Lưu trữ | 11:28 Chiều

Thơ đương đại: Bất hạnh, lạc hậu? – TP

21 Th1

Thơ đương đại: Bất hạnh, lạc hậu?

> Ngẫm một đời thơ lạ thành quen
> Thơ Nguyễn Trãi vòng quanh nước Mỹ

TP – Ra mắt tập tiểu luận Thơ như là mỹ học của cái khác, Đỗ Lai Thúy gọi tên 7 nhà thơ mà theo ông là mang đến những “cái khác” thực thụ cho thơ ca Việt Nam thời hậu Thơ Mới, từ Nguyễn Xuân Sanh đến Bùi Giáng.

 

Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong buổi ra mắt sách sáng 20-1 Ảnh: Mi Ly
Nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong buổi ra mắt sách sáng 20-1. Ảnh: Mi Ly .

 

Tập tiểu luận văn học Thơ như là mỹ học của cái khác của Đỗ Lai Thúy do NXB Hội Nhà văn và Nhà sách Song Thủy ấn hành, là cuốn sách nghiên cứu phê bình thứ 15 của tác giả. Buổi ra mắt sách tổ chức khá lặng lẽ tại một quán cafe ở Hà Nội.

Thơ Việt có gì sau Thơ Mới?

Đó là câu hỏi đã được Đỗ Lai Thúy trả lời qua cuốn sách mới nhất-nhà phê bình Mai Anh Tuấn, giảng viên ĐH Văn Hóa nhận định.

Trong Thơ như là mỹ học của cái khác, tác giả chọn ra 7 cái tên, gồm: Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt và Bùi Giáng – những nhà thơ tiêu biểu trong một “cuộc chạy tiếp sức” (chữ của Đỗ Lai Thúy), “đưa thơ Việt từ tiền hiện đại, qua hiện đại, cập bến hậu hiện đại, nhịp bước cùng thế giới đương đại”.

Theo tác giả, 7 nhà thơ này có sự liên kết mà ông tìm kiếm: mỗi người tìm ra một cái khác so với trước đó nhưng vẫn bộc lộ hạn chế, người sau khắc phục hạn chế đó những lại vấp phải hạn chế khác, và cứ thế
tiếp nối.

“Thơ Việt Nam không chỉ là Thơ Mới hay thơ Cách mạng mà còn được tạo nên bởi những gương mặt mà tác giả đã giải quyết trong cuốn sách này” – Mai Anh Tuấn nhận xét. Anh cho rằng những gương mặt thơ ca mà người viết lựa chọn là rất “đích đáng”, là những người từ trước đến nay vẫn được nhắc đến nhưng hầu hết với sự ái ngại,
định kiến.

“Đỗ Lai Thúy không đến với phê bình để tìm kiếm danh vọng mà với mong muốn tìm sự công bằng cho thơ ca Việt Nam. Đó là một thái độ phê bình rất trong sạch” – lời Mai Anh Tuấn.

Nỗi bất hạnh của thơ đương đại?

Liên quan đến một câu hỏi về thơ cách tân và con đường đến với số đông, Đỗ Lai Thúy khẳng định: “Thơ ca cách tân không dành cho đại chúng”.

Ông diễn giải: “Nói thế này người ta thường không thích, nhưng tôi nghĩ thơ ca cách tân dành cho một giới đặc tuyển. Chính giới này sẽ thay đổi quan niệm trước rồi từ đó mới ảnh hưởng đến số đông. Không có sự cách tân nào ảnh hưởng tức thời đến số đông, đừng hy vọng
điều đó”.

“Xã hội ta bất hạnh ở chỗ không có một giới đặc tuyển, một giới elite (ưu tú, về thưởng thức nghệ thuật). Trước đây thì có, nhưng những biến động xã hội đã làm tầng lớp đó tan vỡ. Những biến chuyển mới nên đi qua giới đặc tuyển rồi mới đến từng công chúng cụ thể. Cách tân trong thơ ca phải đi theo con đường đó”.

Không thể có sự đồng hành giữa số đông và cách tân

“Nếu có một trường hợp cách tân thơ mà số đông không thích thì tôi cho đó là may mắn. Cách tân mà số đông thích ngay thì là vứt đi”. Chính vì thế những tác giả mang khát vọng cách tân thường phải chấp nhận một điều không phải là không đau đớn đối với người cầm bút: không có hoặc có rất ít người đọc.

“Thơ Mới đến bây giờ người ta vẫn thích là vì thẩm mỹ lạc hậu” – nhận định của Đỗ Lai Thúy. “Số đông thích không có nghĩa là nó còn nguyên giá trị. Đó là một điều đáng buồn của thơ ca” (?)

“Chúng ta không nên căn cứ vào thẩm mỹ số đông để đánh giá những thứ cần vận dụng khả năng thẩm mỹ cao hơn. Điều đó rất nguy hiểm. Công chúng cần có thời gian để theo được cái mới, nhưng lúc đó thì những người đặc tuyển đã tiến thêm một bước”- ông Thúy nói.

Nhà giáo Mai Anh Tuấn chung nhận định: “Không thể vin vào sách giáo khoa hoặc giáo trình để tôn vinh mãi những gương mặt đã được giảng dạy mà quên bẵng đi những gương mặt thực sự đem lại cái mới, cái khác cho thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phê bình không đắt hàng bằng… thơ Phong Việt

Nhà phê bình trẻ Nhã Thuyên nói đùa, 7 nhà thơ mà cuốn sách nhắc đến không phải là những tên tuổi ăn khách như nhà thơ Nguyễn Phong Việt, người mới đây ra tập Đi qua thương nhớ bán hết veo mấy nghìn bản trong ít ngày. Điều mà tác giả cuốn sách trông đợi là sự lan tỏa của những giá trị thơ ca thực sự, dù chậm rãi và trong một phạm vi nhỏ.

Tên gọi Thơ như là mỹ học của cái khác lạ với công chúng số đông nhưng lại quen các độc giả thường xuyên của tác giả (có lẽ không nhiều). Trước đó, ông có những đầu sách như Bút pháp của ham muốn; Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy; Sự đỏng đảnh của
phương pháp…

Mi Ly

Ông Vũ Mão góp ý về Điều 4 Hiến pháp sửa đổi – Infonet

21 Th1

Ông Vũ Mão góp ý về Điều 4 Hiến pháp sửa đổi

Thứ hai 21/01/2013 16:27

“Sau Hiến pháp sẽ tiến hành xây dựng Luật về sự lãnh đạo của Đảng. Tôi nghĩ rằng, nếu có sự bổ sung theo hướng này thì sẽ đạt tới sự “kỳ vọng” của nhân dân”, đó là chia sẻ của ông Vũ Mão, Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, khi trả lời phỏng vấn Báo điện tử Infonet.

 

Ông Vũ Mão, Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc Hội. Ảnh internet

Người dân “chờ đợi”, trách nhiệm Ban lãnh đạo nặng nề hơn.

 

Thưa ông, thời điểm hiện nay, cả nước đang rất quan tâm đến việc lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp. Ông có nhìn nhận, đánh giá gì về không khí dân chủ cũng như quy mô đợt lấy ý kiến lần này?
Nói về chủ trương lấy ý kiến của nhân dân để sửa đổi Hiến pháp là rất đúng đắn và cần thiết. Hiện nay cũng có nhiều đề xuất, sáng kiến mới để đóng góp công cuộc sửa đổi Hiến pháp. Điều đó chúng ta ghi nhận và hoan nghênh. Tuy nhiên, để nói cụ thể lần này có gì mới không thì tôi không là người trong cuộc của lần sửa đổi Hiến pháp này nên tôi không thể nhận xét kỹ. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ tổng quát thì nó cũng tương tự như lần lấy ý kiến năm 1992. Người dân đều mong muốn, chờ đợi, hy vọng vào sửa đổi Hiến pháp lần này.
Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, tôi thấy lần lấy ý kiến sửa đồi Hiến pháp năm 1992 không khí lòng dân hồ hởi phấn khởi hơn lần sửa đổi Hiến pháp lần này. Vì sao tôi nói như vậy? Vì có 2 yếu tố mang tính lịch sử ảnh hưởng đến vấn đề này.
Thứ nhất, chúng ta có một sự tiến bộ rất nhanh sau Nghị quyết Đại hội VI. Câu nói quan trọng trong đại hội VI  mà chúng tôi vẫn nói với nhau: “Đổi mới hay là chết”. Không khí đó cũng truyền cho người dân. Một không khí cởi mở háo hức. Một niềm tin được dâng lên rất cao trong tình hình lúc đó. Ai cũng muốn góp sức mình vào công cuộc đổi mới của đất nước. 
Thứ hai, tình hình lúc đó, cuộc sống của nhân dân từ chỗ khó khăn trong  thập kỉ 80 sang đầu thập kỉ 90, cuộc sống của người dân khấm khá hơn; từ chỗ thiếu lương thực, nước ta đã bắt đầu xuất khẩu gạo. Niềm tin vào sự đổi mới, vào tương lai cuộc sống đang lên cao.
Chính vì hai lý do trên mà không khí lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp năm đó phấn khởi hào hứng hơn bây giờ. Tuy nhiên, tình thế hiện nay cũng có những điểm khác biệt,  người dân bây giờ chờ đợi, mong muốn một cái gì cụ thể. Hay nói một cách khác, lần sửa đổi Hiến pháp này, tâm lý của người dân chờ đợi có những bước tiến mới. Như vậy, lần sửa đổi Hiến pháp này, trách nhiệm của Ban lãnh đạo nặng nề hơn, trách nhiệm ấy là đáp ứng mong mỏi của người dân.

“Tôi  sẽ rất kỳ vọng, nếu Điều 4 Hiến pháp có thêm một cụm từ…”

Tài liệu có Dự thảo sửa đổi Hiến pháp

 

 

Xin phép được hỏi ông, từ quan điểm cá nhân, ông có kỳ vọng điều gì từ lần sửa đổi Hiến pháp này?
Tôi muốn dùng từ “mong đợi” thay vì  từ “kỳ vọng” để nói về suy nghĩ thực của mình. Anh biết đấy, “kỳ vọng” có ý nghĩa cao hơn “mong đợi”.

Theo ông, Dự thảo Hiến pháp mới có thay đổi gì làm ông tâm đắc nhất?

Qua phát biểu của các nhà phân tích và của các luật gia thì có rất nhiều điều đổi mới trong Dự thảo Hiến pháp lần này. Tôi thấy tâm đắc nhất là Điều 54 được sửa đổi từ các điều 15, 16, 19, 20, 21, 25. Đây là thay đổi mạnh nhất trong dự thảo Hiến pháp. Tại điều 54, Dự thảo Hiến pháp mới đã viết gọn lại và thể hiện khá rõ vấn đề bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phù hợp với thực tiễn. Thực tế vừa qua, các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh tuy chưa được tạo điều kiện một cách đầy đủ mà đã được phát huy tương đối tốt, đem lại thêm của cải cho xã hội, cho ngân sách Nhà nước. Mặt khác, việc “cưng chiều” thành phần kinh tế Nhà nước thái quá, đặc biệt  các Tập đoàn kinh tế, dẫn đến tình trạng “xin cho”, tham nhũng, thua lỗ, “cha chung không ai khóc”, “vơ vét cá nhân”… Tôi rất đồng tình, rất thích với sửa đổi ở điều này. Nó thể hiện tư duy đổi mới.

Nếu được góp ý bổ sung vào Dự thảo Hiến pháp mới, ông mong muốn bổ sung nhất vào điều nào?

Điều mà tôi mong muốn được bổ sung là Điều 4 của Dự thảo Hiến pháp mới. Tại đây, đã bổ sung thêm “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình”. Tôi cho rằng thay đổi như vậy là cần thiết nhưng chưa đủ. Hiến pháp hiện hành đã quy định: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Câu này đã bao hàm cả nghĩa Đảng chịu sự giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Tôi đồng tình với việc nói rõ nội dung này nhưng không nên đưa ra thành khoản 2 độc lập. Hơn nữa, điều quan trọng hơn là cơ chế nào để đảm bảo cho việc giám sát của nhân dân và cơ chế nào đảm bảo cho việc Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nếu không thiết kế đầy đủ vấn đề này thì nó sẽ “tuột” đi. Do đó, tôi đề xuất phương án sửa khoản 2 Điều 4 như sau:

“2. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân; việc  giám sát của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình, do luật định.”

Viết như vậy có nghĩa là, sau Hiến pháp sẽ tiến hành xây dựng Luật về sự lãnh đạo của Đảng. Tôi nghĩ rằng, nếu có sự bổ sung theo hướng này thì sẽ đạt tới sự “kỳ vọng” của nhân dân.

Vậy trong tất cả những điều của Hiến pháp 1992, ông mong muốn sửa đổi điều nào nhất mà Dự thảo chưa sửa?

 Tôi nghĩ là điều 57. Điều 57 (sửa đổi, bổ sung Điều 17, Điều 18):

“Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”.

Về hình thức đã rút gọn nhưng theo tôi cần sửa đổi theo hướng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện trong Hiến pháp năm 1946 và được cụ thể hoá hơn trong Hiến pháp năm 1959. Cả 2 bản Hiến pháp này đều gián tiếp hoặc trực tiếp công nhận đa sở hữu về đất đai.

Ngoài những điều kể trên, ông muốn góp ý thêm gì cho bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này?

Tôi thấy bản Dự thảo Hiến pháp cũng có nhiều điểm mới như về quyền con người, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia… Đó là những điều mới. Tuy nhiên, với thiết chế Chủ tịch nước cho dù đã có sửa nhưng theo tôi cái sửa này vẫn chưa cơ bản, chưa đủ. Hiến pháp năm 1992 quy định nhiệm vụ quyền hạn Chủ tịch nước có 12 khoản, nhưng Dự thảo mới gộp lại thành 6 khoản mà mỗi khoản lại “ôm đồm” quá. Theo tôi, điều quan trọng nhất về vai trò của Chủ tịch nước là cần có quy định để triển khai theo phương án Tổng Bí thư của Đảng là Chủ tịch nước. Đó mới là thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hồng Chuyên

Những làn sóng mới trên biển Đông – TVN

21 Th1

Những làn sóng mới trên biển Đông

Tác giả: Châu Giang theo The Diplomat
Bài đã được xuất bản.: 21/01/2013 02:00 GMT+7

Tương lai vốn rất khó dự báo. Tuy nhiên, sẽ rất hấp dẫn khi suy nghĩ về những sự kiện chính sẽ xảy ra đối với khu vực Đông Nam Á trong năm 2013. Sau đây là 10 điều đáng để quan sát ở khu vực này trong năm 2013.

1. Tân Tổng thư ký ASEAN sẽ lãnh đạo như thế nào? Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Lương Minh nhậm chức Tổng thư ký ASEAN từ ngày 1/1/2013. Ông sẽ phải xỏ vào một đôi giày lớn khi mà người tiền nhiệm của ông, Surin Pitsuwan, đã chứng tỏ là một nhà lãnh đạo năng động trong nhiệm kỳ 5 năm vừa qua và được đánh giá là người lãnh đạo ASEAN hiệu quả nhất từ trước tới nay.

Nếu nhiệm vụ của ông Surin là biến ASEAN thành một cái tên quen thuộc trên trường quốc tế, thì nhiệm vụ của ông Lê Lương Minh sẽ là bảo vệ vị trí trung tâm của Hiệp hội sau khi vượt qua các thách thức cả bên trong và bên ngoài. Kinh nghiệm ngoại giao dày dạn của ông sẽ có ích cho việc đạt các mục tiêu chính mà ông đặt ra, trong đó có thúc đẩy hội nhập kinh tế và các cuộc đàm phán về biển Đông. Cũng sẽ rất đáng tò mò để chờ xem liệu ông Lê Lương Minh có thể đạt tiến bộ trong một số cuộc cải cách mà ông Surin đã thúc đẩy, như củng cố Ban thư ký ASEAN, hay không.

2. Những làn sóng mới ở biển Đông? Năm 2012 đã chứng kiến căng thẳng leo thang tại biển Đông liên quan đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines tại bãi cạn Scarborough, chia rẽ sâu sắc trong lòng ASEAN, và vụ Bắc Kinh phát hành loại hộ chiếu điện tử có in bản đổ “đường 9 đoạn” hòng mong các nước khác thừa nhận những yêu sách thái quá của họ.

Vậy điều gì sẽ diễn ra trong năm 2013? Liệu khu vực này có đạt tiến bộ hướng tới việc lập một bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) mang tính ràng buộc, hay sẽ là một làn sóng xác quyết khác của Trung Quốc kéo theo những trả đũa của các nước có tranh chấp, hay một chút yên bình trước một cơn bão mới?

3. Liệu chính sách “tái cân bằng” của Mỹ có được duy trì? Chính sách chuyển “trọng tâm”, hay “tái cân bằng”, hướng tới châu Á – Thái Bình Dương, của Mỹ nhận được cả sự hài lòng pha lẫn nghi ngại của các nước Đông Nam Á.

Sự hoài nghi xuất phát từ thực tế là sự hiện diện tăng cường của Mỹ trong khu vực này có thể không kéo dài vì những khó khăn kinh tế và chia rẽ chính trị ở bên trong nước Mỹ, cộng thêm những xao nhãng tại các khu vực khác, và sự ra đi của những nhân vật năng động như Hillary Clinton và Kurt Campbell. Giới chức Mỹ nhấn mạnh rằng những lo ngại như vậy là thái quá.

Tuy nhiên, năm 2013 sẽ là năm để đánh giá Đông Nam Á có vị trí như thế nào trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Barack Obama trong nhiệm kỳ hai.

4. Liệu ASEAN có thể thống nhất? Cựu Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan đã nhiều lần nhấn mạnh rằng thách thức chính của Hiệp hội này sẽ là liệu các thành viên có thể hướng tới hội nhập khu vực lớn hơn hay không.

Dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong năm 2012, nhưng một số vấn đề đã khiến ASEAN phải hoãn lại việc khởi động Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) gần một năm, tới cuối năm 2015. Quan trọng hơn bất kỳ mốc thời gian nào, đó là việc các quốc gia Đông Nam Á có thể vượt qua các bất đồng của mình trong năm 2013 không chỉ vì lợi ích của việc thống nhất khu vực mà còn vì một sự hội nhập lớn hơn của toàn châu Á, châu lục mà ASEAN chiếm vị trí đầu tàu.

5. Tăng trưởng sẽ “mạnh” tới mức nào? Có một số dự báo tăng trưởng kinh tế tại Đông Nam Á trong năm 2013 sẽ rất mạnh mẽ. Dự báo công bố hồi tháng 11/2012 của OECD cho rằng tăng trưởng Đông Nam Á sẽ bắt đầu trở lại một mức trước khủng hoảng, và đạt trung bình 5,5% vào năm 2017. Theo tổ chức này, Đông Nam Á sẽ được chứng kiến lượng cầu trong khu vực và tiêu dùng tư nhân cũng như đầu tư tăng trưởng mạnh, nhiều hơn là xuất khẩu, chính vì vậy, khu vực này sẽ tránh được tác động từ mức tăng trưởng chậm lại ở Ấn Độ và Trung Quốc.

Đầu tháng này, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng đã sửa lại dự báo tăng trưởng khu vực Đông Nam Á từ 5,2% lên 5,3%. Nhưng chìa khóa sẽ là mức độ các nguy cơ trong năm 2013 – nhất là những vấn đề dai dẳng ở châu Âu và những bất chắc ở Mỹ – có thể làm ảnh hưởng tới các triển vọng tăng trưởng trong khu vực.

6. Brunei liệu có làm tốt nhiệm vụ trên “ghế nóng”? Tập trung vào từng quốc gia cụ thể, mọi con mắt sẽ đổ dồn về Brunei trong năm 2013 khi nước này nắm giữ cương vị Chủ tịch luân phiên ASEAN. 2012 đã là một năm với nhiều vấn đề đối với Chủ tịch Campuchia khi Phnom Penh dẫn tới (và một số người nói là phải chịu trách nhiệm vì) thất bại chưa từng thấy của Hiệp hội này vì không thể ra một thông cáo chung trong hội nghị cấp cao.

Một số người cho rằng những nước nhỏ hơn hoặc kém phát triển hơn trong ASEAN sắp giữ chức chủ tịch luân phiên Hiệp hội – như Brunei năm 2013, Myanmar năm 2014, Lào năm 2016 – sẽ là một nguyên nhân để lo ngại. Dù Brunei thường muốn ở thế yếu trong tranh chấp, (họ vốn là một trong những nước có yêu sách tại biển Đông, khác với Campuchia), nhưng họ có thể tỏ ra là một lãnh đạo có năng lực và đưa ra một đường hướng mạnh mẽ, cứng rắn hơn chống lại Bắc Kinh.

7. Thay đổi hay tiếp tục tại Malaysia? Thủ tướng Malaysia Najib Razak đã phải giải tán quốc hội và kêu gọi một cuộc tổng tuyển cử trước ngày 28/4/2013, cuộc bầu cử mà đảng Barisan Nasional (BN) của ông sẽ tìm cách giành lại những ghế đã mất trong cuộc bỏ phiếu năm 2008 để có được đa số 2/3. Dù BN đã đưa đất nước qua một năm 2012 kinh tế phát triển tốt đẹp, nhưng một loạt các vụ bê bối tham nhũng và sự không hài lòng ngày càng lớn của các cử tri người gốc Ấn Độ và gốc Trung Quốc cũng như của giới trẻ có thể đặt ra nhiều vấn đề đối với đảng của ông Najib trong cuộc bầu cử tới. Trong khi ít người cho rằng liên minh chính trị đắc cử lãnh đạo lâu nhất thế giới này sẽ thất bại, lại có nhiều người dự báo đây sẽ là một cuộc đua sít sao giữa đảng của ông Najib với những lợi thế tiềm ẩn, với phe đối lập do cựu Phó Thủ tướng Anwar Ibrahim dẫn đầu.

8. Liệu “mùa xuân Myanmar” có tiếp tục? Trong khi nhiều người tiếp tục ngạc nhiên về những tiến bộ hiện nay trong cải cách ở Myanmar, một số khác lại tỏ ra thận trọng rằng tiến bộ này vẫn có thể bị đảo ngược. Một số cuộc biểu tình trên đường phố rất có thể làm con tàu chệch đường ray, hoặc trì hoãn thay đổi. Đó có thể là phản ứng của những người lạc hậu, và có thể của quân đội – hiện vẫn hùng mạnh; có thể là những cuộc biểu tình dẫn ở các khu vực dân tộc thiểu số vượt qua ngoài tầm kiểm soát; và nguy cơ đối với sức khỏe của vị Tổng thống đã cao tuổi U Thein Sein và lãnh đạo phe đối lập Aung San Suu Kyi – hai nhân vật rất quan trọng trong các nỗ lực cải cách. Liệu “mùa xuân Myanmar” có kéo dài qua năm 2013?

9. Philippines có mãi là viên kim cương? 2012 đã là một năm đặc biệt tốt đẹp đối với Philippines. Về kinh tế, nước này nằm trong danh sách nước có tăng trưởng nhanh nhất châu Á, sau Trung Quốc, và thị trường chứng khoán liên tục phá vỡ kỷ lục. Một số chuyên gia gọi đây là “viên kim cương của khu vực”.

Các thành quả khác ngoài địa hạt kinh tế cũng rất đáng kể, trong đó có việc ký kết một thỏa thuận hòa bình bước ngoặt với Mặt trận Hồi giáo giải phóng Moro (MILF) và thông qua đạo luật cải cách thuế khóa lịch sử,… Tổng thống Benigno Aquino III đã nhận được tỷ lệ ủng hộ cao và nói rằng năm 2013 sẽ là một năm tốt hơn nữa. Nhưng các kỷ lục trong 2012 sẽ khó có thể “đánh bại”, và những thách thức lớn vẫn còn, từ tỷ lệ thất nghiệp và tham nhũng trong nước tới các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở bên ngoài.

10. Các cuộc bầu cử ở Campuchia sẽ đem lại điều gì? Từ giữa năm 2012, một số người đã tuyên bố rằng chiến thắng ngoạn mục của đảng Nhân dân Campuchia của Thủ tướng Hun Sen trong các cuộc bầu cử địa phương tháng Sáu là dấu hiệu cho thấy ông sẽ giành một chiến thắng áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 7/2013. Nếu như vậy, ông Hun Sen sẽ bảo vệ vị trí của mình trong câu lạc bộ 10 vị lãnh đạo được dân bầu ra tại vị lâu nhất trên thế giới. Tuy nhiên, những nhân tố như sự nổi lên của hai đảng đối lập hàng đầu Campuchia, và sự không hài lòng của trong các vấn đề như cải cách ruộng đất sẽ đặt ra không ít nguy cơ, có thể giúp phe đối lập giành thêm ghế.

Danh sách trên tất nhiên vẫn chưa đầy đủ. Nó không kể tới một số vấn đề khác và nhiều nước khác có thể được hoan nghênh nhiệt liệt trong năm 2013 như những con thiên nga trắng tiềm năng rất khó dự báo. Tuy nhiên, 10 sự kiện nói trên đã cho thấy năm con rắn sẽ không thể là một năm buồn tẻ đối với Đông Nam Á./.

 

Kiến nghị Số 05 liên quan đến dự án Ecopark – Hưng Yên – BS

21 Th1

Kiến nghị Số 05 liên quan đến dự án Ecopark – Hưng Yên

Posted by basamvietnam on 21/01/2013

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—-***—-

                Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2013

KIẾN NGHỊ SỐ 05 LIÊN QUAN ĐẾN DỰ ÁN ECOPARK – VĂN GIANG – HƯNG YÊN

 

(Kiến nghị của các luật sư trợ giúp pháp lý cho những hộ dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn Giang – Hưng Yên, đề nghị  Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ trực tiếp xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến dự án Ecopark)

 

Kính gửi:      –   Ngài Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng Chính phủ.

Đồng kính gửi:  

–        Ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam

–        Ông Trương Tấn Sang – Chủ tịch nước

–    Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội

–        Ông Nguyễn Xuân Phúc – Phó Thủ tướng Chính phủ

–        Ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng Ban Nội chính Trung ương

 

–        Các Ông: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Tổng Thanh tra Chính phủ; Bộ trưởng Bộ công an; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải; Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Tài chính; Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Bộ trưởng Bộ Xây dựng

–        Các cơ quan, đoàn thể: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội nông dân Việt Nam; Ban dân nguyện – Quốc hội; Ủy ban pháp luật Quốc hội

–        Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên

–        Các cơ quan truyền thông, báo chí

Chúng tôi, những luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân tại Văn Giang – Hưng Yên do việc họ bị thu hồi đất, liên quan đến dự án Ecopark gửi tới Ngài Thủ tướng và các Quý vị lời chào trân trọng và xin trình bày, kiến nghị như sau:

Việc thu hồi đất ở Văn Giang – Hưng Yên để xây dựng Khu đô thị Thương mại – Du lịch Văn Giang (Dự án Ecopark) có nguồn gốc từ 02 quyết định do Ngài Nguyễn Tấn Dũng ký khi Ngài là Phó Thủ tướng Chính phủ (quyết định 303/QĐ-TTg và quyết định 742/QĐ-TTg). Hàng ngàn hộ nông dân Văn Giang đã liên tục khiếu nại  từ năm 2006 đến nay nhưng vẫn chưa thấy có văn bản nào do Ngài Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng thay mặt Ngài ký để giải quyết vụ việc. Sau vụ cưỡng chế ngày 24/04/2012, 09 đại diện của những hộ dân bị thu hồi đất đã yêu cầu chúng tôi trợ giúp pháp lý để giải quyết vụ việc. Chúng tôi đã gửi Kiến nghị số 01 đề ngày 22/05/2012 đến Ngài nhưng không thấy hồi âm. Chúng tôi đã gửi Kiến nghị số 03 đề ngày 24/07/2012 tới Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) để đề nghị Ông Bộ trưởng giúp Thủ tướng Chính phủ giải quyết những khiếu nại, tố cáo, nhưng cũng không có hồi âm.

Nay chúng tôi xin gửi Kiến nghị số 05 tới Quý Ngài với hi vọng, Ngài Thủ tướng sẽ quan tâm, trực tiếp giải quyết hoặc lập một tổ chuyên gia để giúp Ngài giải quyết. Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành, thẩm quyền để xem xét hủy bỏ đối với những văn bản do Thủ tướng ban hành thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và Quốc hội. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ có quyền xem xét lại chính những văn bản do mình ban hành. Mặc dù các hộ dân Văn Giang đã kiên trì khiếu nại tới UBTVQH và Quốc hội, nhưng chúng tôi – các luật sư trợ giúp pháp lý vẫn mong muốn chính Ngài Thủ tướng và Chính phủ sẽ xem xét, quyết định giải quyết những vấn đề đang trong tầm tay của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ.

Cho phép chúng tôi không trình bày lại toàn bộ sự việc thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên, mà xin trình bày về những nội dung, vấn đề quan trọng sau:

1,  Quyết định số 303/QĐ-TTg ngày 30/3/2004 và Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành không đúng thẩm quyền.

2, Hai quyết định trên không căn cứ và cũng không có dấu hiệu phù hợp Quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt trước đó và đang có hiệu lực.

3, Quyết định 742/QĐ-TTg không ghi cụ thể tên người bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu hồi và cũng không giao cho người bị thu hồi đất nên không phải là quyết định thu hồi đất có giá trị đối với họ.

4, Có nhiều dấu hiệu cho thấy có “nhóm lợi ích” không vì dân vì nước đã tìm cách chạy luật, báo cáo và tham mưu thiếu trung thực, bỏ qua những quy định của pháp luật để giao cho một nhóm người không thực sự có khả năng về tài chính, chuyên môn 500 ha đất tại Văn Giang với giá đền bù rẻ mạt, bất chấp ảnh hưởng tiêu cực tới cuộc sống, lao động của hàng ngàn hộ dân với hàng vạn nhân khẩu tại Văn Giang.

5, Có hàng loạt vi phạm pháp luật trong việc ban hành những văn bản liên quan đến Dự án Ecopark, khi thực hiện Dự án này, đỉnh điểm là cưỡng chế để thu hồi đất trái pháp luật.

6, Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang không được các cấp chính quyền, tòa án xem xét, giải quyết nghiêm chỉnh từ sau vụ cưỡng chế ngày 24/04/2012.

7, Những vấn đề các Bộ, ngành cần sáng tỏ để giúp Ngài Thủ tướng và Chính phủ giải quyết.

8, Đề xuất hướng giải quyết.

 

Chúng tôi xin trình bày từng nội dung, vấn đề:

1, Hai quyết định 303/QĐ-TTg và quyết định 742/QĐ-TTg năm 2004 ban hành không đúng thẩm quyền.

a, Quyết định 303/QĐ-TTg ngày 30/03/2004 có nội dung phê duyệt  điều chỉnh bổ sung kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên. Theo Điều 18 Khoản 2 Luật đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung những năm 1998, 2001) quy định: “Chính phủ xét duyệt quy hoạch sử dụng đất đai của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và kế hoạch điều chỉnh, bổ sung hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…”.  Như vậy, Luật quy định thẩm quyền phê duyệt này thuộc Chính phủ, không thuộc Thủ tướng Chính phủ.

b, Quyết định 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 về việc giao đất để thực hiện dự án xây dựng đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện Văn Giang đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Theo Điều 23 khoản 1 điểm a Luật Đất đai trên: “Chính phủ quyết định giao đất trong các trường hợp sau đây:

a)    Giao đất có thu tiền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án”.

Như vậy, Chính phủ có thẩm quyền quyết định giao đất trong trường hợp này, Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền này.

c, Có người cho rằng Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ không do Chính phủ quyết định tập thể và dẫn chiếu Quy chế làm việc của Chính phủ được ban hành theo Nghị định số 11/1998/NĐ-CP ngày 24/01/1998. Tuy nhiên Quy chế này đã bị thay thế bởi Quy chế được ban hành theo Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12/03/2003. Theo Quy chế năm 2003, (i)Chính phủ quyết định tập thể những vấn đề mà pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Chính phủ (ii) Thủ tướng quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Thủ tướng và những vấn đề được Chính phủ giao giải quyết.

d, Các nghị định hướng dẫn Luật Đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001) đều không giao cho Thủ tướng quyết định 02 nội dung trên. Ngày 08/05/2012, chúng tôi đã đề nghị ông Vũ Đức Đam – Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP cung cấp văn bản xác định Chính phủ có giao cho Thủ tướng ban hành 02 quyết định có nội dung trên nhưng đến nay chưa được cung cấp. Chúng tôi đã tìm hiểu các nghị định, nghị quyết của Chính phủ trong các năm 2003, 2004 nhưng không thấy Chính phủ có giao cho Thủ tướng để giải quyết những vấn đề trên.

2, Hai quyết định Quyết định số 303/QĐ -TTg ngày 30/3/2004 và Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/06/2004 của Thủ tướng Chính phủ không căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đai đã được duyệt.

a, Theo Điều 28 Luật đất đai 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2001), việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Theo Điều 17 Luật đất đai trên và Điều 11 Nghị định 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất đai 05 năm và hàng năm là quy hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền  quyết định  hoặc xét duyệt. Trong 02 quyết định nêu trên và trong 02 Tờ trình của Bộ TN-MT liên quan đến 02 quyết định này đều không nêu căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của tỉnh Hưng Yên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002.

b, Theo Nghị định 68/2001/NĐ-CP, Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ chuyên đề phải đi kèm hồ sơ xét duyệt Quy hoạch sử dụng đất đai. Chúng tôi đã yêu cầu Bộ TN-MT cung cấp những bản đồ này cùng Quy hoạch được phê duyệt, nhưng đến nay Bộ TN-MT chưa cung cấp.

c, Ngày 21/08/2003, UBND tỉnh Hưng Yên có Quyết định số 1613/QĐ-UB về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội huyện Văn Giang giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020, không thấy có quy hoạch, kế hoạch xây dựng khu đô thị thương mại du lịch Văn Giang (như dự án Ecopark), cũng có nghĩa tại thời điểm này chưa có quy hoạch sử dụng đất để xây dựng đô thị tại Văn Giang. Mặt khác, theo bà con, vào thời điểm năm 2002-2003, họ được địa phương khuyến khích chuyển từ đất trồng lúa sang đất trồng cây quả, cảnh có giá trị cao, phù hợp với Quy hoạch tổng thể trên. Do đó không có cơ sở để xác định 500 ha đất (trong đó phần lớn là đất nông nghiệp) tại Văn Giang được quy hoạch chuyển đổi làm đất đô thị tại thời điểm 2003 – 2004.

d, Trong buổi đối thoại ngày 08/11/2012 giữa những đại diện của nhiều hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang với ông Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT, người ký 02 Tờ trình của Bộ TN-MT, ông Võ đã thừa nhận nội dung 02 quyết định trên không phù hợp Quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt.

e, Ngày 21/06/2007, Chính phủ mới có Nghị quyết số 31/2007/NQ-CP xét duyệt, điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên từ năm 2001-2010 (thay thế quyết định 438/QĐ-TTg ngày 04/06/2002 nêu trên).

3, Quyết định 742/QĐ-TTg không phải là quyết định thu hồi đất có giá trị đối với các hộ dân liên quan tại Văn Giang.

a, Bộ TN-MT và chính quyền tỉnh Hưng Yên cho rằng quyết định 742/QĐ-TTg là quyết định thu hồi đất có hiệu lực đối với các hộ dân liên quan tại Văn Giang, mặc dù không giao quyết định này cho họ và cho rằng Luật đất đai 1993 không quy định phải ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân hoặc ghi tên người bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu hồi, (chỉ có Luật đất đai 2003 có quy định).

b, Quan điểm trên không phù hợp pháp luật tại mọi thời điểm (từ năm 2004 đến nay). Luật đất đai 1993 (sửa đổi, bổ sung 1998, 2001) và Luật khiếu nại, tố cáo 1998 (sửa đổi bổ sung 2004, 2005) đều đảm bảo cho các hộ dân quyền sử dụng đất và nếu bị thu hồi được quyền nhận Quyết định thu hồi đất đúng luật, ghi rõ tên họ và diện tích đất bị thu hồi của họ. Cụ thể như sau:

Khoản 2, Điều 3 Luật đất đai 1993 (sửa đổi bổ sung 1998, 2001) nêu rõ: “3- Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp có đất sản xuất”.

Điều 21 Luật đất đai 1993 này cũng quy định: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”.

Điều 28 Luật đất đai 1993 quy định: “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.

Việc thu hồi đất để chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch và kế hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 31 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi bổ sung 2004, 2005) quy định: “Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính”.

Khoản 10, Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo 1998 định nghĩa về quyết định hành chính như sau: “Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính”.

c, Như vậy, việc thu hồi đất phải căn cứ bằng một quyết định hành chính, trong đó ghi tên (hoặc gắn liền một danh sách) một hoặc một số hộ dân cụ thể, cùng diện tích đất bị thu hồi của từng hộ dân. Người dân phải  nhận được quyết định hành chính (có ghi rõ tên họ và diện tích bị thu hồi) để chấp hành hoặc thực hiện quyền khiếu nại. Nếu người dân chưa nhận được quyết định thu hồi đất (có ghi rõ tên họ và diện tích bị thu hồi), họ không có nghĩa vụ phải thi hành quyết định thu hồi đất. Do đó, quyết định 742/QĐ – TTg (không ghi tên người bị thu hồi, diện tích đất của người bị thu hồi) không thể coi là quyết định thu hồi đất của những hộ dân Văn Giang.

d, Việc không giao quyết định thu hồi đất cho người bị thu hồi đất, khiến họ không có quyền  khiếu nại, đã xâm phạm quyền khiếu nại của công dân được quy định tại Điều 74 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).

4, Có nhiều dấu hiệu cho thấy có “nhóm lợi ích” đã tìm cách chạy luật, báo cáo không trung thực đến Phó Thủ tướng Chính phủ.

a, Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico), được cấp Đăng ký kinh doanh ngày 19/08/2004, vốn điều lệ 70 tỷ đồng (đến năm 2006 mới đóng đủ vốn này). Trong các cổ đông, không có cổ đông nào có kinh nghiệm xây dựng đường bộ.

b, Ngay sau khi thành lập, công ty này được chính quyền tỉnh Hưng Yên ưu ái chỉ định thực hiện các dự án xây dựng đường giao thông liên tỉnh, khu đô thị với 500 ha đất, theo phương thức đổi đất lấy hạ tầng,  tổng vốn đầu tư tạm tính của 02 Dự án này tại thời điểm 2004 là khoảng 4500 tỷ đồng, gấp gần 65 lần vốn điều lệ.

c,  Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên không nằm trong quy hoạch giao thông đường bộ toàn quốc (được Thủ tướng Chính phủ thông qua theo quyết định 162/QĐ-TTg ngày 15/11/2002) và Quy hoạch giao thông vận tải tỉnh Hưng Yên (theo Quyết định 2978/1999/QĐ-UB của UBND tỉnh Hưng Yên ngày 29/12/1999, đã được Bộ GTVT cho ý kiến). Tuy nhiên, một nhóm quan chức tỉnh Hưng Yên cùng Vihajico đã báo cáo về một dự án đường cao tốc trọng điểm Hà Nội – Hưng Yên (theo thông tin của ông Đặng Hùng Võ cung cấp). Thực tế, nếu các ban ngành quan tâm đến giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên, chỉ cần nâng cấp một số đoạn đường sẵn có của Hưng Yên. Tuy nhiên, nhóm lợi ích đưa ra dự án đường giao thông trọng điểm chỉ là cớ nhằm có được 500 ha đất giáp Hà Nội, có vị trí đắc địa với giá đền bù rẻ mạt (dự tính ban đầu 20 triệu đồng/1 sào = 360m2 đất), đường giao thông nếu xây cũng chỉ nhằm tăng giá trị của khu đô thị xây trên 500 ha đất này.

d, Nhóm lợi ích này tìm cách được giao đất theo phương thức đổi đất lấy hạ tầng trước ngày 01/07/2004 khi Luật đất đai 2003 có hiệu lực. Theo Luật đất đai 2003, phải tiến hành đấu thầu, đấu giá, (không có cơ hội cho nhóm lợi ích này).

Họ đã không làm đúng theo tinh thần của công văn số 1495/CP-NN ngày 31/10/2003, theo đó dự kiến tỉnh Hưng Yên đổi 02 dự án giaothông bằng  quỹ đất từ 300-500 ha tại Văn Giang. Thực tế, nhờ việc báo cáo không trung thực từ nhóm quan chức tham mưu, tỉnh Hưng Yên chỉ đổi 01 dự án bằng quỹ đất 500 ha, có lợi cho nhóm lợi ích này.

e, Nhóm lợi ích này đã bỏ qua những quy định theo Điều 23 Nghị định 04/2000/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 66/2001/NĐ-CP. Theo đó, chỉ được trình Chính phủ giao đất để đổi lấy hạ tầng sau khi tổ chức nghiệm thu và xác định đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, định giá khu đất sẽ trả cho chủ đầu tư đã bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Nói cách khác, chỉ khi chủ đầu tư đã xây xong công trình hạ tầng theo cam kết, Chính phủ mới giao đất cho Chủ đầu tư. Nhóm lợi ích này (thông qua những quan chức nhất định đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ), đã tạo điều kiện  để có các giấy tờ giao đất cho Vihajico (với tốc độ nhanh chóng chưa từng có trong lịch sử về thực hiện thủ tục đất đai tại Việt Nam) khi Vihajico chưa thực hiện xây dựng công trình hạ tầng, tạo điều kiện cho Vihajico lấy mỡ nó rán nó”, “tay không bắt giặc”. Công ty này đã bán hàng nghìn căn biệt thự, căn hộ, đã hưởng lợi nhuận nhưng đến nay vẫn chưa hoàn thành hạ tầng.

f, Nhóm lợi ích này không quan tâm đến thực trạng sản xuất, kinh doanh của hàng ngàn hộ nông dân tại Văn Giang, đang được thuận lợi khi chuyển sang trồng cây cảnh theo truyền thống của một số xã tại Văn Giang và do đó cũng không có báo cáo trung thực tới Phó Thủ tướng về thực trạng này (cũng như giải pháp đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho các hộ dân). Lợi ích của hàng nghìn hộ nông dân, với hàng chục  nghìn nhân khẩu bị coi nhẹ, so với lợi ích của Vihajico.

g, Nhiều cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đã tỏ ra dễ dãi, khi tiếp nhận nhà đầu tư Vihajico, bỏ qua nhiều quy định của pháp luật tại thời điểm đó nhằm giao đất cho Vihajico (xem phần sau).

 5, Những vi phạm pháp luật từ một số cơ quan nhà nước liên quan đến Dự án Ecopark (ngoài những vi phạm nêu trên).

a, UBND tỉnh Hưng Yên không công bố, công khai (theo Quyết định 22/2003/QĐ-BTC ngày 18/02/2003) về danh mục các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng được sử dụng quỹ đất, danh mục quỹ đất dùng để tạo vốn cho từng công trình (trong đó có dự án đường giao thông, quỹ đất tại Văn Giang).

b, Do không công bố, công khai nên không thể xác định được có hay không nhà đầu tư khác xin thực hiện những dự án trên, nên việc UBND tỉnh Hưng Yên xác định Vihajico là nhà đầu tư duy nhất (để chỉ định, bỏ qua đấu thầu, đấu giá) không có cơ sở, trái Quyết định 22/2003/QĐ – BTC.

c, Do Vihajico mới thành lập vào tháng 8/2003, vốn điều lệ 70 tỷ đồng, chưa có kinh nghiệm xây dựng hạ tầng, không có cổ đông nào có kinh nghiệm xây dựng đường bộ nên không đủ các điều kiện (vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm) theo quy định tại Điều 7 Quyết định 22/2003/QĐ-BTC. Việc UBND tỉnh Hưng Yên lựa chọn Vihajico là trái Quyết định này.

d, Theo các hộ dân Văn Giang, chỉ đến năm 2006, họ và chính quyền địa phương cấp xã mới biết được địa phương có ý định xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang. Như vậy, khi phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang tới năm 2020 theo Quyết định 632/QĐ-UB ngày 25/03/2004, UBND tỉnh Hưng Yên đã không tuân thủ theo khoản 6 Điều 8 Nghị định 52/1999/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định số 07/2003/NĐ-CP: “… Quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn khi nghiên cứu lập dự án, cơ quan tổ chức lập dự án phải công bố công khai, trưng cầu ý kiến của nhân dân và Hội đồng nhân dân sống trên vùng quy hoạch…”.

e, Bộ TN-MT khi thẩm tra Tờ trình ngày 25/02/2004 của UBND tỉnh Hưng Yên về việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất năm 2004, 2005 đã không thẩm tra đề nghị này có phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt trước đó không, đã không phát hiện UBND tỉnh trình không đúng thời điểm theo quy định tại Nghị định 68/2001/NĐ-CP về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai. Lẽ ra, Bộ TN-MT phải hướng dẫn UBND tỉnh Hưng Yên thực hiện theo chỉ thị 05/2004/CT-TTg  ngày 09/02/2004 về triển khai thi hành Luật đất đai 2003, để thực hiện rà soát, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo Luật đất đai 2003. Ngày 12/03/2004 bằng Tờ trình số 14/TTr.BTNMT, Bộ TN-MT vội vã chấp nhận Tờ trình này của UBND tỉnh Hưng Yên là không thực hiện theo Chỉ thị 05/2004/CT-TTg. Tờ trình số 14/TTr.BTNMT không nêu những căn cứ pháp lý là trái thông lệ và những quy định tối thiểu của một văn bản hành chính.

f, Dự án giao thông liên tỉnh Hưng Yên – Hà Nội là dự án xây dựng đường quốc lộ, thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của Bộ GT-VT. UBND tỉnh Hưng Yên tự ý phê duyệt Dự án này (đoạn từ Văn Giang đến Dân Tiến – Khoái Châu, đoạn qua Khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang kéo dài) theo Quyết định 1431/QĐ-UB ngày 25/06/2004 mà không có ý kiến, phê duyệt, chấp thuận từ Bộ GT-VT là trái các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ có hiệu lực tại thời điểm đó (Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông đường bộ, Nghị định 167/1999/NĐ-CP về tổ chức quản lý đường bộ). Theo Điều 13 và Điều 14 Nghị định 167/1999/NĐ-CP này, nguồn vốn để đầu tư đường bộ thuộc hệ thống quốc lộ được bố trí từ  nguồn ngân sách trung ương và các nguồn vốn khác. Như vậy, việc phê duyệt dự án này còn phải có ý kiến của Bộ Tài chính (ngoài Bộ GT-VT). Chính từ không có ý kiến từ 02 Bộ này, UBND tự ý ra quyết định (mà không có kinh nghiệm), dẫn đến  không xác định được trách nhiệm bố trí nguồn vốn, một nguyên nhân quan trọng cho việc Dự án giao thông này đến nay chưa hoàn thành.

g, UBND tỉnh Hưng Yên xác định Dự án giao thông trên là Dự án của địa phương, có vốn đầu tư trên 500 tỷ đồng, tức thuộc nhóm A nhưng không thông qua HĐND tỉnh Hưng Yên là làm trái quy định “Trường hợp dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách địa phương phải đưa ra Hội đồng nhân dân thảo luận, quyết định và công bố công khai” theo Nghị định số 07/2003/NĐ-CP.

h, Khi cưỡng chế giải phóng mặt bằng ngày 07/01/2009 đối với trên 200 hộ dân, chính quyền tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang không ban hành quyết định cưỡng chế theo quy định của pháp luật (các hộ dân không nhận được quyết định cưỡng chế, kể cả khi yêu cầu chính quyền cung cấp quyết định cưỡng chế).

Ngày 24/04/2012, chính quyền tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang tiếp tục cưỡng chế thu hồi đất, nhưng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai.

Có nhiều hình ảnh cho thấy đã huy động lực lượng quá mức cần thiết cho những việc cưỡng chế, gây ảnh hưởng xấu đối với dư luận trong và ngoài nước.

6, Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang không được các cấp chính quyền, tòa án xem xét, giải quyết nghiêm chỉnh.

a, Các hộ dân khiếu nại việc cưỡng chế ngày 07/01/2009, tỉnh Hưng Yên và UBND huyện Văn Giang đã không giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với việc cưỡng chế ngày 24/04/2012, các hộ dân đã khiếu nại, UBND huyện Văn Giang đã thụ lý nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết, mặc dù đã quá thời hạn theo quy định của Luật Khiếu nại và Tố cáo (nay là luật Khiếu nại).

Các hộ dân đã khởi kiện ra Tòa án tại Hưng Yên, nhưng Tòa án đều không thụ lý đơn khởi kiện của các hộ dân với những lý do không chính đáng.

Tóm lại, các cơ quan địa phương, tòa án tỉnh Hưng Yên tìm mọi cách để không giải quyết khiếu nại của các hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang, đây là nguyên nhân chính dẫn đến các hộ dân buộc phải khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

b, Thanh tra Chính phủ (“TTrCP”) đã 02 lần xem xét khiếu nại, tố cáo của các hộ dân Văn Giang (Văn bản 168/TTCP-V4 ngày 26/01/2007 và báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009) nhưng chưa giải quyết triệt để, đúng pháp luật, có nhiều thiếu sót, cụ thể như sau:

–         Những hộ dân này cho rằng quyết định số 303/QĐ- và số 742/QĐ-TTg được ban hành không đúng thẩm quyền, họ đã nêu vấn đề này ngay từ năm 2006 và khiếu nại từ năm 2009 lên Chính phủ và Quốc hội. Tuy nhiên, trong cả 02 văn bản của TTrCP đều không thấy đề cập đến nội dung này. Việc xem xét giá trị pháp lý của 02 quyết định này thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội, vượt quá thẩm quyền của TTrCP. Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan giúp Chính phủ giải quyết các khiếu nại, tố cáo, lẽ ra TTrCP cần báo cáo với Chính phủ về nội dung khiếu kiện này của những người dân bị thu hồi đất để Chính phủ xem xét theo thẩm quyền.

–         TTrCP cho rằng các dự án này phù hợp với quy hoạch, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt đúng quy định hiện hành. Nhưng TTrCP không nêu rõ những văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền nào đã phê duyệt những quy hoạch nêu trên trước khi ban hành 02 quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, không nêu rõ việc thẩm định và phê duyệt dự án phù hợp như thế nào với những văn bản pháp luật nào? (Chúng tôi đã chứng minh ở phần trên về việc không phù hợp quy hoạch của những dự án này, cũng như những vi phạm về trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự án, có nêu cụ thể những quy định pháp luật bị vi phạm).

–         Văn bản 168/TTCP-V4 ngày 26/01/2007 thừa nhận UBND tỉnh Hưng Yên đã không làm đúng các quy định của pháp luật khi lựa chọn chủ đầu tư, năng lực tài chính của Chủ đầu tư còn hạn chế (vốn điều lệ 70 tỷ đồng). Lẽ ra TTrCP cần kiến nghị Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Hưng Yên phải thực hiện lại việc lựa chọn Chủ đầu tư theo đúng pháp luật, không chấp nhận một doanh nghiệp có năng lực tài chính hạn chế lại làm chủ 02 dự án đầu tư có trị giá hàng nghìn tỷ đồng.

–         Theo báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009, chủ đầu tư dự kiến thông tuyến vào tháng 11/2009. Thực tế, đến nay (tháng 1/2013) đoạn đường do chủ đầu tư xây vẫn chưa xong. Như vậy, chủ đầu tư đã báo cáo thiếu trung thực và cán bộ TTrCP được giao nhiệm vụ đã quan liêu, không kiểm tra thực tế, báo cáo sai lệch tới Thủ tướng Chính phủ.

–         Báo cáo 2288/BC-TTCP ngày 17/9/2009 có ghi nhận sự kiện cưỡng chế giải phóng mặt bằng ngày 07/01/2009 đối với trên 200 hộ dân, dẫn đến khiếu kiện tập trung đông người, phức tạp. Nhưng TTrCP đã không tìm hiểu và kết luận việc cưỡng chế này có đúng pháp luật hay không. Thực tế, tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang không có văn bản quyết định cưỡng chế nào để thông báo tới những hộ dân liên quan. Rõ ràng việc cưỡng chế không có quyết định hợp pháp là trái pháp luật, TTrCP lẽ ra phải kết luận. Việc TTrCP không có kết luận dứt khoát đã dung túng thái độ coi thường pháp luật từ nhiều cán bộ của chính quyền địa phương, gây bức xúc trong nhân dân Văn Giang.

–         Sau ngày 24/04/2012, các hộ dân và các luật sư đã đề nghị TTrCP đối thoại, làm rõ những vấn đề liên quan, trong đó có những vấn đề mới phát sinh nhưng đến nay TTrCP vẫn chưa tổ chức đối thoại và cũng không có văn bản trả lời.

c, Bộ TN-MT đã tổ chức đối thoại với các hộ dân, nhưng đều tìm cách né tránh, trả lời những vấn đề cốt lõi của sự việc. Các hộ dân đã khiếu nại các văn bản số 14/TTr.BTNMT và Tờ trình số 99/TTr.BTNMT tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg năm 2004, nhưng đến nay vẫn chưa thấy Bộ TN-MT thụ lý, giải quyết.

Tóm lại, chúng tôi chưa thấy cơ quan có thẩm quyền nào của Trung ương và địa phương nghiêm chỉnh xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các hộ dân, đặc biệt sau ngày 24/04/2012, mặc dù vào tháng 5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo các Bộ ngành phải xem xét, giải quyết và báo cáo công khai, và chúng tôi cùng các hộ dân kiên trì gửi các kiến nghị đến những cơ quan này.

7, Những vấn đề các Bộ, ngành cần sáng tỏ để giúp Ngài Thủ tướng và Chính phủ giải quyết.

Chúng tôi đề nghị các Bộ, ngành theo thẩm quyền của mình làm rõ những vấn đề sau đây:

a, Bộ TN-MT cần nêu rõ dựa vào những điều khoản nào của văn bản pháp luật nào, quy hoạch nào (trong đó có quy hoạch sử dụng đất nào kèm theo bản đồ quy hoạch) đã được phê duyệt hợp pháp để tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg năm 2004.

b, Bộ Tư pháp cần làm rõ quyết định 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg  là văn bản quy phạm pháp luật hay là quyết định hành chính? Nếu là văn bản quy phạm pháp luật, nhưng không đăng công báo có hậu quả pháp lý như thế nào? Nếu là quyết định hành chính, nhưng không ghi cụ thể đối tượng và vấn đề phải thi hành, không giao cho các hộ dân, họ có nghĩa vụ phải thi hành không? Có hậu quả pháp lý như thế nào? Thủ tướng Chính phủ ban hành 02 quyết định này có nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ (trong khi không có văn bản của Chính phủ giao nhiệm vụ cho Thủ tướng) có phù hợp pháp luật tại thời điểm ban hành hay không? (Nếu phù hợp, cần dẫn chứng cụ thể điều khoản nào, văn bản pháp luật nào có hiệu lực tại thời điểm ban hành).

c, VPCP cần làm rõ có Nghị quyết, Nghị định nào của Chính phủ giao cho Thủ tướng Chính phủ quyết định nội dung 02 văn bản 303/QĐ-TTg và 742/QĐ-TTg hay không?

d, TTrCP cần làm rõ tại sao không báo cáo cho Thủ tướng và Chính phủ việc các hộ dân Văn Giang đang khiếu nại về thẩm quyền ban hành và nội dung 02 quyết định nêu trên của Thủ tướng? Tại sao TTrCP không phát hiện chính quyền địa phương huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên khi cưỡng chế thu hồi đất không có các quyết định cưỡng chế theo đúng quy định của luật Đất đai?

e, Bộ Công an cần làm rõ có việc huy động những lực lượng không thuộc địa phương quản lý cho việc cưỡng chế (có thông qua người có thẩm quyền?), đã sử dụng pháo nghiệp vụ (mà người dân đã thu được hàng trăm tang vật) có đúng quy định?

f, Bộ Kế hoạch và Đầu Tư (Bộ KH&ĐT) làm rõ các Dự án liên quan đã làm đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về thẩm định, phê duyệt Dự án? Tại sao những đề xuất trong công văn số 3796/BKH/TĐ&GSĐT ngày 18/6/2004 không được tỉnh Hưng Yên thực hiện.

g, Bộ Tài chính cần làm rõ việc chỉ định chủ đầu tư (Vihajico) có đúng trình tự pháp luật không? Việc giao cho Chủ đầu tư đất trong khi chủ đầu tư chưa hoàn thành xong hạ tầng có đúng pháp luật không? Việc UBND tỉnh Hưng Yên phê duyệt Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên (có giá trị trên 500 tỷ đồng) không thông qua Hội đồng nhân dân có đúng pháp luật không?

h, Bộ Giao thông vận tải (Bộ GT-VT) xác định Dự án đường giao thông liên tỉnh Hà Nội – Hưng Yên có phải là dự án xây dựng đường Quốc lộ không? Bộ GT-VT đã có ý kiến, phê duyệt về dự án này trước ngày 30/06/2004 không? Việc UBND tỉnh Hưng Yên tự phê duyệt Dự án này có vượt quá thẩm quyền không?

i, Bộ Xây dựng cần xác định Quy hoạch xây dựng khu đô thị thương mại – du lịch Văn Giang ngày 25/03/2004 đã lấy ý kiến của HĐND và người dân huyện Văn Giang và tỉnh Hưng Yên chưa? Nếu chưa lấy ý kiến, có phù hợp pháp luật không?

k, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) cần làm rõ tình hình hàng ngàn hộ dân bị thu hồi đất, việc làm, thu nhập, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng như thế nào, xác định một sào đất trồng cây cảnh tại Văn Giang hàng năm sau khi trừ chi phí đem lại cho hộ dân thu nhập bao nhiêu? (Có đúng 50 triệu đồng/năm, và nếu đúng như vậy, đương nhiên không ai có thể chấp nhận mức bồi thường 50 triệu/sào để mất đất vĩnh viễn).

l, UBND tỉnh Hưng Yên làm rõ vào các năm 2002, 2003 đã hướng dẫn, khuyến khích nông dân Văn Giang chuyển đổi đất nông nghiệp từ trồng lúa sang trồng cây quả, cảnh có giá trị cao không? Tại sao quyết định giao đất cho Vihajico, trong khi chưa có quyết định thu hồi đất của các hộ dân và Vihajico chưa hoàn thành hạ tầng? Giải thích tại sao cưỡng chế thu hồi đất của nông dân nhưng không có quyết định cưỡng chế thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai? Tại sao UBND huyện Văn Giang không giải quyết các khiếu nại của các hộ dân?

8, Đề xuất hướng giải quyết.

a, Chúng tôi tiếp tục đề nghị Thủ tướng Chính phủ áp dụng Điều 8 Khoản 7 và Điều 20 Khoản 4 Luật Tổ chức Chính phủ thành lập một Ủy ban lâm thời (tổ chuyên gia) để giải quyết những vấn đề liên quan đến Dự án Ecopark như Kiến nghị số 01 của chúng tôi.

b, Các cơ quan hữu quan cần khuyến khích và tạo điều kiện cho Vihajico  thương lượng trực tiếp với các hộ dân khiếu kiện để đạt được một phương án có thể chấp nhận được. Chúng tôi đã tiếp xúc với lãnh đạo Vihajico, có vẻ họ sẵn sàng chấp nhận thương lượng, nhưng lo ngại có một số người có ảnh hưởng ngăn cản cách thức giải quyết này.

c, Đề xuất của các hộ dân đang khiếu kiện, trong đó có những hộ dân có kinh nghiệm trồng cây cảnh (Văn Giang có một số làng chuyên cây cảnh có truyền thống và nổi tiếng ở miền Bắc), giữ lại khoảng 130ha đất để họ chuyên trồng cây cảnh trong Dự án đô thị sinh thái Ecopark. Đây là đề xuất hợp lý và thiện chí của các hộ dân, nếu chấp nhận sẽ giải quyết được toàn bộ những vấn đề của Dự án.

Các xã Xuân Quan, Cửu Cao, Phụng Công huyện Văn Giang có lịch sử hàng nghìn năm. Tên Phụng Công do Hai Bà Trưng đặt, để biết ơn những người dân đã che chở hai Bà. Những xã trên có lịch sử oai hùng trong kháng chiến chống Pháp (chống càn) và chống Mỹ (trận địa pháo phòng không). Những nông dân Văn Giang đã tin tưởng theo Đảng cộng sản Việt Nam, để người cày có ruộng. Họ có niềm tin Đảng và Nhà nước sẽ bảo đảm quyền căn bản này của nông dân, không vì lợi ích của bất cứ nhóm người nào khiến quyền căn bản của họ bị tước đoạt, và buộc họ phải khiếu kiện triền miên.

Chúng tôi trân trọng đề nghị Ngài Thủ tướng và các cơ quan chức năng quan tâm đến kiến nghị này và sớm giải quyết, để các hộ dân Văn Giang an tâm sống, làm việc trên mảnh đất của mình.

Chúng tôi xin đề nghị lãnh đạo các cơ quan chức năng bố trí lịch làm việc với chúng tôi và đại diện các hộ dân để chúng tôi trình bày rõ hơn về nội dung sự việc và nguyện vọng của các hộ dân.

Nhân dịp đầu xuân, chúng tôi  xin chúc các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Bộ, ngành sức khỏe và thành công trong năm mới.

Trân trọng./.

Các luật sư đang trợ giúp pháp lý cho những hộ dân bị thu hồi đất liên quan đến dự án Ecopark – Văn Giang – Hưng Yên ký tên.

 

Địa chỉ liên hệ: số 81 phố chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội.  Điện thoại: 04 3775 4788.

Nơi gửi:

–        Như trên

–        Đại diện những hộ dân bị thu hồi đất tại Văn Giang – Hưng Yên yêu cầu luật sư trợ giúp pháp lý.

Tài liệu kèm theo Kiến nghị:

  1. Tên các văn bản pháp luật tham khảo.
  2. Các tài liệu liên quan đến Dự án Ecopark
  3. Những khiếu nại, tố cáo của các hộ dân
  4. Các kiến nghị và các văn bản của luật sư
  5. Những trao đổi của Luật sư, đại diện các hộ dân với BộTN-MT, với ông Đặng Hùng Võ và những tài liệu liên quan khác.

1

2

Mời xem:  + 1025. Bản Kiến nghị Số 01 của LS Trần Vũ Hải gửi TT CP (23-05-2012); + 1094. Kiến nghị Số 02 liên quan đến dự án Ecopark (21-06-2012); + 1160. Kiến nghị Số 03 – Ecopark, Văn Giang (25-07-2012);  + 1254. Kiến nghị Số 04 liên quan đến dự án Ecopark – Hưng Yên (14-9-2012).

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH CÔNG VĂN 1930/VPCP-V.I SAI CHÍNH TẢ VÀ VI PHẠM THÔNG TƯ 01/2011/TT-BNV – PVĐ

21 Th1

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ ĐÃ BAN HÀNH CÔNG VĂN 1930/VPCP-V.I SAI CHÍNH TẢ VÀ VI PHẠM THÔNG TƯ 01/2011/TT-BNV

 
Hai Xe Ôm.

Một dấu hỏi đặt ra: Một công văn đơn giản, sơ đẳng như Công văn 1930/VPCP-V.I mà cơ quan quan trọng như Văn phòng Chính phủ còn trình bày chưa sạch nước cản, còn sai, mắc lỗi tùy tiện ? Vậy xin hỏi: kết luận những vấn đề lớn, phức tạp như chuyện thanh tra việc quản lý đất đai của Đà Nẵng có tin được không ? Liệu có bị sai lung tung như cái Công văn 1930 ban hành ngày 19/11/2012  không ?
 
 

Công văn 1930/VPCP-V-I ký ban hành 19/11/2012 đã vi phạm các thể thức trình bày văn bản hành chính sau đây:

1/ Sai chính tả từ ” chính sách ” Công văn đánh thành “chính schas ” ?
 
2/ Phần Kính gửi… đã trình bày không đúng quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản 
 
 
Tại Điều 14 của Thông tư 01 quy định cụ thể kỹ thuật trình bày phần Kính gửi các đơn vị nhận 
 
Công văn như sau: 

 
“Điều 14. Nơi nhận
 
1. Thể thức
Nơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản và có trách nhiệm như để xem xét, giải quyết; để thi hành; để kiểm tra, giám sát; để báo cáo; để trao đổi công việc; để biết và để lưu.
Nơi nhận phải được xác định cụ thể trong văn bản. Căn cứ quy định của pháp luật; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức và quan hệ công tác; căn cứ yêu cầu giải quyết công việc, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đề xuất những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản trình người ký văn bản quyết định.
Đối với văn bản chỉ gửi cho một số đối tượng cụ thể thì phải ghi tên từng cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản; đối với văn bản được gửi cho một hoặc một số nhóm đối tượng nhất định thì nơi nhận được ghi chung, ví dụ:
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Đối với những văn bản có ghi tên loại, nơi nhận bao gồm từ “Nơi nhận” và phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản.
Đối với công văn hành chính, nơi nhận bao gồm hai phần:
– Phần thứ nhất bao gồm từ “Kính gửi”, sau đó là tên các cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá nhân trực tiếp giải quyết công việc;
– Phần thứ hai bao gồm từ “Nơi nhận”, phía dưới là từ “Như trên”, tiếp theo là tên các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan khác nhận văn bản.
2. Kỹ thuật trình bày
Nơi nhận được trình bày tại ô số 9a và 9b.
Phần nơi nhận tại ô số 9a được trình bày như sau:
– Từ “Kính gửi” và tên các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng;
Sau từ “Kính gửi” có dấu hai chấm; nếu công văn gửi cho một cơ quan, tổ chức hoặc một cá nhân thì từ “Kính gửi” và tên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được trình bày trên cùng một dòng; trường hợp công văn gửi cho hai cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trở lên thì xuống dòng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, cá nhân được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy, cuối dòng cuối cùng có dấu chấm; các gạch đầu dòng được trình bày thẳng hàng với nhau dưới dấu hai chấm.
Phần nơi nhận tại ô số 9b (áp dụng chung đối với công văn hành chính và các loại văn bản khác) được trình bày như sau:
– Từ “Nơi nhận” được trình bày trên một dòng riêng (ngang hàng với dòng chữ “quyền hạn, chức vụ của người ký” và sát lề trái), sau có dấu hai chấm, bằng chữ in thường, cỡ chữ 12, kiểu chữ nghiêng, đậm;
– Phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận văn bản được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng sát lề trái, cuối dòng có dấu chấm phẩu; riêng dòng cuối cùng bao gồm chữ “Lưu” sau có dấu hai chấm, tiếp theo là chữ viết tắt “VT” (Văn thư cơ quan, tổ chức), dấu phẩy, chữ viết tắt tên đơn vị (hoặc bộ phận) soạn thảo văn bản và số lượng bản lưu (chỉ trong trường hợp cần thiết), cuối cùng là dấu chấm.”
– Trình bày tên của các cơ quan như Công văn 1930 là chưa đầy đủ, “xách mé” tên các Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính; Trình bày như Công văn 1930 là vi phạm khoản a, mục 1, Điều 7 của Thông tư 01:

Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản phải được ghi đầy đủ hoặc được viết tắt theo quy định tại văn bản thành lập…”

Như vậy, Công văn 1930 do Văn Phòng Chính phủ ban hành ngày 19/11/2012 đã vi phạm 2 lỗi; Thật đáng tiếc lắm thay ?!


H.X.Ô.

Nghĩ vào lúc Hiến pháp đang sửa đổi – LĐ

21 Th1

Nghĩ vào lúc Hiến pháp đang sửa đổi

Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

 

Nghĩ vào lúc Hiến pháp đang sửa đổi

(LĐCT) – Số 3 – Chủ nhật 20/01/2013 12:54

Câu chuyện Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp đang góp thêm vào không khí của những ngày đầu tiên của năm mới dương lịch 2013, cho dù những ngày giáp Tết âm lịch bận rộn đang đến gần.

Bản dự thảo sửa đổi bản Hiến pháp năm 1992 đã được công bố và việc lấy ý kiến của nhân dân trong vòng ba tháng không chỉ được khẳng định bằng những kế hoạch triển khai rộng khắp mà còn nhận được những thông điệp khích lệ của những nhà lãnh đạo kêu gọi toàn dân hưởng ứng với tinh thần phát huy dân chủ, không e ngại những ý kiến khác biệt, thậm chí cho rằng không có “vùng cấm” khi đưa ra chính kiến, mặc dù cũng không quên nhắc nhở phải cảnh giác với những âm mưu hay nguy cơ không xuất phát từ thiện chí và trách nhiệm cùng “diễn biến hoà bình” và nay còn có thêm “tự diễn biến”…

Cơ quan soạn thảo cũng nhấn mạnh rằng, việc lấy ý kiến nhân dân vốn đã là một “truyền thống” từng được thực hiện ở cả 4 bản hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 nhằm thể hiện một tinh thần cơ bản của Hiến pháp là “quyền phúc quyết của nhân dân”. Khi phân tích và so sánh các bản hiến pháp đã từng được soạn thảo thì có một sự đồng thuận rất cao khi cho rằng bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 mang tính “chuẩn mực”, “kinh điển”. Nhưng trên thực tế thì văn kiện quan trọng này mới được thông qua ở kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I (9.11.1946) mà chưa được ban hành. Các hiến pháp 1959 ,1992 thì mỗi văn bản phát huy được chừng hai thập kỷ, còn Hiến pháp 1980 thì cũng chỉ duy trì được 12 năm với vài lần sửa sang.

Tuy không hẳn là tiêu chí duy nhất, nhưng tính ổn định của một quốc gia thể hiện bằng sức sống (tuổi thọ) của một bản hiến pháp. Nước Mỹ là một trường hợp điển hình, Hiến pháp chỉ có 7 điều mà tồn tại đã hơn hai trăm năm. Người ta giải thích rằng, song hành với bản Hiến pháp ổn định ấy là cả một năng lực rất thành thục trong việc giải thích hiến pháp một cách rất chuyên nghiệp nhằm vận dụng những nội dung mang tính nguyên lý vào những biến đổi hết sức cụ thể của đời sống phát triển. Nói như người phương Đông , đó là cái năng lực “dĩ bất biến ứng vạn biến”.

Vậy thì vì sao Việt Nam là một dân tộc, do nhiều hoàn cảnh địa lý và lịch sử đã nổi tiếng là ứng biến giỏi, thích nghi giỏi, cũng lấy cái bất biến để ứng với vạn biến mà tồn tại đến ngày nay, vượt qua mọi thách thức mà Hiến pháp dường như thiếu tính ổn định kể từ sau văn bản đầu tiên?
 

Bác Hồ chụp ảnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa I.

Điều dễ thấy là Hiến pháp 1946 là văn kiện  lần đầu tiên trong lịch sử của dân tộc Việt Nam được soạn thảo, nó chỉ kế thừa duy nhất là tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình Lịch sử ngày 2.9.1945 và nó được coi là thành tựu trực tiếp của cuộc Cách mạng Tháng Tám giành độc lập với ngoại bang và chấm dứt chế độ quân chủ đã từng tồn tại cả ngàn năm ở trong nước. Cũng có thể nói, nó tựa như Hiến pháp Hoa Kỳ bắt nguồn từ những tư tưởng của bản “Tuyên ngôn Độc lập” năm 1776  hay Hiến pháp của nền Cộng hoà Pháp bắt nguồn từ những nguyên lý của bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” gắn với cuộc cách mạng lật đổ chế độ quân chủ 1789.

Nghĩ cho sâu xa mới hiểu được vì sao người đứng đầu cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là người thiết kế những ý tưởng đặt nền móng cho Hiến pháp nước ta lại dẫn những tư tưởng cơ bản nhất của 2 bản tuyên ngôn của hai quốc gia lập hiến trước chúng ta là Mỹ và Pháp trong bản Tuyên ngôn Độc lập của mình. Vì thế, không chỉ đến khi soạn thảo Hiến pháp thì thể chế (mô hình) chính trị mới được lựa chọn mà ngay trong Tuyên ngôn Độc lập đã xác định “Nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Nói cách khác là bản Hiến pháp 1946 chính là việc soạn thảo một văn kiện nhằm chế định cái thể chế chính trị đã được khẳng định bằng chính một cuộc cách mạng của toàn dân để xác lập nền độc lập dân tộc, tạo cơ hội để nhân dân có quyền quyết định vận mệnh của mình, thực hiện cái điều sau này được thể hiện trong Hiến pháp là “quyền phúc quyết của nhân dân”.

Vì vậy nếu bằng con mắt của người chép sử mà sắp xếp những sự kiện được vận động theo thời gian, người ta sẽ nhận ra rằng chỉ sau khi giành chính quyền một thời gian rất ngắn, người đứng đầu Chính phủ lâm thời đã đặt vấn đề xây dựng Hiến pháp lên hàng đầu sau khi đã thành lập Quốc hội.

Có một điều cũng đáng suy ngẫm rằng, vì sao nhà cách mạng Hồ Chí Minh đã từng trải ở nước Nga Xôviết, rồi Công xã Quảng Châu, học tập nhiều lý luận về chủ nghĩa cộng sản với tư cách một chiến sĩ của Quốc tế Cộng sản, mà khi giành được chính quyền trong tay thì không lựa chọn mô hình Xôviết (mô hình đã từng một lần vận dụng một cách ấu trĩ trong thời kỳ 1930-1931 ở Nghệ Tĩnh)?

Còn thể chế dân chủ cộng hoà được diễn giải bằng những mục tiêu: Dân tộc – độc lập, dân quyền – tự do và dân sinh – hạnh phúc lại chính là “Chủ nghĩa Tam dân” của nhà lãnh đạo nổi tiếng Trung Hoa là Tôn Trung Sơn đã vận dụng những thành tựu chính trị của thế giới- mà trực tiếp là của nước Mỹ- cho yêu cầu của các nước còn được coi là “nhược tiểu” trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, trong đó có cả nước Trung Hoa giàu và đông, nhưng nghèo và lạc hậu. Cái nguyên lý về một “nhà nước của dân, do dân, vì dân” cũng bắt nguồn từ nền chính trị Mỹ và câu chữ ấy được thể hiện lần đầu trong một bài diễn văn của Tổng thống Hoa kỳ thứ 16 Abraham Lincohn.

Lựa chọn thể chế chính trị này và được thể hiện ngay từ trong Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh được viết như sự đúc kết 30 năm đi khắp thế giới nhằm lựa chọn mô hình cho sự phát triển đất nước (mà cứu nước chỉ là mục tiêu ban đầu) của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (1911-1941). Chính sự lựa chọn đúng đắn này đã tạo nên sự đồng thuận rất nhanh chóng và mạnh mẽ trong nhân dân sau khi đã giành được chính quyền.

Cần nhớ rằng, vào thời điểm tiến hành bầu cử Quốc hội và dự thảo bản Hiến pháp đầu tiên, trên đất nước Việt Nam mới độc lập không có chế độ “một đảng lãnh đạo”, thậm chí Đảng Cộng sản Đông Dương còn tuyên bố “tự giải tán”, đại diện công khai tham gia Quốc hội và soạn thảo Hiến pháp chỉ còn có “Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác”. Không đi sâu vào bản chất việc “tự giải tán” của Đảng, nhưng một thực tế cho thấy ngay trong bối cảnh phức tạp như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh- người lãnh đạo cao nhất của Đảng- vẫn chủ động thành công trong việc xác lập thể chế chính trị của đất nước. Hoàn toàn có thể nói rằng, vị Chủ tịch Nhà nước Việt Nam độc lập còn chủ động tạo ra hình thái “đa nguyên, đa đảng” với việc chấp nhận “mời” 70 thành viên của các đảng phái chính trị trước đó “tẩy chay” tham gia tổng tuyển cử vào làm đại biểu Quốc hội.

Bàn về thể chế chính trị của Việt Nam trong hoài bão đất nước giành được độc lập, trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đã hình thành một nhóm trí thức tây học am hiểu luật học và các ngành kinh tế xã hội tập hợp xung quanh tờ báo “Thanh Nghị” để bàn về tương lai đất nước một khi giành được độc lập. Chính nhiều nhân vật trong nhóm này đã chủ động cộng tác và được mời cộng tác, rồi tham gia chính phủ Hồ Chí Minh bởi đã có một sự đồng thuận rất cao về sự lựa chọn thể chế chính trị của nước Việt Nam độc lập.

Ngay cả Bảo Đại- ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, được đào tạo học vấn phương Tây- dù luyến tiếc ngai vàng và không thể không lo sợ trước sức mạnh áp đảo của cách mạng, nhưng cái mô hình dân chủ cộng hoà mà vị vua sau khi thoái vị đã nhận làm công dân rồi trở thành cố vấn tối cao Vĩnh Thuỵ bên cạnh Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chính sự lựa chọn thể chế chính trị này đã không dẫn đến những gì xảy ra như ở nước Pháp trong cách mạng tư sản hay nước Nga trong cách mạng vô sản…, mà nó còn tạo nên nền tảng mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc mà chúng ta được chứng kiến trong những trang sử gắn liền với thể chế dân chủ – cộng hoà .

Nghiên cứu lịch sử xây dựng Hiến pháp năm 1946, chúng ta thấy những yếu tố tạo nên giá trị bền vững đã diễn ra sau sự lựa chọn thể chế được thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Một quốc hội nhanh chóng được bầu theo phương thức được coi là dân chủ và tiên tiến nhất đương thời là phổ thông đầu phiếu có sự bình đẳng tuyệt đối giữa nam và nữ trong việc bầu cử và tham gia Quốc hội, giữa các tôn giáo, sắc tộc và tầng lớp xã hội (vào thời điểm ấy ngay cả nhiều nước Châu Âu đã phát triển cũng chưa đạt tới). Một quốc hội được triệu tập theo đúng những thông lệ quốc tế: Người chủ trì phiên đầu là vị đại biểu cao niên nhất lại là tín đồ đạo Thiên chúa- cụ Ngô Tử Hạ, người dân có thể vào quan sát phiên họp tại khu vực tầng cao nhất của Nhà hát Lớn Hà Nội. Một ủy ban soạn thảo Hiến pháp được cử ra gồm toàn những trí thức, sau đó được bổ sung nhiều nhà luật học… Những nội dung soạn thảo trước khi triệu tập kỳ họp thứ hai được đưa ra diễn đàn báo chí trao đổi.

Ngày nay, đọc lại biên bản tường thuật kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I kéo dài từ 28.10 đến 9.11.1946 thì phần lớn thời gian dành để thảo luận về Hiến pháp (tổng cộng 7 ngày). Tham gia thảo luận rất sôi nổi với những gương mặt rất tiêu biểu của giới trí thức đương thời (như Trần Đình Tri (Việt Minh), Trần Trung Dung (Việt Nam Quốc dân Đảng), Lê Thị Xuyến (Xã hội), Trần Huy Liệu (Mácxít), Hồ Đức Thành (Cách mạng Đồng minh Hội), Hoàng Văn Đức (Dân chủ)…, người ta nhận ra sự đồng thuận nhiều hơn sự bất đồng của các đại biểu thuộc các đảng phái khác nhau.

Sự bất đồng chủ yếu là chấp nhận thể chế dân chủ – cộng hoà, nhưng với mô hình một viện hay hai viện. Hai ý kiến đều là đại biểu của Việt Nam Quốc dân Đảng không tán thành một viện cho rằng dân chúng vì chưa được huấn luyện nhiều về chính trị nên chế độ một viện chưa thích hợp với nước ta (Trần Trung Dung), chế độ một viện là độc tài của đa số (Phạm Gia Đỗ)… Cuối cùng, khi biểu quyết thông qua Hiến pháp, trong số 242 đại biểu có mặt thì chỉ có hai lá phiếu phản đối. Một của Phạm Gia Đỗ- ngoài vấn đề không tán thành một viện- còn đề nghị bãi bỏ kiểm duyệt, tự do xuất bản… Và người thứ hai lại là nhà công thương nổi tiếng của thành phố Hải Phòng Nguyễn Sơn Hà, lấy lý do trong Hiến pháp, quyền của các nhà tư bản Việt nam không bằng quyền của các nhà tư bản Pháp và ngoại quốc được Nhà nước Việt Nam thoả hiệp theo tinh thần của Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946)…

Bản Hiến pháp 1946 đã được thông qua bằng 240 phiếu thuận.

Và kết luận kỳ họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “…Sau khi nước nhà mới được tự do 14 tháng, đã làm được bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp ấy còn là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này nữa. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do…”.

Nhắc lại bản Hiến pháp đầu tiên để nói đến cái nền tảng bền vững của một thể chế chính trị mà thực tiễn cho thấy cho đến ngày nay, khi đã có 3 bản hiến pháp tiếp theo ra đời vào những giai đoạn lịch sử sau đó, ngoài Hiến pháp 1959 vẫn còn có sự tham gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vẫn duy trì thể chế dân chủ – cộng hoà thì đến năm 1976, quốc danh Việt Nam đã chuyển qua thể chế “Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa”. Và bản Hiến pháp ngắn ngủi nhất trong lịch sử ra đời 1980 phải coi là một bước lùi khi đã có khuynh hướng Xôviết hoá theo mô hình của một quốc gia hùng mạnh đang là đồng minh vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước- của một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và chính cái mô hình ấy đã đổ vỡ hoàn toàn- đã thúc đẩy chúng ta phải đổi mới, mà hệ quả của nó chính là bản Hiến pháp 1992 mà giờ đây chúng ta đang tiếp tục sửa đổi.

Một thoáng nhìn lịch sử cũng đủ thấy cái nền tảng của Hiến pháp hiện tại hay tương lai, một khi xa rời cái nền móng được tạo dựng từ cuộc cách mạng và bản Tuyên ngôn Độc lập với thể chế dân chủ – cộng hoà mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, và cho đến nay nhiều quốc gia vẫn chấp nhận như một mô hình tiên tiến. Hơn thế nữa, những mục tiêu tưởng chừng rất khiêm nhường: Dân tộc, độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc đến nay vẫn không thay đổi, vì nó vẫn còn đang ở phía trước như những thách thức lâu dài. Không hẳn là một bước “lùi để tiến”, mà chính đó là cách phát triển bền vững nhất của một giá trị đã mang tính truyền thống.

 

 

Phần tử cơ hội và kẻ cơ hội chính trị là ai và ở đâu? – Bauxite

21 Th1

Phần tử cơ hội và kẻ cơ hội chính trị là ai và ở đâu?

Lưu Hà Sĩ Tâm

Trong dòng chảy của cuộc sống, con người quan tâm nhiều đến các cơ hội, vì cơ hội đến sẽ tạo tiềm năng gây chuyển biến nhanh (nhiều khi là đột biến) trong dòng chảy ấy. Tuy vậy, thuật ngữ “cơ hội” được dùng ở Việt Nam với nhiều sắc thái khác nhau, nhiều khi gây tranh cãi trong chính trường và cả ở ngoài đời.

Theo tôi, cơ hội là diễn biến của hoàn cảnh với những điều kiện thuận lợi, mà chủ thể (mỗi người/gia đình/tổ chức/quốc gia/toàn cầu…) cảm nhận được, rằng có thể thúc đẩy nhanh chóng sự chuyển biến cho việc tạo ra giá trị (kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tinh thần…) với chi phí thấp hơn, và nếu nắm bắt kịp thời để hành động đúng cách thì sẽ đạt được mục đích mong muốn.

Cuộc sống trôi qua, và chúng ta nhận thức được có những cơ hội tự nhiên, tự nhiên đến, mà chủ thể không chủ động tạo ra, nhưng cố gắng tận dụng. Mặt khác, có những cơ hội mà chủ thể đã chủ động để tạo ra vào thời điểm nào đó trong tương lai, và do đó có thể gọi đó là những cơ hội chủ động. Khi có cơ hội tự nhiên đến, chủ thể nắm bắt và tận dụng được, như vậy là may mắn. Còn cơ hội chủ động không đem đến may mắn dễ dàng, mà đòi hỏi chủ thể phải chủ động tiến hành các hoạt động có chủ đích, có đầu tư, có nuôi dưỡng, …nên những cơ hội này đến với chủ thể như là phần thưởng (kết quả) cho quá trình chủ động đó. 

Phần tử cơ hội 

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của các đảng cộng sản trên thế giới, một trong các việc vô cùng hệ trọng trong xây dựng Đảng là tuyệt đối ngăn chặn những “phần tử cơ hội” lọt vào trong hàng ngũ của Đảng. Đó là những người luôn luôn tìm kiếm và khai thác mọi cơ hội cho lợi ích của mình, hoặc cho lợi ích của các tổ chức khác ngoài Đảng. Đó là những người về mặt tư tưởng thì đã, đang và sẽ không học tập để thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin hoặc nhận thức lại về chủ nghĩa này, không có đạo đức cách mạng, và do vậy họ dễ dàng trở thành người chống lại Đảng ngay từ trong nội bộ. Vì lẽ đó, thuật ngữ “phần tử cơ hội” là thuật ngữ quen dùng của Đảng. 

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương độc quyền lãnh đạo đất nước, hiến định điều đó trong Hiến pháp 1980 với việc ép buộc toàn dân phải chấp nhận điều đó mà chẳng hề cho dân phúc quyết. Đảng giành lấy việc lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị từ thấp đến cao, cũng như mọi tổ chức khác trong xã hội. Đảng đạt được điều ấy. Nhưng về mặt xây dựng Đảng thì lại diễn biến trái với mong muốn của Đảng. Đã có hai quá trình diễn ra, liên quan đến tâm lý và nhu cầu người dân một cách tự nhiên. 

Quá trình thứ nhất, theo thời gian, Đảng vấp phải khó khăn ngày càng lớn, là số người thực sự có nguyện vọng vào Đảng một cách trong sáng ngày càng giảm. Khắp nơi xuất hiện tình trạng là các chi bộ phải gợi ý và mời người ta vào Đảng, cho đủ chỉ tiêu hay đạt thành tích về xây dựng Đảng. Các nguyên tắc khắt khe trong tìm kiếm, bồi dưỡng, kết nạp đảng viên mới chỉ còn là nội dung trên giấy, mà không thể thực hiện trên thực tế. “Để cho người ta còn vào”, các đảng viên trong các chi bộ nói thế. Vậy là, hầu hết thanh niên trong nguồn bồi dưỡng phát triển Đảng, và cả các đảng viên mới, lảng tránh việc học tập để có những nhận thức cần thiết về chủ nghĩa Mác-Lênin.  Họ cũng nhận thức được ít nhiều tính viển vông của chủ nghĩa này, nhưng dại gì nói ra. Họ có nghe đến chuẩn mực đạo đức cần có của một người cộng sản chân chính (như suốt đời hy sinh phấn đấu vì lợi ích nhân dân,…), nhưng dại gì noi theo. Quá trình này cho thấy, ngày càng nhiều đảng viên yếu kém về nhận thức, lý tưởng và đạo đức, nên một cách tự nhiên, họ là sản phẩm của quá trình hình thành những phần tử cơ hội đúng nghĩa ngay trong Đảng. 

Quá trình thứ hai, cha mẹ ông bà đang nuôi con cháu ăn học phổ thông, vì muốn con cháu mình không ở vào tình huống bất thường so với bạn bè, nên động viên chúng vào đội, vào đoàn. Điều này quá dễ vì không phải phấn đấu, chỉ cần không hư là được. Khi chúng trưởng thành và nhận thấy chúng có năng lực nhất định, cha mẹ ông bà định hướng cho chúng làm việc trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, trong hệ thống quản lý nhà nước từ làng xã trở lên, trong các tổ chức xã hội khác. Khi cha mẹ ông bà vui mừng đã xin được việc cho con cháu, lại lo đến tương lai phát triển của chúng trong môi trường ấy. Lời khuyên cho con cháu theo tinh thần sau đây đã diễn ra phổ biến trong các gia đình: thôi thì lo mà vào Đảng đi con ạ, để “người ta” không gây khó cho mình, để “người ta” còn tạo điều kiện cho học hành, cất nhắc sau này.  Những thanh niên ấy, theo lời khuyên thực tế ấy, đã trở thành đảng viên, chỉ vì bảo vệ và tìm kiếm lợi ích cho mình. Như vậy, cha mẹ ông bà, chỉ vì nguyện vọng chính đáng là bảo vệ con cháu, nên vô tình thúc đẩy con cháu trở thành phần tử cơ hội trong Đảng. 

Cả hai quá trình trên, khiến cho Đảng trong hơn ba thập kỷ qua đã trở thành một tổ chức đầy rẫy những phần tử cơ hội. Một lãnh đạo cao cấp của Đảng gần đây đã nói rằng “đảng viên nhan nhản, cộng sản mấy người”, là sự cay đắng thừa nhận thực tế ấy. Hệ lụy này Đảng phải gánh chịu. Nhưng căn nguyên lại chính do Đảng tự gây ra mà không lường được, do Đảng buộc toàn dân thừa nhận sự lãnh đạo duy nhất và toàn diện của đảng. Sự lãnh đạo đất nước như một món hàng độc quyền buộc toàn dân phải mua, nhưng với giá ngày càng chết người. 

Kẻ cơ hội chính trị 

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng hay dùng thuật ngữ “kẻ cơ hội chính trị”, để chỉ những người khác chính kiến về mặt tư tưởng, có các hành vi hay hoạt động trái với lợi ích của Đảng. Đảng muốn nói rằng, những người đó đang rắp tâm làm mọi việc để tạo nên các cơ hội chủ động về mặt chính trị, gọi là cơ hội chính trị. Đảng ghép thêm danh từ “kẻ” phía trước, thành “kẻ cơ hội chính trị”, nhằm nhấn mạnh họ là những kẻ xấu, là những người không có lý tưởng, nhưng tham gia hoạt động nhằm cải biến chính trị chỉ vì những lợi ích mang lại cho cá nhân, chứ không phải vì muốn phục vụ cho lợi ích nhân dân. 

Trên thực tế, thuật ngữ “cơ hội chính trị” không phải luôn là xấu như Đảng đã tuyên truyền. Nếu cơ hội chính trị dẫn đến cải biến kinh tế – xã hội- văn hóa theo hướng tiến bộ theo chuẩn mực chung của nhân loại, thì đó lại là tốt. Và những người chủ động tạo ra và nắm bắt các cơ hội chính trị tốt ấy là những người tốt. 

Nhìn lại dòng lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, có thể nói đến các cơ hội chính trị lớn đã diễn ra: 

– Đảng Cộng sản ViệtNamchủ động tạo cơ hội, nắm bắt và tận dụng cơ hội chính trị năm 1945, lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền từ tay Nhật (đã đầu hàng Đồng minh), lực lượng hợp tác với Nhật và triều đình Bảo Đại, khai sinh nước Việt Nam DCCH. Cơ hội chính trị này là tốt, vì đất nước được độc lập và Hiến pháp 1946 thể hiện cải biến kinh tế – xã hội – văn hóa theo hướng tiến bộ so với trước đó. Vì thế, khó có thể gọi các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 1945 là những “kẻ cơ hội chính trị” theo nghĩa xấu. 

– Đảng Cộng sản ViệtNamlãnh đạo quân dân, nắm bắt và tận dụng cơ hội chính trị năm 1975. Đây là cơ hội chính trị tốt, nếu chỉ nhìn nhận theo mục đích là đi đến thống nhất đất nước. Vào lúc ấy, toàn dân hy vọng sẽ còn có cải biến kinh tế – xã hội – văn hóa theo hướng tiến bộ nữa. 

– Nhưng rồi xuất hiện những cơ hội chính trị khác, tuy nhỏ hơn nhưng rất quan trọng, vì là những cơ hội có thể đem đến cho toàn dân sự cải biến chính trị theo hướng tiến bộ. Đó là các sự kiện dẫn đến ban hành Hiến pháp 1980, rồi Hiến pháp 1992. Thật thất vọng, các Hiến pháp này đều thể hiện cải biến kinh tế – xã hội – văn hóa theo hướng phản tiến bộ mà không cho nhân dân phúc quyết. Đó là các cơ hội chính trị xấu. Hơn nữa, đã lộ ra ngày càng rõ, là các đảng viên chủ trương và chỉ đạo nuôi dưỡng, dùng mọi mẹo mực giả trá để tạo ra các cơ hội chính trị xấu như vậy, nên về bản chất, chính họ mới là những “kẻ cơ hội chính trị” theo nghĩa xấu. Giờ đây, đầu năm 2013, vẫn những kẻ cơ hội chính trị ấy đang rắp tâm tạo nên một cơ hội chính trị xấu tiếp theo, với việc sửa đổi Hiến pháp theo hướng duy trì tình trạng tồi tệ này. 

Tất cả những điều nói trên cho thấy, những phần tử cơ hội và những kẻ cơ hội chính trị hiện nay chủ yếu lại là các đảng viên ngay trong nội bộ Đảng Cộng sản ViệtNam. Vậy một tổ chức mà chủ yếu gồm các phần tử cơ hội và kẻ cơ hội chính trị, thì có mong đợi gì kết quả từ việc họ phê và tự phê. 

Tuy thế, người dân không tuyệt vọng. Nhìn tới tương lai, tất yếu sẽ xuất hiện những cơ hội chính trị tốt thực sự cho nhân dân, với Hiến pháp tiến bộ, không cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo và áp đặt tư tưởng đã lỗi thời đối với nhân dân. Tất cả mọi người dân Việt Nam hiện nay đang có tư tưởng và hành động đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước, bất kể là sinh sống trong nước hay định cư ở nước ngoài, bất kể ngoài Đảng hay vẫn còn đang bên trong Đảng, công khai hay còn chưa công khai, đều xứng đáng là những con dân ưu tú của đất Việt. 

Thực tế cho thấy những người dấn thân trên con đường dân chủ hóa đất nước đã vô cùng dũng cảm, chịu đựng hy sinh rất lớn trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền. Hầu hết trong số họ phấn đấu cho quá trình cải biến chính trị vì lợi ích cộng đồng, lợi ích toàn dân, hoàn toàn không phải vì muốn mang lại lợi ích cá nhân họ. Và các thuật ngữ “phần tử cơ hội” và “kẻ cơ hội chính trị” thực chất là ngày càng trở nên xa lạ khi quy kết họ. 

Các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang mặc những chiếc áo có tên gọi như thế, lẽ nào chỉ nhăm nhăm khoác chúng lên người khác? 

Thái Bình, 20/1/2003 

L. H. S. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

%d bloggers like this: