Lưu trữ | 2:54 Chiều

Hang động của mỗi người – nguyenngoctu.net

18 Th1

Hang động của mỗi người

 
(viết cho một chuyên đề về nỗi cô đơn)

Nhìn vào bản vẽ nhà con gái trải ra trên đất, má hỏi vậy rồi cái chỗ dành cho khách ngủ nó nằm ở đâu. Em chưng hửng nói làm gì có. Má cũng chưng hửng hỏi gì kỳ vậy ?
 
Nhà má, cũng là bản sao của nhà ngoại, không rộng rãi nhưng luôn kê thừa ra bộ ván ngựa, bộ vạc cau, hay chiếc giường thước sáu dành cho bà con tới chơi ngủ lại. Quan trọng ngang bằng tủ ly là tủ gối, những bộ mền gối nằm không phải là mới tinh, nhưng sạch sẽ. Thỉnh thoảng, lựa ngày được nắng, má lại mang chúng ra phơi phóng cho thơm, hờ khi họ hàng ghé qua không phải trằn trọc vì mùi ẩm mốc. Ở trong tâm thế đón khách tới chơi bất tử, nên nhà má luôn sạch, trên bàn đặt sẵn bình thủy nước sôi với bộ ấm trà. Cũng giống như những ngôi nhà trong xóm, luôn có bộ vạc nhỏ đặt ở hàng ba, khạp nước mưa nhỏ cho khách bộ hành lỡ buổi. Hàng rào thấp, ơ hờ như chẳng có, trang trí cho vui chớ không phải để ngăn cách. Cửa mở phơi lòng. Ở cái xóm nhỏ vàm sông đó, nồi chè khoai môn và tiếng gà gáy đều chan đến ít nhất năm nóc gia.
 
Một ngôi nhà luôn phơi bày nết ở của chủ nhân nó.
 
Rào nhà em thì cao, cắm trên đầu rào những thanh sắt nhọn như ngọn giáo. Nhà bên xóm còn giắt miểng chai bia lên, quắc lạnh trong nắng, nhìn rợn thay cho bọn trộm. Tường dày hai lớp gạch, để mọi tiếng động bên xóm được đẩy ra xa, và cây trồng nghiêng ngã về sân nhà, bảo đảm không cái lá nào rơi lạc qua sân khác. Nhà mình là một cái hang, em nghĩ vậy, khi ngắm nghía tổ ấm sắp thành hình.
 
Mình sẽ cố thủ ở đây, tận hưởng sự riêng tư, không mặc gì trên người hoặc hát vống lên mà chẳng ngượng ngùng chi hết. Cơm khét chỉ mình ta biết, khà khà. Nghe người ta kể từng có thời kỳ cả nước hát chung bài hát, mặc chung sắc áo, và cùng ăn những món như nhau. Họ bị triệt tiêu những ý nghĩ khác lạ, những hành động không giống như bất cứ đám đông nào. “Quên chính mình, quên mình muốn gì đi, rồi thì sống ngon lành”, bí quyết của những người từng trải qua mùa đồng phục, khi em tò mò đi hỏi. Hóa ra chỉ ngắn gọn vậy, khi mô tả một nỗi đau bản thân bị đánh mất. 
 
Nên em trân trọng cái đời sống mà em nghĩ là khá dễ chịu, nhiều lựa chọn này. Thiếu niên thoải mái nhuộm tóc xanh mặc quần đáy thòng đến gối lắc lư điên dại theo một bài nhạc ngoại. Nhà báo thoải mái xăm trái tim đẫm lệ lên tay. Hai thằng con trai thoải mái hôn nhau giữa chỗ đông người. Chương trình thời sự trên đài truyền hình quốc gia thoải mái chen quảng cáo thuốc nam khoa một người khỏe hai người vui, mặt mày thỏa mãn. Và em, được một mình, tùy ý. Nhà chức trách căng thẳng vì người ta tụ tập, hoàn toàn chẳng bận tâm kẻ một mình. Em xài đã đời cái quyền được một mình đó. Dĩ nhiên khi khả năng này thuần thục, sắc sảo thì cũng có nghĩa vài khả năng khác trong em bị cùn lụt đi.
 
Có lần đọc nửa cuốn Những bức thư đầm ấm của hai ông Nguyễn Hiến Lê và Quách Tấn, em cùng người bạn hào hứng rủ nhau tụi mình sẽ viết thư giống mấy ông già kia. Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt vừa nghe được chiều nay, một cuốn sách hay tìm thấy được trong gánh ve chai, hay rên rỉ về một buồn quéo râu ria, vô cớ đến chiếm đoạt từng tế bào và không đưa ra lời hứa hẹn nào rằng sẽ ra đi sớm. “Quan trọng là hai chục năm sau khi đọc lại, tụi ta sẽ biết mình đã từng điên như thế nào…”, em hăng hái bảo vậy. Lịch sử rốt cuộc đã không được ghi lại, vì vụ tâm tình thương mến thương ấy đã xếp xó chỉ sau chục cái thư điện tử. Sự hào hứng ban đầu rơi xuống vực, xác nằm cạnh những mảnh vụn hào hứng kinh điển khác của thiên hạ như lên sàn chứng khoán, bán hàng đa cấp, lấy chồng Nam Hàn…
 
Những cái thư trắng sáng và phẳng phiu, không một vết ố nào trên giấy bởi nước mưa, không mang nỗi lo lắng bị thất lạc bởi anh nhân viên bưu điện làm rơi ở dọc đường, không sợ chữ xấu gà bươi vừa đọc vừa đoán… nhưng sự tiện nghi chẳng có giá trị gì, khi người ta không sẵn sàng chia sẻ. Một đứa trẻ tập tành cô độc khi nó bị đứt tay mà không khóc thét lên cho người lớn giúp. Nó tự mút máu, liếm láp vết thương. Nói ra nhiều khi rắc rối thêm, người lớn sẽ hỏi tại sao con chơi dao, má đã dặn rồi, đáng đời… Lớn lên một chút, thành thiếu nữ, những bí mật của một cơ thể biến đổi từng ngày, và những mối tình thầm, những giấc mơ u uẩn… nó càng thích riêng tư hơn. Một mình trở thành thứ gì đó gần như bản chất.
 
Hoặc là, những vui buồn bây giờ cứ vụn như bụi, khó mà kể thành chữ, thành lời. Nên những ý tưởng xuất hiện trong đầu như đi làm thiện nguyện xây cầu nông thôn hay tổ chức một buổi họp lớp, lên mạng lập nhóm đi Angkor… vừa nhen lên đã tắt ngúm.
 
Lần kết nối thất bại gần nhất của em là rủ bà bạn vong niên đi bụi. Ngay từ đầu đã xuất hiện một điềm báo xấu : bà bạn đi lạc trong bến xe. Em đi quá nhanh, lên xe ngồi chễm chệ và bạn rớt lại. Lúc chờ xe thì em bỏ rơi bà bằng cuốn Mười hai truyện phiêu dạt của ông Gabrien Gacxia Macket. Xe chạy, em lại tiếp tục để lạc bạn đường bởi thích day mặt ra ngoài ngắm cảnh. Thậm chí em còn làm một bài thơ về cái bóng chính mình bên ngoài tấm kiếng xe (*), sau đó sực tỉnh, bối rối tìm chuyện gì để nói với bà bạn đang xo ro bên cạnh.
 
Em áy náy với người bạn đường, nhưng em không sợ cái sự đứt rời không cứu vãn đó. Thật ra thì em từng sợ, từng kêu gào ôi tôi cô đơn quá. Cái tuổi hai mươi người ta hay kêu gào. Nhưng giờ thì em thấy bình thường. Bình thường khi nghĩ rằng được một mình là quà tặng của trời. Bình thường như cái cảm giác cô độc giữa chỗ đông người. Bình thường như ngán sợ nói chuyện điện thoại. Bình thường như việc từ chối đến chơi nhà bạn, “muốn gì thì gặp ngoài quán…”. Và rất bình thường nếu như căn nhà em không có chỗ nào dành cho khách. Chương trình thế giới động vật nói rằng, cọp cũng không thích bọn nào lân la đến hang ổ nó.
 
Chỉ má thấy không bình thường, và bà gởi ra cho em một bộ mùng mền chiếu gối, nhắn rằng “Bỏ vô tủ áo, hờ khi có khách…”.  Lúc nhờ thợ khoan vào vách hang của mình mấy cái khoen nhôm để treo mùng, em thản nhiên nghĩ chẳng bao giờ mình phải dùng tới nó đâu, cứ làm cho có vậy, cho má yên lòng.
 
Trong cái hang trống trải của mình, thỉnh thoảng em nghĩ về những ngôi nhà khác. Nhà của ông già Bến Tre hiu quạnh. Nhà ông bạn Cần Thơ tĩnh lặng. Nhà ông già An giang nhàu nhĩ, thiếu sức sống. Nhà của ông già Sài Gòn đẹp mà bồn chồn. Họ đều một mình, và không biết, có cảm thấy ngôi nhà là một cái hang ? Sự cô độc này đều được người ta tự chọn lấy, nhấm nháp như một tách trà đặc. Cho đến khi cái thứ nước chát đắng có hậu ngòn ngọt ấy thay cho máu, chảy trong người, ngập tràn tim. Chắc là lúc đó em vẫn thấy bình thường. Cũng hơi đáng sợ ở chỗ quá sức “bình thường” đó.
 
Chỉ thấy lạ, là đôi lúc em nghe thèm một tiếng người…

(*)Bài thơ mà em trên kia nhắc tới, hình như bài này 😀

Ca tụng bạn đường
 
lên xe mình sẽ sàng ngồi cạnh
chan sương dang nắng
im lặng tựa bào thai
chờ rạng hình hài 
dìm tôi trong ánh nhìn không đáy
 
tái sinh sau những lần tan chảy dưới mặt trời
tái sinh sau một cơn mưa lợp kín
mình dệt lại bờ vai
nhợt nhạt cùng ánh sáng
và da diết sâu khi đêm tối bắt đầu nhói lên từ chân rạ của cánh đồng
không bao giờ mình bỏ rơi tôi
trên từng chuyến xe
đời
 
tôi chìa tay mình sẽ chạm vào bằng những đầu ngón tay trong suốt
tôi cười và nhận lại nụ cười thầm
có lần tôi khóc nước mắt mình chảy câm
tôi ngủ, mình mơ cùng cỏ
gặp giấc trăng xanh sốt lả bên trời đỏ
 
theo gót kẻ đi rong
mình – cái bóng âm thầm ngoài cửa kính
neo vào đời một nhân dạng trong veo
 

BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH VÀ BÀI THƠ “THƯỢNG ĐẾ SINH RA MẶT TRỜI” CỦA CHRISTA REINIG, AI “ĐẠO” AI? – VC+

18 Th1

BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH VÀ BÀI THƠ “THƯỢNG ĐẾ SINH RA MẶT TRỜI” CỦA CHRISTA REINIG, AI “ĐẠO” AI?

 
Đặt hai bài thơ của hai tác giả một Đức một Việt cạnh nhau, sao chúng giống nhau đến thế. Giống nhau về lập tứ, giống nhau về tinh thần, giống nhau về tư tưởng, giống nhau về cả cách hỏi, cách lập ngôn. Nó như là thơ “phỏng dịch” của nhau vậy. Christa Reinig chọn 4 đối tượng để hỏi: Gió, mặt trời, sao, người. Hữu Thỉnh cũng chọn 4 đối tượng để hỏi: Đất, nước, cỏ, người. Ba đối tượng trên có thể thay đổi thế nào cũng được, ví dụ có thể hỏi bò, lợn, chó xem nó sống với nhau thế nào, chắc cũng sẽ có những câu trả lời hay.

AI “ĐẠO” AI?
(Bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh và bài thơ “Thượng đế sinh ra mặt trời” của Christa Reinig)
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng khen bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh: “Đọc Hữu Thỉnh, dễ nhận thấy anh thường chặt ở câu mà lỏng ở bài. Có người bảo anh là “nhà thơ nhiều câu ít bài”, kể cũng có lý của họ… (Nhưng trong tập Thư mùa đông – TN) hiệu quả lập tứ hiện rõ ở các bài “Người ấy”, “Chạm cốc với Xa-in”, và đặc biệt là bài “Hỏi” (…) Đấy là một nghệ thuật cô đúc, tinh vi chặt chẽ đến nỗi, ít mà không thiếu, nhiều mà chẳng thừa. Tác giả hoàn toàn làm chủ những con chữ của mình, mà người đọc vẫn cảm thấy như tự bài thơ nó vốn thế, nó là một khối vẹn toàn, lấp lánh tâm hồn và trí tuệ. Những bài thơ như thế làm mới Hữu Thỉnh…” (Văn chương cảm và luận, Nxb Văn hoá Thông tin 1999). Nhận xét như thế là rất đúng với bài thơ “Hỏi”. Nhưng lúc đó, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo không hề biết là trước Hữu Thỉnh, đã có bài thơ “Thượng đế sinh ra mặt trời” của nữ thi sĩ Đức Christa Reinig [1] (sinh năm 1926), trong một tập thơ của bà đoạt giải thưởng Văn chương Bremen 1964. 

Nguyên bản tiếng Đức: 

Gott schuf die sonne Ich rufe den wind 
wind antworte mir 
ich bin sagt der wind 
bin bei dir 

ich rufe die sonne 
sonne antworte mir 
ich bin sagt die sonne 
bin bei dir 

ich rufe die sterne 
antwortet mir 
wir sind sagen die sterne 
alle bei dir 

ich rufe den menschen 
antworte mir 
ich rufe – es schweigt 
nichts antwortet mir 

(Christa Reinig, Gedichte, Nxb Fischer 1963, tr. 34) 

Bản dịch ra tiếng Việt của miền Nam trước 1975, không rõ tên dịch giả, được lưu truyền như sau: 
Thượng đế tạo ra mặt trời Tôi hỏi gió 
Gió với em thế nào? 
– Gió luôn ở bên em. 

Tôi hỏi mặt trời 
Mặt trời với em thế nào? 
– Mặt trời luôn ở bên em. 

Tôi hỏi các vì sao 
Các vì sao với em thế nào? 
– Các vì sao luôn ở bên em. 

Tôi hỏi con người 
Con người với em thế nào? 
– Con người im lặng không ai trả lời tôi. 

Bài thơ này còn có một bản dịch khác, của Quang Chiến, in trên tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam số 6–2002: 
Thượng đế đã làm ra mặt trời Tôi gọi gió 
Gió hãy trả lời tôi 
Gió nói 
Tôi ở bên em. 

Tôi gọi mặt trời 
Mặt trời hãy trả lời tôi. 
Mặt trời nói 
Tôi ở bên em. 

Tôi gọi các vì sao, 
Xin hãy trả lời tôi 
Các vì sao nói 
Chúng tôi ở bên em. 

Tôi gọi con người, 
Xin hãy trả lời tôi 
Tôi gọi – im lặng 
Không ai trả lời tôi. 

Còn bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh đã in ở nhiều sách, nó còn là bài đọc thêm trong sách giáo khoa phổ thông (chắc các nhà biên soạn sách giáo khoa cũng chưa hề biết bài thơ trên của Christa Reinig). Nguyên văn như sau: 
Hỏi Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào? 
– Chúng tôi tôn cao nhau. 

Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào? 
– Chúng tôi làm đầy nhau. 

Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào? 
– Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời. 

Tôi hỏi người: 
– Người sống với người như thế nào? 
Tôi hỏi người: 
– Người sống với người như thế nào? 
Tôi hỏi người: 
– Người sống với người như thế nào? 

Đặt hai bài thơ của hai tác giả một Đức một Việt cạnh nhau, sao chúng giống nhau đến thế. Giống nhau về lập tứ, giống nhau về tinh thần, giống nhau về tư tưởng, giống nhau về cả cách hỏi, cách lập ngôn. Nó như là thơ “phỏng dịch” của nhau vậy. Christa Reinig chọn 4 đối tượng để hỏi: Gió, mặt trời, sao, người. Hữu Thỉnh cũng chọn 4 đối tượng để hỏi: Đất, nước, cỏ, người. Ba đối tượng trên có thể thay đổi thế nào cũng được, ví dụ có thể hỏi bò, lợn, chó xem nó sống với nhau thế nào, chắc cũng sẽ có những câu trả lời hay. Ví dụ: 
Tôi hỏi bò: Bò sống với bò thế nào? 
– Chúng tôi nhường cỏ cho nhau. Tôi hỏi lợn: Lợn sống với lợn thế nào? 
– Chúng tôi ủn ỉn cùng nhau. 

Tôi hỏi chó: Chó sống với chó thế nào? 
– Chúng tôi sủa cùng nhau. 

Nhưng muốn bài thơ có tứ hay, nhất thiết là phải giữ nguyên đối tượng thứ tư, đấy là con người, thì bài thơ mới trở nên hoàn chỉnh. Với bài thơ “Bò lợn chó” trên đây, chỉ cần ghép thêm vào đoạn kết của Christa Reinig hoặc của Hữu Thỉnh là không chê vào đâu được. Vậy thì nhà thơ cần sáng tác ra bài thơ, hay chỉ cần đi sửa lại đôi chút thơ người khác? Tất nhiên đã là nhà thơ thì phải tự mình làm ra ý, ra tứ, ra lời, tức là làm ra “bài thơ của mình”. Việc cóp nhặt thơ, ăn cắp thơ, đạo thơ… những tưởng chỉ có những người mới tập làm thơ, hay những kẻ hám danh “trẻ người non dạ” mới phạm tội. Vậy mà câu chuyện đạo thơ ấy nó lại rơi đúng vào ông Chủ tịch Hội Nhà văn – người đã từng đoạt một bồ giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn. Liệu người ta có tin được những giải thưởng ấy nữa hay không? Biêt nó là giải thật hay giải dỏm? 

Nghe nói Hữu Thỉnh là nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc ca dao tục ngữ. Nhưng ông đâu chỉ ảnh hưởng ca dao tục ngữ – thơ ca khuyết danh, có cóp cũng chẳng sao. Tỷ như Hữu Thỉnh đã “sửa” hai câu thơ của Tự Đức (vì tưởng là của Khuyết Danh?): “Đập cổ kính ra tìm thấy bóng – Xếp tàn y lại để dành hơi” thành ra thơ của mình: “Mở trăng ra tìm – Trăng còn in bóng – Mở cỏ ra xem – Cỏ còn hơi ấm”. Nhưng cứ như bài thơ “Hỏi” thì ông còn “ảnh hưởng” cả thơ hữu danh của Đức. Nếu mà ông không biết chuyện này, sang làm việc với các nhà thơ Đức, lại đem bài thơ “Hỏi” ra đọc, và người ta dịch lại tiếng Đức bằng chính bài thơ của Christa Reinig, chắc sẽ được vỗ tay đến không về nước được. 

Văn nghệ Việt Nam gần đây kể cũng hơi bị buồn. Chưa xong câu chuyện “tự nguyện” rút khỏi giải thưởng khi bị các nhạc sĩ tố giác “đạo nhạc” của nguyên Tổng thư ký Hội Nhạc, đã đến chuyện “đạo thơ” và tự trao giải thưởng cho mình của ông Chủ tịch Hội Văn. Âu cũng là câu chuyện có vay có trả vậy. Thôi thì người của công chúng cũng “nhân bất thập toàn” mà. Tôi đưa ra cái chuyện “Ai đạo ai” này chẳng qua cũng là muốn trị bệnh cứu người, và muốn những nhà soạn sách giáo khoa cũng nên xem kỹ lại bài thơ “Hỏi” mà thôi. 

THƯỜNG NHÂN© 2006 talawas 
_______________________

[1]Christa Reinig (1926): Trước 1964, Christa Reinig là nhà thơ Cộng hoà Dân chủ Đức (Đông Đức). Tuy nhiên, ngay từ năm 1951, bà đã bị cấm xuất bản tại Đông Đức. Năm 1964, nhân dịp đi Bremen (Tây Đức) nhận giải thưởng cho tập thơ xuất bản năm 1963 – trong đó có bài “Gott schuf die sonne” – bà đã ở lại Cộng hoà Liên bang Đức, không trở về Đông Đức nữa (chú thích của talawas).
 

Thách thức lớn nhất với Trung Quốc đã tới? – Nguyển Vĩnh

18 Th1

Thách thức lớn nhất với Trung Quốc đã tới?

 
Thời điểm thách thức lớn nhất với Trung Quốc đã tới?

 
 
Trước ngày Đại hội 18 đảng cộng sản Trung Quốc họp tôi có anh bạn dịch xong một bài viết mà anh nói là tác giả viết rất công phu. Anh nhắn tới bảo nên đọc. Đó là bài “ Hồi kết cho chế độ chuyên chế dẻo dai của Đảng Cộng sản Trung Quốc?” của tác giả người Trung Quốc Lý Thành. Ông Lý hiện là Giám đốc trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, Viện Brookings, Washington (Mr Cheng Li: cli@brookings.edu). (Đúng như anh bạn giới thiệu, bản dịch bài viết nói trên sau đó đã xuất hiện trên nhiều trang web và blog cá nhân và nhận được sự quan tâm của rất nhiều người Việt Nam).
 
Lại nói bữa ấy khi đọc xong bài viết, cũng chẳng cần tới một trí tưởng phong phú, trong tôi vẫn có thể hình dung ra những nét chủ yếu về hiện tình đất nước Trung Quốc hiện nay ra sao. Đó là, một mặt là phác thảo chung mang tính tổng hợp – tức là nét vẽ ở tầm vĩ mô về một đất nước rộng lớn, dân đông nhất thế giới lại liên tục có những kíp lãnh đạo quốc gia tham vọng cỡ lớn nhất thế giới -, mặt khác là một số khắc họa điển hình khá rõ nét được dẫn ra từ kho tư liệu phong phú và cả cái cách của “người trong cuộc” nữa; tất cả gộp chung lại đã tạo nên bức chân dung khá chân thật và hoàn của xã hội Trung Quốc hiện tại.
 
Vậy nên, một cách tổng quát nhất có thể nói như thế này: Mấy thập kỷ qua đất nước Trung Quốc có phát triển, thậm chí là phát triển vượt bậc và nhanh chóng, nhưng con đường phát triển sắp tới, các bước đi của đất nước này sẽ trải qua đang tự nó nảy sinh rất nhiều vấn đề nghiêm trọng, đúng ra phải nói là hết sức nghiêm trọng mới lột tả hết ý nghĩa của vấn đề.
 
Tự nhiên chúng ta liên tưởng và nhớ lại những vụ như Ô Khảm mới xảy ra gần đây thôi ở khu vực phía Nam Trung Quốc. Đây là vụ việc nông dân nổi dậy mạnh mẽ và kiên gan thách thức nhiều ngày chống lại bọn quan lại nhũng lạm địa phương câu kết với bọn tài phiệt cướp đất đai của họ, nó ở thế buộc báo chí truyền thông nước này phải công khai trước công luận. Vấn đề là không chỉ ở trường hợp Ô Khảm mà với nước Trung Quốc nông dân vẫn chiếm số đông, biết bao nhiêu là các dạng Ô Khảm khác đã và đang bộc lộ?
 
Rồi còn nhiều vụ động trời nhạy cảm khác xảy ra ở nước này, ví như các trường hợp người dân, người tu hành tự thiêu ở Tây Tạng. Kèm theo là sự đàn áp thẳng thừng của quân đội trung ương phái lên. Đây thực sự là biểu hiện rạn vỡ ra của nhiều mối mâu thuẫn gay gắt  giữa người Hán đa số với các chủng tộc thiểu số, cộng với sự khác biệt và bài xích lẫn nhau giữa các tôn giáo ở Trung Quốc đã đến hồi không dàn xếp được nữa! Những điều đó cho thấy tầm mức phức tạp và khó khăn của nhà cầm quyền Trung Quốc đang phải đương đầu lúc này trước sự chống đối của người dân.
 
Với một quốc gia quen với dân chủ (ta hay gọi là chế độ tư sản tư sản), thì sự chống đối chính quyền của người dân được coi/và được hiểu là rất bình thường. Cơ chế của một nhà nước pháp quyền ở những nơi đó họ ứng xử và điều chỉnh tất cả các mối mâu thuẫn đó trên cơ sở pháp luật mà người bị trị cũng như kẻ cai trị buộc phải tuân theo. Rồi ra tiến bộ xã hội có nhích lên hoặc lùi xuống là tùy ở tương quan lực lượng giữa người chống đối và chính quyền. Lịch sử chứng minh là các xã hội như vậy vẫn đứng vững và tiếp tục tiến về phía trước.
 
Nhưng các điều trên xảy ra ở Trung Quốc thì câu chuyện lại là sự “bất bình thường”, thậm chí là không thể hiểu nổi nếu được diễn giải và cắt nghĩa theo các tiêu chí “sự ưu việt” của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tức là những sự việc trái chiều với ý ban lãnh đạo trung ương đã xảy ra ở Trung Quốc vừa qua thật sự là những câu chuyện nghiêm trọng.
 
Trở lại bài luận văn của ông Lý Thành. Mình rất chú ý đến một đoạn văn mà như kết luận của tác giả, đoạn đó nguyên văn như sau: “Nếu muốn lấy lại lòng tin của quần chúng và tránh một cuộc cách mạng hướng từ dưới lên thì ĐCSTQ phải từ bỏ ý tưởng về một “chế độ chuyên quyền dẻo dai,”đồng thời đi theo đường lối chuyển đổi dân chủ một cách có hệ thống với những bước đi dũng cảm về hướng bầu cử dân chủ trong nội bộ đảng, thiết lập sự độc lập của tòa án và dần dần mở cửa cho truyền thông chủ đạo”.
 
Hôm nay, khi Đại hội 18 đã qua đi được vài tháng thì được biết, ngày 25/12 năm ngoái, hơn 70 học giả và luật sư hàng đầu đã trình một bản kiến nghị kêu gọi ban lãnh đạo mới của nước này tiến hành những cải cách chính trị thật sự. Kiến nghị cải cách đó bao gồm “bầu cử tự do, bảo vệ quyền tự do ngôn luận, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân và xây dựng một hệ thống tư pháp độc lập”. Điều đó có nghĩa là một cuộc cải cách hàng loạt các vấn đề hết sức cơ bản liên quan đến thể chế chính trị hiện hành ở Trung Quốc hiện nay.
 
Với một đất nước khổng lồ như Trung Quốc, quyền bính lại trong tay một đảng chính trị đầy biến báo và thủ đoạn như đảng cộng sản Trung Quốc – mà toàn thế giới chứng kiến từ năm 1921 đến nay -, việc phán đoán sự việc xảy ra với nước này nhiều khi là “thày bói xem voi” khi đứng ở nước ngoài nhìn vào. Vì thế ở đây, với những dẫn chứng và nhận định của chính những nhà trí thức nổi tiếng đang sống và làm việc tại Trung Quốc thể hiện trong bản kiến nghị gửi giới lãnh đạo chóp bu nước này chính là những điều thật đángchú ý và quan tâm nhất. Hơn thế nữa trong số này còn có vị giáo sư khả kính, người đã từng giúp và hướng dẫn trực tiếp ông Tập Cận Bình xây dựng và hoàn thành bản luận văn tiến sĩ năm xưa. Tóm lại toàn là “những người trong cuộc” nói về “những chuyện trong cuộc” – những chuyện đã ở mức nước sôi lửa bỏng, hoặc là vào thế dồn vào chân tường đối với đời sống chính trị của nước Trung Quốc ngày nay.
 
Liệu đây có phải là thời điểm của những thách thức lớn nhất đối với Trung Quốc?
 
Để hiểu thêm câu chuyện cải cách chính trị đặt ra với Trung Quốc hiện cấp bách ở mức độ nào, xin mời bà con tham khảo thêm bài viết mới trên website đài BBC mà blog tôi cóp về dưới đây.    
 
Vệ Nhi
 
——
 

Cải cách hay sụp đổ?

Cập nhật: 07:11 GMT – thứ năm, 17 tháng 1, 2013
 
Ông Tập Cận Bình ý thức rõ phải tiến hành cải cách chính trị
Trong bối cảnh cuộc tranh luận sôi nổi về cải cách chính trị ở Trung Quốc vốn vẫn không hề giảm nhiệt sau Đại hội Đảng lần thứ 18, nguy cơ về một cuộc cách mạng đã được nhắc đi nhắc lại để nhấn mạnh việc cần thiết phải thay đổi khẩn cấp.
Hôm 25/12 năm ngoái, hơn 70 học giả và luật sư hàng đầu đã trình một bản kiến nghị kêu gọi ban lãnh đạo mới của nước này tiến hành những cải cách chính trị vừa phải trong khuôn khổ Hiến pháp hiện tại.
Các cải cách được đề xuất bao gồm bầu cử tự do, bảo vệ quyền tự do ngôn luận, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân và xây dựng một hệ thống tư pháp độc lập.

‘Nguy cơ cách mạng’

Bản kiến nghị, do Giáo sư Trương Thiên Phàm ở Khoa Luật Đại học Bắc Kinh chấp bút, cảnh báo rằng Trung Quốc có nguy cơ xảy ra một cuộc cách mạng nếu nước này không thay đổi.
“Nếu những cải cách hệ thống mà xã hội Trung Quốc đang đòi hỏi khẩn cấp tiếp tục bị ghìm nén và tinh trạng tham nhũng và bất bình xã hội tích tụ lại đến mức độ nguy hiểm và bùng nổ thì lúc đó Trung Quốc sẽ một lần nữa để lỡ cơ hội cải cách hòa bình và sẽ chìm sâu trong hỗn loạn của một cuộc cách mạng bạo lực,” bản kiến nghị viết.
Không chỉ những người đã ký tên vào kiến nghị thư mới có những quan ngại này mà nhiều người khác cũng thế.
“Cơ hội (cải cách) không kéo dài lâu. Nhiều lắm là 5 đến 10 năm. Có thể không đến 10 năm.”
Giáo sư Tôn Lập Bình
Một trong số các nhân vật bi quan là Giáo sư Tôn Lập Bình, một trong những nhà xã hội học hàng đầu Trung Quốc và là người hướng dẫn luận án tiến sỹ cho Tập Cận Bình, tổng bí thư của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Phát biểu tại hội thảo Tài Kinh thường niên ở Bắc Kinh hôm 29/11, tức là hai tuần sau khi Đại hội 18 bế mạc, ông Tôn nói rằng cánh cửa cơ hội cải cách của Trung Quốc nhiều nhất ‘chỉ khoảng từ 5 đến 10 năm nữa’.
Giáo sư Tôn dẫn lời Giáo sư Bùi Mẫn Hân tại Trường Claremont McKenna rằng ‘một cuộc cách mạng âm thầm đang diễn ra’ trong đời sống chính trị Trung Quốc khi mà niềm tin của dân chúng vào chính quyền đang suy giảm và năng lực duy trì ổn định của Chính phủ đang suy yếu.
Tuy nhiên ông Tôn cũng nói rằng hiện chưa phải là quá muộn để tiến hành thay đổi.
“Tôi nghĩ, vào lúc này, dân chúng vẫn còn một chút tin tưởng và cảm tình dành cho chính quyền. Nếu một vấn đề nào đó không được giải quyết mà lãnh đạo xin lỗi thì người dân vẫn cảm động đến khóc,” ông nói.
“Tuy nhiên, cơ hội không kéo dài lâu. Nhiều lắm là 5 đến 10 năm. Có thể không đến 10 năm. Có thể trên dưới 5 năm,” ông nói thêm.

‘Cái giá cực đắt’

Người dân Trung Quốc đang đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn
Điều gì sẽ xảy ra nếu uy tín của chính quyền không còn chút gì? Câu trả lời của Giáo sư Tôn là: “Khi đó, chỉ còn có một cách: cai trị bằng bạo lực và đàn áp bất cứ ai chống đối. Xã hội sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt.”
Quan ngại của ông Tôn cũng được ông Nhiệm Chí Cường, một ông trùm bất động sản mạnh miệng đồng thời cũng là một người dùng nổi bật trên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc.
Bình luận về ý kiến ông Vương Bá Mẫn, tổng biên tập tạp chí Tài Kinh, rằng ‘không cải cách còn nguy hiểm hơn là bản thân cải cách’, ông Nhiệm viết trên trang blog của mình rằng ‘Nếu không cải cách thì sẽ không có Đại hội Đảng lần thứ 19’.
Đại hội 19 của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra trong vòng 5 năm nữa.
Viễn cảnh về một cuộc cách mạng bạo lực không chỉ là một chủ đề bình luận của các học giả cũng như trên mạng. Có những dấu hiệu cho thấy ban lãnh đạo mới của Trung Quốc, ở một mức độ nào đó, cũng có cùng quan ngại về khả năng sụp đổ của chế độ.
“Nếu không cải cách thì sẽ không có Đại hội Đảng lần thứ 19.”
Nhiệm Chí Cường, trùm bất động sản
Hồi cuối tháng 12, Tổng bí thư Tập Cận Bình, đã đưa ra một lời cảnh báo bất thường về chu kỳ thịnh rồi suy của các triều đại trong lịch sử Trung Hoa.
Tại một cuộc gặp với lãnh đạo các đảng phái phi cộng sản, ông Tập đã nhắc đến một cuộc gặp hồi năm 1945 giữa cố Chủ tịch Mao Trạch Đông và ông Hoàng Viêm Bồi, lãnh đạo của một đảng thân Cộng sản.
Hoàng hỏi Mao rằng làm sao mà Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể tránh được chu kỳ thịnh suy của các triều đại Trung Quốc và Mao trả lời rằng đảng của ông đã tìm được cứu cánh – đó là dân chủ.
Cuộc đàm đạo này, dù rằng đã hơn sáu thập kỷ trôi qua, ngày ngay vẫn giữ nguyên giá trị như là một động lực và lời cảnh báo đối với Đảng Cộng sản, ông Tập được dẫn lời nói.
Cũng giống như câu nói ‘dân chủ’ của Mao không nên được hiểu theo nghĩa đen, sự đề cập mơ hồ của ông Tập về dân chủ như là đường thoát của Đảng có thể được diễn dịch theo nhiều cách khác nhau.

Sách của de Tocqueville

Liệu Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể tổ chức Đại hội 19?
Điều mỉa mai là sự quan tâm của giới lãnh đạo Trung Quốc về một cuốn sách cổ của người Pháp có lẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về quan điểm của ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc về tương lai của Đảng.
Hôm 30/11, Vương Kỳ Sơn, tân chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương Đảng, đã kêu gọi các quan chức và học giả hãy đọc tác phẩm kinh điển của Alexis de Tocqueville về Cách mạng Pháp, Chế độ cũ và Cách mạng.
Các bản tin của truyền thông nhà nước Trung Quốc không cho biết ông Vương có nói rõ vì sao ông yêu cầu đọc cuốn sách này hay không, nhưng bản tóm tắt ngắn tác phẩm của Tocqueville được đăng tải trên báo chí chính thống giúp chúng ta hiểu được phần nào.
Theo đó, lập luận chính yếu của Tocqueville là: ‘chế độ phong kiến trước kia sụp đổ là do suy đồi và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng.’
“Chế độ phong kiến trước kia sụp đổ là do suy đồi và mất lòng dân, nhưng những cuộc bạo loạn xã hội không đem lại kết quả mà những nhà cách mạng mong muốn. Cả những kẻ thống trị và quần chúng cuối cùng đều bị ngọn lửa phẫn nộ nuốt chửng.”
Alexis de Tocqueville
Với việc kêu gọi đọc cuốn sách này, rõ ràng ông Vương muốn cảnh báo các quan chức trong Đảng rằng tham nhũng và sự xơ cứng có thể làm cho một chế độ hùng mạnh sụp đổ trong chốc lát.
Đồng thời, lời cảnh báo của ông Vương dường như cũng nhắm vào những trí thức có quan điểm tự do và những người muốn làm cách mạng vốn đòi hòi nhanh chóng dân chủ hóa xã hội. Ông Vương cảnh báo họ về những nguy cơ mà thay đổi cách mạng sẽ đem lại, chẳng hạn như hỗn loạn, đổ máu và những hậu quả không lường trước được.
Bản thân ông Vương và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác dường như nhận ra nhu cầu phải thay đổi. Tuy nhiên đối với họ, điều quan trọng cũng không kém là phải kiểm soát những tiếng nói kêu gọi thay đổi vốn ngày càng tăng và không cho những tiếng nói đó đi quá xa.
Chính vì vậy mà chẳng có gì ngạc nhiên khi bản kiến nghị cải cách của các học giả, vốn chỉ dám dừng ở mức cải cách chính trị vừa phải, bị dỡ bỏ chẳng lâu sau khi nó được đưa lên mạng.

Nguồn: http://vectroproxy.com/vp.php?u=H%2BvnGnUQj52XLvxwP4jKT3w5PKf39sumW4M1B%2FHU35te83z1waNycaHAXXoGalK79IinABe5QyNg%2BtL6nCKZ%2BZfOIPnpvRDF&b=13

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp – BS

18 Th1

Blog Hoàng Xuân Phú

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

Hoàng Xuân Phú

Trong thời gian qua, nhiều người mong muốn sửa đổi Hiến pháp 1992, để bỏ hoặc thay đổi một số quy định, ví dụ như quy định về quyền lãnh đạo (được hiểu là đương nhiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội(Điều 4), và quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý (Điều 17–18). Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch. Ngược lại, tôi thuộc số những người lo rằng việc sửa đổi Hiến pháp có thể bị lợi dụng để hạn chế hơn nữa quyền con người. Và bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã cho thấy nỗi lo đó không phải là vô cớ. Thậm chí, không ngờ họ lại có thể đi xa như vậy…

Trong Hiến pháp 1992, thuật ngữ “quyền con người” chỉ được nhắc một lần, tại

Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”

Tức là “quyền con người” được đồng nghĩa với “quyền công dân”. Vậy thì những người đang tạm thời bị tước “quyền công dân” sẽ không còn được hưởng “quyền con người”. Hơn nữa, sau khi định nghĩa “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 49), thì “quyền con người” sẽ không còn được áp dụng cho những người đang tồn tại trên đất Việt Nam, nhưng không hoặc chưa “có quốc tịch Việt Nam”. Điều này cho thấy cách hiểu về “quyền con người” trong Hiến pháp 1992 phiến diện như thế nào.

Một thay đổi dễ nhận thấy trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là “quyền con người” được tách ra, được nhắc tới 8 lần, luôn đi cạnh và được đặt trước “quyền công dân”. Ở chế độ mà giới lãnh đạo vốn rất khó chịu khi nghe nhắc đến “nhân quyền” (tức là “quyền con người”), thì đây là một bước tiến, muộn mằn nhưng có vẫn hơn không.

Một thay đổi nữa, là “quyền công dân” cùng “quyền con người” được đưa từ Chương V (trong Hiến pháp 1992) lên Chương II (trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Ở Cộng hòa Liên bang Đức, “quyền con người” được đặt lên vị trí hàng đầu, trong Chương I của Hiến pháp. Ở CHXHCN Việt Nam thì Chương I của Hiến pháp được dành cho “Chế độ chính trị”.“Chính trị” là một cái gì đó rất thiêng liêng, mà cũng rất bí hiểm, và càng bí hiểm thì càng… hữu dụng. Khi muốn đùn đẩy công việc, thì tuyên bố: “Cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị.” Khi muốn làm liều, thì khẳng định: “Vớiquyết tâm chính trị, chắc chắn sẽ làm được.” Còn khi muốn lẩn tránh trách nhiệm của bản thân, thì chỉ cần tỏ chút áy náy và “nhận trách nhiệm chính trị.

Hai thay đổi kể trên là theo hướng tiến bộ, đáng được ghi nhận. Song như vậy thì mới thể hiện rằng quyền con người đã được chú ý hơn. Mà chỉ chú ý thì chưa đủ và cũng chưa chắc đã tốt. Chẳng hạn, nếu bạn được công an chú ý, thì điều đó không hẳn là dấu hiệu hay. Để đánh giá chính xác các thay đổi về quyền con người và quyền công dân, thì phải xem xét các quy định cụ thể.

Bài này không nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mà chỉ điểm qua một số ví dụ đáng lưu ý về sự thay đổi tiêu cực hay có thể là tiêu cực, liên quan tới quyền con người và quyền công dân. Hy vọng rằng những nhận xét dưới đây sẽ có ích cho những người đang muốn tham gia góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Quyền hư quyền ảo

Trong “Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, xuất hiện một quyền mới (so với Hiến pháp 1992) là:

Điều 21: Mọi người có quyền sống.”

Nghĩ một cách dân dã, thì thấy điều này có vẻ ngồ ngộ. “Quyền sống” còn hiển nhiên hơn cả “quyền ăn ngủ”, bởi muốn“ăn ngủ” thì tất nhiên phải “sống”. Vậy mà nếu hiến định rằng “Mọi người có quyền ăn ngủ” thì ai nấy đã thấy ngây ngô.

Thực ra, câu “Mọi người có quyền sống cũng xuất hiện trong Hiến pháp của một số nước, chẳng hạn tại Điều 2 củaHiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Jeder hat das Recht auf Leben). Điều đó chứa đựng một nội dung rất quan trọng, mà hệ quả trực tiếp của nó là: Không thể có án tử hình, vì tử hình một người là xâm phạm “quyền sống” của người đó.

Chấp nhận án tử hình hay không là một vấn đề nan giải, vẫn còn đang được tranh luận ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều nước vẫn duy trì án tử hình, như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Liệu có thật là nhà cầm quyền Việt Nam muốn hủy bỏ án tử hình hay không? Nếu đúng là họ muốn hủy bỏ án tử hình, thì đây là một thay đổi rất quan trọng. Còn ngược lại, nếu họ vẫn định tiếp tục duy trì án tử hình, thì Điều 21 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa thừa, vừa giả dối, và chỉ chất to thêm đống quyền hữu danh vô thực trong Hiến pháp mà thôi.

Một quyền mới khác trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp là:

Điều 35: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.”

Điều này được sửa đổi từ Điều 67 của Hiến pháp 1992, quy định rằng:

“Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.”

“Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.”

“Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.”

Nghĩa là:

–       Chỉ đề cập đến một số đối tượng đặc biệt, đó là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, người già, người tàn tật và trẻ mồ côi;

–       Chỉ hứa hẹn một cách chung chung, là “được hưởng các chính sách ưu đãi”, “được tạo điều kiện”, “được khen thưởng, chăm sóc”, “được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”;

–       Chỉ đề cập đến mấy nội dung cụ thể, là “phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định”, và những thứ đó chỉ dành riêng cho đối tượng thương binh.

Điều 35 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra những bước đại nhảy vọt so với Điều 67 của Hiến pháp 1992, đó là:

–       Áp dụng cho mọi công dân;

–       Không chỉ là hứa hẹn chung chung, mà nâng lên thành “quyền được bảo đảm”;

–       Nội dung “được bảo đảm” không chỉ dừng lại ở mấy nội dung cụ thể, mà bao trùm lên toàn bộ “an sinh xã hội”.

Đây là một ý tưởng cách mạng vĩ đại, nếu họ thực tâm muốn triển khai. Tiếc rằng, nếu thực tâm thì ngây ngô, và nếu không ngây ngô thì không thể thực tâm.

“Quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi. Thời gian qua, mới chỉ tập trung cho một số đối tượng rất chọn lọc và chỉ dừng lại ở mấy chế độ phúc lợi rất khiêm tốn, thế mà còn chưa làm tốt nổi. Vậy thì sao có thể bảo đảm an sinh xã hội cho mọi công dân? Lưu ý rằng chế độ “an sinh xã hội” bao gồm cả chăm sóc về y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Lấy đâu ra tiền của để thực hiện “ý tưởng cách mạng vĩ đại” ấy?

“Công dân có quyền được bảo đảm”, nhưng ai, cơ quan hay tổ chức nào phải đứng ra “bảo đảm”? Phải chăng cuối cùng họ sẽ phán rằng Dân phải “tự bảo đảm”?

Trong thời buổi tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, thì những chính sách viển vông không chỉ vô ích, mà còn rất tai hại, vì giới cầm quyền sẽ “mượn gió bẻ măng”. Điều này đang diễn ra dưới nhiều danh nghĩa, ví dụ như việc xâynhà ở xịn để bán cho người nghèo ở giữa đô thị đắt đỏ. Khi đã đẻ ra một chính sách phúc lợi xã hội nào đó thì họ có cớ để vung tiền từ ngân sách, tức là tiền của Dân. Tất nhiên là không đủ để “ngập tràn thiên hạ”. Lúc đó, “nước có quyền chảy vào chỗ trũng”, nghĩa là ưu tiên cho “người thân” (theo nghĩa rộng, bao gồm cả những người quen thân vì tiền), và cũng không quên phần mình. Đối với các quan tham, “từ thiện” không còn là mục tiêu hành động, mà là phương tiện để vơ vét cho bản thân.

Hai ví dụ kể trên cho thấy rằng: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể đem lại cho người dân một số quyền mới nào đó, nhưng có khi lại là những quyền hư ảo, trong khi những quyền bị cắt giảm thì lại rất thật, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo. Điều đáng buồn là: Xu hướng giả dối vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong việc xây dựng Hiến pháp.

Quyền thoi quyền thóp

Trong Điều 71 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:

“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.” (Điều 71, Đoạn 2)

Điều 71 được sửa thành Điều 22 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng toàn bộ quy định được trích ở trên (nhằm hạn chế việc bắt người tùy tiện và yêu cầu bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật) đã bị xóa. Trong thời gian qua, Hiến pháp đã quy định rõ ràng như vậy mà công an vẫn bắt người và giam giữ rất tùy tiện. Rồi đây, khi quy định ấy đã bị gạch khỏi Hiến pháp, thì số phận người dân sẽ ra sao?

Trong Điều 74 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:

“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.”(Điều 74, Đoạn 2)

Điều 74 được sửa thành Điều 31 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng quy định vừa được trích (nhằm ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo) không còn nữa. Vốn dĩ, khiếu nại và tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm bất tận. Đến đại công thần của chế độ gửi kiến nghị cũng chẳng được hồi âm. Vậy thì sau này, khi ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo bị xóa khỏi Hiến pháp, Dân sẽ phải chờ đợi bao lâu?

Đoạn thứ nhất trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:

“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.”

Khi điều khoản trên hóa thân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, 5 chữ và phải chịu hình phạt” bị loại bỏ. Thành thử chỉ còn sót lại như sau:

“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” (Điều 32, Khoản 1)

Hệ quả kéo theo là: “Khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” thì “không ai bị coi là có tội”, song vẫn có thể “phải chịu hình phạt”. Ở các nước văn minh thì hiển nhiên không ai “phải chịu hình phạt” khi chưa “bị coi là có tội”. Nhưng ở xứ sở bất an, nơi khi được công an “mời vào” đồn thì vẫn còn mạnh khỏe, mà lúc “tiễn ra” có thể đã liêu xiêu, thậm chí có trường hợp trở thành xác không hồn, thì việc triệt tiêu 5 chữ và phải chịu hình phạt” sẽ giúp cho công an nhân dân thêm vô tư “luyện võ” với Nhân dân.

Đoạn thứ hai trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:

“Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”

Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, quy định này được sửa thành:

“Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.” (Điều 32, Khoản 4)

Nghĩa là: Từ “giam giữ” được thay bằng “tạm giữ, tạm giam”. Hậu quả là: Khi đã kết án tù giam và chuyển từ trạng thái“tạm giữ, tạm giam” sang hình thức “giam giữ” để chấp hành án, thì người tù không còn được bảo vệ và người coi tùlàm trái pháp luật không còn bị xử lý theo quy định của điều khoản sửa đổi.

Ba nội dung bị loại bỏ được đề cập ở trên đều có chung một “tội” là: Chúng hay để Dân níu bám, nhằm tố cáo chính quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Có lẽ vì vậy nên phải “kết liễu” chúng, đẩy chúng ra khỏi Hiến pháp, để… giữ gìn uy tín cho chính quyền. Ngoài ra, hai quy định sau đây cũng đã bị loại bỏ khỏi dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Điều 64 về hôn nhân và gia đình trong Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 39 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại bỏ đi đoạn quy định về trách nhiệm nuôi dạy con của cha mẹ và trách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cháu. Điều đó cũng có nghĩa là bỏ đi quyền của con cái được cha mẹ nuôi dạy và quyền của ông bà, cha mẹ được con cháu chăm sóc.

Điều 59 của Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 42 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng bỏ đi quy định:

“Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.”

Và nó được thay bằng một quy định chung chung trong Điều 66:

“Nhà nước… quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý…”

Vậy là, theo dự thảo sửa đổi Hiến phápbậc tiểu học không còn hiển nhiên được miễn học phí.

Quyền treo trên lửa

Loài người từ khi sinh ra đã tồn tại và phát triển nhờ biết lợi dụng. Ban đầu thì sống nhờ săn bắt và hái lượm, tức là lợi dụng rừng và biển. Rồi tiến hành trồng cấy, tức là lợi dụng đất đai và ánh sáng mặt trời. Từ vận chuyển hàng hóa trên sông đến ngăn đập tạo ra thủy điện đều là lợi dụng sức nước. Từ căng buồm ra khơi đến tạo ra phong điện đều là lợi dụng sức gió

Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thời cơ, khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại và chính quyền thuộc địa Pháp chưa kịp hồi sinh, để cướp chính quyền. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, đảng đã lợi dụng sự cưu mang, giúp đỡ và che chở của những người giàu có, để rồi khi chiếm được chính quyền lại đem bao ân nhân ra đấu tố… trong cải cách ruộng đất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam cũng đã lợi dụng tính mạng và của cải của Nhân dân cùng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để giành thắng lợi.

“Lợi dụng” thuộc vào bản năng sống và hành động của con người. Vậy thì việc “lợi dụng” có gì sai? Lợi dụng điều kiện thuận lợi không thể bị coi là xấu, mà không lợi dụng điều kiện thuận lợi cũng chẳng phải là điều đáng để ngợi ca.

Trong các nhà nước pháp quyền, hoạt động của toàn xã hội được điều tiết bằng pháp luật. Xã hội càng văn minh, càng đa dạng thì hệ thống pháp luật càng cồng kềnh và phức tạp. Dù cố gắng đến đâu đi nữa, thì vẫn luôn tồn tại những kẽ hở pháp lý và những quy định chồng chéo. Khi có kẽ hở thì công dân có quyền lách qua mà không hề vi phạm pháp luật. Khi tồn tại nhiều điều khoản chồng chéo, với những quy định khác nhau có thể áp dụng cho cùng một vụ việc, thì đương sự có quyền áp dụng điều khoản có lợi nhất cho mình. Vì vậy, ở một số nước phát triển cao vẫn công khai bày bán những cuốn sách về các mẹo tính thuế để giảm thuế. Những hành động như vậy không phải là tội lỗi, mà hoàn toàn hợp pháp.

Ấy vậy mà ở CHXHCN Việt Nam lại có một loại tội gọi là “tội lợi dụng…”. Kỳ khôi nhất là “tội lợi dụng sơ hở của pháp luật…”. Nếu cần xử lý, thì trước hết phải xử lý những người đã tiêu tốn tiền của Dân mà tạo ra sơ hở pháp luật, chứ sao lại dồn hết trách nhiệm lên đầu những người lợi dụng sơ hở đó? Kiểu quy tội này cũng “hợp lý” như việc quan phụ mẫu mặc quần thủng… lên công đường, rồi lại phạt dân đen vì tội nhìn vào chỗ thủng.

Hiến pháp 1992 có hai điều khoản “cấm lợi dụng”:

“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.” (Điều 70, Đoạn 3)

“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 74, Đoạn 4)

Điều gì đáng nói ở đây? Như đã phân tích ở trên, riêng hành động “lợi dụng” thì không thể coi là tội, và vì vậy không thểcấm. Để mô tả những thứ cần cấm và có thể cấm trong hai điều khoản kể trên, thì chỉ cần viết gọn lại như sau là đã quá đủ:

“Không ai được… làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.”

“Nghiêm cấm việc… vu khống, vu cáo làm hại người khác.”

Nghĩa là bỏ đi hai đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo. Khi vi phạm các điều cấm vừa viết, thì dù “lợi dụng…” hay không cũng chẳng làm cho tội nặng lên hay nhẹ đi. Tức là, xét về mặt lô-gíc thuần túy thì các đoạn “lợi dụng…” là hoàn toàn thừa.

Vậy thì, tại sao nhà cầm quyền vẫn cố tình cài thêm các đoạn “lợi dụng…” vào các điều khoản ấy?

Phải chăng, đó là thủ đoạn pháp lý, nhằm hạn chế và cản trở những quyền con người và quyền công dân được gán sau từ “lợi dụng”?

Chắc hẳn, mục tiêu mà họ nhắm tới là ngăn cản việc thực thi các quyền đó, chứ không phải những cái gọi là vi phạm, mà họ bám vào để kết tội. Từ “lợi dụng” bị lạm dụng để bắc cầu, nhằm kết nối các quyền con người với các tội, để kiếm cớ phủ định các quyền chính đáng, rồi trấn áp và trừng trị những người thực thi các quyền đó.

Ví dụ: Nếu ai đó thực thi “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (được quy định tại đoạn thứ nhất trong Điều 70 của Hiến pháp 1992), mà nhà cầm quyền không ưng, thì họ sẽ gán cho cái nhãn làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Rồi dùng từ “lợi dụng” để bắc cầu tín ngưỡng, tôn giáo” với cái vi phạm được ngụy tạo đó. Kết quả thu được là tội lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Vậy là có thể vận dụng đoạn thứ ba trong Điều 70 của Hiến pháp 1992 và hệ quả của nó trong Bộ luật Hình sự (Điều 258) để trừng trị.

Điều 70 và Điều 74 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi thành Điều 25 và Điều 31 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó vẫn duy trì hai khoản “cấm lợi dụng”:

“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.” (Điều 25, Khoản 3)

“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 31, Khoản 3)

Đi xa hơn nữa, họ còn đưa thêm một điều khoản “cấm lợi dụng” hoàn toàn mới vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:

“Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.” (Điều 16, Khoản 2)

Với bảo bối vạn năng này, tất cả các quyền con người và quyền công dân đều có thể bị cản trở. Cái nhãn xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” thì quá bao la và có thể dễ dàng ngụy tạo. Trên thực tế, họ cũng chẳng cần phải mất công tìm kiếm hay bày đặt chứng cớ, mà chỉ cần nhắm mắt đưa ra kết luận mang tính quy chụp.

Những ai đã từng trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối hành động gây hấn của “bạn 16 chữ vàng”, diễn ra tại Hà Nội vào hai mùa hè 2011 và 2012, thì đều có thể nhận thấy rằng: Những người tham gia biểu tình rất ôn hòa và luôn chú ý giữ gìn trật tự công cộng, để công an không có cớ trấn áp. Nếu có hỗn loạn thì lại do chính những người mang danh lực lượng giữ gìn an ninh và trật tự cố ý gây ra. Thế nhưng, nhà cầm quyền vẫn vu cho những người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng để đàn áp. Đó là một trong những thủ đoạn đã được áp dụng trên thực tế để cản trở và trấn áp công dân thực thi quyền tự do biểu tình.

Chưa hài lòng với cái lưới tà ma bao trùm kể trên, họ còn bổ sung một điều khoản “cấm lợi dụng” sau đây vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:

“Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan.” (Điều 64, Khoản 4)

Với quy định này, nhà cầm quyền có thêm phương tiện pháp lý để cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí

Thủ đoạn lợi dụng… từ “lợi dụng” để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi là như vậy.

Quyền nằm dưới dao

Hiến pháp 1992 có một điều rất đặc biệt, đó là:

Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Đặc biệt ở chỗ nào? Nó quy định 6 quyền cơ bản của công dân, nhưng… trên thực tế thì tất cả 6 quyền ấy đều bị nhà cầm quyền cản trở.

Ví dụ điển hình là quyền biểu tình. Với ràng buộc “theo quy định của pháp luật”, nhà cầm quyền có thể thông qua Quốc hội để ban hành luật, nhằm hạn chế quyền biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Nhưng hàng chục năm trôi qua, vẫn không xuất hiện một luật nào liên quan đến biểu tình. Nhiều người, kể cả giới cầm quyền, nhầm tưởng rằng: Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân chưa được phép biểu tình. Nhưng bài “Quyền biểu tình của công dân” đã chỉ ra rằng: Theo Hiến pháp hiện hành thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình. Nếu đã có luật về biểu tình thì công dân phải tuân theo ràng buộc của luật đó. Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân càng có quyền biểu tình, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật, tức là càng tự do.

Điều 4 của Hiến pháp 1992 quy định rằng:

“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”

Căn cứ vào điều khoản này thì có thể nói rằng: Việc công dân biểu tình khi chưa có luật về biểu tình còn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của đảng. Tại sao lạichính đáng và hợp pháp hơn? Bởì vì “Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn Nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm.” Nhà nước được hiểu là “một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình”, nên ràng buộc kể trên đối với Nhà nước cũng có hiệu lực cho ĐCSVN. Hơn nữa, như ông Nguyễn Trung đã nhận định, Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị.”  Rõ ràng, Hiến pháp hiện hành không hề đề cập đến khuôn khổ hoạt động của đảng và cũng chưa có luật nào quy định về khuôn khổ đó, cho nên đảng cũng chưa có được những điều pháp luật cho phép” để mà “được làm”, để mà “hoạt động”. Trong khi đó, quyền biểu tình của công dân được minh định trong Hiến pháp hiện hành và chưa có luật nào hạn chế quyền ấy, nên hiển nhiên là công dân có quyền biểu tình không hạn chế.

Để ngăn cản và đàn áp biểu tình, chính quyền thường viện dẫn Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA (hướng dẫn thi hành nghị định đó). Nhưng bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng:

–       Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA vi phạm Hiến pháp và pháp luật;

–       Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân;

–       Dù bỏ qua hai khía cạnh vừa kể, thì lời văn của hai văn bản ấy cũng không cho phép áp dụng chúng để cản trở biểu tình yêu nước, như những cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2011 và 2012.

Hẳn nhà cầm quyền đã nhận ra rằng: Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cho phép họ cản trở quyền biểu tình của công dân. Ban hành luật về biểu tình thì họ hoàn toàn không muốn, vì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa thì vẫn sẽ “lọt lưới” một số cuộc biểu tình. Vậy phải làm thế nào bây giờ?

Lợi dụng thời cơ sửa đổi Hiến pháp, họ đã sửa Điều 69 của Hiến pháp 1992 như sau:

Điều 26: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Điều gì thay đổi ở đây? Họ đã xóa hai từ “có quyền” trước đoạn được thông tin” và trước đoạn ”hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, họ dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ được thông tin”) thay cho hai từ “có quyền”ấy.  Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn “có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước “quyền”và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành quy định của pháp luật”, thì Dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.

Đây là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm tước đoạt quyền được thông tin và các quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.

Một điều khoản khác rất đáng lưu ý trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là:

“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.” (Điều 15, Khoản 2)

Điều khoản này là một sáng tạo pháp lý mới mẻ của các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam. Chữ “chỉ” tạo ra ảo tưởng rằng: Điều khoản này nhằm hạn chế những hoàn cảnh mà quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, tức làđể bảo vệ các quyền đó. Thế nhưng hậu quả của nó thì ngược lại.

Vốn dĩ, việc “quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn” không hề được đề cập đến trong Hiến pháp 1992. Nay điều này được nêu đích danh trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhằm hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạnquyền con người và quyền công dân.

Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân, bất cứ lúc nào mà họ muốn. Vì vậy, việc nhét chữ “chỉ” vào điều khoản ấychẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà chỉ ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa ấy mà thôi.

Điều khoản kể trên quy định rằng ”quyền con người, quyền công dân… có thể bị giới hạn”, nhưng lại không viết rõ ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.

Như vậy, Điều 15, Khoản 2 cũng là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm thu hẹp quyền con người và quyền công dân.

Hai ví dụ kể trên nhắc nhở mọi người phải hết sức cảnh giác với những bẫy pháp lý đã được cài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Giữ chút quyền Dân

Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã đề nghị một quan điểm, một nguyên tắc, đó là:

Thành tựu của Hiến pháp 1992 cần được bảo vệ và tiếp tục phát huy, đặc biệt nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy các quyền tự do cơ bản của nhân dân trên mọi mặt. Do đó, chỉ nên sửa đổi Hiến pháp 1992 nếu phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ, chú trọng đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế, nhờ thế tạo động lực mạnh mẽ hơn cho giai đoạn cách mạng mới. Nếu không làm được như vậy thì không nên sửa lặt vặt.”

Tiếc rằng, đề nghị hợp lý và sáng suốt này chưa được phản ảnh đúng mức trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.Không phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ”, như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, mà ngược lại,dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cắt giảm nghiêm trọng quyền con người và quyền công dân.

Dân không quan tâm nhiều đến việc ghế lãnh đạo được hoán vị ra sao và quyền lực được chia lại thế nào. Họ đủ thông minh để hiểu rằng: Những tiến bộ được tung hô, như việc bỏ hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, có thể là một bước tiến trong tư duy của giới lãnh đạo và giới lý luận, nhưng sẽ chẳng tác động mấy đến thực tế cuộc sống. Khi không còn được gán cho vai trò chủ đạo, thì thành phần kinh tế nhà nước sẽ được giũ bớt trách nhiệm đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng lại vẫn tiếp tục được hưởng mọi sự o bế và ưu tiên. Đó là lãnh địa lý tưởng cho tham nhũng, là đại lộ thông thoáng để tuồn tài sản toàn dân vào túi các quan tham.

Dân quan tâm nhất là các quyền lợi thiết thân, trong đó có quyền sở hữu đất đai.

Như đã trao đổi trong bài “Hai tử huyệt của chế độ”, quy định trong Hiến pháp 1992 về quyền lãnh đạo mặc nhiên của ĐCSVN (Điều 4) và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17) là hai vấn đề tồn tại then chốt. Chúng phải được khắc phục sớm, vì Dân, vì Nước và cũng vì chính ĐCSVN. Thế nhưng, hai quy định này vẫn được dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo lưu, trong khi quyền con người và quyền công dân lại bị thu hẹp đáng kể.

Đối với Dân, Hiến pháp kiểu này có thể trở thành bãi mìn pháp lý. Nếu dự thảo như vậy được thông qua, thì Hiến pháp có thể không còn là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Nhà nước và xã hội, mà trở thành cái gông cùm Nhân dân và Dân tộc.

Chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện cái tâm và tầm của các tác giả, không chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia soạn thảo, mà kể cả những vị ngồi trên cao để chỉ đạo và áp đặt. Nếu chỉ hạn chế về tầm, tức là do trình độ hay do sơ suất, thì Nhân dân có thể góp ý để bù lại. Nhưng những ví dụ được đề cập ở trên cho ta ấn tượng là: Những thay đổi theo hướng tiêu cực trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tiến hành một cách có chủ ý và được tính toán kỹ lưỡng. Thậm chí, họ đã vận dụng cả những thủ thuật và thủ đoạn pháp lý tinh vi để thực hiện và che đậy mục đích đó. Khitâm đã như vậy, thì liệu việc góp ý của Nhân dân có đủ để lay chuyển được quyết tâm sắt đá của họ hay không?Thật khó mà tin rằng họ có thể sữa chữa bản dự thảo để đưa ra một Hiến pháp thực sự tử tế với Dân.

Vì vậy, để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, thì nên tạm dừng việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Hãy đợi đến một thời điểm thuận lợi hơn, khi tầm đã đủ cao và tâm đã đủ ổn, rồi hãy thay đổi Hiến pháp một cách căn bản, theo chiều hướng tiến bộ, để có được một bản Hiến pháp thể hiện ý nguyện của Dân, do Dân và vì Dân.

Hà Nội, 15/01/2013

Nguồn: Blog Hoàng Xuân Phú

Cùng tác giả:

–       Hai tử huyệt của chế độ

–       Viễn tưởng từ chức

–       Bài học tồn vong từ thảm họa

–       Nhận thức mới: Lấy là bỏ, bỏ là lấy

–       Lực cản Nhà nước pháp quyền

–       Trải bốn nghìn năm còn chậm lớn

–       Chiến binh cầm bút

–       Hãy để lương tâm lên tiếng một lần!

–       Một số khía cạnh hình sự của vụ án Tiên Lãng – Hải Phòng

–       Nhân vụ Tiên Lãng bàn về công vụ

–       Quyền biểu tình của công dân

–       Phiêu lưu điện hạt nhân

–       Về huyền thoại điện hạt nhân giá rẻ

–       Mạn bàn về an toàn điện hạt nhân

Con số ‘cực khủng’ trong vụ đánh bạc nghìn tỷ

18 Th1

Con số ‘cực khủng’ trong vụ đánh bạc nghìn tỷ

 – Công an làm rõ, trong vụ đánh bạc khủng này, có tài khoản bên trong chứa đến 10.000 tỷ đồng.
>> Bộ Công an phá đường dây đánh bạc nghìn tỷ

Những con số “gây choáng”

Theo tài liệu điều tra ban đầu, trong số các tài khoản của các đối tượng liên quan, có tài khoản bên trong chứa đến 10.000 tỷ đồng.

Có tài khoản có lần chuyển khoản số tiền đánh bạc lên tới 100 tỷ đồng.

Những con số “gây choáng” khiến người ta tò mò về những “con bạc” lắm tiền nhiều của.

Theo cơ quan điều tra, trong số những người mới bị bắt giữ, có Nguyễn Anh Thái (SN 1989, ở Đống Đa, Hà Nội) bị điều tra về hành vi đánh bạc.

 

Một vụ bắt bạc mới đây của lực lượng công an

 

Ngày 17/1, liên quan đến đường dây đánh bạc nghìn tỷ, Cục C45 – Bộ Công an đã bắt thêm Cù Thị Thanh Hải (SN 1973, ở ngõ 17, Hoàng Ngọc Phách, Ba Đình, Hà Nội), nữ Phó giám đốc một công ty chuyên về quảng cáo.

Trước đó, vào ngày 16/1, cơ quan công an đã bắt giữ em trai của Hải là Cù Huy Giáp (SN 1981, ở Hai Bà Trưng, Hà Nội). Trong đường dây đánh bạc này, hai chị em Hải, Giáp được coi là những “mắt xích” quan trọng ở “đầu cầu” Hà Nội.

Trước đó, cơ quan công an đã bắt giữ các đối tượng: Nguyễn Lê Sang (SN 1976, ở quận 9, thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Lê Giang (SN 1963, ở quận Bình Thạnh, TP. HCM), Lê Văn Hải (SN 1988, ở quận 1, TP. HCM), Phan Thị Kim Loan (ở quận 7, TP. HCM), Nguyễn Thái Ngân ( SN 1991, ở Bình Thạnh, TP. HCM), Nguyễn Anh Thái (SN 1989, ở Đống Đa, Hà Nội).

Trong số các đối tượng kể trên, Ngân là con của Giang. Còn Sang (làm ở một ngân hàng) đã từng bị Công an quận Đống Đa, Hà Nội triệu tập đến cơ quan công an để làm rõ về hành vi đánh bạc.

Sang được xác định là đối tượng chính ở “đầu cầu” TP.HCM, các đối tượng khác là kẻ giúp sức.

Sang đã mở tài khoản để các con bạc mỗi khi thắng, thua đều chuyển tiền vào tài khoản của Sang.

Bắt giữ các đối tượng, cơ quan công an thu giữ 565 triệu đồng, 1 ô tô 7 chỗ, 8 máy tính xách tay, 21 điện thoại, 32 thẻ ATM của nhiều ngân hàng khác nhau và 1 số tài liệu khác.

M88 hoạt động như thế nào?

Sau thời gian trinh sát, Cục Cảnh sát chống tội phạm công nghệ cao – C50 (Bộ Công an) phát hiện một đường dây đánh bạc cực lớn.

Ngay sau đó, chuyên án 511 C, được xác lập, Cục C45 phối hợp với C50 tham gia đánh án.

C45 đã cử tổ công tác điều tra tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Bà Rịa Vũng Tàu, An Giang, Tây Ninh xác minh, thu thập được các tài liệu, chứng cứ về trang web đánh bạc M88.

Theo cơ quan điều tra, M88 do 1 đối tượng ở Philipine lập, sau đó quảng bá vào Việt Nam vào khoảng đầu năm 2011.

Trên trang này có phần mềm hướng dẫn đầy đủ các thao tác để người truy cập có thể tự lập nick name tài khoản đánh bạc.

Đây là trang web đánh bạc theo kiểu thế chấp, người muốn đánh bạc sau khi đã lập nick đánh bạc phải đến ngân hàng mở tài khoản và nạp tiền, sau đó chuyển tiền vào tài khoản của chủ tổ chức trên trang web, hoặc có số điện thoại và làm theo hướng dẫn vì trang web có cài phần mềm tự động.

Số tiền nạp vào tài khoản sẽ quy ra điểm (tiền ảo) để các con bạc đánh bạc trực tiếp với chủ trang web M88 thông qua mạng internet.

Các website đánh bạc trước đây đưa vào Việt Nam gồm 2 phần: phần quản trị (quản lý, theo dõi) dùng cho các đối tượng, tổ chức đánh bạc tổ chức, thông qua trang quản trị điều hành hoạt động đánh bạc trên mạng, theo thứ tự cấp trên đánh bạc trực tiếp với cấp dưới.

Phần đánh bạc là các nick tài khoản đánh bạc do các đối tượng tổ chức tự chia nhỏ rồi giao cho con bạc, chịu sự quản lý của phần quản trị, chỉ hoạt động được khi các đối tượng chủ tổ chức cho phép (cho mật khẩu).

Nhưng trang web M88 với hình thức đánh bạc là phần quản trị ở nước ngoài, tự động kiểm soát trực tiếp toàn bộ hoạt động đánh bạc đến từng nick tài khoản đánh bạc do người chơi tự lập.

Do đó, các đối tượng tổ chức trong nước không có hành vi tham gia quản lý điều hành hoạt động đánh bạc của các con bạc trên mạng internet.

Về việc thanh toán tiền đánh bạc, do những quy định khắt khe của hệ thống ngân hàng nên việc chuyển tiền ra nước ngoài giữa con bạc và chủ trang web là không thể thực hiện trực tiếp được.

Buộc chủ trang web phải sử dụng khâu trung gian là các đối tượng người Việt Nam mở các tài khoản ngân hàng để các “con bạc” chuyển tiền vào rồi sau đó chuyển ra nước ngoài và ngược lại.

T.Nhung

Thế giới 24h: Trung Quốc nhẹ giọng

18 Th1

Thế giới 24h: Trung Quốc nhẹ giọng

 – Một quan chức cấp cao của Trung Quốc tuyên bố vấn đề tranh chấp ở Hoa Đông nên giải quyết qua đối thoại; Đánh bom gây thương vong rất lớn ở Iraq… là những tin nóng trong ngày.

Nổi bật

Theo Tân Hoa xã, ông Giả Khánh Lâm, cố vấn chính trị cấp cao của Trung Quốc, nói rằng Trung, Nhật nên giải quyết tranh chấp quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư thông qua đối thoại và tham vấn.

“Hai bên nên bắt tay giải quyết việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (phía Nhật Bản gọi là Senkaku), nhằm đảm bảo quan hệ song phương tiếp tục phát triển lành mạnh và ổn định”, ông Lâm nói.

Ông Lâm hiện là Chủ tịch Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân toàn quốc Trung Quốc. Phát biểu trên của ông được đưa ra trong cuộc gặp cựu Thủ tướng Nhật Yukio Hatoyama ở Bắc Kinh.

Ông Lâm (phải) và ông Hatoyama trong cuộc gặp hôm 16/1. (Ảnh: THX)

Ông Giả Khánh Lâm cũng cho biết rằng, sự hợp tác giữa hai quốc gia Trung Quốc và Nhật Bản sẽ phục vụ cho những lợi ích cơ bản của cả hai bên, cũng như của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Trung Quốc coi trọng mối quan hệ giữa quốc gia này với Nhật Bản và sẽ tiếp tục hợp tác để phát triển các mối quan hệ song phương theo như những thỏa thuận trước đây, ông Lâm khẳng định.

Phát biểu của ông Giả Khánh Lâm khá nhẹ nhàng, ngược hẳn với thái độ gần đây của một số viên tướng quân đội của Trung Quốc khi nói về tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư.

Đơn cử như ngày 15/1 vừa qua, trên một mạng tin điện tử, Thiếu tướng La Viện thuộc Hiệp hội Khoa học Quân sự Trung Quốc đã tuyên bố rằng “chúng ta không sợ chiến tranh” với Nhật Bản.

Tiếp đó, mạng Sankei đưa lời phát biểu của Tướng Bành Quang Khiêm nói rằng, chỉ cần Nhật Bản bắn một phát đạn thì đó có nghĩa là Tokyo đã khai chiến và Trung Quốc sẽ lập tức phản công.

Mạng tin Sankei cho biết, tuyên bố của ông Bành Quang Khiêm, Thiếu tướng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sau khi được đăng tải, đã được nhiều cư dân mạng của Trung Quốc ủng hộ.

Tin vắn

– Ngày 17/1, trên 30 người bị thương vong trong hai vụ đánh bom xe ở một thị trấn thuộc tỉnh Salahudin, phía Bắc thủ đô Baghdad, Iraq.

– Cơ quan chống tham nhũng Pakistan cho biết không có đủ bằng chứng để thi hành lệnh của tòa án tối cao bắt giữ Thủ tướng Raja Pervez Ashraf .

– 30 công dân Algeria cùng 15 người nước ngoài bị các tay súng Hồi giáo giam giữ tại một mỏ khí, đã trốn thoát khỏi tay những kẻ bắt cóc.

– “Bố già Hassan, biệt danh của một trong những trùm mafia tại Nga, đã bị bắn chết ngay bên ngoài một khách sạn tại trung tâm thủ đô Moscow.

– Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov ngày 17/1 đã lên tiếng chỉ trích Mỹ vì những cáo buộc rằng chế độ Syria gây ra các vụ nổ ở thành phố Aleppo.

– Nhật Bản và Mỹ ngày 17/1 đã bắt đầu cuộc hội đàm cấp chuyên viên về việc sửa đổi hướng dẫn song phương về hợp tác quốc phòng.

– Iran dự định triển khai đội tàu chiến tới Địa Trung Hải vào tuần tới trong một sứ mệnh tuần tra và có thể vươn tới khu vực Đông Nam Á.

– Quân đội Afghanistan phối hợp với lực lượng hỗ trợ an ninh quốc tế do NATO dẫn đầu (ISAF) vừa bắt giữ 3 thủ lĩnh phiến quân Taliban.

– Các ngoại trưởng EU ngày 17/1 đã nhất trí triển khai một phái bộ quân sự gồm 450 – 500 quân để giúp huấn luyện và tái cơ cấu quân đội Mali.

Tin ảnh

Thủ đô Jakarta của Indonesia ngập trong nước lũ. (Ảnh: THX)

Phát ngôn

Theo hãng thông tấn AP, một câu nói đùa của Thẩm phán Muhammad Daming Sanusi, người đang ứng cử vào tòa án tối cao của Indonesia, đã khiến dư luận nước này phẫn nộ.

Trả lời câu hỏi liệu tử hình có xứng với tội hiếp dâm không, ông nói, bởi cả thủ phạm và nạn nhân “có thể thích thú với nó, nên chúng ta phải suy nghĩ kỹ về việc tuyên án tử hình”.

Kỷ niệm

18/1/1993, ngày Martin Luther King lần đầu được áp dụng trên toàn nước Mỹ (thứ 2 của tuần thứ 3 trong tháng 1).

Thanh Vân (tổng hợp)

Gây thất thu hơn 3.400 tỷ, lãnh đạo Đà Nẵng bị kiểm điểm

18 Th1

Gây thất thu hơn 3.400 tỷ, lãnh đạo Đà Nẵng bị kiểm điểm

 – Ngày 17/1, Thanh tra Chính phủ đã có thông báo kết luận thanh tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng trong việc chấp hành pháp luật về Thanh tra, Khiếu nại, tố cáo và Phòng, chống tham nhũng. Theo cơ quan này, việc quản lý sử dụng đất ở Đà Nẵng đã gây thất thu cho ngân sách nhà nước hơn 3.400 tỷ đồng.

 

Xem kết luận thanh tra tại đây

 

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Thủ tướng Chính phủ kiểm điểm Chủ tịch, các Phó chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng, các tổ chức và cá nhân có liên quan (thời kỳ 2003 – 2011) theo phân cấp quản lý cán bộ, đã vi phạm quy định về quản lý sử dụng đất đai liên quan đến việc xác định giá thu tiền sử dụng đất; giảm tiền sử dụng đất phải nộp cho các đơn vị và cá nhân gây thất thu ngân sách 3.434.254.712.950 đồng.

“Chấp thuận với kiến nghị của UBND thành phố Đà Nẵng về việc cho phép ghi thu, ghi chi số tiền chênh lệch 50.056.050.000 đồng giữa giá thu tiền sử dụng đất do UBND thành phố phê duyệt với giá bán đấu giá để đầu tư xây dựng bệnh viện ung thư như một khoản kinh phí ngân sách hỗ trợ. Đối với số tiền sử dụng đất đã giảm cho các hộ tái định cư là 446.229.756.243 đồng không truy thu về ngân sách để tạo điều kiện, tháo gỡ khó khăn cho các hộ bị giải tỏa phải di chuyển chỗ ở” – văn bản kết luận của Thanh tra Chính phủ nêu rõ..

Thanh tra Chính phủ kiến nghị Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng chấn chỉnh việc công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, các thông tin công khai liên quan đến đấu thầu, đấu giá quyền sử dụng đất, công trình đầu tư xây dựng và công tác tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất…

Theo nội dung kiến nghị, Chủ tịch TP Đà Nẵng phải chấm dứt việc giao đất (bán đất) theo hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng quyền thu hồi đất.

Đà Nẵng phải thu hồi về ngân sách thành phố hơn 1.486 tỷ đồng đối với các nhà đầu tư do tính thiếu diện tích thu tiền sử dụng đất, không tính đủ tiền chuyển mục đích sử dụng đất, kéo dài thời gian cho thuê đất từ 50-70 năm.

Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng kiểm điểm và có hình thức xử lý kỷ luật giám đốc các sở Tài chính, Xây dựng, TN-MT, Nội vụ, Hội đồng thẩm định giá đất thành phố…

Cơ quan này cũng kiến nghị Thủ tướng giao Bộ Tài chính và Bộ TN-MT, TP Đà Nẵng tiến hành xác minh lại giá, diện tích tính thu tiền sử dụng đất đối với một số dự án.

Kết luận do Phó tổng thanh tra Chính phủ Nguyễn Đức Hạnh ký cũng đã thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Thủ tướng có ý kiến rằng, việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, Đà Nẵng đã có quyết tâm đổi mới, với chương trình hành động cụ thể, thu được kết quả đáng khích lệ, thay đổi bộ mặt thành phố, nâng cao đời sống người dân…

Tuy nhiên, qua thanh tra cho thấy việc chấp hành pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng, việc quản lý và sử dụng đất có một số khuyết điểm, sai phạm.

Từ đó, Thủ tướng giao Bộ Công an xác minh, làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái các quy định của pháp luật, gây thất thu ngân sách nhà nước, nếu có dấu hiệu tội phạm thì xử lý nghiêm.

 

 

Xem kết luận thanh tra tại đây

 

 

T.V

%d bloggers like this: