóa của người phụ nữ Việt Nam, chỉ để thực hiện ước mơ… có một cuộc sống tốt đẹp hơn ở Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp

Trao đổi với PV về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp cho rằng, đó là thực trạng mà xã hội cần quan tâm.

“Vì sao các cô gái Việt lại thích lấy chồng ngoại quốc mà bất chấp danh dự, sẵn sàng trình diễn để tuyển chồng, bỏ qua tình cảm cá nhân? Đó là do đời sống kinh tế ở một số vùng nông thôn nước ta còn quá khó khăn.

Người nước ngoài sang Việt Nam tuyển vợ qua đường môi giới, đa phần đều là người nghèo khó ở bên nước họ, họ chủ yếu là nông dân, công nhân, không đủ tiền lấy vợ bên ấy. Nhưng sang Việt Nam số tiền ấy lại dễ dàng lấy được vợ. Hơn nữa, với một số cô gái ở các vùng nông thôn, dù sang nước ngoài có khó khăn mấy, nghèo khó mấy vẫn hơn ở Việt Nam. Đó là thực tế cần phải nhìn nhận”, PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp cho biết.

PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp cho biết thêm: “Thậm chí, nhiều cô gái sẵn sàng đánh cược số phận mình, bởi họ không biết bên kia biên giới cuộc sống của họ thế nào, nhưng vẫn liều nhắm mắt đưa chân. Bởi với họ, việc lấy chồng ngoại là một cuộc đánh đổi để tìm một lối thoát cho cuộc sống nghèo khó mà họ và gia đình đang phải đối mặt. Nhiều người chấp nhận lấy chồng ngoại vì kinh tế gia đình nên khi họ bị dụ dỗ bởi những kẻ môi giới hôn nhân trái phép, họ đã đồng ý làm theo”.

Hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ, xúc phạm tự tôn dân tộc

Việc nhiều cô gái miền Tây, và một số cô gái ở các vùng nông thôn nghèo Việt Nam, quyết tâm chăm sóc sắc đẹp, trình diễn “khỏa thân” để tuyển chồng ngoại qua con đường môi giới đã gây lên nhiều bức xúc trong xã hội. Nhiều ý kiến cho rằng, còn nỗi đau nào hơn nữa. Vì tiền mà nhiều cô gái trẻ quyết hạ nhân phẩm của mình để mang tấm thân “ngọc ngà” ra “đánh cược” chỉ để đổi lấy sự may rủi về viễn cảnh sung túc bên nước ngoài, thậm chí không biết ngày mai mình sẽ ra sao.

“Tôi đã từng sang Hàn Quốc, Đài Loan để tìm hiểu cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại. Đa số đều có cuộc sống khá giả hơn. Nhiều người vất vả làm việc nhưng đổi lại họ có cuộc sống sung túc, thậm chí có tiền phụ giúp gia đình ở Việt Nam. Từ đó, tôi hiểu được nguyên nhân vì sao, các cô gái vùng nông thôn nghèo lại quyết tâm phải lấy được chồng ngoại dù qua môi giới.

Trong làng, trong ấp có một người lấy chồng ngoại mà phụ giúp được gia đình, rất nhiều cô gái sẵn sàng theo chân. Tuy nhiên, mỗi người mỗi cảnh, nếu cứ nhìn vào đó mà bất chấp tất cả nhân phẩm của mình để được tuyển chồng thì đó là nỗi đau nhói lòng không chỉ của đàn ông Việt, mà còn nhiều phụ nữ Việt cũng thấy bị xúc phạm khi nhân phẩm phụ nữ Việt Nam bị hạ thấp thông qua những cuộc tuyển chọn kiểu này”, PGS.TS Tiệp nhìn nhận.

“Khi xem những cảnh các cô gái Việt Nam “khỏa thân” uốn éo để tuyển chồng ngoại, tôi đã rất bức xúc. Chưa bao giờ lòng tự tôn dân tộc bị xúc phạm đến như thế. Chưa bao giờ nhân phẩm người phụ nữ Việt Nam bị coi rẻ đến như vậy. Thân phận của họ chẳng khác gì những người “vợ nhặt”.

Giàu sang thì ai cũng mơ ước, nhưng giàu sang theo kiểu “hi vọng đổi đời” nhờ lấy chồng ngoại tôi thấy bất ổn. Mong rằng, các cô gái Việt Nam có ý định ứng tuyển chồng ngoại sẽ suy nghĩ lại, để không còn những vụ tự tử đau lòng liên quan đến cô dâu Việt ở ngoại quốc”, chị Đỗ Thị Huế, nhân viên giao dịch Viettel cho biết.

Nhà tâm lý Lê Thị Bích Ngọc, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển cho rằng, dù khi đi ứng tuyển để được lấy chồng ngoại, nhiều cô gái Việt Nam ôm ước mơ đổi đời. Nhưng khi sống ở đất khách quê người, cô dâu Việt khi bị bạo hành về thể xác lẫn tinh thần, sẽ không có ai chia sẻ, cuộc sống bế tắc không lối thoát. Nhiều vụ tự tử gần đây của một số cô dâu Việt tại Hàn Quốc đã cho thấy điều đó. Những cô dâu đó mất đi, để lại cho gia đình những nỗi đau khó có thể nguôi, mà xã hội cũng đớn đau không kém.

“Bên cạnh số ít người phụ nữ Việt may mắn lấy được người chồng ngoại có kinh tế khá giả, biết quan tâm vợ con, lo cho gia đình nhà vợ, không ít cô dâu Việt khi sang đất khách quê người phải chịu đựng cuộc sống nghiệt ngã, bị bóc lột về thể xác, trở thành nô lệ tình dục cho nhiều người trong nhà. Nhiều cô dâu Việt đã phải tự vẫn vì không chịu được cuộc sống qua nhiều nghiệt ngã. Họ cũng dễ rơi vào đáy bi thương, thấy mình cô độc nơi xứ người, không tiền, không nghề nghiệp và hay một chỗ dựa nào đó”, PGS Tiệp cho biết.

Nói về vấn đề này, PGS Nguyễn Văn Tiệp cho rằng: “Cô dâu Việt lấy chồng ngoại quốc, do bất đồng ngôn ngữ, bất đồng văn hóa. Nên cuộc sống có nhiều lúc xung đột. Nếu vì tình yêu họ sẽ bỏ qua cho nhau. Nhưng đây là cuộc hôn nhân “rổ rá kẹp lại”, nên với những người chồng ngoại, họ chỉ xem nhiều cô dâu Việt là món hàng mà họ bỏ tiền ra để lấy về”.

Khó ngăn chặn…

Để giảm thiểu tình trạng các cô gái Việt tham gia “tuyển chồng” ngoại, theo PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp là rất khó.

“Ở Việt Nam chưa có giải pháp hữu hiệu quản lý vấn đề môi giới hôn nhân với người nước ngoài. Mặc dù có nhiều trường hợp môi giới hôn nhân với người nước ngoài làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, xúc phạm đến nhân phẩm người phụ nữ Việt Nam. Việc tuyển chồng ngoại trở thành nhu cầu nên không thể cấm, chúng ta chỉ có thể cấm môi giới hôn nhân trái pháp luật nhưng vấn đề này cũng khó vì họ thường hoạt động lén lút. Trong khi đó, ở nước ngoài như Hàn Quốc, Đài Loan họ cũng không quản lý được. Họ có quan tâm, nhưng những người đàn ông tuyển vợ Việt đều ở nông thôn, không thể nắm hết được, rủi ro cũng xảy ra”, PGS Nguyễn Văn Tiệp cho biết.

“Hơn nữa, việc xử phạt hành vi môi giới trái phép ở Việt Nam vẫn còn quá nhẹ. Nghị định 150/2005/NĐ-CP, người tổ chức môi giới hôn nhân trái phép chỉ bị xử phạt từ 1.000.000 – 2.000.000 đồng. Vì thế khó giải quyết triệt để tình trạng này”, ông Tiệp nhận định.

“Giải pháp trước mắt, là phải quản lý về luật pháp cho chặt. Nên có những tiêu chuẩn, ràng buộc về mặt pháp lý đối với môi giới hôn nhân xuyên quốc gia. Từ đó nâng cao mức xử phạt hành chính so với hiện nay cũng như đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tổ chức môi giới hôn nhân trái phép. Đồng thời, tuyên truyền đến người dân cuộc sống bất hạnh của nhiều cô gái lấy chồng ngoại, để họ nhìn vào đó mà thay đổi ý định “sính chồng ngoại”.

Theo Kiến Thức

Vài ý nghĩ về cuộc phỏng vấn của tướng Nguyễn Chí Vịnh – BS

6 Th1

Vài ý nghĩ về cuộc phỏng vấn của tướng Nguyễn Chí Vịnh

Trần Bình Nam

Ngày 1/1/2013 tờ Tuổi Trẻ, một tờ báo do đảng kiểm soát phỏng vấn Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh *, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng về tình hình Biển Đông và quan hệ Trung quốc, Hoa Kỳ trong vùng Đông Nam Á châu và hệ lụy đối với Việt Nam.

Qua cuộc phỏng vấn nhiều câu hỏi tướng Nguyễn Chí Vịnh trả lời khúc chiết và có tầm nhìn chiến lược về tình hình tranh chấp Hoa Kỳ và Trung quốc và các khó khăn của Việt Nam. Tuy nhiên về phần chính sách đáp ứng của Việt Nam thì tướng Nguyễn Chí Vịnh đã đưa ra những phương sách đáp ứng có tính lý thuyết. Ông Vịnh quên rằng quyền lợi của mỗi quốc gia chỉ có thể bảo đảm bằng chính nội lực kinh tế, quân sự và quyết tâm của nhân dân.

 

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho rằng quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung quốc là quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh, hay nói nôm na là nước nào cũng muốn vượt nhau nhưng lại cần nhau, dù cạnh tranh gay gắt nhưng buộc phải hợp tác chặt chẽ, chia sẻ lợi ích với nhau để cùng tồn tại và vươn lên”

Và ông cho rằng: “Nếu mối quan hệ vừa cạnh tranh vừa hợp tác này được tăng cường, đem lại lợi ích cho Mỹ và Trung Quốc, đồng thời đem lại lợi ích chung cho tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần duy trì hòa bình ổn định thì chắc chắn sẽ được hoan nghênh. Tuy nhiên nếu mối quan hệ này phát triển theo hướng thỏa hiệp và nhằm can dự, xâm phạm, làm tổn hại đến lợi ích các quốc gia khác, gây mất ổn định cho khu vực thì các nước xung quanh sẽ gặp rất nhiều khó khăn và chắc chắn không thể hoan nghênh cách hành xử như vậy của các cường quốc”

Quay qua cách hành xử của Việt Nam ông Vịnh xác định Việt Nam sẽ không ngồi yên để gió chiều nào xoay chiều đó một cách tiêu cực. Việt Nam sẽ phản ứng với mọi động thái của nước lớn  “ … một cách chủ động, tích cực – đó là đường lối độc lập tự chủ trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế; tăng cường mối quan hệ liên kết với các quốc gia trong khu vực hoặc ở phạm vi toàn cầu có cùng nhu cầu ổn định và phát triển, cùng phải ứng phó với các thách thức giống nhau”

Điểm qua cách hành xử hiện nay của Hoa Kỳ và Trung quốc tại Á Châu Thái Bình Dương, ông dùng lối phát biểu có tính chỉ trích cả hai nước. Ông cho rằng Hoa Kỳ đã quá vội vàng. Ông nói:

“Chỉ trong vài năm qua, Hoa Kỳ bày tỏ tham vọng và trên thực tế họ đã can dự, đã hiện diện rất ồ ạt vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương (có thể thấy rõ nhất qua một số hiệp ước mà Mỹ đã ký với Nhật, Hàn Quốc, Úc, Philippines… gần đây). Như vậy ở đây ai là người đã cho Mỹ có một lý do để can dự vào khu vực?”

Và tướng Nguyễn Chí Vịnh cảnh giác mặt trái chính sách của Hoa Kỳ, dù ông không xác định mặt trái đó là gì. Ông nói:

          “Cách can dự của Mỹ, như họ tuyên bố là ủng hộ các giải pháp hòa bình và luật pháp quốc tế, làm cho một số nước đồng tình mà có thể không lưu tâm đúng mức đến mặt trái của nó”

Đối với Trung quốc lời lẽ của ông nặng nề hơn. Ông tố cáo:  

          “Trong thực tế, dù chỉ trong một thời gian rất ngắn, vài năm gần đây đã có những tham vọng được bộc lộ, những tuyên bố và cả những hành động trên thực tế khiến các nước trong khu vực cảm thấy lo lắng. Có nước lo xa, có nước lo rất gần.

          Đơn cử như việc một số nước tuyên bố về chủ quyền, không hiểu họ dựa vào đâu, cơ sở pháp lý nào? Nay đưa ra bản đồ này đã rất tham vọng rồi, mai lại đưa ra bản đồ khác tham vọng hơn nữa thì sao?

          Một vấn đề rất cụ thể là chủ quyền trên biển Đông không chỉ có những nước liên quan trực tiếp, mà cả cộng đồng thế giới đều không thể chấp nhận việc bất kỳ một quốc gia nào đó muốn độc chiếm biển Đông, muốn biến đường vận tải quốc tế thành ao nhà của mình.”

Nhưng phần quan trọng trong cuộc phỏng vấn của tướng Nguyễn Chí Vịnh là kế hoạch Việt Nam đương đầu với khó khăn trước mặt. Về mặt này ông Nguyễn Chí Vịnh không làm cho nhân dân Việt Nam yên tâm. Những chuẩn bị và kế hoạch của Việt Nam có tính lý thuyết, không có khả năng đáp ứng những gì sẽ xảy ra trên hiện trường. Trung quốc vừa có lãnh đạo mới, và đã hé lộ kế hoạch phát triển thế lực trong vùng trong 10 năm tới. Những gì đã xẩy ra trên Biển Đông trong những năm qua báo hiệu những cơn bão tố có thể tới trong năm 2013 trong quan hệ Trung quốc và Việt Nam.

Trước hết một quốc gia muốn có một chính sách bảo vệ nền độc lập tự chủ thì quốc gia đó phải có khả năng tự lập về phương diện kinh tế và quân sự và trên hết là sự đoàn kết của toàn dân sau lưng chính quyền và tính chính thống của chính quyền dựa trên Hiến Pháp được nhân dân công nhận.

Trong suốt lịch sử chống xâm lăng, tiền nhân trước khi xuất quân chống giặc đều chuẩn bị lòng dân và phương tiện vật chất một cách đầy đủ và tự lực. Các vua Trần từng chăn dắc thương yêu nhân dân như con qua bao triều đại, và trước khi hạ quyết tâm xuất quân chống giặc Nguyên đã chuẩn bị lương thực, vũ khí cho binh sĩ, và trang bị ý chí toàn dân toàn quân với hội nghị Diên Hồng.

Vua Quang Trung, trước khi xuất quân ra Bắc đã ban hành chính sách an lòng dân bằng cách lên ngôi Hoàng Đế, và nức lòng quân bằng cách cho quân ăn Tết trước để ngày đêm thần tốc bôn tập ra Bắc đánh úp quân Thanh khi chúng đang còn uống rượu vui Xuân.

Trước cơn bão táp chờ đợi trước mắt đảng Cộng sản Việt Nam qua chương trình tướng Nguyễn Chí Vịnh tiết lộ đã chuẩn bị những gì? Không có gì ngoài các chính sách có tính phô trương.

Về vật chất Việt Nam ngoài lúa gạo, không có khả năng sản xuất quân trang quân cụ. Một chiếc máy bay chiến đấu, một chiếc tàu chiến, một chiếc tăng, một khẩu súng lớn đều lệ thuộc vào nước ngoài. Lịch sử tiếp cận với các nước Tây phương trong gần 2 thế kỷ qua cho thấy chính vì không tự lực về mặt quân sự mà Việt Nam phải bị Pháp thuộc gần 100 năm. Và sau đó những biến cố quân sự như trận Điện Biên Phủ, và cuộc tiến quân 55 ngày chiếm miền Nam năm 1975 có đưa đảng Cộng sản Việt Nam lên đài vinh quang trước dư luận thế giới, nhưng không che dấu được sự thật phủ phàng là thực chất chỉ là một cuộc chiến tranh nhiệm chức giữa các ý thức hệ mà sau lưng là Pháp, Mỹ, Nga, Tàu. Việt Nam chỉ đóng góp bằng máu. Kết quả của hai cuộc chiến là sự sắp xếp sau lưng bởi các thế lực quốc tế. Hiệp định Geneva chia đôi đất nước năm 1954 do Trung quốc ép ông Hồ Chí Minh. Và Hà Nội đã thắng miền Nam Việt Nam với vũ khí của Liên bang Xô viết và Trung quốc, và nhất là do sự chuyển đổi chính sách tòan cầu của Hoa Kỳ. Thay vì ngăn chận sự lan tràn ảnh hưởng của Trung quốc, Hoa Kỳ hợp tác với Trung quốc trong một kế hoạch chống Nga xô viết. Cái giá của vinh quang (1954, 1975) cho Việt Nam là những hệ lụy đang đe dọa sự tồn tại của đất nước.

Về lòng dân, cái Việt Nam có thể có là quyết tâm của toàn dân nếu đảng Cộng sản Việt Nam biết vận dụng thành một khối sau lưng chính quyền.

Về mặt này đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn thất bại. Trong khi Trung quốc áp lực trên Biển Đông, ban hành biện pháp mạnh trong vùng Hoàng Sa, Trường Sa chung quanh các hải đảo họ đang chiếm đóng thì đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra tòa xử các công dân yêu nước, các nhà trí thức, nhà báo từng lên tiếng cảnh gíac sự đe dọa của Trung quốc với những bản án nặng nề. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đàn áp dân oan kiện chính quyền vì mất đất đai canh tác mà không đưọc đền bù tương xứng do tệ nạn cửa quyền và tham nhũng.

Ngay cả nhân dân muốn biểu tình bày tỏ tình cảm đối với biển đảo đang bị Trung quốc đe dọa cũng bị chính quyền cấm. Tướng Nguyễn Chí Vịnh nói:

          “Biểu tình bây giờ sẽ gây mất ổn định. Trong khi đó đất nước ta đang hơn bao giờ hết cần ổn định, cần sự đồng thuận để phát triển, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.”

Và ông giải thích thêm: “Chúng ta trân trọng tình cảm, ý chí của những người thật sự biểu tình vì yêu nước. Nhưng cũng phải thấy rằng với những ai (ông Nguyễn Chí Vịnh ám chỉ Trung quốc) có dã tâm độc chiếm biển Đông thì họ sẽ viện cớ biểu tình để xuyên tạc thiện chí của Việt Nam, xuyên tạc chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình của Việt Nam”

Lý luận của tướng Nguyễn Chí Vịnh là một thứ lý luận của con đà điểu chui đầu vào cát. Nếu đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng tình cảm của những người biểu tình chống Trung quốc vì yêu nước, tại sao đảng không tạo cơ hội cho họ lên tiếng trong cung cách không cho họ lợi dụng lật đổ chính quyền như biểu tình hạn chế số người, hạn chế đường tuần hành, hội thảo tại các đại học, hay ý kiến của nhân dân được bày tỏ công khai trên báo chí. Và tại sao không công khai đưa vấn đề Biển Đông ra trước Liên Hiệp quốc?

Trả lời một câu hỏi của báo Tuổi Trẻ về ý thức hệ giữa Trung quốc và Việt Nam có giúp gì trong sự tranh chấp hiện nay không, tướng Nguyễn Chí Vịnh nói:

“Tôi nghĩ rằng khi đã là người cộng sản với nhau, để giải quyết bất cứ vấn đề nào đó mà gọi nhau là đồng chí, còn hơn là quay lưng không nhìn nhau hoặc đập bàn đập ghế “ngài” và ‘tôi’.”

Tướng Nguyễn Chí Vịnh đang nằm mơ giữa ban ngày. Tình đồng chi’  “xã hội chủ nghĩa” đã chết từ lâu. Không cần phải nhẹ nhàng như ‘ngài và ‘tôi’ mà đại pháo đã nổ qua biên giới Nga – Hoa trên sông Amur năm 1969, đã nổ qua biên giới Việt Miên năm 1978, đã nổ trên biên giới miền Bắc Việt Nam năm 1979, đã nổ ngoài biển Trường Sa năm 1988 …

Ông Nguyễn Chí Vịnh bày tỏ sự lo ngại Hoa Kỳ và Trung quốc trong tương lai có thể thi hành chính sách chia vùng ảnh hưởng và quyền lợi. Nhưng nếu quả có thế thì Việt Nam làm gì để thoát khỏi sự chia chác đó? Việt Nam không có đủ lực để vượt ra. Hãy đặt một giả thuyết. Ngoài bờ biển miền Trung Trung quốc vẽ đường lưỡi bò chồng lên vùng “đặc quyền kinh tế 200 hải lý” của Việt Nam theo luật quốc tế. Trong vùng chập nhau đó Trung quốc từng cho thuyền tàu đến gây trở ngại cho việc dò tìm dầu khí của Việt Nam. Nếu Trung quốc kéo dàn khoan tới trong vùng chập nhau với sự bảo vệ của tàu chiến để khoan dầu thì Việt Nam sẽ hành xử ra sao? Đánh nhau thì Hải quân Việt Nam sẽ không đủ sức đối chọi với Hải quân Trung quốc. Dùng đường lối ngoại giao thì Việt Nam có gì sau lưng để du thuyết ?

Trong năm 2012 sau khi Việt Nam ban hành Luật Biển xác định chủ quyền trong vùng biển chung quanh Hoàng Sa và Trường Sa và thủ tục bảo vệ kể từ ngày 1/1/2013 thì để đáp ứng lại tỉnh Hải Nam (của Trung quốc) ban hành văn kiện hành chánh xác định vùng biển chung quanh Hoàng Sa của họ và ấn định biện pháp bảo vệ cũng có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Vào những ngày đầu năm 2013 Trung quốc đã lên tiếng cảnh cáo Việt Nam chớ thi hành Luật Biển mà có chuyện. Đó là một điểm nóng khác sẽ trở thành tia lửa. Việt Nam đã chuẩn bị chưa?

Trong khung cảnh dầu sôi lửa bỏng như vậy qua lời tướng Nguyễn Chí Vịnh, nhà nước bình chân như vại tin tưởng vào đường lối hòa bình của mình, tin tưởng vào thiện chí của Trung quốc, tin tưởng vào sự phát triển kinh tế, tin tưởng một năm 2013 tốt đẹp.

Nghe tướng Nguyễn Chí Vịnh nói, ước vọng của ông : “Không có gì khác ngoài ước vọng chung của mọi người Việt Nam là đất nước ta tiếp tục ổn định, nền kinh tế ấm lên, đời sống khá hơn. Tôi mong đất nước ta tiếp tục mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, vị thế quốc tế của đất nước ta ngày càng được nâng cao, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có bước phát triển tốt đẹp hơn, thúc đẩy hợp tác về kinh tế trên cơ sở hợp tác tốt về chính trị, từng bước giải quyết vấn đề biển Đông”  mà lo .

Nếu những gì tướng Nguyễn Chí Vịnh trả lời báo Tuổi Trẻ ngày 1/1/2103 phản ánh não trạng của Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam thì mối nguy mất nước không còn xa.

Trần Bình Nam

Jan . 5, 2013

binhnam@sbglobal.net

www.tranbinhnam.com

1518. Tướng Nguyễn Chí Vịnh: Không quên lợi ích quốc gia nhưng ý thức hệ cộng sản chi phối ứng xử với Trung Quốc.

Về ý nghĩa mô hình hóa của các khái niệm “kết thúc” và “mở đầu” trong văn bản nghệ thuật – PBVH

6 Th1
  

 

Về ý nghĩa mô hình hóa của các khái niệm “kết thúc” và “mở đầu” trong văn bản nghệ thuật

 
 Iu.M. Lotman

                                                    

1. Việc đánh dấu cái cái “kết thúc” hoặc “mở đầu”, hay cả cái “mở đầu” lẫn “kết thúc” tạo thành đặc điểm của các hệ thống mô hình hoá thứ sinh. Các ngôn ngữ tự nhiên, – nhờ tương quan giữa chúng với mã ngoài thời gian và thông tin được triển khai trong thời gian, – bao giờ cũng cho ra một bức tranh khác: thời gian được mô hình hoá bằng các phương tiện của ngôn ngữ tự nhiên không giống một cái gì đó được đặt vào giữa cái “mở đầu” và “kết thúc”, mà theo nguyên lý đồng thời, cùng lúc với thông tin, hoặc ở mức này hay mức khác bị tách ra khỏi nó về phía cái xẩy ra trước đó hoặc cái sẽ diễn ra tiếp theo.

2. Trong các hệ thống mô hình hoá thứ sinh của loại phi nghệ thuật (huyền thoại, tôn giáo…) mối quan hệ giữa “lời nói” và “ngôn ngữ” của hệ thống được kiến tạo theo kiểu khác. Với người đại diện cho các quan niệm mô hình hoá nào đó (chứ không phải với người nghiên cứu chúng), “lời nói” của hệ thống là thế giới xung quanh cần được diễn giải, còn “ngôn ngữ” là mô hình văn hoá giải mã chúng. Thêm vào đó, đến một giai đoạn văn hoá nào đó, tất yếu sẽ xuất hiện quan niệm về “lời nói” chỉnh thể của hệ thống ấy, tức là xuất hiện quan niệm về loại lời nói tạo thành cái thế giới sẽ hiện thực hoá một mô hình trừu tượng nào đó, – ví như huyền thoại, tôn giáo, hay một mô hình khác -,  chứ không phải là tổng thể các kí hiệu giải mã riêng lẻ. Khi ấy, sẽ xuất hiện vấn đề về kết cấu – về sự thống nhất của cấu trúc thế giới và, tất nhiên, về cái “mở đầu” và “kết thúc” của nó.

 

3. Các phạm trù “mở đầu” và “kết thúc” là điểm xuất phát để từ đó những tổ chức mang tính cấu trúc của cả không gian lẫn thời gian có thể tiếp tục phát triển. Việc cố ý đánh dấu một cách rõ rệt một trong hai phạm trù ấy (mở đầu – kết thúc) không nhất thiết có ngụ ý muốn nói tới quan điểm cấu trúc giống như thế của phạm trù kia. Bởi vì không phải lúc nào chúng cũng tạo thành một cặp đối lập trong tất cả các hệ thống.

3.1.  Xin dẫn một ví dụ: Chúng ta vẫn thường bắt gặp một nhóm nào đấy các văn bản, trong đó cặp đối lập “có mở đầu” – “không có mở đầu” được đánh dấu. Đối cực thứ nhất sẽ có các đồng nghĩa: “hiện hữu”, “vĩnh hằng”, “có giá trị”, nhóm đồng nghĩa của đối cực thứ hai sẽ là: “không tồn tại”, “nhanh chóng sụp đổ”, “không có giá trị”. Điều này được thể hiện rõ ràng trong tư liệu văn hoá Nga, ví như, trong việc kiến tạo các văn bản của thời kì Kiev[1], những văn bản thể hiện mối quan tâm đặc biệt tới nguồn gốc của hiện tượng này hay hiện tượng kia. Đất nước, phong tục tập quán, dòng họ, tín ngưỡng, tội ác – đó là những thứ được quan tâm, có ý nghĩa, có thể chỉ ra “cội rễ”, nguồn gốc của chúng, – những thứ còn lại tựa như không tồn tại.

3.1.1. Do đó, những sự kiện được quan tâm dứt khoát phải là những sự kiện lặp đi lặp lại, những sự kiện được xem như một chuỗi của của các hiện tượng giống nhau, người ta nhận ra cái chuỗi ấy vì nó được quy về cái khởi thuỷ. Cain trở thành mô hình quận vương-người giết bào đệ, vì Cain là người đầu tiên giết em trai; mô hình Igo Novgorod-Severski là Oleg Chernhigov, vì Oleg Chernhigov là người đầu tiên gây nên sự hiềm khích, bất hoà giữa các quận vương.

3.1.2. Cái được tạo ra (có mở đầu) được xem là cái trường cửu, bất diệt (không có kết thúc). Chẳng hạn huyền thoại nói về sự sáng tạo ra mặt đất (hay các huyền thoại nói về nguồn cội khác) không nhập vào cặp đối lập chứa đựng các văn tận thế.

3.1.3. Cái có mở đầu là cái tồn tại. Vì thế, các quốc gia có mở đầu (huyền thoại về các bậc khai quốc) đối lập với các quốc gia không có mở đầu, tựa như về mặt chính trị, các quốc gia hiện hữu đối lập với các quốc gia giả, nguỵ; những ai có thể gọi là ông tổ đều tồn tại về mặt chính trị. Vì thế, cấu trúc của văn bản lịch sử đầu tiên của Nga giống như một chuỗi trần thuật về những cái mở đầu (“Truyền kỳ về những thời đại đã qua, nước Nga khởi nghiệp từ đâu”).

3.2. Bên cạnh nhóm văn bản nói trên, cần chú ý tới nhóm văn bản đánh dấu rõ nét sự “kết thúc”, trong khi phạm trù “mở đầu” bị làm mờ đi. Đa số các văn bản nói về sự tận thế thuộc về nhóm văn bản này. Không phải mọi sự trần thuật về sự kết thúc của thế giới đều là văn bản tận thế: chuyện kể về cái chết của đời sống trần thế, một cuộc sống không do Thượng Đế tạo ra, mà xuất hiện như là kết quả của tội lỗi tổ tông, chuyện kể ấy chỉ khẳng định cặp đối lập “thiện căn” và “ác căn”. Cái Thế giới xấu xa, ma quỷ, nhân tạo sẽ bị huỷ diệt, còn thế giới do Thượng Đế tạo ra mãi mãi bất di bất dịch (“Mọi việc của Thượng đế đều bất tử. Sử quan đã chép <…> khi đức Kitô  đến Jérusalem, lòng bồi hồi xúc động, người giang tay đóng cổng thành, và đến giờ cổng thành không thể mở được nữa” – thông điệp của Đức Tổng Giám mục Novgorod Vasili gửi lãnh chúa Feodor).

3.2.1. Các văn bản tận thế kể về sự chết của toàn bộ cái có giá trị nhất và ngụ ý rằng, chính bản thân cái sự chết ấy khẳng định giá trị của hiện tượng (trường ca: Các tráng sĩ ở Nga bị tuyệt diệt như thế nà, Bài ca về cái chết của nước Nga).

3.3. Trong các hệ thống văn hoá hiện đại, những kiểu cấu trúc nêu trên phù hợp với các quan niệm:  “giá trị được chứng minh bằng sự đứng đầu”, “giá trị được chứng minh bằng cái chết”.

3.4. Khái niệm “kết thúc” không phải bao giờ cũng đồng nhất với cái kết bi kịch như là nền tảng của một mô hình thế giới xác định: có thể chỉ ra vô khối hệ thống tư tưởng của mô hình thế giới được tạo ra như thế với cái “kết thúc có hậu”.

3.4.1. Tất cả các văn bản về “thời đại hoàng kim” như là điểm xuất phát của lịch sử nhân loại phù hợp với hệ thống có cái mở đầu được đánh dấu nhưng cái kết thúc lại không được đánh dấu (hoặc đánh dấu mờ nhạt), còn các văn bản chuyển dịch sự hài hoà về điểm kết thúc của vận động lịch sử lại phù hợp với các hệ thống có cái kết thúc được đánh dấu.

3.4.2. Có thể chọn chủ nghĩa cộng sản không tưởng của Mably[2] làm ví dụ cho hệ thống thứ nhất: nhân loại bắt đầu từ lí tưởng xã hội, nhưng về sau nó bị sai lệch đi. Thêm vào đó, với hệ thống theo kiểu của Mably, có thể đặt câu hỏi: “Sau hệ thống tồi tệ này sẽ là cái gì?”, nhưng dứt khoát không thể đặt ra câu hỏi: “Trước hệ thống khởi đầu tốt đẹp là cái gì?”. Tương tự như thế, với các hệ thống thuộc loại thứ hai, không được đặt ra câu hỏi: “Cái gì sẽ xẩy ra sau khi đạt được “thời đại hoàng kim”?”. Hệ thống này giả định, rằng sau đó, vận động lịch sử sẽ dừng lại, hoặc không còn là vận động “mang tính lịch sử”.

3.4.3. Biến thể đặc biệt và phức tạp nhất  là cấu trúc theo kiểu Rousseau: trong những tác phẩm sâu sắc nhất của ông, trật tự lí tưởng không diễn ra trước và cũng không đi theo sau thời gian hiện tại – nó đóng kín trong bản chất của sự vật như là mực thước lí tưởng và là cái khởi đầu không phải theo trật tự biên niên, mà về phương diện loại hình. Nhưng ngay cả ở đây, nguyên tắc cấu trúc cơ bản vẫn được duy trì: sự hiện diện của điểm khởi đầu (trật tự biên niên hoặc loại hình), rồi sau đó rời xa điểm khởi đầu ấy.

3.5. Điều trên có quan hệ với hai quan niệm về sự phát triển “đúng đắn” của lịch sử: quay trở về điểm xuất phát hoặc tiến lại gần điểm kết thúc, quan niệm về quá trình tiệm tiến, hoặc quá trình thoái trào của lịch sử.

4.1. Mô hình thế giới được đánh dấu cả “mở đầu” lẫn “kết thúc” như nhau là những mô hình phái sinh của các loại hình nêu trên.

4.2. Các mô hình thế giới tuần hoàn, cũng như các hệ thống ngoài thời gian, nằm bên ngoài các phạm trù “mở đầu” và “kết thúc”.

4.3. Có thể giả định rằng, những cấu trúc đánh dấu cái mở đầu tương ứng với những nền văn hoá trẻ, luôn luôn tự khẳng định, tự nhận thức về sự tồn tại thực sự của mình. Đặc điểm của những nền văn hoá ấy là ý thức về bản thân như những nền văn hoá không có mâu thuẫn và có giá trị toàn vẹn. Xung đột sẽ được kéo ra bên ngoài và là đặc tính của mối quan hệ với nền văn hoá trước đó. Các cấu trúc đánh dấu cái kết thúc phù hợp với các nền văn hoá chứa đựng xung đột đã chín muồi, với sự phân bố xung đột ở bên trong và ý thức về tính bi kịch của xung đột ấy.

5. Từ trong bản chất, các cấu trúc nghệ thuật bao giờ cũng phân định ranh giới thông tin một cách rạch ròi. Ở đây, cái kết thúc và mở đầu của văn bản có chỉ dấu rõ ràng hơn rất nhiều so với chỉ dấu trong những thông tin thuộc ngôn ngữ chung. Nguyên nhân của nó có lẽ là nằm ở tương quan giữa các bình diện “ngôn ngữ” và “lời nói” trong các văn bản nghệ thuật. Mọi văn bản nghệ thuật đều không thể đánh giá theo kiểu đơn trị chỉ như một văn bản, hoặc như một mô hình diễn giải của hệ thống được sáng tạo ra dưới sự hỗ trợ của nó. Trong tương quan với những quan niệm cấu trúc – nghệ thuật cụ thể, văn bản sẽ hoạt động như là hoá thân cụ thể của một mô hình trừu tượng. Nhưng trong tương quan với thế giới có quan hệ với nó, tự bản thân văn bản sẽ hoạt động như là một mô hình nào đó, chẳng những thế,  toàn bộ văn bản trong tổng thể, cũng như từng yếu tố và cấp độ của nó sẽ được diễn giải theo nghĩa kép tương tự như thế. Chức năng của tác phẩm nghệ thuật với tư cách là một mô hình hữu hạn của “văn bản lời nói” về những sự kiện hiện thực từ trong bản chất là vô hạn sẽ biến yếu tố phân giới, hữu hạn thành điều kiện tất yếu của mọi văn bản nghệ thuật trong hình thức khởi thuỷ của nó – các khái niệm mở đầu và kết thúc của văn bản (văn bản trần thuật, âm nhạc…), khung trong hội hoạ, hàng đèn trước sân khấu trong nhà hát là những hình thức như vậy.

5.1. Cần lưu ý rằng, một người đứng trên bệ tượng, một khuôn mặt sống động trong khung bức chân dung, khán giả trên sân khấu bao giờ cũng được tiếp nhận như những thứ dị chủng trong không gian mô hình hoá mang tính ước lệ được tạo ra bởi các đường ranh giới của văn bản nghệ thuật.

5.2. Nếu cùng một văn bản, như văn bản nghệ thuật tuân thủ quy luật về sự đánh dấu các ranh giới và đồng thời, nó biểu lộ một hệ thống tư tưởng hệ nào đấy không đánh dấu cái “mở đầu” (và vì thế, nhấn mạnh dấu hiệu của cái “kết thúc), hoặc ngược lại, khi ấy văn bản sẽ đạt được hiệu quả đặc biệt của một giá trị kép. Vì thế mà nảy sinh vấn đề “kết thúc có hậu” – việc xét lại kiểu kết thúc thần kì như là kết thúc nghệ thuật trong xúc cảm hiện đại của văn học dân gian, những kiểu kết có hậu phi lôgic như là sự tái tạo tư duy dân gian trong kịch Ostrovski, ý nghĩa của “kết thúc có hậu” trong điện ảnh (liên hệ: “Ô, hãy gửi cho tôi một cuốn sách kết thúc có hậu” – N. Hikmet). Có thể chỉ ra cả những văn bản có sự đánh dấu cái mở đầu tương tự như thế.

6. Hệ thống trong đó các khái niệm mở đầu và kết thúc được gán cho các văn bản mô tả đường đời của một con người là một trường hợp đặc biệt. Ví như sự đánh dấu cái mở đầu – Thời thơ ấu, tuổi vị thành niên, thời thanh niên và cái kết thúc – Ba cái chết của L. Tolstoi.

6.1. Trường hợp cá biệt, ấy là trường hợp nhà thơ (hoặc người đọc) mô hình hoá tiểu sử có thật theo các quy tắc của văn bản tương tự như thế (xem: cuốn Sống như một con người và chết như một nhà thơ của M. Tzvetaev là sự nhận thức các dạng mở đầu và kết thúc cụ thể của đường đời giống như các mô hình tương ứng của nhà thơ).  So sánh các thí dụ về việc xét lại trong văn học các tiểu sử có thật.

 

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Лотман Ю.М.   Семиосфера. — С.-Петербург: «Искусство—СПБ», 2000. . – С. 427-430.

Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi? – PBVH

6 Th1

Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi?

 

Lê Đạt

Người đầu tiên mà chúng tôi đến thăm trong dịp ghé Hà Nội tháng 4. 2007, là nhà thơ Lê Đạt. Chúng tôi gồm có Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng và một số bạn bè văn nghệ, đến nhà riêng của ông. Lê Đạt vừa dọn đến ở chung với người con trai được một năm, trong một khu phố yên tĩnh, hơi khó tìm đường. Trời Hà Nội sáng sớm mây mù, gió lao xao, mát mẻ dễ chịu. Đường nào cũng có nhiều cây xanh, nhưng không nghe tiếng chim hót. Trước ngõ nhà ông có vài gánh hàng rong, làm tôi nhớ đến Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam. Lê Đạt tiếp chúng tôi trên căn gác nhỏ, nụ cười vui, dáng điệu nhanh, hỏi và trả lời dứt khoát. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông phá lên cười. Trên vách tường sau lưng chỗ ông ngồi, có treo hai tấm hình. Một là tấm poster lớn đem về từ Ngày hội Thơ Việt Nam 15 tháng giêng âm lịch, tổ chức ở Văn Miếu Hà Nội, chụp chân dung của ông, phía sau là nền hoa mimosa vàng. Poster được nhà thơ trẻ Hữu Việt chuẩn bị. Bên cạnh là giấy chứng nhận Giải thưởng Nhà nước 2007.

Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh Lê Đạt, xin chúc mừng anh vẫn còn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn để làm việc. Người yêu thơ anh, theo dõi báo chí, chắc chắn sẽ vui khi biết rằng anh vẫn làm thơ và vẫn dành rất nhiều sự quan tâm đối với thơ ca Việt Nam.

 

Lê Đạt: Rất mừng được gặp các anh từ nước ngoài về và ở trong Nam ra. Chúng ta có dịp gặp nhau như thế này là qúy lắm. Tôi vẫn còn viết được nhưng không còn viết được nhiều như trước.

Một thân hữu văn nghệ: Anh có thường tập thể dục không?

Lê Đạt: Mỗi ngày tôi đều đi bộ hai tiếng đồng hồ bờ Hồ Tây. Khi lạnh thì mặc thêm áo ấm.

Du Tử Lê: Anh còn hút thuốc lá không?

Lê Đạt: Không, tôi đã bỏ thuốc từ lâu. Nay thì bỏ hết. Trước đây tôi cũng hút ghê lắm

Nguyễn Trọng Tạo: Đọc các bài viết trước đây, các ông ấy thường cho là các anh thuộc loại sống trụy lạc (cười).

Lê Đạt: (cũng cười) Những việc ấy thì nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Trên poster nhân Ngày hội Thơ ở Hà Nội vừa qua, treo ở tường sau lưng anh, có “lời khuyên” của nhà thơ Lê Đạt Gửi người làm thơ trẻ như sau: “Các nhà thơ trẻ để tránh khỏi nhạt nhẽo sáo mòn tuyệt đối không nên đến cửa hàng đặc sản gọi cho mình một món bi kịch.” Tôi rất chú ý đến lời khuyên này. Anh cho rằng tuổi trẻ ngày nay không có bi kịch của riêng họ? Họ đến các cửa hàng đặc sản hơi nhiều phải chăng?

Lê Đạt: Tôi không thích từ “lời khuyên” lắm. Nghe nó đạo mạo quá. Ta thống nhất với nhau là đó chỉ là một từ dùng tạm nhé. Mỗi thế hệ đều có bi kịch riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra cái bi kịch ấy không và có sống với nó hay không. Các nhà thơ trẻ ngày nay cần sống nhiều hơn cái không khí của thời đại mình như những người làm chứng và như những tác nhân. Ai cũng biết rằng trong thơ cái giả không sống lâu.

Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng nói: Nên học thêm một, hai ngoại ngữ để có thể đọc được nguyên bản vì đọc thơ dịch là một việc vạn bất đắc dĩ. Thưa anh, tác động của thơ nước ngoài đến thơ Lê Đạt như thế nào? Nói rộng ra, ảnh hưởng của thơ thế giới đối với thơ Việt Nam ra sao? Tôi hình dung rằng đây là một câu hỏi rất lớn.

Lê Đạt: Đúng là một vấn đề rất lớn. Thế hệ của tôi thường biết tiếng Pháp. Cũng có nhiều người đọc được cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc được chữ Hán. Ảnh hưởng là rất lớn, mình biết được người ta đã làm gì và đang làm gì. Học nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật làm thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Nhờ các dịch giả mà người Việt Nam được đọc các tác phẩm lớn hoặc hay của thế giới, hãy lấy một vài ví dụ như Sử ký Tư Mã Thiên (Nhữ Thành), Chiến tranh và hòa bình (Nguyễn Hiến Lê), Doctor Zhivago (Nguyễn Hữu Hiệu), Đèn không hắt bóng (Cao Xuân Hạo), Thơ Tagore (Đỗ Khánh Hoan), Bông hồng vàng (Vũ Thư Hiên) v.v… Như vậy việc dịch thơ chẳng lẽ không đóng góp được nhiều vào việc thưởng thức và sáng tạo thơ ca hay sao?

Lê Đạt: Thơ khác với tiểu thuyết. Thơ rất khó dịch. Người nào đã đọc được trong nguyên bản rồi thì không thể chịu được bản dịch của thơ. Độc giả bình thường thì có thể đọc thơ dịch, vả lại cũng chẳng có cách nào khác, nhưng anh là người làm thơ thì anh nên cố đọc trong nguyên bản ít nhất một ngoại ngữ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng tâm sự tiếp với các nhà thơ trẻ như sau (cùng trên tấm poster): Các nhà thơ trẻ còn quá quen với cách làm thơ ngẫu hứng. Ai cũng biết cảm hứng là cần nhưng cảm hứng chỉ là khởi đầu, sau đó là mồ hôi và sự vật lộn với từng con chữ. Có người đọc thơ Lê Đạt lại tin rằng thơ anh đầy sự ngẫu hứng đối với ngôn ngữ.

Lê Đạt: Điều đó không sai. Nhưng muốn tạo được cái ấn tượng thơ mình là đầy ngẫu hứng, thì mình phải lao động cật lực.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng cũng có người khác lại cho rằng trong tập Bóng chữ, và những bài thơ sau đó nữa, các con chữ bị vật lộn quá nhiều.

Lê Đạt: Những ý kiến khác nhau như thế càng chứng tỏ thơ của mỗi người chứa những yếu tố sáng tạo khác nhau. Tôi cũng biết đến những ý kiến chỉ trích rằng Lê Đạt là người làm khổ chữ. Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi? Việc đó còn hạ hồi phân giải. Thì tôi đã tự nhận là phu chữ kia mà.

Nguyễn Đức Tùng: Trên tập thơ Mimôza gần đây nhất, đăng ở HL số tháng 6&7/2006, anh có giải thích một đoạn rất hay về chữ mimôza. Một kỷ niệm gần như là tình yêu có thật trong đời.

Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimôza chiều khép cánh mi môi xa

Tôi rất thích hai câu này, so với nhiều câu khác của Lê Đạt, và cho nó là tiêu biểu cho trường phái thơ ngôn ngữ ở Việt Nam mà đại diện là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng.

Từ những năm 1960 và nhất là 1970, ở Mĩ cũng có trường phái thơ ngôn ngữ, có người gọi là L-A-N-G-U-A-G-E. Các anh có ảnh hưởng nào của các nhà thơ Mĩ không hay hoàn toàn là một sự tình cờ?

Lê Đạt: Là sự tình cờ.

Nguyễn Đức Tùng: Theo dõi các bài viết của anh trên HL,TL W, và những tờ báo khác thì thấy anh là một trong những người rất hiếm không những làm thơ mà còn chịu khó trình bày, diễn giải để giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ. Trong tập Bóng chữ, trước bài “Ông phó cả ngựa”, anh có một đoạn mở đầu rất quan trọng.

Bậc phó cả
dễ ít nhiều
Tạo hóa
Cùng cánh thợ

Lê Đạt: Cám ơn anh đã nhắc đến đoạn này. Tôi vẫn tin rằng ngày nay cái đọc cần phải khác ngày trước, và người đọc cần tham dự vào quá trình sáng tạo của nhà thơ. Anh ta là đồng tác giả. Con ngựa của ông phó cả ngựa cũng là những con chữ sinh sôi bất tận.

Nguyễn Đức Tùng: Tập thơ Bóng chữ của anh lúc ra đời đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi. Sau nhiều năm im lặng từ thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm (NVGP), nhà thơ Lê Đạt trở lại với người đọc. Có thể hiểu rằng sự mong đợi của mọi người lúc đó đối với anh là rất lớn, nhưng họ không chờ đợi anh viết một loại thơ lạ như thế, khác hẳn thời kỳ NVGP. Hiện nay tình hình chắc đã khá hơn, và người ta không còn chỉ trích thơ Lê Đạt nữa?

Lê Đạt: Tình hình có khá hơn, nhưng vẫn còn nhiều người không hiểu hoặc không thích thơ Lê Đạt. Theo tôi đó là điều bình thường vì nhà thơ ít nhiều cách tân nào cũng kéo theo họ những người ủng hộ nồng nhiệt và những người chống đối. Tôi có nhớ Matisse đã phát biểu đại ý như sau: Ba mươi năm nay người ta không chửi bới tôi nữa, kể cũng hơi buồn.

Du Tử Lê: Các anh em vừa gặp nhau ở Sài Gòn xong lại kéo nhau ra Hà Nội để thăm anh và bạn bè khác. Những người viết ở nước ngoài thuộc thế hệ trẻ hơn, như anh Nguyễn Đức Tùng, rất chịu khó đọc và gặp gỡ. Tôi cho rằng phải đọc nhiều, gặp nhiều thì mới hiểu nhau được.

Lê Đạt: Chúng ta ngồi hết vào đây, sát vào nhau để dễ nói chuyện. Và để đoàn kết. Các ông ấy buồn cười, lúc nào cũng bảo mình nói sai chính sách. Mình nói hơi bị đúng. Mình lúc nào cũng đoàn kết. Tôi còn nói đùa rằng các anh ở ngoài ấy khi về gặp tôi nếu có mắng mỏ gì thì mắng mỏ đi, chứ đừng để bụng, dễ đau bao tử. Văn nghệ thì đối với nhau cứ phải cởi mở, vui vẻ, có gì thì nói thật hết. Chứ văn nghệ mà đối với nhau lại còn tệ thì không vui. Văn nghệ phải vui hơn chính trị. Không có nghĩa là kém sâu sắc đâu nhé.

Nguyễn Trọng Tạo: Anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada về, và anh Du Tử Lê từ Mĩ.

Lê Đạt: Anh Du Tử Lê cho mình gởi lời hỏi thăm bạn bè ở Mĩ. Tùng chuyển lời hỏi thăm đến Nam Dao giúp mình nhé. Nguyễn Trọng Tạo có đưa cho mình đọc bài phỏng vấn về thơ mới đây trên TLW của Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao. Tốt lắm.

Đây là tấm poster trong Ngày Thơ Việt Nam, có trích những câu viết của mình. (Nói đùa, cười) Văn thật của mình chứ không phải là đạo văn đâu nhé. Cái cô Phan Huyền Thư khi không lại dính vào chuyện này. Nó lỡ làm như thế thì thôi đi, một số các anh lại gay gắt quá. Mình năm nay đã cổ lai hi rồi, nên thấy cái gì cũng thích nhẹ nhàng.

Du Tử Lê: Thưa anh, trong đợt phát Giải thưởng Nhà nước vừa rồi, có anh, anh Hoàng Cầm, và Phùng Quán phải không?

Lê Đạt: Có cả Trần Dần nữa. Tất cả là bốn người trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm.

Nguyễn Đức Tùng: Xin phép anh được chụp tấm hình cái poster Ngày hội Thơ của anh, trong đó có lời khuyên các nhà thơ trẻ, và chụp luôn cái hình của tấm bằng Giải thưởng Nhà nước treo bên cạnh.

Lê Đạt: Anh chụp cái poster, nhưng thôi đừng chụp cái hình Giải thưởng Nhà nước nữa. Cái vụ này nó làm tôi nhức đầu lắm (cười).

Tôi vừa đọc xong mấy bài viết về vấn đề của Phan Huyền Thư. Các anh ở hải ngoại thì quyết liệt quá, mặc dù các anh đúng. Rồi các anh trong nước cũng khe khắt quá. Tôi vừa đọc bài của anh Nguyễn Hòa ở Hà Nội xong. Tôi không phải là người chủ trương hòa cả làng, về văn chương cái gì cần phê bình thì phải phê bình, nhưng nói nặng quá thì người ta không sửa được. Cái sự đoàn kết lẫn nhau nó vẫn hay hơn là đánh lẫn nhau.

Tôi ngẫm ra thế này: Chúng ta đánh nhau rồi có lúc còn ngồi lại với nhau không? Làm sao mà không ngồi lại được? Vậy thì phải ngồi lại với nhau thôi, thế thì đừng nên nói với nhau như hắt nước đổ đi. Chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua, tôi nghĩ không nên giận cá chém thớt. Trên các diễn đàn thì phải phê bình nhưng đừng nên vì giận nhà nước mà giận lây sang cả những chuyện khác.

Chúng ta đều là văn nghệ sĩ, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra, tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương nhau mà chờ người khác thương mình là một ảo tưởng quá lớn.

Trong khi phê bình lẫn nhau, thì đừng rút ván chặt cầu.

Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh, trong các cuộc tranh luận, nhất là khi đến hồi gay gắt, ngay cả những người chủ trương các tờ báo hay các diễn đàn cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được. Vả lại tôi nghĩ nếu anh kiểm soát gắt gao quá thì nó lại mất đi cái không khí tự nhiên của sự tranh luận.

Nguyễn Trọng Tạo: Cái đó một phần cũng vì Phan Huyền Thư có thái độ không rõ ràng.

Lê Đạt: Tôi không phải chỉ nói về vụ Phan Huyền Thư. Cô ấy còn trẻ, và đây chỉ là một tai nạn giao thông nhẹ. Tôi muốn nói đến sự đối thoại nói chung trong văn học và ngoài xã hội.

Nếu các anh đọc tôi từ những năm 80, thì tôi đã viết về chuyện nên đối xử như thế nào với nhau trong văn nghệ. Theo tôi, sau một cuộc chiến tranh, anh em trong nhà ai thắng ai thua không quan trọng lắm, vấn đề quan trọng là còn có đường đi lại với nhau hay không. Nghĩ được như thế thì thấy nhẹ nhàng. Ai thắng ai thua mà làm gì, các anh đánh nhau thì chỉ có thơ là thua mà thôi (cười).

Tôi chủ trương cần có sự hòa thuận giữa người Việt Nam ở miền Bắc và ở miền Nam, người trong nước và người ở hải ngoại. Cái đó là quan trọng nhất. Còn ai thắng ai thua không hề quan trọng đối với tôi. Những ranh giới như vừa rồi không phải là khái niệm địa lý, mà là khái niệm tâm thức.

Làm thơ rất khổ sở, chứ có sung sướng gì đâu. Ví dụ như tôi nói vài câu xúc phạm đến anh Du Tử Lê đang ngồi đây, thì làm sao lần sau tôi gặp anh ấy được nữa. Vì vậy những gì bỏ qua được thì nên bỏ qua. Thơ trong nước đã chính trị hóa rồi, thì thơ ngoài nước cũng không nên quá chính trị hóa nữa. Chỉ thỉnh thoảng mới có một vài ông thi sĩ làm quan lớn mà thôi, chứ bọn làm thơ chúng ta đa số là sống nghèo khổ thì phải thương nhau chứ.

Nguyễn Đức Tùng: Những cuộc tranh luận văn học mặc dù đúng là làm cho không khí sinh hoạt có khi nặng nề, nhưng mặt khác lại đặt ra được những vấn đề mới. Miễn là chúng được giữ trong biên giới của sự lành mạnh và thuần túy văn học. Tôi nghĩ là không nên tránh các cuộc tranh luận.

Lê Đạt: Tránh làm gì? Và tránh cũng không được. Tôi cũng tin rằng chỉ có tranh luận và dân chủ thì mới có tiến bộ. Tôi chỉ muốn nói rằng đối với những trường hợp có tính cách cá nhân quá thì nên rộng lượng bỏ qua. Cần có cái nhân ái ở bên trong.

Có một chuyện cổ tích nói về một ông quan tòa xử một phạm nhân, sau đó giặc dã nổi lên, ông chạy loạn qua đúng nơi lãnh địa của người bị ông xử tội. Ông tưởng rằng bị anh ta trả thù, nhưng không. Ông hỏi thì được trả lời rằng: ông xử tôi đúng, mà khi xử thì khuôn mặt ông rất buồn rầu chứ không tỏ vẻ khoái chí hay vui vẻ. Vì vậy mà tôi biết tấm lòng của ông.

Nguyễn Đức Tùng: Gần đây việc anh và ba nhà thơ khác được Giải thưởng Nhà nước đã gây ra những dư luận khác nhau. Về mặt chính thống, dĩ nhiên là việc trao giải thưởng đồng nghĩa với việc công nhận đóng góp của các anh vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam. Nhưng một số dư luận có vẻ chưa thích cả về cách tặng giải thưởng và cả cái phương cách mà các anh nhận giải thưởng. Trước khi nói về điều này, tôi nghĩ rằng trước hết cần thấy bản thân giải thưởng là một điều tốt đẹp cho cá nhân những người được giải thưởng. Trước hết là như thế đã..

Vì vậy về phương diện cá nhân, tôi xin chúc mừng anh Lê Đạt.

Lê Đạt: Cám ơn anh. Có người chê tôi là việc nhận giải thưởng là một việc “không anh hùng”, thì từ thuở biết nghĩ đến giờ, tôi có bao giờ rắp tâm làm một anh hùng đâu? Nói như Montaigne, Tôi chỉ mong muốn sống một cuộc đời có thể lượng thứ được.

Nguyễn Đức Tùng: Như thế người ta có thể hiểu rằng hành động nhận giải thưởng của anh và anh Hoàng Cầm là một cử chỉ đẹp, một cử chỉ cao thượng, đúng thế không?

Lê Đạt: Đẹp xấu gì cũng được. Tùy. Làm sao tôi có thể từ chối giải thưởng, vì bên cạnh tôi còn có vợ con anh Trần Dần, vợ con anh Phùng Quán và vợ con tôi. Tôi không nhận sao được? Thú thật với anh, bao giờ đối với vợ con, tôi cũng có mặc cảm tội lỗi. Nhất là với vợ tôi, việc tôi làm Nhân văn đã phá hỏng cả cuộc đời nghệ thuật của cô ấy.

Lòng nguyên xanh rừng non xuân trụi lá
Oan chồng thương bạc má văn công

Nguyễn Đức Tùng: Nghe nói rằng hình như khi phát giải thưởng, nhà văn Đỗ Chu, mà thú thật tôi không biết là ai, có nói lời xin lỗi riêng đối với anh?

Lê Đạt: Đỗ Chu nói nhiều câu rất hay, nhưng chỉ với tư cách cá nhân của anh ấy mà thôi, chứ không đại diện cho nhà nước hay một tổ chức nào cả. Nhiều người nghe, nhưng sau đó chỉ có tôi là nhắc lại một câu của anh ấy trong nhiều câu khác. Về cái sự xin lỗi của anh em.

Nguyễn Đức Tùng: Gặp anh thì thấy tính anh rất vui vẻ cởi mở. Có thể vì thế mà một số người hiểu lầm rằng anh đã nhận giải thưởng một cách dễ dãi, hồn nhiên, thiếu suy nghĩ chăng?

Lê Đạt: Cũng có thể là thiếu suy nghĩ với một số người. Thì tôi nhận xoàng vậy. Nhưng không phải cứ đắn đo suy nghĩ thì phải mặt mày nhăn nhó, đau khổ.

Nguyễn Đức Tùng: Hôm qua, anh Nguyễn Thụy Kha có cho tôi và anh Du Tử Lê xem các cuốn Giai phẩm mà anh ấy giữ được từ hồi còn nhỏ. Anh cẩn thận cuốn chúng lại trong tờ báo Nhân dân cũ, giấu trên nóc nhà, trước khi đi bộ đội vào Nam. Khi giải ngũ về nhà, anh rất mừng vì chúng vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được xem những tờ báo sống sót qua năm mươi năm sóng gió, thật là cảm động. Trong bộ Giai phẩm có rất nhiều người mà sau này ít được nhắc tới như Sĩ Ngọc, Trần Lê Văn… Những người này có vai trò như thế nào?

Lê Đạt: Các anh Trần Lê Văn, Sĩ Ngọc v.v… không những viết bài mà còn tham gia vào việc cổ động anh em viết.

Nguyễn Đức Tùng: Trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956, với cái bìa màu xanh được trình bày giản dị mà sang trọng, do nhà Minh Đức- Thời Đại xuất bản, ngay sau lời nói đầu, là bài thơ của Lê Đạt. Tôi xin đọc lại bài thơ ấy:

Làm thơ

Đêm khuya
Bóng đầu anh
Hằn trên trang sách nhỏ
Như bóng hàng cây quặn gió
Lắng xuống mặt đường
Giông bão mênh mông
Anh nhìn Tổ quốc
Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút
Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người
Anh nghe tiếng đất trời
Xao động lùm cây ngọn cỏ
Như người hiệu thính viên
Đêm không ngủ
Ghi những lời cuộc sống
điện về
Những tiếng nặng nề
Những tiếng cục cằn uất ức
Những tiếng căm thù chua xót
Những tiếng yêu thương…

Chất say đắm nồng nàn, tình yêu và sự xả thân vì cuộc sống thật là đáng quý. Ngày nay tại sao thơ Lê Đạt không còn như trước nữa?

Lê Đạt: Có nhiều cách nồng nàn và xả thân. Đọc lại tôi vẫn quí những bài thơ tuổi trẻ nhưng tôi không thích viết như thế nữa. Người ta không nên đòi hỏi nhà thơ suốt đời chỉ làm một cách thơ giống nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Các nhà văn ở miền Bắc thường không biết đến, hoặc không quan tâm, hoặc là cả hai, đối với hai dòng văn học lớn là văn học miền Nam trước 1975 và văn học ở hải ngoại sau 1975. Lê Đạt là một trong những người rất hiếm thường có bài xuất hiện trên các tờ báo hải ngoại. Anh cũng đi rất nhiều, và viết những bài thơ lãng mạn và say đắm ở Pháp.

Chân quận mười ba quận ra mười bốn
Cỏ trăm đường cúc trắng ngổn ngang xanh

(“Pakơrét”)

(Pâquerette là loại hoa cúc trắng nhỏ)

Anh là một trong những nhà thơ dùng nhiều hình ảnh và khai thác sự liên tưởng (associations) một cách mạnh mẽ. Anh có đọc văn học miền Nam không và nghĩ sao về nó?

Lê Đạt: Tôi cho rằng văn học Việt Nam là một, bất cứ nhà văn nào viết tiếng Việt cũng đều là nhà văn Việt Nam. Do điều kiện chính trị và lịch sử, chúng ta ít được đọc nhau, đó là điều đáng tiếc. Thú thật, tôi cũng không đọc được nhiều.

Nguyễn Đức Tùng: Nhưng ít được đọc nhau không có nghĩa là phủ nhận nhau.

Lê Đạt: Phủ nhận làm sao được. Đó là vốn văn hóa của dân tộc mình. Bây giờ nói về các nhà thơ ở miền Nam trước đây. Những người như Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền… Tôi rất kính trọng các ông ấy. Nhưng tôi ít đọc và rất ít hiểu biết về họ, như thế làm sao tôi có thể viết về họ được. Nhưng không viết về họ không có nghĩa là tôi không kính trọng hay quan tâm. Có thể là sau này tôi sẽ viết, nếu như tôi có đủ thời gian, nhưng như thế tôi phải đọc rất kĩ hoàn cảnh xã hội miền Nam và văn chương thời ấy. Mà tôi và nhiều người ở miền Bắc lại không có điều kiện.

Du Tử Lê: Thưa anh làm thế nào để các nhà văn miền Bắc và miền Nam, trong nước và hải ngoại có thể hiểu biết nhau hơn?

Lê Đạt: Cần phải mở rộng quan hệ, đi lại, trao đổi, cần phải vượt qua các thành kiến. Quan trọng nhất tôi nghĩ là cần phải bám sát tác phẩm. Tranh cãi cho ra nhẽ. Không phải là chín bỏ làm mười đâu nhé. Nhưng cái gì có thể bỏ qua thì hãy bỏ qua, cái gì cần quyết liệt thì phải quyết liệt. Nhưng trong một tinh thần mà tôi gọi là ái hữu văn nghệ.

Nguyễn Đức Tùng: Tinh thần ái hữu mà anh nói, hiện nay có phổ biến giữa các nhà thơ, nhà văn ở trong nước, ở Hà Nội hay không? Và nhất là ở những người viết trẻ?

Lê Đạt: Tôi có cố gắng truyền đạt cái tinh thần ấy trong giới hạn của tôi, nhưng có làm được hay không thì tôi không biết. Đi đâu tôi cũng truyền đạt cái ý kiến ấy.

Nguyễn Đức Tùng: Những người viết trẻ ngày nay có còn cái nhiệt huyết đi làm những chuyện thay đổi theo một lý tưởng nào đó, hay không? Hay thơ của họ chỉ là những tiếng động mơ hồ phía sau các bức tường mà người khác dựng nên?

Lê Đạt: Các nhà văn nhà thơ trẻ Việt Nam hiện nay thích nổi tiếng quá. Theo tôi là không nên. Người viết không nên quá quan tâm đến sự nổi tiếng. Nhưng đứng về mặt phạm trù mà nói: Không tuổi trẻ thời nào kém thời nào cả. Họ chỉ khác nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi xin phép có sự khác biệt ý kiến với nhiều người ở đây. Tôi không nghĩ rằng so với các thế hệ trước, người viết trẻ thích nổi tiếng hơn. Mà nếu họ có thích nổi tiếng thật, thì điều đó cũng không có hại gì, thậm chí còn có lợi cho sự kích thích sáng tạo. Vần đề có vẻ như là nằm sâu hơn chuyện thích nổi tiếng. Hình như anh cho rằng thế hệ ngày nay có một cái gì đó không được như chúng ta mong muốn. Tại sao thế?

Lê Đạt: Thích nổi tiếng không phải là một tội. Nổi tiếng cũng thú vị lắm chứ, nhưng không nên lấy đó làm mục đích của đời mình. Cái thiếu sót chính của thế hệ trẻ hiện nay là vốn văn hóa. Trong văn chương không có trình độ, không có vốn văn hóa, thì anh khó đi xa được.

Nguyễn Đức Tùng: Và khó làm ra cái mới? Có thể chia con đường thơ của Lê Đạt làm hai giai đoạn. Giai đoạn NVGP và trước đó. Giai đoạn sau này lặng lẽ sáng tác nhưng không được xuất bản trong nhiều năm. Anh so sánh như thế nào thơ Lê Đạt qua hai giai đoạn này. Nhiều người lấy làm tiếc rằng anh không còn làm thơ như thời kì NVGP nữa.

Lê Đạt: Nhân văn hay hậu Nhân văn, tôi bao giờ cũng là người lấy đời mình ra đánh cược, được ăn cả ngã về không. Nhưng công bằng mà nói tuổi trẻ không ít người cũng thích tôi và thích thơ tôi. Tôi cũng rất qúy mến họ. Có thể trả lời bằng thơ cho ngắn gọn hơn:

Gắng chữ với thời gian tri kỉ
U thất tuần bồ nhí mộng hăm

Sáng tạo văn học bao giờ cũng do đòi hỏi nội tại. Những lí do khác chỉ là phụ.

Nguyễn Đức Tùng: Anh có dịp đọc loạt bài Thơ đến từ đâu trên TL W hay không?

Lê Đạt: Có, tôi có đọc. Các bài phỏng vấn về thơ ấy rất tốt, rất có ích cho những người làm thơ và yêu thơ. Tôi nghĩ là trong nước cần phải đọc nhiều. Tôi cũng thấy nhiều điều mới. Nên làm. Giỏi lắm (cười). Nhưng các bài phỏng vấn Tùng đừng có làm dài, làm ngắn thôi. Tôi già rồi, đọc mỏi mắt lắm, mặc dù rất thích.

Nguyễn Trọng Tạo: Những người trả lời phỏng vấn thường phải trả lời dài mới nói hết ý của họ. Vả lại còn có nhiều vấn đề mà các nhà thơ chưa có dịp thể hiện ý kiến của mình ở những nơi khác.

Nguyễn Đức Tùng: Các nhà thơ trẻ hiện nay ở Hà Nội như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thúy Hằng… có những đóng góp như thế nào đối với văn chương Việt Nam?

Lê Đạt: Tôi quí họ như qúy tương lai của thơ Việt Nam. Họ cần phải thấy rõ trách nhiệm ấy và lao động thơ nghiêm túc hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Gần đây ở Việt Nam có phong trào thơ trình diễn. Anh nghĩ sao?

Lê Đạt: Tôi chưa đủ thông tin để kết luận. Nhưng tôi thấy nhà thơ cần cảnh giác với từ “diễn”.

Nguyễn Đức Tùng: Anh có nói những điều vừa rồi với những người làm thơ trẻ hay không?

Lê Đạt: Có chứ. Tôi có nói nhiều. Nghe thì họ cũng tiếp nhận, nhưng về nhà lại quên đâu mất. Những trào lưu thời thượng tuổi trẻ bao giờ cũng thích, nhưng họ chán ngay ấy mà.

Nguyễn Đức Tùng: Thơ Việt Nam sẽ đi về đâu?

Lê Đạt: Một nền thơ hay bao giờ cũng là hạnh phúc và cơ may của một dân tộc. Có thể có những thời gian mà hạnh phúc và cơ may ấy không xảy ra. Thế kỉ XVIII chẳng hạn, thơ Pháp chẳng mất mùa trầm trọng đó sao?

Nguyễn Đức Tùng: Ở đây có những ý kiến khác nhau. Các nhà thơ mới cần có những thể nghiệm mới. Văn chương rất cần các thể nghiệm để tấn công vào các biên giới. Đó là con đường sáng tạo mà thời nào cũng đặt ra. Chẳng lẽ một người thường thể nghiệm ngôn ngữ như anh cũng chống lại sự thể nghiệm của thế hệ trẻ hay sao?

Du Tử Lê: Hay vì thơ của họ không thật?

Lê Đạt: Tôi chống là chống cái không thật, cái giả vờ, chứ các thể nghiệm thì sao lại chống. Ưu điểm của lớp trẻ là không biết điều, chứ nếu biết điều quá thì lại thành ông già à? Vấn đề là cái không biết điều ấy phải là cái không biết điều chân thật.

Du Tử Lê: Thưa anh, thay mặt cho một số bạn bè văn nghệ của riêng tôi ở hải ngoại và ở miền Nam trước đây, tôi xin gửi đến anh lời chúc sức khỏe. Về Hà Nội, được nhìn thấy anh khỏe mạnh như thế này, anh em rất vui. Anh Nguyễn Đức Tùng thuộc vào thế hệ sau tôi, có thể gọi là chuyển tiếp đến thế hệ trẻ hiện nay. Cá nhân tôi, người đọc rất kĩ NVGP và thơ Lê Đạt, ngay cả trước năm 1975, hết sức qúy mến anh và các anh Hoàng Cầm, Dương Tường, và những người khác. Như một người làm thơ, tôi nghĩ là tôi học được ở các anh nhiều điều. Vì vậy nhân đây, xin được cám ơn anh. Thêm nữa, tôi rất mong quan hệ văn chương giữa anh em miền Bắc trước đây và miền Nam trước đây, giữa trong nước và ngoài nước ngày một tốt đẹp, không còn ngăn cách.

Lê Đạt: (Cười) Cám ơn anh. Tôi rất ghét sự ngăn cách.

Du Tử Lê: Chúng ta chỉ có một Tổ quốc, và một ngôn ngữ là tiếng Việt.

Lê Đạt: Tôi xin đọc một bài thơ để tặng các anh. Một bài thơ tình (ngâm, lim dim mắt).

Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
Và xanh rất cao

Nguyễn Đức Tùng: Thơ của anh trong bài này đẫm tính ca dao. Không mới lắm so với nhiều bài khác nhưng rất tình tứ. Trong thơ Lê Đạt có chất dân gian không?

Lê Đạt: Tôi rất thích ca dao. Nhưng là ca dao sinh sự. Trong đời sống, tôi không phải là người ưa sinh sự. Nhưng đã làm thơ thì thế nào cũng phải sinh sự. Sinh sự mới tạo ra sự sinh được.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh. Tiếp lời anh Du Tử Lê, tôi xin thay mặt độc giả chúc anh mạnh khỏe và sáng tác lâu dài.

Nhà thơ Lê Đạt tiễn chúng tôi ra đường. Mọi người đứng lại nói chuyện một lúc nữa và chụp một số bức ảnh kỉ niệm. Sau cuộc nói chuyện dài, ông vẫn tươi tỉnh, không lộ vẻ mỏi mệt. Hy vọng rằng ông sẽ khỏe lâu như lời chúc của chúng tôi.

Nhưng rồi, thật tiếc, ông đã ra đi đột ngột hồi 3 giò 15 phút ngày 21 . 04 . 2008 tại nhà riêng 190 Phó Đức Chính – Hà Nội, sau một chuyến đi dài thăm lại Tây Nguyên trở về.

Nguồn: Nguyễn Đức Tùng. Thơ đến từ đâu, Nxb. Lao động, 2009. Bản tác giả gửi http://phebinhvanhoc.com.vn.

Nhà thơ Giang Nam: Thơ trẻ hiện nay hơi cực đoan – TP

6 Th1

Nhà thơ Giang Nam:

Thơ trẻ hiện nay hơi cực đoan

> Lảnh lót tiếng thơ trong Văn Miếu
> Thơ nội, thơ ngoại cùng cất tiếng

TP – “Làm xong bài thơ, tôi đọc cho đồng đội nghe, nhiều người đã khóc. Nay nhắc lại bài thơ này sau đúng 40 năm, tôi lại thấy bồi hồi”, nhà thơ Giang Nam chia sẻ khi ông viết bài thơ Vì một em gái ngã xuống giữa ngày 28-1-1973.

 

Nhà thơ Giang Nam tại Liên hoan thơ Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất. Ảnh: Kiến Nghĩa
Nhà thơ Giang Nam tại Liên hoan thơ Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất. Ảnh: Kiến Nghĩa.

 

Vì sao ông sáng tác bài thơ này đúng một ngày sau khi Hiệp định Paris vừa được ký kết (27-1-1973)?

Thời điểm này chúng tôi đang ở vùng đất lửa Củ Chi. Hôm đó sau khi nghe tin Hiệp định Paris được ký kết, lệnh ngừng bắn có hiệu lực nên chúng tôi ra khỏi hầm tranh thủ hít thở cho thoải mái, rồi treo cờ, giặt quần áo…, không ngờ lại bị địch nã pháo vào. Lúc đó, có một em gái tên Út Nhỏ, nhân viên cơ quan chúng tôi đang nấu cơm thì trúng đạn pháo của địch và hy sinh.

 

 Thơ trẻ bây giờ một số có xu hướng chơi thơ, tức là làm xong đưa ra xem hiệu ứng đối với người đọc thế nào, nếu được thì tiếp tục, không thì bỏ luôn. Với chúng tôi, thơ vừa là nghề, vừa là nghiệp, nó đeo đẳng suốt đời. 

Nhà thơ Giang Nam

Quá sốc và thương cảm, tôi viết một mạch bài thơ trong vòng một giờ để tiễn biệt em: “Chúng nó bắn em bằng một quả đạn 105 ly khi em đang ngồi trông cơm bên bếp lửa/Hạt gạo chưa ăn bỗng pha màu máu đỏ/Ơi hạt gạo ân tình mẹ mới gửi ra… Em ngã xuống trong ngày ngừng bắn/Không phải quả đạn 105 ly cuối cùng/Không phải do một thằng sát nhân điên loạn/Chúng rất tỉnh táo đấy em/Nên anh không được quyền rơi nước mắt/Nên khẩu súng em mang anh lại nhận thêm cho mình/Và những đoá hoa rừng anh lại trồng thêm thay em”.

 

Bài thơ có tựa đề khá dài, trong thơ lại có những câu cũng dài như văn xuôi. Dường như không ít nhà thơ trẻ hiện nay cũng có xu hướng như vậy?

Bài này có tựa đề dài nhất trong số thơ của tôi, lời thơ một số câu cũng hơi dài. Đây là thể thơ tự do xuất hiện từ phong trào thơ mới, được các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, trong đó có tôi hay dùng. Bài Quê hương của tôi, hay Màu tím hoa sim của Hữu Loan cũng là thơ mới, gần như là thơ trẻ bây giờ.

Thơ mới hiện nay được các nhà thơ trẻ sử dụng rộng rãi trong thơ hiện đại. Họ có điều kiện đọc nhiều, học nhiều hơn thế hệ chúng tôi. Đọc thơ của giới trẻ hôm nay thấy lời thơ thường viết khá dài, trong đó đề cập được những vấn đề mới của cuộc sống, dựng lên được một số hình tượng thấy thú vị. Đôi chỗ thấy kỹ thuật làm câu từ có khác để gần với cuộc sống đa dạng hơn của hôm nay.

Ông hay đọc thơ của giới trẻ và quan tâm tới người làm thơ trẻ?

Tôi đọc thơ của họ khá nhiều qua sách báo, đặc biệt trên tờ Văn nghệ Trẻ. Mỗi khi đọc được bài thơ hay, tôi thấy rất hạnh phúc và không ít lần được hưởng cảm giác đó.

Còn việc quan tâm đến lực lượng làm thơ trẻ, chỗ khác tôi chưa được rõ, còn tại Hội Văn nghệ tỉnh Khánh Hoà chúng tôi những năm gần đây thường có hội nghị các nhà văn, nhà thơ trẻ trong toàn tỉnh. Ở Hội Văn nghệ của tỉnh tôi (nhà thơ Giang Nam nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn nghệ của tỉnh – PV), nếu mỗi nhiệm kỳ mà không phát hiện được lực lượng trẻ làm thơ, văn xuôi thì coi như thất bại.

Bên cạnh điểm mạnh của giới làm thơ trẻ, ông thấy có gì cần bổ khuyết?

Có một số nhà thơ dường như chưa khai thác được đúng đặc trưng ngôn ngữ, âm thanh tiếng Việt nên hay viết theo kiểu phương Tây. Điều đó khiến lời thơ dài nhưng lại đọc như văn xuôi chứ chưa hẳn là thơ. Hơn nữa, tiếng nước ngoài đa âm nên làm thơ chỉ cần âm cuối cùng, trong khi tiếng Việt đơn âm nên phải nói từng chữ. Làm thơ dù sao cũng phải có vần điệu, làm câu trước phải để người đọc dễ liên tưởng đến câu sau. Nhiều bài thơ bây giờ, thú thật rất khó thuộc. Mà để người đọc dễ nhớ, dễ thuộc cũng là một yếu tố quan trọng của bài thơ hay.

Thứ nữa, trong thơ trẻ bây giờ một số có xu hướng chơi thơ, tức là làm xong đưa ra xem hiệu ứng đối với người đọc thế nào, nếu được thì tiếp tục, không thì bỏ luôn. Điều này khá tiếc so với lớp đàn anh trước đây, thường sống chết với thơ. Với chúng tôi, thơ vừa là nghề, vừa là nghiệp, nó đeo đẳng suốt đời.

Ý cuối tôi muốn nói, thơ trẻ hiện nay có chỗ hơi cực đoan, nhiều cái cứ muốn đập tan, đập nát, điều này dễ dẫn tới hiểu lầm.

 

Nhà thơ Giang Nam
Nhà thơ Giang Nam.

 

Tại Liên hoan thơ Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất được tổ chức tại nước ta cách đây một năm, ông từng nói thơ phải là cái gì đó rất cá nhân, phải thật với chính mình, đừng mô phỏng theo ai hết. Trong khi đó, một số nhà thơ trẻ hiện nay cũng cho rằng “tôi làm thơ cho mình, thơ tự tôi nghĩ ra” lại bị xem là cực đoan?

Điều này có lẽ phải quay lại chuyện cũ một chút. Trước đây, ba bài thơ Núi đôi, Màu tím hoa sim, Quê hương liên tiếp xuất hiện chỉ cách nhau vài tháng, trong đó đều nói về sự hy sinh của người con gái, của tình yêu và nỗi cách xa. Khi đó ba tác giả đâu hề biết nhau, và câu chuyện đều là riêng của mỗi người, nhưng thực tế cuộc chiến tranh khi đó khiến cái riêng của mỗi chúng tôi lại là cái chung của nhau, xa hơn là cái chung của tình cảm con người khiến mỗi bài thơ đều được nhớ đến nay.

Còn điều bị cho là cực đoan, khi nhà thơ cho rằng mình tự làm thơ cho mình, nhưng lại không tìm thấy sự đồng điệu từ những người khác. Sự thiếu đồng điệu này có lẽ do nhà thơ thiếu thực tế cuộc sống, nên khi tự nghĩ ra điều gì đó lại không được mọi người chấp nhận dễ dẫn đến cực đoan. Bên cạnh đó, có một số nhà thơ trẻ học theo cách làm thơ nước ngoài mà không có được cái hồn Việt của mình trong đó nên ý tứ trở nên xa lạ cũng là một trạng thái cực đoan. Trong khi thực tế, một bài thơ có rung cảm thực sự, thì dù làm theo phong cách nào, không những ta mà ngay cả người nước ngoài vẫn đều có thể thưởng thức được. Tôi nghĩ, thơ dù đổi mới, cách tân đến đâu vẫn cần giữ cái hồn dân tộc.

Xin cảm ơn nhà thơ Giang Nam.

Kiến Nghĩa
thực hiện

%d bloggers like this: