Lưu trữ | 11:20 Chiều

VỢ CHỒNG NHÀ THƠ YẾN LAN- TẮT BẾP CÓ LỬA ĐÈN, TÌNH QUÊ KHÔNG HỞ LẠNH – Bình Định

10 Th1

 

VỢ CHỒNG NHÀ THƠ YẾN LAN- TẮT BẾP CÓ LỬA ĐÈN, TÌNH QUÊ KHÔNG HỞ LẠNH
10:10′, 9/1/ 2013 (GMT+7)

Trong Hồi ký “Yến Lan- Nhớ mãi về anh” (NXB Văn học 2011), bà Nguyễn Thị Lan, phu nhân của nhà thơ Yến Lan đã kể rằng: “3 năm học từ lớp 5 đến lớp 3, kỳ nghỉ hè nào, tôi cũng đến anh để học thêm. Anh dạy rất nhiệt tình, giảng bài giọng rất hay, lại thấy anh ít rong chơi như các anh khác, nên tôi cũng có để ý. Thỉnh thoảng, xem báo, lại gặp tên anh, tôi và người bạn gái cùng tuổi tên Bạch Yến đều tấm tắc: anh nhà nghèo mà sao giỏi thế! Anh thường đứng bên bờ thành, thỉnh thoảng lại khẽ gọi và hỏi tôi những câu chuyện vu vơ. Đầu năm 1940, anh ghé lại chơi và nói là anh sẽ ra dạy ở Thanh Hóa. Tết, anh về quê, tôi ghé thăm rồi nhận lời yêu anh. Anh nói: “Anh coi em như mối tình đầu”… Nhưng cha mẹ tôi lại không đồng ý, có phần bởi cũng muốn con cái mình có chồng giàu có, sung sướng. Tôi rất buồn và lại bỏ nhà đi, vô một ngôi chùa ở Phan Thiết tu. Được ít lâu thì cha tôi sai anh tôi dẫn tôi về và đồng ý cho chúng tôi lo việc cưới xin. Đám cưới của chúng tôi tổ chức vào ngày 20.4.1944”.

 

 

Vợ chồng nhà thơ Yến Lan thăm lại “Bến Mi Lăng” (bến sống Trường Thi) sau  năm 1975. (ảnh của gia đình nhà thơ).

 

Cuộc tình và đám cưới của nhà thơ Yến Lan đã xảy ra cách nay ngót bảy mươi năm. Bảy mươi năm, với bao biến động của lịch sử, cách mạng, kháng chiến, hòa bình, mối tình thắm đượm của ông bà đã đi dọc những trang thơ, từ trước Cách mạng tháng Tám: “Phải là trọn vẹn, là trong sáng- Là một bài thơ khắc chữ “Nàng” đến thời tập kết ra miền Bắc: “Ta uống chúc vợ hiền- Khó khăn còn nặng gánh- Tắt bếp có lửa đèn- Tình quê không hở lạnh”; cho đến sau giải phóng trở về quê cũ: “ Nhà không vườn không gác không sân- Tôi nợ đời rau trái tôi ăn- Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát- Nợ em cài bên cửa một vầng trăng”, rồi trong tuổi già: “Quả lê ngày ấy em còn bói – Nhựa tím khô dần một dấu răng”.

Từ sau giải phóng, tôi hay ghé lên nhà ông bà, thăm hỏi trò chuyện và ghi chép lại nhiều tư liệu về “Bàn Thành tứ hữu” mà ông là một trong những nhân chứng sống. Bên cạnh ông, bà cũng là một người bạn của nhóm và là người thường kể lại những câu chuyện thật xúc động về nghĩa tình của nhóm, cũng như nghĩa tình của ông bà với nhiều nhà văn nhà thơ khác. Ông bà sống thật giản dị khiêm cung trong ngôi nhà bên phố chợ nhưng là một địa điểm cuốn hút bước chân của bao nhiêu khách làng văn ở bốn phương trời ghé đến thăm hỏi và sẻ chia. Ai yêu thơ Yến Lan, hẳn cũng đều biết bài “Khăng khít”, một bài thơ mộc mạc, giản dị như thấm đẫm một tình yêu bền bỉ, ám ảnh khôn nguôi: “Ta gắn nhau từ đầu- Càng gắn nhau về cuối- Đâu nghĩ là xa nhau- Cho đến giờ hấp hối…”. Nhà thơ Yến Lan đã vĩnh biệt dương trần cách đây 15 năm, ngày 5.10.1998. Cụ bà là người đã ghi chép lại những bài thơ trên giường bệnh của ông, suốt nhiều năm liền. Sau khi ông mất, bà tiếp tục sưu tầm di cảo của ông, viết hồi ký và cả làm thơ, thơ bà luôn đau đáu tình yêu với nhà thơ mà từ đầu xanh  đến hoa râm rồi bạc trắng chưa thôi những ngôi nhân xưng “chàng” “nàng”, “anh” “em” trẻ trung dào dạt! “Viết cho đỡ nhớ ảnh” là cái câu bà thường trả lời thân hữu cũng như các nhà báo, khi hỏi về tập hồi ký và những bài thơ bà làm trong tuổi bát tuần, cửu tuần! Sự say sưa với những kỷ niệm từ thời hoa niên cho đến hơi thở chót và sự trân trọng sự nghiệp văn chương của chồng khiến bà có thể tâm sự hàng giờ. Và dù tuổi cao sức yếu, bà cũng đi nơi này nơi nọ, nếu ai hỏi han về Yến Lan, bà sẵn sàng dốc bầu tâm sự với một niềm thương yêu vô bờ bến người chồng thi sĩ quá cố của mình! Bà nhớ lại những năm tháng cuối đời của ông và đã viết lên báo: “Nhưng Sài Gòn chưa mổ, về nhà bắt đầu từ đó ốm liên miên nên tôi lại đưa ra Hà Nội mổ. Hai tháng sau, về nhà bắt đầu từ đó bị ốm cho đến năm 1994 anh Lan bị đau nặng, ngày mồng 4 tết đưa xuống bệnh viện đa khoa nằm. Khi ốm nặng gần chết, nhờ có Tỉnh ủy bảo bệnh viện làm sao cứu cho qua khỏi ngày lễ, chết đi sống lại 5 lần, sau tôi thấy ảnh mệt quá tôi xin đưa về nhà chữa thuốc Bắc có, thuốc Tây có, nhưng sao bệnh cứ kéo dài, người càng ngày gầy đi chẳng thấy béo lên tí nào, nhưng đầu óc rất minh mẫn, không lẫn tí nào, người tuy ốm gầy, tay run đi ngã luôn, nhưng lúc nào cũng nghĩ ra thơ, thơ tuôn ra như một dòng suối không biết bao giờ ngừng. Hàng ngày bảo tôi lấy giấy ra viết, anh đọc cho tôi viết, viết xong đọc lại cho ảnh nghe, nghe có chỗ nào sai lại sửa, sửa từng câu từng chữ chu đáo quá.

Đến ngày mồng 3 tháng 8, nhận được thư ngoài Hội nhà văn gửi vào, mời nhà văn, nhà thơ phải viết xong bản mục tiêu đó. Giấy này là chuẩn bị làm một tập sách các nhà văn nhà thơ đến năm 2000 phải làm xong, tôi đọc cho ảnh nghe, ảnh suy nghĩ chỉ cho tôi soạn và viết cho đến ngày 13 chưa xong. Tôi bảo thôi anh cứ chỉ cho tôi sẽ tìm, đến ngày 14 sợ tôi làm không xong, thiếu phần nào xuống Quy Nhơn nhờ anh Mừng tìm hộ. Tôi bảo anh có mệt quá thì nằm nghỉ cho nó khỏe, nhưng đến sáng ngày rằm tôi cứ thấy la mệt, lúc 5 giờ anh còn bảo cháu Đàn cõng đi cùng nhà, đi độ nửa tiếng bảo Đàn đem ba về nằm nghỉ, tôi lo nấu cháo, khi múc lên thấy ảnh nằm khác hơn mọi hôm, tôi liền nhờ những người xung quanh đến giúp tôi. Lúc ấy chỉ có một mình tôi ở nhà, sau đó gọi điện xuống cơ quan, anh Mừng và cả cơ quan đều lên lo chung với gia đình tôi, tôi lấy làm cảm động quá, nhưng tôi bối rối, không biết lo cái gì trước, cái gì sau.”

 

 

Nguyễn Thị Lan, phu nhân của nhà thơ Yến Lan và tác giả.

 

Tôi còn nhớ, nhiều năm sau, một buổi chiều cuối tháng 8.2005, tôi đến nhà gặp cụ bà và hướng dẫn cụ lập bản đăng ký theo quy chế xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước của Chính phủ. Biết cụ tuổi cao sức yếu,  tôi dặn đi dặn lại, cần gì cụ cứ điện thoại để tôi lên nhưng sáng hôm sau, cụ vẫn đi xe buýt trực tiếp xuống ngay cơ quan Hội tìm tôi, gửi lại 9 tờ khai chép tay và 9 tấm ảnh chân dung Yến Lan (mới rọi lại). Tôi không quên thảo một công văn ngắn gọn kèm theo, nêu những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Yến Lan, xong ký tất cả, chuyển qua văn thư đóng dấu và gửi phát chuyển nhanh cho Hội Nhà văn Việt Nam. Theo cảm nhận của riêng tôi, tôi biết ông chỉ cần qua Hội đồng xét giải Hội Nhà văn Việt Nam và Hội đồng Quốc gia là đủ, nên tôi không hướng dẫn cụ bà làm hồ sơ cho Hội đồng cơ sở tỉnh Bình Định. Và năm ấy, nhà thơ Yến Lan đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước. Theo cảm nghĩ của tôi, với tài năng và sức lan tỏa của cụ, đáng lẽ cụ đoạt giải thưởng ngay từ nhiều năm trước. Nhưng những ngày có hân hạnh hầu chuyện cụ ông, tôi biết tính cụ, ôn tồn, hòa nhã và hết sức tự trọng. Cho dù sự thiệt thòi luôn luôn xảy ra thuở sinh thời, điều ấy có hề chi với con người đã đi qua bao thăng trầm nhân thế, lặng lẽ trọng nghĩa nhân và ái ngại trước trò chơi phù thế ồn ào. Phút cụ bà đưa tôi lên thắp nhang trước bàn thờ kính cáo công việc ấy đã hoàn tất, trong linh cảm tôi vẫn thấy nụ cười cụ ông hiền lành trong trẻo như xưa, không một chút đổi khác!

Giờ thì theo quy luật của đời người, cụ bà đã đi gặp cụ ông vào lúc 17 giờ 10 phút ngày 06 tháng 01 năm 2013, khi còn mấy năm nữa là cụ tròn 100 tuổi. Tôi tin rằng, ở cõi xa kia, tình yêu bất diệt của hai cụ vẫn còn mãi với thời gian, hai cụ vẫn uống trà, ngắm trăng, nhấm nháp miếng bánh tráng dãi dầu của mưa nắng Bình Định, đọc những câu thơ nghĩa tình và san sẻ niềm rung động cho nhau như hồi còn tại thế! Như hồi nào, cụ ông xuất thần, cụ bà châm trà và giở sổ ghi chép: “Cố gắng vươn lên nống bước lùi- Ngày thường hữu sự sống càng vui- Văn chương thường vốn ưa lưu biệt- Những muốn mang lên góp sổ trời”.

Nguyễn Thanh Mừng

Việt Nam định hình quan điểm lãnh đạo tương lai của Mỹ như thế nào – VNE

10 Th1

Việt Nam định hình quan điểm lãnh đạo tương lai của Mỹ như thế nào

John Kerry và Chuck Hagel, hai vị được đề cử đứng đầu hai bộ quan trọng nhất là ngoại giao và quốc phòng của Mỹ, cùng có thời tham chiến ở Việt Nam và chính cuộc chiến này đã định hình quan điểm của họ về chính sách mà nước Mỹ cần có.

Khi đề cử một người làm Bộ trưởng ngoại giao và một làm Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng thống Obama hy vọng sẽ đưa vào chính quyền nhiệm kỳ hai của ông hai cựu chiến binh có sự nhạy cảm về sự vô nghĩa của chiến tranh.

John Kerry và Chuck Hagel đều từng tham chiến ở Việt Nam, và cuộc chiến này đã in dấu ấn sâu đậm trong quan điểm của họ về chính sách và chiến tranh. Ảnh: Politico.
John Kerry và Chuck Hagel đều từng tham chiến ở Việt Nam, và cuộc chiến này đã in dấu ấn sâu đậm trong quan điểm của họ về chính sách và chiến tranh. Ảnh: Politico.

Ông John Kerry, nghị sĩ đảng Dân chủ, bang Massachusett, được tổng thống Obama chọn vào chức ngoại trưởng. Trong thời gian tham chiến trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, Kerry chỉ huy một tàu tuần tra ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Nhận được ba huân chương chiến công “Trái tim màu tím”, nhưng Kerry quyết định vứt bỏ hết các phần thưởng chiến tranh trong một cuộc phản đối trước tòa nhà quốc hội, lên án lính Mỹ hành xử tàn bạo một cách có hệ thống. Ông từng nói trước Ủy ban đối ngoại thượng viện rằng: “Làm thế nào người ta lại có thể yêu cầu một người khác trở thành kẻ phải chết cho một sai lầm?”

Ông Chuck Hagel, cựu thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa từ bang Nebraska, được đề cử đứng đầu Lầu Năm Góc. Hagel tham chiến trong giai đoạn quanh Tết Mậu Thân và bị thương hai lần, nhận hai “trái tim màu tím”.

Trở về Mỹ, chàng lính Hagel vẫn nghĩ rằng cuộc chiến ở Việt Nam là chính nghĩa và đã làm hết cách để vứt bỏ ký ức chiến tranh lại đằng sau. “Tôi muốn có một cuộc sống”, ông từng nói.

Nhưng càng về sau, Hagel trở nên càng phản đối những người đề xướng chiến tranh. Hồi tháng 10 vừa rồi, ông phát biểu trên Tạp chí Việt Nam, một ấn phẩm về lịch sử, như sau: “Tôi không thể hiểu được sao đất nước này có thể cho phép điều như vậy diễn ra, 16.000 thanh niên bị giết trong một năm”. Hiện nay ông là Chủ tịch Nhóm tư vấn của Lầu Năm Góc về tổ chức kỷ niệm 50 năm cuộc chiến ở Việt Nam.

Video: Hagel nói “những điều học được từ chiến tranh ở Việt Nam”

Những người ủng hộ ông Kerry và Hagel nói rằng cho dù hai người có những phản ứng khác nhau về các trải nghiệm đau thương của cuộc chiến, cuộc chiến đó có cùng một tác động đến họ, đó là việc đặt ra câu hỏi về cái giá cho việc dính líu của Mỹ ở nước ngoài.

Ông Max Cleland thuộc đảng Dân chủ, một cựu thượng nghị sĩ từ tiểu bang Georgia, đã bị mất ba chi trong chiến tranh tại Việt Nam, nói: “Những người từng tham gia chiến tranh là những người tốt nhất có thể ngăn chúng ta không rơi vào chiến tranh. Họ đã cảm nhận được vết thương chiến tranh về thể chất, tinh thần và tình cảm. Họ sẽ đưa lên bàn thương lượng tất cả những gì họ cần đưa, đó là: chiến tranh là tai hại”.

Đối với ông Obama, những bài học mà ông Kerry và Hagel học được từ trong cuộc chiến là yếu tố hết sức quan trọng khi tổng thống này quyết định chọn hai vị này vào những ghế quan trọng nhất của nội các.

Ngày 7/1, Obama nói khi công bố quyết định chọn ông Hagel: “Chuck hiểu rằng chiến tranh không phải là cái gì đó trừu tượng. Ông ấy hiểu rằng việc đưa những thanh niên Mỹ đi chiến đấu và đổ máu trong cát bụi và bùn đất sẽ chỉ được thực hiện khi nó thật sự khẩn thiết”.

Tháng trước khi công bố quyết định chọn Kerry, Obama nói: “Đã từng phục vụ quân đội với lòng dũng cảm ở Việt Nam, ông ấy hiểu rằng chúng ta có trách nhiệm trong việc sử dụng sức mạnh của Mỹ một cách khôn ngoan, đặc biệt là sức mạnh quân sự.”

John Kerry và diễn viễn Jane Fonda trong một cuộc tuần hành phản chiến ở Mỹ những năm 70 của thế kỷ trước. Ảnh: AP
John Kerry và diễn viễn Jane Fonda trong một cuộc tuần hành phản chiến ở Mỹ những năm 70 của thế kỷ trước. Ảnh: AP

Nếu được quốc hội chấp thuận, hai ông Kerry và Hagel sẽ là một số rất ít cựu chiến binh Việt Nam lên tới đỉnh cao trong hệ thống an ninh quốc gia. (Ông Colin L. Powell, cựu ngoại trưởng Mỹ và cố vấn an ninh quốc gia đã hai lần sang tham chiến ở Việt Nam). Hagel sẽ là người đầu tiên từng là lính nhập ngũ điều hành Lầu Năm Góc, điều mà ông Obama cho là có “ý nghĩa lịch sử”.

Quan điểm của hai ông Hagel và Kerry làm cho họ rất tương thích với Nhà Trắng, bởi chính phủ gần như chắc chắn muốn đẩy nhanh quá trình rút nốt số 66.000 binh sĩ Mỹ còn lại tại Afghanistan, sớm hơn điều cánh chỉ huy quân sự mong muốn. “Lý do chúng ta từ bỏ Afghanistan không phải là vấn đề chúng ta thắng hay thua”, ông Hagel nói với tạp chí Việt Nam. “Sau 10 năm ở Afghanistan, chúng ta thu được gì khi chúng ta ra đi? Chúng ta đã làm được gì ở đó?”

Cũng giống như Kerry, Hagel đã bỏ phiếu cho nghị quyết cho phép tiến hành cuộc xâm lược Iraq nhưng ông đã sớm trở thành người phản đối cách thức mà chính quyền Bush tiến hành cuộc chiến.

Bạn bè của ông cho rằng ông Hagel, với hai huân chương Trái tim tím, điều hành Lầu Năm góc là hợp lý, trong khi ông Kerry, người được tặng thưởng một ngôi Sao bạc, một Sao đồng và ba huân chương Trái tim tím, sẽ nhận Bộ Ngoại giao. “Họ dường như trụ lại những vị trí mà ta nghĩ là họ sẽ trụ lại”. Jan C. Seruggs, người sáng lập và là Chủ tịch Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam, người biết rõ hai ông, nhận xét.

Trải nghiệm ở Việt Nam

Trong cuộc điều trần năm 1971 trước Ủy ban đối ngoại thượng viện về Việt Nam, Kerry đã tức giận nói về những binh sĩ Mỹ đã “cưỡng bức, cắt tai, cắt đầu” và gây ra rất nhiều cuộc tàn sát khác. Sau này ông có nói rằng ông ân hận về một số từ ngữ ông đã dùng hôm đó. Việc này ảnh hưởng khi ông là ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ năm 2004, khi một nhóm cựu chiến binh, vẫn còn bất bình với những nhận xét của Kerry, đã tìm cách hạ thấp kinh nghiệm quân ngũ của ông.

Christopher Gelpi, một giáo sư tại trường đại học Duke nghiên cứu về thái độ của các lãnh đạo quân sự đối với việc khi nào cần phát động chiến tranh và tiến hành như thế nào, nói rằng “Kerry quay lưng lại với cơ chế quân sự theo một cách khác với Hagel.”

Theo Gelpi, Hagel là một ví dụ điển hình về việc các cựu chiến binh bị vỡ mộng với cuộc chiến mà các nhà lãnh đạo chính trị phát động.

John Kerry năm 1969 (trái) và Chuck Hagel năm 198, trong thời gian tham chiến ở Việt Nam. Ảnh: AP
John Kerry năm 1969 (trái) và Chuck Hagel năm 1968, trong thời gian tham chiến ở Việt Nam. Ảnh: AP

Ông Hagel, 66 tuổi, đến Việt Nam tháng 12 năm 1967 khi là lính lục quân và ngay sau đó được điều động đến đóng gần biên giới với Campuchia cùng với tiểu đội của người em trai mình là Tom. Tháng 3 năm 1968, tiểu đội đạp phải dây mìn trong rừng làm nổ một quả mìn lớn, các bộ phận của cơ thể của binh sĩ bắn tung tóe và một mảnh đạn găm vào ngực của Hagel. Tom Hagel đã băng bó cầm máu cho anh trai Chuck. Rồi vào tháng 4 năm đó, Chuck lại cứu em trai khi xe bọc thép của hai anh em, với Tom trên tháp pháo, một lần nữa vướng mìn.

Hagel cuống cuồng kéo người em trai đang ngất ra khỏi đống đổ nát, bởi biết rằng chiếc xe có thể sớm phát nổ. Khi màng nhĩ của hai anh em gần như nổ tung, khuôn mặt ông Hagel đã bị cháy xém và sau đó hai người đã được cáng đến một bệnh viện dã chiến.

Qua mấy thập kỷ, sự ủng hộ chiến tranh của ông Hagel bắt đầu mờ nhạt dần, nhưng điều làm ông thay đổi nhiều nhất, như ông từng nói, là khi nghe lại các đoạn băng ghi âm các cuộc nói chuyện điện thoại, được công bố vào những năm 1990, của Tổng thống Lyndon B. Johnson năm 1964 thừa nhận rằng ông ta thấy cuộc chiến tranh là vô nghĩa. Năm 2007, ông Hagel nói rằng: “Sự gian dối đó thật kinh khủng, thực ra là tội ác”

Cuối cùng, Việt Nam đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến qua điểm ​​của Hagel về chiến tranh.

“Tôi không phải theo trường phái hòa bình – Tôi tin vào việc sử dụng vũ lực, nhưng chỉ sử dụng vũ lực sau một quá trình hoạch định rất cẩn thận”, Hagel nói với tạp chí Việt Nam. “Cái đêm hôm Tom và tôi được cáng ra khỏi ngôi làng đó vào tháng tư năm 1968, tôi tự nói với mình: nếu tôi ra khỏi nơi đây được và nếu tôi có vị thế để tác động vào chính sách thì tôi sẽ làm tất cả mọi thứ để tránh chiến tranh vô ích và vô nghĩa”.

Ông Kerry, hiện 69 tuổi, sang Việt Nam tháng 11 năm 1968 khi còn là một trung úy hải quân và sớm được giao chỉ huy một chiếc tàu tuần tra dài khoảng 15 mét vỏ nhôm. Những con tàu này cày xới các con sông trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long vào ban đêm nhằm tiêu diệt các cứ điểm của đối phương cũng như cắt đứt đường tiếp tế.

Một vài tháng sau đó, trong một lần ông tham gia và được thưởng một Ngôi sao bạc, ông Kerry đã cho tàu cập bờ trong một cuộc chiến, đuổi theo và bắn một người thanh niên có súng cối mà họ cho là của đối phương. Năm 2004, trong một cuộc phỏng vấn về hành vi của ông trong chiến đấu, Kerry nói rằng: “Nếu ai đó nói rằng trong lúc đánh nhau họ không sợ hãi,thì đó là nói không đúng sự thật”.

Hai tuần sau trận đánh, ông Kerry đã cứu được một trung úy thuộc Lực lượng đặc nhiệm, người bị hất văng ra khỏi một chiếc tàu gần đó. Với hành động này ông được tặng một Ngôi sao đồng.

“Tất nhiên, chúng ta không ai muốn có một đám người chỉ biết về chiến tranh trên giấy”, cựu nghị sĩ Cleland nói. “John và Chuck không như vậy, họ đều từng có những trải nghiệm đau xót về việc bị tống vào chiến tranh khi không thực sự cần thiết”.

Phạm Ngọc Uyển (theo NYT)

 

Chuyên gia Nga phân tích thẳng sức mạnh quân sự Trung Quốc – ĐV

10 Th1
 
Cập nhật lúc 07:22, 10/01/2013

Chuyên gia Nga phân tích thẳng sức mạnh quân sự Trung Quốc

(ĐVO) – Trung Quốc và Nga chính thức ký “Hiệp ước về quan hệ láng giềng thân thiện, hữu nghị và hợp tác” năm 2001 sau các thời kỳ “đồng minh” từ cuối những năm 40 và các năm 50,  thời kỳ “chiến tranh lạnh” từ 1960 đến 1976 và thời kỳ cải thiện quan hệ từ 1976 đến 2001.

Từ đó đến nay mối quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển rất mạnh mẽ. Kim ngạch thương mai hai chiều năm 2011 đạt 80 tỷ đô la và con số này có thể lên tới 100 tỷ đô la trong năm 2015. Quan hệ hợp tác kỹ thuật – quân sự cũng có những bước phát triển. 

Chỉ trong các năm từ 1992 đến 2008, Trung Quốc đã mua vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự của Nga trị giá 25 tỷ đô la. Các nhà lãnh đạo Nga như D. Medvedev và Trung Quốc như Hồ Cẩm Đào đều đánh giá là mối quan hệ hai nước hiện nay (năm 2010)  “đang ở mức cao nhất trong lịch sử”.

Ngay sau khi nhậm chức vào đầu tháng 11/2012, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên mà tân bộ trưởng quốc phòng Nga  X. Shoigu thực hiện ngay sau khi nhậm chức vào ngày 16/12 là chuyến thăm Trung Quốc với mục đích là tổng kết công tác hợp tác quân sự – kỹ thuật giữa hai nước trong các năm qua và các phương hướng phát triển trong thời gian tới.

Tuy nhiên, không phải mọi người Nga, đặc biệt là các chuyên gia chính trị – quân sự Nga đều có một cái nhìn lạc quan về mối quan hệ hai nước như trong các phát biểu và tuyên bố chính thức của các nhà lãnh đạo hai bên. A.A Khramchilin, Phó giám đốc Viện phân tích chính trị và quân sự Viện Hàn lâm khoa học Nga, một chuyên gia rất uy tín trong lĩnh vực chính trị, quân sự và quan hệ quốc tế là một người như vậy.  

 
Liêu Ninh là tầu sân bay đầu tiên của Trung Quốc

Mới đây ông đã có bài đăng trên báo “Bình luận quân sự độc lập“ với tiêu đề: “Cuộc chiến tranh của Trung Quốc chống LB Nga, chiến thắng sẽ không thuộc về chúng ta (lấy ý trong lời kêu gọi của I.Xtalin  gửi nhân dân Liên Xô khi bắt đầu Chiến tranh vệ quốc vĩ đại). Xin giới thiệu bài viết của A.A. Khramchilin để tham khảo .

Trong cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động chống Nga, chiến thắng không thuộc về chúng ta  

“Vấn đề đặt ra là không phải là Trung Quốc có tấn công Nga hay không, mà sẽ tấn công vào lúc nào. Nếu có một cuộc tấn công xâm lược quy mô lớn theo cách thức “cổ điển” chống lại Nga thì kẻ xâm lược đó với xác xuất 95% (nếu không phải là 99,9%) sẽ là Trung Quốc.”

Tình trạng quá tải dân số trầm trọng cộng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc đã làm cho nước này phải đối mặt với loạt các vấn đề cực kỳ phức tạp,-  những vấn đề đó dù có mô tả một cách ngắn gọn nhất thì phải có một bài báo lớn riêng biệt.

Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các vấn đề đó phức tạp ở chỗ là nếu giải quyết một vấn đề này thì lại làm trầm trọng thêm một vấn đề khác. Về mặt khách quan, Trung Quốc đã không còn đủ sức sống trong các đường biên giới hiện tại của nó.

Nước này hoặc phải có không gian sống lớn hơn rất nhiều, nếu như không muốn trở thành nhỏ đi rất nhiều. Trung Quốc không thể tồn tại như hiện nay nếu không bành trướng để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên và lãnh thổ, và đây là một thực tế.

Có thể nhắm mắt làm ngơ trước thực tế đó nhưng khồng thể trốn tránh được nó. Ngoài ra, cũng không nên nghĩ là hướng bành trướng của Trung Quốc sẽ là Đông Nam Á. Khu vực này có tương đối ít lãnh thổ và đã rất đông dân cư địa phương. Hướng ngược lại- nơi có rất nhiều lãnh thổ và hoàn toàn rất ít dân cư – đó chính là Kazakhstan và phần Châu Á của Liên Bang Nga.

Chiến đấu cơ J-20 xuất hiện trên tầu sân bay Liêu Ninh
Chiến đấu cơ J-20 xuất hiện trên tầu sân bay Liêu Ninh

Đây chính là hướng mà Trung Quốc sẽ bành trướng để mở rộng lãnh thổ. Hơn nữa, vùng Ngoại Ural chính khu vực mà Trung quốc lâu nay vẫn coi là lãnh thổ của mình.  Nếu muốn trình bày một cách tóm tắt nhất các học thuyết lịch sử của Trung Quốc về vấn đề này lại đòi hỏi một bài báo lớn nữa.

Tuy nhiên, nói một cách ngắn gọn là nếu có ai đó coi vấn đề biên giới giữa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Bang Nga đã được giải quyết dứt điểm và không còn vấn đề gì nữa thì đó chính là những người hoàn toàn không hiểu biết Trung Quốc là gì và người Trung Quốc là những người như thế nào (Hiệp ước phân định biên giới Nga- Trung được ký năm 2001).

Tất nhiên, đối với Trung Quốc thì phương án bành trướng được ưu tiên hơn là bành trướng một cách hòa bình (bằng kinh tế và di dân). Nhưng tuyệt đối không thể loại trừ kịch bản chiến tranh.

Một điều rất đáng chú ý là trong mấy năm gần đây Quân đội Trung Quốc thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn, và những cuộc tập trận như vậy không thể có một cách giải thích nào khác ngoài việc đó là sự chuẩn bị cho các hành động xâm lược Nga, quy mô các cuộc tập trận (cả quy mô không gian và lực lượng được sử dụng) này ngày càng lớn.

Ngoài ra, có lẽ cho đến bây giờ, chúng ta (Nga) không hình dung một cách rõ ràng là đã từ lâu Nga mất ưu thế không những về số lượng mà cả về chất lượng đối với Trung quốc về mặt phương tiện kỹ thuật tác chiến.

Dưới thời Xô Viết chúng ta đã có cả hai ưu thế trên, mà cuộc chiến ở bán đảo Damanski  (trận chiến biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô năm 1966- Trung Quốc thất bại thảm hại dù quân sô đông hơn gấp nhiều lần) đã chứng minh rõ ràng cho ưu thế vượt trội lúc đó.

Ăn cắp công nghệ

Hình ảnh mô tả uy lực kết hợp giữa tầu sân bay Liêu Ninh và J-20 dành cho kẻ địch trên biển.
Hình ảnh mô tả uy lực kết hợp giữa tầu sân bay Liêu Ninh và J-20 dành cho kẻ địch trên biển.

Trung Quốc trong những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ trước chỉ sử dụng những gì mà Liên Xô cung cấp. Tuy nhiên, sau khi cải thiện quan hệ với Phương Tây nước này đã có thể tiếp cận với một số mẫu vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự của Mỹ và Châu Âu, và từ cuối những năm 80 bắt đầu mua các loại phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại nhất của Liên Xô và sau đó là Liên Bang Nga , – và cũng nhờ thế mà một số lớp vũ khí trang bị của Trung Quốc đã có bước nhảy “ vượt thế hệ” ( từ thế hệ một lên thế hệ ba). 

Ngoài ra, Trung Quốc còn sở hữu một năng lực không ai bằng là ăn cắp công nghệ. Vào những năm 80 tình báo Trung Quốc đã khai thác được bản vẽ đầu tác chiến mới nhất W-88 của tên lửa đạn đạo Trident -2 mà Mỹ chế tạo cho các tàu ngầm. Còn đối với công nghệ sản xuất các loại vũ khí thông thường thì Trung Quốc đã đánh cắp một khối lượng vô cùng lớn.

Một ví dụ khác, có lẽ ít người biết một cách chắc chắn là liệu Nga chỉ bán cho Cộng hòa nhân dân Trung  Hoa các hệ thống bắn dàn phản lực (RSZO)  “Smerch” hay là bán cả giấy phép sản xuất loại vũ khí này.

Chỉ biết rằng ngay sau đó trong Quân Đội Trung Quốc đã xuất hiện loại  RSZO A-100 cực kỳ giống RSZO “Cmerch”, và tiếp theo là RNL -03- hoàn toàn là một bản copy hoàn toàn của “Smerch”. Các tổ hợp pháo tự hành Type 88 (RLZ-05) rất giống với “ Msta” của  Nga  mặc dù chúng ta không hề bán nó cho Trung Quốc.

Nga cũng chưa  bao giờ cấp giấy phép cho Trung Quốc sản xuất hệ thống tên lửa phòng không S-300, nhưng cũng bó tay chịu  để người Trung Quốc sao chép hoàn toàn phiên bản này dưới tên gọi là HQ-9.

Không chỉ riêng đối với công nghệ  Nga, Trung Quốc cũng đã đánh cắp được công nghệ chế tạo tổ hợp tên lửa phòng không “Crotal”, tên lửa chống tàu “Exzoset”, tổ hợp tên lửa trên tàu M-68 và v.v của người Pháp.

Cùng với việc tổng hợp công nghệ nước ngoài, bổ sung thêm một chút gì đấy của riêng mình, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc bắt đầu chế tạo các mẫu hoàn toàn nội địa: các tổ hợp pháo- tên lửa phòng không Type 95 (PGZ-04), pháo tự hành PLL-05 và PLL-02, xe chiến đấu bộ binh bọc thép ZBD-05 và v.v.

Chế tạo tại  Trung Quốc  

Nhìn chung, như đã nói ở trên, trên thực tế đối với tất cả các loại vũ khí thông thường thì ưu thế chất lượng của Nga đã thuộc về quá khứ. Đối với một số loại Trung Quốc đã vượt chúng ta- ví dụ như máy bay không người lái và vũ khí bộ binh.

Người Trung quốc dần dần thay “Kalashnhikov” (AK-47) bằng súng trường mới nhất theo sơ đồ “Bullpap” chế tạo theo mẫu của AK và của các loại súng tiểu liên Phương Tây (như FAMAS, L85). Có một số chuyên gia  (Nga) cho rằng Trung Quốc đang trong giai đoạn phụ thuộc về công nghệ đối với Nga vì Nga  là đối tác chính cung cấp vũ khí (thành thử Trung Quốc sẽ không thể tấn công Nga), nhưng những suy nghĩ như vậy là hết sức ngây thơ.

Trung Quốc chỉ mua những loại vũ khí của Nga mà họ cần cho các chiến dịch tấn công Đài Loan và Mỹ (cho đến lúc mà Trung Quốc vẫn còn có ý định nghiêm túc là chiếm Đài Loan). Và cũng rất rõ ràng là cuộc chiến tranh trên biển giữa Trung Quốc và Nga là không thể xảy ra vì không có một bên nào cho rằng đấy là cần thiết. Cuộc chiến tranh  Trung – Nga trong tương lai sẽ chỉ xảy ra trên bộ.

Để làm rõ hơn vấn đề này chỉ cần chú ý đến một chi tiết là Trung Quốc không hề mua của Nga bất kỳ loại trang bị kỹ thuật nào dùng cho Lục quân, bởi vì trong chiến tranh với Nga Trung Quốc sẽ sử dụng chính lực lượng này.

Ngay cả đối với không quân, Trung Quốc cũng không còn phụ thuộc vào Nga. Nước này đã mua một khối lượng hạn chế các máy bay tiêm kích Su-27- tất cả chỉ có 76 chiếc, trong số đó có tới 40 chiếc Su-27 UB (máy bay tác chiến- huấn luyện).

Với một tỷ lệ đáng ngạc nhiên giữa số lượng máy bay chiến đấu và máy bay huấn luyện như vậy (36/40)  không khó để nhận thấy rằng Su- 27 do Nga sản xuất mà Trung Quốc mua chỉ được sử dụng cho một mục đích là huấn luyện phi công.

Sau đó, như mọi người đã biết Trung Quốc từ chối không sản xuất theo giấy phép Su-27 bằng các chi tiết đồng bộ của Nga nữa, họ chỉ sản xuất 105 máy bay trong tổng sô 200 chiếc theo hợp đồng. 

Đồng thời, Trung Quốc bắt đầu sao chép mẫu máy bay này và sản xuất không giấy phép máy bay nhân bản từ Su-27 dưới tên gọi J-11B với động cơ, vũ khí và trang bị hàng không của mình. Hơn nữa, nếu như vào đầu những năm 60 các bản sao vũ khí Liên Xô của Trung Quốc còn vụng về  thì đối với  J-11B, – căn cứ vào các số liệu thu thập được- nó hầu như không thua kém chút nào so với Su-27.

Có thể rút ra một kết luận là, trong thời gian gần đây hợp tác kỹ thuật – quân sự Nga- Trung bị ngưng trệ. Một phần có thể giải thích là do các tổ hợp công nghiệp quồc phòng Nga đang trong giai đoạn trì trệ và không thể rao bán cho Trung Quốc những cái mà họ cần, một lý do khác và có lẽ đây là lý do quan trọng hơn là Trung Quốc đang nghiêm túc chuẩn bị tiến hành các hoạt động tác chiến chống lại Liên Bang Nga trong tương lai gần.

Vì J-11B có các tính năng kỹ – chiến thuật coi như là tương đương với Su-27 và J-10 của Trung Quốc (được chế tạo dựa theo mẫu máy bay “Lavi” của Ixrael nhưng sử dụng công nghệ Nga và công nghệ của chính Trung Quốc) hoàn toàn ngang ngửa với Mig-29 cho nên Nga hoàn toàn không có một chút ưu thế chất lượng nào trong các cuộc không chiến.

Còn ưu thế về số lượng thì rõ ràng đã thuộc về phía Trung Quốc, đặc biệt là nếu tính tới sự yếu kém của hệ thống phòng không Nga (nhất là ở khu vực Viễn Đông). Về Su-30 thì ưu thế về số lượng của Trung Quốc là áp đảo: Trung Quốc có 120 trong khi Nga chỉ có 4 chiếc (ở khu vực Viễn Đông-ND).

Nhược điểm chủ yếu của phía Trung Quốc – không có máy bay cường kích và máy bay lên thẳng tấn công, nhưng đấy cũng không phải là thảm họa đối với nước này, bởi vì trên mặt đất tình hình của phía Nga còn tệ hơn nhiều.

Hiệu ứng số đông

Các xe tăng tốt nhất của Trung Quốc – Type 96 và Type 99 ( cũng là Type 98G) – hầu như không thua kém chút nào so với các xe tăng của chúng ta( Nga) như – T-72B, T- 80U và  T-90.

Quả thật, các loại tăng trên của cả hai bên là “anh em họ hàng gần”, chính vì thế mà các tính năng kỹ- chiến thuật của chúng là tương đương nhau. Trong bối cảnh đó giới lãnh đạo Bộ quốc phòng Nga thời gian gần đây lại có những tính toán gần như giải tán Binh chủng tăng – thiết giáp với quyết định chỉ giữ lại trong Quân đội Nga 2000 chiếc (dưới thời bộ trưởng A. Serdiukov- mới bị cách chức 06/11/2012-ND).

Hiện nay số lượng tăng hiện đại của Trung Quốc cũng vào khoảng từng ấy chiếc. Còn những chiếc xe tăng cũ theo mẫu của T-54 (loại Type 59 đến Type 80) thì có số lượng lớn hơn nhiều (không dưới 6000 chiếc).

Những chiếc tăng này có thể sử dụng rất hiệu quả chống lại các xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép chở quân cũng như để tạo ra “hiệu ứng số đông“. Hoàn toàn rất có thể là Bộ tổng tư lệnh Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa sẽ sử dụng chính những chiếc xe tăng tương đối cũ này để tiến hành đòn tấn công đầu tiên.

Chúng dù sao chăng nữa cũng sẽ gây cho Nga ít nhiều thiệt hại, nhưng điều quan trọng hơn- thu hút về phía mình hỏa lực chống tăng của ta (Nga), và sau đó Trung Quốc sẽ sử dụng các xe tăng hiện đại hơn tấn công tuyến phòng thủ lúc này đã bị tiêu hao và  yếu đi của Nga.

Cũng tương tự như vậy, trên không các máy bay tiêm kích kiểu cũ như J-7 và J-8 cũng sẽ tạo ra “hiệu ứng đám đông” theo đúng kịch bản trên.

Như vậy có nghĩa là trong tương quan so sánh các mẫu vũ khí hiện đại thì Nga và Trung Quốc là tương đương nhau (cả về cả chất lượng và số lượng) và đang ngày càng lệch cán cân về phía Trung Quốc.

Trong khi đó, Quân đội Trung Quốc có một khối lượng lớn các “bức rèm” làm từ các mẫu vũ khí – trang bị kỹ thuật cũ nhưng còn rất hiệu quả, hoàn toàn có thể sử dụng như là vật tư “tiêu hao” để làm cạn kiệt khả năng phòng ngự của Quân đội Nga.

Trong điều kiện hiện nay khi mà Trung Quốc đang phải đối mặt với một vấn đề nan giải là “thiếu hụt cô dâu” thì việc mất một vài trăm nghìn các chiến binh nam giới trẻ đối với giới lãnh đạo Trung Quốc không những không phải là một vấn đề mà có khi lại là một “phúc lợi”. Cũng tương tự như vậy đối với việc “thanh lý” trong chiến tranh vài nghìn đơn vị phương tiện tăng thiết giáp đã lạc hậu.

Hiện nay chỉ cần 2 trong số 7 quân khu của Quân đội Trung Quốc- Quân khu Bắc Kinh và Quân  khu  Lan Châu (đây là 02 quân khu mạnh nhất của Trung Quốc, có tới 4/9 sư đoàn tăng, 6/9 sư đoàn bộ binh cơ giới, 6/12 lữ đoàn tăng của toàn bộ Lục quân Trung Quốc) – bố trí gần biên giới với nước Nga, là đã đủ mạnh hơn toàn bộ Lực lượng vũ trang Nga (từ Kaliningrad đến Camchatka).

Và trên chiến trường tiềm năng (Ngoại Baikal và Viễn Đông) thì sức mạnh của hai bên là không tương đương một chút nào. Trung Quốc có ưu thế hơn Nga không phải vài lần mà là hàng chục lần.

Hơn nữa, việc chuyển quân từ phía Tây sang phía đông khi có chiến tranh thực sự xảy ra trên thực tế là không thể thực hiện được vì lính biệt kích Trung Quốc chắc chắn sẽ chia cắt được ngay tuyến vận tải xuyên Xibiri trên nhiều địa điểm dọc tuyến, trong khi các tuyến vận tải khác nối với phía đông chúng ta không có  (tuyến đường hàng không chỉ có thể vận tải được người chứ không vận tải được các phương tiện kỹ thuật hạng nặng).

Các xe tăng của đối phương nhanh hơn

Không những thế, về mặt huấn luyện kỹ năng tác chiến, đặc biệt là tại các đơn vị và binh đoàn được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại thì Quân đội Trung Quốc đã vượt Quân đội Nga từ lâu.

Ví dụ, tại Tập đoàn quân xe tăng sô 38 của Quân khu Bắc Kinh, tất cả pháo binh đã được tự động hóa, nó tuy kém Mỹ về độ chính xác khi bắn nhưng đã vượt Nga. Tốc độ tấn công của Tập đoàn quân xe tăng sô 38 đạt tới 1.000 km/ tuần (tức 150 km/ ngày đêm).

Như vậy, trong một cuộc chiến tranh thông thường, Nga không hề có một cơ hội nào. Tuy rất đáng tiếc nhưng vũ khí hạt nhân cũng không phải là cứu cánh của Nga vì Trung Quốc cũng có vũ khí hạt nhân. Quả thực là Nga đang có ưu thế về lực lượng hạt nhân chiến lược nhưng ưu thế này cũng đang nhanh chóng giảm dần.

Không những thế, chúng ta không có tên lửa đạn đạo tầm trung là loại vũ khí mà Trung Quốc đang sở hữu và điều đó đã là quá đủ để bù lại sự tụt hậu của Trung Quốc trong lĩnh vực chế tạo các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (sự tụt hậu này cũng đang giảm dần).

Các số liệu xác thực về tương quan vũ khí hạt nhân chiến thuật (giữa Trung Quốc và Nga) hiện không rõ, nhưng chỉ cần nhớ một điều là chúng ta (Nga) buộc phải sử dụng loại vũ khí này ngay trên lãnh thổ của mình.

Còn nếu hai bên sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược để tấn công lẫn nhau thì tiềm lực hạt nhân của Trung Quốc đủ để tiêu diệt các thành phố chủ yếu ở phần Châu Âu của nước Nga mà Trung Quốc không cần đến (vì có quá nhiều dân và quá ít tài nguyên).

Rất có thể là  phía Nga cũng hiểu điều đó nên sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân trước. Chính vì vậy mà việc kiềm chế hạt nhân đối với Trung Quốc – cũng là chuyện hoang đường không kém gì việc cho rằng Trung Quốc phụ thuộc vào công nghệ Nga. Tốt nhất là hãy học tiếng Tàu đi.  

(Đây là quan điểm riêng của tác giả và cũng thể hiện quan điểm của một bộ phận lớn giới phân tích chính trị- quân sự Nga và rất đáng để tham khảo).     
 

Lê Hùng

Nghệ sĩ Kim Chi ‘Từ chối lời khen của Thủ tướng Dũng’ – BS

10 Th1

Nghệ sĩ Kim Chi ‘Từ chối lời khen của Thủ tướng Dũng’

BBC tiếng Việt

‘Từ chối lời khen của Thủ tướng Dũng’

Cập nhật: 14:40 GMT – thứ tư, 9 tháng 1, 2013

1

Nghệ sỹ Kim Chi (trái) và các văn công

Nghệ sỹ Kim Chi, người từng tham gia nhiều phim lớn của điện ảnh cách mạng Việt Nam, vừa từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng Việt Nam vì cho rằng ông Nguyễn Tấn Dũng “đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân”.

 

Bà nói với BBC Tiếng Việt, “để được thủ tướng khen thì tôi không muốn điều đó”.

Trước đó, bà Kim Chi được Hội Điện ảnh Việt Nam gợi ý làm hồ sơ để đề nghị Thủ tướng khen thưởng, tuy nhiên bà đã gửi một lá thư cảm ơn tới Hội, đồng thời ghi rõ lý do từ chối.

“Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.

“…Được các đồng nghiệp có tâm, có tài khen ngợi mới thật là điều vinh dự,” bà viết trong lá thư gửi Hội Điện ảnh.

‘Làm khổ dân là có tội’2

Diễn viên điện ảnh Kim Chi nói thủ tướng đã làm bà mất lòng tin, và là công dân thì “có quyền thích hay không thích, mà không thích thì không nhận”.

Giải thích về những điều thủ tướng làm khiến bà không hài lòng, bà nói, “thế giới và mọi nơi đều phản đối một số việc và cách thủ tướng điều hành”.

“Đối với tôi, ai làm lãnh đạo mà làm cho đất nước giàu, nhân dân sung sướng thì tôi quý trọng, còn ai không làm được điều đó thì tôi không thích, không quý trọng, khen tôi tôi thấy không sung sướng.”

Khi được hỏi liệu bà có sợ bị ảnh hưởng tới bản thân khi đưa ra lá thư này, nghệ sỹ nói, thậm chí cả khi người ta tạo ra những tai nạn để bà “chết” đi nữa, thì điều đó cũng không đáng sợ vì “tôi sống ngay thẳng, sống cho tử tế”.

“Cuộc đời này bao giờ sống cho ngay thẳng cũng rất khó khăn, sống cho tử tế, cho thật với lòng mình thì không phải ai cũng ủng hộ.”

“Tôi có thể không tin cá nhân ông thủ tướng nhưng mà tôi tin cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp.”

Bà Kim Chi nói có biết được nhiều trường hợp bị bắt, bị tù khi “nói tiếng nói khác”, “nhưng đó là những tiếng nói bảo vệ chính nghĩa”, mà đã là nghệ sỹ dù làm gì cũng nên hướng về điều thiện.

“Là người có chức, có quyền thì lại càng phải sống ngay thẳng, mẫu mực, chứ làm khổ dân là người có tội.”

Nghệ sỹ ‘cộng sản’

Diễn viên của Biệt Động Sài Gòn nói từng đi chiến trường 10 năm, “không sợ chết với bom đạn” thì bây giờ coi mọi cái “nhẹ như lông hồng”.

Sau khi học xong lớp điện ảnh khóa đầu tiên ở miền Bắc, bà Kim Chi làm đơn xin vào chiến trường ngay vì lúc đó cuộc chiến đấu đang tới lúc căng thẳng, lúc đó bà nghĩ rằng những nơi rừng núi Trường Sơn cần tiếng hát, cần văn nghệ “để tin cách mạng còn sống”.

“Tôi cũng nói thẳng, tôi là nghệ sỹ cộng sản chính hiệu, và cho tới bây giờ, trái tim tôi là tim của một người cộng sản mong cái đất nước này sẽ hòa nhập được với thế giới, tốt đẹp hơn, giàu có hơn, và dân không khổ nữa.”

3Bày tỏ tư tưởng về sự nổi tiếng trong nghiệp diễn xuất, bà Kim Chi cho rằng, sự nổi tiếng cũng là “phù du hết”, “tôi thế này là may mắn lắm rồi, đồng đội tôi có người còn đi mãi không về.”

“…Có người mà cho tới giờ hài cốt còn chẳng được đưa về, điều này làm tôi khắc khoải đau buồn lắm. Người ta cũng như mình, tuổi trẻ tất cả người ta đã hiến dâng mà không được gì.”

“Tuổi trẻ của chúng tôi thì mang cả xương máu của mình ra để mà giành lại đất nước, cho tới giờ tôi vẫn tự hào là tôi sống đẹp.”

“Còn lớp trẻ bây giờ, một số em làm những việc mà không còn kể tới cả lòng tự trọng nữa, thì tôi thấy rất là dại, dại lắm.”

“Nhưng truyền thông cũng phải có trách nhiệm,” diễn viên điện ảnh Kim Chi cho rằng, một phần là vì truyền thông thấy những chuyện không hay mà cũng đưa lên, nên “họ lầm tưởng đó là cách để nổi tiếng”.

Về lá thư gửi tới hội Điện ảnh Việt Nam từ chối làm hồ sơ nhận bằng khen của thủ tướng, nghệ sỹ Kim Chi nói không hề muốn đưa lên mạng hay nhằm kích động bất kỳ ai, mà do một người bạn thân của gia đình ngỏ ý muốn xin để đưa lên Facebook, và bà cũng không ái ngại chuyện đó.

Nghệ sỹ Kim Chi gần đây tham gia bộ phim nhiều tập Những đứa con của Biệt động Sài Gòn và còn được biết đến là vợ của đạo diễn Hồng Sến, nổi tiếng với những bộ phim như Nước về Bắc Hưng Hải, Mùa Gió Chướng, Cánh Đồng Hoang.

Nghe chi tiết: Nghệ sỹ Kim Chi phê phán Thủ tướng VN.

Thư  từ chối Thủ tướng khen của đạo diễn NTKChi

Đôi điều về 3 bản dịch thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu – Người Hiếu Cổ

10 Th1

Đôi điều về 3 bản dịch thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu

 
“Hoàng Hạc Lâu” – thư pháp bởi Tử Hư Nguyễn Ngọc Thanh
(Click vào ảnh để xem ảnh lớn hơn)
 
Trong ” Toàn Đường Thi” (gồm 42.863 bài thơ của 2.520 thi sĩ đời Đường) – Nếu chỉ lấy 1 bài thơ tiêu biểu thì chắc là ai cũng chọn đó là “Hoàng Hạc Lâu” cuả Thôi Hiệu ?
“Hoàng Hạc Lâu” thuộc hàng đệ nhất luật thi đời Đường. Tác giả của thiên kỳ thi tuyệt hảo này là Thôi Hiệu (?-754) người Bịện Châu (Khai Phong-Hà nam) đỗ Tiến sĩ năm Khai nguyên 13 (725) làm Quan tới chức Tư huân viên ngoại lang,hàm tứ phẩm (cỡ Vụ phó ngày nay ). Ông tính lãng mạn,ham đánh bạc, rượu chè “của lạ” (thay vợ đến 4 lần).Hồi trẻ thơ ông diễm lệ bóng bẩy, đến cuối đời phong thái cốt cách mạnh mẽ rắn rỏi, sáng tạo tân kỳ có thể theo kịp Giang Yêm, Bão Chiếu… Ông khổ vì ngâm vịnh đến trở bệnh xanh xao hốc hác cả người (hết mình vì thơ  là vậy); Bạn ông nói đùa “không phải Bác bệnh đến như vậy, bởi khổ vì  ngâm thơ nên gầy thôi” !
Lầu Hoàng Hạc xây dựng từ thời Tam Quốc, vốn là “tửu quán” – đó là 1 trong tam đại danh lâu của xứ “Giang Nam hảo “nơi hội tụ cuả các văn nhân tài tử đến đây uống rượu và làm thơ…Theo sách “Cổ đại thi tứ cố sự” thì Thôi Hiệu đề thơ ở Lầu Hac Vàng ở tư thế: thi sỹ nhìn Hán Dương ở bờ sông bên kia, “Tình Xuyên Các” bị che lấp trong ráng chiều ta, bãi Anh Vũ giữa sông phủ một lớp cỏ dày…
Thầy giáo của NK đã từng giảng giải: cái diệu của Thôi Hiệu ở chỗ chỉ một câu tả “Lầu”, còn 3 câu kia đều tả “người xưa”… trong đó câu 1 là tả “người xưa”, câu 3 là nghĩ “người xưa”, câu 4 là ngóng “người xưa”, cứ như phớt lờ không nhắc gì đến “lầu”.Câu 5-8 tiền giải là tả “người xưa”, hậu giải tả “người nay”, tuyệt nhiên không tả đến “lầu”… Thi sỹ chỉ nhất ý tựa cao trông xa, riêng thổ lộ hoài bão của mình.Rồi “hương quan hà xứ thị” (ở nơi này) với cây thì “lịch lịch” (in rõ), bãi thì “thê thê” (tươi tốt), riêng có mắt thì ngóng “hương quan” là không biết “hà xứ” (nơi nào). Rồi với hai chữ “nhật mộ” (chập tối lúc chim về tổ, gà vào chuồng) đặt ngang lên câu thơ làm cho 24 con chữ trong 4 câu tiền giải cùng nhảy múa tạo nên tuyệt tác để “đời sau đừng ai làm thơ về Hoàng Hạc Lâu nữa mà chuốc lấy hổ thẹn.”
Vâng, đúng là thế: cái diệu của Thôi Hiệu là trong 8 câu, chỉ có một câu nói đến Lầu (câu 2).Câu 3 “Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản” là câu rất đặc biệt: dùng liên tiếp 6 chữ “trắc” trong câu thơ 7 chữ, bất chấp luật bằng trắc, với bút pháp ấy khiến câu thơ mang sức mạnh (nội lực) khác thường.Để làm gì? – để nhấn mạnh cái ý “tiền bất kiến cổ nhân”
– “nhất khứ” là một đi – “bất phục phản” là không trở lại… câu này nói lên cái lẽ vô thường của  mọi người, mọi việc.
Câu 3 đối câu 4: ý là thôi, đừng hoài niệm mãi nữa
Hoàng Hạc Lâu với cái ý tại ngôn ngoại đó là cái độc đáo của Đường thi mà nó là tiêu biểu số 1; và chính cũng vì lẽ đó mà xưa nay các nhà thơ ta đã bị Hoàng Hạc Lâu “thôi miên” ám ảnh, hết thế hệ này đến thế hệ khác lao tâm khổ tứ “dịch” nó, đến nay đã có ngót 100 bản dịch. Theo thiển ý của NK thì có 3 bản dịch đáng lưu ý là:
 
1. Bản dịch của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục
(Nam Phong tạp chí – năm 1923)

Người tiên xưa cưỡi Hạc vàng cút,
Ở đây chi những lầu hạc trơ.
Hạc Vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng nghìn năm còn phất phơ.
Sông bạc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ lên Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ.

Đây là bản dịch khá chối tai (rất trúc trắc) nhưng khá công phu, khá già tay (túc Nho) ; công phu ở chỗ : theo sát nhạc điệu của nguyên tác, sát cả ở những chỗ sai niêm, thất luật.

2. Bản dịch của Tản Đà:
(In ở tạp chí Ngày Nay số 80 , ngày 10-10-1937)
 

 
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh, cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
Đây là một bản dịch tài hoa, bay bướm nhẹ nhàng, văn chương trầm bổng theo cung điệu lục bát (đượm hồn dân tộc). Ở nguyên tác đó là cái không khí mang mang day dứt nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người, lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt.Mà thiên đường thì đã mù mịt lối về.Cái không khí Hàn Lâm ấy đã bị Tản Đà thuần hóa trở nên nhu mì, mềm mại, nhẹ nhàng, trôi chảy trong dòng ca dao (lục bát). Cái HAY của Tản Đà là ở chỗ ấy, nó vào hồn người Việt là vì lẽ ấy, nhưng đó cũng là cái hụt hẫng khi dịch như thế?

3. Bản dịch của Vũ Hoàng Chương

Xưa Hạc Vàng bay vút bóng người,
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa, chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Như ta đã biết : Thôi Hiệu  (con người phát ốm vì làm thơ đã vận dụng hết 10 phần công lực phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh “trắc” liên tiếp mới nói được:

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch Vân thiên tải không du du

Để đến độ hùng tâm dũng khí như Đại thi hào Lý Bạch vẫn phải gác bút (đạo bất đắc) chịu thua, cúi đầu ra đi…
Còn thi sỹ Vũ Hoàng Chương sau 1000 năm thì ung dung rút kiếm, giữa trời thơ, phóng con mắt nhìn đời dõi theo cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dụ dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật (nói theo Tô Thẩm Huy). Đó là hai câu thực của Vũ bay bổng giữa trời ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời

Một màu vàng lóe lên giữa trời vụt tắt, một màu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và thâm phận con người (kiếp nhân sinh). Đọc đến câu cuối “đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi thì là cả một trời Đường thi bỗng lay động”. Giá Thôi Hiệu phục sinh đọc bản dịch của Vũ thì chắc cũng bái phục: “Sóng ơi, sầu đã chín, xin người thôi giục,đó là sóng của bể dâu, hưng phế.”
Ta thử đọc lại hai câu theo âm Hán/ Việt:
– Yên ba giang thượng sử nhân sầu
– Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Thì sẽ thấy nội công thâm hậu của Vũ:

– Vàng tung cánh hạc đi đi mãi

Nếu đưa chữ “hạc” lên đầu câu:

– Hạc vàng tung cánh đi đi mãi

Thì cả một trời thơ lung linh tối sầm lại? Thi tài là thế – và có lẽ sau Vũ Hoàng Chương không ai nên dịch lại (Hoàng Hạc Lâu) nữa?

Góc thành nam Hà Nội ngày 27-3-2010
Nguyễn Khôi – Cẩn bút
(Từ Email của nhà văn Nguyễn Khôi gửi Blog người hiếu cổ)

Xem thêm tại: http://nguoihieuco.blogspot.com/2013/01/oi-ieu-ve-3-ban-dich-tho-hoang-hac-lau.html#ixzz2HWgQOe00

Vĩnh biệt Hoàng Hiệp – nhạc sĩ của dòng sông tuổi thơ – DV

10 Th1

Vĩnh biệt Hoàng Hiệp – nhạc sĩ của dòng sông tuổi thơ

Dân Việt – Cuối cùng, điều xấu nhất đã xảy ra, cuộc sống trên dương thế không thể giữ lại được cho công chúng một nhạc sĩ tài hoa, người đã dùng sáng tác của mình nối liền lại những tâm tình Nam – Bắc.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã từ giã cõi trần vào trưa nay 9.1 tại TP.HCM sau một cơn bệnh trọng ở tuổi 81, nhưng những sáng tác của ông đi suốt chiều dài đất nước, từ “Nhớ về Hà Nội” đến “Câu hò bên bến Hiền Lương”, “Trường Sơn đông – Trường Sơn tây”… vẫn còn mãi khúc nhạc tâm tình sâu nặng.

Mấy ngày trước, tin nhạc sĩ Hoàng Hiệp nhập viện vì ho ra máu đã khiến nhiều người yêu nhạc lo là sẽ có chuyện chẳng lành. Người thân của ông cho biết, sau tai nạn bị gãy chân, ông đã bị tai biến đến 3 lần, phải nằm một chỗ suốt 3 năm qua. Thế mà cuối cùng, điều xấu nhất đã xảy ra…

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (chống nạng) trong đêm nhạc của ông.

Nhạc sĩ Hoàng Hiệp tên thật là Lưu Trần Nghiệp, bút danh là Lưu Nguyễn. Ông sinh ngày 1.10.1931 ở xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới – An Giang. Ông tham gia Cách mạng vào năm 1945, tham gia vào đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.

Khi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xảy ra, ông rời bỏ miền Nam ruột thịt để tập kết ra Bắc. Không ngờ, việc “chuyển vùng” này giống như một chất xúc tác, để ông hiểu hơn về cảm hứng trong mình và dâng tặng cho đời những khúc ca nồng nàn tình yêu quê hương, xứ sở.

Năm 1957, Hoàng Hiệp cho ra đời bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, sáng tác chung với nhạc sĩ Đằng Giao, được xem là điểm khởi đầu cho sự nghiệp sáng tác chuyên nghiệp của ông. Đây là một ca khúc có số phận khá đặc biệt, bởi đã có lúc, nó từng bị xếp vào diện “hạn chế” bởi sợ sẽ làm yếu lòng người.

Nhưng thời gian đã chứng minh, tình cảm sâu nặng của những người sống trong cảnh “ngày Bắc đêm Nam” đã tiếp thêm cho họ sức mạnh để thêm sức chiến đấu. “Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền/ Nhắn ai xin nhớ câu nguyền/ Qua cơn bão tố vững bền lòng son“- bao nhiêu thế hệ người lính đã vì câu hát ấy mà thêm cản đảm khi đối diện với kẻ thù.

Trong vòng 20 năm gắn bó với Hà Nội, Hoàng Hiệp đã viết hơn 100 bài hát, nhiều bài trong đó tiêu biểu cho dòng nhạc cách mạng thời kỳ chống Mỹ như “Lá đỏ”, “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”, “Cô gái vót chông”, “Ngọn đèn đứng gác”… và một ca khúc được rất nhiều người Hà Nội yêu mến “Nhớ về Hà Nội” qua tiếng hát Hồng Nhung.

Nhạc Hoàng Hiệp giống như con người hiền hòa, nặng tình của ông, ca khúc nào cũng có một chiều sâu đời sống cảm xúc suy tư và trải nghiệm. Không hiểu sao, nhớ đến nhạc Hoàng Hiệp, tôi rất yêu ca khúc “Trở về dòng sông tuổi thơ” của ông với tiếng hát trong trẻo của Mỹ Linh. Ca khúc đã nói thay tiếng lòng của bao người: “Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình /Tim tôi luôn gắn bó với dòng sông tuổi thơ /Con sông tôi tắm mát /Con sông tôi đã hát /Con sông cho tôi gặp một tình yêu nước non quê nhà”.

Vĩnh biệt Hoàng Hiệp, sẽ nhớ mãi một người con của miền Nam, đã đem cuộc đời và tình yêu của đời mình dồn hết trong một chuyến phiêu du từ Nam ra Bắc. Và cuối cùng, ông đã trở về vĩnh cửu với hành trang đầy nặng những sáng tác của nỗi niềm, của thân phận, của tình yêu.

Lê Tâm

Việt Nam kết án tù 13 người Thiên chúa giáo với tội “lật đổ chính quyền” – RFI

10 Th1

Việt Nam kết án tù 13 người Thiên chúa giáo với tội “lật đổ chính quyền”

Các anh Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Lê Văn Sơn, ba blogger bị kết án tù nặng nhất (DR)

Các anh Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Lê Văn Sơn, ba blogger bị kết án tù nặng nhất (DR)
 

Phiên tòa sơ thẩm xét xử 14 người Thiên Chúa giáo đã kết thúc chiều hôm nay 09/01/2013 tại thành phố Vinh. AFP dẫn nguồn tin của một trong các luật sư của các bị cáo cho biết, tòa đã tuyên án 13 bản án tù nặng nề vì những cáo buộc « âm mưu lật đổ chính quyền ». Ba án tù nặng nhất lên tới 13 năm, mười bị cáo khác lần lượt phải chịu các hình phạt từ 3 đến 8 năm tù giam cùng với thời hạn quản chế nhiều năm sau khi mãn án.

 

Theo thông tin ban đầu, có 3 người cùng bị kết án 13 năm tù giam là các anh Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu và Lê Sơn. Cả 3 người cũng sẽ bị quản chế 5 năm sau khi ra tù. Chỉ duy nhất có anh Đặng Vĩnh Phúc được hưởng án treo. Như vậy, tổng cộng 13 người Công giáo và Tin lành, chủ yếu là các thanh niên, phải chịu hình phạt lên tới hơn 100 năm tù và quản chế.

Luật sư Hà Huy Sơn cho AFP biết : « Tất cả những người này dều bị kết án theo điều 79 của bộ lật hình sự » , tức vì tội âm mưu lật chính quyền. Tuy nhiên luật sư Hà Huy Sơn cũng nói thêm là tòa án đã không có được «những bằng chứng khách quan để buộc họ nhận tội ». Ông cũng khẳng định rằng các bị cáo đều không phải là thành viên của đảng Việt Tân, tổ chức đóng tại Hoa Kỳ bị chính quyền coi là khủng bố.

Theo ghi nhận của một số nhân chứng có mặt trong phòng xử, được đăng lại trên các trang mạng thì trước tòa, các bị cáo đều không nhận là mình có tội.

Phiên tòa diễn từ ngày hôm qua 08/01/2013 trong không khí căng thẳng giữa người thân của các bị cáo và lực lượng an ninh, công an. Bên trong phòng xét xử, qua các ảnh chụp của báo chí chính thức đăng tải thì thấy thành phần ngồi dự chủ yếu là lực lượng công an. Bên ngoài tòa, chính quyền đã huy động hàng trăm công an bảo vệ ngăn chặn người thân của bị cáo đến tiếp cận theo dõi phiên xử.

Bất chấp trời mưa rét và các hành động ngăn cản thô bạo của lực lượng an ninh công an bảo vệ, từ hai ngày qua, hàng trăm giáo dân đã đổ về khu vực tòa án thành phố Vinh để cập nhật thông tin phiên xử và nhất là để bày tỏ sự hiệp thông với những người đang bị đưa ra xét xử bởi những cáo buộc nặng nề mà họ cho là bất công, phi lý.

Giám đốc khu vực châu Á của tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch, ông Brad Adams nhận định phiên tòa « đánh dấu bước leo thang quan trọng của của chính phủ trong việc tấn công vào những tiếng nói chỉ trích ». Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cũng lên tiếng bày tỏ lo ngại sâu sắc trước vụ này.

%d bloggers like this: