Lưu trữ | 7:42 Sáng

Việt Nho qua một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam – VHNA

14 Th1

Việt Nho qua một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

 

  • Email
  • In

Đã xa rồi cái thời thường coi Nho giáo là ngoại nhập / phản động, là không thể hòa nhập với tư tưởng Việt. Nhưng cũng chưa có nhiều thành tựu nghiên cứu thật cơ bản để có thể khép lại thời xem Nho giáo thực sự là một thành phần tư tưởng quan trọng, tích cực, có thể tồn tại, hoà hỗn cùng / với tinh thần dân tộc Việt vốn có nhiều yếu tố phi / phản Nho. Một số bài bản nghiên cứu các vấn đề có tầm vĩ mô hoặc vi mô về Nho giáo thời trung đại hấp dẫn và độc đáo, dường như vẫn đang tiếp bước đoạn trường mà Quang Đạm, Nguyễn Khắc Viện đặc biệt là Trần Đình Hượu(2) đã một thời khai sáng.

Lần này, xin được xem bài viết này là sự bộc bạch những cảm nghĩ qua một số tác phẩm văn học thời trung đại ở Việt Nam. Từ Việt Nho từng xuất hiện trước đây, nhưng với tôi, danh ngữ này được hiểu theo hai tiêu chí. Một là tác phẩm phải có tố chất Nho từ thời Khổng Mạnh qua Hán Nho, Tống Nho…, tức Nho giáo thời cổ trung đại ở Trung Quốc, xin được gọi là Khổng Nho hoặc Hán Nho cho giản tiện. Hai là tác phẩm phải có bản chất Việt, tức tư tưởng Việt, phi Nho giáo, phát triển từ tiền sử, qua Bắc thuộc và hiện hữu thời trung đại qua văn hóa, văn học dân gian. Hai thành phần Hán Việt phân biệt, điều hòa, kết hợp, chuyển hóa với nhau, hoặc nổi nên dễ thấy, hoặc chìm sâu khó nhận. Nhưng lại thống nhất ở một xuất xứ, một diện mạo, một dạng ngôn từ nghệ thuật, để qua văn bản là tâm tư, cảm xúc thấm đậm chất Việt Nho. Tất nhiên, cùng với Khổng Nho còn có Lão Trang, cùng với tư tưởng Việt còn có Việt Phật. Và một bên là Hán Nho, một bên là tư tưởng Việt có cả yếu tố đối lập không thể dung hòa, hoặc hòa đồng mà khó phân biệt. Thơ văn chứa chở tư tưởng này không khó thấy khi đi vào những áng văn chương cụ thể. Trước hết là bài:

NAM QUỐC SƠN HÀ
(Khai sáng tư tưởng Việt Nho)

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Đại Việt sử ký toàn thư).
(Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự,
Sách trời định phận rõ non sông.

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm,
Bay hãy chờ coi, chuốc bại vong !)
(Ngô Linh Ngọc dịch)

– Về xuất xứ, bài thơ trích xuất từ một truyền thuyết lịch sử, kể chuyện Trương Hống, Trương Hát, con Long thần họ Trương sinh sống dị kỳ, ngôn hành quái kiệt, theo giúp Triệu Quang Phục chống ngoại xâm. Sau Triệu Quang Phục thất bại trước Lý Phật Tử, hai ông tự vẫn, giữ tiết với chủ cũ. ở cõi ảo, hai ông được Trời phong thần, từng đằng vân giá vũ về cõi thực trợ giúp người đời, trong đó có hai lần đọc thơ âm phù Lê Đại Hành, Lý Thường Kiệt chống Tống thắng lợi. Bài thơ là thành phần cơ hữu của truyền thuyết, một thể loại văn học dân gian chứa chở nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, nhằm thần linh hóa, lý tưởng hóa tình tiết, nhân vật để thể hiện ý thức lịch sử của nhân dân. Tình tiết âm phù xoay quanh bài thơ, xét cho cùng chỉ là sự hiện diện của truyền thống bằng hình thức huyền ảo. Cho nên gần đây, bài thơ được mệnh danh là Thơ thần cũng rất tinh tường, ý vị. Thơ thần thì cũng do người làm ra thôi. Người đây là các thế hệ trí thức đầu thời tự chủ, không phải là Lý Thường Kiệt như người ta từng lầm, và sách giáo khoa thì phân vân nghi ngại(2). Bài thơ nằm trong một truyền thuyết nên mang tính chất một tác phẩm dân gian, nhưng tách riêng thì là bài thơ chữ Hán, do trí thức viết ra, tất có thêm tính chất bác học, nên có thể mang dáng vóc một tác phẩm dân gian bác học, hay nhân gian thế gian bác học thì đúng hơn. Văn học trung đại nước ta không hiếm lắm tác phẩm có tính chất này. Như vậy Bài Thơ thần có xuất xứ, tác giả và cả thể loại thấm đậm bản sắc văn hóa Việt.

– Bài thơ cả quyết quyền ngự trị sông núi nước Nam là của vua Nam. Dám khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Nam nhỏ bé bên cạnh nước Bắc to lớn như thế chỉ có thể là Trời. Trời ở đây ẩn trên thiên thư, nhưng cũng có hàng chục văn bản có từ Hoàng thiên ở đầu câu thứ hai (Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư). Trời theo Khổng Nho là vô hình, linh diệu, chủ tể của vũ trụ, lấy thiên mệnh, thiên lý, thiên ý, thiên uy điều phối biến hóa việc thế gian, quyết định phận số cho muôn loài. Trời và Người là “tương dữ “, “hợp nhất”, “thông đạt”. Trời nhìn nghe qua dân nhìn dân nghe, Trời thương dân, dân muốn là trời muốn… Vua thay trời trị dân thống nhất thiên ý dân tâm. Vua trị dân theo ý trời thì yên ổn, được mùa, trái ý trời thì trời ra tai, trời nổi can qua v.v… Cả mớ lý luận về Trời, Khổng Nho thường hay dùng danh ngữ Thiên mệnh, được người Việt tiếp biến theo quan niệm “thực dụng”, chỉ cốt làm rõ: Nước Nam là của Vua / người Nam, đó là ý Trời, kẻ nào xâm lược nước Nam là trái nghịch ý Trời, là chống lại xu thế phát triển tất yếu của lịch sử, tất sẽ bại vong. Nhân sĩ thời Ngô, Đinh, Lê, Lý lấy Trời hộ mệnh cho ý thức tự chủ của Người; thiêng hóa độc lập, chủ quyền, sát hợp với tâm thức người đời, lời thơ như mang sứ mạng của đất trời, ngân vang của thần thánh, xứng đáng là bước thăng hoa của tư tưởng Việt Nho.

– Yếu tố Việt Nho tạo nên giá trị của bài thơ còn thể hiện qua những lời thơ chống chủ nghĩa bá quyền đại Hán tộc. Các đế chế Trung Hoa rồi Khổng học từ xưa, thường lấy lời thơ trong bài Bắc Sơn sách Kinh Thi làm yếu chỉ cho chủ nghĩa bá quyền: “Phổ thiên chi hạ mạc, phi vương thổ, suất thổ chi tân, mạc phi vương thần” (Cả gầm trời không đâu không phải đất của vua, khắp bốn biển không ai không phải bề tôi của vua). Vương, sau đổi là đế sở hữu toàn bộ đất đai, thần dân trong thiên hạ. Chỉ Trung Hoa mới có đế, các nước xung quanh chỉ là tứ di phiên thuộc, chư hầu, không được xưng đế. Được tiếng khiêm nhường như Hán Văn Đế mà còn gửi thư trách Triệu Đà tiếm xưng hoàng đế, đi xe hoàng ốc, cắm cờ tả nghi, vốn là nghi vệ chỉ dành cho hoàng đế ở Trung Hoa. Cái thói ngạo mạn ấy không phải khi nào cũng khuất phục được các nước láng giềng. Xa như Nhật Bản vẫn thấy ngang hàng với vua Tùy trong quốc thư năm 607: “Nhật xuất xứ thiên tử chí thư, nhật một xứ thiên tử. Vô dang” (Nhật Bản Linh dị ký) Nghĩa là: (Thiên tử xứ [nước] mặt trời mọc gửi Thiên tử xứ [nước] mặt trời lặn. Chúc sức khỏe). Gần như nước Việt, từ giữa thế kỷ thứ VI đã xưng là Lý Nam Đế. Đến thời tự chủ, nhân sĩ Đại Việt lại tái xuất ý thức quốc gia vào nhãn tự Nam và Đế của bài thơ. Vẫn với quan niệm như xưa, song dõng dạc tuyên bố: Nam có Nam Đế, Bắc có Bắc Đế, Nam đế làm chủ phương Nam, cũng như Bắc đế làm chủ phương Bắc, Nam Bắc bình đẳng, không ai thống trị được ai. Ý tứ trên về sau được Nguyễn Trãi nâng cao theo chiều dầy lịch sử:

“Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương”.
(Bình Ngô đại cáo)

Với giá trị một bản Tuyên ngôn độc lập, Tuyên ngôn chống bá quyền, bài thơ thần Nam quốc sơn hà là kiệt tác khai sáng tư tưởng Việt Nho, và có thể cùng với Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận là hai kiệt tác xưa sớm nhất của văn học dân tộc.

*
**

DÙNG ĐAO BÚT VIẾT CHỈ THƯ(3)
(Quan niệm văn chương Việt Nho)

Trí qua mười mới khá rằng nên,
Ý lấy Nho hầu đấng hiền.
Đao bút phải dùng tài đã vẹn,
Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.
Vệ Nam mãi mãi ra tay thước,
Điện Bắc đà đà yên phận tiên.
Nghiệp Tiêu Hà làm khá kịp,
Xưa nay cùng một sử xanh truyền.

Bài thơ này Nguyễn Trãi viết khi đang được Lê Lợi tín nhiệm trao cho công việc từ hàn (Hàn lâm viện Thừa chỉ) và trọng trách quản lý Nhà nước (Lại bộ Thượng thư). Nguyễn Trãi cho rằng ông đã dựa vào Nho, dùng trọn vẹn tài văn bút để bảo vệ nước Nam, dẹp yên giặc Bắc, giúp vua chế định điển chương, pháp độ, hình chính, lễ nhạc, như Tiêu Hà giúp Hán Cao Tổ. Nguyễn Trãi tin rằng lịch sử sẽ lưu truyền sự nghiệp của ông cũng như sự nghiệp của Tiêu Hà.

Nguyễn Trãi quả là đã có ý thức tự giác dùng văn chương như một vũ khí chiến đấu cho sự nghiệp bình Ngô. Nguyễn Trãi lại cũng có tinh thần tự nhiệm của một bậc tài trí kinh bang tế thế như Tiêu Hà trong sự nghiệp trị quốc an dân. Ý thức tự giác về tính chiến đấu của văn chương, tinh thần tự nhiệm về trách nhiệm xã hội của trí thức – nhà văn ấy chính là quan niệm văn chương Việt Nho của cả thế hệ hiền Nho (Ý lấy Nho hầu đấng hiền, tức là: Dựa vào đạo Nho ngõ hầu mới là người hiền) như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Lê Thiếu Dĩnh, Vũ Mộng Nguyên, Trần Thuấn Du, Phan Phu Tiên, Nguyễn Thiên Tích… thời đại bình Ngô phục quốc. Nguyễn Trãi còn nhiều vần thơ, lời văn, thể hiện quan niệm văn chương, lễ nhạc theo tiêu chí Việt Nho. Lệ như lời tâu về Nhạc: “Thời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn, ngày nay định ra lễ nhạc là phải thời lắm. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc… Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăm nuôi muôn dân, khiến trong chốn thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó là giữ được cái gốc của nhạc vậy”. Hoặc như “Văn chương chép lấy đòi câu thánh. sự nghiệp tua gìn phải đạo trung. Trừ độc trừ tham, trừ bạo ngược. Có nhân, có trí, có anh hùng” (Bảo kính cảnh giới 5) v.v… Lời tâu trên cho rằng: văn nghệ, ở đây là âm nhạc có gốc ở đời sống của trăm họ, muốn văn nghệ phát triển thì phải tài bồi gốc ấy. Lời thơ dưới khẳng định: văn chương phải lấy chuẩn từ sách thánh Nho, từ đạo trung dung; nhưng lại phải gắn với hành vi “trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược” và phẩm chất “có nhân có trí, có anh hùng”. Thật, khó thấy ở đâu hơn chức năng của văn nghệ lại được hiểu sâu sắc, chuyên biệt và cho đến nay vẫn còn giàu ý nghĩa hiện đại như thế.

Nguyễn Mộng Tuân, đồng khoa, đồng liêu, thi hữu của Nguyễn Trãi, tôn Nguyễn Trãi lên bậc “Thái Sơn, Bắc Đẩu”, “nhất thời văn bá”, với tài “kinh bang hoa quốc cổ vô tiền” là đã thấy thành tựu văn chương vô giá của Nguyễn Trãi. Thành tựu “thế gian vô” ấy lại được Lê Thánh Tông, một hoàng đế hùng tài, đại lược” vị thế hóa đưa vào tập quốc thi Quỳnh uyển cửu ca:

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
(Lòng Ức Trai rạng tỏa văn chương)

Tôi dịch câu thơ này là phỏng theo lời dịch mà tôi cho là đúng(4) của các cụ túc Nho (Lê Thước – Hà Văn Đại – Trịnh Đình Rư – Nguyễn Sĩ Lâm – Trần Lê Hữu – Vũ Đình Liên) đã quá cố. Các cụ dịch là: ” Ức Trai trong lòng rạng vẻ khuê tảo”, rồi chú thích: “Khuê tảo: quê hay khuê là sao khuê, tảo là cỏ tảo, tượng trưng cho văn chương”. (Hoàng Việt thi văn tuyển, (Bản dịch), Nxb. Văn hóa. H. 1958. T.III, tr.21-22). Đây là câu thơ thứ ba trong bài thơ Quân minh thần lương (Vua sáng tôi hiền) ở thi tập Quỳnh uyển cửu ca, tác phẩm duy nhất của tao đàn(5) thời Lê Thánh Tông. Câu thơ khẳng định Nguyễn Trãi có một sự nghiệp văn chương vĩ đại. Sự nghiệp ấy xứng đáng đứng ở vị trí cao nhất trong thế hệ văn thần thời bình Ngô phục quốc. Lời thơ nhằm đánh giá sự nghiệp văn chương chứ không đề cao đức hạnh Nguyễn Trãi như những lời dịch sai (xem chú giải). Nguyên chú của chính Lê Thánh Tông đã giải nghĩa rõ nội dung của câu thơ: “Thừa chỉ Quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, đỗ đại khoa triều Hồ. Khi Thánh Tổ ta mới mở nghiệp, quy phục ở Lỗi Giang, trong thì trù mưu nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn chiêu dụ các thành, văn chương làm vẻ vang cho nước (hoa quốc từ chương) rất được yêu quí tin dùng”. Cụ nghè Ngô Thế Vinh, viết Tựa cho Ức Trai di tập, cũng hiểu như thế: “Than ôi, trong trời đất, không gì lớn hơn văn chương. Câu nói ấy không phải chỉ là lời nói của một người mà thôi!..Thế thì có người biết nắm giữ đường lối nhân nghĩa, làm cho đời loạn trở thành trị, công cao trong một thời, ơn để mãi về sau, há lại không phải là đỉnh cao của thứ văn chương đủ sức sửa sang việc đời hay sao?” Văn chương ở đây là văn chương kinh bang tế thế (Khổng Nho), nhưng cũng là văn chương kinh bang hoa quốc (Nguyễn Mộng Tuân), văn chương từ chương hoa quốc (Lê Thánh Tông), văn chương có “thư và hịch viết / thảo tài giỏi hơn hết một thời” (Lê Quý Đôn), “văn chương có khí lực dồi dào, đọc không chán miệng” (Phạm Đình Hổ), văn chương “rõ ràng và sang sảng trong khoảng trời đất” (Dương Bá Cung), văn chương “đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường” (Phạm Văn Đồng).

Quan niệm văn chương của Nguyễn Trãi như ông viết ra và như những đại gia khác nhận xét, qua tác phẩm của ông có mấy vấn đề cốt tử: Thứ nhất: văn chương phải là vũ khí chiến đấu bảo vệ nền tự chủ của dân tộc, nhà văn phải là hiền Nho ngõ hầu mới viết được những trang văn chương “Vệ Nam, điện Bắc” ấy. Thứ hai: văn chương phải có tính chất, tác dụng kinh bang tế thế, nhà văn phải là nhà kinh quốc lo liệu việc nước, cứu giúp người đời. Thứ ba: văn chương phải làm đẹp cho nước, cho đời, thiên chức của nhà văn là qua tác phẩm của mình làm cho nước, cho đời, cho người đẹp hơn lên. Những quan niệm văn chương cơ bản ở Nguyễn Trãi trên đây, đã thể hiện tư tưởng Việt Nho trong sáng tác của ông và nhiều đại Nho ở thời đại ông. Nguyễn Trãi đã đưa vào khái niệm Đạo những nội dung dân tộc, làm cho quan niệm văn dĩ tải đạo của Nho gia trở nên uyển chuyển, sống động, sâu sắc, thiết thực biết bao. Xét cho cùng, đây là sự kết hợp tư tưởng Nho giáo với tinh thần dân tộc, làm thành mẫu hình tiêu biểu của Việt Nho trong lĩnh vực văn chương. Mẫu hình này phản ánh quy luật và xu thế phát triển của quan niệm văn học nói riêng, và có thể cả lịch sử văn học nói chung ở nước ta từ thế kỷ XIII (tức từ khi xuất hiện thế hệ nho sĩ đầu tiên trong sáng tác văn học) về sau.

*
**

THƠ VỊNH TRẦN QUỐC TUÁN
(Niềm trung hiếu Việt Nho)

“Sinh phùng gia hấn thệ thâu trung,
Mậu kiến Trùng hưng đệ nhất công.
Một hậu uy do tồi Bắc lỗ,
Ỷ thiên trường kiếm dạ minh phong”.
(Quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung,
Trùng hưng nghiệp lớn lập nhiều công.
Uy còn phá giặc thân tuy thác,
Tiếng gió gầm đêm kiếm muốn vung.)
(Lê Thước dịch)

Đây là bài thơ vịnh sử rất tiêu biểu cho văn chương Việt Nho về quan niệm trung hiếu đầy tố chất Đại Việt và ở tính chất huyền thoại quanh nhân vật đã thành truyền thuyết. Bài thơ nằm trong một tập thơ vịnh sử nổi tiếng: Việt giám vịnh sử tập của Đặng Minh Khiêm, hiệu Thoát Hiên, xuất hiện những năm hai mươi thế kỷ XVI. Thơ vịnh sử là thơ vịnh nhân vật, sự kiện, di tích lịch sử để ngôn chí, khiển hoài, với ngụ ý khen chê, nhằm nêu gương lịch sử để giáo hóa người đời. Thể tài này thường dùng phương thức bình luận để thuyết minh giáo huấn đạo đức, quan điểm và cảm nghĩ của tác giả về lịch sử, về cuộc đời và xã hội, thường ẩn sâu trong lớp từ ngữ suy luận khô khan lạnh lùng, chứ ít khi là trữ tình nồng đượm như bài này. Thơ vịnh sử xuất hiện từ thời Trần, phát triển thời Hậu Lê, rồi bội thu ở thời Nguyễn. Việt giám vịnh sử tập gồm 125 bài thơ thất tuyệt vịnh nhân vật lịch sử từ Trần Hồ về trước. Hà Nhậm Đại, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Tự Đức… đều cho đây là tập thơ hay, nổi tiếng, vì “Đáo xứ nhân giai thuyết Thoát Hiên” (Đến đâu cũng thấy người ta nói đến thơ Thoát Hiên) vì “Bao biếm khử thủ thậm thâm ý, doãn xưng danh bút” (Khen chê lấy bỏ đều có ý sâu, đáng gọi là danh bút)…

Ở bài thơ trên, tác giả khẳng định: Đệ nhất huân công diệt Nguyên và uy danh linh hiển đời đời của Hưng Đạo Đại vương. Đại nghiệp có được từ quan niệm trung hiếu vẹn toàn, uy linh tỏa rạng, phù hợp với tâm lý, tín ngưỡng phương tục, tập quán của người xưa. Người Việt, ai mà chẳng hiểu “quyết bỏ hiềm nhà vẹn chữ trung” của Trần Quốc Tuấn, đệ nhất anh hùng chống Nguyên Mông. Sử chép: Trần Liễu, cha Trần Quốc Tuấn, bị Trần Thái Tông cướp vợ (do mưu mô của Trần Thủ Độ) mang lòng oán hận. Khi lâm chung, dặn Trần Quốc Tuấn không vì cha mà lấy được thiên hạ (tức giành ngôi vua) thì chết không nhắm mắt. Trần Quốc Tuấn để bụng nhưng không cho thế là phải, không làm theo lời cha dặn để tròn tiểu hiếu, mà quyết giữ đạo trung (cũng là đại hiếu) với vua với nước, ngay giữa lúc nắm trong tay toàn bộ binh quyền chống xâm lược Nguyên Mông. Nho giáo cho hiếu là gốc của nhân, của đức, là kính yêu cha mẹ, là phụng dưỡng theo lễ khi cha mẹ còn sống, là mai táng theo lễ khi cha mẹ qua đời, là cha ẩn giấu cho con, con ẩn giấu cho cha, chứ không phải cha trộm dê thì con đi cáo giáo (Luận ngữ: XIII – 18) v.v…, có thể gọi đó là tiểu hiếu. Còn đại hiếu là trong quan hệ giữa con và cha mẹ, có thêm quan hệ với nước, với dân. Chừng đó, người con có thái độ ứng xử đúng đắn đặt trách nhiệm của mình và quyền lợi của nước lên trên, dầu có mâu thuẫn cha con. Tìm trong Bắc sử, không kể cách ứng xử này rất hiếm thấy ở Việt Nam “Cô gái không hay hồn mất nước. Bên sông còn hát Hậu Đình hoa” (Thương nữ bất tri vong quốc hận. Cách giang do xướng Hậu Đình hoa. Đổ Mục, Bạc Tần Hoài) chuyện Ngữ Viên (tức Ngữ Tử Tư) mới là tiêu biểu. Cha Ngũ Viên bị vua Sở sát hại. Để trả thù cho cha, Ngũ Viên bỏ nước của tổ tiên, sang Ngộ, rước quân Ngô về tàn sát nước Sở, đào mả kẻ thù, quất roi nát tươm xác chết cho hả dạ, để tròn đạo hiếu. Không biết ở đất Bắc, Ngũ Viên có còn được coi là hào kiệt hiếu kính ?

GS. Phan Ngọc viết rằng: “Khổng giáo là học thuyết không nói đến Tổ Quốc”(6). Còn các học giả Trung Quốc thì xác nhận thời điểm xuất hiện của chủ nghĩa yêu nước trong văn học Trung Quốc là thời kỳ từ sau chiến tranh thuốc phiện năm 1840-1842(7). Những kiến giải có tầm vĩ mô như thế này chắc chắn còn được bàn nhiều. Song, xem nước là khái niệm trung tâm của tâm thức, của văn hóa Việt Nam, tâm thức ấy là gốc nguồn phát sinh ra tư tưởng, tình cảm, hành vi trung với nước (vô điều kiện), trung với vua (phải tùy thời), hiếu kính với cha mẹ (tiểu hiếu), với nước (đại hiếu) thì không hiếm trong tiến trình lịch sử nước ta. Trần Quốc Tuấn là một biểu trưng, Nguyễn Trãi cũng là một biểu trưng. Cả hai đều tận trung đại hiếu với nước với dân(8). Đó là Việt Nho hay trọn vẹn là tinh thần dân tộc, hoặc là phải bàn chăng? Hãy tạm dừng, để đi tiếp vào hai câu thơ sau:

Uy còn phá giặc thân tuy thác,
Tiếng gió gầm đêm kiếm muốn vung.

Tác giả, với tư cách một nhà thơ vịnh sử đã dùng huyền thoại để thần kỳ hoá uy danh của Trần Quốc Tuấn. Hai câu viết dựa vào hai huyền thoại, kể rằng: Ngài thác rồi mà dư uy vẫn còn phá tan giặc Bắc và huyền thoại về thanh kiếm thần Ngài đã dùng để chém giặc thời chinh chiến, nay để thờ Vạn Kiếp, hễ có giặc phạm vào bờ cõi, đến khấn lễ ở đền, kiếm thiêng để trong hộp kêu rít như sấm dậy, gió gào là điềm thắng trận. Đây chỉ là hai trong số hàng chục huyền thoại về Đức Thánh Trần. Con người khi sống thì đại trung đại hiếu, khi mất vẫn uy vũ để đời. Từ cõi thánh thần, Đức Thánh vẫn trở về âm phù dương thế, trừ tà ma, ngừa tai hoạn, dân cầu cúng đều ứng nghiệm. Đức Thánh trở thành bất tử, thiêng liêng linh hiển đời đời. Huyền thoại, truyền thuyết về Trần Quốc Tuấn thể hiện tâm lý, tín ngưỡng, thế giới quan đa thần của người xưa. Nói như Hégel “Huyền thoại như là một giàn giáo nâng đỡ lịch sử. Nếu chúng ta cố tình gỡ bỏ giàn giáo đó thì toàn bộ lịch sử sẽ bị sụp đổ(9).

Đặng Minh Khiêm là Tiến sĩ Nho học, không câu nệ vào lời Thánh Khổng: “bất ngữ quái, lực, loạn, thần”, ông là nhà sử học viết về huyền thoại, bảo lưu trí tưởng tượng, cách nhìn nhận về danh nhân, giống như Ngô Sĩ Liên đã làm khi viết phần Ngoại kỷ Đại Việt sử ký toàn thư. Ông lại là nhà thơ nên ngôn từ uyên áo, hàm súc, giàu tưởng tượng. Huyền thoại, truyền thuyết thì chất phác, hoang đường, kỳ diệu nhưng cốt lõi là niềm tự hào về anh hùng dân tộc thì chân thực, đáng quí biết bao.

Như thế thì bài thơ trên là trọn vẹn của một tinh thần dân tộc ? GS. Trần Đình Hượu cho rằng quý tộc nhà Trần sùng bái Phật giáo nhưng Trần Quốc Tuấn là một trường họp lệ ngoại, có xu hướng chuộng Nho. Ông không tham gia vào các hoạt động xây chùa, đúc chuông như các quý tộc khác. Môn khách của ông như Trương Hán Siêu, Lê Quát đều là nhà Nho chống Phật giáo. “Tư tưởng trong bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng của ông có nội dung Nho giáo rõ rệt. Ngoài ra nhân dân thờ ông như một ông tổ của Đạo giáo”(10)… Nhưng vị Trưởng lão Hoàng Xuân Hãn thì lại viết: “Trần Quốc Tuấn yêu Thiên Thành, con Thái Tông, nhưng Thiên Thành đã thành hôn mà chưa hợp cẩn với Trung Thành Vương. Trần Quốc Tuấn lẻn vào nhà Thiên Thành tư thông với nàng. Cô và là mẹ nuôi Trần Quốc Tuấn sợ ông bị tội nên xin Thái Tông cho cưới, đền 2000 khoảnh ruộng. Câu chuyện này đủ tỏ tính cách cả quyết của vị tướng sau này đại thắng quân Mông Cổ và sự hành vi trái Nho của tư nhân phong kiến đời Trần”(11)

Kiến giải của các đại gia đã quá cố quả có phần chưa đồng thuận. Có lẽ, kết giải nên coi:

– Đây là bài thơ vịnh sử được viết với quan niệm văn học Nho giáo, nhưng do tâm đắc với công tích và huyền thoại của / về nhân vật, bài thơ trở thành một kiệt tác suy tôn anh hùng dân tộc.

– Bài thơ có tư tưởng Việt Nho, trong đó thành phần chỉ đạo là tinh thần dân tộc thống nhất với thành phần Khổng Nho.

*
**

Tâm thức Việt, tinh hoa của truyền thống Việt đã hóa giải phần nào Nho giáo nhập Việt, tạo thành Việt Nho trong văn chương, văn hóa tư tưởng Việt, trong đó có sự kết hợp dung hòa, thống nhất Khổng Nho và tinh thần dân tộc. Trên đây là cách hiểu của riêng tôi về Việt Nho qua một số tác phẩm văn chương. Nho giáo cũng như quan niệm văn chương Nho giáo đã nhập Việt từ lâu. Bài bản bàn luận cho đến nay nhiều tựa cây rừng. Xin coi những trang viết này như những lời trộm nghĩ.

B.D.T

CHÚ THÍCH:

(1) Các tác giả trên, sinh thời thường có kiến giải mới mẻ, khoa học, thuyết phục về Nho giáo ở Việt Nam. Đặc biệt, Cố GS. Trần Đình Hượu, với tập sách Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, được giải thưởng Nhà nước, đã đưa ra nhiều kiến giải khoa học có hệ thống về Nho giáo và văn học. Là đồng nghiệp của Cố GS, tôi biết, những bài viết này, cho đến dịp Unesco kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi (1980), không được in một chữ nào. Còn cho đến nay thì đã: Không một chữ nào không in, kể cả vở của sinh viên nghe ghi những bài giảng chuyên đề của ông về tu tưởng, học thuyết Trung Quốc thời cổ.

(2) Người mắc sai lầm đầu tiên cho rằng bài thơ do Lý Thường Kiệt đặt ra là Trần Trọng Kim: “Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có thần cho bốn câu thơ. Xem Việt Nam sử lược, (tái bản). Nxb. Văn hóa Thông tin. H. 1999. tr.112. Sách in từ năm 1917-1918. Sau đó tái bản nhiều lần. Từ đó nhiều học giả tin và viết theo. Khoảng mươi năm gần đây Bùi Duy Tân đã khảo cứu lại văn bản và tác giả bài thơ, với sự cổ vũ của GS. Hà Văn Tấn, tìm ra Nam quốc sơn hà là bài thơ trích xuất từ truyền thuyết Trương Hống – Trương Hát, chứ không phải từ một thi tuyển. Cho nên coi đó là Thơ thần và tác giả của bài thơ là nhân sĩ thời tự chủ. Lý Thường Kiệt là người sử dụng bài thơ có sẵn. Thế nhưng chú thích của sách giáo khoa Ngữ Văn 7 – Tập Một (Nxb. Giáo dục, H, 2003, tr.63) lại viết: “Chưa rõ tác giả bài thơ là ai. Sau này có nhiều sách (kể bức tranh cả sơn mài ở Viện Bảo tàng Lịch sử được chụp in lại trên đây) ghi là Lý Thường Kiệt, nhưng chưa đủ chứng cớ”. viết như thế là ngụy biện, vì sách “ghi là Lý Thường Kiệt” sau này đều là quốc ngữ viết theo Trần Trọng Kim. Còn hơn 30 tư liệu Hán Nôm đáng tin cậy (chưa kể hàng trăm thần phả, thần tích bằng chữ Hán Nôm mà ta chưa tra cứu hết được) thời xưa có ghi chép in ấn văn bản bài thơ thì không hề có một văn bản nào ghi tác giả bài thơ là, hoặc tương truyền là của Lý Thường Kiệt. Riêng bức Sơn mài thì xin thưa theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 3, tr.811. Mục từ Sơn Mài (Nxb. Từ điển Bách khoa, H. 2003) thì Nghệ thuật sơn mài được các họa sĩ Trường Mĩ thuật Đông Dương như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn sáng tạo đầu những năm 30 của thế kỷ trước. Viện Bảo tàng lịch sử làm bức sơn mài cũng mới chỉ cách ta khoảng non chục năm. Với lối viết văn lập bập. mập mờ như vậy, sách giáo khoa dễ làm cho hàng triệu người dạy, người đọc, người học ngộ nhận. Thiết nghĩ soạn giả Sách giáo khoa nên chỉnh lại chú thích này.

(3) Đầu đề do chúng tôi đặt. Đây là bài thơ số 183 – Bảo kính cảnh giới 57- Quốc âm thi tập.

(4) Khác với lời dịch sai: ” Ức Trai lòng dạ sáng như sao khuê” của T.H.L; “Ức Trai lòng tựa sao khuê sáng” của H.C; “Tâm hồn Ức Trai trong sáng như ánh sao khuê buổi sớm” của N.L.B; “Tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê” của P.H.L v.v… Tôi, Vũ Nho, Tạ Ngọc Liễn đã viết nhiều bài nói rõ Khuê tảo ở đây có nghĩa là Văn chương, song thật khó đính chính trước tình trạng “ký xuất, nan truy”, “sai một ly đi một dặm” này. Dầu sao cũng xin kính cáo với quý vị học giả một hiện tượng hi hữu đáng quan tâm về dịch thuật cổ Hán ngữ thời nay. Xin xem thêm, chẳng hạn Khảo và Luận một số tác gia, tác phẩm trung đại Việt Nam, (Tập Một) Nxb. Giáo dục, H. 1999. Bài Bàn thêm về Khuê tảo – Hoa quốc từ chương, tr.4937.

(5) Danh xưng Tao đàn, chỉ Hội Tao đàn thời Lê Thánh Tông được T.S. JohnK. Whitmore – Trường Đại học Tổng hợp Michigan – Mỹ (TCVH.5. 1996 Hội Tao đàn – thơ ca vũ trụ và thể chế nhà nước thời Hồng Đức) và Tôi (TCVH. 1-1993 – Xem thêm Khảo và Luận Sđd. Hội Tao đàn – Quỳnh uyển cửu ca và vai trò Lê Thánh Tông) đều tìm chưa thấy ở các loại tư liệu đáng tin cậy của thế kỷ XV, nhân dịp kỷ niệm 550 năm sinh Lê Thánh Tông (1442-1992). Tên Tao đàn với tư cách Hội hiện thấy trong văn bản chép tay ở thế kỷ XVI.

(6) Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb. Văn hóa Thông tin. 1998.tr.227.

(7) Đại Trung Hoa tri thức bảo khố. Nxb. Nhân Dân Hồ Bắc 1995, tr.850.

(8) Nguyễn Phi Khanh, khi bị quân Minh cầm tù, áp giải qua biên giới, bèn khuyên Nguyễn Trãi: “Con hãy trở về quyết chí vào việc rửa nhục cho nước, trả thù cho cha… như thế mới là đại hiếu…”. Xem Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi. Nxb. KHXH, H. 1963, tr.252.

(9) Trích lại của Thế giới mới. Số 577 (22-3-2004).tr.180.

(10) Xem Lê Thánh Tông – Thơ văn và cuộc đời. Mai Xuân Hải tuyển chọn, biên soạn. Nxb. Hội Nhà văn. H. 1998, tr.27-28. Bài Lê Thánh Tông và thời thịnh trị của Nho học.

(11) Tập san Khoa học xã hội số 7 năm 1982. Phần in nghiêng đậm là do tôi (B.D.T) nhấn mạnh./.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm [số 2 năm 2005]

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 7/1-13/01 – NCBĐ

14 Th1

Tin tuần từ 7/1-13/01

dinh tuan anh
 

-(Sgtt 11/1) Hàng không mẫu hạm không chìm: Tokyo vừa ra một số quyết định: tăng ngân sách quốc phòng, củng cố lục quân, triệu đại sứ Trung Quốc đến cảnh báo Bắc Kinh “phải chấm dứt hành động xâm lấn chủ quyền bằng máy bay và tàu thuyền”; (Bdv 11/1) Bản lĩnh Việt Nam trước thử thách an ninh chủ quyền

-(Petrotimes 11/1) Nhật Bản-Philippines nhất trí tăng hợp tác hàng hải: Ngày 10/1, Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida và người đồng cấp Philippines Albert del Rosario nhất trí tăng cường quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác hàng hải; (Pltp 11/1) Ngoại trưởng Nhật Fumio Kishida: “Philippines là đối tác chiến lược quan trọng”

-(Vnmedia 11/1) Châu Á cần một Nhật Bản mạnh về quân sự?: Nhà ngoại giao hàng đầu của Philippines hôm nay (10/1) đã lên tiếng cảnh báo, những hành động “mang tính đe dọa cao” của Trung Quốc trong việc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông đang gây một nguy cơ lớn đối với sự ổn định ở Châu Á; (VOA 10/1) Trung Quốc kiên quyết tiếp tục tuần tra Biển Đông

-(GD 11/1) La Viện: Trung Quốc phải đề phòng bị “nước khác” đánh úp năm 2013: Mặc dù tình hình đã có sự thay đổi và “cục diện có lợi cho Trung Quốc”, nhưng theo La Viện, Bắc Kinh không được lơ là, bởi có quốc gia láng giềng “cá biệt” sẵn sàng đánh úp Trung Quốc; (BBC 10/1) Shinzo Abe thăm Việt Nam đầu tiên

 

-(TT 10/1) Nhật – Trung đối đầu trên không?: Tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang dấy lên nỗi lo ngại mới về một cuộc đối đầu trên không giữa Nhật và Trung Quốc, qua cuộc chạy đua nhằm tăng cường và chứng tỏ tiềm lực quốc phòng của hai nước; (Toquoc 10/1) Ba động thái xác định uy thế của Nhật Bản

-(Vnplus 10/1) Nhật có thể chấp nhận chia đảo tranh chấp với Nga: Theo Đài Tiếng nói nước Nga, quan điểm của lãnh đạo Nhật Bản về vấn đề quần đảo Nam Kuril (Tokyo gọi là Vùng lãnh thổ phương Bắc) là không thay đổi; Nhật lên án kế hoạch của TQ tuần tra đảo tranh chấp

-(Vnexpress 10/1) Nhật – Philippines thắt chặt hợp tác trên biển: Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida hôm nay kêu gọi thắt chặt quan hệ với Philippines, trong lúc cả hai nước có tranh chấp lãnh thổ trên các vùng biển với Trung Quốc; (Infonet 10/1) Philippines ‘bắt tay’ Nhật Bản đối phó Trung Quốc

-(TP 10/1) Siêu hạm Mỹ sắp tới Đông Nam Á: Mỹ đang có kế hoạch triển khai tàu chiến tuần duyên đầu tiên (LCS-1) mang tên USS Freedom tới Singapore vào đầu tháng 3-2013; (Petrotimes 10/1) Trung Quốc đưa Giao Long ra Biển Đông

-(GD 10/1) Trung Quốc sẽ sử dụng tàu sân bay để tấn công phía đông Đài Loan?: Bài viết nhận định như vậy khi bàn về chương trình chế tạo tàu sân bay của các nước lớn, trong đó có Trung Quốc, Nga, Mỹ…; (ANTD 10/1) Cảnh giác với “Tham vọng biển xa 2013” của Trung Quốc

-(Vnplus 10/1) “Việc Việt Nam thông qua Luật Biển là bình thường”: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định việc Việt Nam thông qua Luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982; Yêu cầu Đài Loan hủy bỏ kế hoạch thăm dò dầu khí

-(DT 10/1) Yêu cầu Đài Loan hủy thăm dò dầu khí ở Trường Sa: Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm nay lên tiếng phản đối việc Đài Loan tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; Nhật Bản có thể bắn cảnh cáo máy bay Trung Quốc

-(GD 10/1) Tàu sân bay 22DDH Nhật Bản tạo ra mối đe dọa chí tử cho tàu ngầm TQ: Tàu sân bay trực thăng 22DDH có khả năng săn ngầm rất mạnh, có thể áp chế lực lượng tàu ngầm TQ, đồng thời sẽ là tàu chỉ huy của hạm đội tàu chiến NB; (ANTD 10/1) Nhật siết chặt “vòng kim cô” xung quanh Trung Quốc

-(Vnexpress 10/1) Việt Nam định hình quan điểm lãnh đạo tương lai của Mỹ như thế nào: John Kerry và Chuck Hagel, hai vị được đề cử đứng đầu hai bộ quan trọng nhất là ngoại giao và quốc phòng của Mỹ, cùng có thời tham chiến ở Việt Nam và chính cuộc chiến này đã định hình quan điểm của họ về chính sách mà nước Mỹ cần có; Tưởng niệm chiến sĩ hy sinh bảo vệ Trường Sa

-(TP 10/1) Hé lộ kho vũ khí tuyệt mật của Trung Quốc: Máy bay không người lái (UAV), tiêm kích tàng hình, tàu vũ trụ…là những vũ khí hiện đại và tinh vi mà Trung Quốc đang phát triển; (Bdv 10/1) Chuyên gia Nga phân tích thẳng sức mạnh quân sự Trung Quốc

-(Infonet 10/1) Tăng tàu hải giám, Trung Quốc tiếp tục tìm cách “độc chiếm” Biển Đông: Đó là nhận định của TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ, khi nói về việc tăng tàu hải giám trên Biển Đông của Trung Quốc; (VNN 10/1) TQ chi tỉ đô củng cố các đảo ở Biển Đông

-(GD 10/1) Philippines sẽ hoàn tất kế hoạch mua 10 tàu tuần duyên của Nhật Bản: Ngoại trưởng Philippines và Nhật Bản dự kiến sẽ hoàn tất thỏa thuận về việc mua 10 tàu tuần duyên của Nhật Bản cho lực lượng cảnh sát biển nước này làm nhiệm vụ trên Biển Đông nhân chuyến thăm Manila của ông Fumio Kishida; (VNN 10/1) ASEAN và ‘yếu tố Trung Quốc’: Giữa ngã ba chiến lược

-(GD 10/1) “Trung Quốc phải giải thích vụ tàu đổ bộ vào sát Thị Tứ, Trường Sa”: Ngoại trưởng Albert del Rosario nhắc lại, Philippines kịch liệt phản đối những hành động “khó chịu” của Trung Quốc; “2013 Hải giám TQ sẽ chặn tàu Nhật Bản, Philippines, Việt Nam”

-(Vnplus 10/1) Trung Quốc phản đối Nhật tính tới “biện pháp mạnh”: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi ngày 9/1 đã lên tiếng phản đối việc Chính phủ Nhật Bản cân nhắc có biện pháp mạnh đối với việc máy bay Trung Quốc liên tục tiếp cận khu vực quanh quần đảo Senkaku; (Ddk 10/1) Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992: Đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào Hiến pháp

-(Ld 10/1) Việt Nam chính thức đảm nhận cương vị Tổng Thư ký ASEAN: Ngày 9.1, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Lương Minh đã chính thức đảm nhận cương vị Tổng Thư ký ASEAN trong buổi lễ bàn giao trọng thể tại Ban Thư ký ASEAN ở Jakarta, Indonesia; (VNN 10/1) TQ âm thầm ‘thâu tóm’ mỏ của Philippines

-(RFI 9/1) Tokyo nhanh chóng triển khai chính sách Đông Nam Á: Ngoại trưởng Nhật Bản đã đến Manila hôm nay, 09/01/2013 trong khuôn khổ chuyến công du sẽ tiếp tục đưa ông qua Singapore, Brunei và Úc; Bộ Quốc phòng Nhật đòi thêm 2 tỷ đô la để cải thiện không quân

-(Vnplus 9/1) Việt Nam và Pháp họp bàn về hợp tác quốc phòng: Ngày 9/1/2013, tại Hà Nội, kỳ họp thứ 3 Ủy ban hỗn hợp về hợp tác quốc phòng Việt-Pháp đã được tổ chức. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Gratien Maire, Phó Tham mưu trưởng Liên quân Pháp đồng chủ trì; Thúc đẩy hợp tác Việt Nam và Ấn Độ trên nhiều mặt

-(VNN 9/1) Philippines yêu cầu TQ xác định rõ ranh giới: Philippines ngày 9/1 đã yêu cầu Trung Quốc giải thích việc Bắc Kinh triển khai một tàu tuần tra để bảo vệ quần đảo và vùng biển giàu tiềm năng dầu mỏ mà nước này tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông; (Vnplus 9/1) Đoàn tàu hải quân Trung Quốc thăm TP Hồ Chí Minh

-(Nld 9/1) Đông Nam Á chuyển động vì biển Đông: Sự phức tạp của vấn đề biển Đông sẽ tiếp tục là thách thức cho quá trình xây dựng cộng đồng ASEAN; (RFI 9/1) Biển Đông : Manila chất vấn Bắc Kinh về chỉ thị khám soát tàu thuyền

-(TN 9/1) Tàu cá Quảng Ngãi bị hải quân Trung Quốc ngăn cản vào Hoàng Sa tránh gió: Ngày 8.1, Ban Chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh Quảng Ngãi cho biết đã đề nghị Ủy ban Quốc gia TKCN, Ban Chỉ đạo PCLB T.Ư, Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao xem xét, có biện pháp giúp đỡ một tàu cá bị nạn ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa; (GD 9/1) Trung Quốc biên chế J-16 cho HĐ Nam Hải tuần tra trái phép Hoàng Sa?

-(Vnplus 9/1) Nhật hoãn đưa tranh chấp đảo với Hàn Quốc ra ICJ: Chính phủ Nhật Bản đã quyết định sẽ không đơn phương đưa vấn đề chủ quyền đối với đảo Takeshima mà Hàn Quốc gọi kà Dokdo ra Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) trong tương lai gần; (Infonet 9/1) Nhật nghiên cứu 3 kịch bản chiến tranh với Trung Quốc

-(VNN 9/1) Căng thẳng Trung-Nhật mấp mé ‘quân sự hóa’: Trong hai ngày liên tiếp, Nhật Bản đã đưa ra hai quyết định cụ thể chi mạnh cho quốc phòng; (VOV 9/1) Quan hệ Trung – Nhật khởi đầu năm mới không thuận lợi

-(TP 9/1) Trung Quốc ‘đe’, Philippines đáp trả: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines ngày 8-1 lên tiếng khẳng định chủ quyền với đảo Thị Tứ, một động thái cứng rắn trước việc Trung Quốc “đe” Philippines không làm phức tạp Biển Đông; Philippines yêu cầu Trung Quốc xác định rõ ranh giới

-(GD 9/1) Philstar: Chiến hạm đổ bộ Trung Quốc kéo sát đảo Thị Tứ, Trường Sa: Chiến hạm đổ bộ Trung Quốc không chỉ xuất hiện gần đảo Thị Tứ mà còn đem theo cả xe lội nước đổ bộ và binh lính Thủy quân lục chiến đi cùng; Trung Quốc “biên chế” 4 tàu Hải giám mới xuống Biển Đông

-(VNN 9/1) Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh: ‘Tôi bị sét đánh…’: Trong bài phát biểu nhậm chức sáng nay (9/1) tại Jakarta, tân Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh đề cập việc ASEAN cần tăng tốc đàm phán với Trung Quốc để sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông; (Nld 9/1) Tân TTK ASEAN Lê Lương Minh phát biểu về biển Đông

-(Petrotimes 9/1) Bắc Kinh ‘nhu’ với xứ Kim chi, ‘cương’ với nước Mặt trời mọc: Mặc dù Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có cuộc hội đàm với tân Đại sứ Nhật Bản tại Bắc Kinh Kitera Masato tới 50 phút tối ngày 5/1 khi ông có chuyến thăm Bộ Ngoại giao Trung Quốc, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc căng thẳng trong tranh chấp biển đảo giữa 2 nước sẽ lắng dịu; Nhật Bản triệu hồi đại sứ Trung Quốc để phản đối

-(Infonet 9/1) Vì sao Nhật – Trung không thể chấm dứt ‘hục hặc’?: Trong thời gian vừa qua, mối quan hệ Nhật – Trung luôn căng thẳng phần lớn là do lối hành xử đầy “khiêu khích” của Trung Quốc; Trung Quốc bố trí 55 máy bay J-6 cho Senkaku/Điếu Ngư

-(Nld 9/1) Bộ Quốc phòng Nhật được lệnh “đáp trả kiên quyết” ở Senkaku: Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe ngày 8-1 đã ra lệnh cho Bộ trưởng Quốc phòng Itsunori Onodera tăng cường giám sát xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư) sau khi các tàu hải giám Trung Quốc quẩn quanh khu vực trên hơn 13 tiếng; Nhật Bản hướng về Đông Nam Á

-(Sgtt 9/1) Các chuỗi đảo trong thế tranh hùng: Mỹ phát triển công nghệ máy tính và máy bay tàng hình là để đối phó với Trung Quốc, trong việc nước này muốn phong toả khả năng triển khai sức mạnh của Mỹ trên Biển Đông; (Pltp 9/1) Nhật thay đổi chính sách quốc phòng

-(Vnexpress 9/1) Thủ tướng Nhật ra lệnh tăng giám sát Senkaku/Điếu Ngư: Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng tăng cường giám sát xung quanh quần đảo tranh chấp với Trung Quốc trên biển Hoa Đông; Cuộc đua máy bay không người lái của Trung, Nhật

-(Vnplus 9/1) “Thủ tướng Nhật Abe sẽ thăm Việt Nam trước Mỹ”: Theo đó, người lần thứ hai đảm nhiệm chức Thủ tướng Nhật dự kiến sẽ thăm Indonesia, Thái Lan và Việt Nam trong tháng này; (Ld 9/1) Philippines thận trọng với “lời mời” của Trung Quốc

-(TN 9/1) Cảnh giác với “gác tranh chấp, cùng khai thác”: Philippines tỏ ra thận trọng trước tuyên bố của Trung Quốc muốn hợp tác thăm dò dầu khí ở biển Đông; (Petrotimes 9/1) Cận cảnh 150 bản đồ chủ quyền biển đảo vừa về đến Việt Nam

-(Vnmedia 8/1) Ấn Độ triển khai thêm máy bay tới biên giới với Trung Quốc: Thời báo Hoàn Cầu ngày 8/1 đưa tin, gần đây Ấn Độ đã ký gói hợp đồng sắm mới 6 chiếc máy bay tiếp dầu A330MRTT của hãng European Airbus; Trung Quốc “toát mồ hôi” trước tin Nhật Bản đóng tàu sân bay “chuẩn”

-(ANTD 8/1) Mỹ chính thức đứng về phía Nhật trong tranh chấp ở Senkaku với Trung Quốc: Ngày 05/01 vừa qua, trang mạng Chinanews của Trung Quốc có bài viết với tiêu đề: “Obama phê chuẩn dự luật liên quan đến Senkaku, thừa nhận chủ quyền của Nhật Bản”; (RFI 8/1) Nhật Bản không để Trung Quốc uy hiếp

-(DT 8/1) Nhật tăng chi tiêu quân sự “đối phó” với Trung Quốc: Lần đầu tiên trong hơn một thập niên, Nhật sẽ tăng chi tiêu quân sự cho năm 2013, trong bối cảnh căng thẳng trên Hoa Đông giữa nước này với Trung Quốc chưa có dấu hiệu hạ nhiệt; (VNN 8/1) Thủ tướng Nhật khuấy động tinh thần yêu nước

-(TN 8/1) Nhật lần đầu triệu tập đại sứ Trung Quốc dưới thời ông Abe: Nhật đã triệu tập đại sứ Trung Quốc tại Tokyo vào hôm 8.1, để “cực lực phản đối” việc tàu công vụ Trung Quốc xuất hiện gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư; Nhật sẽ sửa đổi chính sách quốc phòng trong năm 2013

-(Vnplus 8/1) Sẽ ra mắt Cục Kiểm ngư trong tháng một năm 2013: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Vũ Văn Tám cho biết Bộ đang khẩn trương hoàn tất cơ cấu tổ chức và hoạt động của lực lượng kiểm ngư Việt Nam để ra mắt Cục Kiểm ngư trong tháng Một này; Chứng cứ pháp lý chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

-(Petrotimes 8/1) Trung Quốc kêu gọi Philippines tránh làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông: Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 7/1 thúc giục Philippines tránh làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông trước tin cho hay Manila có thể sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng trên quần đảo Trường Sa; (DT 8/1) Công bố 150 bản đồ khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa

-(VNN 8/1) Biển Đông và Đài Loan 2013: 2012 là một năm đầy sóng gió ở biển Đông với các va chạm và khiêu khích tiếp diễn một cách dồn dập. Đài Loan 2013 đối với biển Đông sẽ như thế nào?; (GD 8/1) Philippines thận trọng với “dụ dỗ khai thác chung” của TQ ở Biển Đông

-(Petrotimes 8/1) Gần 300 lượt tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển Đà Nẵng: Các tàu cá Trung Quốc vi phạm thường đi thành từng tốp có số lượng đông, cho tàu có công suất cao đi trước để hỗ trợ cho hoạt động của tốp sau; đưa tàu sắt đi giữa bảo vệ cụm tàu 4 đến 10 chiếc chiếm ngư trường; Những kỷ lục về môi trường – biển đảo Việt Nam

-(Infonet 8/1) Ngân sách quốc phòng Nhật Bản 2014 sẽ tăng 1 tỷ USD: Hôm nay, truyền thông Nhật cho biết vào cuối tháng 12 năm nay, nước này sẽ sửa lại chính sách quốc phòng và kế hoạch mua sắm vũ khí trong bối cảnh chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đang vật lộn với căng thẳng với các nước láng giềng Đông Á; Hải quân Trung Quốc chặn tàu cá Việt Nam bị nạn vào Hoàng Sa tránh bão

-(GD 8/1) Nhật triệu Đại sứ Trung Quốc phản đối tàu Hải giám “lởn vởn” ở Senkaku: Thứ trưởng Ngoại giao Nhật bản Akitaka Saiki đã triệu Đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản, ông Trình Vĩnh Hoa tới Bộ Ngoại giao Nhật trong sáng nay; Học giả Bắc Kinh tưởng tượng “vòng vây Trung Quốc” trên Biển Đông

-(VOA 7/1) TQ kêu gọi Philippines chớ làm phức tạp thêm tranh chấp Biển Đông: Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 7/1 thúc giục Philippines chớ làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông trước tin cho hay Manila có thể sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng trên quần đảo Trường Sa; (RFI 7/1) Biển Đông 2013 : Nguy cơ đối đầu Việt-Trung

-(VNN 7/1) Nhật lại chặn máy bay TQ ở Hoa Đông: Vụ việc thứ nhất xảy ra chỉ cách đây vài tuần, nhưng xem ra nó đang dần trở thành một động thái thường xuyên làm gia tăng căng thẳng Trung – Nhật xung quanh tranh chấp chủ quyền ở Hoa Đông; (VOV 7/1)Tàu Trung Quốc tiếp tục xâm nhập vùng biển Senkaku/Điếu Ngư

-(TP 7/1) Trung Quốc có thể quân sự hóa vấn đề Biển Đông: Những dự đoán về một cuộc chiến trên Biển Đông chưa bao giờ mạnh mẽ như vậy khi Trung Quốc liên tục có những hành động “khiêu khích” các nước láng giềng; (Vnmedia 7/1) Hải quân, Không quân Trung-Nhật lại đối đầu

-(Infonet 7/1) Lục quân, không quân VN diễn tập lớn nhất từ sau 1975: Quân đoàn 2, Bộ Quốc phòng vừa tổ chức thành công cuộc diễn tập thực nghiệm thực binh hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn nhất từ sau 1975 tới nay; Quan hệ Trung Quốc – Philippines “dậy sóng” vì Biển Đông

-(GD 7/1) Nhật Bản tổ chức diễn tập nhảy dù đoạt đảo, răn đe đối phương: Để bảo vệ quần đảo Senkaku, Nhật Bản tỏ ra sẵn sàng hơn cho các hành động quân sự, tổ chức diễn tập đoạt đảo răn đe kẻ thù; Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng trái phép cơ sở hạ tầng ở Hoàng Sa

-(Antd 7/1) Trung Quốc phải chấm dứt những hành động khiêu khích: Sau khi hải quân Trung Quốc tiến hành tập trận tại khu vực mà họ gọi là “Thành phố Tam Sa”, chính phủ Philippines đã có những phản ứng quyết liệt; Ra mắt cuốn Kỷ yếu Hoàng Sa

-(GD 7/1) Trung Quốc “dụ” Philippines “khai thác chung” dầu khí tại Bãi Cỏ Rong?: Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Mã Khắc Khanh vừa đưa ra một đề nghị với chính quyền nước sở tại, Bắc Kinh và Manila nên “bắt tay khai thác” dầu khí tại khu vực Bãi Cỏ Rong; (LD 7/1) Nhật Bản tăng chi tiêu quân sự cao nhất trong 11 năm

-(TN 7/1) Đài Loan trang bị radar tối tân: Ngày 6.1, CNA dẫn nguồn tin từ lực lượng phòng vệ không trung Đài Loan cho hay một hệ thống radar cảnh báo sớm do Mỹ chế tạo vừa được lắp đặt tại huyện Tân Trúc, phía tây bắc đảo này; Nhật đẩy mạnh hợp tác an ninh biển

-(Petrotimes 7/1) Tăng cường quảng bá du lịch biển đảo: Một trong những ưu tiên trong hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong năm 2013 là chủ đề về du lịch biển đảo theo Chiến lược phát triển biển đảo Việt Nam; Nhật Bản ‘hòa’ với Hàn và ‘rắn’ với Trung!

-(Vnplus 6/1) Nhật sẵn sàng cho việc thực hiện quyền tự vệ tập thể: Chính phủ nước này sẵn sàng thành lập một ủy ban tư vấn để dọn đường cho Tokyo thực hiện quyền tự vệ tập thể, một mục tiêu chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe; (Vnmedia 6/1)Trung Quốc châm ngòi chạy đua vũ trang mới?

 

Học sinh vùng cao ở lán, bắt chuột ăn qua ngày giá rét – DT

14 Th1

Học sinh vùng cao ở lán, bắt chuột ăn qua ngày giá rét

Dân Việt – Đường xa không về nhà thường xuyên được nên mọi sinh hoạt ăn uống các em đều tự lo. Có lúc hết măng ớt các em phải bẫy chuột làm đồ ăn, nhưng may mắn cả tuần cũng chỉ bắt được 2 con…

Đó là những khó khăn mà những học sinh bán trú bậc tiểu học và trung học cơ sở của Trường phổ thông cơ sở (PTCS) Háng Đồng đang phải trải qua trong những ngày giá rét.

Trường PTCS Háng Đồng nằm trên đại bàn xã Háng Đồng (huyện Bắc Yên, Tỉnh Sơn La). Do nằm ở độ cao 1.800m nên nhiệt độ ở Háng Đồng thời điểm hiện tại trung bình khoảng 4-5 độ C, có thời điểm xuống chỉ còn 2-3 độ C, thậm chí vào lúc chiều và tối khi sương lạnh bắt đầu xuống nhiệt độ còn thấp hơn nữa.

Những học sinh dân tộc Mông của trường PTCS Háng Đồng đang phải sống trong những mái lán tạm bợ như thế này.

Thời tiết khắc nghiệt như vậy nhưng 110 học sinh bán trú bậc tiểu học và trung học cơ sở của Trường PTCS Háng Đồng lại đang phải sống trong hơn 20 căn lán tạm bợ dựng bên bìa rừng cạnh trường.

Những căn lán được ghép bằng những tấm gỗ đơn sơ với mái nhà được căng bạt, nẹp chặt hai bên để tránh gió lốc, có nhiều căn lán không có cửa. Điều kiện sinh hoạt của các em ở đây vô cùng khó khăn.

Vào những ngày giá rét, ngoài chiếc chiếu được trải xuống sàn nhà hoặc một tấm gỗ lớn làm giường, các em chỉ có một tấm chăn mỏng để chống chọi lại cái lạnh 2-3 độ C mỗi đêm về.

Em Mùa A Sếnh – học sinh lớp 5 Trường PTCS Háng Đồng cho biết: Có những ngày rét đậm hoặc mưa nước dột xuống ướt hết sàn nhà không thể ngủ được. Để chống rét, em và các bạn phải chạy xuống bếp quây quần đốt lửa sửa ấm qua đêm.

Bên cạnh đó, việc học tập của các em cũng hết sức thiếu thốn, không có bàn, nhiều em lấy ghế nhựa hoặc ngồi ngay trên sàn nhà để đọc sách và làm bài tập.

Để chống lại cái lạnh 2-3 độ C, Mùa A Sếnh và các bạn phải đốt lửa để sửa ấm.

Theo ghi nhận của của PV, Trường PTCS Háng Đồng hiện nay có 520 học sinh dân tộc thiểu số đang theo học và 100% các em là người dân tộc Mông.

Trong đó, có 110 học sinh đang theo học theo dạng bán trú. Những em này đều có nhà cách trường từ 10-20km. Đường đi rất khó khăn nên phải 2-3 tuần, thậm chí 1 tháng các em mới về nhà 1 lần. Trong mỗi lần về nhà các em phải mang gạo và thức ăn đi dự trữ.

Do không thể về nhà thường xuyên nên mọi sinh hoạt, ăn uống các em đều phải tự lo. Bữa ăn của các em chủ yếu chỉ có cơm và canh măng ớt.

Có những khi hết măng ớt thì các em dùng bẫy bắt chuột để làm đồ ăn cho mình. Tuy nhiên, theo em Mùa A Tủa  – học sinh lớp 5 Trường PTCS Háng Đồng thì nếu may mắn mỗi tuần các em cũng chỉ bắt được một đến 2 con chuột.

Những chiếc bẫy chuột được Mùa A Tủa và các bạn dùng để bắt chuột làm thức ăn. (Ảnh chụp từ clip VTV)

Ông Đỗ Văn Tâm, Hiệu trưởng Trường PTCS Háng Đồng cho biết: Mỗi em học sinh theo học tại nhà trường đều nhận được số tiền hỗ trợ khoảng 500.000 đồng/tháng, nhưng số tiền đó không đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày. Chứng kiến cảnh sinh hoạt khó khăn của các em, nhiều thầy cô trong nhà trường vẫn thường xuyên tới để hỗ trợ và động viên.

Cũng theo ông Tâm, Trường PTCS Háng Đồng được thành lập trước đó khá lâu nhưng chỉ 5-6 năm trở lại đây mới có đông con em đồng bào dân tộc Mông đến học.

Dù là trường bán trú nhưng nhà trường vẫn chưa được xây dựng nhà bán trú kiên cố cho các em. Những căn lán cạnh trường là do phụ huynh học sinh mang gỗ đến dựng để các em có chỗ sinh hoạt khi không về nhà được.

“Đến nay vẫn chưa thấy kế hoạch xây dựng nhà bán trú cho các em. Với lứa tuổi của các em mà phải tự lo như thế này thì quá vất vả”, Hiệu trưởng Trường PTCS Háng Đồng tâm sự.

Xuân Lực (tổng hợp)

Thư của Ban Chủ nhiệm khối Trí thức thuộc Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến TP HCM gửi lãnh đạo Thành phố – Bauxite

14 Th1

Thư của Ban Chủ nhiệm khối Trí thức thuộc Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến TP HCM gửi lãnh đạo Thành phố

Kế sách cứu nước – xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã gửi quý lãnh đạo đất nước cùng thanh niên Việt Nam ở trong và ngoài nước – Bauxite

14 Th1

Kế sách cứu nước – xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI của Tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã gửi quý lãnh đạo đất nước cùng thanh niên Việt Nam ở trong và ngoài nước

TS Nguyễn Nhã gửi đến BVN lá thư ngỏ văn xuôi dưới đây cùng với một bài hát nói và 408 câu thơ lục bát được ông chia thành 12 phần, ông gọi là 12 “hiền kinh quốc đạo”, hy vọng được sử dụng trong ngày giỗ vua Hùng hàng năm. Do khuôn khổ và tính chất của một trang mạng không chuyên văn thơ, chúng tôi xin trân trọng đăng lá thư và bài hát nói của ông, còn 12 “hiền kinh quốc đạo” thì đề nghị ông chuyển thẳng đến Ban tổ chức ngày giỗ vua Hùng để họ nghiên cứu sử dụng.

Bauxite Việt Nam

Tôi vốn là nhà sử học nghiên cứu lịch sử Việt Nam với cách nhìn ngàn năm trước hướng về ngàn năm sau, nhận thấy rằng hiện nay không còn là nguy cơ xâm lược mà thật sự đã xảy ra xâm lược lãnh thổ ở Biển Đông và xâm lược phá nát kinh tế văn hóa xã hội Việt một cách thâm sâu chưa từng có.

Song đây lại là thời cơ có một không hai của người Việt chúng ta, xin soạn thảo kế sách cứu nước và xây dựng nội lực đất nước hùng cường thế kỷ XXI, gửi tới quý lãnh đạo nhà nước, quý lãnh đạo chính trị, các doanh nhân cũng như toàn dân. Tôi ước mong tất cả người Việt chúng ta trong và ngoài nước phải bừng tỉnh, cần có tâm và có tầm, nhất là các bạn thanh niên hãy cương quyết xóa đi những gì xấu xí của người Việt, quyết bỏ qua một bên và hàn gắn những đau thương của thế kỷ XX với “một triệu người vui và một triệu người buồn”. Chúng ta vượt lên chính mình, nỗ lực không ngừng nghỉ xây dựng một nước Việt Nam hùng cường của thế kỷ XXI, sánh vai với các cường quốc năm châu bốn biển, quyết không còn là quốc gia bị lệ thuộc, nạn nhân của thời cuộc quốc tế, bị xử ép làm nhục và bị tụt hậu nữa!

Kế sách này phải là kế sách của toàn dân trước hết là của thanh niên đi tiên phong trong quá trình đại hòa dân tộc, mỗi người một kế hoạch nhỏ đầy sáng tạo xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Nhà nước là yếu tố quan trọng song nhất định từ bỏ mọi bao cấp kể cả bao cấp yêu nước.

Kế sách cứu nước này phải kế thừa sự khôn ngoan của cha ông hàng ngàn năm nay từ tuyên ngôn độc lập “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt, “Văn hiến Bắc Nam mỗi nước mỗi khác” của Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, lòng nhân ái của Lý Thánh Tôn[g], Trần Nhân Tôn[g]…

Kế sách cứu nước này phải là kế sách đấu tranh ngoại giao hòa bình đa phương hóa, đa dạng hóa, sử dụng sức mạnh tổng hợp thời đại toàn cầu.

Kế sách cứu nước này phải là chiến lược chứ không phải chỉ là sách lược giai đoạn, đoàn kết dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, huy động lòng yêu nước toàn dân trong xây dựng nội lực đất nước hùng cường. Các công ty đều lấy mục tiêu góp phần phát triển đất nước, những gì hại cho quyền lợi đất nước quyết không làm…

Kế sách cứu nước này phải là kế sách trở về nguồn, giữ gìn bản sắc Việt, tạo lòng tự hào dân tộc, tự lập tự cường trong lịch sử đấu tranh cũng như trong xây dựng – xây dựng quốc đạo nhân chủ, thờ Quốc tổ, thờ anh hùng dân tộc. Những triết lý sống Việt là mẫu số chung của tất cả người ViệtNamkhông phân biệt chính kiến tôn giáo, địa phương, tạo động lực yêu nước chân chính phát triển đất nước hùng cường. Như người Nhật đã lấy ngày 31 tháng 12 hàng năm tất cả  già trẻ lớn bé đến đền thờ Thần đạo thì người Việt chúng ta cũng lấy ngày 10 tháng Ba âm lịch tất cả đều đến đền thờ Quốc tổ, các đình, đền, miếu có biểu tượng Quốc tổ và anh hùng dân tộc để chiêm bái tỏ lòng đoàn kết dân tộc, quyết tâm trở về cội nguồn xây dựng đất nước hùng cường.

Kế sách cứu nước này phải là kế hoạch tạo niềm tin, cách mạng văn hóa xã hội, không được dối trá, nói dối, cùng xây dựng xã hội lành mạnh tử tế, pháp trị.

Kế sách cứu nước phải thật sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đẩy mạnh phong trào thế giới du với hàng trăm ngàn, hàng triệu du học sinh, kể cả các thầy giáo đi học hỏi thu tóm những tinh hoa hiện đại của thế giới về xây dựng đất nước hùng cường, phải làm cuộc cách mạng văn hóa giáo dục xây dựng đất nước hiện đại hùng cường. Phải tạo động lực yêu nước trong đấu tranh và xây dựng, lấy mối nhục tụt hậu và bị cường quốc láng giềng xử ép, làm nhục làm động cơ hành động xây dựng đất nước.

Kế sách cứu nước này phải là chiến lược phát triển kinh tế biển, tạo cú hích cất cánh kinh tế Việt Nam như xây dựng cảng sâu nhất thế giới như cảng Vân Phong với đường cao tốc xuyên quốc gia không qua đèo nào, đoàn kết với các nước ASEAN  để các nước ASEAN như Lào, Miến Điện, Campuchia, Thái Lan sử dụng. 

Kế sách cứu nước ngoài chiến lược lâu dài trên, phải ưu tiên trước tiên tập trung chiến lược đối phó xâm lược ở Biển Đông với ngoại giao khôn ngoan hòa bình đa phương, đa dạng, tích cực phòng vệ vững chắc các hải đảo, quốc phòng toàn dân, mỗi ngư dân là một dân binh.

Phải như Trung Quốc từ trung ương có hẳn một viện nghiên cứu rất lớn về Biển Đông và nhiều cơ quan trực thuộc trung ương khác từ Viện Khoa học đến Bộ Tư lệnh Hải quân, cơ quan tình báo, tất cả thường xuyên tiến hành nghiên cứu, biên soạn tài liệu, tổ chức hội thảo… về chủ quyền biển đảo. Rồi đến các địa phương cấp tỉnh, mỗi tỉnh ven biển đều có nhiều cơ quan nghiên cứu về biển đảo cũng như đến các trường đại học, đều tham gia nghiên cứu, quảng bá chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông.

Với xâm lăng kinh tế, văn hóa xã hội thì quyết bảo vệ bản sắc Việt, xã hội lành mạnh, chống văn hóa, giáo dục nô dịch ngoại lai, xây dựng nền kinh tế tự lập tự cường, không lệ thuộc, đặc biệt cấp tốc bài trừ các hàng Trung Quốc và cách nuôi trồng Trung Quốc độc hại như rau củ quả, thực phẩm, các gia vị, phẩm màu, các đồ chơi cùng nhiều hàng hóa khác rất độc hại đang đe dọa đến sự sống còn của mỗi người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam! 

Hát nói Chúc mừng năm mới 2013      

Hãn Nguyên Nguyễn Nhã 

 

Mừng chúc hai ngàn mười ba năm mới

 Thế gian này tiến tới bình an

 Chẳng còn xử ép nướcNam

Chẳng còn chịu nhục chẳng còn chịu thiệt

Tham lam quá mưu gian chiếm biển

Hung dữ ôi ý định bá quyền!

 ViệtNam ơi ta quyết tiến lên

 Giữ bản sắc giữ hồn thiêng Đất Việt

Giáo dục quốc sách hàng đầu đào tạo nhiều tuấn kiệt

 Đưa  ViệtNamthành cường quốc biển tương lai

 Thanh niên rường cột ngày mai

1/1/2013

 

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Hai tử huyệt của chế độ – BS

14 Th1

Posted by basamvietnam on 14/01/2013

hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu

Hai tử huyệt của chế độ

Hoàng Xuân Phú1

Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng

–       quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, và

–       quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý

tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992 là hai tử huyệt của chế độ. Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu. Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

 

Tử huyệt độc quyền lãnh đạo

Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ. Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.

Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản  bội.

Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.

Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”, thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng. Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?

Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.

Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.

Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.

Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.

Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân. Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.

Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.

Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.

Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 củaHiến pháp 1992, thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội, được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai

Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân. NhưngHiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

“Sở hữu toàn dân” lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu. Trớ trêu thay, nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đi quyền sở hữu của toàn dân. Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.

Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu “dân cày có ruộng”. Chữ“có ruộng” ở đây đương nhiên là “sở hữu ruộng đất”, chứ không phải chỉ là “có quyền sử dụng đất”. Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức “sở hữu toàn dân”Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?

Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền.Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh “công bộc” đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.

Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ “sở hữu toàn dân” ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành “của nợ”, vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.

Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh. Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.

Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?

Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó. Songlãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống. Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này. 

*

*      *

Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.

Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.

Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.

Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.

H.X.P.

Hà Nội, 11/01/2013

Nguồn: hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu

Cùng tác giả:

–       Viễn tưởng từ chức

–       Bài học tồn vong từ thảm họa

–       Nhận thức mới: Lấy là bỏ, bỏ là lấy

–       Lực cản Nhà nước pháp quyền

–       Trải bốn nghìn năm còn chậm lớn

–       Chiến binh cầm bút

–       Hãy để lương tâm lên tiếng một lần!

–       Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng

–       Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ

–       Quyền biểu tình của công dân

Còn Vinashin nếu kiểm soát nội bộ bị vô hiệu hóa

14 Th1

Còn Vinashin nếu kiểm soát nội bộ bị vô hiệu hóa

Nếu việc kiểm soát trong nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa thì sẽ lại tiếp tục những đổ vỡ như Vinashin, Vinalines ông Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm UB Kinh tế – Ngân sách QH, Chủ tịch Hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam nói về địa vị độc lập của Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp.

 

Kiểm soát quyền lực để chống tham nhũng

Chỉ tuân theo pháp luật

Thưa ông, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội tiếp tục khẳng định nguyên tắc phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhưng có thêm điểm mới so với Hiến pháp năm 1992 là giữa các cơ quan này có sự kiểm soát lẫn nhau. Ông bình luận gì về điểm mới này?

– Bất cứ nhà nước nào cũng gặp phải hai vấn đề tiêu cực lớn là lạm quyền và tham nhũng. Nên dưới bất kỳ thể chế nào người ta cũng đề cao chuyện chống tham nhũng ngay trong bộ máy và làm thế nào để hạn chế chuyện lạm dụng quyền lực.

Thực tế vừa qua cho thấy, nếu việc kiểm soát trong nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa thì sẽ lại tiếp tục dẫn đến những đổ vỡ như xảy ra với Vinashin, Vinalines…

Để làm tốt cơ chế kiểm soát quyền lực, bản dự thảo sửa đổi cũng đã bổ sung ba thiết chế hiến định độc lập mới, trong đó có vai trò KTNN. Cơ quan này vốn đã được thành lập từ lâu nhưng đã phát huy được vai trò gì trong kiểm soát nguồn tài chính quốc gia chưa thưa ông?

– KTNN ở Việt Nam xuất hiện đã hơn 20 năm nay, khi nước ta tiến hành đổi mới, gia nhập nền kinh tế thị trường. Với yêu cầu đầu tiên là phải công khai, minh bạch, ban đầu ta chỉ lập hai công ty kiểm toán thuộc Bộ Tài chính. Dần dà, KTNN ra đời với vị thế độc lập hơn. Mãi tới năm 2005 luật Kiểm toán nhà nước mới được ban hành. Nhưng để xác định cơ quan này đặt ở đâu cũng là vấn đề gây tranh cãi. Vì rõ ràng KTNN không thể thuộc Chính phủ.

Vậy là đi đến quyết định, đây sẽ là cơ quan do QH thành lập.

Mô hình mới này hoạt động đã được 20 năm song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Mà một phần cũng do địa vị pháp lý chưa được quy định trong Hiến pháp.

Vậy Hiến pháp sửa đổi nên xác lập vị thế của KTNN như thế nào để phát huy tốt nhất vai trò?

– Ở các nước, Hiến pháp đều quy định vị thế độc lập của KTNN cũng như ông tổng kiểm toán. Đây là cơ quan kiểm tra về tài chính công, nằm ở nhánh tư pháp chứ không phải ở nhánh lập pháp. Bản thân KTNN không phải là cơ quan giúp việc cho QH, mà nằm độc lập như một phương tiện của Nhà nước, độc lập với QH, độc lập với cơ quan hành pháp. Tất cả đều ghi nhận quy tắc hoạt động độc lập và không chịu sự can thiệp từ các thiết chế quyền lực khác.

Để thực hiện hiệu quả hai chức năng – kiểm toán việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước và tài sản quốc gia, địa vị pháp lý của cơ quan này phải được đưa vào Hiến pháp.

KTNN phải là cơ quan kiểm tra của nhà nước, bất cứ ở đâu có nguồn lực tài chính nhà nước, sử dụng tài sản quốc gia, KTNN đều phải được quyền sờ đến.

Cũng bởi vì mọi sự kiểm tra tài chính công rộng lớn và phức tạp như vậy sẽ đụng chạm đến lợi ích của nhà nước và quyền lực của cá nhân có chức có quyền, nên hoạt động của cơ quan này phải đứng ngoài hoạt động của hệ thống tài chính, chỉ tuân theo pháp luật.

Quyền năng Tổng Kiểm toán

Vậy còn đối với cá nhân Tổng kiểm toán?

– Tổng Kiểm toán phải được đảm bảo quyền độc lập, quyền bất khả xâm phạm được hiến định như ĐBQH. Cần quy định vị trí của Tổng KTNN tại các kỳ họp của QH, bố trí ghế, bục riêng cho Tổng Kiểm toán ngồi.

Tổng Kiểm toán được dự những phiên liên quan đến thảo luận kinh tế, tài chính, được quyền trình bày những vấn đề liên quan đến kinh tế, tài chính mà ĐBQH yêu cầu.

Hiến pháp sửa đổi lần này nên quy định thêm quyền năng và trách nhiệm của Tổng KTNN trong việc phê chuẩn và phân bổ nguồn lực nhà nước.

Tổng Kiểm toán cũng phải được quyền tham gia ngay trong khâu Chính phủ trình phân bổ nguồn lực của Nhà nước ra QH. Tham gia ý kiến và cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế, tài chính, ngân sách giúp Chính phủ, QH bố trí nguồn lực tài chính, tài sản quốc gia một cách chặt chẽ. Ví dụ tiền chỗ này, chỗ kia lâu nay đang được phân bổ thế nào, sắp tới nên ra sao, lỗ hổng ở đâu?

Tổng KTNN cũng phải được toàn quyền về kế hoạch và chương trình kiểm toán trong 1 năm và trong trung hạn.

Thưa ông, lâu nay Quốc hội đã sử dụng kết quả kiểm toán như thế nào trong việc đưa ra các quyết định về tài chính, ngân sách?

– Hàng năm, QH thảo luận và quyết định về dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương, quyết toán ngân sách. Kết quả kiểm toán hàng năm cũng là một nguồn thông tin quan trọng giúp QH sử dụng trong quyết định và giám sát ngân sách.

UB Tài chính – Ngân sách đã tổ chức đánh giá và khai thác nội dung các báo cáo KTNN, tổng hợp và chọn lựa các kết quả phục vụ cho việc đưa ra ý kiến thẩm tra các báo cáo của Chính phủ. Nhưng hiện nay vẫn chưa hình thành được quy trình riêng trong việc đánh giá và khai thác, sử dụng nội dung của các loại báo cáo kiểm toán.

Sắp tới, tôi cho rằng QH nên có một ban chuyên môn để phân tích và sử dụng kết quả kiểm toán với những nội dung cụ thể, phục vụ đối tượng cụ thể. Đặc biệt là những vấn đề có tính chiến lược của nền kinh tế, tài chính quốc gia, những vấn đề có nhiều vi phạm, sơ hở trong điều hành và quản lý nhằm giúp đại biểu yên tâm hơn khi sử dụng những thông tin này để phát biểu. Đặc biệt là phục vụ các phiên chất vấn của QH.

 

 

Theo chương 10, dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992: KTNN là cơ quan có vai trò quan trọng trong quản trị quốc gia, thông qua các hoạt động nghiệp vụ để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Dự thảo đã quy định vai trò, địa vị pháp lý và chức năng để tăng cường vị thế và trách nhiệm của cơ quan KTNN. Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, có chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính và tài sản quốc gia. Dự thảo chỉ quy định về việc Quốc hội bầu Tổng KTNN còn những vấn đề cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN sẽ do luật điều chỉnh.

 

 

Lê Nhung  

%d bloggers like this: