Lưu trữ | 8:42 Chiều

Nữ nhà văn đăng ký kết hôn 3 lần vẫn không có chồng – ANTĐ

13 Th1

Nữ nhà văn đăng ký kết hôn 3 lần vẫn không có chồng

Chủ nhật 13/01/2013 07:33

ANTĐ – Ở đời có quá nhiều người bất hạnh, nhưng bất hạnh như nữ nhà văn Trần Thị Nhật Tân ở thành phố Nam Định thì tôi chưa thấy bao giờ. Một ngày đầu đông, tôi đến thăm, bà khoe mình vừa hoàn thành tiểu thuyết mới. Trong khu vườn mộc mạc, những câu chuyện bà kể khiến người nghe phải cười trong nước mắt. Dí dỏm, vui vẻ trong nói chuyện, nhiệt tình với bạn bè, đó là điều dễ nhận thấy ở bà. Ít ai biết, bà đã từng ba lần đăng ký kết hôn, nhưng vẫn chưa có được một tấm chồng cho mình.

Trần Thị Nhật Tân khi còn là cô giáo và bây giờ

 

Một đời hồng nhan bạc phận

Người đàn bà ngồi trước mặt tôi còn khá mặn mà, dù đã ở tuổi 60. Bà nói, như thế cũng gần hết cuộc đời rồi, nhưng tổng kết lại cuộc đời bà chỉ thấy nỗi cay đắng. Những nỗi cay đắng ấy vẫn cứ trào lên trong mỗi giấc mơ và bà vẫn lấy làm tư liệu gửi gắm vào trong tiểu thuyết. Cay đắng đấy, nhưng giờ bà không tìm cách chữa trị những cay đắng đó. Bà tìm cuộc sống thanh thản trong con chữ, trong những bài thơ thiếu nhi đẫm cảm xúc, trong trẻo và vô tư. Bà tìm niềm vui bằng hoa trái trong vườn nhà, với một con mèo và một con chó nhỏ. Trong ngôi nhà ba gian của bà, chỉ có hai chiếc giường một, bộ bàn ghế cũ kỹ, mấy chồng sách báo. Không có ti vi, không cát-xét. Đó là một cách sống, mà có thể rất ít người có khả năng chịu đựng, nhưng nhà văn Trần Thị Nhật Tân vẫn sống được. Khi tôi vào nhà bà, thì có na, có ổi và nước trà ướp hoa cúc tiếp đãi, nhưng quan trọng hơn là bà tiếp đãi bằng những câu chuyện dài đằng đẵng của đời mình, vừa cay đắng vừa có phần hài hước.

Trần Thị Nhật Tân sinh năm 1949 tại thành phố Nam Định, là con thứ sáu trong một gia đình yêu nước. Người cha hoạt động Việt Minh từ rất sớm, từng bị thực dân Pháp bắt và tù đày. Người mẹ phải một mình buôn bán, bươn trải nuôi đàn con. Vì cuộc sống quá vất vả, nên bà cụ lâm bệnh và mất sớm. Mới mười tuổi, cô bé Nhật Tân đã mồ côi mẹ. Hai năm sau, người cha của cô cũng đau ốm mà qua đời. Để có cái ăn, cô phải tự đi mò cua bắt ốc kiếm sống qua ngày… Tuy đói khổ và phải sống tự lập từ bé, nhưng Nhật Tân lại học rất giỏi. Đầu năm 1961, cô được trường Phổ thông cơ sở Liễu Đề cử lên thành phố Nam Định tham dự kỳ thi học sinh giỏi môn toán lý toàn tỉnh và đã đoạt giải Nhất. 

Nhưng cuộc đời của một nữ sinh học giỏi ấy lại không hề suôn sẻ. Trải qua bao khó nhọc, ganh ghét, đố kỵ của cuộc đời, sẵn có máu văn chương trong người, Nhật Tân quyết viết tiểu thuyết. Vì chỉ có tiểu thuyết mới giúp cô nói được những điều mà cô đang bức xúc. Thế là, khi đêm đến, cô gái nhỏ nhắn lại trằn trọc “cày” lên trang giấy những tâm sự, những cảm xúc và cả nỗi bất bình được chắt ra từ cuộc đời của mình. Năm 1982, Nhật Tân xin đi học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 2, ba năm sau cầm bằng tốt nghiệp, quay trở lại nơi mình ra đi – ngôi trường cũ mà bà đã từng làm giáo viên. Nhưng bà bị từ chối một cách không thương tiếc. Ê chề trong nỗi thất vọng, Nhật Tân phải bước ra khỏi cơ quan cũ. Không có chỗ ở, không việc làm Nhật Tân phải ra ở vỉa hè, sống bằng nghề rửa bát thuê, kéo xe cải tiến, mò cua bắt ốc…

“Đăng ký ba pha chưa có một chồng”

Một cô gái vừa tốt nghiệp đại học, không công việc, không nhà cửa. Trần Thị Nhật Tân đã sống ở vỉa hè suốt từ năm 1985 đến 1994. Những người sống xung quanh đều là phường nghiện hút, trộm cắp. Để tồn tại được ở nơi vỉa hè của chợ búa, công viên, bà đã phải rất khéo léo bắt thân với họ. Ban ngày, người phụ nữ nhỏ bé ấy làm việc cật lực để có cái ăn, đêm về lại làm thơ, viết truyện. Lúc này, tiểu thuyết Dòng xoáy đã được chỉnh lại và cần được in. Nhật Tân đã nghĩ ra cách là nấu phở bán để kiếm tiền in tiểu thuyết. Chưa đầy một năm thuê cửa hàng bán phở, Nhật Tân đã kiếm được số tiền đủ để in tiểu thuyết. Sau đó, bà trả cửa hàng, lại ra ở vỉa hè để viết Dòng xoáy tập 2. Bà bảo, bán phở kiếm được tiền đấy, nhưng phải hy sinh, vì dính đến tiền và mê tiền là không viết được tiểu thuyết nữa. Mãi cho đến năm 1994, sau quãng thời gian dài làm lụng, tích cóp, Nhật Tân cũng mua được một chốn để che mưa che nắng.

Nghe giọng bà, không có dấu hiệu nào của những ngày tháng cơ cực, nhưng khuôn mặt bà hằn lên nhiều nỗi lo toan. Nghe đến đoạn Nhật Tân phải ra ở vỉa hè, tôi thấy được sự quyết liệt của người phụ nữ viết văn này. Tôi hỏi bà rằng, vậy người thân của bà chẳng còn ai hay sao? Bà bảo, bà là con út, hai người anh trai đã hy sinh trong chiến tranh, còn mấy người chị mỗi người mỗi nơi, cũng chẳng ai quan tâm đến bà. “Vậy còn chồng con?” – Tôi thắc mắc. Bà nén một tiếng thở dài: “Từ năm 1970, Công đoàn nhà trường có giới thiệu một cán bộ cho tôi, chúng tôi ưng nhau và đi đăng ký. Nhưng ông này đã tảo hôn với một người vợ ở quê. Chuẩn bị đến ngày tổ chức, cô vợ ở quê ra gặp, cô ấy xin tôi. Tôi không nỡ nhìn thấy cô gái trẻ ấy khóc, đành thôi. Người thứ hai là bộ đội xuất ngũ ở Nam Định. Ngày tổ chức đám cưới lại không có chú rể. Chúng tôi đã đặt cơm hàng rồi, nhưng ngày cưới không thấy chú rể đâu. Bà mẹ chồng từ quê lên nói: Tao bán nó rồi, bán 20 triệu. Mày có 20 triệu thì lấy được nó. Tôi không có tiền, cuối cùng đám cưới không thành. Người ta bảo tôi bạc phận”.

Sau lần thứ hai đăng ký kết hôn mà không lấy được chồng, Nhật Tân gửi tâm sự vào thơ: “Hai lần đăng ký chẳng được làm cô dâu/ Càng nghĩ trong tim càng nhói đau/ Đời sao bạc thế tàn ác thế/ Người tốt phải mang nỗi khổ đau”.

Nhật Tân tâm sự rằng, thực ra ngày đó người ta lại đồn bà bị pê đê, nên đăng ký kết hôn rồi người ta vẫn bỏ, không cưới. Bà không biết làm sao để thanh minh được. Người thứ ba đến với bà là một sĩ quan quân đội. “Ông ấy biết tôi không phải là người như vậy, nhưng không vượt qua được dư luận. Cái ngày tôi viết tiểu thuyết Dòng xoáy, bị thêu dệt và bị gọi lên Công an, ngành giáo dục tỉnh căm thù tôi. Một thời gian ông ấy đi lấy người khác, cũng là giáo viên”.

Sau này, khi đã là một người 60 tuổi, một chuyện khá hài hước đã xảy đến với Trần Thị Nhật Tân. Đó là, một cụ ông chống gậy đến gặp bà, hỏi: “Đây có phải nhà thơ Nhật Tân không?”. Nhật Tân nói phải. Ông ấy hỏi: “Có lấy tôi không?” Nhật Tân ngỡ ngàng hỏi lại: “Lấy ông làm gì?”. Cụ ông chống gậy vồ vập: “Cô ơi, cô hay giúp người, cô lấy tôi đi. Lấy tôi đi để chăm sóc tôi với”. Nhật Tân hỏi: “Thế vợ con ông đâu?”. Cụ ông nói vợ mình đã chết, còn các con không đứa nào nuôi nấng. Nhật Tân buồn bã trong lòng và cười ra nước mắt: “Trời ơi, tôi bị bệnh tai biến, làm sao nuôi được ông? Sao thời tôi 20 ông không hỏi? Bây giờ ông già ông chống gậy đến hỏi tôi có lấy ông không?”.

Vay thơ để đi thực tế sáng tác

Là người ham viết và ham đi, năm 1988, Trần Thị Nhật Tân muốn đi thực tế để sáng tác nhưng không có tiền. Vay tiền không ai cho, cuối cùng ông Đỗ Đình Thọ là cán bộ của Sở Văn hóa – thông tin tỉnh lúc bấy giờ cho vay 100 cuốn tuyển tập thơ Nguyễn Bính và nói: “Tôi cho bà vay 100 cuốn này, bà đi bán dọc đường và lấy số tiền đó làm lộ phí”. Không chần chừ, Nhật Tân nhận tuyển tập thơ và lên đường. Nhưng độ đó, tuyển thơ in bằng giấy vỏ bao xi măng, không ai mua. Vào đến Vũng Tầu mà không biết phải tiếp tục đi như thế nào vì không còn tiền ăn, tiền tàu xe. Cũng từ đây, Nhật Tân đã gặp may mắn hết lần này đến lần khác vì nhiều người đã biết tiếng bà trên báo. Hơn một tháng trời ở Côn Đảo và đảo Bạch Hổ, Nhật Tân sống nhờ vào sự cưu mang của bộ đội và những người mến mộ thơ bà.

Trong suốt hành trình đó, Nhật Tân say sưa nói chuyện và đọc thơ về Nguyễn Bính cho bộ đội nghe và tặng dần hết 100 cuốn tuyển thơ vay được. Sau đó trở về vỉa hè, Nhật Tân viết cảm xúc hơn, nhiều vốn sống và triết lý hơn. Dòng xoáy tập 2 cũng được ra đời mấy năm sau đó và được tái bản nhiều lần. Tiểu thuyết Dòng xoáy, một thời gian gây xôn xao dư luận, cho đến nay, nó vẫn đóng đinh vào cuộc đời bà là chuyện chống tiêu cực trong ngành giáo dục. Giờ bà vẫn cần mẫn viết trong ngôi nhà nhiều gió, giữa khu vườn nhiều cây, ngòi bút bà cất lên tiếng nói cho những thân phận nghèo, những người bất hạnh. Thời gian trong ngày, bà dành để viết văn, dạy văn cho những đứa trẻ hàng xóm và ngẫm nghĩ về những ngày đã qua. Biết trong người mình có bệnh, nữ nhà văn Trần Thị Nhật Tân đã lo xong chuyện hậu sự cho mình. Ngôi nhà và khu vườn bà đang sống, bà cũng đã làm di chúc dành cho trẻ em nghèo, nếu một mai bà mất đi.

Trong suốt những ngày về Hà Nội, tôi vẫn nghĩ ở cuộc đời này, bà là một trong số những nhà văn cô đơn nhất, một người phụ nữ cá tính, quyết liệt và có phần thích phiêu lưu. Bà vẫn mơ ước viết được một cuốn tiểu thuyết gói gém được tất cả những trăn trở trong một hành trình sống của bà. 

 

Diên Khánh

 

TRÂU MURA, ANH HÙNG HỒ GIÁO VÀ ÔNG BẠN NHẬT BẢN – Phút nói thật – trankytrung

13 Th1

TRÂU MURA, ANH HÙNG HỒ GIÁO VÀ ÔNG BẠN NHẬT BẢN – Phút nói thật

Anh hùng Hồ Giáo và đàn trâu Mura ở Nghĩa Hành ( Quảng Ngãi)

 

TRÂU MURA, ANH HÙNG HỒ GIÁO VÀ ÔNG BẠN NHẬT BẢN – Phút nói thật
 
 
 
              Chân dung anh hùng Hồ Giáo – Ảnh Phạm Đương
 
            Ông bạn Nhật Bản có tên như tên một hãng xe máy nổi tiếng của đất mặt trời mọc: Suzuki, qua một người bạn thân, hỏi tôi: “ Ông có biết ông Hồ Giáo không ?”. Tôi hỏi lại : “ Hồ Giáo nào ?”. “ Ông Hồ Giáo nuôi trâu Mura, ông không biết sao?”. “ Làm sao ông biết ông Hồ Giáo nuôi trâu Mura?”. “ Bên Nhật Bản, báo chí giới thiệu về ông Hồ Giáo nuôi thành công trâu Mura của Ấn Độ, mà việc này ở Nhật rất khó. Tôi muốn gặp ông ấy…”.
Thế là tên tuổi của anh hùng Hồ Giáo, không phải một lần anh hùng, mà hai lần anh hùng vượt qua biên giới Việt Nam đến với bạn bè thế giới.
Nhưng ông bạn Nhật Bản tìm hiểu cách nuôi trâu Mura ngoài biên giới Ấn Độ để làm gì? Tôi muốn biết.
Té ra con trâu Mura nếu bán ở Nhật Bản thì giá rất đắt, vì rất khó nuôi, có thể vượt cả giá một chiếc xe ô tô sang trọng vì nhiều nhẽ:
Chất lượng của thịt trâu Mura khỏi nói, đang vượt lên trên nhiều loại thịt khác, đặc biệt dùng rất tốt cho người bị bệnh cao huyết áp, kiêng chất béo…
Riêng sữa của trâu Mura là đứng đầu trong các loại sữa động vật, mà có người còn ví bổ gần bằng sữa mẹ.
Còn trọng lượng của trâu Mura, có lẽ chỉ đứng sau voi, nuôi được một con trâu Mura, lợi hơn nuôi ba, bốn con bò, thức ăn không phải khó, y như nuôi trâu nhà…
Nhưng có một điều còn ghê gớm hơn, có lẽ ít người trong nước ta biết, là nếu tách được sữa của trâu Mura, để tạo nên bơ, thì đây là loại bơ đặc biệt, giá trị dinh dưỡng cực kỳ cao. Ở Nhật Bản giá bán một kg của loại bơ này đắt không thể tưởng tượng nổi. “ Khi bơ được tách ra khỏi sữa trâu Mura để làm bánh thì… chỉ có đại gia mới được nếm.” Ông bạn người Nhật Bản nói đùa, nghe có ghê không ?
Nên, nuôi được trâu Mura trong điều kiện bình thường như ở Việt Nam là một việc “ phi thường”, ông bạn Nhật Bản muốn gặp anh hùng Hồ Giáo cũng vì một lẽ như vậy.
Tôi biết tên anh hùng Hồ Giáo từ hồi còn đi học phổ thông, trước năm 1970. Hồi đó, ngày nào đài chẳng hay vang giọng ca của cố nghệ sỹ nhân dân Quốc Hương hát bài hát “ Bài ca anh Hồ Giáo”, sáng tác của Nhạc sỹ Nhật Lai. Rồi một lần ở Đan Phượng ( Hà tây cũ), chúng tôi, những học sinh phổ thông đi cùng một số thầy cô lên thăm anh hùng Hồ Giáo ở nông trường Ba Vì, khi ông vừa được phong anh hùng lần đầu (1967).
Chuyện đó cũng lâu rồi, hơn bốn mươi năm, nhưng trong tôi vẫn in đậm hình ảnh của ông. Nhẹ nhàng, giản dị, ít nói, nhìn anh hùng Hồ Giáo, rõ hình ảnh của một người sống chân thật, không đua chen, sống chết với nghề.
Khi ông bạn Nhật Bản đặt vấn đề muốn gặp anh hùng Hồ Giáo, tôi thấy đây là ý kiến hay, liền nhờ nhà thơ Phạm Đương giúp. Vì tôi biết nhà thơ Phạm Đương, cũng như nhà thơ Thanh Thảo gần như là người nhà của ông ở Quảng Ngãi. Nhà thơ Phạm Đương sốt sắng nhận lời và dẫn tôi, người phiên dịch cùng ông bạn người Nhật Bản đến thăm anh hùng Hồ Giáo.
Ông bạn Nhật Bản ngạc nhiên khi thấy ngôi nhà hai tầng của anh hùng Hồ Giáo, ẩn trong một kiệt nhỏ của thành phố Quảng Ngãi, chưa hoàn thiện xong cầu thang, chủ nhân ngôi nhà còn nợ tiền chưa trả được, ông bạn Nhật Bản nêu sự thắc mắc: “ Bên tôi mà có một ông như ông Hồ Giáo dễ được Nhật Hoàng nuôi. Sao bên các ông lại để ông ấy sống như thế này? ”. Ông bạn Nhật Bản này đến lạ, ông phải nhớ đây là Việt Nam, chứ không phải là Nhật Bản mà mang ra so sánh!!! Tôi không muốn giải thích. Ông bạn Nhật Bản muốn tìm hiểu về kỹ thuật nuôi trâu Mura trong điều kiện tự nhiên, mà bên Nhật, hiện là một vấn đề chưa thể thực hiện được. Giải thích tất dài dòng, mà ông Hồ Giáo lại là người kiệm lời, tốt nhất là cứ ra trại xem ông Hồ Giáo nuôi thế nào ? Ông Hồ Giáo, tuổi cao sức khoẻ kém không đi được, nhà thơ Phạm Đương cho biết, có người cháu của ông, tốt nghiệp trung cấp nông nghiệp đang làm thay ông, công việc này. Thế là chúng tôi đi, tất nhiên vẫn con đường dài tám kilômét mà hàng ngày ông Hồ Giáo đi bộ đến trại nuôi trâu Mura, khác chăng, chúng tôi đi ô tô. Trên đường đi, tôi thấy nét mặt của ông bạn Nhật Bản lộ vẻ hồi hộp, vì như ông nói với tôi và nhà thơ Phạm Đương, đây là lần đầu tiên ông được nhìn tận mắt con trâu Mura, chứ ở bên Nhật Bản, nếu có nuôi trâu Mura thì nuôi trong một môi trường đặc biệt, rất ít người có thể trực tiếp thấy. Còn ở Việt Nam, đựoc xem trực tiếp trâu Mura thế này, đối với ông bạn Nhật Bản, quả là một diễm phúc rồi ông bạn Nhật Bản háo hức chuẩn bị máy ảnh, camêra… Với tôi, tôi cũng ở gần tâm trạng của ông bạn Nhật Bản kia vì đây cũng là lần đầu tiên được trực tiếp nhìn thấy con trâu nổi tiếng của Ấn Độ, trứơc đây chỉ toàn xem trên ảnh. Tôi hỏi nhà thơ Phạm Đương : “ Chắc trang trại của ông Hồ Giáo to lắm nhỉ ?”. Nhà thơ Phạm Đương trả lời thủng thẳng: “ Thì ông cứ đến tận nơi thì biết!”. “ Trang trại còn nhiều trâu Mura không, ông?”. Tôi lại hỏi nhà thơ Phạm Đương. Nhà thơ Phạm Đương, hình như không muốn trả lời câu hỏi của tôi hay sao ấy, lại thở dài buông một câu mà tôi muốn hiểu sao thì hiểu: “ Thì tý nữa ông cứ đến đấy mà đếm!”.
Ô tô dừng ngoài đường cái, mấy chúng tôi phải đi bộ vào, thấy một ngôi nhà lợp ngói, ngói cũng thủng lỗ chỗ, bên ngoài cái mấy đụn rơm ẩm mốc, một mùi đặc trưng của phân, nước tiểu trâu bài tiết xộc vào mũi. Mấy con dê gầy trụi lông, đít dính đầy phân lỏng, vội kêu “be…be…”, bám theo chúng chúng tôi, đòi ăn. Điều đó đối với chúng tôi không quan trọng, quan trọng là xem trang trại nuôi trâu Mura của anh hùng Hồ Giáo kia. Trang trại ấy ở đâu? Chúng tôi nhìn quanh tìm kiếm rồi hỏi nhà thơ Phạm Đương. Nhà thơ Phạm Đương chỉ ngôi nhà ngói thủng lỗ chỗ đó và nói: “Đó “ Trang trại” nuôi trâu Mura của ông Hồ Giáo đấy !”. Ôi, nếu gọi cho đúng, thì đây là một cái chuồng trâu, chứ trang trại gì!
Nhà thơ cứ đùa.
Bên trong của ngôi nhà, chia thành hai ngăn, mỗi ngăn, lại chia ra nhiều lô, ngăn cách bằng mấy gióng gỗ. Mỗi lô nhốt một con trâu Mura. Con trâu Mura đây rồi, to thật, tôi chưa bao giờ thấy một con trâu to như thế. Cặp sừng cong vút, ngạo nghễ. Da đen, láng, dầy…Duy có đôi mắt của con trâu Mura này lạ, nhìn chúng tôi ngơ ngác, cầu khẩn cứ thấy tội tội thế nào ấy. Cả chuồng có tám con trâu Mura: “ Sao lại còn ít thế này? Hay còn ở đâu nữa.”. như đoán được suy nghĩ của tôi, nhà thơ Phạm Đương giải thích: “ Chỉ còn ngần ấy thôi, làm gì có nhiều trâu mà ông hỏi trang trại. Duy trì được thế này cũng là giỏi, không phải bác Hồ Giáo, người khác thì “toi” từ lâu rồi.”.
Anh hùng Hồ Giáo hình như ông sinh ra để làm nghề này, nghề chăm sóc trâu, bò. Cho làm giám đốc, ông không nhận, như một lần ông nói, trình độ tôi thế, chỉ biết chăm sóc trâu, bò. Trâu, bò là “ máu thịt” của ông, không thể dứt ra được. Tôi biết ngay từ hồi ông còn ở nông trường Ba Vì, cả ngày, thậm chí trong giấc ngủ, ông vẫn nghĩ về những con vật thân thương này. Ngày nhận mấy con trâu Mura do các bạn Ấn Độ tặng, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nghĩ ngay đến ông Hồ Giáo, và giao ngay cho ông chăm sóc, nuôi bẵm, nhân đàn để trong một tương lai gần, sữa, thịt trâu Mura sẽ dần dần thay thế sữa bò, thể trọng người Việt Nam sẽ tăng lên, trí tuệ cũng tăng lên, tầm vóc kinh tế cũng tăng lên…
Biết đâu trong những nhân tố tích cực làm nên điều đó, có trâu Mura của anh hùng Hồ Giáo góp phần.
Than ôi! Từ mơ ước rất đẹp đó đến thực hiện, bao nhiêu dự án lớn còn gấp mấy ngàn lần con trâu Mura kia, trên đất Việt Nam ta, đâu có thực hiện được, huống hồ tính chuyện nhân đàn trâu Mura bắt đầu từ sáu con trâu Mura do các bạn Ấn Độ tặng.
Anh hùng Hồ Giáo, nói thế này không sai. dâng hết cả sức khoẻ, tâm trí, nghị lực của quãng đời còn lại, quyết tâm thực hiện lời căn dặn của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhưng lực bất tòng tâm, ông đành buông tay đau đớn chấp nhận thất bại.
Gần như nuôi trâu Mura không có trong những chương trình nghị sự lớn của nhà nước, thấp hơn là cấp tỉnh. Tôi đồ rằng, hiện nay hỏi trâu Mura là gì? Sẽ có nhiều vị lãnh đạo cấp cao ngơ ngác còn hơn “ con gì… đội nón”. Thậm chí, tôi lại nghĩ, nếu không phải là quà của các bạn Ấn Độ tặng, do trực tiếp cố thủ tướng Phạm Văn Đồng mang về, thì có khi, trâu Mura chỉ còn hiện diện trong viện bảo tàng dưới hình thức “ thú nhồi bông”. Cũng may, dù còn chút hơi tàn nhưng với tấm lòng thơm thảo của anh hùng Hồ Giáo quyết giữ tám con trâu Mura này. Vì ông muốn giữ lời hứa với cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, người mà ông coi như một người bác, người cha ruột thịt. Điều nữa, ông muốn chứng minh, nếu như có một chính sách tốt, một sự quan tâm chiến lược cấp nhà nước, một đội ngũ cán bộ lãnh đạo biết lắng nghe, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì những con trâu Mura này vẫn có thể phát triển thành đàn, nhân rộng ra cả nước. Điều đó, với hiện tại không thể trở thành hiện thực…chỉ một ví dụ nhỏ, ông Hồ Giáo rất muốn những con nghé Mura được đẻ ra, cho sống chung với nghé trong nước, để các hộ dân nuôi. Khi lớn lên, cho dù trọng lượng của hai loại trâu này khác nhau ( trọng lượng trâu Mura đạt tuổi trưởng thành nặng gấp ba, bốn lần trâu trong nước), quen cách sinh hoạt từ nhỏ, nên chúng dễ dàng giao phối với nhau. Còn không phải như thế, dẫn con trâu đực Mura trưởng thành to bằng bốn lần “ bố con bò mộng” giao phối với con trâu cái giống ta, khác nào lấy một quả núi “ đè” hòn gạch, không thể thành công!
Việc đơn giản, anh hùng Hồ Giáo đề xuất, nhưng không có cấp lãnh đạo nào quan tâm, ủng hộ thực hiện.
Chuyện thật ở nước ta kể, mà nghe như chuyện đùa!
Thôi, anh hùng Hồ Giáo “vác” cái danh anh hùng lần thứ hai ( ít người có, mà đây là danh thực, chứ không phải mua bằng tiền) cùng mấy con trâu Mura về lại Quảng Ngãi, nơi sinh thành để cố gắng một lần nữa… nhân giống.
Nhân giống thế nào được, ở Quảng Ngãi còn bao nhiêu dự án lớn như nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án thuỷ điện, đào tạo tay nghề cao…đang khát tiền, dẫu nhân giống trâu Mura chỉ cần một khoảng tiền bằng “ cái móng tay” so với tiền đổ vào mấy dự án kia, cũng không thể có. Quan trọng hơn, nhân giống trâu Mura, chỉ có dân hưởng lợi, còn các vị quan lớn hưởng gì trong chuyện này??? Khó giải thích lắm. Nên…
Nể anh hùng Hồ Giáo, thương anh hùng Hồ Giáo, cũng phải nói, nhờ có tiếng nói một số văn nghệ sỹ ở Quảng Ngãi, cho con gái anh hùng Hồ Giáo dạy học gần nhà, một sự cố gắng lắm rồi, quan tâm lắm rồi, còn tám con trâu Mura, cứ để anh hùng Hồ Giáo nuôi. Sau này khi anh hùng Hồ Giáo đến “ cùng một địa điểm để trực tiếp thăm cố thủ tướng Phạm Văn Đồng” sẽ tính tiếp.
Ông bạn Nhật Bản nghe thủng câu chuyện, vội nói, bằng giá nào cũng phải giữ mấy con trâu Mura này, rồi ông ấy quay sang tôi, khuyên: “ Hay là ông mua mấy con trâu Mura này, mang ra Đà Nẵng mà nuôi, thuê luôn ông Hồ Giáo ra đó để hướng dẫn cách chăm sóc nhân đàn. Chỉ cần sau vài năm có đàn trâu Mura đông độ vài trăm con. Kế đó ông đề nghị chính quyền xây dựng một nhà máy chế biến sữa trâu Mura. Tiền xây dựng nhà máy này không cao đâu. Sản phẩm sữa hoặc bơ của trâu Mura, một phần tiêu thụ trong nước, một phần xuất khẩu. Ở Nhật Bản chúng tôi hiện nay thị trường đang khát sản phẩm này…”. Ông bạn Nhật Bản còn vẽ ra viễn tưởng huy hoàng: “ Làm tốt việc này, các ông tạo công ăn việc làm cho cả vạn người, giúp cho người dân tiếp thu đựơc công nghệ chế biến tiên tiến, một nguồn ngoại tệ lớn sẽ về với các ông…”.
Nghe ông bạn Nhật Bản nói vậy, không biết nhà thơ Phạm Đương nghĩ gì, vì thấy nhà thơ cứ cười tủm tỉm, còn tôi, tôi hoảng thầm. Mình lấy tiền đâu để mua những tám con trâu Mura? Mà giả sử họ cho mua đi, nuôi ở đâu? Mỗi miếng đất tý tẹo ở gần Bà Nà thuê 50 năm đang nằm trong diện quy hoạch, không thể! Rồi cứ gọi là có đất nuôi trâu Mura kia đi, làm thế nào đưa anh hùng Hồ Giáo ra giúp, cho dù, anh hùng Hồ Giáo đã nói: “ Tôi hơn tám mươi tuổi, sống chẳng được bao lâu, nhưng còn sức tôi sẽ cố gắng giữ tám con trâu Mura này….” Cả tỉnh Quảng Ngãi to như thế, lớn như thế mà không giữ được đàn trâu Mura, không đảm bảo điều kiện tối thiểu để anh hùng Hồ Giáo nhân đàn, huống hồ là cái thằng “tôi” tài hèn, sức mọn.
Lời khuyên của ông bạn Nhật Bản, với tôi dù có thừa nhận mà thấy xấu hổ, là không thể!
Ông bạn Nhật Bản biết được khó khăn của chúng tôi, ông không khuyên nữa mà chăm chú ghi chép cách thức nuôi trâu Mura trong điều kiện tự nhiên, thức ăn mà trâu Mura ở Việt Nam cần dùng,cách chăm sóc, cách bố trí chuồng trại…
Anh hùng Hồ Giáo kể, ông bạn Nhật Bản ghi âm, ghi chép, quay phim chụp ảnh…rất cẩn thận, tỷ mỉ.
Tôi cũng chẳng biết ông bạn Nhật Bản làm việc đó để làm gì!!!
Trước lúc tạm biệt, ông bạn Nhật Bản bắt tay anh hùng Hồ Giáo tỏ lời thán phục: “ Trong điều kiện như thế này mà ông vẫn quyết tâm nuôi trâu Mura, giữ giống. Ông bảo trọng sức khoẻ, hãy cố gắng làm tốt việc này. Tôi kính trọng ông! biết đâu thời gian tới, chính phủ của ông quan tâm đến việc nuôi trâu Mura, có những chính sách thích hợp, để ông có điều kiện cho tám con trâu Mura này phát triển thành đàn. Nhật Bản sẽ có những sản phẩm từ sữa của trâu Mura Việt Nam, lúc đó tôi mời ông sang Nhật Bản để nhân dân Nhật Bản cảm ơn ông…”.
Nhưng, ý định tốt đẹp của ông bạn Nhật Bản, đến thời điểm này không bao giờ trở thành hiện thực nữa. Nhà thơ Phạm Đương cho tôi biết, tám con trâu Mura mà anh hùng Hồ Giáo cố gắng giữ, đã được chính quyền tỉnh Quảng Ngãi quyết định đem bán.
Vì sao chính quyền tỉnh Quảng Ngãi phải bán tám con trâu Mura này, không thấy nhà thơ Phạm Đương giải thích!!!
Tôi lại tự an ủi, ở Việt Nam mình, giờ có cái gì mà họ không bán, kể cả những điều thiêng liêng nhất, miễn là điều đó đảm bảo lợi ích của một nhóm, một tập đoàn…
Tám con trâu Mura đã là cái gì đối với họ.
Nhưng với tôi, thực sự đó là nỗi buồn lớn.
Với anh hùng Hồ Giáo nỗi buồn đó, chắc sẽ còn lớn hơn.
Tôi tin, đến lúc chết, ông vẫn không nhắm được mắt.

Trần Huy Bích – MỘT BÀI THƠ NGỤ Ý THẬT HÀM SÚC CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG – DDTK

13 Th1

Trần Huy Bích – MỘT BÀI THƠ NGỤ Ý THẬT HÀM SÚC CỦA THI SĨ VŨ HOÀNG CHƯƠNG


Trần Huy Bích

Sau khi những người Cộng sản lấy được miền Nam tháng 4 năm 1975, hầu hết văn nghệ sĩ của miền Nam đều bị bắt giam. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị họ bắt ngày 13 tháng 4 năm 1976, đưa vào giam ở khám Chí Hoà. Khi ông bị bệnh gần nguy kịch, họ mới đưa về để chết ở nhà. Năm hôm sau ông qua đời, nhằm ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sàigòn.

 
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Một số thơ ông làm sau tháng 4-1975 như bài “Tranh gà lợn,” hoặc bài thơ từ nhà giam gửi về thăm vợ con, đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, một số thi phẩm khác, như 12 bài thơ vịnh một số nhân vật lịch sử và văn học Việt Nam (như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát …) cùng lịch sử và văn học Trung Hoa (như Hán Vũ đế, Thôi Hộ, Trần Đào, Bành Ngọc Lân …) chưa đuợc nhiều người biết tới. Chúng tôi xin giới thiệu một trong những bài thơ ấy ở phía sau. Đây là bài thơ Vũ Hoàng Chương viết về Bành Ngọc Lân, một danh tướng Trung Hoa cuối đời Thanh. Bài này cũng là một trong những bài thơ hay nhưng ý tưởng rất kín đáo, hàm súc của thi hào họ Vũ. Viết sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, ngụ ý thời thế của ông rất rõ, nhưng người đọc cần lưu tâm mới nhận thấy.

ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA: BÀNH NGỌC LÂN

Thập vạn đại quân tề cổ chưởng
Bành lang đoạt đắc Tiểu Cô hồi. 

Bành lang đoạt Tiểu Cô về
Hùng binh mười vạn nhất tề vỗ tay
Riêng Cô Bé vẫn ngồi ngây
Xanh xanh ngàn dặm tóc mây hững hờ
Từ bao giờ đến bao giờ
Chẳng xiêu lòng núi vì thơ họ Bành
Kể chi lúc ấy đời Thanh
Sá chi người ấy là danh tướng nào
Tiểu Cô sơn chỉ nhìn cao
Nghe Bành Lang độ thấm vào lòng chân
Non xưa bến cũ nhập thần
Đoạt non về bến đâu cần hùng binh.

Để có thể trình bày rõ ý nghĩa bài thơ, trước hết xin được nói qua ít hàng về Bành Ngọc Lân. Sau đó, xin giải thích mấy câu thơ chữ Hán của họ Bành được trích dẫn phía trên, cùng giải thích một số danh từ riêng trong bài thơ như Tiểu Cô sơn, Bành Lang độ.

Bành Ngọc Lân:

Bành Ngọc Lân (彭玉麟 — Peng Yulin)  là một danh tướng Trung hoa cuối đời Thanh, sinh năm 1816, mất năm 1890. Khi cuộc loạn Thái Bình Thiên Quốc (với những lãnh tụ Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh …) bùng nổ, chiếm gần nửa nước Trung hoa và Nam kinh để lập kinh đô,  rạch đôi giang sơn với nhà Thanh trong 11 năm từ 1853 tới 1864, triều đình nhà Thanh đã rung rinh, đất nước cực kỳ xáo trộn. Góp công đáng kể nhất trong việc dẹp yên được Thái Bình Thiên Quốc là một nhân sĩ tỉnh Hồ nam là Tăng Quốc Phiên (Zeng Guofan) cùng một đạo quân tình nguyện, đa số gốc Hồ nam, lấy tên là “Tương quân” (“quân đội vùng sông Tương,” một con sông chảy qua tỉnh Hồ nam). Bành Ngọc Lân là một tướng lãnh của đạo quân tình nguyện ấy, chỉ huy thủy binh, có công rất lớn trong việc dẹp Thái Bình Thiên Quốc.  Sau đó ông được cử làm Thủy sư Đô đốc, dần dần thăng tới Binh bộ Thượng thư của nhà Thanh. Sau khi người Pháp lấy miền Bắc Việt Nam và đem quân tới biên giới Hoa Việt năm 1883-84, Bành Ngọc Lân đã tới biên giới trong chức Binh bộ Thượng thư để quan sát cùng tổ chức việc phòng thủ. Ông về hưu và mất ít năm sau đó.

Tiểu Cô sơn:
Có nhiều Tiểu Cô sơn (小孤山 — Xiaogushan hay Hsiao ku shan) trong lãnh thổ Trung hoa. Nếu tra cứu các tài liệu địa dư, ta sẽ thấy ít nhất 5 ngọn núi có tên như thế tại Nội Mông cổ, Cam túc (Gansu), Cát lâm (Jilin), Liêu ninh (Liaoning), và An huy (Anhui). Ngọn Tiểu Cô sơn do Bành Ngọc Lân chiếm được và nhắc tới trong bài thơ này nằm trong tỉnh An huy. Núi này ở gần tỉnh lỵ An khánh (Anqing), sát bên bờ Trường giang (Dương tử giang). Quân Thái Bình Thiên Quốc đóng trên núi này đã bắn xuống dữ dội, ngăn chặn đường tiến binh của đạo thủy quân do Bành Ngọc Lân chỉ huy trên đường tới bao vây Nam kinh. Muốn các chiến thuyền của mình có thể đi qua một cách an toàn, Bành Ngọc Lân bắt buộc phải đánh chiếm ngọn núi. Theo các sử liệu Trung hoa, việc này xảy ra vào tháng 2 năm 1853. Sau khi chiếm được núi, Bành Ngọc Lân cao hứng làm ra bài thơ sau:

書生笑率戰船来,
江上旌旗耀日開,
十萬貔貅齊奏凱
彭郎奪得小姑回

Thư sinh tiếu suất chiến thuyền lai
Giang thượng tinh kỳ diệu nhật khai
Thập vạn tì hưu tề tấu khải
Bành lang đoạt đắc Tiểu Cô hồi.

Nghĩa:
Thư sinh vừa cười vừa đốc thúc chiến thuyền tiến lại
Trên sông, cờ xí, các sao sáng và mặt trời cùng mở ra 
(chỉ việc quân Thái Bình Thiên Quốc bắn xuống như mưa)
Mười vạn quân dũng mãnh cùng hát khúc ca chiến thắng:
“Bành lang đã đoạt được Tiểu Cô trở về.”

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã đưa hai câu cuối của bài thơ này lên phía trước bài thơ của ông nhưng đổi đi mấy chữ trong câu thứ ba. Ông đã đổi “thập vạn tì hưu” (mười vạn quân dũng mãnh, do nghĩa gốc của “tì hưu” là con gấu trắng, một giống thú rất mạnh) ra “thập vạn đại quân” (đạo quân đông tới mười vạn). Ông cũng đổi “tề tấu khải” (cùng hát khúc ca chiến thắng) ra “tề cổ chưởng” (cùng vỗ tay), có lẽ để gần với hoàn cảnh của Việt Nam năm 1975 hơn.

Từ  “Tiểu Cô sơn 小孤山” tới “Tiểu Cô 小姑”: Mối chung tình của Bành Ngọc Lân:

Một điểm đáng lưu ý là ngọn núi được nhắc tới ở trên có tên小孤山 (núi nhỏ cô đơn) nhưng trong bài thơ, Bành Ngọc Lân đã cố tình viết sai, dùng một chữ cũng có âm “cô” nhưng nghĩa khác, là小姑 (người cô bé nhỏ). Thừa tiếp ý ấy, trong câu thơ thứ 3, Vũ Hoàng Chương viết, “Riêng Cô Bé vẫn ngồi ngây.” Muốn hiểu rõ điểm tế nhị này, ta cần biết qua về cuộc đời của Bành Ngọc Lân.

Khi còn ít tuổi, Bành Ngọc Lân yêu một thiếu nữ, con nuôi của bà ngoại ông. Đúng ra ông phải gọi bằng “dì” vì là em nuôi của mẹ. Nhưng hai người trạc tuổi, cùng lớn lên và chơi đùa với nhau, tình yêu đến một cách tự nhiên. Gia đình không chấp thuận vì trong xã hội cổ, một hôn nhân như thế có thể bị coi là “loạn luân.” Bành Ngọc Lân phải đưa đi học xa trong khi cô gái, có biệt danh Mai cô, được gả cho người khác. Một năm sau Mai cô qua đời, lý do chính là sinh nở khó, nhưng Bành Ngọc Lân suốt đời không quên. Ông tới mộ Mai cô thương khóc, nguyện sẽ vẽ một vạn bức tranh hoa mai để trọn đời nhớ tới cô (giữ lời nguyện, ông vẽ được trên một vạn bức tranh hoa mai, trở thành một trong những họa sĩ Trung hoa chuyên về hoa mai). Khi chiếm được Tiểu Cô sơn năm 1853, Bành Ngọc Lân đã 37 tuổi và Mai cô đã mất từ lâu. Sau một cuộc ác chiến rất gần cái chết nhưng đắc thắng, ông tưởng như từ cõi chết trở lại. Nhân lấy được Tiểu Cô sơn và trước kia vẫn gọi Mai cô là “Tiểu Cô” (người cô bé nhỏ), ông cao hứng, tưởng như đã đem được nàng từ cõi chết về theo:

Bành lang đoạt đắc Tiểu Cô hồi
(Bành lang đoạt được Tiểu Cô [từ cõi chết] trở về).

Mối thiện cảm Vũ Hoàng Chương dành cho Bành Ngọc Lân:  

Cùng có một tình đầu tan vỡ và cùng suốt đời không quên mối tình ấy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương hẳn đã dành rất nhiều thiện cảm cho Bành Ngọc Lân. Ý tưởng nguyên thủy trong các câu:

  Bành lang đoạt Tiểu Cô về
Hùng binh mười vạn nhất tề vỗ tay
nhưng:
Riêng Cô Bé vẫn ngồi ngây

biểu lộ một  thông cảm “đồng cảnh” giữa thi nhân họ Vũ với vị tướng quân kiêm họa sĩ họ Bành: không thể làm sống lại người yêu cũ, không thể đổi được định mệnh. Dù có nhân chuyện cùng một âm “cô” để cố tình hiểu “ngọn núi cô đơn” ra “người cô bé nhỏ” thì sau khi đoạt về, “Tiểu Cô” cũng không còn sự sống. Nhưng mối thông cảm Vũ Hoàng Chương — Bành Ngọc Lân đã dừng ở đó. Toàn bài, nhất là 6 câu cuối, là những phán đoán rất bình tĩnh của tác giả về cuộc thống nhất đất nước năm 1975.

Cuộc thống nhất Việt Nam năm 1975 qua ngòi bút của Vũ Hoàng Chương:

Sống tại miền Nam cho tới tháng 9 năm 1976, thi sĩ Vũ Hoàng Chương hẳn đã chứng kiến tận mắt những kinh hoàng của dân chúng trước cuộc tiến công của Hà nội trong các tháng 3 và 4-1975, được nghe tới nhàm chán những lời tự tôn đầy huênh hoang của kẻ chiến thắng, và nhất là hiểu rõ nỗi chua xót thấm thía của người dân miền Nam qua những câu “ca dao mới” như:

“Nam kỳ khởi nghĩa” tiêu “Công lý”
“Đồng khởi” vùng lên mất “Tự do.”

Bản thân ông, một người cầm bút, càng hiểu rõ thực trạng xã hội mới:
Rằng vách có tai, thơ có họa

và đã từng bị giam giữ trong cảnh ngộ:
Nửa manh chiếu nỉa hồn ngây ngất
Hai chén cơm rau xác mỏi mòn.

Sống tại Sàigòn, chắc chắn ông cũng từng nghe những câu nói rất được phổ biến trong dân chúng, “Đến cái cột đèn, nếu có chân, nó cũng muốn đi…”

Qua mấy câu đầu của bài “Đọc lại người xưa: Bành Ngọc Lân,” Vũ Hoàng Chương phác cho ta thấy một cảnh tượng tương phản: trong khi những người cầm đầu chế độ và tay chân của họ hớn hở, hồ hởi … tự ca tụng công ơn “giải phóng miền Nam,” thì những người được “giải phóng” không hưởng ứng, biểu lộ một thái độ dửng dưng, lãnh đạm:
Bành lang đoạt Tiểu Cô về
Hùng binh mười vạn nhất tề vỗ tay
Riêng Cô Bé vẫn ngồi ngây
Xanh xanh ngàn dặm tóc mây hững hờ.

Người dân miền Nam, vốn thực tế, không bị chi phối bởi những thơ văn tuyên truyền đầy tính cách phóng đại:
Từ bao giờ đến bao giờ

Chẳng xiêu lòng núi vì thơ họ Bành.

Vũ Hoàng Chương cũng ghi nhận thái độ khinh miệt, bất cần, không coi trọng kẻ chiến thắng, của đa số dân chúng miền Nam:

Kể chi lúc ấy đời Thanh

Sá chi người ấy là danh tướng nào
Tiểu Cô sơn chỉ nhìn cao
Nghe Bành Lang độ thấm vào lòng chân.

Trong cuộc tấn công giành Tiểu Cô sơn năm 1853, Bành Lang độ (bến Bành Lang) là nơi Bành Ngọc Lân cho thủy quân đổ bộ để đánh lên núi.

Ý tưởng then chốt của Vũ Hoàng Chương nằm trong hai câu cuối. “Non” và “nước” vốn có những liên hệ tình cảm mật thiết và thiêng liêng. Muốn đưa “non” về với “nước,” muốn non sông thống nhất, không phải chuyện quá khó, nhưng cần có những thứ khác hơn là sức mạnh quân sự:

Non xưa bến cũ nhập thần
Đoạt non về bến đâu cần hùng binh

vì như đã nói trên, nếu chỉ biết dùng sức mạnh để chiếm đoạt, sẽ được một cơ thể  không có sự sống:

… Cô Bé vẫn ngồi ngây
Xanh xanh ngàn dặm tóc mây hững hờ.

Tóm lại, “Đọc lại người xưa: Bành Ngọc Lân” không phải là một bài thơ phù phiếm, chỉ để bàn về mối tình đầu của một viên tướng Trung hoa cuối đời Thanh. Mượn chuyện đời xưa để nói chuyện đương thời, Vũ Hoàng Chương đã đưa ra một nhận xét có tính cách phán đoán về một sự kiện lịch sử xảy ra trong đời ông: việc thống nhất đất nước bằng cách xua quân chiếm miền Nam do những người cầm quyền ở Hà nội thực hiện năm 1975. Sống ở trong nước giữa giai đoạn ấy, ông không thể công khai nói một cách trực tiếp, nên đã để lại một bài thơ ngụ ý vô cùng hàm súc. Vũ Hoàng Chương rất xứng với danh hiệu một nhà thơ có lương tâm, phát biểu ý kiến một cách thành thật về những biến cố trong thời đại của mình, dù lời phát biểu ấy không hợp ý kẻ cầm quyền. Tuy chỉ dùng những lời thật hiền hoà, thái độ của ông không khác thái độ của Phùng Quán khi viết những câu sau đây:

Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ cầm dao viết văn lên đá.

Trần Huy Bích

 

Khánh Ly ‘nên tránh là cán bộ tuyên truyền’ – BBC

13 Th1

Khánh Ly ‘nên tránh là cán bộ tuyên truyền’

Cập nhật: 15:58 GMT – thứ bảy, 12 tháng 1, 2013

Media Player

 

Một trong những người quen biết nhiều với giới nghệ sỹ gốc Việt tại California nói Khánh Ly nên đòi hỏi về ca khúc mình muốn hát nếu trở về diễn tại Việt Nam.

Xemmp4

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Một trong những người quen biết nhiều với giới nghệ sỹ gốc Việt tại California bình luận về khả năng trở về diễn của Khánh Ly tại Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn với Nguyễn Hoàng của BBC tiếng Việt tại Orange County, Nam California, ông Nguyễn Tú A, một trong những người đầu tiên từ Hoa Kỳ trở về Việt Nam sau năm 1975, nhận định điều ông gọi là ‘ca sỹ Khánh Ly trước sau thì cũng về Việt Nam biểu diễn’.

‘Cùng thời của Khánh Ly là Lệ Thu, Thanh Tuyền thì họ đã về Việt Nam hết rồi. Khánh Ly còn do dự điều gì đó nên chưa về nhưng tôi cho rằng trước sau rồi Khánh Ly cũng về diễn’.

Nhận định về khả năng kiểm duyệt nếu có khi ca sỹ Khánh Ly về nước diễn, ông Tú A nói “Kho tàng nhạc của Trịnh Công Sơn thì nhiều, do đó Khánh Ly khi về nước hát thì cũng nên đòi hỏi hát những bài nào gắn liền với tên tuổi của mình với Trịnh Công Sơn’.

‘Thời sinh viên chúng tôi có những bản thuộc Ca khúc Da Vàng gắn liền với tên tuổi Khánh Ly-Trịnh Công Sơn, tuy có hơi phản động một chút, nhưng đó là những ca khúc làm cho Khánh Ly nổi tiếng.

‘Điều quan trọng là Khánh Ly có hát được những bài mình muốn hay không, bởi nếu làm được như vậy thì anh em ở bên này nếu có người chống thì người ta cũng nguôi ngoai đi’

‘Tôi hy vọng Khánh Ly về nước không trong vai trò cán bộ tuyên truyền mà là Khánh Ly đi với vai trò của một người nghệ sỹ hát để cho người ta biết Khánh Ly là ai và những tác phẩm nào nổi tiếng’, ông Tú A nói.

Ông Nguyễn Tú A về Việt Nam năm 1986 và từng bị nhiều người trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt phản đối mạnh tại Quận Cam California. Ông hiện làm kinh doanh và có một số cơ sở dạy học nghề tại Quận Cam, California.

Trung Quốc phát hành bản đồ đầu tiên với toàn bộ các đảo trên Biển Đông – RFI

13 Th1

Trung Quốc phát hành bản đồ đầu tiên với toàn bộ các đảo trên Biển Đông

Quyết tâm đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc bị nhiều quốc gia phản đối.

Quyết tâm đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc bị nhiều quốc gia phản đối.
 

Vào lúc căng thẳng gia tăng do tranh chấp chủ quyền lãnh hải với các nước láng giềng, Trung Quốc lần đầu tiên đã phát hành các bản đồ thể hiện toàn bộ các đảo ở Biển Đông, cũng như các đảo đang tranh chấp với Nhật ở biển Hoa Đông. Hôm qua, 11/01/2013, Cơ quan Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa chất quốc gia Trung Quốc (NASMG) thông báo vừa phát hành bản đồ mới của Trung Quốc, với định dạng chiều dọc, lần đầu tiên có đánh dấu rõ toàn bộ 130 đảo lớn nhỏ ở Biển Đông.

 

Các bản đồ cũ của Trung Quốc cho tới nay, với định dạng chiều ngang, chỉ thể hiện những đảo lớn như quần đảo “Tây Sa” ( tức Hoàng Sa theo tên gọi Việt Nam) và “Nam Sa” (tức Trường Sa theo tên gọi Việt Nam). 

Ở góc dưới cùng bên trái của bản đồ mới còn có phần phóng to quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông, quần đảo mà Trung Quốc đang tranh chấp chủ quyền với Nhật.

Theo Tân Hoa Xã, bản đồ mới, do nhà xuất bản Sinomaps ấn hành, sẽ được bán ra công chúng vào cuối tháng Giêng tới. Đại diện của nhà xuất bản này tuyên bố với Tân Hoa Xã rằng bản đồ mới « có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về chủ quyền quốc gia, bảo vệ quyền và các lợi ích về hàng hải, cũng như thể hiện lập trường ngoại giao chính trị Trung Quốc. »

Năm ngoái, Trung Quốc cũng đã cho in trên hộ chiếu mới một bản đồ có tính chất áp đặt chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông, gọi là bản đồ « đường lưỡi bò ». Hành động này đã bị Philippines và Việt Nam phản đối kịch liệt.

Bên cạnh việc phát hành bản đồ mới, Trung Quốc hôm qua còn tuyên bố sẽ tăng cường tuần tra trên biển và tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên để « bảo vệ chủ quyền » của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Tờ China Daily trích lời ông Lưu Tứ Quý, Cục trưởng Cục hải dương Trung Quốc, nói rằng các tranh chấp lãnh thổ đã leo thang trong năm 2012, nên Trung Quốc phải tăng cường bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực. Ông Lưu Tứ Quý tuyên bố Bắc Kinh sẽ tiếp tục thực hiện các chuyến tuần tra thường xuyên đến vùng “quần đảo Điếu Ngư” (Senkaku) và “biển Hoa Nam” (Biển Đông).

Trong phần bình luận, tờ China Daily cáo buộc các nước Nhật Bản, Philippines và Việt Nam là đã « làm tăng nhiệt độ trên vùng biển Hoa Đông và Biển Đông. » Tờ báo Trung Quốc cũng cho rằng ba nước nói trên đang tìm hậu thuẫn từ các nước ngoài khu vực cho những « đòi hỏi vô căn cứ » của họ.

Hiện giờ, phản ứng của Bắc Kinh chủ yếu nhắm vào Tokyo, nhất là sau khi có tin chiến đấu cơ Nhật Bản đuổi máy bay quân sự Trung Quốc trên biển Hoa Đông hôm thứ Năm vừa qua. Cụ thể, hôm đó, Nhật Bản đã điều hai chiến đấu cơ F-15 bám sát một phi cơ vận tải Y-8 của Trung Quốc, bị xem là xâm nhập vùng phòng thủ của Nhật trên biển Hoa Đông. Bắc Kinh liền gởi hai chiến đấu cơ J-10 đến chặn máy bay của Nhật.

Trong cuộc họp báo hôm qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi khẳng định là các chiến đấu cơ của Trung Quốc vẫn thực hiện các chuyến bay tuần tra thường lệ trên không phận của nước này ở biển Hoa Đông. Về phần Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm qua cáo buộc là chính các chiến đấu cơ của Nhật Bản làm xáo trộn các chuyến bay tuần tra thường lệ của phi cơ Trung Quốc.

 

Báo Mỹ: TQ là mối đe dọa quân sự – Vnn

13 Th1

Báo Mỹ: TQ là mối đe dọa quân sự

Trung Quốc ngày càng quả quyết hơn tới vị trí siêu cường. Quân đội nước này đã phát triển ổn định những năm gần đây và không có dấu hiệu dừng lại – tờ IBTimes (Mỹ) viết.

Ảnh: crisisboom

 

Tuy Trung Quốc vẫn còn kém Mỹ về khả năng khuếch trương sức mạnh quân sự ở nước ngoài, nhưng họ có thể sớm trở thành đối thủ đáng ngại trong lĩnh vực không gian. Theo rất nhiều thông tin truyền thông, Trung Quốc đang dự kiến thử nghiệm hệ thống đánh chặn tên lửa quốc gia mà họ gọi là tên lửa chống vệ tinh (ASAT). Tên lửa này có thể đe dọa các vệ tinh của Mỹ, trong đó có những vệ tinh được sử dụng cho hệ thống định vị toàn cầu (GPS).

Năm 2007, Trung Quốc đã tiến hành một vụ thử nghiệm tên lửa ASAT không báo trước. Vụ thử thành công và tiêu diệt được một vệ tinh thời tiết, đồng thời tạo ra hàng chục ngàn mảnh vỡ kim loại mà các quan chức Mỹ nói sẽ đe dọa các vệ tinh và những nhà du hành vũ trụ trong 100 năm.

Các cơ quan tình báo Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng và theo dõi sát sao các cơ sở, động thái từ Trung Quốc, đặc biệt sau vụ việc 2007. Tên lửa chống vệ tinh mới, có tên gọi Dong Ning-2 (DN-2), được cho là hiện đại hơn, có khả năng đạt tới tầm cao hơn trong không gian so với tên lửa ASAT 2007. Nó có thể tiêu diệt các vệ tinh tại quỹ đạo tầm cao trái đất.

DN-2 còn được cho là có thể khống chế các vệ tinh phục vụ cho mục đích hàng hải, thông tin, hay tình báo của Mỹ bằng cách va chạm với chúng ở tốc độ cao. Đây là mối đe dọa đặc biệt với lực lượng tình báo Mỹ vì sự phụ thuộc lớn vào hoạt động của vệ tinh cũng như với quân đội Mỹ nói chung.

Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc không xác nhận cụ thể việc thử tên lửa cũng như thời điểm xảy ra, nhưng thừa nhận rằng, nó sẽ phù hợp với các mục tiêu của Trung Quốc. “Trung Quốc cần có khả năng tấn công các vệ tinh của Mỹ. Việc ngăn chặn này có thể cung cấp sự bảo vệ chiến lược cho các vệ tinh của Trung Quốc và toàn bộ hệ thống an ninh quốc gia”, tờ báo nhấn mạnh.

Những nỗ lực phát triển của Trung Quốc hướng tới một siêu cường quân sự đã gây ra quan ngại lớn trong khu vực. Nhiều quốc gia châu Á đang có không ít căng thẳng với Trung Quốc xung quanh tranh chấp lãnh thổ và những lý do khác.

Năm 2012, giữa lúc tranh chấp với Nhật về chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và Mỹ công bố chiến lược trục xoay châu Á, Trung Quốc đã không ngừng khuếch trương sức mạnh quân sự như thử nghiệm bay thành công máy bay chiến đấu J-15 – dựa trên thiết kế của Nga nhưng trang bị thêm vũ khí và công nghệ rađa.

Một cột mốc khác trong phát triển hàng không vũ trụ Trung Quốc là phóng phi thuyền có người lái thứ tư vào không gian hoàn tất trong mùa hè 2012 với sự tham gia của nữ phi hành gia đầu tiên nước này. Kể từ đó, mục tiêu có một trạm không gian năm 2020 mà Trung Quốc đặt ra dường như không nằm ngoài tầm với.

Máy bay chiến đấu J-15 cũng đã thực hiện bài tập cất và hạ cánh thành công trên boong tàu sân bay đầu tiên mang tên Liêu Ninh của nước này, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong chương trình phát triển tàu sân bay đầy tham vọng của hải quân Trung Quốc. Theo giới phân tích, với động thái này, hải quân Trung Quốc sẽ sớm có thể chính thức đưa tàu sân bay đầu tiên vào trực chiến. Vấn đề còn lại chỉ là yêu cầu đủ số lượng máy bay trực thăng, tiêm kích hạm, máy bay cảnh báo sớm trang bị trên tàu.

Cùng với thời điểm phóng Thần Châu 9 vào vũ trụ, siêu tàu lặn Giao Long đã chinh phục độ sâu 7km ở Thái Bình Dương.

Dù có hoặc không vụ thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh trong tháng này, sự phát triển của quân đội Trung Quốc là một thực tế. Về mặt nhân sự, họ là quân đội lớn nhất thế giới. Cùng với việc liên tục mở rộng các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân, thì quốc gia này sẽ tiếp tục là lực lượng trỗi dậy mà không chỉ khiến duy nhất nước Mỹ phải chú tâm

Thế giới 24h: Triều Tiên sắp thử hạt nhân? – Vnn

13 Th1

Thế giới 24h: Triều Tiên sắp thử hạt nhân?

– Báo chí Hàn Quốc loan tin Triều Tiên có khả năng thử hạt nhân lần ba trong tuần tới; Cựu thủ tướng Israel chỉ trích kế hoạch đánh Iran… là những tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Tờ JoongAng Ilbo của Hàn Quốc số ra hôm qua (12/1) đã dẫn lời một quan chức nước này cho biết, một quan chức Triều Tiên có vẻ đã nói với Trung Quốc về việc Bình Nhưỡng đang có kế hoạch tiến hành vụ thử hạt nhân thứ 3 trong tuần tới.

“Chúng tôi nghe nói một quan chức Triều Tiên tại Bắc Kinh đã nói với các nhà chức trách Trung Quốc rằng, họ dự định tiến hành thử hạt nhân trong khoảng thời gian từ 13 – 20/1”, báo JoongAng Ilbo dẫn lời quan chức Hàn Quốc trên cho biết.

Hình ảnh mô phỏng vụ phóng tên lửa ngày 12/12/2012 của Triều Tiên trên truyền hình Hàn Quốc. (Ảnh: SBS/Getty)

Cũng theo lời nhân vật này, phía Hàn Quốc đang đẩy mạnh hoạt động do thám phía trên địa điểm thử hạt nhân Punggye-ri. Đây là bãi thử hạt nhân duy nhất của phía Triều Tiên, nơi từng tiến hành các vụ thử hạt nhân trong các năm 2006 và 2009.
 
Tuy nhiên, giáo sư Yang Moo-Jin thuộc trường Đại học Nghiên cứu Triều Tiên ở thủ đô Seoul của Hàn Quốc lại cho rằng, khả năng Bình Nhưỡng tiến hành một vụ thử nghiệm hạt nhân trong mùa đông này là rất thấp.

Hồi tháng trước, Bộ trưởng Thống nhất của Hàn Quốc, ông Yu Woo-Ik, từng phát biểu trước một ủy ban quốc hội nước này rằng, “rất có khả năng” Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên sẽ nối tiếp vụ phóng tên lửa bằng một vụ thử hạt nhân.

Tin vắn

– Tổng thống Pháp tuyên bố nước này quyết định hỗ trợ quân sự cho chính quyền Bamako ở Mali để “chống lại các phần tử khủng bố”.

– Ngày 12/1, hai binh sĩ và một sĩ quan Myanmar đã tử nạn trong vụ trực thăng rơi tại một khu vực ở thành phố Myitkyina của nước này.

– Ngày 12/1, thủ tướng của Libya, Tunisia và Algeria đã gặp nhau ở thành phố Ghadames, tây nam Libya, để bàn về an ninh biên giới.

– Cuộc gặp giữa Đặc phái viên Liên hợp quốc và Liên đoàn Arập về Syria, với đại diện Nga và Mỹ không đạt được bước đột phá nào.

– Ít nhất 2 người chết sau khi một tàu hỏa chở than va chạm với một đầu tàu đi ngược chiều tại khu vực Irkutsk của Nga vào sáng 12/1.

– Nhóm phiến quân Kachin đang chiến đấu chống quân đội ở bắc Myanmar cho biết đã bắn hạ 1 máy bay trực thăng của chính phủ.

– Khoảng 11.000 nhân viên an ninh sẽ được huy động đảm bảo an ninh cho lễ hỏa táng cựu vương Campuchia Norodom Sihanouk.

– Ít nhất 29 người thiệt mạng khi một chiếc xe buýt lao xuống vực sâu 600m do sương mù dày đặc ở làng Chhatiwan, phía tây Nepal.

– Cảnh sát Tây Ban Nha bắt giữ 2 đối tượng và thu giữ thiết bị sử dụng trong ngành công nghiệp hạt nhân được vận chuyển sang Iran.

– Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, bà Victoria Nuland, khẳng định Mỹ sẽ không thay đổi chính sách thị thực đối với công dân Cuba.

Tin ảnh

Bão cát khổng lồ tấn công thị trấn Onslow của Australia chiều tối 9/1. (Ảnh: Ibtimes/ Reuters)

Trận bão cát này có hình thù giống như một cơn sóng thần màu đỏ đã xuất hiện trên vùng biển ngoài khơi phía tây bắc Australia, trước khi đổ ập vào Onslow.

Phát ngôn

Một nhà cựu lãnh đạo Israel vừa chỉ trích đương kim Thủ tướng nước này Benjamin Netanyahu về việc phí tiền chuẩn bị kế hoạch đánh Iran.

“Họ đã hù dọa thế giới suốt một năm và cuối cùng chẳng làm bất cứ điều gì”, cựu Thủ tướng của Israel, ông Ehud Olmert, phát biểu tối 11/1.

Kỷ niệm

Vào ngày 13/1/1915, một trận động đất đã xảy ra ở Avezzano, miền nam Italy, làm khoảng 30.000 người thiệt mạng.

Thanh Vân (tổng hợp)

%d bloggers like this: