Lưu trữ | 10:42 Chiều

Loay hoay tìm bản sắc văn học hậu hiện đại – TT&VH

16 Th1

Loay hoay tìm bản sắc văn học hậu hiện đại

(Thethaovanhoa.vn) – Trên thế giới, nghiên cứu hậu hiện đại không còn là mới, nhưng ở nước ta, nó vẫn đang là “hot”. Có hay chưa cái gọi là “văn học hậu hiện đại ở Việt Nam”? Nếu có, trào lưu này là ngoại lai hay nội sinh? Hay bản sắc của văn học hậu hiện đại Việt Nam là gì?

Hội thảo Khoa học quốc gia về văn học hậu hiện – Đại lý thuyết và thực tiễn được tổ chức sáng qua (15/1) tại Đại học Sư phạm Hà Nội để tìm cách giải đáp cho những câu hỏi trên.

Song đúng như bản chất của hậu hiện đại (hồ nghi trước tất cả, kể cả bản thân), cuộc hội thảo kết thúc mà những sự luẩn quẩn trong việc tìm hướng đi cho văn học đương đại vẫn chưa có hồi kết.

Mông lung quan niệm

“Đây là hội nghị quốc gia đầu tiên về văn học hậu hiện đại ở Hà Nội. Tôi là một người sáng tác, khi được lý thuyết đưa ra đón nhận tác phẩm của mình, tôi thấy hệ thống lý luận đã đi theo hướng tốt đẹp. Tuy vẫn chậm so với thực tiễn nhưng ta vẫn phải ghi nhận sự chuyển động tích cực này”- nhà văn Đặng Thân, người vẫn được đánh giá là “ngọn cờ tiên phong” trong văn học hậu hiện đại Việt Nam trao đổi với TT&VH.

Theo nhà văn Đặng Thân, hậu hiện đại ngợi ca sự khác biệt và tinh thần dân chủ. Trước đây, người sáng tác hay đi theo những chủ nghĩa lớn lao. Còn ở hậu hiện đại, người ta đi vào cái nhỏ, cá thể, bên ngoài. Và khi người viết đi sâu vào những phân mảnh, những thân phận hồ như vô nghĩa, ta lại sáng tạo ra những giá trị rất thú vị.

Nhà thơ Bảo Sinh phát biểu tại cuộc tọa đàm.

 

 

Còn nhà thơ “dân gian” Bảo Sinh thì triết lý theo cách của mình: “Hậu hiện đại là sai đúng không quá rõ ràng. Hậu hiện đại là đời sống của chúng ta. Ta không cần phải phân tích mới ra giá trị của hậu hiện đại. Ví như: “Văn không tải đạo, văn là đạo/ Nước không chở sóng, nước là sóng”. Ông chơi chữ: “Mọi thứ văn chương hậu hiện đại đều theo những “đạo” riêng. Song đấy là “đạo lý” hay “đạo chích” thì tùy thuộc hoàn toàn vào người tiếp nhận. Vì đây là “cuộc chơi” của cả tác giả, tác phẩm và người đọc”.

Song cũng có ý kiến cho rằng, sự hồ nghi của văn học “hậu hiện đại” chẳng có gì mới. Có chăng chỉ là cách đổi tên, đánh tráo khái niệm của văn học hiện đại.

Phản bác những ý kiến này, nhà phê bình Lã Nguyên cho rằng: “Trước tiên, ta khẳng định nước ta đã có trào lưu hậu hiện đại. Sau nữa, văn học hậu hiện đại không chỉ hồ nghi sự vật hiện tượng như văn học hiện đại mà nó còn tự hồ nghi chính bản thân mình. Cuối cùng, văn học hậu hiện đại của Việt Nam là nội sinh từ những vỉa tầng văn hóa truyền thống”.

PGS.TS Lê Huy Bắc đưa ra quan điểm mang đầy tính triết lý: “Với hậu hiện đại, không có gì là chân lí vĩnh cửu. Chân lí với các nhà hậu hiện đại là không có chân lí”.

Cảnh báo dạng tác phẩm “lẩu thập cẩm”

Bỏ qua một bên những tranh luận gay gắt, nhà nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn Văn Thành tỏ ra ái ngại: “Hậu hiện đại là sản phẩm của quá trình “lạm phát” học thuyết. Bởi con người đã sản xuất ra quá nhiều học thuyết rồi ta lại chóng “chán” chúng. Điều này thúc đẩy chúng ta tìm tòi những cái mới. Nhưng khi đã đến độ bão hòa, ta chỉ có thể làm mới một cách hoang mang. Làm mới song hồ nghi ngay bản thân quá trình đang vận động và trào lưu đang xây dựng”.

Ông còn cảnh báo, việc chưa có tiền đề vững chắc về những tác phẩm hậu hiện đại sẽ dễ dẫn đến những ngộ nhận: Nguy hiểm hơn, điều này sẽ dẫn đến việc tạo ra những tác phẩm nghệ thuật hỗn mang dạng “lẩu thập cẩm”. Nhiều người đã sáng tác tùy tiện lấp lửng và tự xưng là “hậu hiện đại”. Và những tác phẩm dán mác “hậu hiện đại” này không phải là sản phẩm nghệ thuật.

GS Nguyễn Đình Chú đồng quan điểm: “Chẳng còn nghi ngờ gì những cái tôi hoang mang trong văn học hậu hiện đại. Cũng bởi những cái tôi hậu hiện đại đó quá mạnh đã dẫn đến loạn quan điểm, hướng nhìn cũng như hướng đi.

Sự bế tắc và “loạn” hướng đi cho văn chương đương đại còn thể hiện khi chính người “hậu hiện đại” Đặng Thân cũng chia sẻ chân tình: Tôi đã nghĩ đến những lối viết khác ngoài hậu hiện đại như văn chương đa chiều, chủ nghĩa ảo thực…”

Trưa muộn, buổi hội thảo văn học hậu hiện đại tìm hướng đi cho văn học Việt Nam mới kết thúc. Chân lí rút ra có lẽ là… không có chân lí gì cả!

Mỹ Anh
Thể thao & Văn hóa

Nghi tham nhũng, tòa án Pakistan bắt Thủ tướng – PLTP

16 Th1

Nghi tham nhũng, tòa án Pakistan bắt Thủ tướng

 
Ngày 15-1, Tòa án Tối cao Pakistan đã ra lệnh bắt Thủ tướng đương nhiệm Raja Pervez Ashraf bị tình nghi nhận tiền hối lộ để phê duyệt các dự án trong thời gian ông giữ chức bộ trưởng Bộ Nước và Năng lượng trong năm 2010.

Ngoài ra, tòa cũng tuyên bắt giữ khoảng 15 người có liên can. Hãng tin RIA Novosti (Nga) cho biết tòa đã yêu cầu những người nêu trên phải trình diện tại tòa vào ngày 16-1.

Thủ tướng Raja Pervez Ashraf 62 tuổi thuộc đảng Nhân dân Pakistan. Ông lên cầm quyền sau khi Thủ tướng Yousuf Raza Gillani bị Tòa án Tối cao bãi chức hồi tháng 6-2012. Lúc ông mới giữ chức thủ tướng đã có thông tin nghi ngờ ông tham nhũng.

Reuters ghi nhận Tòa án Tối cao Pakistan đưa ra quyết định như trên trong bối cảnh hàng chục ngàn người tập trung về thủ đô Islamabad biểu tình tố cáo chính phủ tham nhũng và bất lực. Ngày 13-1, theo lời kêu gọi của giáo sĩ ôn hòa Tahir ul-Qadri, hàng trăm xe đã xuất phát từ TP Lahore (ảnh) đi về Islamabad cách đó 400 km.

Giáo sĩ Tahir ul-Qadri đòi chính phủ tiến hành các biện pháp nhanh chóng để tổ chức tổng tuyển cử vào giữa tháng 5 được minh bạch và xóa bỏ bất công trong phân chia nguồn lợi tài nguyên đất nước. Những người phản đối lại cho rằng giáo sĩ này bị quân đội hoặc nước ngoài giật dây.

D.THẢO

 

Quan điểm của nhóm Nghiên cứu Chủ quyền Biển Đảo thuộc chương trình “Minh triết làm chủ Biển Đông” về những hành động bá quyền độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc – Bauxite

16 Th1

Quan điểm của nhóm Nghiên cứu Chủ quyền Biển Đảo thuộc chương trình “Minh triết làm chủ Biển Đông” về những hành động bá quyền độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Trước tình hình Trung Quốc mưu đồ bá quyền lấn chiếm Biển Đông, Trung tâm Minh triết đã tìm thấy một dự báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585):

Biển Đông vạn dặm giang tay giữ

                                           Đất Việt muôn năm vững thanh bình.

Nguyên văn : Vạn lý Đông minh quy bả ác

Ức niênNamcực điện long bình

Bài thơ Cự ngao đới sơn                                                                                            (Bạch vân am thi tập)                                  Theo Lời dạy của Người xưa, Chúng tôi đã hình thành “Chương trình Minh triết làm chủ Biển Đông” tập hợp những nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những bậc lão thành, những bạn trẻ… cùng mọi tầng lớp, mọi người dân yêu nước quan tâm đến những vấn đề hệ trọng của Quốc gia. Chương trình này nhằm cổ vũ những hoạt động nghiên cứu, những ý tưởng và hành động trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học và văn hóa biển.

Chúng tôi khẳng định giá trị Minh triết của Dân tộc: cương quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, ra sức phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học và văn hóa biển, tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng những quyền lợi hợp pháp, hợp đạo lý đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trước tình hình Trung Quốc ỷ thế nước lớn ngày càng leo thang bá quyền xâm phậm chủ quyền, lợi ích hợp pháp hợp đạo nghĩa của Việt Nam và  những nước ven Biển Đông, chúng tôi khẳng định:

1. Trung Quốc đang ngày càng chứng tỏ những mưu đồ thâm độc, nguy hiểm, đang đi theo vết xe đổ của những chính sách đế quốc đã phá sản. Một đường lối bá quyền ở vào ngưỡng cửa Thế kỷ 21 là vô đạo, không thức thời và sẽ bại vong. Nó ngày càng bộc lộ sự mâu thuẫn, nghịch lý giữa đường lối bá quyền hiện nay với những đạo lý mà dân tộc Trung Hoa từng đề xướng.

Sự nham hiểm xảo quyệt vẫn thường xảy ra khi vừa cử người đại diện cao cấp của mình sang nói những lời đường mật thì đồng thời lại cho tàu thuyền sang gây hấn phá hoại công việc làm ăn bình thường của chúng ta trên vùng biển của Việt Nam! Họ vẫn rêu rao nào là 4 tốt, nào là 16 chữ vàng, TBT Đảng cộng sản TQ Tập Cận Bình tuyên bố “Trung Quốc không bao giờ tìm kiếm quyền bá chủ hay bành trướng”, nhưng những hành động của họ trên Biển Đông và trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam càng tố cáo sự dối trá của họ. Gần đây Trung quốc đã công bố phát hành bản đồ “Trung Quốc Địa Hình”bao gộp các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam và những nước trong khu vực. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc càng làm cho dư luận quốc tế bất bình, phản đối, càng bộc lộ sự dối trá về cái gọi là “Sự trỗi dậy hòa bình” mà những người lãnh đạo nước này từng tuyên bố.

Để tỏ rõ một chính sách phát triển hòa bình, để thực hiện chính sách chữ Hòa mà họ công bố, Trung Quốc phải chấm dứt ngay những hành động bá quyền nước lớn ở Biển Đông, giữ gìn tình hữu nghị với các dân tộc, tôn trọng pháp luật quốc tế về biển đảo, giữ gìn uy tín và quốc thể của một Dân tộc vốn có nền văn minh lâu đời.

2. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ những việc làm cần thiết của Chính phủ, của Bộ Ngoại giao Việt Nam, phản đối việc Trung Quốc in đường lưỡi bò trên hộ chiếu, cắt cáp của tàu Bình Minh đang hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, cướp bóc và khám xét phi pháp, vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam đang làm ăn trên biển của mình. Chúng tôi lên án việc cho in bản đồ Trung Quốc Địa hình, yêu cầu họ phải hủy bỏ tấm bản đồ sai trái đó.

3. Chúng tôi hoan nghênh và ủng hộ các tầng lớp nhân dân ta ở trong nước và ở nước ngoài đang thể hiện lòng yêu nước cao cả trong những hoạt đông kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ Quốc, anh dũng tiếp tục làm ăn sinh sống trên biển, ủng hộ Hải quân và các lực luợng bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ nhân dân, lên án và phản đối những hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc.

4. Chúng tôi kêu gọi các nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, giới trẻ và các tầng lớp nhân dân ở trong nước và ở nước ngoài hãy tiếp sức cùng chúng tôi trong chương trình Minh triết làm chủ biển Đông đễ cổ vũ, tôn vinh những hoạt động bảo vệ chủ quyền Biển Đảo, phát triển kinh tế biển và nghiên cứu khoa hoc, văn hóa biển.

Chúng tôi trân trọng mời gọi các nhà trí thức của Đông Nam Á và thế giới, các nhà trí thức chân chính của Trung Quốc hợp tác với chúng tôi cùng nhau nghiên cứu và đưa ra dư luận tiến bộ của quốc tế những vấn đề về lịch sử, về pháp lý chung quanh vấn đề chủ quyền và sự hợp tác ỏ Biển Đông, đánh thức lương tri của nhân loại và cảnh báo một mối đe dọa hòa bình ổn định và sự hợp tác khu vực và thế giới.

5. Chúng tôi tha thiết yêu cầu Chính phủ, Quốc hội, Tổng bí thư của Đảng, Chủ tịch nước hãy thực thi những chính sách an dân tăng cường hợp tác với tất cả các Dân tộc trên thế giới, thực hiện chính sách hòa giải, hòa hợp, thực hiện Đại đoàn kết Dân tộc. Chỉ có tăng cường sức mạnh nội lực của dân tộc và liên minh liên kết với các Dân tộc yêu hòa bình, chính nghĩa, biết tôn trọng luật pháp quốc tế, chúng ta sẽ có đủ sức mạnh để đối phó với những âm mưu và hành động bá quyền nước lớn của Trung Quốc, giữ vững chủ quyền và độc lập của dân tộc, giữ gìn hòa  bình khu vực và trên  thế giới, đồng thời chấn hưng Đất Nước, đưa nhân dân tới tự do giàu mạnh và hạnh phúc.

 

Hà Nội, 13-1-2013

Thay mặt Những thành viên của Nhóm nghiên cứu Chủ quyền Biển Đảo thuộc Chương trình Minh triết Làm chủ Biển Đông:

–        TS Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ nhiệm vấn đề chủ quyền biển thuộc Chương trình Minh triết Làm chủ Biển Đông.

–       NNC Nguyễn khắc Mai, GĐ Trung tâm Minh triết.

–       TS Nguyễn Vi Khải, nguyên Viện trưởng Viện CNXH khoa học.

 

 

Quyết liệt tại biển Hoa Đông – TN

16 Th1

Quyết liệt tại biển Hoa Đông

16/01/2013 3:20

Tân Hoa xã ngày 15.1 đưa tin Trung Quốc sẽ tiến hành khảo sát địa chất ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật Bản nhưng không nói rõ thời gian lẫn địa điểm. Hồi tháng rồi, Bắc Kinh cũng đã nộp báo cáo về giới hạn phạm vi thềm lục địa cho LHQ, thúc đẩy “xác nhận chủ quyền Trung Quốc” tại khu vực tranh chấp.

Kể từ tháng 9.2012 đến nay, Trung Quốc liên tục gửi tàu công vụ, tiếp đến triển khai cả máy bay đến khu vực xung quanh quần đảo trên. Tuy nhiên, đến khi ông Shinzo Abe đắc cử Thủ tướng Nhật Bản, nước này bắt đầu có nhiều phản ứng quyết liệt như triển khai chiến đấu cơ F-15 ngăn chặn máy bay Trung Quốc trong nhiều ngày liên tiếp.

Theo Đài NHK, Nhật sẽ điều thêm 2 tàu tuần duyên tới khu vực trên và Lực lượng phòng vệ Nhật hôm 13.1 đã tiến hành tập trận tái chiếm hòn đảo từ tay quân địch. Sau đó, AFP đưa tin Nhật và Mỹ khởi động cuộc tập trận không quân chung từ ngày 14 – 18.1 tại vùng trời ngoài khơi đảo Shikoku ở miền nam. Mỹ điều động 6 chiếc FA-18 và khoảng 90 binh sĩ, trong khi Nhật triển khai 4 chiếc F-4 cùng một số nhân lực chưa xác định.

Các phi đội F-22 được triển khai liên tục tại Okinawa - Ảnh: Kadena.af.mil
Các phi đội F-22 được triển khai liên tục tại Okinawa – Ảnh: Kadena.af.mil 

F-15 áp sát Senkaku/Điếu Ngư

Bên cạnh đó, theo Kyodo News, Bộ Quốc phòng Nhật Bản đang cân nhắc khả năng đặt một số máy bay chiến đấu F-15 đến sát Senkaku/Điếu Ngư nhằm phản ứng nhanh trong trường hợp máy bay Trung Quốc tiến đến quần đảo. Các máy bay sẽ được đặt tại đảo Shimojijima, rút ngắn thời gian triển khai F-15 từ thủ phủ Naha của Okinawa. Hiện căn cứ không quân Naha cách Senkaku/Điếu Ngư khoảng 420 km, tức phải mất từ 15 đến 20 phút để triển khai F-15 đến nơi trong khi phi trường Shimojijima cách quần đảo trên khoảng 190 km về phía đông nam.

Trong một diễn biến liên quan, 9 máy bay tàng hình F-22 của Mỹ đã đến căn cứ không quân Kadena ở phía nam đảo Okinawa. Theo Đài tiếng nói nước Nga, tổng cộng sẽ có 12 chiếc F-22 được điều đến căn cứ trong đợt luân chuyển mới. Lầu Năm Góc liên tục triển khai F-22 đến Okinawa từ năm 2007 và lần này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng đang tăng nhiệt trong khu vực. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương Kurt Campbell cũng chuẩn bị đến Nhật vào cuối tuần này và vấn đề Senkaku/Điếu Ngư dự kiến sẽ nằm trong nghị trình thảo luận.

Thụy Miên

>> Mỹ triển khai phi đội F-22 đến Nhật
>> Tàu Nhật – Trung lại chạm trán
>> Thái Lan tìm kiếm giải pháp đàm phán về biển Đông
>> Đài Loan gây thêm căng thẳng trên biển Đông
>> Trung Quốc phát hành bản đồ phi lý về biển Đông
>> Trung Quốc ngang nhiên phát hành bản đồ phi lý về biển Đông

Món quà Mỹ tặng Trung Quốc trong năm Rắn – Kienthuc

16 Th1

Món quà Mỹ tặng Trung Quốc trong năm Rắn

 
 

Chiến lược Mỹ trở lại châu Á được tuyên bố vào năm Rồng sẽ có hình dạng thực tế trong năm Rắn.

 

 Mỹ đưa 12 chiếc F-22 Raptor và 300 binh sĩ tới căn cứ Không quân Kadena ở Okinawa.

Lầu Năm Góc bắt đầu mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ ở phía Nam khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Đây là phản ứng với hoạt động quân sự đang gia tăng của Trung Quốc xung quanh các đảo tranh chấp ở vùng Biển Hoa Đông và Biển Đông.

Hiện nay, các căn cứ của Mỹ ở Nhật Bản và Hàn Quốc có 60-70 tàu chiến và 200-300 máy bay trực chiến. Ngoài ra, ở khu vực này thường có mặt hai tàu sân bay Mỹ. Bây giờ, theo lệnh của Tổng thống Barack Obama, Bộ chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực.
Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Mỹ có các căn cứ quân sự lớn. Còn ở Australia, Singapore và Philippines, quân Mỹ sẽ có mặt trên cơ sở luân phiên. Các đơn vị quân đội sẽ nhỏ gọn và hoạt động độc lập hơn. Ở Australia, số lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ tăng đến 2.500 người. Ngoài ra, Hải quân Mỹ có quyền tiếp cận căn cứ hải quân của Australia ở phía Nam thành phố Perth trên bờ Ấn Độ Dương. Ở Singapore, Mỹ sẽ bố trí 4 tàu chiến và dự kiến trong tương lai sẽ có thêm 3 tàu chiến nữa.
Như dự kiến, ở Philippines sẽ có 500 quân nhân Mỹ và các máy bay trinh sát. Mỹ cũng sẽ thành lập trung tâm bảo dưỡng và sửa chữa tàu chiến Mỹ. Lầu Năm Góc nói rằng Philippines có thể trở thành chỗ dựa vững chắc để phối hợp và tương tác với các đơn vị hải quân trong khu vực.
Về phần mình, Trung Quốc nhận thức rõ rằng, mục tiêu của chiến lược Mỹ trở lại châu Á là kiềm chế Trung Quốc. Trong cuộc đàm đạo với phóng viên đài Tiếng nói nước Nga, chuyên viên Yuri Tavrovsky từ trường Đại học Hữu nghị giữa các dân tộc nói: “Trung Quốc phản ứng bằng cách gia tăng lực lượng hải quân. Đây là cách đáp trả hành động của Mỹ và các đồng minh của họ. Mặt khác, trong những năm gần đây, chính sách của Trung Quốc đã trở nên quyết đoán hơn. Bắc Kinh nhận thấy rằng, nhờ tiềm năng kinh tế đang gia tăng của Trung Quốc có thể củng cố tiềm lực quân sự. Các tướng lĩnh trẻ ở Bắc Kinh bắt đầu kêu gọi hành động kiên quyết hơn. Xu hướng này có thể dẫn đến hậu quả khá nghiêm trọng”.
Chuyên viên Evgeny Kanaev từ Trung tâm nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương thuộc Viện IMEMO nhận định: “Trung Quốc sẽ giữ lập trường không nhân nhượng. Mỹ cố gắng duy trì tình trạng hiện tại ở vùng biển khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này liên quan đến việc thu thập thông tin quân sự và kiểm soát các tuyến hàng hải. Tất nhiên, Mỹ sẽ cố gắng không cho phép Trung Quốc, đối thủ địa chính trị chính của họ, thiết lập sự kiểm soát ở khu vực này”.
Giới chuyên gia cho rằng, chiến lược trở lại khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc trong việc áp đặt luật chơi trong khu vực. Trong điều kiện này, sự leo thang căng thẳng ở Biển Hoa Đông và Biển Đông xung quanh các đảo tranh chấp chỉ “đổ thêm dầu vào lửa” và làm gia tăng tình trạng đối đầu Mỹ-Trung.

ĐANG ĐỌC NHIỀU:

16 Th1

Thủ tướng: Người ta hỏi còn Vina nào nữa

– Làm việc với các “quả đấm thép” của nền kinh tế sáng nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chia sẻ, một số DNNN làm ăn thua lỗ cả tỉ đồng, nói ra ai cũng xót ruột và nhân dân có quyền đặt ra câu hỏi sau Vinashin, Vinalines, liệu còn thêm Vina nào nữa.

 


Lỗ tiền tỉ ai cũng xót

Người đứng đầu Chính phủ dành phần lớn thời gian khẳng định vai trò nòng cốt của các anh cả đỏ trong nền kinh tế. Với hàng loạt thành tựu của năm qua như góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện các công trình dự án trọng điểm quốc gia, Thủ tướng cho rằng nhìn nhận khách quan thì các TĐ, TCT có đóng góp lớn vào các thành tựu chung.

“Đây là thực tế không ai phủ nhận… Chuyên gia, nhân dân góp ý phê phán thì ta lắng nghe. Nhưng mặt khác phải khẳng định những việc làm được, như tinh thần nghị quyết TƯ – kinh tế nhà nước là chủ đạo”, Thủ tướng nói. 

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (ngoài cùng bên trái): Tôi thấy hết sức buồn… Tập đoàn Vinashin có tới 6.000 đảng viên. Nhưng mà tê liệt. Ảnh: Lê Nhung

Thủ tướng nhấn mạnh: “Tôi đánh giá cao các thành tựu và mong các đồng chí tiếp tục phát huy, chúng ta kiên định theo định hướng của Đảng. Kết luận mới đây của Hội nghị TƯ 6 cũng khẳng định vai trò của các DNNN. Không thể để tác động này khác của dư luận làm chúng ta dao động”.

Ngay sau đó, ông cũng yêu cầu các TĐ, TCT thẳng thắn, nghiêm túc nhìn lại các hạn chế, yếu kém, đặc biệt đánh giá kỹ hơn tình hình làm ăn thua lỗ ở một số đơn vị.

Theo Thủ tướng, ngoài nguyên nhân khách quan, cần nghiêm túc kiểm điểm lại những hạn chế xuất phát từ chủ quan, như năng lực điều hành, một số hành vi làm trái, đầu tư ngoài ngành. Đặc biệt cần xem xét câu chuyện vốn chủ sở hữu tăng thấp (chỉ 1% so với 9% của năm cũ), vấn đề tình hình tài chính thiếu lành mạnh ở một số đơn vị.

Thủ tướng “phê”, năng lực quản trị tuy có tiến bộ nhưng chưa chuyển biến gì cả về năng suất lẫn chất lượng. Thời gian tới nên chú trọng giảm giá thành, tổ chức lại sản xuất.

Đặc biệt, gây “bão” dư luận nhiều nhất chính là câu chuyện tham nhũng, đầu tư thất thoát lãng phí.

“Vụ việc Vinalines tuy xảy ra từ 2007 nhưng năm qua mới xử lý nên đã ảnh hưởng đến hình ảnh DNNN. Vậy là người ta hỏi còn Vina nào nữa. Tình trạng đầu tư kém hiệu quả, lãng phí trong DNNN còn rất nặng nề. Chỉ vài cái như thế nhưng ảnh hưởng hết sức lớn, rất đau lòng. Nhân dân phê phán cũng đúng. Bây giờ làm ăn thua lỗ tiền tỉ như thế ai cũng xót ruột”.

Trước đó, trong báo cáo tình hình hoạt động năm qua, Phó trưởng ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN Phạm Viết Muôn cho hay, tổng nợ phải trả của các TĐ, TCT đã lên tới hơn 1,3 triệu tỉ đồng. Mức lỗ phát sinh của tất cả TĐ, TCT là 2.253 tỉ đồng, trong đó có một số đã lỗ từ năm 2011 đến năm nay lỗ tiếp. Đáng quan ngại là có 10 TĐ, TCT có tổng lỗ lũy kế lên tới 17.730 tỉ đồng.

Người đứng đầu Chính phủ cảnh báo tình trạng thoái vốn đầu tư ngoài ngành phải làm sao tránh lộn xộn.

“Đầu tư ngoài ngành không trái pháp luật hay chủ trương nhưng từ thực tiễn thấy không tốt là phải thu hẹp lại. Nhưng rút lui cũng phải có trật tự, có phương án chứ không để thất thoát, tiêu cực. Mà hoang mang bỏ chạy là thất bại, nguy hiểm”, ông nhắc nhở.

Công khai thông tin

Thủ tướng cũng giao việc cho các quả đấm thép trong năm 2013.

Phải bám sát mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2013 là ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn. Đặc biệt đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ như tái cơ cấu, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định quốc phòng, an ninh.

“Tinh thần là phải nỗ lực cao nhất vượt khó khăn. Chứ các đồng chí đều đưa ra kế hoạch năm nay thấp hơn năm ngoái là không được vì thấp như vậy làm sao có tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước được”, Thủ tướng phê bình.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu TĐ, TCT tập trung rà soát lại đầu tư, đảm bảo không đầu tư ngoài ngành và hiệu quả phải tốt.

Nhóm công việc trọng tâm thứ hai là tập trung tái cơ cấu DN. 

Lộ trình cổ phần hóa cũng sẽ được tiếp tục, với trọng tâm là giải quyết dứt điểm các DN làm ăn thua lỗ, không nhùng nhằng kéo dài. Ngoài ra, việc thoái vốn đầu tư ngoài ngành cũng phải được làm chặt chẽ không để nảy sinh tiêu cực, thất thoát.

“Trong quá trình tái cơ cấu, vấn đề đội ngũ cán bộ chủ chốt rất quan trọng. Mong các đồng chí đoàn kết nhất trí, vì trách nhiệm với đất nước, vì danh dự của các TĐ, TCT. Chứ trong dư luận nhân dân nói đến DNNN là đi liền với hiệu quả thấp, tiêu cực, mất đoàn kết”.

Một số công việc khác cần làm là hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, một mặt vừa phải chặt chẽ, mặt khác vẫn phải tạo điều kiện cho DN hoạt động chứ không gây phiền hà, khó khăn. Các “anh cả đỏ” cũng cần chú trọng vấn đề công khai, minh bạch thông tin hiệu quả kinh doanh, kể cả con số thua lỗ. “Định kỳ chủ tịch HĐQT hoặc TGĐ phải họp báo công khai hoặc đưa thông tin lên website kết quả kinh doanh”, Thủ tướng yêu cầu.

 

 

                  Đảng viên ở Vinashin tê liệt hết?

“Cần đặc biệt quan tâm xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Tôi thấy hết sức buồn. Trong cách mạng tháng Tám ta chỉ có 5.000 đảng viên mà vẫn giành thắng lợi. Tập đoàn Vinashin có tới 6.000 đảng viên. Nhưng mà tê liệt. Làm trái, đầu tư tràn lan, rồi trái pháp luật kéo dài một thời gian mà tôi không nhận được bất kỳ đơn thư tố cáo của bất kỳ đảng viên nào. Rồi người đứng đầu thì được bầu vào hết cấp ủy này đến cấp ủy khác.

Hay ở Vinalines, mấy nghìn đảng viên mà vẫn làm sai làm trái như thế. Con sâu làm rầu nồi canh. Người dân đặt câu hỏi còn Vina nào nữa? DNNN đi liền với tiêu cực, phạm pháp, tham nhũng. Đội ngũ đảng viên của chúng ta rất lớn, vậy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên ở đâu?” (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)
 

Lê Nhung
 

 

Người Mỹ gốc Việt có tên trong danh sách ‘tài năng trẻ’ của Forbes – VOA

16 Th1

Người Mỹ gốc Việt có tên trong danh sách ‘tài năng trẻ’ của Forbes

 

Danh sách có tên gọi ’30 under 30’ của Forbes gồm 30 cá nhân xuất sắc nhất dưới 15 tuổi trong 15 lĩnh vực như tài chính, marketing hay công nghệ.

 
Anh Nam Nguyễn, 29 tuổi, mới được tạp chí Forbes chọn vào danh sách những thanh niên tài năng dưới 30 tuổi, có khả năng tạo nên sự thay đổi trên toàn thế giới.

Danh sách có tên gọi ’30 under 30’ gồm 30 cá nhân xuất sắc nhất dưới 15 tuổi trong 15 lĩnh vực như tài chính, marketing hay công nghệ.

Anh Nam Nguyễn dứng ở vị trí thứ 19 trong danh sách hơn 30 thanh niên xuất sắc nhất trong lĩnh vực marketing và quảng cáo.

Trả lời VOA Việt Ngữ, anh Nam cho biết anh rất bất ngờ khi được Forbes lựa chọn.

Anh Nam cho biết: “Đây không phải là điều tôi từng mong đợi, nhất là một giải thưởng có quy mô như vậy. Forbes là một tạp chí danh tiếng, với lượng người đọc có khả năng xuất sắc. Vì vậy nên khi được nêu tên trong danh sách ‘30 under 30’, tôi thực sự bị choáng ngợp, nhưng đồng thời cũng cảm thấy hết sức vinh dự.”

Chàng thanh niên gốc việt 29 tuổi là giám đốc phụ trách về nội dung của công ty 360i.

Anh quản lý nội dung theo thời gian thực, tận dụng các dữ liệu về người tiêu dùng để tạo ra các sản phẩm đa phương tiện cho các công ty lớn như Coca-Cola hay Kraft Foods.

Anh Nam Nguyễn sinh ra và lớn lên tại California.  Nhưng anh cho biết Việt Nam có một vị trí quan trọng trong anh và đó chính là lý do vì sao anh đã giữ tên họ Việt Nam.

Anh Nam cũng mới cùng cha trở lại Việt Nam, và anh gọi đó là một ‘ước mơ đã thành sự thật’.

Anh Nam nói: “Tôi sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, tôi luôn luôn tự hỏi về nguồn gốc Việt Nam của mình. Dù là một người Mỹ nhưng tôi luôn tự hào là một người gốc Việt. Tôi thất rất hạnh phúc khi được cảm nhận văn hóa Việt Nam từ âm thanh của đường phố, quang cảnh, con người và ẩm thực của Việt Nam. Tôi thật sự xúc động được trở về nơi đã sinh ra cha mẹ tôi.”

Anh Nam nói với VOA Việt Ngữ rằng anh hy vọng sẽ có dịp quay trở lại Việt Nam trong tương lai.

 
 

Truyện ngắn NGHỆ SĨ XĂM MÌNH – Nguyễn Văn Thiện

16 Th1

Truyện ngắn NGHỆ SĨ XĂM MÌNH

 
          Mình kể với ta rằng mình là một nhiếp ảnh gia nổi tiếng ở thành phố X. Ngày xưa, mình chụp hình đám cưới, chụp hình dạo công viên, khi đất nước mở mang, nhiều hội hè, mình chụp hình nghệ thuật. Cuối cùng, mình được kết nạp vào Hội nhiếp ảnh quốc gia, được phong nhiều tước hiệu khác nhau của các tổ chức nhiếp ảnh quốc tế. Ảnh của mình được lên trang bìa nhiều lần ở các tạp chí từ trong Nam ra ngoài Bắc ở đủ các lĩnh vực khác nhau. Tiền nhuận ảnh cộng với các sô chụp đám cưới đám ma cho thu nhập thường xuyên, mình sống khỏe. So với anh em ở các chuyên ngành nghệ thuật khác, đời sống coi như khá giả. Mình nghĩ, cứ đà ấy, mình còn có thể cống hiến nhiều cho nghệ thuật.
          Mình lặn lội vào các làng bản xa xôi để tìm người tìm cảnh. Để có được những tác phẩm nghệ thuật xứng tầm tên tuổi, mình sẵn sàng bỏ tiền ra thuê những cụ ông cụ bà người thiểu số mặc trang phục thổ cẩm, diễn cảnh còng lưng lội suối hoặc ngồi tư lự bên bếp lửa nhà sàn, hoặc tẩu thuốc trên môi bốc khói trong một buổi chiều muộn… Bạn bè nói, mình bị nhập đồng, còn mình cười, nói tui bị người ta bỏ bùa.
          Mình không có vợ con, dĩ nhiên, khi còn chụp hình dạo ngoài đường, không ai để ý, khi trở thành nghệ sĩ tên tuổi thì lại già mất rồi, nhìn trước nhìn sau, không còn hợp với ai, đành ở vậy. Với cái nhu cầu bản năng chết tiệt ấy, mình giải quyết bằng cách tìm đến các cô ở nhà hàng, khách sạn. Xã hội văn minh, các cô gái điếm cũng ngày càng văn minh lịch sự, phục vụ khách còn hơn chồng con trong nhà, vì thế, mình cảm thấy việc không có vợ cũng là chuyện bình thường.
          Trong số các cô gái phục vụ, mình kết một cô tên Y, dân miền Z, trẻ, đẹp, hiền dịu. Nhiều lúc, sau khi thỏa mãn xác thịt, trí não còn phiêu bồng, mình vẫn nung nấu ý định sẽ có lúc lấy nàng về làm vợ. Ối chao, trinh tiết là cái thá gì, nàng Kiều đó, có trinh tiết mấy đâu mà sống muôn đời! Thế nhưng, ý nghĩ ấy chưa kịp thành hiện thực thì mình nghe tin Y chết. Một buổi chiều, mình đến chỗ quen tìm nàng thì được cô bạn cùng phòng thông báo:
Y chết rồi!
Chết khi nào? Vì sao?
Chết hôm qua, nghi bệnh ết, lở loét mấy tuần nay rồi!
Mình cảm thấy một cú chấn động mạnh như thể ai đó vừa đấm móc vào mỏ ác. Ết à, sida à! Mình nổi da gà. Về phòng, mình nằm bẹp một ngày, tiếc cho X thì ít mà lo cho mình thì nhiều. Mình thất thểu đi xét nghiệm. Phòng xét nghiệm thành phố vắng hoe. Cô bác sĩ lâu lâu mới vớ được khách tư vấn cho mình nhiệt tình như với em út:
– Đã vào đây xét nghiệm, tức là anh phải chuẩn bị cho mình tinh thần vững vàng, anh nhé, ở vào cả trường hợp xấu nhất, anh nhé, không được bi quan, anh nhé!
Mình không nghe rõ gì, chỉ nghe anh nhé anh nhé, nhưng vẫn gật đầu lia lịa. Khi kết quả ra, cô bác sĩ vẫn cười:
– Em đã nói rồi, dương tính anh ạ, nhưng kết quả này chưa phải cuối cùng, sẽ phải làm thêm các xét nghiệm nữa, nhưng như vậy là khả năng phơi nhiễm của anh rất cao…
Cô ta còn nói một thôi một hồi nữa nhưng mình không nghe gì cả. Trong đầu mình có sấm sét, có lửa cháy loạn xạ. Mình ôm đầu chạy ra khỏi trung tâm xét nghiệm mặc cho cô bác sĩ chạy theo giữ lại. Mình nhịn ăn suốt ngày hôm sau, ngủ thêm một ngày nữa, mới rũ rượi ngồi dậy. Mình nghĩ, đời thế là hỏng, hỏng toàn tập.
Không hiểu sao mà thông tin về mình lại được chuyển về nơi cư trú nhanh đến vậy. Sau ba ngày, cán bộ y tế phường đã có mặt trước cổng nhà mình. Nhìn qua, mình đã biết mọi việc. Bà y tá vào nhà, vẫn là những lời nói động viên anh nhé anh nhé y chang như bác sĩ bên trung tâm xét nghiệm. Mình cảm thấy bủn rủn, chán ngắt, buồn nôn. Những bức ảnh nghệ thuật phóng to treo trên tường nhà cũng ảm đạm, ngơ ngác. Những cụ bà ngậm tẩu thuốc, cụ ông cầm nỏ buồn rười rượi. Bà y tế phường vẫn nói như cái loa công cộng, nhiệt tình, rôm rả:
– Rất nhiều người coi việc nhiễm vi rút HIV là cầm chắc cái chết, thực ra, nếu chúng ta có liệu pháp tâm lí, có biện pháp điều trị khoa học, thì vẫn có thể sống mười mấy năm nữa. Anh nghĩ xem, mười mấy năm, người ta làm được bao nhiêu là việc… Ở thành phố A, thị xã B, còn có chị C, anh D sau khi biết mình nhiễm H vẫn sống đàng hoàng, trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào…
– Thôi…- Mình ôm đầu, hét lên – Để tôi yên…
Mình lao vào nhà vệ sinh dội nước. Bà loa phường chờ mãi không được bèn ra về. Trước khi ra khỏi cửa còn nói vọng vào:
<!–[if !supportLists]–>-         <!–[endif]–>Hãy thành người có ích anh nhé…
Không thể trốn trong nhà mãi được, nhất là những buổi sáng đẹp trời, nắng rải vàng ươm trên con phố trước nhà. Mình đến quán cà phê quen thuộc, nơi hàng ngày anh em bạn bè văn nghệ vẫn thường ngồi đàn đúm với nhau. Những bạn bè của mình vẫn hồ hởi chuyện trò, huyên thuyên về những ý tưởng sắp thực hiện, về những bức ảnh sắp giật giải quốc tế đến nơi. Những vầng trán vẫn căng phồng ý tưởng dưới những mớ tóc lù xù, những bàn tay với móng tay dài đấy ghét vẫn vung lên chém gió ào ào. Mình thấy, ô hay, đời vẫn thế, không có gì khác cả! Chỉ có mình là khác, nhưng mà, mình nghĩ, ngoài mấy bà y tế, có ai biết mình có H đâu! Mình ghé đít ngồi vào ghế, bần thần. Nghệ sĩ E thấy thế dừng tay múa, mở to mắt ngạc nhiên:
Ối, ông anh, mấy ngày trốn đâu mất, hay là đánh quả lẻ?
Mình cười ngượng nghịu. Nghệ sĩ E nói tiếp:
Nghệ sĩ lớn như ông anh mà chơi bẩn thế là không nên!
Giá như cách đây một tuần, mình sẽ nhảy xổ vào cãi vã cho bằng được, nhưng hôm nay, mình ngồi im với nụ cười héo úa trên môi.
 
***
         
Mình nói với ta, ngồi chờ cái chết đến lâu thiệt là lâu, buồn thiệt là buồn. Mình nghĩ, có khi mấy bà y tá nói đúng, uống thuốc vào, sống lạc quan lên, biết đâu còn được hơn chục năm. Thế là mình gắng gượng. Mình lại phăm phăm đi tìm người tìm cảnh. Những ngọn núi xa xôi đang đợi, mình thầm nhủ thế và lên đường. Mình nhớ bà cụ già sống bên Hồ Xanh trên núi. Bà sống một mình với chiếc thuyền độc mộc. Mỗi buổi sáng, bà bơi thuyền giữa hồ gỡ lưới. Quanh bà, những con thiên nga trắng muốt đang bơi. Mặt trời xé tán cây, chiếu những vạt sáng lung linh sau chiếc thuyền như dát bạc. Mình nghĩ, phải phục bằng được cảnh ấy, vào đúng lúc mặt trời xé qua vòm lá, thì mới thành công được. Nhưng, hình như trời cố ý chơi khăm. Bao nhiêu chuyến đi rồi mà những tấm hình của mình vẫn không thành cơm cháo. Cảnh đẹp nhưng trơ lì, thiếu sinh khí. Mình buồn lắm! Mình ra đầu ngõ hớt lại mái tóc nửa năm chưa động đến. Thằng bé hớt tóc vừa đưa kéo xoen xoét vừa la làng trời ơi đất hỡi, tóc thế này mà gọi là tóc, ổ quạ còn phải gọi bằng cụ, nó nói. Mình ngồi nghe nó ca cẩm mà thấy vui vui. Nó nói, dạo này đang có mốt xăm hình nghệ thuật, xăm hình có tiền hơn hớt tóc. Mình tò mò hỏi xăm hình nghệ thuật là thế nào. Nó trả lời chú có muốn xăm không, nghệ sĩ như chú xăm hình vào trông oách lắm! Mình bảo, tùy mày. Thế là sau khi giải quyết xong cái đầu nó bảo mình cởi áo ra. Mình nằm ngửa trên ghế, nó tí mẩn xăm lên ngực mình bằng mũi dùi nhọn hoắt. Nó hỏi, chú có thấy đau? Mình bảo, cũng đau. Mình thấy toàn thân tê dại. Nó bảo, nghệ sĩ phải chịu đau, chịu buốt nhức mới là nghệ sĩ. Mình cười méo mó, nghệ sĩ cái con khỉ. Nó bảo, xong rồi, một con đại bàng hoành tráng. Mình ngồi dậy nhìn xuống ngực, thấy một con đại bàng phủ hết vùng ngực trái đang cắp một trái tim. Mình nghĩ, cũng hay hay.
          Mình vẫn thường nhớ Y, người con gái miệt vườn chân lấm tay bùn mà đẹp. Không hiểu đám tang của Y diễn ra ở đâu, như thế nào, có được chôn ở quê nhà hay không. Đã hơn một lần Y nài nỉ mình cưới Y hoặc không cưới nhưng sống như vợ chồng để Y được sung sướng làm vợ nghệ sĩ. Mình hay đùa, nghệ sĩ phải cô đơn mới sáng tạo được. Y dỗi, hay là em chết đi để anh cô đơn. Không ngờ, nói chết rồi chết luôn…
          Sau những buổi săn ảnh thất bại trở về, mình lại ghé quán thằng bé hớt tóc để xăm mình. Mình nghĩ, thân thể này, nhiều lắm là bảy tám năm nữa thôi sẽ mục ruỗng, xăm gì chả được, vẽ gì lên đấy mà chả được. Những hình xăm kì dị sẽ che đậy những mục nát từ bên trong, thế cũng hay. Mình nằm úp trên ghế cho thằng bé trổ tài. Thằng bé khoe, cháu học xong trường cao đẳng nghệ thuật, chả cơ quan nào nhận, cháu là nghệ sĩ đường phố, có điều, cháu không chịu đau được nên không phải nghệ sĩ lớn. Mình nghĩ đến mình, có học hành quái đâu mà nghệ với sĩ, chỉ là thằng chụp ảnh dạo ngoài đường, so với thằng bé tốt nghiệp cao đẳng này, mình còn thua xa. Nó bảo, ngực chú xăm hết rồi, giờ đến xăm lưng, chú thích xăm cái gì. Mình nghĩ đến gương mặt nhăn nheo của cụ già người thiểu số trong núi. Mình bảo nó, xăm một cái đầu lâu tóc bạc. Nó cười, đã đầu lâu lại còn tóc bạc, hâm thế! Thế mà cũng gọi là nghệ sĩ. Mình nghĩ, thế nào cũng phải trở vào núi gặp bà cụ có gương mặt nhăn nheo tai dài đến vai chèo thuyền gỡ lưới trên Hồ Xanh ấy. Không chụp được một bức cho ra hồn thì quả là uổng. Những cuộc điện thoại từ các toàn soạn tạp chí đặt ảnh, giục nộp ảnh, mình ờ à khất lần cho qua chuyện. Nghệ sĩ mà không có tác phẩm thì sống làm gì, mình nghĩ.
          Thời gian vẫn đằng đẵng. Những thuốc thang, tư vấn từ các cơ quan y tế vẫn đều đặn, cuộc sống của mình vẫn đều đặn. Da dẻ mình vẫn bình thường, chưa có dấu hiệu phát bệnh. Nhưng, cơ thể mình giờ đây đầy những hình xăm kì dị với đủ các mẫu mã, hình thù. Mỗi lần vào nhà tắm mình đứng trước gương rất lâu. Mình tự ngắm mình. Hai ngực hai con đại bàng, cái đầu mãng xà to tổ bố giữa bụng, đuôi nó quấn xuống hai đùi, quấn tận bàn chân, sau lưng là hai cái đầu lâu có tóc bờm xờm. Mình cười ha hả, chó chết, đời chó chết, mình nghĩ, chết đến nơi rồi còn đại bàng với mãng xà! Mình thấy như vừa bước hụt chân trên con đường ngang qua vực sâu. Hình như cái chết không đến từ da thịt như mình vẫn tưởng về những người bị H. Có một cái chết đến từ bên trong. Thằng bé hớt tóc cũng nói, nghệ sĩ thường chết từ bên trong, như cái cây rỗng ruột, bên trong mục hết mà cành là vẫn xanh, thế mới lạ. Mình rủ các đồng nghiệp vào núi gặp bà cụ già có đôi tai phật bơi thuyền gỡ lưới trên hồ mỗi buổi sớm mai. Ai cũng lắc đầu. Mọi người đều đang bận theo đuổi đề tài của họ, hay là họ ngại không muốn đi cùng mình, mình không biết.
          Cuối cùng, một mình mình đi vào Hồ Xanh. Không ai tưởng tượng được những người bản địa lại chọn nơi ở xa đến thế. Nửa ngày đường mà vẫn chưa đến. Con đường đất đỏ bám vào vách núi chênh vênh. Hay là mình lạc đường? Không phải, con đường vẫn rất quen. Có khi con đường rất quen ấy lại dẫn mình đến nơi khác, mình không rõ. Cơn mưa rừng kéo tới trên đầu, đe dọa. Mình mặc cho mưa trút, vẫn đi. Mình mặc cho gai cào rách áo, vẫn đi. Đến khi mưa tạnh thì bóng núi đã đổ dài. Mình hốt hoảng, sao mà xa thế? Mình nhìn xuống người, quần áo mình đã tả tơi từ lúc nào. Mình cởi luôn cho tiện. Cuối cùng, chỉ còn một chiếc quần đùi và túi đựng máy ảnh quàng cổ, mình lầm lũi bước đi.
Dòng suối chắn ngang đường mình đi. Mình ngồi trên thân cây vắt ngang suối nghỉ ngơi. Hình như cuối dòng suối này là Hồ Xanh, nơi có bà cụ già bơi thuyền gỡ lưới bên những chú thiên nga trắng muốt. Dưới suối là một người mà mình không hề quen biết. Dường như chỉ còn đôi mắt là hơi quen, còn nữa là xa lạ. Con đại bàng vẫy cánh, con mãng xà cựa quậy. Mình hoảng, hay là mình biến thành thú, thành quỷ dữ? Không ai trả lời mình cả. Mình lại nghĩ, mình phải tìm đến nơi trước khi trời tối. Mình lại dò dẫm bước đi. Nhưng bóng tối ở rừng dày đặc, mình không còn nhận ra đường để bước. Mình chọn một gốc cây to, cởi máy ảnh đặt bên cạnh, mình nằm xuống đấy. Mình thấy mệt vô cùng. Trên da thịt mình, con đại bàng lại đang vỗ cánh định bay, con mãng xà lại cựa quậy định bò, mảng da sau lưng cũng đang động đậy, hình như hai cái đầu lâu có tóc đang nói chuyện với nhau. Đâu đó xung quanh mình, cuộc sống vẫn chuyển động, chỉ có mình là hoang mang vô cùng và đau khổ vô biên. Mình nhắm mắt lại, trong phút chốc, hình ảnh bà cụ già có đôi tai phật với gương mặt hàng vạn nếp nhăn nheo chợt hiện ra trước mắt, ánh mắt bà lóe lên một nụ cười tinh quái. Trong khi, tay bà vẫn thoăn thoắt bơi chèo gỡ lưới. Bầy thiên nga thấy động vỗ cánh vụt bay lên trong ánh nắng sớm mai vừa xuyên qua tán lá rừng rọi xuống mặt hồ lóng lánh như rải vàng rải bạc. Mình vùng dậy chộp lấy máy để bấm. Mình bấm liên hồi cho đến khi tay chân mềm nhũn trong cơn mệt mỏi rã rời.
          Những người đi tìm sau nhiều ngày lặn lội mới dò đến gốc cây cổ thụ bên suối nơi mình đã nằm xuống. Người ta bới trong đống đất đỏ hoe hình người mà mối vừa đùn lên, nhưng không còn dấu vết gì của mình nữa. Không có thịt xương, chỉ có những con mối béo nẫn, trắng tinh đang hăm hở miệt mài làm việc. Chỉ có chiếc máy ảnh hiệu canon là vẫn mới nguyên, không hề bị mối gặm. Nhờ có chiếc máy ảnh ấy mà người ta chắc chắn đống đất mối đùn ấy chính là mình. Đồng nghiệp coi chiếc máy ảnh là di vật cuối cùng mà mình để lại, đem về chép vào máy những bức ảnh cuối cùng để lưu giữ.
          Những ngày sau đó, ở quán cà phê quen thuộc, những người bạn của mình vẫn còn cãi nhau về những bức ảnh cuối cùng ấy. Đó là những tấm ảnh rất lạ, không thấy rõ đường nét, chỉ toàn một màu đỏ nhức mắt. Những cặp mắt tinh tường của dân trong nghề cũng không tài nào phân biệt được đó là màu đỏ của lá thu hay màu đỏ của máu hay của lửa hay của đất. Nhìn kỹ nữa thì thấy những đường gân nhỏ li ti như mạch máu chằng chịt dọc ngang.
Người cả quyết rằng đó là kiệt tác, người nói rằng, không có hình thù gì cả, không có tư tưởng gì hết. Người hoài nghi rằng, tác giả đã dí ống kính vào nội tạng của một người đang sống để bấm máy, mà điều đó thì không thể. Cuối cùng họ thống nhất với nhau đem hết những tấm hình đó gửi vào nhà bảo tàng của tỉnh để lưu giữ. Nhân viên bảo tàng cũng nhiệt tình đón nhận nhưng không biết nên trưng bày nó vào góc nào nên vẫn để nguyên trong bọc nhét vào gầm tủ. Và chúng nằm im trong đó mãi mãi. Đó là những gì của mình còn sót lại trên thế gian này.

Inrasara: Thơ hôm nay đang tự xa rời quần chúng – inrasara

16 Th1
 

Inrasara: Thơ hôm nay đang tự xa rời quần chúng

Posted on 15.01.2013 by

Đã đăng tạp chí Sông Hương, số 1-2013

Inrajaya06

* Photo Inrajaya

1. Ngẫu nhĩ mở/ theo dõi tập thơ/ khuôn mặt thơ trẻ đương đại nào bất kì, không cần động não nhiều, ta vẫn nhận ra ngay điểm nổi trội hơn tất cả vẫn là sự thừa và thiếu. Không phải cái thừa và thiếu tạo nên khoảng rỗng lồng lộng sẵn sàng cho cuộc nhảy táo bạo của tinh thần phiêu lưu sáng tạo, mà là thừa và thiếu của khoảng trống vô hồn nguy cơ đẩy người viết rớt vào hố thẳm bợt bạt. Đối mặt hiện thực cuộc sống phong nhiêu cùng sự phong phú của nghệ thuật nhiều thách thức, thay vì dũng mãnh tìm cách chiếm lĩnh nó để tồn tại trong lòng nó, người viết trẻ hôm nay nghe hoang mang, như thể mất trọng lực, hãi sợ và run rẩy…

“… hiện nay có quá nhiều xu hướng khiến cho những cây viết trẻ như tôi hoang mang mình sẽ viết như thế nào”.

Mặt đất như sụt dưới chân, người trẻ dớn dác chạy tìm bấu víu. Bấu víu vào truyền thống, vào bản sắc dân tộc, vào mấy hệ thẩm mĩ đã lưu kho; bấu víu vào các danh tác tận thời đại nào xa, bám chặt vào tên tuổi lớn của quá khứ, cả quá khứ gần…

Văn chương trẻ cần những người đi trước đón nhận và động viên, hoặc nếu họ sai thì cần một sự động viên, sửa chữa để họ có động lực đi tiếp”.

Như đứa trẻ chưa chịu rời vú mẹ, người viết trẻ cần bậc đàn anh đàn chị động viên khích lệ, để tạo động lực; lắm lúc đứa trẻ ấy cũng cần đến cái roi uốn nắn, không phải thứ roi dong cứng cựa dành cho “trâu xe” mà là loại roi lau phơ phất lên xuống tới lui tạo cảm giác không gì hơn ngoài thế hệ thơ trẻ vẫn đang đi, đây đó. Trên vài lối mòn kia, thỉnh thoảng họ đưa mắt liếc xéo sang người viết cùng thời đầy mặc cảm…

Họ sử dụng những từ tối nghĩa, vấn đề giật gân, những vấn đề nóng gợi dục… để làm mới văn chương mình khiến cho người đọc khó đọc, khó hiểu, khó cảm thụ(1)

Mặc cảm và sợ hãi. Hết sợ hãi nhau đến sợ hãi đàn anh chị, bậc cô chú; từ sợ hãi xa rời truyền thống diệu vợi đến sợ hãi người đọc lồ lộ hiện tiền. Sợ hãi níu kéo sợ hãi, kêu đòi sợ hãi lên cấp số cộng thành cấp số nhân phủ trùm khí quyển thơ Việt Nam hôm nay. U ám, ngày càng u ám hơn.

 

Cảm trạng của Lê Vị Thủy không là cá biệt, bởi tách ngẫu nhiên bất kì tên tuổi nào ở thế hệ này, dù đã hay chưa được biết đến, đang ẩn mình “cô đơn sáng tạo” hay thường xuyên xuất hiện ở trang đầu tờ nhật báo, nỗi sợ hãi kia cứ là không hề thiếu. Sợ hãi cần đến đèn pin soi lối, cây gậy chỉ đường, công văn định hướng, sợ hãi cần tiếng nói nhắc nhở và cả sự quắc mắt dọa nạt. Thế nên không ngạc nhiên, khi bất kì kẻ đàn anh đàn chị nào, tên tuổi dù lớn, vừa hay bé nhỏ, dù tiếng tăm lẫy lừng hay cái tên chỉ mơ hồ nằm trong góc tối kí ức độc giả một thời cũng sẵn sàng nhảy ra lên lớp, xoa đầu dạy dỗ. Với bao nhiêu nên, không nên, có thể, không thể với nhất định không thể, rồi cần phải thế này, thế khác…(2)  Tuổi trẻ tự nguyện giao trứng sáng trong cho ác bảo thủ khệnh khạng dồi tung.

Ngay cả khái niệm “thơ trẻ” mà vài đàn anh đàn chị [thuộc thế hệ thơ chống Mỹ và thế hệ thơ tiền-đổi mới, một lớp nhà thơ không thiếu tài năng] định danh cho những người làm thơ đi sau không là gì khác ngoài thái độ ban bố quyền được kế thừa trịch thượng. Lạ, khi không ít khuôn mặt thơ [được cho là] sáng giá thuộc thế hệ này mặc nhiên nhận lấy với sự hãnh diện ra mặt. Từ đó, họ “tiếp thu và sáng tạo” đầy “cá tính”, thứ cá tính không dám mở lối đi riêng dù nhỏ bé, mà mãi quẩn quanh cày xới cánh đồng thơ tự do không vần từ thời xa lắc. Khu vực này, cho dù có lớn tiếng tới đâu, thế hệ đàn em cặp mắt vẫn không thôi lấm la lấm lét liếc về phía cây gậy khuơ khoắng, chỉ chỏ. Không có ai thử liều một lần vượt biên, nói chi ý hướng làm cuộc cách mạng lật đổ.

Người mù dẫn đường người mù, cả hai sẽ rơi xuống hố.

Vậy hãy để yên cho họ vừa đi vừa ngủ với ảo tưởng phôi phai, giấc mơ bé con của họ. Ở đây ta nhắm đến những kẻ sáng tạo dám dứt lìa khỏi vú mẹ, và đi con đường riêng, mà không cần đến bất kì ngón tay chỉ chỏ nào. Như Tuệ Nguyên:

Tôi đang sống cùng thời đại với họ,

nhưng khi họ cứ mải mê dò từng bước để đi thì tôi lại nằm một xó tập bay.

(Những giấc mơ đa chiều, NXB Hội Nhà văn, H., 2009)

 

2. Thế nhưng, cả ở đây, thế hệ thơ hôm nay vẫn thiếu. Đúng hơn, chưa đủ – chưa đủ cô đơn cho sáng tạo! Cô đơn và kiêu hãnh và dũng cảm. Kiêu hãnh, ta có; nhưng đó là kiêu hãnh vụn, nhỏ lẻ và rất giả. Thứ kiêu hãnh cần đến tiếng vỗ tay của khán giả, dù khán giả đó là những con trâu – theo cách nói đầy hình tượng của Nietzsche. Chúng ta đang thừa mứa kiểu kiêu hãnh ồn ào đáng thương mà rất thiếu loại kiêu hãnh cô độc sang trọng của Đoàn Minh Châu, Lưu Mêlan(3).

Dấn mình khai phá cái mới, cái lạ; dũng cảm thử nghiệm loại thơ mới với hình thức thể hiện mới, thế hệ thơ trẻ hơn chục năm qua, đã làm nên vài điều khác lạ. Song, do chưa đủ kiêu hãnh, chưa đủ dõng mãnh tách đàn để “gậy mình mình vác, đường mình mình đi, giữa đồi núi chập chùng”, người trẻ làm nên sự hời hợt và đồng bộ trong cái mới [hay cái ra vẻ mới] của thơ hôm nay. Chưa đủ dũng cảm, người thơ trẻ vừa khao khát khác đồng lúc vừa sợ khác kẻ đồng hành. Thế là lặp lại nhau, vô thức hay có ý thức. Không chỉ ở ngôn ngữ thơ mà, ở chính hình ảnh và tứ thơ. Thi ảnh “ngựa” là một. Ngựa từ Xuân Diệu sang Hoàng Hưng đến Vi Thùy Linh, Đinh Thị Như Thúy, Trần Lê Sơn Ý… cứ thế mà vô tư ngựa!

Thức dậy đi hỡi chú ngựa non của đồng ngực trẻ

Thức dậy và tung bờm cất vó

Phóng như điên…

Thức dậy đi ơi chú ngựa

đã ngủ sâu trong đáy tim nhiều năm tháng.

(Trần Lê Sơn Ý, “Bài ca ngựa non”, Thơ hôm nay, NXB Đồng Nai, 2003, tr. 213)

 

Rồi mãi tận Đinh Thị Như Thúy nữa, ngựa chưa bao giờ làm vắng mặt:

Trái tim tôi là con ngựa bất kham

Sải vó dài trên đồng cỏ.

Gió ngùn ngụt gió.

(Đinh Thị Như Thúy, “Một ngày tháng sáu”, Vanchuongviet.org)

 

Rồi khi nhóm Ngựa Trời với năm nhà thơ nữ trẻ xuất hiện, ngựa đã thành một cuộc [mốt] chơi không biết đâu là cùng tận:

Em là con ngựa bất kham vừa chạy trốn vừa chạy theo những ám ảnh…

(Khương Hà, “Bên trái là đêm”, Dự báo phi thời tiết, NXB Hội Nhà văn, 2006, tr. 32)

 

Nếu ngựa Xuân Diệu (Và hồn tôi như ngựa trẻ không cương / Con ngựa chiến ngất ngây đường viêu viễn) biểu hiện nỗi ngây thơ, mơ mộng đẫm chất lãng mạn; hoặc ngựa của Hoàng Hưng là ngựa cô độc đầy kiêu hãnh lạc giữa tập thể bầy (Em là con ngựa non thon vó / Lạc giữa rừng người hoang vu) thì ngựa của các bạn thơ nữ trẻ hôm nay nhất tề hô khẩu hiệu đòi tháo cũi sổ lồng, giải phóng mình khỏi buộc ràng phép nhà xã hội. Tất cả – một giuộc!

Không vấn đề gì cả. Đó là tâm thế chung của phụ nữ thời đại. Cần phải đạp đổ thái độ phân biệt đối xử trong giới tính, từ đó khẳng định tinh thần dân chủ trong hành xử xã hội. Nhưng tại sao lại cứ rập khuôn trong sáng tác văn chương? Tại sao không nỗ lực tìm thi ảnh mới, khác hơn các bạn thơ đồng trang lứa? Tại sao cứ là… ngựa, mà không là thi ảnh khác? Việt Nam có phải quê hương của ngựa đâu! Ngựa vô hình trung trở thành ước lệ, thứ ước lệ mà các nhà thơ thế hệ mới vô tư nhai lại(4).

 

3. Vừa muốn khác vừa không dám làm khác người viết cùng thời đã đẩy thế hệ thơ trẻ gặp nhau ở sự đồng bộ. Tính đồng bộ không khác mấy thứ thơ của thế hệ cô chú, anh chị họ làm mới đây, mà họ từng lên tiếng chê bai là thơ cái tôi tập thể, thơ quốc doanh, thơ đồng phục. Sự đồng bộ bắt nguồn sâu xa từ căn tính thơ Việt và xã hội Việt Nam, được đắp nền và tô bồi thêm bởi thứ triết học Theo-ism đang được dạy trong nhà trường. Bước chân ra khỏi giảng đường, họ khó dứt lìa nếp nhà nghĩ theo, viết theo, đọc theo, khen chê theo…

Khác với nền dân chủ Tây phương, truyền thống xã hội Việt Nam về cơ bản thiết định trên tính cố kết gia đình và cộng đồng thay vì tình liên đới giữa các cá nhân độc lập, một xã hội ưu tiên bảo vệ nề nếp gia phong hay ổn định cộng đồng thay vì đảm bảo quyền lợi cá nhân như là thành tố độc đáo làm nên tập thể nhỏ, lớn đó. Không có gì dở cả. Thế nhưng, văn học là hoạt động sáng tạo độc lập, khi phải vận hành trong thiết chế truyền thống kia, đã chịu bao thiệt thòi. Tài năng cá nhân với những suy nghĩ và hành xử cá biệt luôn bị dị nghị. Đòi hỏi nhà văn Việt Nam vượt thoát và “chối bỏ” nó như Cao Hành Kiện đã làm, là điều cực nhiêu khê. Để được tồn tại giữa lồng môi trường văn hóa ấy, nhà văn chấp nhận thỏa hiệp. Họ sẵn sàng để cho họ hàng thân quyến, anh em bằng hữu can thiệp vào công việc sáng tạo. Kín đáo hay lộ liễu. Không lạ, khi tập thể tính là một trong những đặc tính nổi bật của văn chương Việt Nam, – như Nguyễn Hưng Quốc nhận định. “Cá tính” vừa phải như Nguyễn Huy Thiệp thôi, cũng phải chịu cho ra rìa.

 

Thế hệ người viết sau đó có vẻ “cá tính” hơn. Thế nhưng do thiếu nền tảng triết học – môn học dạy sinh thể mang tên con người biết và dám đặt câu hỏi, cho nên hiếm kẻ biết đặt câu hỏi về hiện trạng thơ hôm nay. Hiếm hơn nữa, kẻ biết cách đẩy câu hỏi đến tận cùng. Cả những hiện thực lồ lộ trước mắt. Và mặc cho bao nhiêu chuyến đi thực tế được tổ chức, những ưu ái mời gọi thâm nhập, nhà thơ hôm nay cứ là xa rời thực tế. Chạm lớt phớt vào hiện thực cuộc sống, rồi thôi. Rồi nghỉ. Trong khi hiện thực chuyển động và lớn mạnh ngày càng nhanh hơn, đẩy thơ ca tụt hậu và, mất hút.

Có được chút thông minh nhận ra bản chất sự thể, và rồi do sợ cô đơn, sợ cô độc và sợ cô lập, người viết tìm thỏa hiệp và tự thỏa hiệp. Họ không dám sống tới cùng tư tưởng chọn lựa, không dám viết tới cùng, và nhất là không dám theo đuổi đến cùng dự án lớn lao không giống ai của mình [nếu nhà văn đã nghĩ ra được và hoạch định trước đó]. Chúng ta đang thừa thãi người làm thơ học biết né tránh hiện thực, mà rất thiếu những Lê Vĩnh Tài dám đối mặt với hiện thực thậm phồn. Hiện thực của thơ ca: Thơ hỏi thơ (2010), Thơ hỏi thở, Thơ ơ thơ, Làm thơ (2012); hiện thực của thực tế xã hội: Cánh đồng bất nhân, Ăn của rừng rưng rưng nước mắt (2012). Bởi chỉ khi dám đối mặt và đẩy tất cả tới cùng, nhà thơ mới hi vọng thấy được mặt tối, bề sau của hiện thực.

 

Né tránh hiện thực là hệ quả của truyền thống văn hóa văn chương Việt Nam xưa; hôm nay, nỗi thừa mứa sự nhát hèn của bộ phận lớn sinh thể làm chữ nghĩa đang phát huy tối đa truyền thống kia. Phát huy không còn ở dạng bôi đen hay tô hồng, càng không phải đóng cửa giữ bàn tay sạch, mà ẩn núp sau những ẩn dụ nghệ thuật sang trọng, được khúc xạ bởi mấy ám chỉ xa/ gần, đậm/ nhạt, qua đó ý nghĩa hiện thực bị bẻ cong, đánh tráo. Tất cả không gì hơn mục đích né tránh hiện thực ở cấp độ khác, cao cấp hơn và tinh vi hơn, do đó đầy đớn hèn hơn.

Nhưng liệu người làm văn học còn có thể tránh né hiện thực mãi không? Câu trả lời là: không! Làm nhà văn có nghĩa là bị đẩy xuống tàu. Ngoại trừ văn nghệ sĩ xa lông, hay các cây bút đầu hàng thời cuộc. Thế giới hiện tại, mỗi sáng tác là sáng tác đầy nguy hiểm. Mỗi hành vi công bố tác phẩm là một hành động, và hành động này đặt mình vào sự cuồng nộ của một thời đại không tha thứ(5). Hiện thực phổ quát, kèm với nó là sự thống khổ của đám đông có mặt khắp nơi, ở sát cạnh nhà ta, ngay giữa lòng tập thể nhỏ bé tưởng yên ấm của ta. Thống khổ và bất công lồ lộ được phương tiện thông tin đủ loại đẩy vào tận phòng ăn, giường ngủ ta, ám ảnh giấc mơ ta. Đám đông ấy không để yên cho sự im lặng của ta, khi im lặng đó bị coi như một thái độ. Họ càng không tha thứ cho tiếng nói của ta, nếu đó chỉ là tiếng nói lưỡng lự, nửa vời.

Cũng bởi Thế giới ngoài tôi có quá nhiều sự thật…

Dù thế nào tôi cũng đứng dậy bước đi

Không thể mãi như con lật đật nghiêng hai bên phải trái(6)

 

Thế hệ thơ trẻ hôm nay không chỉ hai bên phải trái nghiêng, mà bát ngát bên nghiêng. Tùy tình hình mà nghiêng, lấm lét nhìn trước ngó nhau để nghiêng. Nghiêng ngay ở bản thân bài thơ, nghiêng lộ ra trong chính ý định không nghiêng của nhà thơ. Nhân loại đã lớn, người đọc Việt Nam cũng đã trưởng thành. “Thế giới không còn dễ dàng để các nhà văn làm cho chấn động nữa”(7); còn sự lừa dối của nhà văn thì sẽ không bao giờ được dễ dãi bỏ qua.

 

4. Thiếu nền tảng triết học, thiếu tư duy về nghệ thuật dẫn đến sự thừa ảo tưởng về sáng tạo. Sáng tạo, ta vặn vẹo hoặc thay đổi vài câu chữ, ta vắt dòng, ngắt câu hay kéo dài câu thơ đến vô tận. Ta thơ con âm, thơ siêu hình với siêu thực… đủ cả.

Vặn vẹo câu chữ, thơ con âm, thơ siêu hình với siêu thực, ta khiến thơ thành thứ nghệ thuật bí hiểm, khó hiểu. Không phải khó hiểu của suy tư sâu thẳm, lạ biệt mà là khó hiểu của sự mù mờ, giả trá và bất lực. Kiểu thơ chỉ có thể đánh lừa độc giả nhẹ dạ cả tin.

Tân hình thức và vắt dòng với tính truyện, ta không đủ trải nghiệm để có chuyện, hoặc chuyện ta không đủ sâu có khả năng chuyên chở hiện thực, ta quay về kể mấy chuyện vụn vặt, hời hợt. Hiện thực đời sống vuột khỏi thơ lúc nào không biết.

Kéo dài câu thơ, dù đã hụt hơi thơ – hơi thở, nhưng ta cứ miệt mài kéo. Thơ trở thành lòng thòng với dông dài, không nói lên điều gì hơn, ngoài việc tố giác sự bất lực của người làm thơ không đủ bản lĩnh để điều tiết câu chữ.

Thơ không vần, nhịp chỏi với lối nhảy cóc về thi ảnh chẳng là nỗi sáng tạo mới mẻ chi chi cả, mà chỉ là một học lại từ phong trào thơ thuở 60 của thế kỉ trước. Cái hơn ở thế hệ sau này là nhảy cóc tùy tiện hơn, nhịp thơ chuyển vô tội vạ hơn, từ đó ý thơ tù mù hơn. Chúng khuấy đục mọi thứ nước để tạo cảm giác sâu thẳm – lại Nietzsche!

Thê thảm hơn cả, hôm nay khi hậu hiện đại đang thời thượng, không ít nhà thơ cách tân cũng lân la mò tới hậu hiện đại. Cũng giễu nhại, cũng cắt dán, cũng phi tâm hóa thể loại… Nhưng đó là thứ hậu hiện đại giả. Giả, nên cực kì nhảm.

… Khốn nạn

Như những bài thơ vừa cách vừa tân múa lân của bạn.

(Lê Vĩnh Tài, “Từ sự rụt rè, chúng ta phát ra ánh sáng của cái đẹp”, Tienve.org)

 

Cái nhảm được đẩy lên đến tận cùng khi tất cả mớ mù mờ, lừa mị kia đang được đôn lên và định danh như là thơ cách tân. Các loại thơ cách tân giả hiệu được xiển dương bởi nhà phê bình đổi mới giả hiệu gây nên sự mù màu trong thưởng thức văn chương. Và ta tự huyễn với mấy nỗi sáng tạo đó. Chính sự tự huyễn nghênh ngang đến tội nghiệp của người làm thơ thế hệ mới đang làm vẩn đục không khí thơ hôm nay, chứ ít khi từ thái độ bảo thủ cứng đầu của thế hệ trước. Bởi dẫu sao, bảo thủ với lạc hậu vẫn có tiếng nói và dáng đứng riêng, không khó biện biệt.

 

5. Như vậy, chắc chắn kĩ thuật với hình thức không phải là cái thiếu của thế hệ thơ hôm nay, mà thiếu – thiếu trầm trọng chính là cảm thức mới. Một cảm thức hạ sinh từ cuộc nổ lớn xảy ra nơi tâm thức, khi ta đối mặt với và suy tư thẳm sâu về hiện thực. Thiếu này là hệ quả của thiếu nền tảng triết học. Và, do thiếu cảm thức mới, cho dù thơ trẻ có vận dụng thành thạo mọi thủ pháp mới nhất học được từ thế giới ngoài kia, vẫn chỉ là mớ trang sức không hơn kém phân tấc. Thơ trẻ vẫn cứ bộc lộ cái khôn khéo vụn vặt với sự tự tin vừa hãnh tiến và bất an đồng thời.

Rốt cùng, tất cả dẫn đến thứ ảo tưởng hơn cả mọi ảo tưởng: ảo tưởng về tự do. “Sinh ra đã là tự do” hời hợt đã đành, sáng tạo tự do với xuất bản hay phê bình tự do, là một ảo tưởng tự đánh lừa(8). Ta “được quyền nghĩ những điều đã ước” (Mai Văn Phấn), nhưng ta chưa dấn lên một bước: dám nói lên những điều đã nghĩ kia. Mà không tìm cách nói lên những điều đã nghĩ thì làm gì có khả năng tiếp cận hiện thực. “Ngôn ngữ quẩn quanh hàng rào sự thật”, con tằm thơ trẻ cách tân chưa thể và không thể thoát khỏi vỏ kén, để dệt nên tấm vải bọc hình hài bạc nhược của nhà thơ, chứ đừng nói tác động đến quần chúng rộng lớn.

Thiếu sáng tạo đích thực bắt nguồn từ thiếu cảm thức mới, cảm thức bùng nổ khả năng làm thay đổi cách nhìn hiện thực, chuyển đổi cả cách sống lẫn cách viết của nhà thơ. Cảm thức mới làm bạo động xô đẩy nhà thơ đối mặt với sự khủng hoảng của cuộc sống hiện tại cùng nỗi khốn cùng của đám đông nhân loại. Thiếu cảm thức đó, thơ trẻ tự bịt mắt và bó tay để hạn định mình viết ra những gì có thể được đăng, được in, được thế hệ đàn anh đàn chị xoa đầu. Tất cả dẫn đến hệ quả tệ hại mà cả nhà phê bình lẫn người đọc đang lên tiếng báo động, rằng: thơ nhàn nhạt, thơ đang bế tắc, thơ xa rời hiện thực, thơ có mặt bằng mà không có đỉnh cao, vân vân… vẫn chỉ là những báo động giả. Bởi cả người làm thơ lẫn cơ quan trách nhiệm đều giả vờ không nhìn ra điều thật nhất trong những điều thật: thơ đang lãng tránh sự thật. Thế nên, cho dù có bao nhiêu hội thảo – từ địa phương, khu vực cho đến trung ương – bày ra, vẫn là những hội thảo và luận bàn vô bổ.

Cuối cùng, đâu lại vào đấy. Thơ ngày càng xa rời quần chúng là điều không thể tránh.

 

Sài Gòn, 5-11-2012

 __________

 

Chú thích:

(1) Lê Vi Thủy trả lời phỏng vấn báo Văn nghệ trẻ, 28-10-2012

(2) Hoài Chi, “Thơ đổi mới theo hướng nào?”

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=16094

“Một nhà thơ Việt Nam không thể làm thơ như ông Tây học nói tiếng Việt… Nhà thơ nhất định không thể trở thành công cụ cho văn hóa nô dịch ngoại lai… Một nhà thơ tùy theo sở trường sở đoản mà có thể lựa chọn trường phái, phương pháp sáng tác cho phù hợp để định hình một phong cách cá nhân. Nhưng dù cho đó là gì đi nữa thì phải đảm bảo được giá trị phản ánh và tinh thần dân tộc trong tác phẩm của mình. Không thể chạy theo cái cho là thời thượng, lòe đời để mang một giá trị ảo. Càng không thể một văn bản được gọi là thơ nhưng thật tế đó chỉ là trò chơi sắp chữ. Nhà thơ không nên chạy theo mốt một cách sống sượng như vậy được.

Đổi mới thơ ca là một việc làm không thể thiếu, rất cần nhưng không nên quá vội vàng tùy tiện và thiển cận để đi tới mất gốc. Thơ là tiếng nói của dân tộc cần phải biết giữ gìn sự trong sáng và phát huy bản sắc của nó. Nhà thơ phải luôn đổi mới tư duy, tìm tòi sáng tạo cái mới về ngôn ngữ, phải bình tĩnh trước những cơn sóng gió để trái tim trắc trở của mình nói lên giai điệu và cho ra tác phẩm mang hơi thở, diện mạo của thời đại mình. Nhà thơ nhất định phải ý thức về thi pháp để không bị hòa tan vào người khác. Người làm thơ trẻ cần phải luôn trau dồi học tập, không được tự mãn và đặc biệt đừng bao giờ làm thơ theo kiểu đánh đố người đọc, phải biết trân trọng những giá trị cổ truyền, phải biết sáng tạo mang tính kế thừa, phải biết đặt văn hóa dân tộc lên hàng đầu thì mới có một tương lai xán lạn.

Thơ hay là thơ phải mới và phải mang được hơi thở của thời đại, là một nguồn tài sản quý báu chung cho cộng đồng dân tộc, như là một tấm gương mà ai soi vào cũng thấy được khuôn mặt của mình mà trang điểm cho thanh lịch đẹp đẽ hơn. Người làm thơ lúc nào cũng vậy không được dễ dãi với chính mình, phải luôn tìm tòi sáng tạo.”

(3) Nguyễn Tiến Văn, “Về tập thơ M-N&Z của Đoàn Minh Châu”, Damau.org, 2-2-2009:

Tập thơ rất có thể xuất hiện theo đường lối quan phương chính thống, tức là qua biên tập và xuất bản theo lề lối hiện hành của xã hội Việt Nam ngày nay. Nhưng tác giả đã tự chọn đường lối độc lập trong phát biểu và xuất bản. Đây là một quyết định đầu tiên và duy nhất cho tới nay đối với một nhà thơ nữ… Ngay cả ở một trung tâm vừa đông dân vừa quan trọng nhất về văn hóa và kinh tế hiện nay là Sài Gòn, các nữ tác giả cũng khá e dè trong công việc tự chịu trách nhiệm và tự xuất bản tác phẩm cá nhân của mình. Có một vài trường hợp hiếm hoi, vì vấp váp một vài khó khăn trong việc xin phép xuất bản chính thống thì mới chọn đường lối bên lề, in lên mạng… cho “hả giận”, cho ra vẻ mình “dũng cảm”. Cho nên, với một hành động vốn nhỏ bé và cũng khá đơn lẻ, nhẹ nhàng của Đoàn Minh Châu, tôi cho đây là một điểm son cần ghi nhận”.

(4 Créer aujourd’hui, c’est créer dangereusement. Toute publication est un acte et cet acte expose aux passions d’un siècle qui ne pardonne rien, – A. Camus, “L’Artiste et son Temps”.

(5) Inrasara, “Thơ trẻ và hiện tượng lặp lại mình”, báo Văn nghệ Thành phố, 11-10-2012.

(6) Hoa Nip, “Thế giới nhiều sự thật”, web Hội Nhà văn Thành phố HCM, 5-11-2012

(7)The world is not so easily appalled by writers anymore”, Mamu Joseph, “Where will Literature go from here?”, New York Times, 29-8-2012.

(8) Về “tự do”, Đinh Thị Như Thúy trả lời Nguyễn Đức Tùng, Talawas.org, 1-8-2010: “Sinh ra đã là tự do”; còn Vi Thùy Linh viết: “Tôi luôn sống và viết tự do, như mình muốn, dám nghĩ dám nói dám làm như chính mình ấp ủ vàmuốn được làm sứ mệnh của các nhà thơ, không chỉ nói lên những vấn đề to lớn của đất nước hay thời đại…” (Vi Thùy Linh, “Sức sống và tín hiệu Việt Nam trong thơ tôi”, được Phạm Xuân Nguyên dẫn lại trong bài “Phê bình văn học hiện nay: cái thiếu và cái yếu”, tham luận tại buổi toạ đàm ở Viện Văn Học: “Phê bình văn học – Bản chất và đối tượng”, Hà Nội, 27-5-2004). Đẩy lên mức cao hơn, Nguyễn Thanh Sơn trả lời phỏng vấn báo Thể thao & Văn hóa, 8-2-2011: “Bây giờ người viết hoàn toàn tự do. Chỉ trong một tích tắc, người viết hoàn toàn có thể xuất bản tác phẩm của mình ở bất cứ một blog nào hoặc gửi cho các trang mạng văn chương khắp nơi… Bây giờ mọi người đổ lỗi cho không có tự do sáng tác, không có tự do nghệ thuật. Điều đó không hẳn”. Xem thêm: Inrasara, “Khủng hoảng, phản kháng và dối lừa”, Tienve.org, 27-2-2011.

 

 

 

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM 1945-1975: ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN – nguyentrongtao

16 Th1

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM 1945-1975: ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN

 
 

Quantcast

cuocchien

NTT: Trong khi Nhà báo Huy Đức vừa tung ra cuốn sách “Bên thắng cuộc” giá 40 USD làm nóng thị trường sách thì Long Điền (nguyên sĩ quan Tham Mưu Chính Trị QLVNCH) cũng công bố sách tìm hiểu lịch sử “Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975″ 1124 trang gồm 2 tập, giá 50 USD. Qua 45 nhân vật lịch sử bao gồm 15 nhân vật phía Quốc Gia, 15 nhân vật phía Công Sản và 15 nhân vật phía Quốc Tế. Tác giả bỏ công sưu tầm các văn khố, thư viện, tài liệu lịch sử Việt Nam và quốc tế, để đưa ra các nhận định về Cuộc Chiến Việt Nam 1945-1975 của các nhân chứng lịch sử từ các nhật ký, hồi ký, các lời phát biểu của chính nhân vật đó. (Mua online bấm vào Buy Now để trả qua hệ thống PayPal). 

Để soi chiếu lịch sử nhìn từ nhiều phía, xin giới thiệu cùng bạn một phần của cuốn sách đã được công bố trên mạng. Dưới đây là phần viết về Đại tướng Cao Văn Viên Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. 

Cao Văn Viên (1921-2008)

Cao Văn Viên

Cao Văn Viên

Tiểu sử: Đại Tướng Cao Văn Viên sanh ngày 11/12/1921 Tại thành phố Vạn Tượng , Lào Quốc. Gia cảnh Vợ và 4 con, Ông có bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại  trường  Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn.
– Tốt nghiệp Trường Quân Sự Cap Saint Jacque (Vũng Tàu ) năm 1949
– Tốt nghiệp Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp, Forth Leavenworth, Hoa Kỳ
– Chứng Chỉ Nhảy Dù QLVNCH
– Chứng Chỉ Phi Công KQVNCH
– Chứng Chỉ Nhảy Dù QLHK
– Chứng Chỉ Phi Công Trực Thăng Hoa Kỳ

Chức Vụ đảm nhiệm :
Tướng Cao Văn Viên là một trong năm Đại Tướng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và cũng là vị Tướng giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng trong thời gian lâu nhất (1965-1975).
Ông sinh ngày 11 tháng 12 năm 1921 tại Vientiane, Lào ( vì vậy mà ông có tên là Viên ). Sau khi tốt nghiệp trường trung học Pavie làm nghề huấn luyện viên thể thao trung học. Ông đã bị quân Nhật bắt giữ khi chính quyền Pháp thua trận ở Đông Dương năm 1945.
Sau đó ông trốn về Việt Nam và đến năm 1949, ông gia nhập quân đội và được đưa đi học khóa đào tạo sĩ quan tại trường Võ bị Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Khóa nầy gồm 124 khóa sinh, có 21 người trúng tuyển và được mang cấp bậc Thiếu Úy (Sous-Lieutenant). Thiếu Úy Cao Văn Viên đỗ thủ khoa. Sau khi tốt nghiệp, ông được đưa về phục vụ tại Bộ Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, giữ những chức vụ như sĩ quan phòng tuyển mộ nhập ngũ, phòng báo chí  Bộ Quốc Phòng.
Năm 1951  ông được thăng cấp Trung Úy và được bổ nhiệm chức vụ Phó Trưởng Phòng Hành Chánh, rối  Trưởng Phòng Báo Chí và Thông Tin. Sau đó ông được đi thụ huấn khóa Chiến Thuật rồi về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 10 trong năm 1952 tại Bắc Việt.
Năm 1953, ông được thăng cấp Đại Úy và được bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban 2 rồi Trưởng Ban 4 Lực Lượng Dã Chiến Hưng Yên .
Năm 1954, sau Hiệp định đình chiến Geneve rút về Nam, Ông được chỉ định chỉ huy Tiểu Đoàn 56 tiếp thu Tỉnh Quảng Ngải. Năm 1955, ông được thăng cấp Thiếu Tá, khi chế độ Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, ông được chỉ định làm Trưởng Phòng 4 (Tiếp vận) Bộ Tổng Tham Mưu và sau đó ông được theo học trường Command and General Staff College (Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu ), ở Fort Leavenworth, tiểu bang Kansas, Hoa Ky.
Năm 1956, trở lại Việt Nam, với cấp bực Trung Tá, Ông được đề cử làm Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống.
Ngày 12/11/1960, ông được cử làm Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù và thăng cấp Đại Tá thay thế Đại Tá.Nguyễn Chánh Thi vừa tham gia đảo chính thất bại vào ngày 11 tháng 11 năm 1960.
Trong cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông là một trong những số ít sĩ quan cao cấp trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm, không đứng về phe đảo chính do các Tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim tiến hành. Vì vậy ông bị tước quyền chỉ huy Lữ Đoàn Nhảy Dù trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên do sự can thiệp của Tướng Tôn Thất Đính và Tướng Trần Thiện Khiêm nên ông chỉ bị cách ly mà không rơi vào số phận bi thảm như các Đại Tá Hồ Tấn Quyền và Lê Quang Tung.
Sau ngày đảo chánh hơn một tuần, do sự dàn xếp của Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham mưu Trưởng Liên Quân, ông nhận được sự vụ lệnh về nắm lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù. Cuối tháng 1-1964, với cương vị Tư Lệnh Nhảy Dù, Tướng Viên là thế lực chính phía sau cuộc chỉnh lý của hai Trung Tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm hạ bệ Tướng Dương Văn Minh.
Sau chiến thắng trận Hồng Ngự ngày 4/3/1964 ( Đại Tá Viên đã đích thân chỉ huy cuộc hành quân của Chiến Đoàn Nhảy Dù với 2 Tiểu Đoàn 1, và 8 chận đánh một lực lượng cộng sản cấp Trung Đoàn tại Giồng Bàn, Hồng Ngự sát biên giới Miên Việt, và ông bị thương ở cánh tay phải, Cố Vấn Trưởng của Tiểu Đoàn 1ND là Đại Úy Mc Cathy bị tử thương ) ông được đặc cách mặt trận vinh thăng Thiếu Tướng và bàn giao nhiệm vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù cho Trung Tá Dư Quốc Đống, đáo nhậm chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân (Bộ Tổng Tham Mưu ) và đến cuối tháng 6 năm đó, ông được đề cử giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III.
Sau cuộc chính biến ngày 19/2/1965, Hội đồng Tướng lảnh gạt bỏ Tướng Nguyễn Khánh ra khỏi chính quyền, ông được thăng cấp Trung Tướng và được đề cử giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng vào ngày 14 tháng 10 năm 1965, thay Tướng Nguyễn Hữu Có ( lúc đó kiêm nhiệm). Năm 1967, khi Tướng Nguyễn Hữu Có bị bãi chức, ông kiêm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng trong một thời gian ngắn. Cũng trong năm này, một lần nữa ông được sự tin tưởng của Hội Đồng Tướng Lãnh là một sĩ  quan không liên hệ phe phái chánh trị khi ông được vinh thăng Đại Tướng.
Tháng 2/1966, ở hội nghị thượng đỉnh Honolulu, Tướng Viên đã đề nghị với Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson về một chiến lược cô lập CSBV bằng cách lập một hàng rào phòng thủ dọc theo vĩ tuyến 17, hoặc là đánh thẳng qua các cơ sở hậu cần của CSBV ở Hạ Lào và Quảng Bình-Vĩnh Linh. Phía Hoa Kỳ không chánh thức trả lời, nhưng tài liệu cho thấy đầu năm 1967 đại tướng William Westmoreland đã ra lệnh cho MACV soạn thảo dự trù một kế hoạch tấn công qua Lào có tên là Hành Quân El Paso.
Trong thời gian  biến động của hai năm 1966-67, Tướng Viên tham dự vào nhiều quyết định quân sự và chính trị trong nội bộ của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.
Trong vụ Phật Tử dấy loạn ở Miền Trung khởi đầu từ tháng 3/1966, Phật giáo chia làm hai khối: Ấn Quang chống Chính phủ và VN Quốc Tự thân chính phủ. Mặt khác, một số Tư Lệnh Quân Đoàn 1 và SĐ1 có cảm tình với thành phần tranh đấu chống chánh phủ như Nguyễn Chánh Thi, Tôn Thất Đính, trong khi Nguyễn Văn Chuân và Huỳnh Văn Cao thì lừng khừng. Vì thế có một lúc Miền Trung gần như không có Chính phủ: Thị trưởng Đà Nẳng, Bs Nguyễn Văn Mẫn, cũng như một số quân nhân, công chức…cùng các thành phần quá khích đem bàn thờ Phật xuống đường biểu tình. Phong trào có nguy cơ lan tràn đến Miền Nam. Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lịnh lực lượng Cảnh Sát phải ra Đà Nẳng để theo sát tình hình và hành động tại chổ. Nhưng hai tuần sau, tình hình càng thêm tồi tệ nguy kịch.
Ngày 15/5/1966 Tướng Viên quyết định can thiệp. Ông ra lệnh cho các đơn vị Tổng Trừ Bị bất thần chuyển quân ra Đà Nẳng ngay đêm đó, nhập chung với 4 Tiểu Đoàn khác thuộc một Trung Đoàn của SĐ1BB giao cho Đại Tá Ngô Quang Trưởng (đang là Tư Lệnh Phó SĐND) chỉ huy tiến vào Thành Phố Huê và Đà Nẳng để giải tỏa các lực lượng võ trang chống đối. Và rồi cuộc hành quân cương quyết này đã hoàn thành êm đẹp không một thiệt hại nhân mạng.
Vào năm bầu cử Tổng Thống 1967 ông là sĩ quan đại diện cho Hội Đồng Quân Lực giải quyết sự bế tắt giữa Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Kỳ, khi cả hai đều muốn tranh cử chức Tổng Thống trong và dưới sự ủng hộ của quân đội. Hội Đồng Quân Lực định đưa Tướng Viên lên chức Quốc Trưởng vì ông là vị tướng có thâm niên nhứt, nhưng Ông đã một mực từ chối vì nhận thức lương thiện khả năng của mình.
Trong suốt thời gian giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng, ông được đánh giá là một Tướng Lảnh có thực tài và không liên quan đến các hoạt động chính trị. Tuy nhiên từ năm 1969 trở đi, vai trò của Tướng Viên như một Tổng Tham Mưu Trưởng bị lu mờ khi Tổng Thống Thiệu bắt đầu trực tiếp điều khiển quân đội thay vì qua hệ thống quân giai của Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng Thống Thiệu đã tập trung hết quyền bính trong tay, đã cho thiết lập một hệ thống truyền tin tại dinh Độc Lập để liên lạc thẳng với các Quân Khu, điều động các đơn vị, bổ nhiệm Tư Lệnh Vùng và ra lệnh trực tiếp hành quân. Bộ Tổng Tham Mưu chỉ còn giữ vai trò tuân hành và thị chứng. Do đó, ông đã nhiều lần xin từ chức nhưng không được chấp thuận. Vì vậy ông chỉ có thể phản ứng bằng cách tiêu cực.
Sau cuộc rút lui thất bại ở Quân đoàn II và Quân đoàn I, và khi tình hình quân sự trở nên bi đát, Tướng Viên có xin bác sĩ Phạm Hà Thanh (Cục Trưởng Cục Quân Y) thuốc độc loại Cyanid để thủ thân, vì biết chắc chắn nếu bị bắt ông sẽ bị cộng sản hành hạ một cách tàn bạo.
 
-Hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng” của tướng Trần Văn Đôn viết: “Có lần ông Thiệu than phiền ông Cao Văn Viên không làm việc nhiều. Ông Thiệu nhờ tôi nói với Đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu trưởng, về việc ông này cứ ở mãi Tổng Tham mưu làm việc, không chịu đi ra ngoài, ông Viên trả lời: “Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp nhận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!”
– http://www.nhaydu.com/index_83hg_files/main_files/TS-TuongCaoVanVien.htm  -ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN (1921-2008)

“Năm 1975, trước sức ép của dư luận và áp lực quân sự của quân Cộng sản, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Không lâu sau đó tối Chủ Nhật 27 tháng 4, sau khi Quốc Hội biểu quyết trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh, Ông đã trình lên Tổng Thống Trần Văn Hương nguyện vọng được về hưu đã xin từ năm năm về trước. Tổng Thống Hương đã thông cảm và ký sắc lệnh cho ông về hưu. Trong khi chờ đợi tân Tổng Thống Dương Văn Minh chính thức bổ nhiệm Tổng Tham Mưu Trưởng mới, Tướng Viên chỉ định Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bô TTM, xử lý thường vụ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng. Sau đó ông được di tản ra Hạm Đội 7 vào trưa thứ Hai, 28/4/1975. di tản sang Mỹ, và định cư tại Arlington.

Đại tướng Cao Văn Viên sẽ lưu lại trong ký ức mọi người từng biết ông – thân hữu, bạn đồng đội – hình ảnh của lòng chung thủy, không a dua, không phản trắc, từ tốn, chủ trương đoàn kết trong tình huynh đệ chi binh. Ông không bon chen trên chính trường, không đạp trên xác đồng đội để tiến thân. Ông là một nhà Tướng phi chính trị nhưng bị thời thế cuốn hút vào chính trường. Sau 1975, ông sống bình lặng tại Arlington, Virginia. Thời gian gần đây ông sống cô đơn trong viện dưỡng lão. Ông mất vào lúc 6.15 sáng ngày 22 tháng 1 năm 2008, hưởng thọ 87 tuổi (1921-2008)

http://www.tqlcvn.org/tqlc/tl-tuongniem-tuong-caovanvien.htm  : Nhận định về nhân cách và sự nghiệp ĐT Cao Văn Viên do nhà báo Trần Đông Phong viết:

“Kể từ khi Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, tiền thân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thành lập dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, người nắm giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu lâu đời nhất, từ 1965 đến 1975, tưc là gần 10 năm, là Đại Tướng Cao Văn Viên, kế đó là Thống Tướng Lê Văn Tỵ, gần 8 năm, từ 1955 đến 1963, còn những vị khác thì thời gian họ nắm giữ chức vụ này rất ngắn ngủi, có người chỉ chừng vài năm, có người chỉ chừng vài tháng mà thôi. Tuy nhiên trong số những vị này, Đại Tướng Cao Văn Viên là người duy nhất đã nắm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng khi quân số của Quân Lực VNCH lên đến trên 1 triệu người cả nam lẫn nữ và vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, ông đã được Tổng Thống Trần Văn Hương bổ nhiệm làm Tổng Tư Lệnh QLVNCH, một chức vụ mà trong suốt thời Đệ Nhị Cộng Hòa do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nắm giữ…..

“Ông Cao Văn Viên sau đó có nói thêm rằng ông “thoát chết trong đường tơ kẻ tóc” vì vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông đã bị còng tay tại Bộ Tổng Tham Mưu vì không chịu tham gia với phe đảo chánh.

“Đại Tướng William C. Westmoreland, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam đã nói về Đại Tướng Cao Văn Viên như sau : “tôi rất thán phục Đại Tướng Cao Văn Viên vì tính tình chân thật, trung tín, ít nói, thông minh, lịch duyệt như là một nhà ngoại giao… Lúc ông Diệm bị lật đổ, ông Viên là tư lệnh Nhảy Dù. Mặc dù bị đe doạ đến tính mạng, ông Viên vẫn một lòng trung thành với tổng thống nên không chịu tham gia đảo chánh. Do đó sau khi đảo chánh, ông bị cầm tù và lên án tử hình. Nhưng vì ảnh hưởng cuả ông quá mạnh nên cuối cùng được trả tự do và được trở lại nắm quyền…”

“Tướng Cao Văn Viên Đã Xin Từ Chức Năm, Sáu Lần.

“Trong những năm 1970 và 1971, tác giả đã đệ đơn xin TT Thiệu cho về hưu ít nhất là 3 lần. Lý do là vì tác giả đã ở chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng quá lâu (trên 5 năm,) đã đủ thâm niên quân vụ cùng sức khoẻ kém (có kèm theo giấy bác sĩ chứng nhận.)  Trong một cuộc phỏng vấn thu hình dành cho Tiến Sĩ Lâm Lễ Trinh tại Virginia vào năm 2006, cựu Đại Tướng cao Văn Viên cho biết ông đã xin từ chức tất cả là 6 lần”

Lâm Lễ Trinh: Mạn đàm Với ĐT Cao Văn Viên,” ngày 27 tháng 2 năm 2006 đã viết về đại tướng Cao Văn Viên như sau:
“….Là một tướng lãnh trước tình thế hổn loạn ở miền Trung do một nhóm Phật Giáo thân cộng chủ trương phá hoại , ông đã cương quyết đặt quyền lợi Dân Tộc lên trên hết:
“Tôi ra lệnh chính thức cho đơn vị này tập trung đúng ngày, giờ ấn định, tại sân bay Quảng Ngãi nói là để không vận về Sàigòn, thay bằng một tiểu đoàn khác. Phải dùng mưu ấy để đánh lạc hướng Viện Hoá Đạo có người gài khắp nơi. Đêm hôm đó, đúng 12 giờ, tôi đưa thêm 4 tiểu đoàn khác nhập chung với tiểu đoàn có sẵn, thành 5, giao cho đại tá Ngô Quang Trưởng chỉ huy, tràn vô các chùa bắt các phần tử nguy hiểm, giải tán bằng biện pháp mạnh các ổ dân quân, buộc họ buông súng. Cuộc hành quân cương quyết này đã đem lại kết quả.”

“Xin đừng xem những lời của tôi là lịch sử. Mỗi người giải thích sự thật theo lối riêng, như trong phim “Rashomon”. Một trăm chứng nhân, một trăm sự thật. Định kiến làm cho lịch sử sai lệch. Tôi chỉ tâm tình với lòng thành. Hảy để cho hậu thế lượng định và phân xét”.

-Trả lời cuộc phỏng vấn cuả L/S lâm Lể Trinh 9 tháng 5 năm  2006 Đại Tướng Cao Văn Viên có những nhận định về cuộc chiến VN như sau:

“Tại Miền Nam, chúng ta thiếu các yếu tố thuận lợi ấy, chúng ta không liên tục trong sự lãnh đạo. Với một đồng minh như Hoa kỳ, thử hỏi làm gì được? Đồng minh với Mỹ khó hơn là kẻ thù của Mỹ. VN không phải là quốc gia đầu tiên thí nghiệm bài học đau đớn này! VNCH chỉ là một con cờ trong chiến lược toàn cầu của đại cường Hoa kỳ. Chiến lược ấy đạt được mục tiêu sau khi Nixon gặp Mao Trạch Đông năm 1972 tại Bắc kinh…”

Nhận định về con người của đại tướng Cao Văn Viên, Ông Lâm Lể Trinh viết :
“Đại tướng Cao Văn Viên sẽ lưu lại trong ký ức các người từng biết ông – thân hữu, bạn đồng đội như kẻ bất đồng ý kiến – hình ảnh của lòng chung thủy, “trước sau như một”, không a dua, không phản trắc, từ tốn khi phê bình, chủ trương đoàn kết trong tình huynh đệ chi binh.”

Long Điền tóm lược các nhận định của Đại tướng Cao Văn Viên về cuộc chiến Việt Nam như sau:

1-Ông Cao Văn Viên mặc dù lên đến cấp bậc đại tướng, giử chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH một chức vụ cao nhất trong quân đội nhưng ông không hề có tham vọng chính trị mà chỉ muốn thi hành các nhiệm vụ trong Quân Lực VNCH giao phó.

2-Ông gần như không tham gia vào các cuộc đảo chánh dù có bị mua chuộc hoặc ép buộc bởi các phe đảo chánh.

3-Trong biến động Miền Trung 1966 ông là một trong những nhân vật có công trong việc dẹp loạn Cộng Sản với ý đồ lợi dụng Phật Giáo để cướp chính quyền.

4-Ông Cao Văn Viên là một tướng lãnh gương mẫu về tư cách, đạo đức, tình chiến hữu xứng đáng làm gương cho các quân nhân QLVNCH.

Đọc từ đầu: “Cuộc chiến Việt Nam 1945-1975″1 – 2 – 3 – 4 – 5.– 7

_____

Nội Dung cuốn sách: 
Chương Một :  Mục đích quyển sách .                                       (Từ trang 5-16)
Chương Hai :Nhận định cuộc chiến :                                         (16-959)
a-Nhận định cuộc chiến Việt Nam của phía Quốc Gia:        (14-180)
1-Quốc Trưởng Bảo Đại ,                                                              (14-27)
2-Tổng thống Ngô Đình Diệm ,                                                      (27-49)
3-Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ,                                                  (49-64)
4- Tổng thống Trần Văn Hương,                                                     (64-66)
5-Chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn ,                                             (66-69)
6-Đại Tướng Cao Văn Viên,Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH (70-96)
7- Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,                                                         (96-110)
8-Sử gia Trần Trọng Kim,                                                                  (111-115)
9-Sử gia đại tá  Phạm Văn Sơn,                                                        (115-120)
10 Sử gia Hoàng Cơ Thụy,                                                                  (120-123)
11-Sử gia  Trần Gia Phụng,                                                                 (123-142)
12-Nhà nghiên cứu sử Minh Võ,                                                         (142-147)
13-Luật Sư Lâm Lể Trinh,                                                                   (147-166)
14-Sử gia Hứa Hoành ,                                                                          (166-170)
15-Sử gia tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu.                                                             (170-180)

b-Nhận định cuộc chiến Việt Nam của phía Cộng sản(và thân cộng sản):   (181-589)
1-   Hồ Chí Minh,chủ tịch đảng Cộng sản VN                                      (181-228)
2-  Phạm Văn Đồng,thủ tướng                                                             (228-234)
3- Võ Nguyên Giáp, đại tướng                                                             (234-264)
4-Lê Duẩn, Tổng Bí Thư                                                       (264-268)
5- Trường Chinh,Tổng Bí Thư                                            (268-292)
6- Võ Văn Kiệt,Thủ Tướng                                                  (292-318)
7- Trần Văn Giàu, Sử gia                                                    (318-369)
8- Trần Quốc Vượng ,Sử gia                                                (370-384)
9-Nguyễn Văn Trấn, nhà báo                                              (384-412)
10- Trần  Bạch Đằng, Chính trị gia                                      (412-423)
11 Tố Hữu, ủy viên Bộ Chính Trị                                          (423-445)
12-Nguy ễn Văn Linh, Tổng Bí Thư                                     (445-459)
13-Nguyễn Mạnh Tường, trí thức yêu nước                      (460-499)
14-Bùi Tín, đại tá Phó Biên Tập báo Nhân Dân                  (499-532)
15-Nguyễn Minh Cần, nhà văn CSVN                              (532-589)
c-Nhận định cuộc chiến phía Quốc Tế :                            (589-959)
1-Harry S. Truman,tổng thống Hoa Kỳ                           (591-595)
2-Winston Churchill, Thủ tướng Anh                               (596-615)
3-Josef Stalin, Tổng Bí Thư đ ảng CS Liên Xô                  (615-635)
4-John Kennedy,Tổng Thống HK                                     (635-642)
5-Richard Nixon. Tổng Thống Hoa Kỳ.                           (642-653)
6-Henry Kissinger, Ngoại trưởng Hoa Kỳ                        (653-681)
7-Bill Laurie, sử gia                                                               (681-705)
8-Mark Moyar, sử gia                                                         (705-752)
9-Stephen Young, Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ                           (752-761)
10-W.Westmoreland, Đại tướng TTM Trưởng Lục Quâ n Hoa Kỳ (761-827)
11-Vanuxem, Đại tướng Pháp                                                             (828-850)
12-Pierre Darcourt, Sử gia                                               (850-868)
13-Michel Tauriac, Nhà văn,nhà báo Pháp.                               (868-886)
14-Rudolph J.Rummel,Sử gia.                                      (886-894)
15-Lewis Sorley, GS Đại Học Chiến tranh Hoa Kỳ        (894-915)
Chương Ba :Sự tác hại của  cuộc  chiến do Cộng sản Việt Nam chủ mưu    (915-915)
Chương Bốn :Đường hướng đấu tranh tương lai cho một nước Việt Nam Dân Chủ và Tự Do thật sự (916-916).
Chương Năm :Kết luận (917)
Chương Sáu: Phụ chú (918)

 

Quân đội Trung Quốc được lệnh sẵn sàng chiến đấu trong năm 2013 – RFI

16 Th1

Quân đội Trung Quốc được lệnh sẵn sàng chiến đấu trong năm 2013

Giới sĩ quan chỉ huy quân đội Trung Quốc nhân kỳ Đại hội đảng ở Bắc Kinh (Reuters)

Giới sĩ quan chỉ huy quân đội Trung Quốc nhân kỳ Đại hội đảng ở Bắc Kinh (Reuters)
 

Theo tờ China Daily số ra hôm nay 15/01/2013, quân đội Trung Quốc đã được chỉ thị phải nâng cao khả năng chiến đấu trong năm 2013, giữa lúc căng thẳng gia tăng với Nhật Bản do tranh chấp chủ quyền lãnh hải. Tờ China Daily, tờ báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho biết là trong năm 2013, « Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Lực lượng Công an Vũ trang Nhân dân Trung Quốc phải tập trung vào mục tiêu sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng trong một trận đánh ».

 

Chỉ thị này được đưa ra trong một tài liệu được bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc phổ biến vào đầu năm nay về chương trình huấn luyện quân sự 2013, được đăng lại trên một trang web có liên hệ với một nhật báo của quân đội Trung Quốc. 

Tài liệu nói trên còn ghi rõ, để chuẩn bị chiến đấu, các lực lượng vũ trang Trung Quốc cũng phải « quyết tâm nâng cao luyện tập như trong điều kiện tác chiến thật » và « nỗ lực nâng cao trình độ của các sĩ quan cao cấp. » 

Xin nhắc lại là bản báo cáo về những mục tiêu quân sự cho năm 2012 đăng trên báo chí Nhà nước Trung Quốc vào năm ngoái đã không kêu gọi quân đội sẵn sàng chiến đấu, mà chỉ nêu những mục tiêu tổng quát hơn, như cải tổ công tác huấn luyện và thúc đẩy phát triển công nghệ thông tin. 

Hiện giờ, Trung Quốc đã có một lực lượng quân đội lớn nhất thế giới, với ngân sách quốc phòng mỗi năm tăng với tỷ lệ hai con số trong thập niên qua. Bắc Kinh cũng đã có nhiều bước tiến trong lĩnh vực công nghệ vệ tinh nhân tạo và đã đầu tư rất nhiều vào các vũ khí tối tân, trong đó có chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, tuy rằng về mặt công nghệ quân sự Trung Quốc vẫn còn thua xa Hoa Kỳ. 

Tài liệu vừa được bộ tổng tham mưu quân đội Trung Quốc công bố không nhắc gì đến tranh chấp giữa Bắc Kinh với Tokyo về chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Căng thẳng giữa hai nước do tranh chấp này đang gia tăng và có chiều hướng leo thang hơn nữa, với việc các chiến đấu cơ của Trung Quốc và Nhật Bản vào tuần trước truy đuổi nhau trên không phận khu vực Senkaku/Điếu Ngư. 

Đài truyền hình Nhà nước NHK hôm qua loan tin là Nhật Bản sẽ điều động thêm tàu tuần tra để tăng cường bảo vệ quần đảo này và đã tiến hành cuộc tập trận đầu tiên với kịch bản là giành lại một đảo « do địch quân chiếm giữ ». Cuộc tập trận huy động đến 300 quân và khoảng 20 phi cơ và trực thăng. Năm ngoái, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã hủy bỏ một cuộc tập trận với kịch bản tương tự, có lẽ vì không muốn đụng chạm Bắc Kinh. 

Cũng để nâng cao khả năng chiến đấu, Nhật Bản hôm nay vừa mở một cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ ở ngoài khơi đảo Shikoku, đảo lớn thứ tư của Nhật. Tham gia cuộc tập trận này về phía Mỹ có máy bay tiêm kích FA-18 và 90 binh sĩ ; về phía Nhật có 4 chiến đấu cơ F-4 và một số quân nhân không được xác định. 

Chính phủ của tân thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, một nhân vật nổi tiếng có chính sách ngoại giao cứng rắn, đã tỏ quyết tâm dứt khoát không nhân nhượng Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền quần đảo Senkaku. Khả năng xảy ra xung đột quân sự giữa hai nước nay là một khả năng không thể loại trừ.

Obama thiên về phòng thủ ở nhiệm kỳ 2? – Vnn

16 Th1

Obama thiên về phòng thủ ở nhiệm kỳ 2?

 

Khi Nội các nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Obama dần định hình, chúng ta có thể thấy một số đường nét của những gì Nhà Trắng hy vọng sẽ thực hiện trong 4 năm tới.

 


 

Bằng việc đề cử Chuck Hagel và John Brennan, Tổng thống Obama phát tín hiệu ông sẽ bảo vệ các chính sách của mình.


Chủ đề chính là Obama đang sẵn sàng bảo vệ thành trì của mình. Đây là một Nội các với sức mạnh thiên về phòng thủ hơn là tấn công.
Không còn nữa các hy vọng của lưỡng đảng. Giờ đây là thời điểm thực sự bắt đầu cuộc chiến đảng phái. Obama sẽ không đẩy mạnh nhiều thay đổi bước ngoặt trong 4 năm tới song ông cũng không khiến cho phe Cộng hòa dễ dàng tấn công sâu vào những gì ông đã đạt được.

Trong 2 tuần qua, Tổng thống đã đưa ra các bổ nhiệm về an ninh quốc gia – Thượng nghị sĩ John Kerry làm Ngoại trưởng, Thượng nghị sĩ Chuck Hagel làm Bộ trưởng Quốc phòng và John Brennan làm Giám đốc CIA. Sau đó, ông chọn chánh văn phòng của mình, Jack Lew, làm Bộ trưởng Tài chính.

Bốn gương mặt trên cho thấy những ngụ ý quan trọng. Đây là một nhóm có kinh nghiệm và quan hệ sâu rộng ở Washington. Rõ ràng Obama, đã trở nên chín chắn và tỉnh táo hơn sau 4 năm sóng gió chống lại phe Cộng hòa ở Quốc hội, nhận ra rằng ông cần các nhân vật uy tín tại Quốc hội.

Về an ninh quốc gia, đây là một nhóm kinh nghiệm dày dạn có thể bảo vệ các chính sách hiện thời mà chính quyền đã lựa chọn. Obama chọn hai cựu Thượng nghị sĩ và cũng là cựu chiến binh, Kerry và Hagel, với hy vọng dùng quan hệ của họ với giới lập pháp cùng kiến thức của họ về các đường hướng và biện pháp của tiến trình lập pháp.

Mặc dù không thân từ Thượng viện, Brennan là một cựu chiến binh trong giới an ninh quốc gia, đã làm việc ở các cấp tình báo cao nhất kể từ thập niên 1990, và là một người mà Obama thấy sẽ hiệu quả trong việc bảo vệ chính quyền của ông.

Các gương mặt được chọn cũng phát đi một tín hiệu rằng Obama sẽ tiếp tục nhấn mạnh kiểu chương trình nghị sự diều hâu thực dụng mà ông theo đuổi ngay từ khi bắt đầu vào Nhà Trắng. Kể từ năm 2009, Obama nói chung đã theo khuôn khổ chính sách mà ông thừa hưởng từ người tiền nhiệm George W. Bush. Ông đã giữ cho hạ tầng an ninh ở nguyên vị trí, tiếp nối các kế hoạch của Bush ở Iraq và Afghanistan (rút quân ở Iraq và tăng viện, sau đó giảm bớt sự hiện diện của Mỹ ở Afghanistan), và vận dụng một cách chiến lược sức mạnh quân sự tấn công, chẳng hạn như tấn công bằng máy bay không người lái và ám sát các lãnh đạo al-Qaeda.

Không một ai trong số họ là một người chủ trương hòa bình. Kerry thường xuyên đồng ý dùng sức mạnh quân sự, trong đó có cuộc chiến chống ở Iraq. Hagel là một người Cộng hòa kiên định, ủng hộ dùng quân đội khi cần thiết. Brennan rút tên khỏi danh sách đề cử vào vị trí Giám đốc CIA trong nhiệm kỳ đầu của Obama bởi thông tin ông ủng hộ “các kỹ thuật thẩm vấn quá mức” nhằm vào tù nhân. Năm 2007, Brennan từng nói: “Có rất nhiều thông tin khai thác được từ các thủ thuật thẩm vấn này mà CIA đã dùng để chống lại những tên khủng bố khét tiếng”.

Những gì ba nhân vật kể trên có chung là niềm tin rằng sức mạnh sẽ được triển khai chỉ khi hoàn toàn cần thiết, và rằng chiến tranh là một lựa chọn cuối cùng cần viện đến. Đây là một tầm nhìn mang tính chủ nghĩa quốc tế vốn đã dẫn dắt chính sách của Mỹ trong phần lớn khoảng thời gian sau Thế chiến II.

Với tất cả tranh cãi xoay quanh các lựa chọn này, những gì cần thấy ở cả ba gương mặt này là mức độ họ ủng hộ về cơ bản đối với những gì Obama đã làm trong nhiệm kỳ 1, và cũng quan trọng không kém, về phần lớn những gì ông Bush đã làm khi đương nhiệm.

Đây cũng là một Nội các với những tín hiệu sẽ tiếp tục thay vì có sự thay đổi ấn tượng.

Tại Bộ Tài chính, việc chọn ông Lew phát đi một tín hiệu có chút khác biệt. Cũng như các nhân vật được đề cử trong lĩnh vực an ninh quốc gia, Lew là người có bề dày kinh nghiệm ở Washington, từng đảm nhận nhiều vai trò trong các cơ quan hành pháp và lập pháp kể từ những năm 1970. Sự bổ nhiệm đối với ông này cho thấy một sự chuyển đổi trong mối quan tâm từ ngân hàng sang ngân sách. Việc chọn Lew, một người kỳ cựu về các cuộc chiến ngân sách kể từ những năm 1990, cho thấy ông Obama sẵn sàng đối đầu với phe Cộng hòa về cắt giảm chi tiêu và trần nợ, đặt một trong những nhà đàm phán hiệu quả nhất và tinh tường nhất của mình lên vị trí cao.

Tuy nhiên, Lew cũng là một người tiến bộ, tin tưởng sâu sắc rằng người giàu sẽ phải trả phần thuế công bằng, và an sinh xã hội cùng chương trình y tế Medicare phải được bảo vệ. Đây sẽ là một trong những vấn đề lớn nhất nằm ở trung tâm các cuộc chiến ngân sách sắp tới, và bằng cách lựa chọn Lew vào vị trí Bộ trưởng Tài chính, Obama đang phát đi tín hiệu rõ ràng rằng ông không định nhượng bộ về những chương trình này trong thời gian tới đây.

Những ai hy vọng về sự thay đổi lớn trong lĩnh vực an ninh quốc gia hoặc chính sách nội địa hẳn sẽ phải thất vọng. Hiện tại, còn quá sớm để khẳng định các quyết định đề cử của ông Obama thể hiện điều gì về các sáng kiến mới mà chính quyền có thể theo đuổi, chẳng hạn như cải cách nhập cư. Tuy nhiên, rõ ràng Tổng thống không định nhượng bộ về những chương trình đang có hiệu lực.

Các lựa chọn đó có thể gợi ý rằng chính quyền đang hướng tới đấu tranh để bảo vệ an ninh quốc gia và các chương trình xã hội then chốt khỏi các khoản cắt giảm ngân sách thay vì thực sự thúc đẩy những cải cách lớn. Bên cạnh đó, Obama đã lựa chọn một số trong những “chiến binh” cứng rắn nhất ở Washington, cho thấy nếu Đảng Cộng hòa muốn một sự thay đổi lớn thì họ sẽ phải tạo ra một nỗ lực khác thường để mong muốn ấy được thực hiện.

Thanh Hảo (Theo CNN)

Chống tham nhũng ‘mới bắt được mèo con’

16 Th1

Chống tham nhũng ‘mới bắt được mèo con’

– “Các vụ án tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới và ‘chỉ mới bắt được con mèo con’. Cán bộ xã phường chiếm 30% còn cấp trung ương chỉ chiếm 0,3%, bằng 1/100 của cấp thấp nhất”, GS Trần Đình Bút nhận định.

Hơn 200 đại biểu gồm lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học, nhà quản lý, nhà nghiên cứu… dự hội thảo khoa học “Bàn về những giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” do Tạp chí Cộng sản cùng ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức hôm nay (15/1).

Quyền đẻ ra tiền

Chỉ ra nhiều loại tham nhũng khác nhau trong các lĩnh vực kinh tế, hành chính…, GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, đặc biệt lo ngại nạn tham nhũng quyền lực và chính trị.

“Điều này thể hiện rõ nhất trong khâu tuyển công chức các cấp, kể cả tuyển giáo viên… Ông Trần Trọng Dực, Chủ nhiệm UB Kiểm tra Thành ủy Hà Nội đã thừa nhận công khai điều này trước HĐND TP”, GS Chuẩn nói.

Theo GS Chuẩn, mức giá 100 triệu đồng ông Dực nêu là “quá thấp so với thực tế người dân hay nói đến”.

“Hậu quả của việc mua bán này là sau khi mua được chức và ngồi vào một cương vị nào đó thì tìm mọi cách xoay xở, kể cả những cách trắng trợn nhất, để thu lại số vốn đã bỏ ra và làm sao có lãi càng nhanh càng tốt”, GS Chuẩn lý giải.

Ông khẳng định, sức mạnh kinh tế một khi liên kết với quyền lực để hình thành lợi ích nhóm sẽ dẫn đến tham nhũng trong chính trị, chi phối chính sách. “Đây mới là điều đáng lo ngại nhất đối với sự tồn vong của chế độ, đất nước”, GS Chuẩn trăn trở.

Các nhà khoa học đặc biệt lo ngại nạn tham nhũng quyền lực

Chia sẻ với GS Chuẩn, GS.TS Hoàng Chí Bảo, Hội đồng Lý luận TƯ, cho rằng quyền đẻ ra tiền, nhiều người lợi dụng chức quyền, cơ hội, vị thế và hoàn cảnh để kiếm tiền.

“Tham nhũng trong kinh tế do đó gắn với tham nhũng trong chính trị, còn gọi là tham nhũng chính sách, khi chức quyền được huy động vào việc trục lợi, tạo ra cái giá của chức quyền, địa vị. Chạy danh, chạy chức, chạy quyền đã và đang diễn ra bằng tiền và vì tiền”, GS Bảo khẳng định.

Theo ông, tham nhũng chính trị và quyền lực là tham nhũng nặng nề và nguy hiểm nhất vì nó bộc lộ sự hư hỏng của con người, sự vẩn đục trong bộ máy, sự đánh mất nhân cách, liêm sỉ, lòng tự trọng, nghĩa vụ và bổn phận của người cán bộ, công chức.

“Một sự thật cần phải nhìn thẳng vào và nói ra – đó là tính nửa vời, không triệt để trong chống tham nhũng, đó là chống tham nhũng trên lời nói lại không đi liền với chống tham nhũng bằng việc làm, bằng hành động. Nó đem lại nỗi hoài nghi trong xã hội, không ít trường hợp tuyên bố chống tham nhũng chỉ như tấm bình phong che chắn tinh vi cho những hành vi tham nhũng trong bóng tối”, GS Bảo gay gắt.

Theo GS Bảo, muốn chống tham nhũng cần phải nhận rõ ai tham nhũng, những lĩnh vực nào có khả năng xảy ra tham nhũng.

“Hiển nhiên là dân không thể tham nhũng, xét về mặt nguyên tắc. Thường thấy tham nhũng xảy ra ở những người có quyền chức, dù to hay nhỏ, dù chỉ là công chức thừa hành hay quan chức có thẩm quyền cao, từ việc hàng ngày ở cơ sở đến những quyết sách các cấp từ địa phương đến trung ương”, ông nói.

GS. Trần Đình Bút, nguyên chuyên gia tư vấn Ban nghiên cứu của Thủ tướng, cho rằng, các vụ án tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới và “chỉ mới bắt được con mèo con”.

GS. Trần Đình Bút

 

 

“Cán bộ cấp xã phường chiếm tỷ lệ khoảng 30%, Trung ương chỉ chiếm 0,3%, bằng 1/100 của cấp thấp nhất. Biết bao nhiêu vụ tham nhũng lớn bị ém nhẹm, bưng bít toàn bộ hoặc từng phần, xử lý kéo dài lê thê, để rơi vào lãng quên như PMU 18, Huỳnh Ngọc Sỹ trong Ban quản lý dự án đại lộ Đông Tây ở TP.HCM…”, ông Bút nói. “Nhưng những vết nhơ đáng xấu hổ đó làm sao giấu nổi trước con mắt của người dân”.

Do vậy, ông phản ánh, người dân châm biếm “con mèo ăn vụng miếng mỡ cỏn con bị đập chết, con cọp cướp cả heo lại chẳng ai dám đuổi”.

Cần nghị quyết chống chạy chức

TS. Hoàng Văn Lễ, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sổ tay Xây dựng Đảng, đề nghị xây dựng đề án cải tổ các ban của Đảng từ TƯ đến cấp huyện. Trong đó, cần có nghị quyết chống chạy chức, chạy quyền, cải tổ hơn nữa quy trình tham mưu về công tác cán bộ.

GS. Chuẩn thì đề xuất nhanh chóng bổ sung luật Công vụ vì theo ông, tham nhũng gắn với những người thực thi công vụ các cấp chứ không liên quan đến người dân thường.

Tiếp đó, Quốc hội phải thực sự là cơ quan lập pháp chứ không chỉ thông qua luật pháp do các bộ, ngành chắp bút, tránh để lợi ích nhóm, lợi ích ngành chi phối luật pháp và các chính sách.

Một giải pháp chống tham nhũng khác được nhiều nhà khoa học tại hội thảo nhấn mạnh là kiểm soát tài sản và thu nhập cá nhân. Tài sản kê khai của người có chức quyền phải được công khai tại nơi công tác và nơi cư trú như nghị quyết TƯ 4 đã yêu cầu.

Bài và ảnh: Tá Lâm

TQ tuyên bố sẵn sàng chiến tranh với Nhật – Vnn

16 Th1

TQ tuyên bố sẵn sàng chiến tranh với Nhật

Báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (Hong Kong) ngày 15/1 thông tin các quan chức quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) tuyên bố quân đội nước này đã chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh trong bối cảnh căng thẳng với Nhật Bản do tranh chấp lãnh hải ở biển Hoa Đông leo thang.

Quần đảo Điếu Ngư/Senkaku – trung tâm tranh chấp lãnh hải trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản

Phương hướng huấn luyện thường niên mới nhất của PLA là tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị cho các tình huống chiến tranh thực tế của binh sỹ.

Phương hướng này còn nhấn mạnh sự cấp thiết của khả năng chiến đấu thực tế bằng cách nhắc lại khoảng 10 lần cụm từ “chiến đấu trong các cuộc chiến tranh” trong toàn bộ nội dung không quá 1.000 từ của phương hướng huấn luyện.

Cụm từ này hoàn toàn không có trong nội dung của phương hướng huấn luyện năm ngoái.

Trước đó, nhật báo Quân giải phóng của PLA số ra ngày 14/1 dẫn kế hoạch huấn luyện của Bộ tổng tham mưu PLA đối với toàn lực lượng, nêu rõ: “Trong năm 2013, mục tiêu đặt ra cho toàn thể quân đội và lực lượng cảnh sát vũ trang nhân dân là tăng cường khả năng chiến đấu và giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh bằng cách tiến hành các cuộc huấn luyện nghiêm ngặt và khắc nghiệt dựa trên cơ sở chiến đấu thực tế”.

Phương hướng huấn luyện của Bộ tổng tham mưu PLA được đưa ra chỉ một ngày sau khi các lực lượng phòng vệ Nhật Bản tập trận chung quy mô lớn ở ngoại ô thủ đô Tokyo, với sự tham gia của 20 máy bay, 300 binh sỹ và 33 xe quân sự.

Theo Vietnam+

%d bloggers like this: