Lưu trữ | 10:50 Chiều

Truyện ngắn: XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI

12 Th1

XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI

kha tiệm ly

Nghe tiếng trống ba dùi một: Thùng thùng! Thùng! Thùng thùng,  Thùng!… là tôi nôn nao cả người. Đó là tiếng trống “rao bảng” của gánh bầu Trình về hồi sáng mà thằng Tửng đã thông báo cho cả bọn chúng tôi hay. Mẹ đã hứa cho tôi tối được xem hát, nhưng với điều kiện là phải xắt và bầm xong một thúng chuối cây cho con ụt (heo)! Chuyện nầy không nặng mà cũng không nhẹ nhàng gì. Với con dao xắt mà thợ rèn rèn để chuyên dùng cho việc xắt chuối nên nó bén ngót; và nhờ cái cán dài tựa vào vế, nên cây chuối to đùng tôi chỉ khứa có sáu khứa là xong một lát, nhưng sao lần nầy tôi thấy ngán cái việc tầm thường nầy quá! Còn nửa thúng nữa mới xong, tôi định bỏ dao chạy ra xem ( “rao bảng”), nhưng sợ mất thời gian mà trễ xuất hát. Đúng ra tôi muốn đến sớm để cùng lũ bạn chơi đùa và “ăn” nước đá nhận, chứ tới tối mới mở màn, thì làm sao trễ được? Phải chi có thằng Tửng lại, biểu nó phụ bằm thì hay biết mấy!

 

Từ “rao bảng” thời bây giờ ít được nhắc tới nên các bạn khó mường tượng được. Như vầy: Khi gánh hát vừa tới nơi thì có bộ phận trang trí sân khấu,…và một bộ phận đi … “rao bảng”!

 

Thường bầu hát mướn một cỗ xe ngựa,(loại phương tiện giao thông cao cấp thời ấy ở quê tôi), hai bên hông và sau xe được treo ba tấm bảng đề tên tuồng hát và hình ảnh ấn tượng nhất của vở tuồng được diễn tối hôm đó. Trên xe có một cái trống chầu và một người đánh trống, thường là người trong đoàn, nhưng đôi khi cũng là người tình nguyện ở lớp tuổi đàn anh của chúng tôi (để được đi xe ngựa và đựơc đánh trống chơi!). Sau xe ngựa là cả bọn chúng tôi… chạy bộ theo; dọc đường lại được các bọn khác tháp tùng, nên xe “rao bảng” cũng coi xôm tụ lắm.

 

Cứ hai tiếng nhặt, một tiếng khoan (Thùng thùng! Thùng!) theo bước chân ngựa thật chậm từ đầu làng đến cuối làng. Và như thói quen như nghe tiếng chuông cà rem; Nghe tiếng trống, thí ai cũng biết gánh hát về!

 

Tiếng trống xa dần,..Hồi sáng thằng Tửng nói tối nay hát tuồng Tôn Tẩn Hạ San tôi càng háo hức được xem. Tôi khoái chuyện nầy qua lời kể của mẹ tôi, nên lấy lại khí thế xắt cho xong nửa thúng còn lại. Để khích lệ tinh thần, mỗi lần khứa dao, tôi đọc thầm trong bụng: “Tôn -Tẩn – Hạ – San -Tôn -Tẩn – phực!”, đến “phực”, sáu khứa dao, là xong một lát chuối; lát mới tôi đếm lại từ đầu : “Tôn-Tẩn…..phực!”. được năm mười cái “phực” thì đã mỏi tay. Tôi kiên nhẫn thêm vài cái “phực” nữa thì thằng Tửng áo vắt trên vai, cổ lòng thòng chiếc ná thun, vốn là vật bất ly thân của nó; hổn hển hỏi tôi:

 

– Chưa rồi sao mậy?

 

Tôi mừng húm:

 

– Mầy phụ bầm với tao đi! Gần xong rồi!

 

Nó tự động lấy tấm thớt và con dao quen thuộc, ngồi cạnh tôi, hốt chuối ra bầm. Thao tác nhuần nhuyễn như đầu bếp chuyên nghiệp bầm thịt!

 

Trong bọn, tôi thích thằng Tửng nhất, vì nó xông xáo và hay giúp đở bạn bè. Nó lại có nhiều tài vặt mà bọn chúng tôi không có hoặc thua xa; như dám bơi qua lại con rạch cái hai lần khi nước chảy xiết, biết cỡi trâu, đặt lờ, bắt cá và leo cây như khỉ, còn gan dạ nữa! Đi chơi với nó không hề bị đói. Mùa vú sữa thì ăn vú sữa ở đinh, chùa. Các mùa khác thì…. chui rào hái trộm! Gần tết, khi ruộng vừa gặt xong, những chỗ nước đọng lại, nó chỉ huy chúng tôi đắp hầm bắt cá. Trong lúc chờ đợi cá nhảy vào, nó làm bẫy cò ke để bắt những con cò xấu số đang lặn hụp tìm mồi.

 

Được cá, nó bảo chúng tôi bứt gốc rạ khô, đốt lên rồi thảy cá lớn cá nhỏ vào. Chỉ một lát, mùi cá chín bốc lên ngậy cả mũi. Khều cá ra, lấy rạ chà sơ lớp cháy bên ngoài, để lộ lớp thịt vàng lươm…

 

Tôi dừng tay lại:

 

– Mầy rủ tụi nó chưa?

 

– Rồi! Làm lẹ đi!

 

Cứ mỗi lần gánh hát về thì bộ mặt làng tôi coi xôm tụ lắm. Mới bốn giờ chiều mà mấy chị đã trưng bày các “cửa hàng” của mình: Bốn năm xề mía chặt khúc, mấy xề đậu phọng nấu. Tấp nập nhất là “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Đó là một bàn chữ nhật khá cũ kỹ, ở trên để một bàn bào nước đá, cả chục cái ly và hai chai sirô. Chị liên tục bào đá, hứng vào một ly rồi ém chặt lại, sau đó xịt sirô vào, lật úp ly lại, lấy ra khối đá hình cái ly đượm màu sirô đỏ thắm, trao cho người mua, toàn là bọn trẻ lứa tuổi chúng tôi! Cứ thế chúng tôi mút! Mút liên tục (nếu không thì sirô theo đá tan ra thì uổng lắm).Tay nầy tê thì đổi qua tay kia, mút chừng nào khối đá còn một miếng nhỏ, chúng tôi bỏ tọt vào miệng nhai rào rạo! Món nầy gọi là “nước đá nhận”, xem ra rất thích hợp với chúng tôi, bởi vừa ăn, vừa chơi đùa được, lại tiện lợi là, sau khi ăn xong, hai môi đỏ đẹp như thoa son; hai tay sạch trơn, như vừa rửa vậy!

Không hiểu sao, cái món vừa ngon lành, vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi như thế mà ngày thường các chị không bán, mà phải đợi đến gánh  hát về?

 

Gánh hát đêm đầu, người xem đông.

 

Vì diễn ở nhà lồng chợ, chợ làng tôi cũng như chợ huyện thời ấy chỉ là một dãy nhà nhiều căn liên tục, xung quanh không rào, không cửa ( mới gọi là nhà lồng), nên gánh hát về phải lấy vải dày bao xung quanh, chỉ chừa một cái cửa để “bán vé”. Nói “bán vé” chứ vé viết gì đâu? Người bán “vé” luôn là bà bầu, tức là vợ của ông bầu gánh hát, kèm theo là con hay người trong đoàn mà bà tín cẩn. Cứ người lớn vô cửa thì ba đồng, con nít một đồng. Những đêm cuối, thì người lớn hai đồng, con nít vẫn giữ nguyên., bởi một đồng chỉ giá trị hai gói xôi! Tuy vậy, bà bầu cũng “du di”, thấy đứa nào sạch sẽ … như tôi (!), thì bà cho hai đứa một đồng! Bởi cái “du di” nầy mà xãy ra nhiều chuyện buồn cười:

 

– Sao hai thằng đó một đồng mà tôi với con tôi tới ba đồng ?

 

– Thi…thì tại hai đứa đó dễ thương.

 

– Vậy chớ con tôi dễ ghét lắm hả? Tui với nó hai đồng rưỡi  thôi!

 

– Bà vô  bốn người mà trả có hai đồng rưỡi, chắc chết tôi quá! Dắt một đứa, cõng một đứa, bồng một đứa….

 

– Em bé không tính tiền mà!

 

– Thôi vô đi bà nội, rầu bà quá!

 

Hai anh em thằng Xoài thằng Mận là chuyên gia coi cọp. Chúng đợi ở cửa, lợi dụng lúc đông người, xô đẩy nhau, chúng chen vào. Mười lần cũng lọt được năm sáu, những lần còn lại  bị… kéo lổ tay, đuổi ra.

 

Tôi vốn nhát gan, nên mua “vé” đàng hoàng. Thằng Tửng nói với tôi:

 

– Mầy mua “vé”được rồi đó!

 

– Đợi một hồi cho bớt chen lấn rồi hãy vô.

 

– Đồ ngu! Mầy vô sau, đứng sau người ta, có nước… hửi đít họ chớ làm sao mà coi?

 

Rồi kéo tôi ra sau hông nhà lồng, chỉ vào một chỗ; nói:

 

– Lát nữa mầy vô, mầy lại cây cột nầy nghen!

 

Tôi ầm ừ, vì không phải lần đầu tiên tôi a tòng với nó. Nó dặn lại:

 

– Nhớ à nghen!

 

Vào cửa, vừa tới cây cột nó chỉ thì ở ngoài nó đánh vào vải “bịch, bịch”, biết ám hiệu, tôi nhìn quanh rồi giở vải cho nó chui vào. Chiến thuật nầy hiệu quả hơn của Xoài, Mận nhiều, vì hầu hết nó vô trót lọt! Nếu xui rủi bị phát hiện thì nó cũng không bị kéo lỗ tai; mà là tôi! Tôi khoái nó ở chỗ, dù có trót lọt hay không, hôm sau nó cũng đãi tôi một chầu đá nhận!

 

“Rạp hát” không có ghế ngồi cho khán giả, muốn ngồi ghế thì tự đem ghế nhà vào, thường là mấy bà già, còn hầu hết thì ai vô trước, đứng truóc, ai vô sau đứng sau. Còn vô sau mà muốn đứng trước thì cứ chen lấn! Mấy đêm đầu, người sát như nêm, mùi mồ hôi ngậy mũi, tiếng cãi cọ luôn xãy ra khi chờ đợi mở màn: “Mấy thằng quỷ nầy làm gì chạy tới chạy lui hoài vậy?” Một người bịt mũi: “Ai bỏ “bom nguyên tử” vậy ta?”. Mọi người vừa bụm miệng thì lại có tiếng: “Hùm… “trái” nầy còn ác liệt hơn nữa!”. Ai cũng cười rung cả bụng.  Một chị gái: “Lợi dụng hả?”. “Chật phải cho người ta đụng chớ? Sợ thì ở nhà đi!”

 

Quê tôi trước sau có bốn gánh hát (chuyện hi hữu tại một xã nghèo thưa thớt dân cư), mà bầu Bời, bầu Trình là kỳ cựu nhất. Đào kép trong đoàn đa phần cũng là con em trong làng. Dẫu sống đời lang bạc, nhưng họ cũng ít nhiều ưu ái với nơi cắt rún chôn nhau. Hậu trường các gánh khác chúng tôi dễ gì được vào xem. Với các gánh nầy, chúng tôi vào thoải mái, miễn đừng lớn tiếng, phá phách, với đừng … ăn ổi chín là được! Lần đầu tôi cầm trái ổi chín rục, thơm lừng, vừa cắn một miếng thì chị Ẩn, đào chánh giật lấy. Tôi nhơ ngác: “ Ổi của em mà!”. “Biết rồi! Trái nầy em cho chị”. “Bộ chị có bầu hả? Sáng mai em hái cho chị.” Chị vò đầu tôi: “Không phải, nhưng ăn trước bàn tổ không nên, ông bầu thấy ổng quánh bây giờ”. Chị lại cười: “Ví (với) một lát, mấy em không được ăn me trước mấy ông thổi kèn nghe không?” Tôi ngơ ngác dạ dạ cho qua. Sau nầy mới biết, không cho ăn ổi vì sợ… ông tổ thích mùi ổi chín mà bỏ đi (về nhà người ăn ổi); còn không cho ăn me trước mấy ông thổi kèn vì sợ mấy ổng… thèm chảy nước miếng mà thổi không được! Từ đó, tôi còn nghe người lớn nói như vầy: “Ăn cướp không bao giờ cướp đồ (tài sản) của gánh hát!”. “Sao vậy?”. “Vì họ cùng một ông tổ mà ra, hồi đó ông tổ gánh hát bỏ nghề rồi đi … ăn cướp” (?) “Ối! Xa lơ xa lắc, giờ cướp đại, chết thằng tây nào?”. “Bậy! Nếu cướp của gánh hát thì bị quan bắt liền, hồi trước ổng thề như vậy”. “Ờ hén”. “Có ghe cướp, cướp nhằm ghe gánh hát mà không biết, chừng về thấy mấy cái rương toàn là âu ria, áo mão, hoảng hồn, đem trả không kịp!”

 

Khán giả đa số là bà già, ông già, các lớp đàn anh đàn chị chúng tôi, tức khoảng mười bảy mười tám tuổi, tuổi sắp có chồng, có vợ! Thời đó, nam mười tám, nữ mười sáu có chồng có vợ là chuyện thường tình. Lớp trên hai mươi, con cái đùm đề, ít ai đi coi. Tuổi trung niên còn ít nữa, không hiểu vì sao!

 

Có một khán giả rất đặc biệt là thằng Hợp (sau nầy là kép cải lương của anh sáu Triều), nó  ngồi một chỗ cũng rất đặc biệt: Dưới “bàn vua”. Đó là cái bàn chữ nhật như cái bua-rô của thầy giáo, không trải drap, phía sau là cái ghế đẩu, tượng trưng cho ngai vàng! Không hiểu sao, đêm nào cũng có cái bàn ấy đặt sát tấm màn phong cảnh tận cuối sân khấu, dù đêm đó không có vai vua cũng vậy!

 

Hợp ngồi xếp bằng dưới cái…. “long bàn” ấy. Áo luôn phanh ngực, lâu lâu quẹt mũi, nhìn xuống coi… khán giả, bởi mặt bàn che khuất tầm nhìn, làm sao coi đào kép?

 

Có gánh hát nào lại cho khán giả ngồi chỗ đó, ngoài gánh bầu Bời, bầu Trình? Ban đầu mở màn thấy nó ngồi, ai cũng cười dễ dãi, sau thành quen, xem như đó là ghế danh dự dành cho nó vậy!

 

Có lần vị vua nào đó lâm triều, vừa ngồi xuống  ngai (ghế đẩu), vua duỗi chân ra, đạp nhằm nó, vua “ý” một tiếng, làm “bá quan văn võ”(thường có bốn người – hai văn hai võ) cũng giật mình. Khán giả thì cười rần. Rồi đâu cũng vào đấy, vua làm việc vua, nó ngồi tiếp!

 

Lại lần khác, vua vỗ bàn quát: “Giáp sĩ đâu?”, cùng lúc ngoài rạp có tiếng tía nó gọi: “Hợp ơi, về biểu!”, nó lật đật “dạ” một tiếng thật lớn còn hơn cả tập thể gánh hát “dạ” trong hậu trường, rồi vội vàng đứng dậy, đội luôn cả “long bàn” trên đầu. Vua quan ngơ ngác, còn khán giả thì cười vỡ bụng.

 

Thế mà hôm sau, nó cũng không vắng mặt ở chỗ ngồi danh dự đó!

 

Cũng nên nói thêm, gánh hát không có máy đèn. Ánh sáng là chiếc đèn măng sông duy nhất được treo giữa sân khấu và hàng ghế đầu tiên của khán giả. Nói “hàng ghế”cũng đúng, vì dường như đêm nào cũng có một hai hàng ghế thượng hạng dành cho các cụ, dù ghế nầy do các cụ mang tới. Đó hàng ghế bất khả xâm phạm trong một điều luật bất thành văn: Các anh chị và lũ chúng tôi ở phía dưới, cãi cọ, chen lấn làm gì làm, tuyệt nhiên không ai dám lướt qua các hàng ghế trưởng bối đó. Các cụ dù vô sau, chỉ cần đưa ghế lên (cho dễ đi), là có hàng loạt tiếng nói :- “Tránh ra cho bác Bảy ( ông Ba, bà Hai…) đi cà tụi bây ơi!”.  “Cái thằng nầy lì quá, nói nãy giờ mà cứ giỡn hoài!”

 

Đó không phài là văn hoá kính lão, là điều đáng tự hào của quê hương tôi đó sao?

 

Về tuồng tích thì thừơng là những trích đoạn của các truyện Tàu mà cô Năm tôi thường đọc cho các người lớn trong làng nghe trong các buổi đám cưới, đám giỗ, hay những lúc nông nhàn, như “Phụng Nghi Đình”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”,”Tôn Tẩn hạ San”, “Triệu Tử Long đoạt ấu chúa”, “Chiêu Quân cống Hồ”.…Thật tình, giờ tôi nhớ được nội dung những chuyện ấy là nhờ nghe cô Năm đọc, còn coi hát bội, tôi không nhớ gì hết ngoài mấy tiếng “tróc mã đề thương, ứ ư, ứ ư…”, bởi hát bội thường   “hát”chữ nho, hiểu đâu mà nhớ?!

 

Vài năm sau (khoảng năm 1959), các gánh hát bội của bầu Trình, bầu Bời dần dà ế khách, bị lép vế bởi các đoàn cải lương ở xa đến như Điền Viên, Kiếp Bướm, Ánh Sáng. Gánh bầu Trình phải diễn luôn cả suất ban ngày mà hầu như không đủ sống, bởi khán giả toàn là lũ nhí chúng tôi, mà tụ lại không bằng một gánh Sơn Đông mãi võ! Suất đêm là chính, lại bị  “sập dàn” hoài!(*), bởi cũng chỉ có đám chúng tôi vào coi, chỉ là ham vui, hơn là ham coi hát!

 

Cửa vé vắng tanh, thằng Mận, thằng Xoài không còn cơ hội “thừa nước đục thả câu”, còn tôi cũng không dám giở màn cho thằng Tửng chui vào. Thằng Hợp cũng tự động rời khỏi đít  “long bàn”. Các “cửa hàng” mía, đậu phọng đã dẹp tiệm, chỉ còn lại “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Chị bào nước đá thư thả hơn, gọi tụi tôi là “cưng” chứ không là “tụi bây” như trước, và ly nước đá cũng cao hơn, sirô nhiều hơn!

 

Ban ngày tôi thường lân la vào hậu trường chơi, chị Ẩn nằm một mình trên võng, thấy tôi chị cười , khoe hai hàm răng đều đặn, không phấn son mà tôi thấy chị đẹp lắm, song trông chị buồn còn hơn khi chị đóng vai Chiêu Quân lúc rời xa đất Hán!

 

– Ủa? Sao có một mình chị ở đây vậy? Mấy anh đâu hết rồi?

 

Mắt “Chiêu Quân” nhoà lệ:

 

– Mấy ảnh đi bắt cá hết rồi, chị ở nhà nấu cơm.

 

– Sao hồi sáng không mua, bắt làm chi cho mệt?

 

Chị rời võng, đến thêm củi cho nồi cơm tổ bố. Có lẽ khói cay, làm mắt chị ươn ướt, đỏ hoe:

 

– Hát ế quá đâu có tiền mua cá, em!

 

Hai giọt nước mắt chị rơi xuống, tôi chạnh lòng, vừa thương chị, vừa ân hận về việc đã bao lần a tòng với thằng Tửng giở vải để cho nó vào coi cọp. Chị lau nước mắt cười thật buồn, hỏi tôi:

 

– …Ổi nhà em có trái nhiều không?

 

– Có, có nhiều lắm. Sao chị bảo không nên ăn ổi chín chỗ này?

 

Chị vẫn cười buồn:

 

– …Chị muốn ăn ổi chua.

 

– Chị có bầu hả? Sao bụng chị nhỏ xíu vậy?

 

Chị hơi vui vì lời trẻ con của tôi; không đáp, chỉ gật nhẹ. Tôi nhanh nhẩu:

 

– Vậy chị chờ em chút nghe.

 

Rồi chạy vụt ra réo to:

 

– Tửng ơi Tửng! Tửng ơi Tửng! Về nhà tao chơi.

 

Chiều hôm ấy ông bầu đến từ giã bà con ở dãy ngã tư. Ông buồn hơn mọi ngày. Khi đến nhà thầy Tư (tiệm thuốc bắc) thì bà con cũng kéo đến. Chú chín chệch Xồi

 

– Tui tặng ông bầu hai ký lường (đường) táng uống lước (nươc). Chừng nào lảnh (rảnh) dìa (về) hát cho dui (vui).

 

Chú chín chệch Xồi sống ở làng đã lâu đời, có vợ Việt, ăn mắm sống nên không “nị,  ngộ” như các chú Tàu ở huyện.

 

Một lát chú Hai Cộc xách một xô cá từ mé triền lên:

 

– Mới tát đìa! Biếu anh Ba (ông bầu thứ ba) và anh em ăn lấy thảo.

 

Thằng Hợp vừa hít mũi vừa bưng một đĩa lớn bánh cam bánh cồng đầy ắp (chắc bán ế) lại, thưa:

 

– Má con nói biếu ông bầu ăn uống nước.

 

Thiếm tư quay quanh rồi nói:

 

– Ở đây cũng có bánh trái rồi…Hay là đứa nào mang qua nhà lồng cho mấy em ở bển. Đem cá của anh hai cho mấy em làm luôn thể, tối rồi.

 

Thầy Tư ngập ngừng nói với ông bầu:

 

– Hổm rày chắc vất vả lắm hả anh Ba?

 

– Thì anh thấy đó, cứ “sập dàn” hoài!

 

Chú Chệch Xồi:

 

– Hay là ông bầu dìa mua bán dí (với) tui, kiếm ăn lược lám  ló!(được lắm đó)

 

Mọi người ái ngại cho câu nói thiệt lòng của chú Chín. Nhưng ông bầu chỉ thở dài:

 

– Làm như cái “nghiệp” anh Chín ơi! Khi ế anh em cứ than thở đòi về làm ruộng, nhưng khi được bà con ái mộ thì quên hết! “Cái nghiệp” khó dứt lắm anh ơi. Như con tằm ăn dâu phải nhả tơ đền nợ dâu vậy.

 

Sáng hôm sau khi tôi định xách thêm bọc ổi chua và gói muối ớt cho chị Ẩn, thì thấy thằng Tửng bọc một áo xoài đứng ở trước cửa. Tôi trố mắt hỏi nó:

 

– Mày ăn cắp hả?

 

– Tao xin đàng hoàng. Tao nói xin cho chị Ẩn, thiếm Bảy bảo hái cho khá khá. Ăn cắp gì mà nhiều dữ vậy?

 

Khi chúng tôi đến, mọi người đang ăn cơm. Chị nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào:

 

– Cám ơn hai em nghen!

 

Ăn cơm xong mọi người lỉnh kỉnh gánh gồng xuống ghe. Tôi và Tửng đứng trên bến. Chị vò đầu chúng tôi rồi xuống sau cùng:

 

– Mấy em ở lại rán học giỏi nghe. Lần sau chị về chị bao mấy em coi hát khỏi mua vé.

 

Thằng Tửng coi bộ sượng sùng vì lời chị. Tôi nói:

 

– Chừng nào chị về nhớ ẵm em bé về chơi nghen.

 

Ghe rời bến, chị yếu ớt vẫy tay. Ghe đi xa, chúng tôi nhìn đến khuất bóng mới thôi. Tôi ngó qua Tửng, nó ngượng ngùng quẹt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc. Và lần cuối cùng tôi gặp chi Ẩn./.

 


KHA TIỆM LY

99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang

Tel: 0987  701  952   –   01229  880  130

Email: khatiemly@gmail.com

Người dân Dương Nội tẩm xăng đòi “đốt” chủ đầu tư để giữ đất – infonet

12 Th1

Người dân Dương Nội tẩm xăng đòi “đốt” chủ đầu tư để giữ đất

Thứ bảy 12/01/2013 08:41

Ngày 11/1, chủ đầu tư dự án khu đô thị mới Geleximco – Lê Trọng Tấn tổ chức tiến hành đóng cọc, quây tôn xung quanh, đổ đất dự án thì bị hàng trăm hộ dân thôn La Dương “bủa vây” tẩm xăng vào giẻ đòi “đốt” chủ đầu tư…

 

Theo điều tra của PV Infonet, khu đất này là một phần của dự án Lê Trọng Tấn khoảng 40ha, đang bỏ hoang cỏ mọc um tùm, nằm xen kẽ thôn La Dương (phường Dương Nội, quận Hà Đông, TP. Hà Nội). Chủ đầu tư là Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội (Tập đoàn GELEXIMCO).

Dự án khu đô thị mới Lê Trọng Tấn – Geleximco nằm dọc hai bên đường Lê Trọng Tấn kéo dài thuộc địa bàn huyện Hoài Đức và quận Hà Đông – Hà Nội, diện tích 135 ha, bao gồm nhà đa chức năng, siêu thị, sân golf, trường học, phòng khám đa khoa, khu tổ hợp thể dục, thể thao, nhà ở, biệt thự, chung cư…

Thời kỳ hoàng kim giá đất nền, nhà xây thô chuyển nhượng trên thị trường tại dự án này lên đến 80 – 100 triệu đồng/m2, tuy nhiên hiện nay toàn bộ dự án Lê Trọng Tấn – Geleximco rơi vào cảnh hoang vắng điêu tàn, những khu vực chưa xây dựng để cỏ mọc hoang vu.

Người dân cuốn giẻ, tẩm xăng để đốt chủ đầu tư nếu thi công dự án trên phần đất ruộng của họ

Riêng khu đất trong quy hoạch xây dựng dự án có diện tích khoảng 40ha, nằm xen khu dân cư thôn La Dương, do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, nên nhiều năm nay phần diện tích đất này vẫn bỏ hoang cỏ mọc um tùm.

Đến sáng ngày 11/1, chủ đầu tư và chính quyền địa phương tổ chức đóng cọc, quây tôn ranh giới dự án thì hàng trăm hộ dân mua xăng, tẩm vào giẻ để đòi đốt chủ đầu tư. Tuy nhiên, trước sự “bủa vây” và phản ứng quyết liệt của hàng trăm người dân thôn La Dương, chủ đầu tư và chính quyền địa phương đã rút máy móc, vật dụng… không thi công dự án nữa.

 Trao đổi với PV Infonet, bà Nguyễn Thị Hạnh – đại diện các hộ dân thôn La Dương bức xúc, khu cánh đồng cạnh thôn chúng tôi đây có nghĩa trang với hàng trăm mồ mả của người dân thôn La Dương từ nhiều đời nay, có ngôi mộ chôn cả trăm năm, có ngôi mới chỉ chôn vài 3 tháng.

 

Nhưng từ năm 2010, DN và chính quyền địa phương tự ý đo ranh giới, cắm mốc dự án rồi lên kế hoạch tự đền bù phần đất ruộng cho người dân chúng tôi với giá hơn 200.000 đồng/m2, hỗ trợ 30.000 đồng/m2 đào tạo nghề cho người dân và đền bù 4 triệu đồng/ngôi mộ mà không thông báo tới từng hộ dân. Cũng như không tổ chức gặp mặt, họp bàn để lấy ý kiến phản ánh của người dân trong thôn.

Đến tháng 3/2010, DN và chính quyền địa phương tổ chức cho 17 máy ủi, cưỡng chế, san phẳng toàn bộ mồ mả trong nghĩa trang của người dân La Dương. Gia đình ít thì 1, gia đình nhiều thì hàng chục mồ mả cha ông bị máy ủi san phẳng, có ngôi mộ còn lật hết bia, quan tài lộ thiên. Thậm chí có trường hợp mộ con nhà anh Thắng, vừa chôn được 3 tháng cũng bị máy ủi san phẳng… Hàng trăm hộ dân phản đối, thương khóc với cách làm không bài bản, chặt chẽ của DN, cũng như chính quyền địa phương…

Hàng trăm người dân La Dương phản đối chủ đầu tư dự án Lê Trọng Tấn

Chị Hạnh còn cho biết, nhà tôi có 12 ngôi mộ, mặc dù chính quyền đã san ủi như vậy, nhưng sau đó còn thông báo trên loa phát thanh rằng: “Các hộ dân nào có mồ mả nằm trong dự án mà chưa bị san ủi thì đến nhận tiền đền bù và di chuyển đi, còn hộ nào có mồ mả đã bị san ủi thì thôi…” – Chị Hạnh bức xúc.

Nhiều người dân ở thôn La Dương có đất ruộng nằm trong dự án chưa nhất trí nhận tiền đền bù nhiều năm qua và không đồng tình với cách làm, cách giải quyết đền bù đất một chiều của chủ đầu tư, chính quyền địa phương.

Bà Nguyễn Thị Nga có tới hơn 2 sào ruộng nằm trong quy hoạch dự án cũng chưa nhận tiền đền bù nhiều năm qua, trong đó có 1 ruộng cây cảnh bị chặt phá, san ủi. Theo bà Nga thì DN và chính quyền đền bù ruộng để làm dự án chỉ có 97 triệu đồng/sào, cả tiền hỗ trợ học nghề. Với giá đó chúng tôi không thể chấp nhận được, trong khi giá đất của chủ đầu tư bán cao tới cả 100 triệu đồng/m2.

Người dân dựng lều bạt cạnh mồ mả khỏi bị san ủi và đào trộm

 

 

 

Một trong những ngôi mộ bị san ủi, đắp đất tạm bợ

 

Dự án trên phần đất của người dân La Dương bỏ hoang để chăn bò

Trường hợp nhà cụ Nguyễn Thị Hào, gia đình liệt sỹ cũng có gần 1 sào ruộng nằm trong dự án mặc dù có thông báo trên loa truyền thanh xã nhưng cụ không nhận tiền. Theo cụ Hào thì gia đình không đồng ý DN lấy đất làm dự án, vì gia đình còn mỗi gần 1 sào ruộng đó để tăng gia sản xuất.

Mỗi người dân một ý kiến, một lý do không chấp nhận tiền đền bù đất ruộng của chủ đầu tư, nên nhiều năm qua một phần diện tích đất khoảng 40ha nằm trong dự án Lê Trọng Tấn vẫn bỏ hoang, trên đó là hàng trăm mồ mả bị san phẳng, xương cốt, tiểu sành lẫn lộn…

Chị Hạnh cho biết, mong muốn của người dân trong thôn La Dương là đề nghị chủ đầu tư, chính quyền địa phương khi thu hồi 100% đất của bà con thì phải trả lại 60% số ruộng đất đã bị thu hồi để bà con lấy tư liệu sản xuất và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân. Đồng thời DN và chính quyền phải quy tập, giám định ADN những ngôi mộ đã bị san ủi trước kia và hỗ trợ di dời.

Chính những rắc rối trong khâu giải phóng mặt bằng giữa người dân và DN thời gian qua, nên khi chủ đầu tư có động thái thi công dự án thì đều bị cản trở của người dân địa phương.

Nguyễn Hiếu

 

NHÂN TÍNH – BS

12 Th1

NHÂN TÍNH

Posted by basamnews on 12/01/2013

“Người Trung Quốc vẫn gào thét: ‘Hãy dạy cho Việt Nam bài học thứ hai  đi!’, ‘Hãy tiêu diệt Việt Nam đi!’, ‘Mao Trạch Đông đâu? Đặng Tiểu Bình đâu? Còn ai dám vung dao không?’ (Dẫn nguồn từ China Daily, Tin tức tài chính. Club China, Hoàn cầu).

Mỉa mai thay khi có kẻ mang danh giáo sư, tiến sỹ và mang hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam như Trần Đăng Thanh lại tỉnh bơ ngoác miệng nói ‘Trung Quốc nhường cơm sẻ áo cho Việt Nam và tình đoàn kết môi hở răng lạnh!’

Mới đây Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Lào Cai. Ông căn dặn cán bộ nhân dân  tỉnh địa đầu biên giới này: ‘Tiếp tục xây dựng hòa bình và hữu nghị, chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài, ổn định hợp tác phát triển cùng nước bạn!’.”

Blog Bùi Văn Bồng

NHÂN TÍNH

Minh Diện

10-01-2012

Trên chuyến bay từ thành phố Nam Ninh đến Bắc Kinh (Trung Quốc) tháng giêng năm ngoái, anh Vũ Ân, giảng viên của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, ngồi cạnh tôi. Trong khi tôi thiu thiu ngủ thì anh cầm một tờ tạp chí chăm  chú đọc.

Bỗng anh đập vai tôi, nói:

– Nhìn này Minh Diện !

Anh  chỉ trang báo in hình một bà già, cưởi tít mắt, tay cầm  tờ giấy ghi công trạng. Dưới tấm hình ghi: “Mẹ chiến sỹ Lee”.

Tấm ảnh đó được đăng kèm với mẩu chuyện như sau:

“Năm ấy Lee  tròn 18 tuổi,  là con út trong gia đình. Căm thù bọn xâm lược Việt Nam, Lee tình nguyện gia nhập Giải phóng quân Trung quốc. Chỉ sau năm tháng huấn luyện trong đơn vị bộ binh thiện chiến của thủ trưởng Phàm, Lee đã trở thành một chiến sỹ xuất sắc, đặc biệt có tài bắn tỉa bách phát bách trúng. Với tinh thần chiến đấu cao, Lee đã được ra biên giới phía Nam”.

Sau khi kể quá trình hành quân và tham gia chiến đấu của tên lính trẻ này, bài báo viết tiếp:

“Ngày 1 tháng 10 năm 1979,  kỷ niệm Quốc Khánh, Lee hứa quyết tâm lập công. Hôm đó Lee ra trận địa từ sáng sớm mật phục gần quân địch. Gần trưa Lee phát hiện được mục tiêu. Tên lính Việt Nam thấp lùn thoăn thoắt chạy trong chiến hào. Lee  rê mũi súng theo cái bóng loắt choắt ấy. Tên lính không hề phát hiện thấy Lee, mặc dù Lee ở cách nó hai chục bước chân. Nó đến chỗ thằng bạn nó uống nước. Lee dán mắt vảo thước ngắm chờ đợi thời cơ, như hồi nhỏ rình bắn chim sẻ. Kia rồi, tên lính lấy bình toong nước, nhô cao người , ngửa cổ lên tu. Chắc nó khát lắm nên mất hết cảnh giác! Nó nhô hẳn cả bộ ngực lép kẹp vì đói khát lên. Lee nín thở xiết cò: Đoàng! Tên lính Việt kêu ối lên, máu nó vọt ra ngực, nó ngã sấp xuống chiến hào. Nó không hề biết bị bắn từ hướng nào. Tên lính bạn nó vội đứng lên đỡ bạn. Lee lại bình tĩnh lấy đường ngắm. Đoàng! Tên này đổ vật xuống đè lên xác tên kia. Nhanh như chớp Lee vọt sang cắt mỗi tên lính một cái tai mang về báo cáo thành tích. Chỉ cần có hai viên đạn chiến sĩ Lee tiêu diệt được hai tên lính Việt. Thủ trưởng  Phàm đã biểu dương Lee, vì Lee là chiến sỹ đã giết được tất cả 5 tên lính Việt Nam, mừng ngày Quốc khánh!

Lee được thưởng, liền viết thư về báo công với mẹ. Bà mẹ sung sướng cầm thư Lee đi khoe khắp làng xóm. Mấy ngày sau bà viết thư động viên Lee giết thật nhiều lính Việt Nam, gửi những cái tai của chúng về cho mẹ!  Lá thư của mẹ Lee gửi tới, Lee mang đọc cho các bạn nghe…”.

Sau khi kể tiếp những ngày tháng Lee ở biên giới, rồi bị thương, xuất ngũ, bài báo đó dẫn lời bà già: “Lee con tôi bây giờ làm cán bộ thôn. Nó thường đi kể chuyện cho học sinh các trường học trong thôn, trong xã nghe chiến công của nó!”.

Đọc bài báo tôi rùng mình vì ghê tởm!

Anh Vũ Ân nói:

– Dã thú quá!

Trong chiến tranh, lúc lâm trận, người bên trận tuyến này bắn người trận tuyến bên kia là chuyện bình thường. Nhưng một tên lính bắn tỉa chờ đúng lúc đối phương ngửa cổ uống một ngụm nước cho đỡ cơn khát để nổ súng, rồi cắt tai đối phương, và tỏ ra thích thú về điểu đó,  thì thật vô nhân đạo.

Chiến tranh là bất đắc dĩ, nghĩa vụ phải cầm súng xung trận, nhưng ngay cả trong hoàn cảnh éo le như vậy, con người vẫn phải có nhân tính. Hơn nữa luật pháp quốc tế đã quy định về tính nhân đạo trong chiến tranh. Lăn xả vào chém giết, coi giết người là một kỹ nghệ, một trò vui, giết để  tỏ ra là anh hùng hảo hán, lấy tiếng khen như tên lính Lee kia, và hớn hở khi con mình giết người như mẹ của hắn, thì rõ ràng lả mất hết nhân tính rồi. Nhưng chuyện đó ở Trung Quốc lại có truyền thống từ lâu đời, và xuất hiện nhan nhản trong những bộ phim đang chiếu trên TiVi nước ta.

Sau chiến tranh, có một trường hợp tương tự xảy ra trong chiến tranh chống Mỹ nhưng cách nhìn nhận hoàn toàn trái ngược, mà nhà văn Minh Chuyên bạn tôi đã kể trong một bộ phim tài liệu cách đây khá lâu.

Homer Stetdy sinh sống ở làng Bamberg, tiểu bang Carolina, Mỹ. Tháng 2-1968, Homer sang Việt Nam, biên chế tại Đại đội 8, Tiểu đoàn 1, Sư đoàn bộ binh  số 4, đồn trú tại Gia lai. Homer rời Việt Nam tháng 3-1970 với cấp bậc thiếu tá.

Lần đó, trên mặt trân Tây Nguyên, Homer đã bắn chết một chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam và ông coi đó là một hành động giết người.

Ông kể:

“Vào khoảng 12 giờ trưa ngày 18-3-1969, đại đội tôi đóng chốt tại cứ điểm 20, trên quả đồi 467, thuộc huyện Ayn, tỉnh Gia Lai. Tôi được chỉ định đi phát khẩu phần ăn cho mọi người, thì bất ngờ gặp người lính Việt Cộng. Anh ta xuất hiện tại khúc cua trên con đường mòn. Lưỡi lê sáng loáng trên nòng súng của anh ta lăm lăm chĩa thẳng vế phía tôi. Tôi kêu to: “Chiêu hồi! Chiêu hồi!”. Tức kêu gọi đầu hàng.

Anh lính Việt Cộng xông lên. Tôi đã nổ súng trước khi mũi lê của anh đâm vào người tôi.

Lúc đó tôi hoảng sợ đến mức không làm chủ được mình, tôi chỉ định bắn anh ta bị thương. Anh ta còn quá trẻ, trên đầu đội chiếc mũ cứng mới, bộ quân phục màu xanh còn nguyên nếp gấp. Anh nằm sóng soài trước mặt tôi, vẻ mặt bình thản như đang ngủ.

Tôi cúi xuống thu nhặt chiếc ba lô và những giấy tờ tùy thân của anh ta. Những giấy tờ này sau đó tôi gửi về Mỹ nhờ mẹ tôi cất giữ”.

Tại làng Bamberg, bang Carolina, người mẹ của Home nhận được chiếc ba lô và các di vật do con bà gửi về, kèm theo lá thư. Biết con mình đã giết chết một người lính Việt Cộng, bà run sợ khóc, và nói với chồng mình: “Ở Việt Nam, người mẹ của người lính này hẳn đau khổ lắm vì phải mất một người con. Người con của bà lại chính do con mình giết hại. Ông ơi, một ngày nào đó, ông và tôi, một trong hai người, nếu ai còn khỏe, sẽ cùng Homer sang Việt Nam trả lại những di vật này cho gia đình người thân của anh lính xấu số này và xin lỗi họ!”.

Từ đó bà coi các di vật, là một một phần linh hồn của người lính tử trận.

Homer và gia đình anh luôn day dứt, vì tội ác do Homer  gây ra. Vợ Homer đã lập bàn thờ Phật, thờ  những di vật người lính tử trận theo phong tục ViệtNam, còn Homer liên hệ khắp nơi  để tuy tìm gia đình,  thân nhân của người lính Việt Cộng.

Bốn mươi năm sau, qua bao nhiêu thư từ, bao nhiêu cuộc gặp giỡ và hơn chục lần từ Mỹ bay qua Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tâm của nhà văn Minh Chuyên, Homer Stetdy  cùng  vợ anh và bạn bè anh đã thực hiện được lời nguyện  của cha mẹ anh: Họ có mặt tại Gia Lai, đưa hài cốt của liệt sỹ Huỳnh Ngọc Đảm, đơn vị C67, quê quán làng Nha, xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về nơi an nghỉ cuối cùng.

Hai người lính Việt Nam hy sinh trên hai trận tuyến khác nhau, trước mũi súng của hai kẻ thù xâm lược khác nhau. Hai “ông giặc” có cách hành xử với người lính Việt cũng hoàn toàn khác nhau; sự phân định rõ hai nửa cực đoan của nhân tính. Người lính Mỹ nổ súng trong một tình huống bất khả kháng, nếu anh ta không bắn, mũi lê của đối phương sẽ đâm vào người anh ta. Anh ta ân hận vì đã giết chết một con người mà anh ta chỉ muốn làm bị thương. Tâm tư và hành động của anh lính Mỹ, Homer hoàn toàn trái ngược với tâm tư và hành động của tên lính Trung Quốc, Lee. Tên lính này giết đối phương khi người đó chưa hề có một động thái gì gây nguy hiểm cho hắn, hắn giết người như một niềm đam mê,  như rình bắn một con chim sẻ, hả hê ngắm nghía cái chết của đồng loại như con thú vừa giết được con mồi.

Người mẹ của Homer, từ suy nghĩ đến hành động toát lên tính nhân văn của con người, có sự đồng cảm sâu xa với người mẹ có con tử trận, và bà nghĩ ngay đến nghĩa vụ của mình. Còn người mẹ của Lee bộc lộ dã tâm của con vật.

Hai cuộc chiến tranh đều đã đi qua, mỗi người lính như bản thân tôi đã có đủ thời gian nhìn lại  để chiêm nghiệm và suy ngẫm. Rất tiếc còn có những kẻ vẫn còn định kiến, như mù lòa trước hiện thực khách quan! Không ai quên những tội ác của đế quốc Mỹ đã gây ra  trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng cũng không thể phủ nhận những việc làm thể hiện tính nhân đạo, và mong muốn khép lại quá khứ của chính phủ và nhân dân Mỹ  trong mấy chục năm qua.

Không gì thể che được tội ác của bọn bành trướng bá quyền Trung Quốc gây ra trên đất nước ta,  tội ác  mà Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra là “Trời không dung đất không tha!” (Tạp chí cộng sản 3-1979)

Hơn ba mươi năm qua, Trung Quốc chưa hề có bất kỳ một hành động nào góp phần cùng Việt Nam giải quyết hậu quả chiến tranh do họ gây ra, như  tìm kiếm hài cốt liệt sỹ, rà phá bom mìn, như chính phủ Mỹ làm. Ngược lại, họ vẫn chiếm đóng 65 km2 lãnh thổ Việt Nam trên đất liền, chiếm Hoàng Sa và các đảo  Cô Lin, Gạc Ma, bãi Chữ Thập… của chúng ta.

Người Trung Quốc vẫn gào thét: “Hãy dạy cho Việt Nam bài học thứ hai  đi!”, “Hãy tiêu diệt Việt Nam đi!”, “Mao Trạch Đông đâu? Đặng Tiểu Bình đâu? Còn ai dám vung dao không?” (Dẫn nguồn từ China Daily, Tin tức tài chính. Club China, Hoàn cầu).

Mỉa mai thay khi khi có kẻ mang danh giáo sư, tiến sỹ và mang hàm đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam như Trần Đăng Thanh lại tỉnh bơ ngoác miệng nói “Trung Quốc nhường cơm sẻ áo cho Việt Nam và tình đoàn kết môi hở răng lạnh!”.

Mới đây Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Lào Cai. Ông căn dặn cán bộ nhân dân  tỉnh địa đầu biên giới này: “Tiếp tục xây dựng hòa bình và hữu nghị, chống âm mưu phá hoại từ bên ngoài, ổn định hợp tác phát triển cùng nước bạn!”.

Trên tờ báo Tin tức tài chính Trung Quốc lại sặc mùi chiến tranh: “Quân đội Trung Quốc sẽ không ngần ngại ra tay nếu các nước thiếu tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc quanh khu vực Tam Sa!”.

Nơi ấy có xương máu của 64 chiến sỹ Hải Quân  Việt Nam đổ xuống trước mũi súng của quân xâm lược Trung Quốc, ngày 14-3-1988.

Tiếng hô của người chiến sĩ đã ngã xuống: “Thà hy sinh không để mất biển đảo của Tổ Quốc” như còn vang vọng.

 Quá khứ đã mở cho mỗi chúng ta một góc nhìn vào hiện tại và tương lai.

M.D.

Nguồn: Blog Bùi Văn Bồng

TQ ngang nhiên ra bản đồ từng đảo ở Biển Đông – Vnn

12 Th1

TQ ngang nhiên ra bản đồ từng đảo ở Biển Đông

Trong lúc căng thẳng leo thang ở Biển Đông, Trung Quốc lại công bố bản đồ 130 đảo ở vùng biển này và cả các đảo tranh chấp với Nhật ở Hoa Đông.

 Nhật, Mỹ bàn cách ‘đối phó’ với TQ
Philippines, Nhật ‘bắt tay’ trước TQ gây hấn
TQ chi tỉ đô củng cố các đảo ở Biển Đông

Bản đồ 9 đoạn mà Trung Quốc đưa ra gây bất bình với các nước trong khu vực.Ảnh: wordpress

 

Cơ quan Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa chất quốc gia Trung Quốc (NASMG) hôm qua thông báo, lần đầu tiên nước này đã đánh dấu thể hiện rõ các đảo ở Biển Đông trên các bản đồ chính thức.

Bản đồ mới với định dạng theo chiều dọc, do nhà xuất bản Sinomaps ấn hành. Trong đó, phần lớn các đảo và quần đảo chưa từng được Trung Quốc mô tả trong các tấm bản đồ được định dạng theo chiều ngang trước đây.

Theo NASMG, bản đồ mới sẽ được đưa ra công chúng vào cuối tháng 1. Phụ trách Sinomaps Tô Cân Tài nói rằng, bản đồ mới có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về chủ quyền quốc gia, bảo vệ quyền hàng hải và các lợi ích cũng như thể hiện lập trường ngoại giao chính trị Trung Quốc.

Tô còn cho hay, bản đồ mới mô tả rõ ràng các đảo lớn ở Biển Đông, thể hiện mối quan hệ địa lý của các đảo này với các đảo, quần đảo phụ cận và những quốc gia xung quanh. 

Ở hai góc dưới cùng bên trái và phải của bản đồ lần lượt cho in hình các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông và Hoa Đông.

Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei đã phản đối yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Bất chấp chồng lấn chủ quyền, Bắc Kinh vẫn ngang nhiên tuyên bố có chủ quyền với hầu hết vùng biển giàu tài nguyên này.

Trước đó, việc Trung Quốc in bản đồ đường 9 đoạn trong hộ chiếu điện tử đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ Việt Nam và Philippines. Tấm hộ chiếu mới còn in hình bản đồ kèm những khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ.

Ở một tin tức liên quan, cũng trong hôm qua, Trung Quốc đã tuyên bố sẽ tăng cường tuần tra hàng hải và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên để đảm bảo chủ quyền của họ ở Hoa Đông và Biển Đông. Tờ Nhật báo Trung Quốc dẫn lời giám đốc Tổng cục Hàng hải Trung Quốc Lưu Tứ Qúy rằng, các tranh chấp lãnh thổ leo thang trong năm 2012 đã khiến họ phải tăng cường bảo vệ chủ quyền hàng hải của Bắc Kinh trong khu vực.

“Bắc Kinh sẽ tiếp tục thực hiện tuần tra thường xuyên ở quần đảo Điếu Ngư (cách Trung Quốc gọi quần đảo Senkaku tranh chấp với Nhật ở Hoa Đông) và Biển Đông”, Lưu nói.
Trong khi đó, Trung tâm nghiên cứu Địa lý và Biên giới Lịch sử Trung Quốc thuộc Viện Khoa học Xã hội nước này thừa nhận rằng, Trung Quốc còn tụt hậu so với nhiều nước khác trong khu vực về cơ sở hạ tầng hàng hải, khả năng thực thi luật pháp, cơ sở và nhân viên tuần tra biển.

“Một ngân sách lớn và các hỗ trợ khác sẽ được dành riêng cho cơ quan ngư nghiệp, giám sát hàng hải và lực lượng phòng vệ bờ biển để thúc đẩy các nỗ lực của Trung Quốc trong mục tiêu trở thành cường quốc hàng hải”, Lưu nhấn mạnh.

 

 

Thái An (theo Zeenews)

 

Angola : Tình trạng chung sống với người Hoa – RFI

12 Th1

Angola : Tình trạng chung sống với người Hoa

Lao động Angola và Trung Quốc trên một công trường xây dựng ở Angola

Lao động Angola và Trung Quốc trên một công trường xây dựng ở Angola

(Courrier international)

Tại Angola, tình trạng chung sống giữa người dân nước này và người Hoa rất phức tạp. Có mặt tại nhiều nước châu Phi, đặc biệt là tại Angola, vào khoảng 200 000 người, cộng đồng Hoa kiều góp phần vào công cuộc tái thiết Angola, nhưng giờ đây, sự có mặt của họ đang gây tranh cãi trong xã hội nước này. Người Angola phàn nàn về chất lượng các công trình xây dựng, họ lo sợ người Hoa khống chế và khai thác các nguồn tài nguyên quốc gia, trong khi đó, cộng đồng người Hoa sống co cụm, không hội nhập, v.v.

 

Vậy hai cộng đồng, Hoa kiều và Angola chung sống với nhau ra sao ? Sau đây là phóng sự của thông tín viên RFI Estelle Maussion, tại một vùng ngoại ô thủ đô Luanda.

« Angola, rất tốt », đó là câu trả lời xã giao, cửa miệng của người Hoa, khi được hỏi về đất nước Angola và họ chỉ nói có vậy. Thế nhưng, đối với những Hoa kiều sinh sống tại Angola, hiểu tiếng Bồ Đào Nha và chấp nhập nói chuyện một cách cởi mở, thì họ sẽ có những nhận xét khác về người dân nước này.

Liu, 35 tuổi, tới Luanda cách nay 2 năm và hiện làm việc trong một nhà máy sản xuất xi măng ở Viana, ngoại ô thủ đô Angola. Lưu sống độc thân, có máy tính và internet để liên lạc với gia đình ở Trung Quốc. Anh làm việc rất nhiều, không có thời gian để đi du lịch, hoặc đi tắm biển. Còn Lu, một đồng nghiệp của Lưu, cũng sống và làm việc tương tự và nhưng có một cái nhìn phê phán hơn đối với người dân Angola. Anh nói:

« Người Angola không chăm làm, họ uống nhiều bia nhưng làm ít. Nếu muốn làm việc thì không nên uống rượu. Người Trung Quốc không uống rượu bia mà chỉ uống nước hoặc nước ngọt và làm việc cật lực ».

Cho dù mở của hàng buôn bán nhỏ hay làm việc trong các tập đoàn xây dựng lớn, sống trên công trường hoặc trong các khu nhà ở tạm gần đó, người Hoa chỉ có một mong muốn : Họ tới đây làm việc để kiếm tiền, qua việc tham gia tái thiết. Lao động Trung Quốc hiện diện khắp nơi, trên các công trường xây dựng đường xá, sân bay, thành phố mới, sân vận động…

Kể từ khi chấm dứt chiến tranh, năm 2002 đến nay, ngày càng có nhiều người Hoa đến nước này. Tháng Tư năm 2012, cơ quan nhập cư Angola ước chừng có khoảng 250 000 người.

Đối với Eduardo, một nhân viên trẻ người Angola, cũng làm việc ở nhà máy xi măng Viana, thì sự hiện diện của người Hoa như con dao hai lưỡi. Anh cho biết :

« Người Angola không tuyển dụng nhân công, còn người Trung Quốc thì lại tuyển dụng. Do vậy, dễ tìm được việc khi chấp nhận làm việc cho người Trung Quốc. Sự hiện diện của người Trung Quốc giúp cho chúng tôi nhiều, nhưng đồng thời cũng gây ra những việc không hay. Ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng của tôi, người Trung Quốc làm nhiều việc không tốt. Tôi là thợ xây, nhưng họ chỉ tuyển dụng tôi như là nhân viên khuân vác. Như vậy, một mặt, họ giúp chúng tôi có việc làm, nhưng mặt khác, họ cũng làm cho chúng tôi bị thiệt thòi ».

Những người Angola khác thì chỉ trích mạnh mẽ hơn. Họ tố cáo người Hoa làm tăng thất nghiệp, cướp phá tài nguyên quốc gia, xây dựng các công trình có chất lượng kém. Thậm chí, UNITA, đảng đối lập chính tại Angola còn cáo buộc người Hoa sử dụng lao động trẻ em và tiến hành trưng dụng đất đai bất hợp pháp.

Mặc dù không có xung đột giữa hai cộng đồng, nhưng rất hiếm có những cặp vợ chồng Hoa -Angola. Có thể nói, quan hệ Trung Quốc – Angola mang tính thực dụng. Nhiều người Angola không ưa gì người Hoa, nhưng vẫn sang tận Trung Quốc để mua hàng mang về buôn bán tại Angola.

Nguy và Cơ – Alan Phan

12 Th1

Nguy và Cơ

January 11, 2013 By 58 Comments

BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ SÁU 11/1/2013

Một lập luận tôi nghe khá thường xuyên trong những lúc trà dư tửu hậu gần đây. Đó là tình hình suy thoái, nguy hiểm của chúng ta chứa nhiều “cơ hội tiềm năng” cho những doanh nghiệp biết nắm bắt và thích ứng. Thậm chí, một vài chuyên gia còn viết bài về “cơ may” của Việt Nam trong cơn khủng hoảng này.

Ai cũng đều đưa ra một minh chứng là từ ngàn xưa, chữ Trung Quốc đã ghi rõ “cơ” nằm giữa “nguy”. Những đầu óc đình đám nhất của chúng ta luôn giả định là các tổ tiên Tàu đã nói thế thì đây là chân lý rồi. Phận con cái phải nghe theo thôi. Thậm chí, một đại học giả còn nhắc chúng ta phải mang ơn mẫu quốc về cơm áo cũng như văn hóa đến đời đời con cháu sau này.

Ai cũng công nhận đi tìm “cơ” giữa “nguy” là một thái độ tich cực và sáng tạo. Hành động thể hiện một tư duy dựa trên niềm tin của tuổi trẻ, bất chấp những thất vọng của tình thế.

Tuy nhiên, khi sự lạc quan trở nên mù lòa và mất đi logic hay khoa học, “cơ” trong “nguy” trở thành một trò tuyên truyền dựng lên bởi các chánh trị gia để đa số người dân quên đi một thực tế khá bẽ bàng. Không có “cơ” nào cho một nền kinh tế mà phí quản lý cao hơn 42% GDP (mỗi đơn vị phải chi ra 42 xu mỗi đồng cho giá thành, chưa tính đến cac phí tổn sản xuất hay tài chánh khác). Không có “cơ” nào cho một hệ thống tài chánh mà 63% đầu tư chạy vào bong bong bất động sản và nguy cơ nợ xấu có thể vượt qua 38% GDP. Không có “cơ” nào cho một cơ chế mà 68% đầu tư bị các doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh theo lối kinh doanh OPM.

Bao giờ thì chúng ta hiểu ra rằng “cơ” đã đi mất từ lâu. Chỉ còn “nguy” và “nguy”.

Alan Phan

Phóng viên không biên giới chứng minh sự vô tội của blogger Paulus Lê Sơn – RFI

12 Th1

Phóng viên không biên giới chứng minh sự vô tội của blogger Paulus Lê Sơn

Paulus Le Son tại khóa huấn luyện về blog do Phóng viên không biên giới tổ chức, Bangkok, Thái Lan, 07/2011

Paulus Le Son tại khóa huấn luyện về blog do Phóng viên không biên giới tổ chức, Bangkok, Thái Lan, 07/2011

(SRF)
 

Trong một thông cáo công bố ngày hôm nay, 11/01/2013, tổ chức Phóng viên không biên giới, bày tỏ sự phẫn nộ về bản án đối với 14 nhà hoạt động Công giáo và Tin Lành trong phiên xử sơ thẩm hai ngày 08/01 và 09/2013 tại thành phố Vinh. Đồng thời, tổ chức này tuyên bố có thể chứng minh sự vô tội của blogger Paulus Lê Sơn, một trong ba người lãnh án nặng nhất.

 

Trong phiên xử sơ thẩm vừa qua, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An đã kết án tù 13 trong số 14 người bị đem ra xét xử với tội danh « hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân », do bị cáo buộc là đảng viên đảng Việt Tân, mà Việt Nam xem là một tổ chức khủng bố. Ba người lãnh án nặng nhất là Lê Văn Sơn, tức Paulus Lê Sơn, Hồ Đức Hòa và Đặng Xuân Diệu, mỗi người bị tuyên án 13 năm tù giam và 5 năm quản chế. Những người còn lại lãnh án từ 3 đến 8 năm tù giam và từ 2 đến 4 năm quản chế. Chỉ có một người được hưởng án treo.

Riêng về blogger Paulus Lê Sơn, Phóng viên không biên giới tuyên bố có thể chứng minh rằng blogger này không hề tham gia một hoạt động nào của Việt Tân, khi ở Bangkok trong thời gian từ 25 đến 30/11/2011, đơn giản chỉ là vì lúc đó, Lê Sơn dự một khóa huấn luyện do Phóng viên không biên giới tổ chức cho các blogger Đông Nam Á. Đối với Phóng viên không biên giới, rõ ràng là chính quyền Việt Nam đã sử dụng những « chứng cớ ngụy tạo » để kết án những blogger chỉ trích họ. Tổ chức này cực lực phản đối việc kết án Paulus Lê Sơn và bảy blogger khác và yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho họ. 

Các tổ chức nhân quyền quốc tế khác cũng đã đồng loạt chỉ trích Việt Nam về phiên xử ở Vinh.

Trong bản thông cáo đề ngày 09/01 ngay sau khi phiên xử sơ thẩm ở Nghệ An kết thúc, tổ chức Human Rights Watch ( HRW ) cho rằng, việc kết án tù 14 nhà hoạt động nói trên đánh dấu « một sự leo thang rõ rệt trong chiến dịch trấn áp những tiếng nói chỉ trích chính quyền. » Theo giám đốc châu Á của HRW, Brad Adams, « thay vì cầm tù những người chỉ trích, chính phủ Việt Nam nên tôn vinh họ vì những nỗ lực giải quyết vô số vấn đề của đất nước, mà bản thân chính quyền cũng đã nhìn ra ». 

HRW yêu cầu chính quyền Hà Nội trả tự do cho những người bị kết án ở Nghệ An, cũng như hủy bỏ những cáo buộc đối với luật sư, blogger Lê Quốc Quân, bị bắt giữ cuối tháng 12 vừa qua ở Hà Nội. 

Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các nhà hoạt động vừa bị kết án. Ông Rupert Abbott, nhà nghiên cứu về Việt Nam của Ân xá Quốc tế, tuyên bố : « Xuyên tạc các hành vi của các nhà hoạt động như một cố gắng lật đổ chính phủ là hoàn toàn vô căn cứ. Họ đã bị cầm tù chỉ vì đã thực hiện quyền tự do ngôn luận ». 

Trong một thông cáo đề ngày 09/01, Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo CPJ ghi nhận là trong phiên xử 14 nhà hoạt động Công giáo và Tin Lành, có ít nhất 5 blogger độc lập đã bị kết án tù nặng nề, đó là Palus Lê Sơn, Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Duyệt và Nguyễn Xuân Anh. Họ là những cộng tác viên của trang mạng Truyền thông Chúa Cứu Thế, chuyên thông tin về các vụ đàn áp người Công giáo, các vụ tranh chấp đất đai giữa chính quyền với người dân và các vấn đề xã hội khác ở Việt Nam. Tổ chức CPJ lên án hành động này và kêu gọi chính quyền Việt Nam hủy bỏ những cáo buộc đối với họ trong phiên xử phúc thẩm và trả tự do cho các blogger nói trên. 

Về phản ứng của các nước Tây phương, ngay sau khi kết thúc phiên xử ngày 09/01, đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã ra thông cáo bày tỏ mối quan ngại của họ. Bản thông cáo cho rằng « những bản án này, cùng với việc bắt giữ luật sư Lê Quốc Quân ngày 27/12/2012, và việc y án tù đối với các blogger Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Phong Tần, và Phan Thanh Hải cho thấy phần nào xu hướng đáng lo ngại về nhân quyền ở Việt Nam ».

Bản thông cáo của sứ quán Hoa Kỳ xác định : « Hành xử của chính quyền đối với những cá nhân này tỏ ra không phù hợp với các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị, cũng như các điều khoản của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền liên quan đến tự do ngôn luận và xét xử theo đúng trình tự. Chúng tôi kêu gọi chính phủ trả tự do cho các cá nhân này và tất cả các tù nhân lương tâm khác ngay lập tức ».

%d bloggers like this: