Lưu trữ | 11:51 Chiều

Nhiều bài thơ Việt trị giá tiền tỉ! – DT

17 Th1

Nhiều bài thơ Việt trị giá tiền tỉ!

(Dân trí)- Trước thông tin bài thơ Ở hai đầu nỗi nhớ được bán với số tiền 300 triệu, nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến cho biết: “Nếu làm tốt việc bảo vệ bản quyền, nhiều bài thơ sẽ mang về tiền tỉ, ví dụ, Bài thơ về đôi dép có thể thu được hơn 2 tỉ!”

“Bán đứt” hàng trăm triệu

Lâu nay, nhiều người đã nghĩ “ai thèm mua thơ!”. Thơ ca từ bao giờ đã bị “thất sủng” giữa cuộc sống hiện đại. Nhà thơ cũng chẳng mấy khi bận tâm đến thu nhập từ thơ, mà phải bươn chải bằng nhiều công việc khác. Sự kiện bài thơ Ở hai đầu nỗi nhớ của tác giả Trần Hoài Thu (tức Trần Đình Chính) được một công ty mua bản quyền với giá 300 triệu khiến nhiều người giật mình. Có người còn chép miệng không tin: Thơ thì lấy đâu ra tiền triệu?

Trên thực tế, Màu tím hoa sim, bài thơ của thi sĩ Hữu Loan cũng được một công ty điện tử (có liên quan đến phát hành các bản karaoke) mua độc quyền với mức giá 100 triệu. Rồi có ai đó lại cho biết, bài thơ Lá diêu bông của thi sĩ Hoàng Cầm cũng bán được 200 triệu, khai thác trong 50 năm.
 
Nhiều bài thơ Việt trị giá tiền tỉ!
Tác giả Trần Hoài Thu (tức Trần Đình Chính) vừa bán bản quyền bài thơ Ở hai đầu nỗi nhớ với số tiền 300 triệu đồng.
 
Theo tìm hiểu của Dân trí, tương đối nhiều nhà thơ có các ca khúc phổ nhạc trở nên nổi tiếng, được sử dụng nhiều lần trong các lĩnh vực biểu diễn, nhạc chuông nhạc chờ, phát trên sóng phát thanh truyền hình cũng đã nhận được số tiền hàng chục triệu đồng, nhờ vào tỉ lệ chia 3/10 trong tổng số phí bản quyền so với tác giả âm nhạc (7/10). Nhiều năm nay, các nhà thơ như Hữu Thỉnh, Nguyễn Phan Hách, Lê Huy Mậu, Giáng Vân… đã được Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc nhiều lần chuyển tiền bản quyền. Tiêu biểu, nhà thơ Hữu Thỉnh có bài Năm anh em trên một chiếc xe tăng được nhạc sĩ Doãn Nho phổ nhạc đã quá nổi tiếng, được sử dụng ở nhiều nơi. Bài Thơ tình viết về biển cũng đi vào nhạc với ca khúc Biển nỗi nhớ và em của nhạc sĩ Phú Quang. Nhà thơ Nguyễn Phan Hách có lời thơ gắn với ca khúc Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo), Lê Huy Mậu với Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo), Giáng Vân với Đâu phải bởi mùa thu do nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc…
 
Nhà thơ Trần Hoài Thu tuy chưa đăng ký tác quyền
 
Nhà thơ Trần Hoài Thu tuy chưa đăng ký tác quyền Ở hai đầu nỗi nhớ với Trung tâm bảo vệ tác quyền âm nhạc Việt Nam, nhưng vì bài hát đã được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đăng ký, do đó Trung tâm đã thu hộ và chuyển tới tay ông một khoản tiền không quá lớn nhưng cũng rất có ý nghĩa với ông hiện nay.

Ngoài ra, các thi sĩ cũng có được thù lao từ nhuận bút đăng báo hoặc in sách. Tuy nhiên, tất cả những cách khai thác nói trên như bán đứt bản quyền hoặc khai thác từ thơ phổ nhạc… mới chỉ là một phần rất nhỏ trong quyền lợi mà các thi sĩ lẽ ra phải được hưởng.

 

Bán “đứt” bản quyền bài thơ: Công chúng sẽ thiệt?

 

Theo bà Đoàn Thị Lam Luyến- Chủ tịch Hiệp hội Quyền sao chép cho biết, việc khai thác và bảo vệ bản quyền thơ ở Việt Nam vẫn chưa thực sự hiệu quả, bởi nếu làm tốt, có những bài thơ thu được hàng tỷ đồng, chứ không phải chỉ vài trăm triệu.

Bà Luyến nói, nếu làm tốt việc quản lý bản quyền trên mạng, nếu như chỉ cần 100 nghìn người sao chép, thì đã thu được 100 triệu đồng, mà mức phí rất rẻ, chỉ 1.000 đồng. Bà cho hay, xu hướng này hiện nay rất phổ biến và có hiệu quả, nhưng đòi hỏi tổ chức phải chuyên nghiệp, có năng lực quản lý và trung thực.

Điều này không phải nói suông, bởi thực tế, đã có đơn vị khai thác từ việc bán online truyện ngắn, tiểu thuyết qua internet chỉ nửa năm thôi đã thu được tiền tỷ, cụ thể, có một cuốn 1,1 tỉ, có cuốn khoảng 780 triệu đồng, tuy nhiên, đây lại là sách của nước ngoài, còn trong nước thì ít hơn.
 
Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến- Chủ tịch Hiệp hội Quyền sao chép.
Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến- Chủ tịch Hiệp hội Quyền sao chép.

Từ so sánh đó, bà Luyến nhận định: Những bài thơ hay như Lá diêu bông, Màu tím hoa sim… còn thu được nhiều tiền hơn thế. Công chúng trên mạng, mỗi người vào đọc chỉ đóng góp 1.000 đồng, 1 triệu lượt truy nhập đã thu được 1 tỉ.

Trước băn khoăn rằng với thực tế hiện nay, liệu người yêu thơ có nhiều đến mức một bài thơ nào đó đạt được 1 – 2 triệu lượt đọc hay không, bà Lam Luyến đã đưa ra dẫn chứng: Bài thơ về đôi dép của tác giả Nguyễn Trung Kiên, một người không phải là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, nhưng với bài thơ ca ngợi tình yêu với hình tượng về đôi dép, viết rất hay, đã đạt hơn 2 triệu người truy nhập trên mạng, nếu thu phí, bài thơ có thể thu được trên 2 tỉ đồng tiền tác quyền.

Bà Lam Luyến cho rằng, khai thác theo cách đó hiệu quả hơn hẳn so với việc “bán đứt” như với bài Màu tím hoa sim, công chúng thiệt thòi, khó được thưởng thức bởi doanh nghiệp gần như mua để làm thương hiệu, không bán ra đâu cả.

So sánh việc thu phí bản quyền theo cách này với việc “bán đứt”, bà Lam Luyến cho rằng thu phí có nhiều ưu thế hơn. Tuy nhiên, hiện nay tiếng nói của nhiều nhà thơ chưa thống nhất, nhiều người cứ nghĩ rằng thơ được đăng, có người đọc là tốt rồi. Suy nghĩ đó của các tác giả đã khiến việc thu tiền bản quyền rất khó. “Nếu các thi sĩ biết tự tôn mình, cho rằng thơ cũng là một tác phẩm phải lao động nghệ thuật, trí tuệ mới có được, không nên cho không, biếu không hoặc phát biểu trái quan điểm như vậy”, Chủ tịch Hiệp hội Quyền sao chép chia sẻ.

Lê Nguyễn

 
 

Nếu chỉ có một ngày để sống – TN

17 Th1

Nếu chỉ có một ngày để sống

Trường THPT tư thục Nhân Việt (Q.Tân Phú, TP.HCM) vừa tổ chức buổi sinh nhật “lạ”, khiến học sinh khóc sướt mướt.

Trước khi tổ chức buổi sinh nhật, nhà trường đã có một cuộc khảo sát nhằm lấy ý kiến của học sinh xoay quanh chủ đề “Cho và nhận”. Trong phiếu khảo sát, có một câu hỏi: “Nếu chỉ còn một ngày để sống, bạn sẽ làm gì?”. Trước câu hỏi này, đa phần học sinh đều cho biết các bạn sẽ trở về bên cha mẹ.

Tại buổi sinh nhật “lạ” ở Trường THPT tư thục Nhân Việt
Tại buổi sinh nhật “lạ” ở Trường THPT tư thục Nhân Việt – Ảnh: M.Luân 

Ngô Minh Duy, học sinh lớp 10C1 (quê Bình Thuận) bộc bạch: “Con sẽ nói câu từ trước giờ con chưa nói được: Con xin lỗi bố mẹ. Nếu còn ngày cuối cùng để sống, con sẽ về bên bố mẹ để được ăn món thịt kho trứng, món khổ qua dồn thịt mà mẹ nấu cho con ăn từ lúc nhỏ. Con xin lỗi và mong bố mẹ tha lỗi cho con”. Học sinh Bùi Quốc Tiên (quê Đắk Lắk), nhà có 6 anh em nhưng chỉ mình Tiên còn đi học thì bộc bạch, con muốn trở về bên ba mẹ để nói lời xin lỗi trước những lỗi lầm mà con đã gây ra.

“Các em không nói đến những lỗi lầm cụ thể khiến cha mẹ buồn lòng. Nhưng các em phần nào đã ý thức được việc mình cần làm và nên làm trước lỗi lầm đó”, ông Bùi Gia Hiếu, Hiệu trưởng nhà trường cho biết.

Điều thú vị là trong buổi sinh nhật hôm ấy, nhà trường bất ngờ thực hiện kết nối điện thoại để những học sinh nêu trên có thể bày tỏ những suy nghĩ, trăn trở của mình với cha mẹ. Những cậu học trò mà theo ông Bùi Gia Hiếu là thuộc dạng “quậy phá” lại trào nước mắt khi nói chuyện qua điện thoại với cha mẹ. Phía đầu dây bên kia, ở những tỉnh thành xa xôi, cha mẹ cũng nghẹn ngào theo từng câu nói của con. Câu chuyện giữa họ được phát trên loa, khiến những ai theo dõi đều xúc động.

Theo nhận định của nhiều thầy cô giáo, không ít học sinh các tỉnh đổ về học tại các trường tư thục tại TP.HCM thuộc dạng cá biệt, cha mẹ không trị nổi. Cũng chính vì vậy, việc quản lý dạy dỗ những học sinh này càng khó khăn hơn. Thế nên, một số trường tư thục hiện chăm chút vào việc dạy các em làm người có ích, sống hiếu thảo, thay vì chỉ chú trọng kiến thức và mục tiêu thi đậu tốt nghiệp THPT, CĐ-ĐH như trước.

Trường THCS-THPT tư thục Hồng Hà (Q.Gò Vấp) thường thực hiện các buổi sinh hoạt văn nghệ ngoại khóa vào tối thứ năm hằng tuần. Trong buổi văn nghệ ấy, có khi là một vở kịch tuyên truyền giáo dục giới trẻ sống có ích, chấp hành luật giao thông, giáo dục lòng hiếu thảo. “Nếu một vở kịch hay, nội dung phù hợp, cuốn hút, khi xem xong, các em sẽ tự cảm nhận được và thay đổi. Điều này hiệu quả hơn nhiều so với việc truyền đạt bằng lối thuyết giảng”, bà Hà Thị Kim Sa, Hiệu trưởng Trường Hồng Hà nói.

Minh Luân

>> Lệch lạc nhân cách trên thế giới ảo
>> Trò chơi sinh hoạt cộng đồng
>> Chia sẻ yêu thương
>> Lan tỏa lối sống đẹp
>> Giáo dục lối sống cho thanh niên
>> Những căn bệnh lối sống
>> Mối quan hệ giữa tính cách và lối sống

Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn VN – PLTP

17 Th1

Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn VN

 
Sau một ngày làm việc, đến 16h ngày 16/1/2013, Hội đồng Chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam đã chọn ra được những tác phẩm xứng đáng để trao giải của năm 2012.

Dưới đây là danh sách tác giả, tác phẩm đoạt Giải thưởng xếp theo từng chuyên ngành.

Văn xuôi:

Giải thưởng: Tập truyện ngắn Thành phố đi vắng của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Bằng khen: Tiểu thuyết Trò chơi hủy diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban; Tiểu thuyết lịch sử Một thế kỷ bị mất của nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam.

Thơ:

Giải thưởng: Tác phẩm Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo; Tập thơ Màu tự do của đất của nhà thơ Trần Quang Quý và Tập thơ Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương.

Bằng khen: Tập thơ Hoa hoàng đàn nở muộn của nhà thơ Khuất Bình Nguyên và Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng.

Lý luận phê bình:

Giải thưởng: Cuốn sách Đa cực và điểm đến của nhà văn Văn Chinh.

 

Dịch: Không có.

Lễ trao giải và kết nạp Hội viên năm 2012 dự kiến sẽ được tiến hành vào ngày 29/1/2013 tại hội trường Bảo tàng Hội Nhà Văn Việt Nam (số 275 Âu Cơ, Hà Nội).

Theo VanVN.Net

 

Về quyển sách “Bên thắng cuộc”: Vượt qua sợ hãi hay “chém gió”? – BS

17 Th1

Công an TP. HCM

Về quyển sách “Bên thắng cuộc”: Vượt qua sợ hãi hay “chém gió”?

SONG HUY – NGỌC ĐIỆP

17-01-2013

(CATP) Sau một tháng ra phần 1 sách “Bên thắng cuộc” (BTC), tác giả (Huy Đức) ngày càng nhận thêm những “phần quà” cay đắng từ những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại. Dù đã cố lấy lòng nhóm này bằng mọi cách: kể khổ cho họ, tâng bốc các cấp chỉ huy cũ của họ, “lên án cộng sản” thay họ… Thế nhưng, họ vẫn đăng đàn chửi tác giả không tiếc lời, vẫn hô hào biểu tình, tẩy chay cuốn sách. Đau hơn, trên một số diễn đàn, Huy Đức được họ xếp chung vào danh sách “chiêu hồi” như: Bùi Tín, Dương Thu Hương, Vũ Thư Hiên, Trần Khải Thanh Thủy…

Kỳ 1: “SỰ THẬT” HAY SỰ… GIẢ?
Phần đầu sách BTC giới thiệu dài dòng về hàng trăm người nổi tiếng mà tác giả đã phỏng vấn, trích nhận xét của những “khoa bảng” ở Mỹ, những nhà văn, học giả trong nước. Rồi thêm phần mục lục dài như “trường ca”; phần chú thích tài liệu dày cộp, phần tặng người này, cảm ơn người kia. Tác giả tâm sự rằng: “Đã chuẩn bị tài liệu hơn 20 năm, viết mất 3 năm. Viết trong ý chí muốn vượt qua nỗi sợ hãi để nói lên sự thật…”. Thế nhưng, đọc xong hết cuốn sách nặng trịch về trọng lượng lẫn những kỳ vọng lớn lao của tác giả, người đọc cũng không biết nó thuộc loại gì? – văn, báo hay sử? Và cái gọi là “sự thật” trong đó đang được độc giả chứng minh ngược lại! Trong sách, đầu này dẫn nguồn ra vẻ rất khoa học, đầu kia là những chuyện nhặt nhạnh từ những buổi “trà dư tửu hậu” với ai đó. Rất nhiều chỗ chép lại nguyên văn trên báo chí, trên mạng hay từ một lời kể chưa được kiểm chứng nào đó. Độc giả “Người lính già Oregon” nhận xét trên một trang web chống cộng: “Tôi quá lời lắm không nếu đánh giá BTC như những chuyện ngồi lê đôi mách, ai cũng biết rồi, khổ lắm nói mãi, được tác giả góp nhặt lại kể và in thành sách bán tại Mỹ để kiếm tiền, kiếm danh là điều chắc chắn và dĩ nhiên kiếm lợi nào đó về chính trị…”. Đặng Văn Nhâm – một cây bút thuộc “Bên thua cuộc” (theo cách gọi của Huy Đức) đang sống ở hải ngoại đánh giá: “Nếu ai đã dằn lòng chịu khó đọc quyển BTC chẳng cần phải suy nghĩ cũng thừa sức nhận ra lối viết cóp nhặt, vá víu, manh mún lẫn lộn xuyên qua cả hai phía thắng cuộc và thua cuộc, để chèn nhét thêm vào đó những chuyện đầu Ngô mình Sở…”. Tác giả Việt Sơn viết trên blog Bùi Văn Bồng: “Huy Đức đã kỳ công bới móc lịch sử, cố tình đánh tráo lịch sử một cách trơ tráo…”.

Nhiều tình tiết trong sách được tác giả và nhóm “cò mồi chém gió” ra sức quảng cáo, bình luận và nâng thành “phanh phui bí mật lịch sử”; đã bị nhiều bạn đọc phổ biến cho nhau để làm trò cười về sự ngây ngô, ấu trĩ! (như phần viết về ông Lê Duẩn được con rể báo tin quân ta vào Phnom Pênh – Campuchia). Xuất hiện trên các diễn đàn mạng, nhiều người thuộc “Bên thua cuộc” dù đã được tác giả cuốn sách “ưu ái” nhưng họ vẫn phản ứng gay gắt. Có người viết: “Chỉ đọc vài chục trang là không thể đọc được, không thể chịu được sự dối trá”… “Nạn nhân” Phạm Văn Tiền – cựu sĩ quan chế độ cũ nói thẳng: “Nhìn toàn diện, tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến. Nhưng sự thật đó là những điều không thật… Những dẫn chứng bịa đặt”… Đặng Văn Nhâm cũng chung quan điểm: “Sự thật trong BTC của Huy Đức và cả sự thật mà bọn mặc áo thụng xanh đứng ngoài thổi ống đu đủ như Nguyễn Mạnh Hùng, Đinh Quang Anh Thái… chỉ là sự thật của những thằng mù sờ voi…”. Như phần viết về giới văn nghệ sĩ, tu sĩ, trí thức, tư sản của miền Nam sau 30-4-1975, Huy Đức dùng những câu như: “Chiến dịch bắt bớ văn nghệ sĩ kéo dài” (trang 64),… “Những cuộc bắt bớ tương tự kéo dài đến năm 1978”… (trang 67). Rồi Huy Đức trích hồi ký của nhà văn Duyên Anh cho độc giả thấy không khí nghẹt thở của ngày đó. Người đọc cảm thấy văn nghệ sĩ Sài Gòn bị chính quyền cách mạng đàn áp rất khốc liệt từ ngoài đời đến nhà tù. Thế nhưng, nếu đọc hồi ký của Duyên Anh – nguồn trích của Huy Đức, chúng ta sẽ thấy khác. Duyên Anh nói thẳng, ông ta cũng như các nhà văn, nhà báo Sài Gòn (trong đó có những người bị Duyên Anh lên án là nhận tiền của Mỹ để làm báo, làm văn chống cộng sản) bị bắt vì đã thành lập tổ chức đối kháng với chính quyền và bị bắt là đương nhiên. Huy Đức trích Duyên Anh để kể khổ về đời sống trong tù; còn Duyên Anh lại chỉ rõ tên tuổi những tù nhân giàu có ăn gà rôti, thịt bò miếng, phở, bánh cuốn… thoải mái, trong lúc cán bộ trại giam được Duyên Anh mô tả chỉ có cái xe đạp cùn, bịch thuốc rê và ăn độn dài dài. Duyên Anh chống cộng sát khí nhưng ít ra vẫn còn giữ được sự ngay thẳng của ngòi bút. Còn Huy Đức thì ngược lại!

Ở chương “Cải tạo”, tác giả BTC cũng viết bằng “bút pháp” “Lập lờ” như vậy. Huy Đức ra sức tô vẽ (có khi sử dụng cả chuyện nhảm nhí như Phan Xuân Huy mô tả trại cải tạo như trại hè) bi kịch của các gia đình có người đi cải tạo để ngầm “lên án cộng sản”. Nhưng Huy Đức lại không nói đến những nhóm tàn quân hoạt động phỉ, hàng trăm tổ chức phản động nhen nhóm hoạt động vũ trang, thậm chí lập căn cứ ngay trong lòng các đô thị. Huy Đức không nói đến máu của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vẫn phải đổ tức tưởi sau ngày thống nhất đất nước. Thậm chí quên luôn một bộ phận của chế độ cũ hồi ấy đã ra sức phá hoại cuộc sống yên vui của nhân dân sau ngày giải phóng; gây tang tóc cho nhiều gia đình qua các vụ cướp bằng vũ khí rất dã man để lấy vàng vượt biên. Những vụ cướp như vậy diễn ra khắp các thành phố miền Nam, nhiều nhất là Sài Gòn sau ngày giải phóng. Đó cũng là những năm bọn Pônpốt bắt đầu quấy phá, xâm lấn từng phần lãnh thổ của ta, tàn sát dân ta. Trong bối cảnh “thù trong giặc ngoài”, vận mệnh đất nước lại bị đe dọa như vậy, không lẽ chính quyền cách mạng phải đi năn nỉ hơn một triệu tay súng chuyên nghiệp của “bên thua cuộc” đừng làm loạn? Nếu không chọn giải pháp đưa họ vào các lớp, các trại cải tạo thì quản lý đội quân to lớn, được tổ chức chặt chẽ cùng kinh nghiệm chiến đấu này bằng cách gì? Cũng cần nhắc lại rằng, nhờ chính sách khoan hồng của cách mạng, hơn một triệu tay súng “bên thua cuộc” đã trở về trong vòng tay của dân tộc, chứ không phải đối diện với máy chém như đã từng xảy ra ở miền Nam dưới thời chính quyền do Mỹ dựng lên! Nếu tác giả BTC đọc thêm vài “Hồi ký cải tạo” được xuất bản ở Mỹ, sẽ thấy ngay cả những cây bút căm thù cộng sản đến tận xương tủy cũng không viết về “chương cải tạo” phiến diện, và nịnh “bên thua cuộc” thái quá như Huy Đức! Ở hải ngoại, trong vài năm gần đây, các loại hồi ký “Cải tạo”, “Vượt biên” đã bị giới nghiên cứu và bà con Việt kiều chê là luẩn quẩn, mốc meo… thì BTC với hơn 1/3 toàn chép lại chuyện “mốc meo” đó, có gì để gọi là ghê gớm, bí mật để tác giả phải ầm ĩ là “vượt qua sự sợ hãi nói lên sự thật”?

BTC với cách nhìn phiến diện như thế về lịch sử, nhưng lại được ông Trần Hữu Dũng (Đại học Wright, Ohio, USA) cố thổi lên là “cuốn sách hay nhất về lịch sử Việt Nam sau 1975” thì đúng là chuyện khôi hài!

Tác giả khoe chuẩn bị cho sách BTC mất 20 năm. Cái đó làm người ta ngưỡng mộ lao động miệt mài của tác giả, nhưng “cần cù bù khả năng” không phải là con đường tất yếu đến với chân lý khoa học. Sự cần cù của Huy Đức không thể bù đắp cho khả năng tổng hợp, phân tích biện chứng cùng với thế giới quan và phương pháp luận khoa học của người viết sử. Tác giả như bị mất phương hướng trước đống tài liệu quá lớn, ngộ nhận và hoang tưởng về khả năng “nổ như trái bom” của cuốn sách nên mụ mẫm, tự mình làm u mê mình. Tác giả “nhai lại” rằng cuộc chiến đó là “huynh đệ tương tàn” nên mới đặt cuốn sách là “Bên thắng cuộc”. Huy Đức dùng lại câu của Nguyễn Duy: “Suy cho cùng trong mỗi cuộc chiến tranh bên nào thắng thì nhân dân đều bại” để mở đầu. Nhưng lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam không phải như vậy. Sau trận Điện Biên Phủ, Pháp thua, dân Việt Nam chấm dứt 80 năm nô lệ để trở thành người. Theo Hiệp định Genève, Việt Nam tạm chia làm hai miền, sau hai năm sẽ tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Nhưng Mỹ đã nhảy vào thay Pháp, biến miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới và tiền đồn chống cộng nhằm chia cắt vĩnh viễn Tổ quốc Việt Nam. Dân tộc ta không tự vạch ra vỹ tuyến 17 để đánh nhau thêm 21 năm nữa. Với khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, dân tộc Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đánh xong thì phải có chính sách quản lý, bảo vệ và xây dựng đất nước. Đơn giản và rõ ràng như vậy. Việc gọi cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là “huynh đệ tương tàn” hay “chiến tranh Nam – Bắc” chỉ là lý lẽ ngụy biện của những kẻ quỳ gối, muốn trốn tránh mặc cảm làm nô bộc cho ngoại bang. Lý lẽ đó bị đào thải rồi, bây giờ Huy Đức xài lại để được đám cò mồi tung hê là “nhận thức mới”!

Rõ ràng, cuốn sách BTC đã “chém gió” quá đà, cho nên từ thiếu sót, sai lầm này dẫn đến thiếu sót, sai lầm lớn hơn là dễ hiểu và nó bị nhiều phản ứng cũng là lẽ tất nhiên!
(Còn tiếp)

Nguồn: Công an TP. HCM

VÕ THỊ HẢO: HUYỀN ẢO, ĐỘC TÀI VÀ TỘI ÁC – nguyentrongtao

17 Th1

VÕ THỊ HẢO: HUYỀN ẢO, ĐỘC TÀI VÀ TỘI ÁC

Posted on 16.01.2013 by nguyentrongtao
 Quantcast

THỤY KHUÊ

Sau hơn ba mươi năm kết thúc chiến tranh, những đề tài về chiến tranh dường như cũng biến mất trên văn đàn chính thống Việt Nam. Chúng đã đầu thai kiếp khác hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài. Ngồi hong váy ướt, tập truyện mới nhất của Võ Thị Hảo hội đủ hai yếu tố: đầu thai kiếp khác mà vẫn phải chạy ra nước ngoài, tháng 7 năm 2012, tủ sách Thi Văn Hồng Lĩnh của Bùi Xuân Quang ở Paris, xuất bản.

Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An, nổi tiếng trên văn đàn với các tập truyện ngắnBiển cứu rỗi, 1992, Chuông vọng cuối chiều, 1994, Người sót lại của rừng cười, truyện dài Giàn thiêu, 2003, vv…

Trong tác phẩm mới nhất, Võ Thị Hảo nhìn hội chứng chiến tranh, độc tài và tội ác như tác dụng nhân quả thể hiện qua những truyện ngắn huyền ảo. Cảm giác bị tấn công mãnh liệt bởi những mạnh vụn trái phá và những chân rết ung thư tội ác tàn phá nội tạng người đọc.

Người ta đã và sẽ còn bỏ nhiều thời giờ, ngân quỹ để nghiên cứu, viết sách, làm phim, phân tâm những lính Mỹ bị điên sau khi tham dự chiến tranh Việt Nam. Nhưng chưa ai nghĩ đến việc phân tâm lính Việt, người Việt, bởi dân tộc ta thuộc dạng “hơn người”, hùng tính hơn người, chịu đựng hơn người, cần gì đến thứ khoa học phô trương, tốn tiền, phù phiếm, vô bổ.

Võ Thị Hảo chẳng phân tâm ai cả mà dùng phép phù thủy, cho chiến tranh, độc tài, hủ lậu và tham nhũng vào chung một rọ, xóc cho ngầu, phơi cho bốc hơi, toả khói, biến các chứng liệu hoá thân thành cây cỏ, đất trời, rắn rít, con ong, con nhện, đám mây, ngọn gió… Toàn bộ thiên nhiên trong không gian Võ Thị Hảo, sau nửa thế kỷ chiến tranh và độc tài, trở thành hậu thân của một thế giới, trước kia đã từng có người, đã từng là người. Những giá trị “vĩnh cửu” như tình yêu, tình người, nhân tính… đều đã bốc khói, bay đi, chỉ còn trơ lại đống sắt vỡ vụn của trái phá, sắc nhọn, đâm chém, vô luân và tàn ác.

Dưới tựa đề khá xếch-xy Ngồi hong váy ướt là một tập 17 truyện ngắn, với những bức tranh siêu thực hoang vu, ngập mùi tử khí, viết từ ngòi bút của một người đàn ông đã chết “chấm bút lông vào mạch máu đang chảy ở khuỷu tay mình viết lên những trang giấy trắng”, về cái thế giới mà ông ta đã sống.

Trang đầu tiên là Bùa, một truyện xẩy ra ở Thành Cổ Sơn Tây, là miền đất tổ lâu đời nhất. Sơn Tây,chính là nước Văn Lang, kinh đô Hùng Vương, Trưng Vương, Phùng Hưng và Ngô Quyền. Người ta nghi người chết đã lầm Sơn Tây với Quảng Trị, hoặc Sơn Tây bị biến thành Quảng Trị. Hoặc đoán chừng người Sơn Tây bị lệnh “câm” trở thành người Quảng Trị. Hoặc Sơn Tây sau khi “cháy chợ”, bọn yêu quái bỗng “lớn phỗng lên”, nhân dân Sơn Tây vỡ nợ, phá sản, trốn vào ma túy hoặc tự tử, biến thành nhân dânQuảng Trị, một thành cổ đang “thiu thiu ngủ” với những “oan hồn nửa thức nửa ngủ trên những đám mây trĩu sương tù đọng. Nước không chẩy và mây không bay”. Một quán phở đêm, quy tụ đủ mọi hạng người đến gặm xương đáy nồi, thứ “xương bốc mả”. Hàng phở bốc mả là trạm cuối của sông mê. Tại đây, người ta kể những chuyện rùng rợn, trong một thế giới người ma lẫn lộn. Một xã hội ăn xương bốc mả, ăn táo lê Trung Quốc ướp thuốc không thối, có người chết của quý chĩa thẳng lên trời, có con ma thiếu máu, chân quắp vào cột cây số 12, có người bán máu lấy tiền tiếp máu cho ma…

Bùa chỉ là khúc dạo đầu để đi vào những mạch sống, mà Mỵ Châu thả bước xuống trần mở vào lịch sử ngàn năm của những mạch sống khốc liệt ấy:

Pho tượng đá cụt đầu trong am Mỵ Châu một đêm chợt tỉnh sau bao nhiêu thế kỷ. Chiếc thân đi tìm lại đầu mình. Mỵ Châu nhớ lại những giây phút chót của cuộc đời, nhớ những mảnh lông ngỗng trắng tinh nàng rứt từ chiếc áo Trọng Thuỷ tặng, để dẫn đường cho chồng tìm mình trong cơn nguy biến, nhớ tiếng quân Triệu reo hò, nhớ tiếng vó ngựa Trọng Thuỷ “dựng ngược trên đầu hai cha con”, nhớ tiếng thét rách gió của chàng, nhớ nhát kiếm cha già loáng trên gáy, đầu nàng rơi xuống, máu hoà với nước biển mặn chát. Đầu Mỵ Châu lưu lạc không ngừng, không bao giờ lắp lại được với thân. Mỵ Nương đi xuyên nhiều thế kỷ, lầm lũi, không đầu, lần từng trang sử, dừng chân trên am thờ nàng, nay đã trùng tu, nàng đã được xây nhà mới. Người ta dúi vào tay nàng cơ man của đút, lót tiền giả để mua tiền thật, mua sự bất tử. Cái giếng Trọng Thủy trầm mình, nay đã trùng tu thành lỗ huyệt láng xi măng cho tiện vét tiền du khách ném xuống. Thân nàng được phủ những chuỗi hạt nhựa, phủ lụa là gấm vóc “bóng lộn và hăng hắc độc” dệt từ quê hương Trọng Thủy. Mỵ Châu choáng váng, tìm chốn nương thân nhưng vô ích. Nàng không còn chỗ trên quê hương mình. Trong đền An Dương Vương đã trùng tu quê kệch, một đám mặt mũi đẹp đẽ béo tốt đang yến tiệc, “miệng ngo ngoe những cái đầu rắn”. Mỵ Nương thấy mạch sống thế kỷ XXI tàn tệ hơn thế kỷ của nàng, trên đất nước Văn Lang đang xum xoe chào đón một thời kỳ bắc thuộc mới.

Hội ngộ là những bức tranh siêu thực chồng nhau theo một trật tự hắc ám: Một người đàn bà chồn đu đưa thân thể trong khu rừng độc, “nàng chun mũi nghiêng sang hướng bắc. Hướng bắc đến từ ngọn gió mang mùi của những đám cháy và của xương người. Nàng nghiêng hông về đằng nam. Hướng nam lờ lợ mùi bột ngọt và gươm đao.” Một người đàn ông chỉ còn bả vai, không cổ, không tay, “một cánh tay đã chia cho phương nam, một cánh tay đã chia cho phương bắc. Chúng bị đạn tiện đứt lìa, trong hai lần khác nhau, một ở rừng, một ở biển”. Một con ong lạc tổ loạng choạng trong đêm… Trên cánh và tấm lưng eo thắt, nồng nặc mùi ong Chúa, mùi ngục tù và tử khí. Con ong lạc đàn quờ quạng đâm sầm vào đầu vú người đàn ông không cổ không tay. Một con ong Chúa đang nằm thoi thóp, bỗng trở mình, nhận ra mùi phản trắc, nó hoàn toàn lai tỉnh, gửi “mật” lệnh “ngòn ngọt từ tử cung” -thứ mật ong Chúa dùng để mê hoặc và cầm tù đồng loại- huy động toàn bộ đàn ong thám tử đi truy lùng, xé xác con ong lạc tổ, bay trật đường rầy…

Hội ngộ giữ trọn vẹn sự bí mật của một văn bản thuần túy huyền ảo, là một bản thi họa giao duyên giữa đầu Ngô và mình Sở, tạo ra một thứ phi lý bức tử của một thế giới mà cõi sống phi nhân là phiên bản, là hậu thân của chiến tranh và đàn áp.

Người chăn bò thần thánh, là thứ hiện thực huyền ảo trắng trợn, vẽ hẳn một bức tranh khôi hài, hãi hùng: Tổ chức nhân đạo quốc tế gửi tặng đàn bò sữa cho một vùng mà nhà nghiên cứu của tổ chức này đã mục kích tận mắt cảnh cả trăm người cầm dao quắn xông vào tranh nhau xẻo thịt một con trâu chết, loáng cái hết nhẵn. Lễ “khánh thành bò” được tổ chức vô cùng trọng thể, vú bò được thắt nơ, cổ bò được đeo các khẩu hiệu kinh điển: “cần kiệm liêm chính”, “học tập đạo đức Hồ Chí Minh”, “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”, v.v… Mọi việc được phân công rành rẽ, đàn bò trở thành bò tập thể dưới sự quản lý của nông trường.

Rủi thay, ông chủ tịch nông trường lại có đứa con cậu trời. Một hôm ông đi họp vắng, nó và lũ bạn thèm rượu thịt bèn lấy dao xẻo phắt miếng vai con bò ngoại, xơi tái. Người cha về la rầy, thằng con Khổng Minh rỉ tai hiến kế… xẻo thịt bò mà vô can. Mỗi miếng thịt xẻo được thay thế bằng một chiếc bong bóng thổi phồng dán vào thân bò. Kết cục đàn bò ngoại trở thành trong suốt như bong bóng, một đàn bò thuần xương, không thịt. Thịt bò mừa mứa, ăn, bán không hết, đem đấm mõm cấp trên. Các nông trường viên chăn bò sợ bị đuổi không dám ho he. Các đoàn kiểm tra đã được nếm mùi bò ngoại đều chứng nhận những cỗ xương bò di động là bò đích thực. Thậm chí cả bọn rận, bọ chét, ve, mòng… cũng thoả mãn, chúng thả cửa no nê xơi tiệc sẵn trên thân bò lở lói, máu tràn vào miệng như lũ không cần vòi hút. Khi đã quán triệt nguồn lợi bò, ông chủ tịch nông trường bèn nhường chức lại cho người khác, xin cất nhắc lên chức to hơn, lần này có thể là nông trường chăn voi ngoại.

Bỗng đâu nhà nước nhận được một đơn kiện, bọn đầu đơn không ai xa lạ mà lại là bọn rận, bọ chét, ve, mòng, dĩn… thấy quyền lợi của chúng ngày càng có nguy cơ tận diệt, viết đơn tố cáo như vầy:“Đau xót vì tình trạng thịt rơi máu chảy của đàn bò, của tài sản tập thể bị xâm hại… Đàn bò hiện nay con nào cũng chỉ sót lại một mẩu thịt ở mông, còn tất cả da thịt và gân của chúng đều bị các chủ bò lần lượt xẻo đi và thay thế bằng những quả bóng trong suốt. Xin cấp trên trừng trị để làm gương…” Bọn ve mòng hý hửng đợi phép nước nghiêm minh, nào ngờ kết quả ngược lại: Trên đem toà án di động về “xét xử các tội phạm Ve, Mòng, Rận, Dĩn, bởi tiền sử chúng đen tối, hiện tại chúng mờ ám và tương lai của chúng không cải tạo được“. Toà tuyên án tử hình cả bọn, hả hê coi như “đã triệt được nguyên nhân của mọi nguyên nhân“. Nào ngờ vẫn chưa hết, một tin sét đánh, ban kiểm tra đoàn bò quốc tế phôn về, đích thân đến tham quan. Thế là hoảng loạn, các phòng, các ban, các chủ bò xôn xao bàn cãi, quy trách nhiệm. Cuối cùng họ nhất trí ra chỉ thị :“Bởi các nông trường viên chăn bò vô trách nhiệm, trình độ khoa học kém cỏi, nên đã để cho đàn bò mất hết thịt, nay phải xẻo thịt mình đền vào”. Bọn chăn bò thấp cổ bé miệng không dám kêu ca, đành xẻo thịt mình đắp vào những chỗ trống. Đàn bò có da thịt trở lại. Một thế hệ Người chăn bò thần thánh mới lại xuất hiện, lần này họ không xẻo thịt bò nguyên chất, mà xẻo đàn bò đã được đắp thịt người.

Người đọc giật mình, quái đản, không hiểu từ đâu ra lối huyền ảo này?

Truyện Huyền ảo, huyền hoặc hay hoang đường, tiếng Pháp fantastique, tiếng Việt có nghiã: truyện ma quái, truyện hoang đường, truyện không có thật. Liêu trai chí dị là một loại huyền ảo kinh điển phương Đông, hoàn toàn khác với lối huyền ảo phương Tây hoặc châu Mỹ la tinh. Huyền ảo gắn bó sâu sắc với tôn giáo, triết lý và môi trường sống khác nhau của mỗi dân tộc.

Dòng huyền ảo lâu đời nhất có lẽ là huyền ảo Châu Mỹ la tinh, gắn bó với thánh kinh Maya, trong đó, con người được thần ngô nặn lên từ bắp ngô. Ngô đối với người Maya như gạo đối với người Việt. Những truyện cổ tích của người Maya xưa xây dựng trên một vũ trụ mà thiên nhiên là chủ thể. Mây, núi, sông nước, cỏ, cây… điều hoà sự quân bình thế giới và sinh ra con người. Trái ngược với các hình thức cổ tích Đông Tây: con người là chủ thể của muôn loài, thần thánh cũng là người.

Từ sự kiện thiên nhiên cây cỏ, muông thú đều có tiếng nói, đều có thể họa nên những hình thái nên thơ và dưỡng nuôi sự sống, người Maya đã tạo nên một khái niệm huyền ảo tự nhiên như ta ăn và thở. Sau này, các tác giả nổi tiếng Châu Mỹ la tinh đều dựa vào nguồn gốc văn hoá Maya của họ để tự tạo cho mình những hình thức huyền ảo cá biệt.

Ở Asturias, nhà văn Guatemala, là một thứ huyền ảo thuần khiết Maya, khái niệm “người ngô” (l’homme de maïs) vừa hiền lành, vừa bao quát thực tế: nếu không có ngũ cốc, làm sao con người sống sót, làm sao còn người. Asturias tranh đấu cho quê hương ông, chống lại chế độ thực dân, chống lại các thể chế độc tài, chống lại quyền lực của tư bản Mỹ áp đảo sự sống còn của nông dân trên nền đất Châu Mỹ la tinh.

Ở Marquez, nhà văn Colombie, là sự huyền ảo khốc liệt của những người dân da đỏ hận thù những kẻ chinh phục (conquistadors) đã cưỡng hiếp tổ tiên mình để sinh ra mình. Một mối căm thù tổ tiên, căm thù tác giả đẻ ra mình. Những quái thai, những bạo tàn, những tha hoá, loạn luân, những điềm, những mộng, những đầu người mình thú… trong truyện của Marquez, phản ảnh niềm uất ức truyền kiếp, khôn nguôi của những con người là sản phẩm, không phải của tình yêu mà của cuộc hãm hiếp tập thể một giống nòi, một dân tộc.

Về huyền ảo, Jean Paul Sartre phân tích: “Mô tả sự kỳ dị phi thường chưa phải là điều kiện cần và đủ để đạt tới huyền ảo. Một biến cố lạ kỳ, xẩy ra trong một xã hội có trật tự, có pháp lý, sẽ bị rơi vào vòng trật tự chung: Nếu bạn cho một con ngựa đột nhiên nói, thì tôi bảo nó bị ma làm trong chốc lát. Nhưng nếu bạn cho nó diễn thuyết dông dài suốt dọc hành trình qua rừng cây im lìm, trên nền đất bất động, tôi chấp nhận cho nó cái quyền nói, nhưng tôi không coi nó là ngựa nữa mà cho nó là người trá hình ngựa. Ngược lại, nếu bạn muốn làm cho tôi tin rằng con ngựa này là huyền ảo, thì bạn phải làm sao cho những hàng cây, đất đai và đồng ruộng cũng là huyền ảo nữa, mà bạn không cần nói ra”.

Sartre viết tiếp: “Huyền ảo là một thế giới toàn diện mà sự vật biểu hiện một tư tưởng quyến rũ đòi đoạn, vừa bất thường vừa lôi cuốn, gặm nhấm trong cơ thể nhưng không thể diễn tả thành lời”.

Và ông đưa ra một định nghiã huyền ảo: “Huyền ảo trình bầy hình ảnh lật ngược của sự hội tụ linh hồn và thể xác. Linh hồn chiếm chỗ của thể xác và thể xác chiếm chỗ của linh hồn. Để nhận diện hình ảnh này, chúng ta không thể dùng những ý tưởng sáng tỏ khúc triết, mà phải dùng những ý tưởng rắm rối, “huyền ảo”, nói cách khác, chúng ta phải đi vào chỗ mờ ảo, với đầu óc trưởng thành, có văn hoá, với cá tính nhiệm mầu của một kẻ mơ mộng, của con người nguyên thuỷ, con người trẻ thơ.” (Sartre, Aminadab, Situations I, Folio essais, trg 115).

Lối huyền ảo trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo, phát sinh từ sự tùng xẻo, một “nghệ thuật” hành quyết mang đặc tính đông phương, có trong sử sách Tầu, Việt. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo mang chất nồi da xáo thịt, đặc tính Việt Nam. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo mang tính áp đảo phụ quyền, cha truyền con nối trong gia đình, trong dòng họ, trong xã hội, trong chính quyền, từ Khổng Mạnh truyền thẳng sang Xít Ta Lin, Mao Hồ, Lê Duẩn… không trung gian, không đứt đoạn. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo giao thoa độc tài và tham nhũng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghiã, tạo nên những quái thai người ăn thịt người kiểu Lỗ Tấn. Lối huyền ảo của Võ Thị Hảo có cái dã man trong xã hội Mạc Ngôn.

Những nhà văn phụ nữ miền Bắc như Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, có đặc tính khốc liệt mà những nhà văn nữ trong Nam không có. So cái khốc liệt trong văn chương Võ Thị Hảo thì cái sắc sảo trong văn chương Túy Hồng hiền như bụt. Tại sao? Bởi miền Nam đàn bà chưa phải đi lính, chưa nhìn thấy cái khốc liệt của chiến tranh. Bởi Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo… sinh ra và lớn lên trong một môi trường không nhân nhượng. Dương Thu Hương đã chứng kiến cảnh đấu tố, đã đi đánh nhau. Võ Thị Hảo sinh sau, nhưng đã thu thập vốn liếng bạo lực của những người đã nhận nhưng phải gói ghém, giấu diếm trong lòng: những người mẹ, người chị, xung phong đi lính, đi hộ lý, trở về điên dại trong Rừng cười. Như nam châm, Hảo thu hút những khối u mà người xấu số để lại hôm qua, và hôm nay con em họ vẫn còn tiếp tục cúi đầu nhận độc tố của một gia đình, một xã hội, một thể chế, gọi là mới, nhưng tất cả đều cũ, đều cổ, đều mục nát, như đầu óc, như sự phục tòng của họ.

Là nhà văn dấn thân trong chiều dầy của hai chữ dấn thân, là phụ nữ tranh đấu, Võ biết nếu con người không thay đổi suy nghĩ, không biết suy nghĩ, thì đất nước không thể đứng dậy. Điều kiện tiên quyết làm thay đổi xã hội, thay đổi chính trị là người phụ nữ phải thay đổi trước. Sự bất phục tòng của họ sẽ là nền tảng của tất cả mọi thay đổi.

Chất huyền ảo trong truyện của Võ Thị Hảo, là sự huyền ảo của những bức tranh siêu thực trong đó con người đã bị cắt chân tay, mỗi tứ chi ném đi một nơi, nam bỏ ra bắc, bắc bỏ vào nam, chúng gọi nhau, đầu tìm cổ, cổ tìm vai, trong một định mệnh điên cuồng của xã hội âm ty trần thế. Cái thác loạn ấy sống lại trong những thông tin hàng ngày, trong những vụ án mạng như cơm bữa, trong những hàng tin xe cán chó: con giết cha, chồng giết vợ, dẫy đầy trên mặt báo. Võ Thị Hảo lượm lặt những tin tức chó cán, viết ra, đặt nó trong cái huyền hoặc hàng ngày của cuộc sống. Ngòi bút của chị lột trần mặt trái bi kịch, tìm đến chiều sâu lịch sử của bi kịch, từ đấy Hảo chỉ đích danh tội ác, chỉ cái thủ phạm nấp đằng sau tội ác, chỉ cái cha đẻ của tội ác để vạch ra sự ngu muội của con người. Mục đích của Võ Thị Hảo là vén màn phát giác sự ngu muội của con người. Con người mụ mị chấp nhận độc tài, con người gật đầu tất cả để được yên thân, con người bị đàn áp tư tưởng, cúi mọp chịu phận. Võ Thị Hảo muốn giải phẫu, móc cái mê, cái sợ, ra khỏi trái tim con người.

Một mình một ngựa, vén màn đối lập bằng cách xây dựng thành lũy huyền ảo trên những con người đã bị xé xác, hồn phanh trăm mảnh, để chống lại thành trì kiên cố xây bằng vi khuẩn tham nhũng, lừa đảo, trộm cắp, điêu ngoa của những con ong Chúa mê hoặc đồng loại bằng thứ mật ngọt giết người. Hiện thực huyền ảo của Võ Thị Hảo là cuộc trực chiến giữa hai thành trì. Võ một mình một trận chiến. Một mình một nghiã địa.

Thụy Khuê

Sửa Luật Đất đai: Hạn chế việc thu hồi đất – VnMedia

17 Th1

 

Sửa Luật Đất đai: Hạn chế việc thu hồi đất

Cập nhật lúc 07h24″ , ngày 16/01/2013  

(VnMedia) – Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi) vừa được đưa ra lấy ý kiến Ủy ban hường vụ Quốc hội chiều 15/1. Theo đó, sẽ thu hẹp các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội và làm rõ căn cứ để thu hồi đất…

Nhà nước sẽ không được ưu tiên mua đất

Theo Dự thảo do Bộ trưởng Bộ TN-MT Nguyễn Minh Quang trình bày, điểm mới trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này là tại Chương II (Quyền của Nhà nước và trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với đất đai), bỏ quy định về Nhà nước được ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua tài sản gắn liền với đất.

Chương này cũng bổ sung quy định Nhà nước có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin đất đai cho các tổ chức, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin đất đai và bảo đảm quyền được tiếp cận các thông tin về quản lý, sử dụng đất đai của các tổ chức, cá nhân.

Trong khi đó, Dự thảo lần này quy định người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất và không bị hạn chế về quyền sử dụng đất trong trường hợp các dự án, công trình đã ghi trong kế hoạch sử dụng đất và đã công bố phải thu hồi đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng sau 3 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Về thu hồi đất, trong Chương VI của Dự thảo được sửa đổi, bổ sung theo hướng làm rõ hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; thu hẹp các trường hợp thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội và làm rõ căn cứ để thu hồi đất.

Điều 64 của Chương này cũng bổ sung quy định chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn để chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, đồng thời quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu hồi đất để giao đất, cho thuê đất theo 2 hình thức: Thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất (Điều 69), và Thu hồi đất để giao đất, cho thuê theo hình thức chỉ định chủ đầu tư (Điều 70).

Trong khi đó, Điều 71 của Chương này bổ sung quy định cưỡng chế quyết định về kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm và quyết định thu hồi đất; quy định thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất theo hướng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi đất là người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế; người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thì không được ủy quyền

Về vấn đề bồi thường, hỗ trợ tái định cư, Dự thảo luật bổ sung thêm trường hợp người “sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê” vào diện được bồi thường khi bị thu hồi đất. Đồng thời, bổ sung những quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại về nhà ở, công trình xây dựng trên đất, bồi thường với vật nuôi cây trồng, bồi thường về tài sản và thiệt hại sản xuất kinh doanh, bồi thường chi phí di chuyển khi nhà nước thu hồi đất.

 Ảnh minh họa

 Dự thảo được sửa đổi, bổ sung theo hướng làm rõ hơn các trường hợp Nhà nước thu hồi đất – ảnh: PLXH


Áp dụng bảng giá đất: Cách nào cũng chưa ổn

Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban kinh tế của Quốc hội, có một số nội dung cần đưa ra xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đó là quy định tại Điều 109 về áp dụng bảng giá đất; Điều 106 quy định về Quỹ phát triển đất và Điều 23 quy định về Tổ chức phát triển quỹ đất, vấn đề công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 161.

Đặc biệt, riêng quy định áp dụng Bảng giá đất trong Điều 109 thu hút được nhiều ý kiến nhất. Theo tổng hợp ý kiến của Ủy ban Kinh tế thì có hai loại ý kiến.

Loại ý kiến thứ nhất đề nghị bảng giá đất do Nhà nước quy định được áp dụng cho tất cả các mục đích như phương án 1 trong dự thảo Luật.

Loại ý kiến thứ hai, đề nghị chỉ áp dụng bảng giá đất đối với các  trường hợp: tính tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; tính các khoản thuế liên quan đến đất đai; tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai; tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai. Các trường hợp còn lại thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể không thấp hơn bảng giá đất để áp dụng.

Thường trực Ủy ban Kinh tế tán thành với loại ý kiến thứ hai như phương án 2 trong dự thảo Luật.

Tuy nhiên, đóng góp ý kiến vào Điều 109 tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý cho biết chưa hài lòng đối với cả hai phương án.

Theo đó, ông Phan Trung Lý cho rằng, bảng giá đất của mỗi địa phương là cơ sở pháp lý quan trọng và cần có sự thống nhất về các khái niệm ban hành, thông qua. Theo ông, nhà nước phải chủ động trong quản lý đất và phát huy vai trò trong tạo mặt bằng, điều kiện để phát triển thị trường, không chạy theo thị trường.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban tài chính ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, vẫn còn nhiều điểm xung đột trong quy định này. Theo ông, quy định như dự thảo Luật sẽ dẫn đến bảng giá đất không sát thực tế, có khi phải chạy theo giá đất ảo mà vẫn không thỏa mãn yêu cầu của người dân, phát sinh khiếu kiện thắc mắc.

Về quy định công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền: chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải được công chứng, chứng thực; trường hợp cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện công chứng, chứng thực theo nhu cầu của các bên.

Trong khi đó, loại ý kiến thứ hai tán thành với quy định của dự thảo Luật, không bắt buộc công chứng hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất.

Theo ý kiến của Thường trực Ủy ban Kinh tế, việc chuyển quyền sử dụng đất bắt buộc phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc đăng ký này đã xác lập đầy đủ tính pháp lý của việc chuyển quyền sử dụng đất. Nếu bắt buộc phải có công chứng các hợp đồng thì sẽ gây khó khăn cho người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa trong việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

Tuy nhiên, thảo luận tại phiên họp, nhiều ý kiến lại tán thành với phương án 1 của Dự thảo. Theo Thứ trưởng Bộ tư pháp Đinh Trung Tụng, quy định này là cần thiết nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho người dân, phòng ngừa rủi ro khi xảy ra tranh chấp và phù hợp tình hình hiện nay.

Rút kinh nghiệm từ Luật đất đai năm 2003, một số ý kiến đề nghị Dự thảo Luật đất đai sửa đổi lần này không nên để quá nhiều quy định giao Chính phủ quy định chi tiết mà cần được quy định cụ thể ngay trong luật.

Theo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, sau phiên họp này Quốc hội sẽ ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về luật đất đai sửa đổi. Từ ngày 1/2, Chính phủ sẽ triển khai việc lấy ý kiến của nhân dân.

 

 

Xuân Hưng

 
Từ khóa:

Chiến đấu cơ Trung Quốc cất cánh khẩn cấp bám theo máy bay Mỹ – GDVN

17 Th1

Chiến đấu cơ Trung Quốc cất cánh khẩn cấp bám theo máy bay Mỹ

Thứ tư 16/01/2013 19:00
(GDVN) – Khi phát hiện 2 chiếc máy bay Mỹ tiếp cận không phận Senkaku, Trung Quốc lập tức điều động chiến đấu cơ cất cánh khẩn cấp bám theo
 
Tờ Korea Times ngày 16/1 dẫn nguồn tin tờ Sankei Nhật Bản cho biết, khi phát hiện 2 chiếc máy bay  Mỹ tiếp cận không phận Senkaku, Trung Quốc lập tức điều động chiến đấu cơ cất cánh khẩn cấp bám theo 2 chiếc máy bay này.

Máy bay quân sự C-130 Mỹ (hình minh họa)
Động thái trên được xem như một tín hiệu vụ tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Senkaku mà Bắc Kinh gọi là Điếu Ngư trên biển Hoa Đông đang có dấu hiệu “lây lan” vào mối quan hệ giữa ba cường quốc, nói cách khác là Mỹ đang bắt đầu tham dự vào nhóm đảo tranh chấp này.

Theo bản tin trên tờ Sankei, các chiến đấu cơ Trung Quốc được lệnh cất cánh khẩn cấp bám theo 2 chiếc máy bay Mỹ, một chiếc máy bay trinh sát P-3C và một chiếc máy bay vận tải quân sự C-130.

Chiến đấu cơ Trung Quốc đuổi theo 2 chiếc máy bay Mỹ mặc dù 2 chiếc máy bay này đang bay trên không phận Senkaku do Nhật Bản kiểm soát, tờ Korea Times đưa tin.

Chiến đấu cơ J-10 Trung Quốc (hình minh họa)
Không quân Trung Quốc đã tiến hành thu thập thông tin xung quanh các chuyến bay ngoài không phận Senkaku trong suốt một thời gian và việc này càng được tăng cường khi ông Tập Cận Bình nhậm chức Tổng bí thư kiêm Chủ tịch Quân ủy trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc.

P-3C và C-130 Mỹ bay ra Senkaku là một động thái tham dự tiếp theo của Mỹ vào khu vực biển Hoa Đông sau khi Không quân Hoa Kỳ quyết định triển khai 9 chiếc F-22, chiến đấu cơ tàng hình hiện đại, tới đồn trú tại cơ sở không quân Gadena ở Okinawa trong bối cảnh căng thẳng Nhật – Trung đang leo thang trên biển Hoa Đông.
 
Hồng Thủy (Nguồn: Korea Times)

Thủ tướng Nhật thăm Việt Nam với hai trọng tâm kinh tế và an ninh – RFI

17 Th1

Thủ tướng Nhật thăm Việt Nam với hai trọng tâm kinh tế và an ninh

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe thăm Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ song phương (REUTERS)

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe thăm Việt Nam nhằm thắt chặt quan hệ song phương (REUTERS)
 

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đến Hà Nội vào hôm nay, 16/12/2013, trong khuôn khổ một chuyến ghé thăm trong vòng 24 tiếng đồng hồ, mà trọng tâm là thảo luận về việc thắt chặt thêm quan hệ kinh tế và an ninh giữa hai bên. Giới phân tích ghi nhận ý nghĩa của việc tân Thủ tướng Nhật đã dành chuyến công du ngoại quốc đầu tiên của ông cho Việt Nam, nước cùng chia sẻ với Nhật Bản mối quan ngại về các hành động bành trướng của Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền biển đảo.

 

Sau khi duyệt qua hàng quân danh dự, Thủ tướng Shinzo Abe đã có ngay một cuộc tiếp xúc với đồng nhiệm Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Theo chương trình dự kiến, ông Shinzo Abe còn tiếp xúc với nhiều lãnh đạo cao cấp khác của Việt Nam, trước khi lên đường thăm hai thành viên nặng ký khác trong ASEAN là Thái Lan vào ngày mai, 17/01 rồi Indonesia kể từ ngày 18/01. 

Phát biểu sau cuộc họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Abe xác định là Việt Nam và Nhật Bản phải « đóng một vai trò tích cực hơn trong việc duy trì hòa bình và an ninh khu vực ». Theo lời Thủ tướng Nhật Bản, cả Tokyo lẫn Hà Nội đều sẽ hướng tới việc hợp tác chặt chẽ hơn với nhau, trong đó có việc phát huy một quan hệ đối tác chiến lược song phương, để đối phó với các « thách thức khu vực »,

Về phía Việt Nam, trong cuộc họp báo chung, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác nhận là hai nước đều mong muốn là tất cả các tranh chấp trong khu vực phải được giải quyết « thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế ».

Trên bình diện kinh tế, Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong nỗ lực của Tokyo nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào Bắc Kinh, đặc biệt trong hướng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc qua các nước khác. Vào năm 2012, Nhật Bản trở thành nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam, với các khoản đầu tư to lớn trong lĩnh vực ngân hàng, sản xuất hàng dành cho xuất khẩu cũng như hàng tiêu dùng nhắm vào tầng lớp trung lưu đang lớn lên nhanh chóng. 

Nhật Bản cũng là quốc gia cung cấp nhiều viện trợ nhất cho Việt Nam, đồng thời quan hệ chính trị và an ninh giữa hai bên càng lúc càng được tăng cường trong bối cảnh Tokyo đang nỗ lực củng cố các mối quan hệ khu vực nhằm tạo ra đối trọng với một nước Trung Quốc ngày càng quyết đoán. 

Phát biểu với các phóng viên trước lúc lên đường qua Việt Nam, ông Shinzo Abe – người vừa giành được chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử quốc hội Nhật hồi tháng trước với quan điểm cứng rắn trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, xác nhận : « Môi trường chiến lược trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương hiện đang trải qua những chuyển biến năng động… Trong quá trình thay đổi này, quan hệ chặt chẽ hơn với các nước ASEAN sẽ góp phần duy trì hòa bình và ổn định của khu vực, và điều đó là vấn đề lợi ích quốc gia của Nhật Bản. » 

Tokyo và Bắc Kinh đang căng thẳng với nhau do tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngoài biển Hoa Đông hiện do Nhật Bản kiểm soát. Việt Nam và Trung Quốc cũng tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài Biển Đông, với hàng loạt những hành động cứng rắn trong nhiều năm gần đây của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền Trung Quốc, bất chấp phản đối của các láng giềng, đặc biệt là của Việt Nam và Philippines.

Nhìn lại hai trận đánh lớn trên biển Đông (1)&(2) – Lê Mai

17 Th1

Nhìn lại hai trận đánh lớn trên biển Đông (1)

Tháng Một 15, 2013 — Lê Mai

Theo thiển nghĩ của tôi, bất cứ trận đánh nào có ý nghĩa bảo vệ chủ quyền đất nước, dù xét về quy mô tác chiến, lực lượng tham chiến hay vũ khí sử dụng hạn chế, vẫn phải được coi là trận đánh lớn. Trên ý nghĩa đó, hai trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19.1.1974 và Trường Sa ngày 14.3.1988 giữ VN và TQ là hai trận đánh lớn trên biển Đông.

Mà trận đánh lớn thực sự, bởi ngay từ đầu, lãnh đạo cao nhất của hai bên đã nắm rất vững tình hình và trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ huy trận đánh Hoàng Sa. Hiển nhiên, trận hải chiến Hoàng Sa không phải là một sự xung đột cục bộ ngẫu nhiên mà là một trận đánh mang tầm vóc quốc gia, đã được TQ trù tính kỹ.

 

Về phía VNCH, trong các ngày 16 và 17.1.1974, Tổng thống Thiệu lúc này đang đi kinh lý miền Trung đã được báo cáo toàn bộ tình hình Hoàng Sa và sự khiêu khích của TQ. Tổng thống trực tiếp viết: “Chỉ thị cho Tư lệnh Hải quân Vùng Một: Tìm cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Quốc ra khỏi lãnh hải Việt Nam. Nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này. Nếu họ ngoan cố thì toàn quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa”. Những người trực tiếp chỉ huy trận đánh từ Đà Nẵng là Đề đốc Lâm Ngươn Tánh và tướng Hồ Văn Kỳ Thoại.

Phản ứng của Tổng thống Thiệu rất nhanh chóng, quả đoán, chỉ thị phát ra rất rõ ràng, thái độ rất kiên quyết vì “sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa”. Nói gì thì nói, đó là phẩm chất cần có của một người đang nắm trong tay quyền chỉ huy quân đội. Làm sao chúng ta có thể hiểu nổi khi chủ quyền quốc gia bị đe dọa mà quân đội lại tự trói tay mình, tuyên bố không can dự, đứng ngoài các tranh chấp trên biển, cho đó là tranh chấp dân sự nên không tham gia?

Cùng lúc đó, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông đang thẩm duyệt báo cáo khẩn cấp của Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh về hoạt động của hải quân VNCH tại khu vực Hoàng Sa. Mao nhanh chóng phê chuẩn: “Trận này không thể không đánh”. (Năm 1979, Đặng cũng lại nói về cuộc xâm lược VN: “Trận này không thể không đánh”). Diệp Kiếm Anh liền triệu tập Đặng Tiểu Bình, bắt tay vào việc bố trí hành động quân sự nhằm đánh chiếm Hoàng Sa của VN.

Đặng Tiểu Bình là người vốn có uy vọng rất cao trong quân đội TQ, trực tiếp chỉ huy trận đánh Hoàng Sa – trận hải chiến trên biển đầu tiên với nước ngoài của TQ. Ông ta là người có nhiều ân oán đối với VN và lịch sử sẽ không quên các vết nhơ này trong sự nghiệp của ông ta.

Đặng vừa được khôi phục công tác sau mấy năm đi lao động cải tạo ở Giang Tây. Cuối năm 1973, Mao Trạch Đông triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị tại phòng đọc sách của mình. Mao phán:

– Nay tôi mời đến một quân sư, tên là Đặng Tiểu Bình. Ông này có nhiều người sợ, nhưng làm việc tương đối quả đoán. Ra một thông báo làm Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên quân ủy. Tôi nghĩ phải thêm một Bí thư trưởng cho Bộ Chính trị, song ông không cần cái danh hiệu đó mà Tổng tham mưu trưởng kia. Tôi xin tặng ông hai câu: trong nhu có cương, trong bông có kim, bên ngoài hòa khí một chút mà bên trong là cả một công ty gang thép.

Bối cảnh của trận đánh là bấy giờ, Hiệp định Pari mới được ký kết gần một năm. Hoa Kỳ với chiến lược toàn cầu mới: rút ra khỏi Nam VN, hòa hoãn với LX, đột phá quan hệ với TQ, khai thác sự đối đầu Xô – Trung. Dĩ nhiên VNCH không còn là ưu tiên trong chiến lược của họ nữa. Viện trợ sút giảm và Tổng thống Thiệu đã phải kêu gọi quân đội “đánh theo kiểu con nhà nghèo”. Thêm nữa, Hoa Kỳ đã đi đêm với TQ, bỏ mặc Hoàng Sa cho TQ tấn công. Điều này đã được lịch sử chứng minh. Hoàng Sa – một vị trí ở phía Đông VN có giá trị rất lớn về quân sự, kinh tế không nằm ngoài dã tâm của TQ.

Như vậy, có thể thấy, âm mưu đen tối chiếm toàn bộ Hoàng Sa của TQ đã nung nấu từ rất lâu, chỉ chờ thời cơ là họ ra tay hành động. Chỉ cần nhìn vào sự bố trí lực lượng sau đây của Quân ủy Trung ương TQ là rõ:

– Cử tàu 396, 389 của đại đội tàu quét mìn số 10 thuộc căn cứ Quảng Châu và tàu 271, 274 đại đội săn tàu ngầm số 73 căn cứ Du Lâm trong 2 ngày 17, 18 phải có mặt ở vùng biển phụ cận cụm đảo Vĩnh Lạc, Hoàng Sa để làm nhiệm vụ tuần tra.

– Lệnh cho quân khu Nam Hải cử 4 trung đội vào đóng trên 3 đảo Tấn Khanh, Tham Hàng, Quảng Kim.

– Căn cứ Quảng Châu cử tàu 281, 282 của đại đội săn tàu ngầm số 74 vào gần cụm đảo Vĩnh Lạc làm nhiệm vụ cơ động.

– Đặt sở chỉ huy trên biển trên tàu 271 thuộc đại đội săn tàu ngầm số 73.

– Để phối hợp hành động của hải quân, Quân khu Quảng Châu lệnh cho Trung đoàn 22 không quân thuộc Hạm đội Nam Hải cử 2 phi đội máy bay chiến đấu, bay trinh sát tuần tra trên bầu trời cụm đảo Vĩnh Lạc, đồng thời yêu cầu không quân thuộc quân khu Quảng Châu cử một bộ phận làm nhiệm vụ sẵn sàng chi viện.

Do không đủ thông tin, một số tài liệu cho rằng lực lượng hải quân VNCH mạnh hơn, vì có tàu to hơn? Thực ra, hải quân VNCH chỉ có hai tuần dương hạm Trần Bình Trọng và Lý Thường Kiệt, khu trục hạm Trần Khánh Dư và hộ tống hạm Nhật Tảo. Còn TQ đã giương bẫy chờ sẵn, cộng thêm so sánh lực lượng hoàn toàn có lợi cho phía TQ.

Nhưng sự quyết tâm, lòng dũng cảm của hải quân VNCH làm cho quân TQ cũng phải nể phục. Sau đây là mô tả của Sa Lực Mân Lực – tác giả TQ:

“Sáng sớm ngày 18.1, tàu Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng của Nam VN trong mấy ngày qua vẫn lởn vởn ở vùng biển gần đảo Cam Tuyền, lại đến gần tàu cá (?) số 407 của TQ, dùng loa gào thét, buộc tàu cá TQ phải ra khỏi vùng biển này. “Không đi, coi chừng chúng tao sẽ tiêu diệt cả tàu lẫn người bây giờ” – viên sỹ quan Nam VN đe dọa. Trong khi đe dọa không có kết quả, cáu tiết, tàu Trần Khánh Dư chạy hết tốc lực, lao thẳng vào tàu cá 407, phá hủy buồng lái của tàu”.

“Sáng sớm ngày 19.1, sau một ngày “thi gan” với hải quân TQ, hải quân Nam VN quyết tâm lợi dụng tàu chiến hòng nuốt chửng các tàu tuần tiễu có trang bị kém hơn của hải quân TQ (?), tiến tới chiếm cả cụm đảo Vĩnh Lạc”.

“Hai tàu Lý Thường Kiệt và Sóng Gầm (có lẽ chỉ hộ tống hạm Nhật Tảo) giàn sẵn thế trận từ vùng biển phía bắc đảo Quảng Kim tiếp cận biên đội tàu hải quân TQ. Còn hai tàu Trần Khánh Dư và Trần Bình Trọng thì từ phía Nam tiếp cận hai đảo Tham Hàng và Quảng Kim”.

“Tàu Lý Thường Kiệt giương cao nòng pháo, lao thẳng vào biên đội hải quân TQ. Ỷ vào thế có lớp vỏ thép dày, tàu Lý Thường Kiệt không những không thay đổi hướng đi, ngược lại còn dùng mũi tàu húc thẳng vào tàu 396, làm hỏng cột đài chỉ huy, lan can mạn trái và máy quét mìn”.

“Tàu Lý Thường Kiệt ngang nhiên đi giữa 2 tàu hải quân TQ, lao về phía đảo Tham Hàng, Quảng Kim, sau đó thả 4 xuồng cao su, chở hơn 40 tên sỹ quan binh sỹ Nam VN đổ bộ lên đảo ngay trước mặt tàu chiến TQ”.

“Sau khi chiếm lĩnh vị trí có lợi ở vòng ngoài, cả 4 tàu chiến hải quân Nam VN bỗng nhiên đồng loạt nổ súng vào 4 tàu chiến của biên đội hải quân TQ. Dưới làn pháo dày đặc của tàu địch, tàu chiến của hải quân TQ liên tiếp bị trúng đạn, một số nhân viên bị thương”.

 (còn tiếp)

Nhìn lại hai trận đánh lớn trên biển Đông (2)

Tháng Một 16, 2013 — Lê Mai

Ngay trong ngày 19.1.1974, Bộ trưởng Ngoại giao VNCH đã ra tuyên cáo về những hành động gây hấn của Trung Cộng trong khu vực đảo Hoàng Sa:

“Lực lượng Hải quân Trung Cộng gồm 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân VNCH trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh VN”.

“Cuộc giao tranh hiện còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên”.

 

“Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu”.

Không có chứng cớ cho thấy phản ứng của Bắc VN. Tướng Võ Nguyên Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa trong khi đang chữa bệnh ở nước ngoài.

Kết thúc trận đánh, phía VNCH có 74 thủy thủ hy sinh, các tàu Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt bị thương nặng, còn hộ tống hạm Nhật Tảo thì bị bắn chìm vào hồi 14h52 phút. Phía TQ có hai hộ tống hạm bị bắn chìm, hai trục lôi hạm bị bắn hỏng, một đô đốc, sáu đại tá và hàng chục sỹ quan cấp tá, cấp úy khác tử trận, 67 lính bị thương. TQ thừa dịp mở cuộc đổ bộ, giành lại 3 hòn đảo từ tay quân đội Nam VN. Từ đây, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay TQ

Có thể thấy, khi trận hải chiến Hoàng Sa nổ ra, Nam VN phải đối phó cùng một lúc từ hai mặt trận: phía Đông và phía Bắc. Nam VN không thể tăng thêm lực lượng đánh trả cũng như không thể tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa, từ đó dẫn đến việc toàn bộ Hoàng Sa mất vào tay TQ.

Mười bốn năm sau, ngày 14.3.1988, lại diễn ra một trận hải chiến ở Trường Sa, cũng giữa VN và TQ, được gọi là cuộc chiến tranh 28 phút trên biển, đã làm cả thế giới quan tâm, theo dõi, kết thúc bằng việc TQ lại giành thêm một số đảo nữa ở Trường Sa, sau khi đã chiếm trọn Hoàng Sa.

Sau năm 1975, tổng quân số của hải quân VN có khoảng 50 ngàn người, biên chế gồm một hạm đội, một lữ thủy quân lục chiến, một lữ tàu pháo, 10 trung đoàn chiến đấu. Trang bị có khoảng 100 chiếc hạm tàu chiến đấu, gồm tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu quét mìn, tàu đổ bộ chở tăng, tàu ngư lôi, tàu tên lửa và tàu săn ngầm. Nhìn chung, lực lượng và trang bị của hải quân VN lúc bấy giờ không lấy gì làm mạnh lắm.

Trong trận hải chiến Trường Sa, VN chỉ có 3 tàu chở vật liệu ra đảo. Cũng như trận Hoàng Sa, so sánh lực lượng cho thấy sự hơn hẳn của TQ và TQ còn dành luôn ưu thế bất ngờ trong trận đánh.

Ta hãy xem Sa Lực Mân Lực huyênh hoang nhưng đã để lộ sự bố trí và lực lượng của TQ:

“Trước tình thế khẩn cấp, bộ đội hải quân ta lập tức xuất kích, hướng thắng về phía tàu địch xông tới, đội tàu quân ta với 3 tàu hộ vệ làm chủ lực, đã tỏ rõ sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Những chiến hạm kiểu mới được trang bị tên lửa biển đối biển, pháo tự hành 100 ly hợp đồng tác chiến với tàu ngầm và các loại hạm tàu kiểu mới khác, hình thành lưới lửa dày đặc, khiến quân VN lâm vào thế trận bị động chịu đòn. Tàu đổ bộ 505 của Hải quân VN đang tấn công vào đảo vội vã ứng chiến, còn hai tàu vận tải 604, 605 cũng tổ chức bắn trả, vừa đánh vừa tìm cách rút lui. Trong tiếng pháo đùng đùng, tàu vận tải 604 của Hải quân VN bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ 505 bị bắn trọng thương và chìm trên đường về, còn tàu vận tải 605 bị mắc cạn”.

Kết thúc trận đánh, phía VN có 64 thủy thủ hy sinh.

Thủ đoạn quen thuộc của TQ vẫn là khiêu khích, lập luận của họ vẫn là đổi trắng thay đen, biến không thành có một cách trơ trẽn. Họ chặn không cho tàu của Hội chữ thập đỏ đến cứu các thủy thủ VN, đã thế lại nói ngược là TQ “với tinh thần nhân đạo, còn tiến hành cứu giúp số người rơi xuống biển của phía VN”. Sau trận đánh, TQ còn ngang ngược trao công hàm phản đối đến sứ quán VN tại TQ, đòi “nhà cầm quyền VN phải chấm dứt ngay những cuộc khiêu khích vũ trang đối với TQ ở vùng biển quần đảo Nam Sa và rút khỏi các đảo đá đã xâm chiếm và vùng biển phụ cận của TQ” – sự trơ trẽn đã vượt quá giới hạn.

Mười bốn năm trước, họ đổ lỗi cho VNCH, mười bốn năm sau, họ lại đổ lỗi cho CHXHCNVN.

Mười bốn năm trước, Hoa Kỳ làm ngơ để TQ đánh chiếm Hoàng Sa; mười bốn năm sau, LX cũng làm ngơ, không hề có một hành động nào giúp VN, dù hải quân LX đang ở Cam Ranh, dù Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa hai bên có hiệu lực tới 25 năm. Thậm chí, lúc đầu LX còn không ủng hộ tuyên bố chủ quyền của VN tại Trường Sa, vì vấn đề rút quân của VN tại Cambodia.

Đối với VN, bài học về độc lập, tự chủ bao giờ cũng đầy tính thời sự.

Nhìn lại hai trận đánh lớn trên biển Đông làm chúng ta nhớ lại sự quyết tâm, lòng dũng cảm và sự hy sinh vô bờ bến của những người lính VN; cũng chính là nhìn lại vị thế của VN đặt trong tổng thể mối quan hệ với các nước lớn; nhìn lại lịch sử quan hệ Việt – Trung, những âm mưu đen tối, sâu hiểm, lâu dài của TQ đối với VN. Lịch sử dạy chúng ta – không chỉ qua hai trận đánh lớn trên biển Đông, làm sao có thể tin được TQ, làm sao có thể làm bạn với TQ?

Một điều không khỏi làm chúng ta day dứt là kết quả hai trận đánh lớn trên biển Đông không như mong muốn và ý định của chúng ta. Phải chăng, trên biển, sức mạnh của TQ là tuyệt đối? Lịch sử các trận hải chiến giữa VN và TQ, phần thắng luôn nghiêng về VN, nhưng đó là khi ta nhử cho chúng vào gần bờ hoặc vào sâu trong các cửa sông, còn ngoài khơi xa thì sao? Tác chiến trên biển phải có khả năng tấn công, phòng thủ ba chiều trên không, mặt biển và đáy biển. Cần làm gì để giành phần thắng – vấn đề của các nhà chiến lược quân sự VN.

Đối với chúng ta, trên tất cả, đó là sức mạnh của lòng dân. Dựa vào dân, có dân là có tất cả – Hồ Chí Minh. Có được lòng dân, dù lãnh thổ tạm thời bị mất nhưng nhất định sẽ lấy lại được. Ngược lại, nếu đánh mất lòng dân thì lãnh thổ đang có sợ rằng rồi cũng sẽ bị mất – bất cứ nước nào cũng vậy. Lịch sử hơn một lần răn đe chúng ta. Nhìn lại hai trận đánh lớn trên biển Đông càng làm chúng ta hiểu sâu sắc thêm bài học lịch sử đó.


 

Văn học dịch “trắng tay” tại Giải thưởng Hội nhà văn

17 Th1

Văn học dịch “trắng tay” tại Giải thưởng Hội nhà văn

Hội đồng khắt khe hơn hay thiếu tính phát hiện? Hay bởi số lượng các tác phẩm có giá trị của văn học Việt 2012 thực sự quá ít ỏi, nghèo nàn?

TIN BÀI KHÁC

Chiều 16/01, 9 thành viên Hội đồng xét giải Giải thưởng Hội nhà văn đã hoàn thiện công tác bầu chọn, tìm ra các tác phẩm để trao giải thưởng 2012. Chỉ có vỏn vẹn 5 đầu sách được trao giải. Ở thể loại văn xuôi tập truyện ngắn “Thành phố đi vắng” (Nguyễn Thị Thu Huệ) giành giải thưởng duy nhất. Tiểu thuyết “trắng tay”.

Cuốn sách giành giải thưởng văn xuôi duy nhất

 

Mảng thơ được coi là gặt hái với 3 tập thơ đoạt giải: “Giờ thứ 25” (Phạm Đương), “Trường ca chân đất” (Thanh Thảo), “Màu tự do của đất” (Trần Quang Quý). Tiểu luận “Đa cực và điểm đến” (Văn Chinh) đoạt giải Lý luận phê bình. Văn học dịch không có tác phẩm nào được trao giải, thậm chí không có tác phẩm lọt vào vòng chung khảo. Tác giả Phạm Đương được xem là gương mặt được phát hiện của giải năm nay.

Được biết, việc xét giải dựa trên đánh giá hội đồng chuyên môn, kiểm tra thăm dò dư luận bạn đọc: các nhà văn, nhà lý luận và bạn đọc yêu văn học… Cuối cùng là ý kiến bàn luận và bỏ phiếu kín của 9 thành viên chung khảo: nhà thơ Hữu Thỉnh – chủ tịch hội đồng, nhà văn Nguyễn Chí Huân, nhà thơ Lê Quang Trang, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà lý luận Phan Trọng Thưởng, nhà văn Đình Kính, nhà thơ Văn Công Hùng, nhà văn Vũ Hồng, nhà văn Đào Thắng

Nguồn sách đề cử của giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2012 đến từ các NXB, các tờ báo về văn chương, hội viên hội nhà văn. Nguồn tin từ Hội đồng chấm giải cho biết số lượng tác phẩm đề cử năm nay khoảng 90 tập thơ, gần 100 tác phẩm văn xuôi, 25 tác phẩm lý luận phê bình và một số tác phẩm dịch thuật.

Tác giả Phạm Đương được xem là gương mặt được phát hiện của giải năm nay.

 

Nguồn tin từ Hội đồng cho biết, ngoài danh sách nhận giải còn có một số tác phẩm khác được đánh giá cao, lọt vào vòng chung khảo nhưng không đủ phiếu bầu trong cuộc bỏ phiếu kín. Đó là 2 tiểu thuyết: “Trò chơi hủy diệt cảm xúc” – Y Ban và tiểu thuyết lịch sử “Thế kỷ bị mất” – Phạm Ngọc Cảnh Nam; 2 tập thơ: “Chất vấn thói quen” (Phan Hoàng) và “Hoa hoàng đàn nở muộn” (Khuất Bình Nguyên).

Một số tác phẩm khác được đánh giá cao, lọt vào vòng chung khảo nhưng không đủ phiếu bầu sẽ nhận giấy khen của Hội.

 

 

Giải thưởng Hội nhà văn 2012

Văn xuôi
– Tập truyện ngắn Thành phố đi vắng (Nguyễn Thị Thu Huệ)

Thơ
– Tập thơ: Giờ thứ 25 (Phạm Đương)
– Tập thơ: Trường ca chân đất (Thanh Thảo)
– Tập thơ: Màu tự do của đất (Trần Quang Quý)

Lý luận phê bình
– Tiểu luận: Đa cực và điểm đến (Văn Chinh)

Văn học dịch (không có)

 

Vân Sam 

Quả đấm thép’ lại xin Chính phủ hỗ trợ

17 Th1

Quả đấm thép’ lại xin Chính phủ hỗ trợ

– “Kêu” khó cho năm 2013, hầu hết lãnh đạo các tập đoàn đều tranh thủ xin Thủ tướng cơ chế đặc thù.

Xin được tiếp sức

“Đề nghị Chính phủ hỗ trợ” vẫn là cụm từ được nhiều lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty (TĐ, TCT – vốn được ví như những quả đấm thép của nền kinh tế) nhắc tới tại buổi làm việc với Thủ tướng sáng 16/1. Lý do đưa ra là trong bối cảnh khó khăn chung, nhà nước vẫn nên tiếp tục “trợ sức” để các DNNN lớn thực hiện các nhiệm vụ đầu tư lớn. Lãnh đạo nhiều DN cũng cam kết bằng các thành tích vượt bão suy thoái của năm cũ. 

Tổng giám đốc TKV Lê Minh Chuẩn đề nghị Chính phủ tiếp tục hỗ trợ trong lộ trình giá bán than cho điện

Ông Lê Minh Chuẩn, Tổng giám đốc TĐ Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) phàn nàn, năm 2012 chứng kiến sự sụt giảm mạnh sản lượng, xuất khẩu giảm cả lượng và giá.

Mặc dù vậy, TKV vẫn đảm bảo việc làm cho lao động, với mức thu nhập 7,4 triệu đồng/tháng. TKV cũng đảm đương nhiều dự án lớn của quốc gia như dự án bô-xit Tân Rai đã có khoảng 100 tấn alumin chuẩn bị bán ra thị trường.

Bàn kế hoạch năm 2013, vị lãnh đạo ngành than phản ánh, thị trường sẽ tiếp tục gặp khó do suy giảm các ngành liên quan đầu ra.

“Đề nghị Chính phủ tiếp tục hỗ trợ TKV trong vấn đề lộ trình giá bán than cho điện, thuế tài nguyên và hoàn thuế VAT đối với than xuất khẩu, cũng như trong vấn đề bảo lãnh vay vốn nước ngoài”, ông Chuẩn đề đạt.

Chủ tịch TCT cổ phần Vinaconex Nguyễn Thành Phương cũng lên diễn đàn trải lòng “năm vừa qua rất khó khăn với thị trường bất động sản. Năm nay sẽ tiếp tục khó khăn lớn hơn nữa, nhất là tình trạng tồn kho”.

Tuy nhiên, ông Phương vẫn đề xuất, năm 2013 Vinaconex muốn tiếp tục được đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia. “Chúng tôi đặt mục tiêu 23-25 nghìn tỷ đồng doanh thu và 1,5 nghìn tỷ đồng lợi nhuận”, ông Phương nói.

Chủ tịch Vinaconex Nguyễn Thành Phương: Năm nay sẽ tiếp tục khó khăn với thị trường bất động sản

Được mời phát biểu, ông Phạm Viết Thanh, Chủ tịch TCT Hàng không Việt Nam khẳng định: “Chúng tôi tập trung vào vấn đề điều hành linh hoạt, bám sát thị trường, không tăng lao động mà cơ cấu lại nguồn lao động để chuyển đổi việc kinh doanh”.

Dự kiến, đến năm 2015 sẽ có 80% phi công trẻ người Việt được đưa vào hoạt động thay thế phi công người nước ngoài (hiện nay phi công Việt chỉ chiếm 56%). Ngành đã có kế hoạch phát triển mở rộng đường bay quốc tế, như các tuyến Hàn Quốc – Đà Nẵng. Cuối quý 1 năm nay sẽ có đường bay Moscow – Cam Ranh.

Ông Thanh cam kết sẽ tái cơ cấu tổ chức sản xuất để giảm chi phí nhưng vẫn phát triển tốt. Đồng thời, ông cũng tranh thủ “xin” các cơ chế đặc thù, nhất là về tiếp cận đất đai.

Chỉ 1/5 tập đoàn lãi cao

Thực tế, bối cảnh khó khăn của 2013 đã được chứng minh bằng việc hầu hết các “quả đấm thép” đều cắt giảm chỉ tiêu kinh doanh.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch – Đầu tư tại hội nghị cho thấy hầu hết TĐ, TCT đều có những điều chỉnh thực tế, thận trọng hơn.

Với khối 73 TĐ, TCT 100% vốn nhà nước, năm nay, các chỉ tiêu kế hoạch về vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản đều dự kiến cao hơn số thực hiện năm cũ, tuy nhiên, các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận trước thuế, nộp ngân sách đều giảm.

Đáng chú ý, doanh thu đặt ra chỉ đạt 95,8% so với thực hiện năm 2012, lợi nhuận trước thuế và nộp ngân sách chỉ đạt khoảng 79% so với thực hiện năm 2012.

Tính theo khối các bộ quản lý ngành thì khối TĐ, TCT thuộc Bộ Công Thương có mức độ giảm sút về kế hoạch doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách lớn nhất, nguyên nhân chủ yếu là do TĐ Dầu khí dự báo giảm mạnh về doanh thu, đạt 85%, lợi nhuận đạt 61%, nộp ngân sách đạt 77% thực hiện năm 2012.

Khối 8 TĐ kinh tế cũng có sự suy giảm chỉ tiêu kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách. Ngoài Dầu khí, các TĐ Bưu chính – Viễn thông, Công nghiệp cao su đều ước kế hoạch nộp ngân sách 2013 giảm tương ứng là 97% và 90% so với thực hiện năm 2012.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định, xu hướng suy giảm về doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm 2013 là khá rõ ràng, có khả năng sẽ tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.

Bộ cũng cho hay, năm 2012, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các TĐ, TCT 100% vốn nhà nước chỉ đạt 14,84%, giảm 4,16% so với năm cũ.

Trong tổng số 73 đơn vị, nhóm các tập đoàn lãi cao (trên 20%) chỉ chiếm 23%.

“Bớt” quyền của Thủ tướng

Chính phủ vừa ban hành nghị định về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Theo Bộ Kế hoạch – Đầu tư, các quyền của Thủ tướng với TĐ, TCT được điều chỉnh.

Theo đó, Thủ tướng trực tiếp thực hiện 4 quyền quan trọng của chủ sở hữu, chủ yếu liên quan đến những quyết sách mang tính chiến lược phát triển dài hạn: quyết định thành lập, tổ chức lại, mức vốn điều lệ và thay đổi vốn điều lệ, bổ nhiệm chủ tịch Hội đồng thành viên, phê duyệt chiến lược kế hoạch sản xuất và kế hoạch đầu tư 5 năm…

Số lượng các DN do Thủ tướng trực tiếp thực quyền chủ sở hữu giảm từ 21 TĐ, TCT 91 xuống còn 9 TĐ và 1 TCT. Gồm: TĐ Điện lực, Dầu khí, Công nghiệp Than khoáng sản, Bưu chính – Viễn thông, Công nghiệp tàu thủy, Dệt may, Viễn thông quân đội, Hóa chất, Cao su và TCT đầu tư kinh doanh vốn nhà nước.

Nghị định cũng “trao” thêm nhiều quyền cho các bộ quản lý ngành. Đó là quyền bổ nhiệm tổng giám đốc, cho vay mua bán tài sản… 

Lê Nhung – Ảnh: Vneconomy 

 

%d bloggers like this: