Lưu trữ | 10:39 Chiều

Phú: RẮN TÂM SỰ

22 Th1

RẮN TÂM SỰ

(Phú)

 Kha Tiệm Ly

Rồng lui chân theo cựu Đông Quân,

Rắn ngỏng cổ mừng tân niên kỉ.

Nhân ngày tư ngày tết, rắn em bày tỏ đôi lời,

Mong năm mới năm mung, mọi người được ban đại hỉ.

 

Nghĩ phận em,

 

Thân dài vai… nhỏ, ngàn đời không đứng được… hai chân!

Họ gần họ xa, thể tạng chỉ đổ đồng mấy kí!

Ở hang sâu hốc tối, bụi rậm tàn cây, mơ gì cửa rộng nhà cao,

Ăn bữa đói bữa no, ểnh ương cóc nhái, dám đâu sơn hào hải vị.

Chẳng truyền bệnh sán như anh Chó anh Heo,

Không ăn vụn cơm như anh Mèo anh Tí.

Biết thân hèn vóc mọn, em loay huay mãi tìm chốn vườn rậm rừng sâu

Mà cạn lý hết tình, người hung hãn cứ dồn vào đường cùng thế bí.

Trong mười hai con giáp, riêng rắn em thường bị lắm tiếng tai.

Dưới cặp mắt người đời, cả họ hàng  luôn bị coi xúi quảy.

 

Lại thoang thoảng bị móng vuốt diều hâu,

Cũng đều đều gặp con thần ve xị:

Mỏ dài vuốt nhọn, cắp lên non, cho con cháu chén  no nê,

Dao bén thớt dày, thảy vào bếp, đủ một bàn say bí tỉ!

 

Cho rằng,

 

Lũ chúng em luôn mang nọc độc giết người,

Mà bọn họ cố quên những lời chí lí:

Rắn giết người, tự cổ đếm được bao nhiêu?

Người giết người, đến nay xem ra hàng tỉ!

 

Lại chẳng nhớ:

 

“Xà tửu vô ưu,

Đông y hữu lý”.

Chẳng những nọc độc thuộc hàng quý dược của y sư,

Mà cả xương da cũng dạng ngãi phương trong điều trị.

An tì, bổ thận; chánh tông Gò Đen ngâm cùng thục địa, táo nhơn….

Tăng lực cường dương, rặc ri Bàu Đá hãm hổ mang với đương qui, cao kỉ…

Ngửi một hơi cũng đủ sảng khoái tinh thần,

Hớp một ngụm lại càng nâng cao sĩ khí!

Chiều về các cụ nhâm nhi,

Tối đến mấy bà yêu quý!

Hay cho câu “ông uống bà khen”

Thú cho chữ “ nhỏ nghe lớn chỉ! ”

Cao nọc rắn, trị thần kinh tọa, thoái khớp đại tài,

Rượu mãng xà, chữa gai cột sống, thống phong hết ý!

“Bách xà diệu dược”, công năng nổi tiếng ngập Trời Nam

“Ngũ độc gia truyền” chất lượng vượt qua bờ Âu Mỹ.

Mua nếu đúng căn nguyên thì chớ ngại tốn tiền,

Dùng chẳng rõ cội nguồn phải coi chừng lép ví!

 

Có hết đâu!

 

Xào lăn bầm nhuyễn, cuốn bánh tráng lá thơm,

Chặt khúc hầm nhừ, ngấm xả gừng ngũ vị.

Mặc cho nào bê thui, bê tái… món ngon sa số hàng hà.

Sánh sao với rắn nướng, rắn nhồi…đặc sản độc chiêu vô nhị?

 

Tuy nhiên,

 

Nếu đi đường chẳng nên lạng lách lung tung,

Thì uống rượu cũng đừng nhềnh nhàng bí tỉ!

Dù mồi “bắt”, có nhiều món để đầy mâm,

Nhưng dược tửu, cũng vài li cho có vị.

Quên ăn ham uống, sẽ tan nát tâm can,

Nhậu rượu bỏ mồi, ắt tổn hao chân khí.

Dùng vừa độ, hồn lâng lâng như lạc cõi thần tiên,

Nốc quá đà, trí mê muội sẽ theo loài ngạ quỉ!

“Chừa đường về”, để còn biết ngõ trước, ngõ sau,

Chớ “tăng hai”, mà lọt xuống bờ dưa, bờ bí!

 

Như nói trên,

 

Chẳng phải thân em phận rắn cắn người,

Mà là dược liệu thần y điều trị:

Cho quí ông sinh lực vô song,

Cho quí bà dung nhan tuyệt mĩ.

Nhậu rượu, mồi gà mồi cá, chỉ loại bá vơ.

“Đưa cay”, với rắn với trăn, mới là “mậu kị”!

So với rồng, với cọp, hình tướng nầy dù hơi kém oai phong,

Đọ cùng chuột, cùng heo, hương sắc đây chẳng lấy gì xấu xí.

 

Vậy cớ sao?

 

Dù em có cao chay xa bay,

Mà người cũng truy cùng đuổi bí.

Thế giới “thả” để bảo vệ môi trường,

Quí anh “giết” thì còn chi đạo lí?

 

Nay đây,

 

Nhân ngày xuân mới, hoa lá dâng hương sắc rộn ràng,

Mượn chén rượu đầy, rắn em tỏ đôi lời thủ thỉ:

Rắn có ích, không hề tội nhỏ tội to,

Rắn có công, chẳng có điều kiêng điều kị.

Năm nay rắn sẽ hóa rồng,

Mọi sự công thành như ý!

Bách phúc mãn đường.

Cung hỉ! Cung hỉ!

 

 

KHA TIỆM LY

 

Philippines đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án LHQ – TP

22 Th1

Philippines đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án LHQ

Xem tin gốc 

Tiền Phong – 5 giờ trước 584 lượt xem

TPO – Trong một động thái bất ngờ, Philippines tuyên bố sẽ đệ trình tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra tòa án Liên hợp quốc. Philippines và Trung Quốc đang rất căng thẳng trong vấn đề tranh chấp biển đảo.

 

Philippines và Trung Quốc đang rất căng thẳng trong vấn đề tranh chấp biển đảo.

 

Ngoại trưởng Del Rosario của Philippines tuyên bố: “Philippines sẽ dùng mọi cách thức chính trị và ngoại giao để giải quyết tranh chấp biển đảo với Trung Quốc theo phương thức đàm phán. Chúng tôi hi vọng sẽ mang lại giải pháp lâu dài cho tranh chấp này”.

Manila cũng thông báo cho đại sứ Trung Quốc tại Philippines Mã Khắc Thanh về quyết định đưa Trung Quốc ra tòa án phân xử theo Công ước về Luật biển (UNCLOS) của Liên hợp quốc, được cả 2 nước ký năm 1982.

Đây là một động thái mang tính bước ngoặt của Philippines trong tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại biển Đông.

Từ trước tới giờ, Trung Quốc vẫn chủ trương giải quyết song phương với các nước láng giềng trong tranh chấp lãnh thổ tránh việc quốc tế hóa.

Trong bản đệ trình lên tòa án Liên hợp quốc, Philippines cho biết cái gọi là “đường 9 đoạn” của Bắc Kinh, vẽ tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, trong đó có cả vùng biển, đảo nằm sát bờ biển các nước láng giềng, là bất hợp pháp.

Bản đệ trình cũng kêu gọi Trung Quốc “rút lại các hoạt động phi pháp, vi phạm quyền tối cao và tài phán của Philippines theo Công ước 1982 UNCLOS”.

Trong thời gian qua, Trung Quốc và Philippines có những căng thẳng xung quanh tranh chấp bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham.

“Suốt từ năm 1995 đến nay, Philippines đã nhiều lần trao đổi quan điểm với Trung Quốc về giải quyết hòa bình những tranh chấp. Tới hôm nay, vẫn rất khó tìm được giải pháp”, Ngoại trưởng Philippines khẳng định.

Hà Anh
Tổng hợp

Trung Quốc chuẩn bị “chiến tranh cấp kỳ” – TN

22 Th1
 
 

Thơ Thanh Thảo – Chuyên gia nước ốc trường ca, cỡ vạn người làm – Nguyetuongthuy

22 Th1

Thanh Thảo là nhà thơ lớp chống Mỹ rất lừng danh! Nhưng lừng danh bởi cái gì thì tôi chưa được đọc nhiều. Một lần thấy chương trình nói về thơ Thanh Thảo với bài “tủ” rất nổi tiếng của ông, tôi đã rất chăm chú lắng nghe. Tôi thấy Thanh Thảo bước ra bãi cỏ và đọc bài “Dấu chân qua trảng cỏ”. Bài thơ chẳng có cảm xúc hay cái nhìn gì đặc biệt. Ngay cái tên của nó cũng gợi lên cho ta một chủ đề hết sức bình thường. Nếu văn học là đi qua thông tin cấp một, thì đầu đề bài thơ chỉ là 1,1 thông tin, với một khung cảnh, một cảm trạng. hay một suy tư kéo theo rất nhỏ nhắn. Đi thẳng vào bài thơ nó mới là niềm thất vọng lớn. Nó nhạt không thể nào tả được. Nếu mục đích của nó không “són ra” một tí tuyên truyền thì nó chẳng có gì để nói. Một tí đó nằm ở cuối của bài thơ

Cuộc đời trải mút mắt ta 
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường 

Và:

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường…

Một tác giả viết dù nhạt như vậy, nhưng hôm nay chắc là do cơ số ưu tiên giành cho các cán bộ đại ca của văn học mậu dịch, ông lại vừa ẵm giải của Hội Nhà văn với trường ca chân đất. Cái gọi là trường ca này dài hơn bốn nghìn chữ, với tứ thơ và ý thơ nói cho nhanh đều cán đích nhạt hơn nước ốc. Chúng ta hãy thử suy luận hai từ “chân đất”, nó hoàn toàn là thông tin cụt lủn cấp một chẳng hề chứa một thông điệp nào của tư tưởng. Hơn thế, chữ chân đất gợi lên thứ nông phu nào đó. Một nông dân có thể rất đẹp trên cánh đồng, nhưng chưa thể trở thành nhân vật của mỹ học cao cả được. Thôi nói nhiều võ đoán, chúng ta thử bước vào mấy câu thơ tiêu biểu nhất:

– này bạn tre ngâm ơi
sao mắt rạng ngời
mùi hơi gắt
– thì Việt vương cũng nằm gai nếm cứt
như thân ta ủ kín trong bùn

Thanh Thảo lấy vua Việt Vương để làm duyên cho tre. Trời ơi vẻ đẹp của tre thuần phác lắm, nó ngâm trong bùn cao quí khác gì vàng thử lửa, hay con người bị thử thách trong ô nhục. Vậy việc gì phải an ủi nó bằng cách so với Việt Vương nếm cứt. Đúng là khi trong đầu chẳng có tư tưởng gì trọng đại người ta đành phải loay hoay với những điều vớ vẩn. Đây hoàn toàn là cách tự ti tiểu nông muốn lên gân. Về tu từ pháp, khi Nguyễn Huy Thiệp đưa “cứt” vào văn xuôi, nhiều người đã coi là “thẩm xú”, vậy mà thanh Thảo còn đưa cứt cả vào thơ, có lẽ xưa nay chưa từng có thẩm xú đỉnh cao kiểu cán bộ như vậy. Tiếp theo:

bác Năm Trì tàng tàng tàng
bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
trăng hạ tuần

Đây hoàn toàn là thứ thơ thấy gì nói nấy, rơi vào dễ dãi, tự nhiên chủ nghĩa, đem cả việc gãi háng vào thơ khác nào bày ra thứ nhà tắm công cộng. Và còn đây một nền tảng văn hóa vô sản thật đặc trưng:

chúng tôi không xây Vạn Lý Trường Thành
chúng tôi đếch là hảo hán
chúng tôi tươi vui
bình thản

Hãy thử hình dung nếu Thanh Thảo nói với Căm-pu-chia “chúng tôi không xây Ăng-co-vát”, nói với Ai Cập “chúng tôi không xây tượng Nhân sư”, nói với Pháp “chúng tôi không xây tháp eiffel”, hay nói với nước Nga “chúng tôi không xây điện Krem-lin”… Đây hoàn toàn là sự vỗ ngực của ếch ngồi đáy giếng, chẳng biết thiên hạ là ai, bố mày vẫn nhất đây, nó hoàn toàn là chủ nghĩa Chí Phèo hay AQ. Đặc biệt với từ “đếch”, Thanh Thảo tỏ ra mình là thứ đại ca xuất sắc của đường phố, không coi ai ra gì, không coi thơ là gì, không coi nghệ thuật với thẩm mỹ là gì, bố mày đây thẩm xú vẫn hay… Ở đời, một động cơ thì xoay nóng rực, trục bánh xe thì chịu lực, chỉ có rẻ rách phơi trên rào mới nhàn tản mà thôi. Nhàn tản đó như Lỗ Tấn nói, có khác gì vô tích sự. Mấy ông lười biếng vẫn gãi rốn tự hào “ta sướng hơn vua, vì ta đói nhưng nhàn, chẳng phải làm gì”.

Đó là những câu hay bậc nhất của trường ca, khổ cuối cùng tôi còn trích dựa theo đoạn trích của nhà thơ – nhà báo Nguyễn Việt Chiến. Nói chung là nhạt và rất nhạt. Nền thơ Việt hôm nay nhếch nhác bé nhỏ vì nó là cái chợ cóc hỗn tạp, tôi nghĩ Thanh Thảo cũng chỉ là một thứ quán cóc chúng ta nên dẹp bỏ, từ đó mới hy vọng nền thơ được khai sáng như quảng trường, ở đó các nhà thơ sẽ được nói về mỹ học cao cả, cảm xúc dồi dào tinh tế, và cái Chân – là tình yêu công lý của giấy mực. Tôi rất muốn là một trong những người đầu tiên dọn dẹp chợ cóc này, nếu bạn nào muốn tôi giải phẫu thơ ai, đặc biệt của các đại ca quốc doanh thì hãy gửi lời mời, thơ, và một khoản nhuận bút. Nếu chúng ta tập trung vào việc dọn dẹp nền thơ thì cũng nhanh thôi. Một ngày tôi có thể dọn dẹp hai đại ca ăn lỳ ở bám hệ tem phiếu đòi quyền ưu tiên, như vậy một tháng sẽ thanh toán dăm bảy chục mớ giấy lộn vần vèo mốc meo.

Việc cấp bách tôi xin đề xuất là: bất cứ thứ thơ nào dài mà không có nhân vật, thì không được gọi là trường ca. Trung Quốc đã bỏ vài chục năm qua đi tìm sử thi và trường ca mà không thấy. Trường ca thì phải có chất bi tráng hay bi hùng kịch. Nhà thơ, nhà LLPB Insara mới đây có nói: các nhà thơ của chúng ta yếu ớt đến mức không thể có trải nghiệm sâu sắc để có cốt chuyện. Như vậy là đã quá rõ ràng, từ lý thuyết cao siêu, đến hiện thực và người trong cuộc, đều xác định với tầm vóc quá nhỏ bé của các nhà thơ Việt, đặc biệt là mấy ông sống nhờ bao cấp, khó mà trở thành kiến trúc sư của một cốt truyện.

Chúng ta hãy thẳng thắn, đừng à uôm ăn gian nữa, nếu trong thơ của mình không có cốt truyện và nhân vật, thì đừng có ăn bột nở mà gọi là trường ca. Xin dứt khoát việc đó cho! Và khi ngắm nghía nó để trao giải càng không bao giờ nên coi đó là trường ca. Xin cám ơn!

.

NHĐ 17/01/2013

Tác giả gửi cho NTT blog

THÔNG BÁO CỦA THƯỜNG VỤ HỘI NV VIỆT NAM VỀ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN – Văn Công Hùng

22 Th1

THÔNG BÁO CỦA THƯỜNG VỤ HỘI NV VIỆT NAM VỀ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN

 
 Trong mùa giải năm 2012, các thành viên Sơ khảo đến Chung khảo đều đọc kỹ tác phẩm, có chính kiến và bỏ phiếu bầu hợp lệ. Hoàn toàn không có cái gọi là “phiếu trắng”…
————

Ngày 21 tháng 01 năm 2013, tại Hà Nội, theo sự uỷ nhiệm của Ban chấp hành, Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam đã tiến hành phiên họp xem xét, thông qua Giải thưởng văn học năm 2012. Tham dự phiên họp có Trưởng Ban Kiểm tra của Hội.
 
Sau khi nghe báo cáo của các chủ tịch Hội đồng Sơ khảo và Chủ tịch Hội đồng Chung khảo, Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam nhất trí như sau :
 
1/ Việc xét giải thưởng văn học năm 2012 của Hội đã được tiến hành theo đúng Quy chế giải thưởng; từ khâu nhận tác phẩm đăng ký dự giải đến quá trình xét của Hội đồng Sơ khảo và Hội đồng Chung khảo đã thực hiện đúng quy trình, thể thức và tiến độ quy định.
 
– Các tác phẩm dự giải năm 2012 là tác phẩm của các tác giả, dịch giả xuất bản từ 01/11/2011 đến ngày 31/10/2012, thực hiện đúng quy định của  Quy chế giải thưởng. Từ 217 tác phẩm tham dự, qua Sơ khảo đã chọn được 15 tác phẩm vào Chung khảo.
 
– Quá trình xét giải từ cấp Sơ khảo đến cấp Chung khảo được tiến hành công khai, dân chủ, tôn trọng mọi ý kiến khác nhau và quyết định bằng phiếu bầu.
 
– Các tác giả có tác phẩm dự giải không tham gia Hội đồng Sơ khảo và Chung khảo.
Kết quả làm việc các bước đều có biên bản đầy đủ, báo cáo Ban chấp hành.
 
– Quy chế giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam quy định: các tác giả là hội viên của Hội và chưa phải hội viên đều có quyền tham dự. Việc các uỷ viên Ban chấp hành tham dự giải là quyền và trách nhiệm của một hội viên, hoàn toàn không có cái gọi là “lợi ích nhóm”. Trong các nhiệm kỳ trước đã có nhiều nhà văn nổi tiếng trong  BCH đã được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.
 
– Mùa giải 2011, bắt đầu thực hiện theo Quy chế mới, nên năm 2011 phải xét cả hai năm 2010 và năm 2011. Do đó, để bảo đảm chính xác, Ban Chung Khảo bỏ phiếu hai lần, mỗi lần cho một năm.
 
– Trong mùa giải năm 2012, các thành viên Sơ khảo đến Chung khảo đều đọc kỹ tác phẩm, có chính kiến và bỏ phiếu bầu hợp lệ. Hoàn toàn không có cái gọi là “phiếu trắng”.
 
Theo Quy chế, giải thưởng của Hội gồm có Giải thưởng và Bằng khen của BCH Hội Nhà văn Việt Nam;
 
2/ Hội nghị đánh giá cao kết quả làm việc của Hội đồng Sơ khảo, Chung khảo và quyết định tặng Giải thưởng văn học năm 2012 gồm các tác phẩm sau: 
 
I. GIẢI THƯỞNG:  
 
1. Văn xuôi:
 
– Tập truyện ngắn Thành phố đi vắng của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ
 
2. Thơ:
 
– Tập Trường ca Chân đất của nhà thơ Thanh Thảo
 
– Tập thơ Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương
 
– Tập thơ Màu tự do của đất của nhà thơ Trần Quang Quý
 
3. Lý luận phê bình:
 
– Tập tiểu luận, phê bình văn học Đa cực và điểm đến của nhà văn Văn Chinh
 
II. Tặng BẰNG KHEN của BCH Hội Nhà văn Việt Nam:
 
1. Văn xuôi:
 
– Tiểu thuyết Trò chơi huỷ diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban
 
– Tiểu thuyết Thế kỷ bị mất của tác giả Phạm Ngọc Cảnh Nam
 
2. Thơ:
 
– Tập thơ Hoa hoàng đàn nở muộn của nhà thơ Khuất Bình Nguyên
 
– Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng.
 
Như vậy, Giải thưởng văn học năm 2012 của Hội Nhà văn Việt Nam gồm 5 giải chính thức và 04 Bằng khen của BCH Hội Nhà văn Việt Nam.
 
3/ Ban Thường vụ giao cho Ban Sáng tác tổ chức thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức lễ trao giải vào dịp đón xuân Quý Tỵ 2013.
 
                                                                                                                                                  T/M BAN THƯỜNG VỤ
                                                                                                                                                              CHỦ TỊCH
 
 
                                                                                                                                                Nhà thơ HỮU THỈNH
                                                                                                                                                              (đã ký)
 

 

2 nhận xét:

That xát lát nói…

“Giải thưởng” thì nghe được nhưng “bằng khen” thì nghe nó kỳ kỳ thế nào ý.

01:21 Ngày 22 tháng 1 năm 2013

Nặc danh nói…

Tất cả đều ngon lành, tốt đẹp giống hệt báo cáo của thủ tướng! Phấn khởi tự hào quá!

03:54 Ngày 22 tháng 1 năm 2013

Tâm sự của một Đảng viên – BBC

22 Th1

Tâm sự của một Đảng viên

Nguyễn Văn Thọ

Người Việt tại Đức

 

Cập nhật: 10:55 GMT – thứ hai, 21 tháng 1, 2013

Tôi thiết nghĩ, bấy nay lâu lắm rồi chúng ta chỉ nghĩ dối và nói dối.

Tôi tham gia vào Đảng từ 1972. Cả một thời niên thiếu, tôi đọc biết bao sách, chuyện… nghe từ chính cha tôi gương hy sinh của các đảng viên Đảng Lao động trước là Đảng Cộng sản Đông Dương và tôi đi theo Đảng từ 16 tuổi. Khi ấy, chúng tôi khi ấy, đã là cả một thế hệ Sống vì Đảng chết không rời Đảng.

 

Nói là sống và chết như thế thực ra không đúng nghĩa lắm, chúng tôi đã chiến đấu không ngại hy sinh gian khổ, vì mục tiêu lớn nhất của Đảng mà đại diện là Chủ tịch Hồ chí Minh nói: Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất hạnh phúc, tự do, ai ai cũng có cơm ăn áo mặc và người già trẻ em được chăm sóc (như thế giới phương Tây hôm nay, ví dụ như Đức, Thụy Điển, Thụy Sĩ v.v…)

Song từ sau 1975, do hệ lụy bởi những tư tưởng nông dân – chiến thắng xong thì lo an nhàn hưởng lạc, vơ vén tham lợi…, do nhiều chính sách cán bộ, đường lối kinh tế sai lầm, Đảng đã mất niềm tin trong dân chúng tới nghiêm trọng.

“Các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính trị nếu không kiên quyết, trước hết là không tự sửa mình, sau là kiên quyết chỉnh đốn Đảng, thay đổi bộ máy chính phủ, kiên quyết hơn nữa chống tham nhũng, kể cả thi hành kỉ luật ngay những cán bộ cao cấp thì các anh có tội với lịch sử của dân tộc.”

Bây giờ hãy dạo quanh Hà Nội, hãy quan sát hầu hết những ngôi nhà lớn, những khu đất đẹp nhất là quanh bốn quận huyện nội thành, quanh Tây Hồ thuộc về ai? Rất nhiều những mảnh vàng giá trị xưa ấy, trước đây của là tài sản quốc gia.

Từ những chính sách sai lầm về đất đai, về phát triển kinh tế, về sử dụng cán bộ, về sử dụng người hiền tài Trí thức… Đảng đã tạo nên nhiều lỗ thủng để xã hội đầy rẫy lũ quan lại tham nhũng và ức hiếp dân chúng.

Trong tất cả các bộ máy công quyền, số đảng viên tận tụy vì nhân dân hy sinh như thời kì đầu của Đảng rất ít. Đảng viên giờ đây không còn là một tấm gương để những thanh niên yêu đất nước noi theo, thậm chí rất nhiều cán bộ Đảng từ trên xuống dưới đã thoái hóa biến thành con sâu con một đục khoét tài nguyên của đất nước.

Những sự kiện như Văn Giang, như sự ứng xử với bà giám đốc nông trường sông Hậu hai lần anh hùng là cái tát với những đảng viên như chúng tôi. Chúng tôi những đảng viên bình thường rất đau lòng.

Tôi đọc bài Bấm phỏng vấn ông Trương Tấn Sang với một ý nghĩ nghiêm túc, nhiều suy nghĩ và không ngần ngại phát biểu. Các đảng viên cao cấp trong Bộ Chính trị nếu không kiên quyết, trước hết là không tự sửa mình, sau là kiên quyết chỉnh đốn Đảng, thay đổi bộ máy chính phủ, kiên quyết hơn nữa chống tham nhũng, kể cả thi hành kỉ luật ngay những cán bộ cao cấp thì các anh có tội với lịch sử của dân tộc.

Đất nước ta không thiếu người hiền tài, thi hành Nghị quyết 36 chúng ta có thể sử dụng rộng rãi lực lượng trí thức có tài, kể cả trước đây họ ở bên kia chiến tuyến.

Tôi thiết nghĩ, nếu động viên được sức mạnh dân tộc, kiên quyết thay đổi Đảng sẽ lấy lại lòng tin của dân nhân và làm con thuyền dân tộc, đất nước không chìm đắm.

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, đang sống ở Đức. Ông là tác giả cuốn ‘Quyên’, giải B Cuộc thi tiểu thuyết lần 3 (2006-2009) của Hội Nhà văn Việt Nam.

 

‘Niềm tin với Đảng đang bị thách thức’ – VNE

22 Th1

‘Niềm tin với Đảng đang bị thách thức’

“Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ đang bị suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời báo chí.

> Tổng bí thư: ‘Dư luận băn khoăn tự phê bình như hòa cả làng’/ ‘Tự diễn biến đe dọa sự tồn vong của Đảng’

– Năm 2012, tính cởi mở và dân chủ đã được thể hiện rất rõ trên các diễn đàn thảo luận về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về nhận định này?

Tôi thấy rất rõ, hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng được người dân quan tâm. Qua những cuộc tiếp xúc cử tri gần đây, tôi thấy người dân đánh giá cao hoạt động của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, Quốc hội đã ngày càng đáp ứng được nhiệm vụ và vai trò, nhất là việc thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Nghị quyết Trung ương 4 khẳng định, một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái, nhưng kết quả thực hiện nghị quyết vừa qua chưa cao. Xin Chủ tịch nước đánh giá về vấn đề này?

Chúng tôi được hỏi câu này nhiều lắm, có người khen, người chê. Vấn đề này, xin khẳng định là phải kiên trì tiến hành, không lùi bước, không thể không làm, nhưng không thể chỉ một lần, một sớm một chiều mà giải quyết ngay được.

Thực tế là vậy, không nên chán nản. Chúng ta phải nhận thức cho đúng, phải hết sức kiên trì, liên tục tiến hành công cuộc xây dựng Đảng. Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm hàng năm. Đó chính là dân chủ hóa. Điều quan trọng là phải làm thực chất, phải có cơ chế kiểm tra chống lại hiện tượng “vận động,” “mua phiếu.” Trung ương Đảng cũng có chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm tương tự và Mặt trận Tổ quốc cũng sẽ có cơ chế tham gia giám sát đội ngũ cán bộ.

– Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về sự tin tưởng của nhân dân đối với chế độ?

Nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, gắn bó với Đảng và chế độ hơn 80 năm qua, kể cả những lúc khó khăn nhất. Niềm tin đó đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng vào Đảng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy của mình. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân. Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn.

Khắc phục những khuyết điểm hiện nay còn là để khẳng định vai trò, trách nhiệm của Đảng với tương lai của đất nước và sự trường tồn của dân tộc như Đảng ta đã làm trong suốt gần một thế kỷ đã qua.

Chủ tịch nước: “Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn”. Ảnh: Nhật Minh.

– Chủ tịch nước có thường xuyên nhận được những thư từ của công dân?

Thư thì hàng ngày tôi nhận được rất nhiều, trên tất cả các lĩnh vực, từ những chuyện rất cụ thể của cuộc sống hàng ngày đến những công việc lớn lao của đất nước, tôi chú ý đến những bức thư chân thực, tâm huyết, xây dựng. Nhiều bức thư rất cảm động, hữu ích, thậm chí có tác dụng trực tiếp đến chính sách của nhà nước, và tôi không thể nói điều gì khác ngoài lòng cảm ơn chân thành.

– Sau hơn một năm ở cương vị là người đứng đầu Nhà nước, đã có những vụ việc nào về bức xúc của nhân dân để lại cho Chủ tịch băn khoăn, trăn trở nhiều nhất?

Tôi nghĩ rằng, bức xúc thì nhiều, nhưng tựu trung lại mấy vấn đề lớn là làm thế nào trong năm mới, chúng ta tập trung giải quyết những vấn đề về dân sinh và kinh tế cho tốt hơn. Đến doanh nghiệp thì được nghe kiến nghị thiếu vốn, bất cập vướng mắc nhiều quá; gặp người lao động thì được phản ánh về thiếu việc làm, thu nhập thấp, tình trạng tiêu cực, tham nhũng…

Sắp tới, phải làm sao vừa giải quyết tốt hơn vấn đề dân sinh kinh tế, vừa phải giải quyết tốt hơn vấn đề quốc phòng an ninh đất nước, giữ vững chủ quyền quốc gia và triển khai toàn diện công tác đối ngoại theo đường lối Đại hội XI của Đảng.

Mình mong dân tin Đảng, nhưng vẫn còn nhiều người mất việc, không có việc làm, nghèo đói; tham nhũng, lãng phí không kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả thì làm sao tin? Băn khoăn, trăn trở nhiều lắm!

>> Xem tiếp: Chủ tịch nước trả lời về vấn đề Biển Đông

Theo TTXVN

Nguyễn Tấn Dũng – KỲ VỌNG VÀ THẤT VỌNG – BVB

22 Th1

Nguyễn Tấn Dũng – KỲ VỌNG VÀ THẤT VỌNG

 
 
 
* MINH DIỆN
 
 BVB
– Ngày 16-5-2006 trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa 11, Thủ tướng Phan Văn Khải từ nhiệm trước một năm, nhường ghế cho Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kế nhiệm mình. Hơn một tháng sau, ngày 27-6-2006, ông Nguyễn Tấn Dũng trở thành tân Thủ tướng, sau 2 nhiệm kỳ liền làm Phó Thủ tướng Thường trực, phụ trách khối Tài chính – Ngân hàng và một số khu vực kinh tế Nhà nước khá quan trọng. Đó là cuộc chuyền giao quyền lực cơ quan hành pháp giữa nhiệm kỳ đầu tiên ở Việt Nam, mà hình ảnh ấn tượng nhất là cái bắt tay hình thức giữa một ông già thấp bé, cổ  nghểnh, từng luống cuống làm rơi tờ giấy cẩm nang khi gặp Tổng thống Hoa Kỳ Geerge Bush ngày 21-6-2005, với một người trẻ tuổi, cao to, có nét phong độ.
 

Một năm sau, ngày 25-7-2007, Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử, với số phiếu gần như tuyệt đối (96,96%). Đến thời điểm đó Nguyễn Tấn Dũng  là một Thủ tướng trẻ nhất Việt Nam.

                   Ông sinh ngày 17-11-1949, nhằm ngày 27 tháng 9 năm Kỷ Sửu, cung Càn, cầm tinh Con Trâu, mạng tích lịch Hỏa, thường là tuổi của những người lãnh đạo bẩm sinh, có đặc tính thể hiện cái tôi mạnh mẽ, không chịu nhường nhịn ai, không cho ai cản đường, độc đoán chuyên quyền, bảo thủ cố chấp, không nghe lời khuyên chân thành mà dễ xiêu lòng vì  nịnh nọt, tình tình dễ nổi nóng, nên có khi  tự phá hỏng  hình ảnh của mình.
 
 
         Với một khuôn mặt đầy đặn, thường là tươi tắn,  trang phục chỉn chu, nói năng lưu loát, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không bị lép khi đứng bên cạnh Thủ tướng các nước trong khu vực, thậm chí  với  các nguyên thủ quốc gia phương Tây. Ông  có phong thái ngoại giao được coi là chững chạc, không luống cuống như người tiền nhiệm, cũng chưa có những câu nói hớ  làm trò cười cho thiên hạ như “nhà hùng biện” Nguyễn Minh Triết…
                   Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tạo cho mọi người thấy một gương mặt lãnh đạo trẻ, năng động, và tự tin hơn.
                   Trong buổi lễ nhậm chức, Thủ tướng đã khẳng định sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển bền vững, nâng cao đời sống các tầng lớp nhân dân, điều hành một chính phủ trong sạch, thực thi dân chủ, công bằng, nếp sống văn minh. Ông bày tỏ quyết tâm phòng chống tham nhũng, một vấn đề tồn đọng và phát sinh rất ma quái, bức xúc nhất, nan giải nhất mà người tiền nhiệm bó tay, và ông đặt cược sinh mạng chính trị của mình vào trận tuyến nóng bỏng này: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng tôi xin từ chức ngay!” (Phát biểu trong lễ nhận chức Thủ tướng  chính phủ 27-5-2007).
                 Về tự do dân chủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Quốc hội: “Cần sớm có Luật biểu tình để nhân dân thực hiện quyền được ghi trong Hiến pháp” (Phát biểu trước Quốc hội ngày 25-11-2011). Ông  khằng  định dân chủ là nền tảng của một xã hội công bằng văn minh. Ông nói: “Phải  phát  huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi, nhất là dân chủ trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở ” (Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội Dương Thị Bạch Mai 24-11-2010) .
                   Đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố dõng dạc trước Quốc hội: “Chúng ta đã làm chủ ít nhất là từ thế kỷ 17 hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với Hoàng Sa, năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các quần đảo phía Đông,  năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn. Chính phủ Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc này và đề nghị Liên hiệp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc đó, cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng của Trung Quốc. Lập trường nhất quán của chúng ta là, quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định vấn đề này” (Phát biểu trước Quốc hội ngày 25-11-2011).
                 Với những ‘cú’ phát ngôn và những động thái đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nổi bật như một ngôi sao sáng.
                   Nhiều người, trong đó có tôi,  đặt kỳ vọng ở ông.
               Thực tế thời kỳ đầu đắc cử, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã xứng đáng với kỳ vọng ấy.
                  Nhà  phân tích chiến lược phát triển kinh tế Mỹ, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quan hệ thương mại Hoa Kỳ – ASEAN, Ernest Bower, nhận xét: “Trong 200 ngày đầu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tạo cho mọi người thấy một khuôn mặt lãnh đạo trẻ năng động, quyết đoán, hành động kiên quyết hơn. Ông được giao nhiều quyền hành hơn và ông tin tưởng vào những quyết định của chính sách mà ông đưa ra. Ông đã làm cho thế giới có một cái nhìn khác về Việt Nam!”.
                 Đúng như vậy! Bằng nỗ lực của mình, Thủ tướng đã kêu gọi được nhiều nhà đầu tư vào Việt Nam, đưa vốn đầu tư nước ngoài cao nhất kể từ trước tới nay, bao gồm vốn đầu tư trực tiếp, và cả đầu tư chứng khoán. Những dự án quy mô vài trăm triệu đô la xuất hiện trên mặt báo, tạo ra không khí cạnh tranh sôi động, Việt Nam vượt lên 8 bậc về môi trường hấp dẫn đầu tư.
               Về phòng chống tham nhũng, ông đã  cố gắng  minh bạch  hệ thống hành chính, bớt đi sự mập mờ trong mối quan hệ xin cho, giao quyền cho chủ động cho địa phương và cấp dưới. Việc tiến hành điều tra, đưa ra xét xử vụ PMU 18, là  quyết tâm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, bởi, ai cũng biết  “nhóm lợi ích” ấy  có  ô che rất lớn là Tổng bí thư  Nông  Đức  Mạnh. Kế đó Thủ tướng không ngần ngại xử lý vụ “ Đề án tin học hóa hành chính nhà nước 112” ,  một Phó chủ nhiệm văn phòng chính phủ đã phải vào tù.
                 Về ngoại giao, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cải thiện đáng kể uy tín và hinh ảnh đổi mới của Việt Nam trên diễn đàn quốc tế. Ông phá vỡ khối băng dày 60 năm giữa Việt Nam và Vatican, một quốc gia nhỏ bé nhưng đầy quyền lực, là linh hồn của hơn một tỷ tín đồ thiên chúa giáo, trong đó Việt Nam có 6 triệu, là một trung gian quyền lực thế giới, bằng việc tiếp kiến Đức giáo hoàng Benedicto XVI  ở  Vatican.
                  Sự kiện Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, việc tổ chức thành công Hội nghị APEC 14, và việc Việt Nam trở  thành “Thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp quốc” đánh dấu những mốc son  hội nhập và nâng cao uy tín của Việt Nam  trong đó có công lao của Thủ tướng.
                  Tháng 5-2007, Tạp chí World Business bình chọn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là 1 trong 20 nhân vật cải cách ở châu Á.
                 Trong  hội nghị “ Diễn đàn kinh tế thế giới” nhóm họp tại Davos, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nằm trong nhóm lãnh đạo hạng A.
                 Đó là những điểm dễ tạo ra kỳ vọng không thể phủ nhận.
              Nhưng hình như có một quy luật, càng nóng nhanh càng mau nguội, người ta vẫn nói “bạo phát bạo tàn”, ngôi  sao càng chói sáng càng dễ mờ, bởi nguồn năng lượng cạn kiệt, không biết giữ gìn, điều tiết. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với  nhiều  bứt phá, muốn rút ngắn công  việc một nhiệm kỳ 5 năm xuống 4 năm, nhưng có lẽ do “giục tốc bất đạt” ông bị va vấp quá nhiều trong giai đoạn tiếp theo.     
                  Cuộc khủng khoảng kinh tế toàn cầu như một cơn sóng thần cuốn phăng cả những nền kinh tế hùng mạnh nhất. Việt Nam đã có quá trình hội nhập, nên cũng bị ảnh hưởng. Nhưng cùng hoàn cảnh, thậm chí hội nhập sâu hơn, tình hình chính trị và xã hội, cũng như môi trường khí hậu bất lợi hơn, nhưng các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, đã ứng phó thích hợp, nên đáy suy thoái nông và vượt thoát nhanh hơn.
                Trái lại cái vũng xoáy suy thoái Việt Nam dường như không đáy, và không biết đến bao giờ mới vượt lên được?
               Có nhiều nguyên nhân, nhưng sai lầm về  hoạch định  đường lối và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, quản lý tài chính, tiền tệ, buông lỏng chống tham nhũng  là những nguyên nhân chính. Và sai lầm này thuộc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
                Ông là Trưởng ban hoạch định kinh tế của Ban chấp hành trung ương đảng, Trưởng Ban phòng-chống tham nhũng.  Ông đã đề nghị ghi vào văn bản báo cáo trước Đại hội X: “Thúc đẩy việc hình thành Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính, có nhiều chủ sở hữu, trong đó chủ sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối” .
                Hệ lụy của nền kinh tế vĩ mô bắt nguồn từ quan điểm này.
               Thực ra nó không mới, mà đã nhen nhúm từ những năm đầu thập kỷ 90, khi Đỗ Mười làm Tổng bí thư, và ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng. Đỗ Mười sau khi thăm Hàn Quốc, đã nảy ra ý tường “Một nền kinh tế phát triển phải có những quả đấm thép!”.  Để thực hiện ý tưởng Đỗ Mười, một nửa số Ủy viên Bộ Chính trị nhiệm kỳ đó, đã khăn gói sang Hán Quốc “tầm sư hoc đạo”, và cảm thấy choáng ngợp bởi mô hình Chaebok. 

 
                     Ông Võ Văn Kiệt cũng tán thành, nhưng khá thận trọng, nên chỉ ban hành hành hai quyết định 90, 91, thành lập thí điểm tập đoàn kinh tế mạnh. Năm 1997,  Phan Văn Khải thay ông Võ Văn Kiệt, nhút nhát hơn, nên 9 năm sau mới cho ra đời được 3 tập đoàn là: Tập đoàn công nghiệp than – Khoáng 26-12-2005, Tập đoàn bưu chính viễn thông 09-01-2006, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin 15-05-2006. Ông Phan Văn Khải đã ký quyết định cho Vinashin vay 700 triệu đô la với kỳ vọng ngành đóng tàu Việt Nam ngoi lên hàng đầu thế giới.
                    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  với tư duy bứt phá, đẩy nhanh tốc độ  phát triển tập đoàn  mạnh. Nhậm chức ngày 27-6, hai tháng sau, ngày 29-8-2006 ông ký quyết định thành lập Tập đoàn dầu khí; ngày 3-10, Tập đoàn cao su và, đến năm 2011 đã có 13 “quả đấm thép” đã ào ào ra đời.
                    Các tập đoàn với chức năng đa ngành nghề, nên mạng lưới tỏa rộng khắp mọi nơi, lại có quyền liên doanh liên kết, quyền độc lập hoạch định chiến lược phát triển và cấu trúc kinh tế nên không ai kiểm soát được. Hai ngành mà các tập đoàn hăng hái đầu tư nhất là bất động sản và ngân hàng. Các trụ sở ngân hàng thương mại cổ phần, công ty tài chính, HTX tín dụng mọc lên như nấm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chất đầy các ngăn tủ mỗi tập đoàn.
                   Trụ sở các tập đoàn hoành tráng mọc lên như ganh đua với tòa nhà chọc trời  Petroland của Tập đoàn dầu khí, những ông chủ tập đoàn vừa khoác áo quan chức, đầy quyền uy, lại vửa khoác áo doanh nhân tha hồ buông thả, dưới một người, trên muôn người, xài tiền xả láng.
                   Một tập đoàn ra đời vốn  tự có nhiều lắm là trăm tỷ đồng, chủ yếu là nhà cửa  đất đai của nhà nước, nên hầu như 100 % vốn hoạt động vay ngân hàng, dưới sự bảo trợ của chính phủ. Trên thế giới không có bất kỳ một tổ chức kinh tế nào được ưu ái như những tập đoàn kinh tế Việt Nam, được mệnh danh là vai trò chủ đạo nền kinh tế của đất nước, được nhà nước bao bọc từ A đến Z, như những đứa con cưng được nha mẹ chăm bẵm! Hầu như toàn bộ ngân sách dành cho phát triển kinh tế, cả nguồn vốn  ODA,  đều ném vào các  tập đoàn, ngân sách cạn thì đi chính phủ bảo lãnh cho vay nước ngoài. Xin lấy ví dụ một tập đoàn điển hình là Vinashin.
                     Ngay khi thành lập, Vinashin đã sược vay 700 triệu đô la. Sau 4 năm hoạt động tập đoàn này vay thêm 80.000 tỷ nữa. Không biết họ làm ăn ra sao, nhưng khi nghe Chủ tịch Hội đồng quản trị Phạm Thanh Bình kêu than không được phát hành tín phiếu, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng sửng cồ lên: “Ai không cho các anh làm tín phiếu?” . Và sau đó 10.000 tỳ đồng tín phiếu chính phủ được bơm thẳng vào cái tàu không đáy Vinashin.
               Ngày đó tôi được biết có người đã thẳng thắn can gián Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhưng ông tin Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng hơn.
                    Trước kia chính phủ có một bộ phận tư vấn kinh tế, đứng đầu là tiến sỹ  Lê Đăng Doanh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dẹp bỏ, thay các chuyên gia kinh tế bằng những chuyên gia luật pháp như Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, hình như đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong những quyết định về kinh tế và những quyết định mất lòng dân về tự do dân chủ?         
                     Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức, ông có trong tay 23 tỷ đô la vốn dự trữ, đó là số tiền không nhỏ, tích cóp được qua nhiều năm từ thuế của dân và tài nguyên của đất nước. Khi  nền kinh tế lâm vào tình trạng thiểu phát, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tung ra một gói kích cầu 143.000 tỷ đồng tương đương 8 tỷ đô la. Nhưng nguồn tiền khổng lồ ấy chảy không đúng các mục tiêu, nên không có khu vực kinh tế nào được khởi sắc. Nó chỉ có ít tác dụng vào cuối năm 2009, rồi bị hụt hẫng ngay khi bước sang năm 2010. 
                 Tiền dự trữ quốc gia bung ra làm bội chi ngân sách tăng vọt, và tình trạng bất ổn xuất hiện ngay từ khi nền kinh tế nhìn bề ngoài có vẻ còn hưng vượng.
                  Trước năm 2006 tổng đầu tư nhà nước lớn nhất không vượt quá 36 % GDP, năm 2007 tăng vọt lên 44% và 2008 lên 47%. Vốn đầu tư tăng vọt kéo theo tăng trường tín dụng, năm 2006: 21,4%, 2007: 38,7% và đó là lực đẩy con tàu lạm phát tăng tốc .
                    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn hãm phanh con tàu lạm phát bằng biện pháp nâng dự trữ bắt buộc của ngân hàng và thắt chặt chi tiêu, nhưng hình như đó chưa phải là một liều thuốc đúng, hơn nữa do sức mạnh quyền lực bị hạn chế, bị các nhóm lợi ích chi phối, nên không có tác dụng, tỷ lệ lạm phát  từ  9,9 %  năm 2008 leo lên 12,3 % năm 2009, rồi 16,2% năm 2010,  17,5%  năm 2011 và 18,2%  mấy tháng  đầu năm 2012.
                    Lợi dụng đục nước béo cò, nhóm lợi ích tài chính ra tay đục khoét ngân hàng, bẻ gãy xương sống của nền kinh tế! Tiền từ ngân hàng nhà nước tuồn cho ngân ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng này chuyền tiền qua ngân hàng kia, tạo ra cái “đèn cù ngân hàng” loanh quanh “kinh doanh tiền tệ”, ăn lãi suất chênh lệch. Đồng tiền không được ưu tiên dành cho sản xuất kinh doanh, cho tái sản xuất mở rộng, mà lượn lờ trong mớ bung xung kinh doanh tiền tệ, đồng tiền không đâu lại trở thành hàng hóa, chính tiền đẻ ra tiền cho các nhóm lợi ích vơ vét, moi rỗng quốc khố. Lãi suất huy động hạ cực thấp bóp chẹt dân, lãi suất cho vay lại tùy sự thỏa thuận. Doanh nghiệp và người dân vay tiền ngân hàng rất khó, lắm thủ tục nhiêu khê, nhưng bọn cò đất, đại gia kinh doanh bất động sản vay lại dễ ợt và được bỏ qua những nguyên tắc mộ cách dễ dàng. Những gói kích cầu hàng chục ngàn tỉ đống tiếp theo trở thành miếng mồi béo bở cho các nhóm lợi ích. Những Nguyễn Đức Kiên, Trần Xuân Giá chưa phải là trùm của băng nhóm tội phạm này, và Thống đốc Nguyễn Văn Bình không phải vô can khi để cho các băng nhóm thâu tóm ngân hàng!
                 Ngày 25-5-2012, Thủ tướng ban hành Nghị định 24, là cú đòn quyết định hạn chế lạm phát, ổn định thị trường vàng nói riêng, giá cả nói chung, nhưng đó lại là một cú sốc gây phản ứng trái chiều.
                   Bức tranh kinh tế Việt Nam tôi đã mô tả trong bài viết trước, nay chỉ xin ghi lại tấm biểu đồ tăng trường kinh tế Việt Nam, tôi nghĩ đây cũng là “tấm biểu đồ sụt giảm  uy tín của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”:  Năm 2002: 7,08%; 2003: 7,34 %; 2004: 7,79 %; 2005: 8,44 %; 2006: 8,38 %; 2007: 8,23 %; 2008: 6,31 %; 2009: 5,32 %; 2010: 6,78 %; 2011: 5%  và năm 2012 chỉ còn 5,03 %.

 
“Với trọng trách là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ,
tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn
của người đứng đầu Chính phủ và xin
thành thật nhận lỗi trước QH, trước toàn Đảng, toàn dân
 về tất cả những yếu kém, khuyết điểm
của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành” …
              Nhưng sa sút về kinh tế, chưa hẳn đã là nguyên nhân chính làm mọi người thất vọng về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự thất vọng lớn hơn vế ông là những quyết định, lời nói và việc làm của ông không  nhất quán. Hầu như việc gì, ở đâu ông vẫn cố gắng nói hay, nói cho lọt tai người khác, diễn đạt khúc chiết, hẹn ngon hứa ngọt, nêu quyết tâm cao, việc gì cũng “quyết liệt”, nhưng nhiều vấn đề sau khi “quyết” là bị “liệt” luôn. Nói hay, làm dở, nói mạnh nhưng không làm là đặc điểm nổi bật của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được dư luận đúc kết.
                 Ông nói phát huy quyền làm chủ rộng rãi, nhưng ông lại ký chỉ thị 37: “Kiên quyết không để tư nhân hóa dưới mọi hình thức, không để bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí phục vụ lợi ích riêng”. Ông nói báo chí là kênh thông tin quan trọng, cần khuyến khích các loại hình thông tin, nhưng ông lại cho ra Văn bản 7169 cấm đoán cán bộ nhân viên Nhà nước đọc mạng Internet. Ông lên án Trung Quốc chiếm biển đảo Việt Nam nhưng ngay sau đó lại đồng tình cho chính quyến thành phố Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đàn áp và vu cáo người biểu tình là gây rối ! Ông nói như đinh đóng cột là không chống được tham nhũng sẽ từ chức ngay, nhưng khi thất bại, thì không nói lại một lời với dân cho phải đạo, cho có trước có sau! 
               Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng quá dễ dãi trong ban phát chức tước quyền hành cho ba người con của mình. Nhẽ ra với cương vị một người đứng đầu chính phủ ông phải biết tự kiềm chế cái tiểu tiết để giữ cái đại cục, như Khổng Tử nói: “Đừng đừng để con dê béo che mất trái núi!”.
               Người ta đã nói đi nói lại lời trần tình của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại kỳ họp Quốc hội, tôi cho đó là lúc ông nói thật nhất, bởi nếu không, ông sẽ có một cách nói khác.
                Tuy nhiên từ đó tôi nghĩ, nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rộng lượng với dân, với người khác, như  rộng lượng với bản thân, với vợ con, anh em nội ngoại của mình thì dù ông có là X, là Y, Z gì đi nữa, ông vẫn dành được tình cảm của nhiều người. Đáng tiếc việc hành xử của ông trong vụ án tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, và mới đây nhất, cho công bố bản kết luận của Thanh tra chính phủ về sai phạm đất đai của thành phố Đà Nẵng, gây nhiều phản cảm. Hình như điều này ứng vào tính cách của người tuổi Kỷ Sửu, mà tôi đã trình bày ở trên: “Không nghe lời khuyên chân thành lại dễ xiêu lòng bởi lời nịnh nọt, và dễ nổi nóng nên có khi phá hỏng hình ảnh của mình”! Hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X Đảng đã gần như khoán trắng, giao quá nhiều quyền cho Chính phủ. Gần 20 năm giữ trọng trách như Phủ Chúa ở Ba Đình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đầu có những biểu hiện đem lại sự kỳ vọng không chỉ trong nước mà còn có cảm tình với một số chính khách trên thế giới. Nhưng từ năm 2012, ông đã làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước phải thất vọng. 
             Nhân ngày 22-12-2012 ông Ba Dũng đã xem vở “Lời thề thứ Chín”. Ông là con liệt sĩ, là sĩ quan quân đội, chắc ông vẫn nhớ 10 Lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong đó, lời thề thứ 9 là: “Khi tiếp xúc với dân làm đúng ba điều răn: “không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân” và ba điều nên: “kính trọng dân, bảo vệ dân, giúp đỡ dân” để gây lòng tin cậy đối với nhân dân, thực hiện quân dân một ý chí”. Vở diễn đặc sắc về đề tài đấu tranh với hiện tượng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ có chức quyền, tha hóa trong đời sống, không vì lợi ích của nhân dân, trù dập người lương thiện, gây ra những nỗi khổ, những bất công trong xã hội. Tôi hy vọng ông Ba Dũng không quên điều đó.

 
M.D
———————-

*  Bài liên quan: 

> + Loạt bài Thử tả chân một trong ‘tứ trụ’:
2 –  http://bvbong.blogspot.com/2013/01/triet-ly-nhom-lua.html
3 – http://bvbong.blogspot.com/2013/01/cai-ghe-va-bay-sau.html                                      
 

4 nhận xét:

  1.  

    Hôm vừa rồi được đọc NHÂN QUẢ thấy hay và sướng vì cái kết cục của câu chuyện,hôm nay lại được đọc bài này quá hay,quá khâm phục tác giả.Tôi thích nhất câu này”Nói hay, làm dở, nói mạnh nhưng không làm là đặc điểm nổi bật của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được dư luận đúc kết”,vụ án Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng là minh chứng hùng hồn

    Trả lờiXóa

     
     
  2.  

    Một tổng kết về con người Nguyễn Tấn Dũng, ông là điển hình của loại người “nói Zậy và không phải Zậy”

    Trả lờiXóa

     
     
  3.  

    “Nói hay, làm dở, nói mạnh nhưng không làm” thì còn khá. Mà ” Nói một đằng làm một nẻo” mới đúng bản chất

    Trả lờiXóa

     
     
  4.  

    Mình cùng Kỷ Sửu,cùng thoát ly sớm,cùng là con liệt sĩ,cùng là lính Việt Cộng…một thời khuấy nước,Sang năm quý Tỵ bề nào cũng bị,thôi qua TẾT xin ngỉ cho khỏe,
    Đất nước ,dân tộc đâu chỉ riêng mình,sống sao nỗi giữa đám cua Thăng Long.Vua Quang TRUNG,Gia LONG còn ngán phải ở HUẾ đó mà.vong hồn bác Nguyễn Văn Linh ,ra Hà LỘI,sống không nỗi làm không nỗi,bỏ chạy.
    Kính chào sư phụ Minh Diện,em theo học kinh dịch,tứ trụ,tử vi,triết từ nhỏ nên kính phục.Khuyên anh Dũng,Sang ngỉ cũng từ ngiên cứu kinh dịch,tứ trụ đấy.

    Trả lời

Vận nước nhìn từ Trường Sa – Bauxite

22 Th1

Vận nước nhìn từ Trường Sa

 
Sơn Văn

 

Tháng 1 năm 2013, Luật biển của nước nhà có hiệu lực thi hành. Thì cũng đúng dịp đầu năm 2013, lại có hàng chục thuyền ngư dân nước mình vào tránh bão ở Hoàng Sa của nước mình bị Trung Cộng xua đuổi khỏi nơi họ xâm chiếm trái phép đó từ năm 1974.

Trong bối cảnh như thế, liệu đầu năm 2013 này nên túm tụm họp mặt gượng gạo kỷ niệm 63 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng, hay là nên nghiền ngẫm như tác giả Sơn Văn với bài viết Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu tới bạn đọc ở đây: Vận nước nhìn từ Trường Sa.

Một bài viết chính luận cần lý giải nhiều nhưng vẫn hết sức súc tích, một bài viết với lập luận chặt chẽ mà không khô khan, vẫn toát lên tấm tình nồng nàn, hệt như người xưa, nửa đêm thức giấc nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt… để nghĩ đến vận nước.

Vận nước! Vận nước!

Nhìn cho rõ cái thời điểm nguy khốn của vận nước, đó là trí tuệ và tấm lòng mỗi người Việt Nam lúc này. Tác giả Sơn Văn trình bày tường tận cùng bạn đọc xem xét chi li thế tiến thoái để giữ được tổ quốc bình yên khi quốc gia hưng vong, khi vận nước không phép người Việt Nam yêu nước nào còn được ngồi yên.

Trường Sa – Hoàng Sa phải thành kinh nhật tụng của chúng ta. Đó là việc lâu dài. Còn việc trước mắt là: hãy nhìn cho rõ ta phải làm gì cho Trường Sa. Vì vận nước đang bắt ta phải nghĩ và phải làm ngay vì Trường Sa.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Bauxite Việt Nam

Đất nước nào, dân tộc nào cũng có những giai đoạn sự kiện bản lề – hoặc tự đánh mất mình, hoặc thăng hoa, cất cánh – mà ta gọi là vận nước. Đối với đất nước, dân tộc Việt Nam ở thời điểm hiện tại, giữ hay không giữ được Trường Sa trước xâm lược đã được Trung Quốc lên nòng, ấy là vận nước!

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, tôi – một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cũng giống trường hợp TS. Cù Huy Hà Vũ, GS. Nguyễn Huệ Chi và nhiều trí thức nổi tiếng hiện nay trên khắp nước ta – càng không thể không lên tiếng trước vận nước ấy!

Trước hết, cần khẳng định một lần nữa âm mưu của Trung Quốc đánh chiếm nốt toàn bộ Trường Sa của Việt Nam. Thực vậy, Trung Quốc không chỉ tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với 80% Biển Đông bất chấp thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế về biển mà bằng một loạt hành vi khác nhau cụ thể hóa tuyên bố chủ quyền phi pháp đó: từ việc dùng vũ lực chiếm toàn bộ Hoàng Sa vào năm 1974 và một phần Trường Sa vào năm 1988 đến việc thành lập thành phố Tam Sa gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, mời thầu thăm dò dầu khí, cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt cá rồi tấn công tàu, thuyền và bắt giữ ngư dân Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam… Việc Trung Quốc mới đây đưa vào sử dụng tàu sân bay Liêu Ninh và các tàu đổ bộ có sức chứa khoảng 800 quân và 20 xe tăng, xe bọc thép mỗi tàu trong biên chế Hạm đội Nam Hải là những bằng chứng rõ nhất về âm mưu xâm lược Trường Sa ấy của Trung Quốc.

Trước một quyết tâm xâm lược Trường Sa như thế của Trung Quốc hiển nhiên Việt Nam phải tự vệ trừ phi đầu hàng! Vậy một câu hỏi được đặt ra: thực chất của các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Trung Quốc mà sản phẩm là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ký tháng 10/2011 là gì?

Như chúng ta đều biết, đàm phán chỉ có thể có giá trị khi tương quan lực lượng quân sự của các bên liên quan là tương đối cân bằng, không bên nào có thể giành thắng lợi tuyệt đối trong đối đầu trực tiếp. Thực tế cho thấy hiện nay Việt Nam kém Trung Quốc rất xa về năng lực quốc phòng nói chung, hải quân nói riêng, cả về số lượng lẫn chất lượng, tức đàm phán đối với Trung Quốc chỉ là một cách để thực hiện mục tiêu quân sự. Thực vậy, Điều 5 Thỏa thuận quy định: “giải quyết vấn đề trên biển theo đúng tinh thần “tuần tự, tiệm tiến, dễ trước, khó sau”. Với quy định này, Trung Quốc tạo cho Việt Nam ảo tưởng rằng Trung Quốc sẽ không đụng đến Trường Sa trong ngắn hạn vì Trường Sa cũng như Hoàng Sa là vấn đề khó, hai bên phải bàn bạc dài lâu để giải quyết dẫn đến Việt Nam không có phương án phòng vệ tích cực như liên minh quân sự với nước thứ ba, điều này hẳn nhiên tạo điều kiện cho Trung Quốc tập kích thành công Trường Sa. Nói cách khác, đàm phán nói chung, “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” nói riêng đối với Trung Quốc chỉ là kế “giương Đông, kích Tây” hay “nói một đằng, làm một nẻo” nhằm làm Việt Nam chủ quan để Trung Quốc dễ dàng đánh chiếm Trường Sa hoặc chỉ là chiến thuật “câu giờ” cho đến khi nước này chuẩn bị đủ các phương tiện chiến tranh bảo đảm thắng lợi trong cuộc chiến ấy.

Về phía mình, Chính phủ Việt Nam hẳn hy vọng Thỏa thuận này sẽ bảo đảm “statu quo” hay “nguyên trạng” ở Biển Đông, tức Việt Nam không dùng vũ lực để thu hồi Hoàng Sa thì Trung Quốc cũng không dùng vũ lực để chiếm lấy Trường Sa, theo kiểu “Ta không đụng đến mi thì mi cũng đừng đụng đến ta”, tóm lại là Chính phủ không phải lo chiến đấu với “giặc ngoài” để tập trung nguồn lực quốc phòng cho chiến đấu với “thù trong” mà ở đây là “Diễn biến hòa bình” nhằm bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa! Tuy nhiên hy vọng này của Chính phủ Việt Nam sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực vì, như trên đã phân tích, đàm phán, thỏa thuận đối với Trung Quốc chỉ là bước đi chiến thuật trong chiến lược đánh chiếm Trường Sa, thâu tóm Biển Đông!

Do đó, để Trường Sa không mất vào tay Trung Quốc trong một cuộc xâm lược đã được nước bành trướng này “lập trình”, Việt Nam ngày nay chỉ có thể bắt chước cha ông của thủa Diên Hồng mà hô “đánh!”. Nói cách khác, tự vệ là lựa chọn duy nhất đúng để Việt Nam bảo toàn lãnh thổ của mình trên Biển Đông.

Đi vào cụ thể, Việt Nam có hai phương thức tự vệ. Một là: “Tự lực cánh sinh”, dựa vào năng lực quốc phòng của bản thân. Hai là, liên minh quân sự với nước ngoài. Thế nhưng, như trên đã đề cập, sức mạnh quân sự của Việt Nam thua rất xa sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nhất là trên biển. Chỉ riêng tàu sân bay Liêu Ninh cũng đã đủ giúp Trung Quốc chiếm thế thượng phong trong hải chiến với Việt Nam. Đó là chưa nói để hỗ trợ cho việc đánh chiếm Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn có thể tiến hành mặt trận thứ hai trên đất liền, dọc toàn tuyến biên giới với Việt Nam, như Trung Quốc đã làm vào đầu năm 1979, nhằm phân tán hơn nữa nguồn lực quốc phòng của Việt Nam dành cho phòng thủ Trường Sa. Điều này có nghĩa nếu Việt Nam chỉ dựa vào năng lực quốc phòng của bản thân thì không chỉ mất nốt Trường Sa vào tay Trung Quốc mà ngay nền độc lập của Việt Nam cũng sẽ như “trứng để đầu đẳng”!

Từ đó đi đến kết luận rằng cách duy nhất để bảo vệ Trường Sa tiến tới thu hồi Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và trên đất liền là liên minh quân sự với nước ngoài. Vả lại, lịch sử đã chứng minh rằng sở dĩ Việt Nam đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX là do đã liên mình quân sự với các cường quốc quân sự ngoài lòng yêu nước nồng nàn của người Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm. Thực vậy, Việt Nam đánh thắng Thực dân Pháp tái xâm lược, đặc biệt tại quyết chiến điểm Điện Biên Phủ vào năm 1954 là do có đại bác, pháo cao xạ và các phương tiện chiến tranh khác do hai nước “anh em xã hội chủ nghĩa” là Liên Xô và Trung Quốc viện trợ; Việt Nam đánh thắng can thiệp Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đặc biệt trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội kéo dài 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 là do có viện trợ quân sự hùng hậu và hiện đại, trong đó có hàng nghìn quả tên lửa đất đối không, vẫn của Liên Xô và Trung Quốc; Việt Nam đánh thắng Trung Quốc trong chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979 cũng là do có viện trợ quân sự hùng hậu và cấp tốc của Liên Xô sau khi Việt Nam ký với cường quốc quân sự này một hiệp ước liên minh quân sự vào năm trước đó, 1978.

Vấn đề còn lại là nước nào có thể là chỗ dựa và đồng hành với Việt Nam trong trận chiến chống xâm lược từ phía Trung Quốc? Hỏi tức trả lời, đó chỉ có thể là Mỹ, như Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã chỉ ra cách đây 3 năm, 2010, trong các trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ – VOA (“Tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông là quá rõ ràng”, “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại”).

Trước khi đi vào phân tích kịch bản liên minh quân sự với Mỹ, tôi thấy cần thiết phải loại bỏ ngay ảo tưởng dựa vào Nga để chống Trung Quốc xâm lược. Thực vậy, Nga không còn là Liên Xô để có thể giúp Việt Nam chống Trung Quốc như cách đây 34 năm. Không những thế, hiện nay Nga rất cần Trung Quốc không chỉ với tư cách là khách hàng hàng đầu mà còn với tư cách là đồng minh quân sự tiềm tàng của Nga để chống lại sức ép quân sự – chính trị của NATO (khối quân sự Bắc Đại Tây Dương) nói riêng, của phương Tây nói chung, đồng nghĩa Nga sẽ không bao giờ đứng về phía Việt Nam nếu xung đột quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc nổ ra. Việc Nga đã bán được cho Trung Quốc 8 tỉ USD hàng hóa chỉ trong chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng thống Nga Putin vào tháng 10/2011 cũng như việc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga tập trận chung với hải quân Trung Quốc tại Hoàng Hải vào tháng 4/2012 hẳn là những bằng chứng đầy sức thuyết phục cho nhận định trên. Bản thân việc Trung Quốc đón Tổng thống Nga Putin và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc vào cùng một ngày, 11/10/2011, cũng đã là lời nhắn rằng Việt Nam đừng trông mong vào Nga để chống Trung Quốc! Để nói, điều duy nhất mà Việt Nam có thể khai thác từ Nga để phòng vệ chống lại Trung Quốc là mua vũ khí, đặc biệt các phương tiện chiến tranh trên biển, từ nước cựu xã hội chủ nghĩa này theo kiểu “tiền trao, cháo múc”. Thế nhưng tài chính của Việt Nam là rất hạn hẹp, đó là chưa nói đến việc Nga bán cho Trung Quốc vũ khí cùng chủng loại bán cho Việt Nam với số lượng nhiều lần hơn, tàu ngầm là một ví dụ. Tóm lại, chạy đua vũ trang với Trung Quốc là điều không tưởng đối với Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế số 2 thế giới, chỉ sau Mỹ!

Cũng như vậy, Việt Nam không thể trông mong vào ASEAN vì ASEAN không phải là một tổ chức quân sự đã đành, mà cũng không có thiết chế quân sự, chí ít cho đến lúc này. Đó là chưa nói mới chỉ trên bình diện đối ngoại, các nước ASEAN đã không có được sự thống nhất trong việc phản đối Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông dẫn đến hội nghị ASEAN lần thứ 45 tổ chức tại Campuchia đã không ra được thông cáo chung, sự kiện chưa từng có trong lịch sử tổ chức này.

Trở lại kịch bản liên minh quân sự với Mỹ, nước này có đủ các điều kiện cần thiết để giúp Việt Nam bảo vệ Trường Sa nói riêng, chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và trên đất liền nói chung, trong trường hợp Trung Quốc xâm lược. Các điều kiện ấy như sau:

Mỹ là siêu cường quân sự duy nhất trên thế giới, là nước phương Tây duy nhất có Hạm đội ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, với tư cách là nhân tố chủ chốt của NATO, Mỹ hoàn toàn có thể vận dụng sức mạnh của khối quân sự lớn nhất thế giới này để duy trì hòa bình, ổn định ở Tây Thái Bình Dương trong đó có Biển Đông. Nói cách khác, với Mỹ, NATO hoàn toàn có thể “Viễn Đông hóa”!

Với chiến lược quân sự mới đề ra cho thế kỷ XXI, lấy Châu Á – Thái Bình Dương nói chung, Đông Á nói riêng, làm trọng tâm mà Tổng thống Mỹ Obama đưa ra đầu năm 2012 – chiến lược quân sự mà tôi đặt tên là “Obamasia” – Mỹ là nước duy nhất chủ động ngăn chặn bành trướng quân sự của Trung Quốc trong khu vực. Việc Thượng viện Mỹ mới đây ra nghị quyết về Biển Đông theo đó Mỹ chống lại mọi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và chủ trương tự do hàng hải là bằng chứng nặng ký nữa về quyết tâm quân sự mới của Mỹ ở thế kỷ XXI.

Trung Quốc phụ thuộc nặng nề, nếu không muốn là tự trói mình vào Mỹ khi đã mua hơn 1000 tỉ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, đồng nghĩa Trung Quốc sẽ không mạo hiểm mà lựa chọn đối đầu quân sự với Mỹ.

Ngoài ra, tôi ủng hộ Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ còn nhằm mục đích kinh tế, bởi liên minh quân sự giữa hai nước một khi được thiết lập sẽ là cơ sở để Mỹ hỗ trợ cho Việt Nam những khoản tài chính cũng như công nghệ rất quan trọng tạo điều kiện cho Việt Nam có được những bứt phá thần kỳ về kinh tế. Thực tế cho thấy, nhờ viện trợ kinh tế hùng hậu của Mỹ mà Tây Âu, Nhật, Hàn Quốc kiệt quệ sau chiến tranh đều trở thành các trung tâm kinh tế thế giới hay khu vực. Thực ra, chỉ riêng việc Mỹ bảo trợ cho phòng thủ quốc gia của các đồng minh của Mỹ cũng đã đủ để các nước này chuyển tài lực đáng kể lẽ ra phải chi cho quốc phòng sang phát triển kinh tế. Tóm lại, liên minh quân sự với Mỹ là “nhất cử lưỡng tiện”.

Thế nhưng “ăn có mời, làm có khiến”, nước Mỹ không thể mang tài lực, sức mạnh quân sự của mình để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam, đặc biệt trên Biển Đông mà ở đây là Hoàng Sa và Trường Sa, nếu Việt Nam không chính thức yêu cầu Mỹ, làm như vậy thông qua một hiệp ước liên minh quân sự với nước này. Dĩ nhiên trong quan hệ quốc tế không ai cho không ai, điều này có nghĩa Việt Nam muốn Mỹ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông nói riêng, lãnh thổ của Việt Nam nói chung thì Việt Nam không đáp ứng đòi hỏi của Mỹ là Dân chủ hóa chế độ chính trị bằng cách bảo đảm thực sự tự do ngôn luận và các nhân quyền khác, trả tự do cho những người bất đồng chính kiến bị cầm tù và tiến tới thực hiện bầu cử tự do với sự tham gia của nhiều đảng phái, tương tự những gì đã và đang diễn ra tại một nước Đông Nam Á khác vốn có cùng chế độ độc tài là Myanmar. Tôi cho rằng đòi hỏi cải cách thể chế theo hướng dân chủ, tự do này của Mỹ là hợp lý bởi chính Hồ Chí Minh đã từng coi Mỹ là hình mẫu thể chế cho Việt Nam. Thực vậy, Hồ Chí Minh không chỉ lấy Tuyên ngôn độc lập của Mỹ làm đề dẫn cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà còn lấy tên của hai chính đảng lớn nhất của Mỹ luân phiên cầm quyền là Dân Chủ và Cộng hòa làm quốc hiệu cho Việt Nam độc lập: Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Đáng tiếc là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không vượt qua được chính mình để quốc gia không những không bị xâm hại mà còn hưởng lợi khi hơn một lần thể hiện quan điểm “không có chuyện Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, từ bỏ chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để đổi lấy sự giúp đỡ của Mỹ nhằm bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông”. Mới đây Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khẳng định lại quan điểm này bằng tuyên bố Việt Nam sẽ không liên minh quân sự với các nước khác để chống lại nước thứ ba trong trường hợp nước này dùng vũ lực xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam!

Mặc dầu vậy, tôi vẫn tin rằng Trường Sa sẽ không thể mất cũng như Hoàng Sa sẽ không thể vĩnh viễn mất vào tay bành trướng phương Bắc bởi chính nhân dân Việt Nam chứ không phải ai khác sẽ đứng lên nắm lấy vận nước, nắm lấy vận mệnh của chính mình./.

S. V.

 

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

 

KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 – Bauxite

22 Th1

Posted by basamvietnam on 22/01/2013

Bauxite Việt Nam

KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về việc góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (dưới đây gọi tắt là Dự thảo), chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây, xin trình bày với Quốc hội và Uỷ ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 một số kiến nghị, đồng thời mong mỏi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước thẳng thắn nói lên ý kiến để nhân dân ta có một Hiến pháp bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và sự phát triển bền vững của đất nước, mang lại tự do hạnh phúc cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

Hiến pháp của một quốc gia do dân làm chủ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân và được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các thành phần đa dạng trong xã hội. Dự thảo chưa thấu suốt bản chất của một hiến pháp dân chủ, chưa thể hiện sự tin cậy, tín nhiệm của nhân dân với chính quyền theo tinh thần thỏa thuận kiến tạo một môi trường có sự kiểm soát bên trong và bên ngoài đối với quyền lực. Kiểm soát bên trong giữa các nhánh quyền lực nhà nước bằng các cơ chế đối trọng kiềm chế lẫn nhau, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp không thể vượt quá giới hạn được ấn định. Kiểm soát từ bên ngoài đối với công quyền được thực hiện bởi nhân dân với vai trò quan trọng của xã hội dân sự mà tiền đề là các quyền tự do về ngôn luận, báo chí, lập hội, hội họp, biểu tình,…

Hiến pháp phải mang tính chính đáng được đo bằng nhiều tiêu chí. Thứ nhất, hiến pháp phải có mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền, kiến tạo tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc; đồng thời đoàn kết toàn dân, loại bỏ mọi sự chia rẽ hay áp bức, hướng đến sự phát triển bền vững của dân tộc. Thứ hai, hiến pháp phải thể hiện ý chí chung của nhân dân, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân để lập ra các cơ quan nhà nước. Thứ ba, hiến pháp phải được xây dựng theo các nguyên tắc pháp luật phổ biến của thế giới văn minh, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Theo tinh thần đó, trước mắt chúng tôi kiến nghị 7 điểm như sau.

Kiến nghị thứ nhất về Lời nói đầu và về Chương I

 

Lời nói đầu của Dự thảo không làm rõ mục tiêu của hiến pháp và chủ thể quy định hiến pháp. Hiến pháp cần xác định mục tiêu trước hết là để bảo đảm sự an toàn, tự do và hạnh phúc của mọi người dân. Một bản hiến pháp tốt phải hạn chế sự lạm quyền của những người cầm quyền, tạo dựng khuôn khổ cho các sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá diễn ra một cách an bình và hiệu quả. Hiến pháp cũng phải hướng đến hạnh phúc của các thế hệ tương lai.

Quyền lập hiến (xây dựng, ban hành hay sửa đổi hiến pháp) là quyền sinh ra các quyền khác (lập pháp, hành pháp và tư pháp) phải thuộc về toàn dân, chứ không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, kể cả Quốc hội. Lời nói đầu cần xác định rõ chủ thể quyết định, ban hành hiến pháp là nhân dân.

Lời nói đầu không phải là chỗ để tuyên dương công trạng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Lời nói đầu của Dự thảo không đáp ứng được các yêu cầu trên nên chúng tôi đề nghị bỏ và thay bằng:

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân,

vì một xã hội dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì tự do và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này.

Trong Chương I, cần nhấn mạnh nguyên tắc chủ quyền nhân dân đòi hỏi phải tôn trọng ý của dân tộc. Nếu hiến pháp thực sự do nhân dân quyết định thì việc định trước vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội thuộc về một tổ chức chính trị hay một tầng lớp là trái với quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân và ngược với bản chất của một nhà nước pháp quyền.

Chủ thể nào lãnh đạo xã hội sẽ do nhân dân bầu chọn ra trong các cuộc bầu cử tự do, dân chủ, định kỳ. Một chính đảng thực sự có chính nghĩa, phục vụ lợi ích của nhân dân sẽ không lo bị thất bại trong các cuộc bầu cử như vậy. Hiến pháp của Liên Xô năm 1977 quy định ở Điều 6 vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước và xã hội đã không tránh được sự sụp đổ của chế độ Xô-viết khi không còn lòng tin của dân.

Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước.

Ý kiến nêu trên được tiếp thu sẽ tạo cơ hội cho Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lại niềm tin đã từng có trong dân để thực sự trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị được xã hội chấp nhận.

Kiến nghị thứ hai về quyền con người

Một mục đích của việc thành lập Nhà nước là để bảo vệ các quyền đương nhiên của con người.

Dự thảo đã điều chỉnh thứ tự để đề cao các quyền này so với Hiến pháp hiện hành, nhưng lại có nhiều điểm chưa phù hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế về quyền con người; như các quy định trong Dự thảo về giới hạn quyền (Điều 15), “không lợi dụng quyền con người, quyền công dân” (Điều 16), “quyền không tách rời nghĩa vụ (Điều 20). Dự thảo còn quy định quá nhiều nghĩa vụ một cách tùy tiện (Điều 41, Điều 42, Điều 49,…). Việc nhấn mạnh trong Dự thảo các lý do về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ổn định chính trị, việc đưa cụm từ “theo quy định của pháp luật”, … nhằm hạn chế những quyền đó sẽ mở đường cho việc nhân danh hiến pháp để vi phạm quyền con người, đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế những năm qua ở nước ta.

Chúng tôi yêu cầu sửa Dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Nếu các quyền này được ghi trong Hiến pháp mà không được thực thi nghiêm túc như hiện nay, thì việc quy định các quyền ấy cũng trở nên vô nghĩa. Vì vậy chúng tôi yêu cầu Hiến pháp quy định thành lập một Ủy ban Quốc gia về Quyền Con người hoạt động độc lập.

Kiến nghị thứ ba về sở hữu đất đai

Chế độ sở hữu tư nhân về đất đai đã tồn tại từ lâu trên đất nước ta. Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân kể từ Hiến pháp Việt Nam 1980 là sự sao chép Hiến pháp Liên Xô, một điều hoàn toàn xa lạ với nhân dân Việt Nam và đã gây ra rất nhiều bất ổn xã hội. Điều 57 Dự thảo tiếp tục khẳng định đất đai “thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” là duy trì quy định sai trái, bỏ qua những vấn đề ngày càng trầm trọng do quy định này gây ra mà hàng triệu khiếu nại, khiếu kiện về đất đai trong những năm qua chỉ là phần nổi của tảng băng chìm hết sức nguy hiểm.

Không thừa nhận sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng về đất đai cùng tồn tại với sở hữu nhà nước là tước đoạt một quyền tài sản quan trọng bậc nhất của người dân. Đánh đồng sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân về đất đai là tạo điều kiện cho quan chức các cấp chính quyền tham nhũng, lộng quyền, bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp cùng trục lợi, gây thiệt hại cho nhân dân, đặc biệt là nông dân.

Dự thảo còn “hợp hiến hóa” việc thu hồi đất, trong đó lại mở rộng phạm vi áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế – xã hội; đây là một sự thụt lùi so với Hiến pháp 1992 và có thể gây bùng nổ bất ổn xã hội.

Vì thế chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 57 của Dự thảotrở lại như Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Có thể quy định như sau: “Sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng và nhà nước về đất đai được tôn trọng. Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ và thống nhất quản lý đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và các tài nguyên, nguồn lợi khác ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư.”

Thay thế quy định thu hồi đất bằng trưng mua đất và không áp dụng cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội như nêu trong Điều 58 của Dự thảo.

Kiến nghị thứ tư về tổ chức Nhà nước

Tổ chức bộ máy Nhà nước phải phân biệt rạch ròi các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng như các cơ quan hiến định khác. Tất cả các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và luật. Các nhánh quyền lực ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không thể bị chi phối bởi bất kỳ một tổ chức hay cá nhân duy nhất nào, nghiêm cấm mọi sự độc quyền quyền lực. Đặc biệt, hệ thống tư pháp phải được bảo đảm trên thực tế quyền xét xử độc lập, chỉ dựa vào Hiến pháp và luật. Tòa án Hiến pháp phải được thành lập, có chức năng phán quyết, chứ không phải là tư vấn, kiến nghị như chức năng của Hội đồng Hiến pháp được quy định trong Dự thảo.

Kiến nghị thứ năm về lực lượng vũ trang

Hiến pháp đặt lợi ích của toàn dân lên trên lợi ích của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hoạt động của các lực lượng vũ trang chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân. Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo. Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kiến nghị thứ sáu về trưng cầu dân ý đối với Hiến pháp

Quyền lập hiến là quyền của toàn dân, phải phân biệt với quyền lập pháp của Quốc hội. Vì vậy phải có trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp. Chúng tôi đề xuất quy định trong Hiến pháp: “Bảo đảm quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp, thông qua trưng cầu dân ý được tổ chức thật sự minh bạch và dân chủ với sự giám sát của người dân và báo giới.

Kiến nghị thứ bảy về thời hạn góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp

Việc lấy ý kiến đóng góp của toàn dân về sửa đổi Hiến pháp là một việc hệ trọng đến vận mệnh quốc gia, phải được tiến hành một cách nghiêm chỉnh, không thể tắc trách, lấy lệ. Vì vậy, thời hạn lấy ý kiến của nhân dân chỉ trong vòng ba tháng là quá ngắn, dễ dẫn đến tình trạng làm một cách hình thức cho qua chuyện. Vì vậy chúng tôi kiến nghị gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013, đồng thời khuyến khích đề xuất các dự thảo khác để Quốc hội, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp cùng toàn thể đồng bào tham khảo, so sánh, thảo luận nhằm xây dựng một bản hiến pháp phù hợp nhất cho quốc gia.  *

Sửa Hiến pháp theo tinh thần của các kiến nghị nêu trên sẽ phát huy dân chủ và hoà hợp dân tộc – những đòi hỏi hết sức bức xúc của nhân dân trong giai đoạn trước mắt, cũng như cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước.

Chúng tôi tha thiết mong mỏi đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng bản Kiến nghị này bằng cách đăng ký tham gia ký tên theo địa chỉ thư điện tử: kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com.

Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2013

*  Theo tinh thần đó, một số chuyên gia luật ở trong nước đã soạn một dự thảo hiến pháp được gửi kèm Kiến nghị này như một tài liệu để tham khảo và thảo luận.

.

DANH SÁCH NGƯỜI KÝ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992

  1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

  2. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu, Hà Nội

  3. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức yêu nước TP Hồ Chí Minh, TP HCM

  4. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM

  5. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội

  6. Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, TP HCM

  7. Phạm Vĩnh Cư, nhà nghiên cứu, Hà Nội

  8. Nguyễn Xuân Diện, TS, Hà Nội

  9. Lê Đăng Doanh, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  10. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM

  11. Nguyễn Văn Dũng, nhà văn, võ sư, Huế

  12. Hồ Ngọc Đại, GS TS, nhà giáo, Hà Nội

  13. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh khóa 4, 5, TP HCM

  14. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM

  15. Lê Hiền Đức, Giải thưởng Liêm chính 2007, Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Hà Nội

  16. Phan Hồng Giang, TSKH, Hà Nội

  17. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist), TP HCM

  18. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  19. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội

  20. Đặng Thị Hảo, TS, Hà Nội

  21. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội

  22. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  23. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP Hồ Chí Minh, TP HCM

  24. Nguyễn Xuân Hoa, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thừa Thiên – Huế, Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên – Huế

  25. Nguyễn Văn Hồng (tức Cung Văn), nguyên Tổng Thư ký Ban chấp hành Sinh viên đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965, Đà Nẵng

  26. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh

  27. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng

  28. Trần Ngọc Kha, nhà báo, Hà Nội

  29. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM

  30. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải, nguyên Phó Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội

  31. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới, TP HCM

  32. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội

  33. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội

  34. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội

  35. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

  36. Huỳnh Công Minh, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

  37. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội

  38. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM

  39. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An

  40. Hạ Đình Nguyên, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành động thuộc Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM

  41. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  42. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn, Hà Nội

  43. Phạm Đức Nguyên, PGS TS, giảng viên cao cấp Đại học, Hà Nội

  44. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin sáng, TP HCM

  45. Nguyễn Hữu Châu Phan, nhà nghiên cứu, Huế

  46. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội

  47. Trần Việt Phương, nguyên trợ lý Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  48. Nguyễn Đăng Quang, nguyên Đại tá Công an, Hà Nội

  49. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

  50. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

  51. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội

  52. Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn, Hà Nội

  53. Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam tại Nhật Bản, Nhật Bản

  54. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM

  55. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM

  56. Trần Thị Băng Thanh, PGS TS, Hà Nội

  57. Lê Quốc Thăng, linh mục Giáo phận Sài Gòn, TP HCM

  58. Đào Tiến Thi, thạc sĩ, Hà Nội

  59. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hà Nội

  60. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội

  61. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM

  62. Nguyễn Trung, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội

  63. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, Hà Nội

  64. Hoàng Tụy, GS, Viện Toán học, nguyên Chủ tịch Viện IDS, Hà Nội

  65. Lưu Trọng Văn, nhà báo, TP HCM

  66. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội

  67. Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM

  68. Nguyễn Hữu Vinh, doanh nhân, Hà Nội

  69. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

  70. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, Huế

  71. Nguyễn Đông Yên, GS TS, Viện Toán học, Hà Nội

  72. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM

.

DỰ THẢO HIẾN PHÁP 2013

LỜI NÓI ĐẦU

Kế tiếp nền văn hiến và truyền thống bất khuất của các thế hệ tiền nhân đã dựng xây và bảo vệ đất nước, đã đấu tranh vì tự do và độc lập của dân tộc,

vì một xã hội công bằng, dân chủ và tôn trọng pháp quyền, vì mục tiêu hạnh phúc và tự do của các thế hệ hiện tại và tương lai,

chúng tôi, nhân dân Việt Nam, thông qua các đại diện của mình, xây dựng bản Hiến pháp này.

CHƯƠNG I. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chủ quyền quốc gia

Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2. Chủ quyền nhân dân

Chủ quyền Việt Nam thuộc về nhân dân và tất cả các quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân. Quyền lập hiến là một quyền không thể bị tước đoạt của nhân dân.

Điều 3. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, có quyền phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hội nhập vào sự phát triển chung của đất nước.

Điều 4. Công dân

1. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được luật quy định.

2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam, giao nộp cho nhà nước khác.

3. Nhà nước bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài.

4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

5. Người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác hoặc chưa có quốc tịch nước nào có quyền có quốc tịch Việt Nam.

6. Địa vị của người nước ngoài được đảm bảo theo quy định của luật pháp quốc tế và điều ước quốc tế.

Điều 5. Các điều ước quốc tế

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận, kế thừa và tôn trọng các điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trước đây ký kết và ban hành không trái với các hiến pháp tương ứng và các quy tắc chung được luật pháp quốc tế công nhận vào thời điểm đó.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố nào mà các chính quyền Việt Nam trước đây đã ký kết hoặc đưa ra một cách bí mật, không đúng thẩm quyền hoặc không đúng theo các thủ tục pháp luật vào thời điểm đó.

3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không thừa nhận bất cứ điều ước, thỏa thuận hay tuyên bố do bất cứ đảng phái chính trị, tổ chức phi nhà nước hay cá nhân nào đã ký kết hoặc đưa ra, một cách bí mật hay công khai, liên quan đến chủ quyền hay lãnh thổ Việt Nam.

Điều 6. Tôn trọng hòa bình, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân

1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nỗ lực duy trì hòa bình quốc tế và từ bỏ chiến tranh xâm lược.

2. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh quốc gia là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

3. Các lực lượng vũ trang được trao sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

4. Các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị, đặt lợi ích của nhân dân lên trước bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào.

Điều 7. Tính chất dân sự của lực lượng cảnh sát

Lực lượng cảnh sát có sứ mệnh thực thi luật pháp và giữ gìn trật tự. Cảnh sát thuộc lĩnh vực dân sự, không thuộc về các lực lượng vũ trang.

Điều 8. Trách nhiệm của công chức

1. Công chức là công bộc của nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

2. Địa vị và tính trung lập chính trị của công chức được đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Đảng phái chính trị

1. Các đảng phái chính trị được tự do thành lập và hoạt động theo các nguyên tắc dân chủ. Quyền đối lập chính trị được tôn trọng.

2. Pháp luật bảo đảm sự bình đẳng giữa các đảng phái chính trị.

Điều 10. Nền kinh tế quốc dân

1. Nền kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dựa trên sự tôn trọng tự do và sáng kiến của các doanh nghiệp và cá nhân trong đời sống kinh tế.

2. Nhà nước có thể quy định và điều phối các hoạt động kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng cân bằng, bền vững và ổn định, nhằm phân phối thu nhập, ngăn chặn sự thống lĩnh thị trường và lạm quyền kinh tế.

3. Nhà nước có nghĩa vụ thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế để có nền kinh tế quốc gia cân đối. Nhà nước thúc đẩy kinh tế bằng việc phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, nguồn nhân lực và khuyến khích sáng tạo.

Điều 11. Quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc khánh và thủ đô

1. Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

2. Quốc huy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

3. Quốc ca nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca.”

4. Ngày Quốc khánh là Ngày Tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.

5. Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hà Nội.

CHƯƠNG II. QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 12. Nguyên tắc tôn trọng các quyền con người

1. Ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các quyền con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948) và các điều ước quốc tế về quyền con người khác mà Việt Nam là thành viên, được tôn trọng và bảo vệ.

2. Các cơ quan nhà nước, công chức và viên chức có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều 13. Quyền bình đẳng

1. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa vào giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các yếu tố khác.

2. Các nhóm thiểu số được ưu tiên bảo vệ.

Điều 14. Quyền sống, tự do và an toàn cá nhân

Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân. Quyền sống trong một môi trường trong lành của mọi người phải được tôn trọng và bảo vệ.

Điều 15. Tự do không bị làm nô lệ

Không ai bị bắt làm nô lệ hoặc bị cưỡng bức làm việc như nô lệ. Mọi hình thức nô lệ và buôn bán người đều bị cấm.

Điều 16. Quyền không bị tra tấn và các quyền trong lĩnh vực tư pháp hình sự

1. Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt, giữ hay giam giữ một cách tuỳ tiện. Trong vòng 24 giờ kể từ khi bị bắt, người bị bắt phải được đưa ra trước một tòa án để xem xét phê chuẩn hoặc hủy bỏ việc bắt giữ.

3. Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình.

4. Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi nào không cấu thành một tội phạm hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.

Điều 17. Quyền được tòa án bảo vệ và quyền được xét xử công bằng

1. Mọi người đều có quyền được các toà án có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.

2. Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ.

Điều 18. Bảo vệ danh dự, uy tín và quyền riêng tư

1. Danh dự và uy tín cá nhân của mọi người được tôn trọng.

2. Cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở và thư tín của mọi người được tôn trọng.

Điều 19. Quyền tự do đi lại và tự do cư trú

1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.

2. Mọi người đều có quyền rời khỏi và quyền trở về Việt Nam.

Điều 20. Quyền kết hôn

1. Mọi người khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo hay giới tính.

2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai.

Điều 21. Quyền sở hữu

1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản tư nhân hoặc sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện.

2. Đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng hoặc sở hữu nhà nước.

Điều 22. Tư do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo

Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.

Điều 23. Tự do ngôn luận, biểu tình, hội họp và lập hội

1. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến bằng mọi hình thức. Tư nhân có quyền ra báo, xuất bản.

2. Mọi người đều có quyền tự do biểu tình, hội họp một cách ôn hoà.

3. Mọi người đều có quyền tự do lập hội. Không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào.

Điều 24. Quyền tham gia chính trị

Mọi công dân đều có quyền tham gia quản lý đất nước, một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu mà họ tự do lựa chọn trong các cuộc bầu cử.

Điều 25. Quyền hưởng an sinh xã hội

Mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội.

Điều 26. Quyền lao động và nghiệp đoàn

1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp.

2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.

3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm.

4. Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ các quyền lợi của mình.

5. Quyền đình công của người lao động được bảo đảm bằng luật.

Điều 27. Quyền có mức sống thích đáng

1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, góa bụa, già hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ.

2. Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Mọi trẻ em, dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được hưởng sự bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 28. Quyền học tập

Mọi người đều có quyền học tập. Giáo dục tiểu học là bắt buộc và miễn phí.

Điều 29. Quyền về văn hóa

1. Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học.

2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả.

Điều 30. Bảo vệ người tiêu dùng

Nhà nước phải có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Điều 31. Nguyên tắc chung của nghĩa vụ

Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.

Điều 31. Nghĩa vụ nộp thuế

Mọi công dân có nghĩa vụ nộp thuế theo các điều kiện luật định.

Điều 32. Bảo vệ Tổ quốc và tri ân những người có công

1. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng. Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

2. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tôn vinh công lao của tất cả những người đã hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc, ghi nhận và tôn vinh công lao của các thương binh, các cựu chiến binh bất luận họ đã phục vụ trong chính thể nào trong quá khứ và có chính sách hỗ trợ họ trong giáo dục, đào tạo nghề và trong mưu sinh.

Điều 33. Nghĩa vụ quân sự

Công dân phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia lực lượng vũ trang dự bị theo luật định.

CHƯƠNG III. LẬP PHÁP

Điều 34. Quốc hội

1. Quyền lập pháp được nhân dân ủy quyền cho Quốc hội. Quốc hội bao gồm Hạ viện và Thượng viện.

2. Thành viên của Quốc hội là các nghị sĩ, gồm Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ. Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ do nhân dân bầu ra thông qua bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

3. Không ai có thể đồng thời là Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ.

4. Quốc hội có quyền lập pháp, phê chuẩn việc bổ nhiệm lãnh đạo các cơ quan hành pháp, bổ nhiệm các thẩm phán, lãnh đạo các cơ quan hiến định độc lập theo quy định của Hiến pháp và luật.

Điều 35. Hạ nghị sĩ

1. Các Hạ nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu 1 (một) Hạ Nghị sĩ.

3. Đơn vị bầu cử Hạ Nghị sĩ gồm các đơn vị hành chính cơ sở (cấp xã) nằm trong một vùng sao cho các đơn vị có dân số xấp xỉ ngang nhau.

4. Số đơn vị bầu cử của một đơn vị hành chính cấp tỉnh được tính bằng số nguyên làm tròn của con số được tính bằng dân số của đơn vị cấp tỉnh đó (theo tổng điều tra dân số gần nhất) nhân với 250 rồi chia cho dân số toàn quốc. Một đơn vị hành chính cấp tỉnh có ít nhất một đơn vị bầu cử.

5. Mọi công dân đủ 25 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Hạ nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

6. Tuy các Hạ nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 36. Thượng nghị sĩ

1. Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và có thể được bầu lại.

2. Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) là một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ.

3. Mọi công dân đủ 30 tuổi trước ngày bầu cử có thể là ứng cử viên Thượng nghị sĩ tại một đơn vị bầu cử Thượng Nghị sĩ nếu: (a) có được chữ ký của 10 ngàn cử tri ủng hộ, hoặc (b) đã từng là Nghị sĩ, hoặc (c) được một đảng chính trị đề cử.

4. Số Thượng nghị sĩ mà mỗi đơn vị được bầu cử là 2. Đối với những tỉnh có người dân tộc thiểu số quá 20 % dân số tỉnh đó, thì bắt buộc phải có 1 Thượng nghị sĩ là người dân tộc thiểu số.

5. Trong lần bầu Thượng nghị sĩ đầu tiên, mỗi đơn vị bầu cử, bằng bốc thăm, chọn ra 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm và 1 Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm, sao cho cứ 3 năm sẽ tiến hành bầu lại một nửa số Thượng nghị sĩ của Thượng viện.

6. Tuy các Thượng nghị sĩ được bầu theo từng đơn vị bầu cử, họ đại diện không chỉ cho người dân của đơn vị bầu cử ấy mà cho người dân cả nước.

Điều 37. Bầu cử Thượng viện và Hạ viện

1. Việc bầu cử toàn bộ các Hạ nghị sĩ và các Thượng nghị sĩ lần đầu tiên theo Hiến Pháp này được tiến hành trong vòng 100 ngày kể từ ngày bản Hiến pháp có hiệu lực.

2. Nghị sĩ hết nhiệm kỳ vào ngày tính đúng 36 tháng đối với các Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ được bầu lần đầu có nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức; vào ngày tính đúng 72 tháng đối với các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức.

3. Trong vòng 100 ngày trước khi các Nghị sĩ hết nhiệm kỳ, phải tổ chức bầu cử các Nghị sĩ mới cho nhiệm kỳ tiếp theo. Nếu đơn vị bầu cử không hội đủ số người đắc cử theo quy định thì phải tổ chức bầu lại từ các ứng viên thất cử của đợt bầu trước đó trong vòng 15 ngày sau khi cuộc bầu cử trước kết thúc. (Các) đợt bầu cử lại này được tiến hành cho đến khi chọn đủ số người đắc cử theo quy định và trong mọi trường hợp phải kết thúc trước ngày các Nghị sĩ đương nhiệm hết nhiệm kỳ 15 ngày.

4. Nếu khuyết Nghị sĩ vì bất cứ lý do gì, thì (a) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại dưới 1 năm sẽ không có bầu cử bổ sung; hoặc (b) nếu thời gian nhiệm kỳ còn lại bằng hay trên 1 năm phải tổ chức bầu bổ sung tại đơn vị bầu cử đó cho đủ số bị khuyết trong vòng 60 ngày kể từ khi các Viện xác nhận sự khuyết. Nhiệm kỳ của người được bầu bổ sung sẽ chấm dứt cùng với nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đương nhiệm.

5. Thủ tục ứng cử, tranh cử, bầu cử được quy định chi tiết trong luật bầu cử.

Điều 38. Sự chuyên trách, tuyên thệ và quyền miễn trừ của Nghị sĩ

1. Trong khi đương nhiệm các Nghị sĩ không được đồng thời giữ bất kỳ chức vụ nào khác tại bất kỳ cơ quan, tổ chức công hay tư, trong các lực lượng vũ trang hay cảnh sát. Nếu đã giữ các chức vụ như vậy trước khi được bầu làm Nghị sĩ thì phải chính thức từ nhiệm các chức vụ đó trước khi thực hiện nhiệm vụ Nghị sĩ và việc từ chối từ nhiệm sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

2. Các Nghị sĩ được trả lương từ Ngân khố quốc gia.

3. Các Nghị sĩ, trước khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, sẽ phải tuyên thệ trước mỗi Viện: “Tôi long trọng tuyên thệ thực hiện các nhiệm vụ của mình một cách mẫn cán và tận tâm, để bảo vệ chủ quyền và các lợi ích của nhân dân và đất nước; làm mọi việc trong thẩm quyền của mình vì sự phồn vinh của đất nước và hạnh phúc của nhân dân; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Việc từ chối tuyên thệ sẽ được coi là từ bỏ nhiệm vụ Nghị sĩ.

4. Nghị sĩ sẽ không phải chịu trách nhiệm bên ngoài nghị viện về ý kiến chính thức đã nêu hoặc về việc bỏ phiếu của mình tại Nghị viện.

5. Không Nghị sĩ nào có thể bị bắt hoặc giam giữ mà không được sự đồng ý của với đa số 2/3 của các Nghị sĩ của Nghị Viện mà Nghị sĩ đó là thành viên, ngoại trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Điều 39. Tính liêm chính và tránh xung đột lợi ích của Nghị sĩ

1. Nghị sĩ có nghĩa vụ duy trì chuẩn mực cao về liêm chính, phải ưu tiên lợi ích quốc gia và thực hiện các nhiệm vụ của mình phù hợp với lương tâm.

2. Nghị sĩ không được lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, không được đòi hỏi các lợi ích về tài sản hay địa vị, hoặc giúp người khác thu lợi, thông qua thông đồng hay sự sắp xếp của nhà nước, các tổ chức công quyền hay các ngành công nghiệp.

3. Nghị sĩ phải khai báo tài sản của mình theo luật định.

4. Nghị sĩ, vợ hay chồng của Nghị sĩ, cũng như các doanh nghiệp do họ sở hữu hay chiếm quyền chi phối, không thể tham dự các cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền và các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu hay chiếm quyền chi phối.

Điều 40. Tổ chức Hạ viện

1. Mỗi Hạ nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Hạ viện.

2. Mọi quyết định của Hạ viện được coi là được thông qua nếu được đa số phiếu, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Hạ viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Hạ viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Hạ viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Hạ viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Hạ viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời.

Điều 41. Tổ chức Thượng viện

1. Mỗi Thượng nghị sĩ có một lá phiếu khi biểu quyết tại Thượng Nghị Viện.

2. Mọi quyết định của Thượng viện sẽ coi là được thông qua nếu được đa số phiếu tán thành, trừ các quyết định đặc biệt nêu trong Hiến pháp này đòi hỏi đa số 2/3 số phiếu.

3. Thượng Nghị Viện bầu ra một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch.

4. Nếu vì bất cứ lý do gì mà Chủ tịch Thượng Nghị Viện bị khuyết, thì Phó Chủ tịch tạm thời làm quyền Chủ tịch cho đến khi Thượng Nghị Viện bầu ra Chủ tịch mới trong vòng 60 ngày.

5. Thượng Nghị Viện quyết định về tổ chức nội bộ của mình, có thể thể lập ra Văn phòng Thượng viện, các ủy ban thường trực hay lâm thời.

Điều 42. Họp Hạ viện, Thượng viện và Quốc hội

1. Trừ trường hợp Hiến pháp hay luật quy định khác, cuộc họp của Hạ viện (hay Thượng viện) là hợp lệ nếu có mặt của đa số trong tổng số Hạ nghị sĩ (hay Thượng nghị sĩ), quyết định hợp lệ được thông qua với đa số phiếu hiện diện.

2. Họp Quốc hội là phiên họp chung của Hạ viện và Thượng viện do Chủ tịch Hạ viện chủ tọa hay Chủ tịch Thượng viện chủ tọa khi Chủ tịch Hạ viện vắng mặt. Quốc hội ban hành quy chế về thủ tục, thể thức họp Quốc hội. Các quyết định của Quốc hội là các quyết định được đưa ra tại các phiên họp chung này.

3. Các cuộc họp của Hạ viện, Thượng viện, Quốc hội được mở công khai cho công chúng, trừ khi đa số thành viên có mặt quyết định, hoặc khi Chủ tịch xét thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc gia thì công chúng không thể tham dự.

4. Việc công bố công khai các thủ tục của kỳ họp kín sẽ được luật quy định.

5. Biên bản cuộc họp phải đầy đủ, chi tiết, ghi rõ ý kiến và số phiếu biểu quyết của từng Nghị sĩ. Có thể đồng thời ghi âm, ghi hình cuộc họp để lưu trữ. Mọi công dân đều có quyền tiếp cận biên bản của các cuộc họp mở công khai, theo thủ tục do luật định.

Điều 43. Quyền trình dự án luật

1. Các Nghị sĩ, cơ quan hành pháp có thể đệ trình dự án luật.

2. Một nhóm ít nhất 30.000 cử tri có quyền trình dự án luật. Thủ tục về việc này do luật quy định.

3. Dự án luật phải được nộp cho Văn phòng Hạ viện

4. Người, hay nhóm công dân bảo trợ dự án luật, khi đệ trình dự án luật cho Hạ viện, có trách nhiệm giải trình rõ các hệ quả về tài chính của việc thực thi dự án luật.

5. Người, nhóm người hay cơ quan trình dự án luật có thể rút lại dự án luật trong quá trình thẩm định và xem xét thông qua.

Điều 44. Thẩm định, thảo luận, thông qua dự luật

1. Dự án luật, dự thảo luật đã được đệ trình lên Hạ viện được gọi chung là dự luật. Dự luật phải trải qua các khâu thẩm định theo quy định của luật.

2. Hạ viện thảo luận, xem xét dự luật và biểu quyết thông qua với đa số phiếu hiện diện hay bác bỏ. Trong mọi trường hợp nghị quyết thông qua hay bác bỏ, trong vòng 3 ngày dự luật cùng hồ sơ bác bỏ hay thông qua đều phải chuyển sang Văn phòng Thượng viện.

3. Nếu Hạ viện đã thông qua dự luật thì dự luật được Thượng viện xem xét và dự luật được Thượng viện thông qua nếu đạt đa số phiếu hiện diện chấp thuận. Trong trường hợp đó dự luật đã được Quốc hội (cả 2 viện) thông qua.

4. Nếu Thượng viện bác bỏ thì trong vòng 3 ngày dự luật phải được chuyển lại cho Hạ viện cùng với nghị quyết nêu rõ lý do bác bỏ. Hạ viện sẽ xem xét lại và nếu dự luật được Hạ viện thông qua lần nữa với đa số 2/3 của các Hạ nghị sĩ thì dự luật được coi là đã được Quốc hội thông qua, nếu không đạt đa số 2/3 thì vẫn phải chuyển qua Thượng viện xem xét.

5. Trong trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần, Hạ viện có thể yêu cầu Thượng viện xem xét và biểu quyết trước một dự luật, sau đó Hạ viện mới xem xét và biểu quyết. Khi đó vai trò của mỗi Viện thay thế cho nhau trong quy trình nêu trên.

6. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Thượng viện không được quá một nửa (1/2) thời gian xem xét và biểu quyết tại Hạ viện. Thời gian xem xét và biểu quyết dự luật tại Hạ viện không được quá hai lần thời gian xem xét và biểu quyết tại Thượng viện.

7. Dự án luật không thể bị loại bỏ vì không được thông qua trong kỳ họp mà nó được trình ra, ngoại trừ trong trường hợp nhiệm kỳ của các Nghị sĩ đã hết.

Điều 45. Dự luật trở thành luật

1. Dự luật đã được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Tổng thống trong vòng 7 ngày.

2. Sau khi nhận được dự luật đã được Quốc hội thông qua, Tổng thống có thể chuyển dự luật cho Tòa án Hiến pháp để xét xem có phù hợp với Hiến pháp hay không. Trong trường hợp Tòa án Hiến Pháp xác minh dự luật phù hợp với Hiến pháp, nó trở thành luật. Trong trường hợp dự luật có các điều khoản cụ thể được Tòa án Hiến pháp cho là không hợp hiến và Tòa án Hiến pháp không xác định các điều khoản đó là không thể tách rời toàn bộ dự luật, thì Tổng Thống có thể loại bỏ các điều khoản được cho là vi hiến đó sau khi đã tham vấn ý kiến của Chủ tịch Hạ viện và dự luật trở thành luật với sự loại bỏ đó.

3. Trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được dự luật từ Quốc hội, nếu Tổng thống chấp thuận thì dự luật trở thành luật.

4. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, thì trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được từ Quốc hội, Tổng thống phải gửi trả lại Quốc hội xem xét lại dự luật với giải thích bằng văn bản sự phản đối, nhưng không được yêu cầu Quốc hội xem xét lại từng phần của dự luật hay đưa ra đề xuất sửa đổi.

5. Nếu Tổng thống phản đối dự luật, nhưng quá thời hạn 15 ngày kể trên mà Tổng thống không trả lại dự luật cho Quốc hội, thì dự luật tự động trở thành luật.

6. Trong trường hợp Tổng thống trả dự luật lại cho Quốc hội, Quốc hội phải xem xét lại dự luật, sau đó: (a) sửa đổi theo trình tự thông thường, hoặc (b) thông qua văn bản gốc của dự luật với đa số 2/3 của các đại biểu có mặt, trường hợp này thì dự luật trở thành luật.

Điều 46. Công bố luật

1. Khi dự luật đã trở thành luật, Tổng thống phải công bố luật không chậm trễ.

2. Trong trường hợp dự luật tự động trở thành luật (theo Khoản 5 Điều 45) hay trở thành luật theo (b) Khoản 6 Điều 45, thì Tổng Thống cũng phải ký công bố không chậm trễ; nếu Tổng Thống vẫn không công bố thì Chủ tịch Hạ viện ký công bố và hành vi này của Tổng Thống có thể trở thành căn cứ cho việc luận tội vi phạm Hiến pháp.

3. Luật được công bố trên Công báo và có hiệu lực vào ngày do luật định hoặc 30 ngày sau ngày ký công bố nếu luật không định rõ ngày có hiệu lực.

Điều 47. Ngân sách

1. Không một khoản tiền nào từ ngân sách nhà nước được chi, cho dù Cơ quan Hành pháp có yêu cầu, nếu chưa được Quốc hội thông qua.

2. Hành pháp sẽ soạn thảo dự luật ngân sách cho mỗi năm tài chính và đệ trình Hạ viện ít nhất 90 ngày trước ngày khởi đầu của năm tài chính mới.

3. Quốc hội không tăng số tiền của bất kỳ khoản chi nào, không tạo ra bất kỳ mục chi mới nào trong dự luật ngân sách nếu không có sự đồng ý của Cơ quan Hành pháp.

4. Hạ viện quyết định về dự luật ngân sách trong vòng 45 ngày kể từ ngày dự luật ngân sách được đệ trình và chuyển cho Thượng viện.

5. Thượng viện quyết định về dự luật ngân sách đã được Hạ viện chuyển qua trong vòng 20 ngày.

6. Nếu dự luật ngân sách không được thông qua trước khi bắt đầu năm tài chính mới, Cơ quan Hành pháp có thể giải ngân, theo cách phù hợp với ngân sách của năm tài chính trước, cho các mục đích sau đây cho đến khi dự luật ngân sách được Quốc hội thông qua: (a) cho việc duy trì hoạt động của các cơ quan được thành lập theo Hiến pháp hay luật; (b) cho việc thực hiện các khoản chi bắt buộc theo quy định của pháp luật; và (c) cho việc tiếp tục các dự án trước đó đã được phê duyệt trong ngân sách.

7. Hạ viện và Thượng viện có thể có phiên họp chung để xem xét và quyết định về ngân sách khi thấy cần thiết.

Điều 48. Kiểm toán thu chi ngân sách

Báo cáo tài chính cuối cùng về thu chi ngân sách quốc gia sẽ được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán hàng năm và trình cho Quốc hội.

Điều 49. Thuế

Các loại và mức thuế được xác định bằng luật.

Điều 50. Nợ

Mọi kế hoạch của Cơ quan Hành pháp về phát hành trái phiếu quốc gia và ký kết hợp đồng mà có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính ngoài ngân sách của Nhà nước đều phải được Hạ viện phê chuẩn.

Điều 51. Chất vấn

1. Hạ nghị sĩ có quyền chất vấn các Bộ trưởng bằng văn bản hoặc bằng các câu hỏi trực tiếp tại các phiên họp của Hạ viện.

2. Chất vấn bằng văn bản phải được trả lời bằng văn bản trong vòng 21 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.

3. Các Bộ trưởng có trách nhiệm trả lời các câu hỏi được nêu ra trong mỗi phiên họp của Hạ viện.

Điều 52. Điều trần

1. Để phục vụ cho hoạt động lập pháp, các ủy ban của Hạ viện và Thượng viện có thể tổ chức các cuộc điều trần để nghe những người có liên quan giải thích, làm rõ những vấn đề nhất định nhằm tạo cơ sở cho các quyết định lập pháp và giám sát của Quốc hội.

2. Những người được mời điều trần trước các ủy ban có thể là các Nghị sĩ, các quan chức chính phủ, lãnh đạo các tổ chức dân sự, công đoàn, các doanh nhân, chuyên gia, học giả, nhà khoa học…

3. Để chọn ra các quan chức có chất lượng, tất cả các ứng viên tiềm năng vào các chức Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch hay lãnh đạo của các cơ quan hiến định đều phải điều trần trước khi được bổ nhiệm và phê chuẩn

4. Thủ tục mời và tiến hành điều trần do luật định.

5. Biên bản các cuộc điều trần được công bố công khai, trừ các cuộc điều trần liên quan đến an ninh quốc gia, và được lưu trữ theo luật định.

Điều 53. Trưng cầu dân ý toàn quốc

1. Cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có thể được tổ chức về những vấn đề đặc biệt quan trọng đối với nhân dân và quốc gia.

2. Hạ viện có thể quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Tổng thống với sự chấp thuận của Thượng viện có quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cấp quốc gia. Khi có yêu cầu của trên 500 ngàn cử tri thì phải tổ chức trưng cầu dân ý.

3. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý cấp quốc gia có tính bắt buộc nếu có hơn ½ số người có quyền bầu cử tham gia cuộc trưng cầu dân ý.

4. Các nguyên tắc và thủ tục tổ chức cuộc trưng cầu dân ý do luật định.

Điều 54. Giám sát, điều tra và bãi nhiệm

1. Hạ viện có thể giám sát công việc của nhà nước hoặc điều tra những vấn đề cụ thể của công vụ nhà nước, có quyền yêu cầu đệ trình các tài liệu trực tiếp liên quan đến các vấn đề đó, yêu cầu nhân chứng cung cấp lời khai hoặc báo cáo.

2. Dựa trên kết quả giám sát, điều tra, chất vấn và điều trần, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Bộ trưởng.

3. Các thủ tục và các vấn đề liên quan đến giám sát và điều tra hành chính nhà nước được luật quy định.

Điều 55. Phế truất Tổng thống

1. Quyết định truy tố Tổng thống về việc vi phạm Hiến pháp hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng phải được Hạ viện thông qua bằng nghị quyết với ít nhất đa số 2/3 tổng số thành viên Hạ viện, trên cơ sở đề nghị của ít nhất 60 Hạ nghị sĩ.

2. Quyết định truy tố Tổng thống được xét xử bởi Thượng viện.

3. Từ ngày có quyết định truy tố, Tổng thống bị tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời đảm nhiệm chức vụ quyền Tổng thống. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống vô tội thì việc tạm đình chỉ nhiệm vụ Tổng thống chấm dứt. Nếu Thượng viện phán quyết Tổng thống có tội thì Tổng thống bị phế truất.

Điều 56. Phê chuẩn điều ước quốc tế

1. Quốc hội có quyền đồng ý ký kết và phê chuẩn các điều ước quốc tế liên quan đến an ninh; các điều ước quốc tế liên quan đến các tổ chức quốc tế quan trọng; các điều ước hữu nghị, thương mại và hàng hải; các điều ước quốc tế liên quan đến bất kỳ hạn chế nào về chủ quyền; các điều ước hòa bình; các điều ước quốc tế phát sinh nghĩa vụ tài chính quan trọng đối với Nhà nước hoặc nhân dân; và các điều ước quốc tế liên quan đến lập pháp.

2. Đại diện có thẩm quyền và được ủy quyền để ký các điều ước quốc tế chỉ được ký điều ước sau khi đã được sự đồng ý của Quốc hội.

3. Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, Tổng thống ký công bố điều ước quốc tế và điều ước có hiệu lực.

Điều 57. Tuyên bố tình trạng chiến tranh

1. Quốc hội có quyền nhân danh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố tình trạng chiến tranh và ký kết hiệp ước hòa bình.

2. Quốc hội chỉ có thể thông qua nghị quyết về tình trạng chiến tranh trong trường hợp có sự xâm lược quân sự đối với lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong thời gian Quốc hội không họp, Tổng thống có thể tuyên bố tình trạng chiến tranh.

CHƯƠNG IV. HÀNH PHÁP

Điều 58. Quyền hành pháp

1. Quyền hành pháp được nhân dân ủy quyền cho Tổng thống.

2. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nguyên thủ quốc gia và bảo đảm cho sự liên tục của cơ quan nhà nước.

3. Tổng thống có trách nhiệm bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia cũng như sự bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

4. Tổng thống thực hiện nhiệm vụ của mình trong phạm vi và theo các nguyên tắc do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 59. Bầu Tổng thống và Phó Tổng thống

1. Tổng thống và Phó Tổng thống cùng đứng chung một liên danh, do cử tri bầu ra trong cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng và trực tiếp bằng phiếu kín.

2. Công dân Việt Nam đủ 35 tuổi, tính đến ngày bầu cử, và có quyền bầu cử Quốc hội, có thể là ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống. Ứng cử viên Tổng thống và ứng cử viên Phó Tổng thống, với tư cách một liên danh chung, phải có được chữ ký ủng hộ của ít nhất 100 ngàn công dân có quyền bầu cử Quốc hội.

3. Liên danh nhận được hơn 1/2 tổng số phiếu bầu hợp lệ sẽ trúng cử chức vụ Tổng thống và Phó Tổng thống.

4. Nếu không liên danh nào nhận được đa số phiếu, thì sẽ tổ chức lại việc bỏ phiếu giữa 2 liên danh đạt số phiếu cao nhất vào ngày thứ 14 sau ngày bỏ phiếu lần thứ nhất.

5. Nếu một trong hai liên danh tham gia vòng bầu thứ hai đồng ý rút khỏi danh sách, một trong hai người trong liên danh mất quyền bầu cử hoặc chết, thì liên danh đạt phiếu cao kế tiếp trong lần bầu thứ nhất sẽ thay thế liên danh đó. Trong trường hợp này, ngày bỏ phiếu sẽ được gia hạn thêm 14 ngày.

6. Liên danh nhận được số phiếu bầu cao hơn trong lần bỏ phiếu lần thứ hai sẽ là những người được bầu làm Tổng thống và Phó Tổng thống.

7. Các nguyên tắc và thủ tục đề cử ứng cử viên Tổng thống, Phó Tổng thống cách thức tiến hành bầu cử cũng như những yêu cầu về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Tổng thống sẽ do luật quy định.

8. Chủ Tịch Hạ viện ra quyết định tổ chức cuộc bầu cử Tổng thống không trước 120 ngày và không sau 100 ngày tính đến ngày hết nhiệm kỳ Tổng thống; trong trường hợp khuyết Tổng thống, không muộn hơn 14 ngày kể từ thời điểm bị khuyết. Quyết định tổ chức bầu cử phải quy định rõ ngày bầu cử sẽ là một ngày nghỉ trong khoảng thời gian giữa 60 đến 67 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Điều 60. Tuyên thệ nhậm chức và nhiệm kỳ Tổng thống

1. Tại lễ nhậm chức trước Quốc hội, Tổng thống sẽ tuyên thệ như sau: “Tôi trịnh trọng tuyên thệ trước nhân dân rằng sẽ trung thành thực thi các nghĩa vụ của Tổng thống bằng việc tuân thủ Hiến pháp, bảo vệ quốc gia, thúc đẩy tự do và thịnh vượng của nhân dân, nỗ lực bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc”.

2. Tổng thống và Phó Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm tính từ ngày nhậm chức. Một người không thể làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ.

Điều 61. Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ trước thời hạn

1. Nhiệm vụ của Tổng thống có thể chấm dứt trước kỳ hạn trong những trường hợp sau: (a) Tổng thống chết; (b) Tổng thống từ chức; (c) Tổng thống bị truất quyền; và (d) do bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài, Tổng thống không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực, trong trường hợp (d), phải được Quốc hội xác nhận với đa số 3/4 tổng số Hạ nghị sĩ và Thượng nghị sĩ, sau các cuộc giám định y khoa.

2. Trong trường hợp Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ, Phó Tổng thống sẽ đảm nhận chức Tổng thống trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

3. Trong trường hợp khuyết Phó Tổng thống, Thượng viện bầu Phó Tổng thống mới theo đề nghị của Tổng thống.

4. Trường hợp đồng thời khuyết cả Tổng thống và Phó Tổng thống, Chủ tịch Thượng viện tạm thời làm quyền Tổng thống cho đến khi Quốc hội bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống mới, theo phương thức đa số, cho thời gian còn lại của nhiệm kỳ.

Điều 62. Thẩm quyền của Tổng thống

Tổng thống có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Hoạch định chính sách quốc gia;

2. Ký ban hành các đạo luật;

3. Ký các điều ước quốc tế, sau khi được Quốc hội phê chuẩn ký ban hành các điều ước quốc tế;

4. Bổ nhiệm các đại sứ với sự phê chuẩn của Thượng viện;

5. Tiếp nhận quốc thư, đón nhận các phái đoàn ngoại giao;

6. Tổ chức các cơ quan hành pháp theo quy định của luật;

7. Chỉ đạo hoạt động của các cơ quan hành pháp;

8. Bổ nhiệm các Bộ trưởng với sự chấp thuận của Quốc hội;

9. Bãi nhiệm các Bộ Trưởng;

10. Tổ chức các Hội đồng tư vấn;

11. Quyết định các vấn đề được luật quy định về đặc xá, giảm án, phục hồi các quyền và đại xá;

12. Trao các tước vị và danh hiệu theo các điều kiện luật định;

13. Trao quốc tịch Việt Nam;

14. Các quyền khác theo luật định.

Điều 63. Thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang

1. Tổng thống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Thống lĩnh tối cao của các lực lượng vũ trang Việt Nam.

2. Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng thống phong cấp bậc quân hàm quân đội theo quy định của luật.

3. Thẩm quyền của Tổng thống về quyền thống lĩnh tối cao đối với các lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể trong luật.

Điều 64. Thủ tướng và các thành viên Chính phủ

1. Thủ tướng và các Bộ trưởng là các thành viên Chính phủ, được Tổng thống bổ nhiệm và Quốc hội phê chuẩn.

2. Thủ tướng có trách nhiệm hỗ trợ Tổng thống và điều hành các Bộ theo chỉ đạo của Tổng thống.

3. Không ai trong quân đội có thể được bổ nhiệm làm Thủ tướng trừ khi đã giải nhiệm.

4. Cơ quan công tố thuộc Bộ Tư pháp.

CHƯƠNG V. TƯ PHÁP

Điều 65. Hoạt động tư pháp

1. Quyền lực tư pháp được trao cho các tòa án, gồm các thẩm phán có trình độ chuyên môn theo luật định.

2. Các tòa án gồm: Tòa án Tối cao, tòa án các cấp khác và Tòa án Hiến pháp.

Điều 66. Tổ chức Tòa án Tối cao

1. Trong Tòa án Tối cao có Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

2. Trong Tòa án Tối cao có thể thành lập các tòa chuyên trách.

3. Việc tổ chức Tòa án Tối cao, các tòa án chuyên trách và các tòa án khác theo luật định.

Điều 67. Thẩm phán Toà án Tối cao

1. Chánh án Tòa án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Quốc hội.

2. Các Thẩm phán Tòa án Tối cao do Tổng thống bổ nhiệm theo đề xuất của Chánh án Tòa án Tối cao và với sự đồng ý của Quốc hội.

3. Các thẩm phán khác do Chánh án Tòa án Tối cao bổ nhiệm với sự đồng ý của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao.

Điều 68. Nhiệm kỳ thẩm phán Toà án Tối cao

1. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Tối cao là 6 năm và không thể được tái bổ nhiệm.

2. Nhiệm kỳ của thẩm phán của Tòa án Tối cao là 6 năm và họ có thể được tái bổ nhiệm theo quy định của luật.

3. Nhiệm kỳ của các thẩm phán ngoài Chánh án và Thẩm phán của Tòa án Tối cao là 10 năm, họ có thể được tái bổ nhiệm theo các điều kiện luật định.

4. Tuổi về hưu của các thẩm phán được luật quy định.

Điều 69. Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề sau đây:

1. Sự phù hợp của luật và điều ước quốc tế với Hiến pháp;

2. Sự phù hợp của các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành với Hiến pháp;

3. Sự phù hợp của mục tiêu, hoạt động của các đảng chính trị với Hiến pháp;

4. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với chính quyền địa phương và giữa các chính quyền địa phương;

5. Khiếu nại của những người cho rằng các quyền hiến định của họ đã bị xâm phạm bởi một đạo luật hay văn bản pháp luật khác trái với Hiến pháp.

Điều 70. Tổ chức Tòa án Hiến pháp

1. Tòa án Hiến pháp gồm 15 thẩm phán được Quốc hội bầu chọn trong số những người có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Thẩm phán Tòa án Hiến pháp có nhiệm kỳ 9 năm và không thể được bầu chọn nhiều hơn một nhiệm kỳ.

2. Chánh án và Phó Chánh án Tòa án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm trong số các ứng cử viên do Hội đồng thẩm phán Tòa án Hiến pháp giới thiệu

3. Tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp được quy định trong một đạo luật.

Điều 71. Nguyên tắc độc lập

Thẩm phán các tòa án phải xét xử độc lập theo lương tâm, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thẩm phán không được tham gia các đảng chính trị.

CHƯƠNG VI. CÁC CƠ QUAN HIẾN ĐỊNH ĐỘC LẬP

Điều 72. Các cơ quan hiến định độc lập

Các cơ quan hiến định độc lập, không phải là các cơ quan lập pháp, hành pháp hay tư pháp, bao gồm Ngân hàng Trung ương, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền và Hội đồng Hoà giải Dân tộc.

Điều 73. Ngân hàng Trung ương

1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ngân hàng Trung ương của Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa

2. Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định bởi một đạo luật.

Điều 74. Kiểm toán Nhà nước

1. Kiểm toán Nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc nghề nghiệp.

2. Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các pháp nhân và tổ chức nhà nước về tính hợp pháp, tính kinh tế, hiệu quả và sự mẫn cán.

3. Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Hạ viện và có trách nhiệm trình Hạ viện: các báo cáo phân tích việc thực hiện ngân sách và các mục tiêu của chính sách tiền tệ; ý kiến liên quan đến việc chấp thuận quyết toán ngân sách; thông tin về kết quả kiểm toán, kết luận kiểm toán và kiến nghị theo quy định của luật.

4. Chủ tịch Kiểm toán Nhà nước không được tham gia đảng chính trị hay bất cứ hoạt động công vụ nào khác không phù hợp với chức trách của mình.

5. Tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước được quy định bằng một đạo luật.

Điều 75. Ủy Ban Bầu cử

1. Các Ủy ban Bầu cử được thiết lập với mục đích điều hành công bằng các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý toàn quốc, xử lý các vấn đề hành chính liên quan đến các chính đảng.

2. Ủy ban Bầu cử Trung ương gồm 3 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, 3 thành viên do Quốc hội lựa chọn và 3 thành viên do Chánh án Tòa án Tối cao lựa chọn. Các thành viên của Ủy ban thành viên bầu ra một Chủ tịch.

3. Nhiệm kỳ của thành viên Ủy ban là 6 năm.

4. Các thành viên Ủy ban không thể tham gia các đảng chính trị hoặc các hoạt động chính trị.

5. Các chiến dịch tranh cử được thực hiện dưới sự điều hành của Ủy ban Bầu cử mỗi cấp trong phạm vi luật định với nguyên tắc bảo đảm cơ hội bình đẳng cho các ứng cử viên.

6. Tổ chức, chức năng và các vấn đề quan trọng khác của Ủy ban Bầu cử Trung ương và Ủy ban Bầu cử các cấp sẽ do luật quy định.

Điều 76. Ủy ban Nhân quyền

1. Ủy ban Nhân quyền là một cơ quan độc lập, có vai trò thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế 1948 và trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy ban Nhân quyền do Hạ viện thành lập với sự đồng thuận của Thượng viện, gồm 9 thành viên, có sự tham gia của đại diện nhiều thành phần xã hội.

2. Ủy ban Nhân quyền có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng, công chức và viên chức về quyền con người;

b. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội về các vấn đề liên quan đến quyền con người;

c. Nghiên cứu, đề xuất việc gia nhập các điều ước quốc tế về quyền con người;

d. Nhận các khiếu nại về các vi phạm các quyền được quy định tại tại Hiến pháp này hoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

3. Thành viên Ủy ban Nhân quyền không giữ bất kỳ chức vụ nào khác, trừ chức vụ giảng viên đại học, cũng không thực hiện bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào khác. Các thành viên cũng không được tham gia đảng chính trị nào, không thực hiện các nhiệm vụ công không phù hợp với chức trách của mình.

4. Phương thức tổ chức và hoạt động của Ủy ban Nhân quyền sẽ được quy định bởi một đạo luật.

Điều 77. Hội đồng Hoà giải Dân tộc

1. Hội đồng Hoà giải Dân tộc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hận, hướng đến việc khắc phục các sai lầm trong quá khứ, nhằm mang lại công bằng, đoàn kết dân tộc, phát huy các năng lực của người Việt Nam trên toàn thế giới.

2. Hội đồng Hoà giải Dân tộc gồm 19 thành viên do Hạ viện bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng viện. Năm (5) thành viên đến từ mỗi khu vực miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam và bốn (4) thành viên thuộc cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

3. Hội đồng Hoà giải Dân tộc có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

a. Nghiên cứu, xác định lại giá trị pháp lý của các luật, điều ước quốc tế đã được các chính quyền Việt Nam trong quá khứ ban hành, ký kết trái thẩm quyền hoặc gây hại nghiêm trọng cho quốc dân. Đề xuất với Quốc hội các giải pháp khắc phục các sai lầm quá khứ.

b. Tập hợp thông tin, đề nghị trả tự do, tổ chức việc đối thoại, xin lỗi, bồi thường cho những người đã từng bị xử phạt, điều tra, truy tố, xét xử oan, chỉ vì lý do họ đã có những hành động nhằm thúc đẩy dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, nhằm bảo vệ các quyền con người, hoặc chỉ để thực thi các quyền tự do của mình.

c. Nghiên cứu, trình Quốc hội các chính sách, dự án luật có thể khắc phục những sai lầm khác của các chế độ trong quá khứ nhằm hoà giải và hòa hợp dân tộc.

4. Hội đồng Hoà giải Dân tộc sẽ được Hạ viện giải tán sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ.

CHƯƠNG VII. TỰ QUẢN ĐỊA PHƯƠNG

Điều 78. Chính quyền địa phương

1. Chính quyền địa phương thực hiện các công vụ địa phương, tức là các công vụ không được quy định trong Hiến pháp và trong các đạo luật về các cơ quan khác của Nhà nước. Các công vụ địa phương do nhân dân của địa phương đó tự đề ra. Chính quyền địa phương giải quyết các vấn đề hành chính liên quan đến an sinh của dân cư địa phương, quản lý tài sản và có thể đề ra các quy định liên quan đến tự chủ địa phương trong phạm vi luật định.

2. Chính quyền địa phương ở mỗi cấp có thể có một hội đồng và bộ máy hành chính nhà nước cấp địa phương.

3. Hội đồng địa phương do dân địa phương bầu và có quyền quy định về các công vụ địa phương.

4. Trong địa phương mình, bộ máy hành chính thực thi các công vụ được quy định trong Hiến pháp, luật và các công vụ địa phương. Người đứng đầu cơ quan hành chính địa phương do nhân dân địa phương đó trực tiếp bầu ra.

5. Xã là đơn vị cơ sở của chính quyền địa phương, nơi dân chủ trực tiếp được thực hiện ở mức cao nhất trong các cấp chính quyền.

6. Chính quyền đô thị được luật quy định.

7. Các loại chính quyền địa phương do luật định.

Điều 79. Tổ chức Chính quyền địa phương

Việc tổ chức và thẩm quyền của chính quyền địa phương, thủ tục bầu các thành viên hội đồng (nếu có) và người đứng đầu chính quyền địa phương và các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương sẽ do luật định theo nguyên tắc chính quyền cấp càng thấp thì việc áp dụng dân chủ trực tiếp càng cao.

CHƯƠNG VIII. SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 80. Thủ tục sửa đổi Hiến pháp

1. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể được trình bởi các chủ thể sau: ít nhất 1/5 số Hạ nghị sĩ theo luật định, Thượng nghị viện, hoặc Tổng thống.

2. Nếu Tổng thống trình dự luật sửa đổi Hiến pháp thì dự luật không được thay đổi các điều khoản liên quan đến Tổng thống trong Hiến pháp hiện hành

3. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được thực hiện bởi một đạo luật được Hạ viện thông qua và sau đó được Thượng viện thông qua với cùng nội dung trong thời hạn 60 ngày.

4. Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Hạ viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Hạ nghị sĩ theo luật định; Dự luật sửa đổi Hiến pháp được Thượng Nghị Viện thông qua nếu được ít nhất 2/3 số phiếu có mặt của ít nhất 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ theo luật định.

5. Trong vòng 60 ngày kể từ khi Dự luật sửa đổi Hiến pháp đã được Quốc hội thông qua phải tổ chức trưng cầu dân ý để nhân dân phúc quyết.

CHƯƠNG IX. ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN ĐỔI

Điều 81. Hiệu lực Hiến pháp và quy định chuyển đổi

1. Hiến pháp này có hiệu lực sau 100 ngày kể từ ngày được nhân dân phúc quyết thông qua.

2. Trong vòng 100 ngày sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Quốc hội hiện hành (đã thông qua Hiến pháp) phải căn cứ vào đó ban hành các luật mới về bầu cử Quốc hội và bầu cử Tổng thống. Các cuộc bầu cử Hạ viện, Thượng viện và Tổng thống đầu tiên được tổ chức theo quy định của các luật đó trong vòng 180 ngày từ khi luật có hiệu lực.

3. Chính phủ, trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, phải rà soát lại toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành, đệ trình để Quốc hội sửa đổi các quy định trái với Hiến pháp và ban hành các luật mới nhằm thực thi Hiến pháp.

4. Trong vòng 2 năm sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, pháp luật đang có hiệu lực vào thời điểm Hiến pháp được Quốc hội thông qua vẫn còn giá trị. Sau thời hạn 2 năm này, tất cả các quy định trái với Hiến pháp này đều trở nên vô hiệu, các quy định khác vẫn còn giá trị.

 .

Nguồn: Bauxite Việt Nam

Like this:

Be the first to like this.

Bài viết này được đăng vào 22/01/2013 lúc 00:18 và tập tin được lưu ở Dân chủ/Nhân Quyền, Pháp luật, Đảng/Nhà nước. Bạn có thể theo dõi các phản hồi của bài viết này thông qua RSS 2.0 dòng thông tin. Bạn có thể Để lại lời nhắn, hoặc trackback từ trang của bạn.

13 phản hồi to “1566. KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992”

  1. Cà muối đã nói

    22/01/2013 lúc 04:08 Là một thành viên của diễn đàn X-Cafe, với nickname Cà muối tôi đã mạo muội tự viết ra một bản Dự thảo Hiến pháp : http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=232444#post232444

    Về cơ bản tôi đồng ý với các nhận xét và bản Dự thảo của quý vị. Những điểm mà tôi thấy nên được quan tâm thêm:

    – công dân có mọi quyền không bị cấm trong Hiến pháp và luật pháp
    – công dân có mọi quyền tự do khi mà họ không trà đạp lên quyền tự do của công dân khác
    – nghiêm cấm các thành viên của các lực lượng vũ trang (quân đội, công an, dân phòng) tham gia các đảng phái hay tổ chức chính trị trong thời gian họ tại còn ngũ
    – nghiêm cấm các thành viên của các lực lượng vũ trang (quân đội, công an, dân phòng) ra tranh cử vào Quốc hội cũng như các Hội đồng nhân dân các cấp cũng trong thời gian họ tại còn ngũ
    – nghiêm cấm các thành viên của các lực lượng vũ trang (quân đội, công an, dân phòng) tham gia chính quyền kể cả chức Bộ trưởng Bộ quốc phòng cũng như Bộ trưởng Bộ công an trong thời gian họ tại còn ngũ
    – chính sách bình đẳng đối với thương binh liệt sĩ cũng như với gia đình của họ không phân biệt phía bên nào trong cuộc chiến 1954-1975
    – Quốc hội không có quyền đệ trình luật làm tăng ngân sách

  2. Hoàng Lan đã nói

    22/01/2013 lúc 03:56 Cái bệnh thành tích, thích danh hão, đến chết cũng không chừa, người kém không buông người giỏi cũng không tha. Tôi thử hỏi các vị như Nguyễn Quang A, Lê Đăng Doanh, Chu Hảo, Phạm Chi Lan … tên tuổi các vị còn chưa đủ vang rền, rạng rỡ ư, còn có ai quan tâm đến tình hình đất nước mà chưa biết danh các vị? Hơn nữa lại chính các vị đã tự tuyên bố giải thể (dù hành động giải thể có ý nghĩa khác của nó), thì còn vì lí do gì để đeo mãi vào sau tên mình cái danh nguyên thành viên viện này viện kia. Rồi như ông Lê Hiếu Đằng, đọc hết cái danh sách chức vụ ông đã kinh qua chắc người ta cũng hết hơi.

    Đành rằng các vị đều đáng quý đáng trọng, tôi chỉ là con tép con tôm song không vì thế mà tôi lại không có quyền góp ý vài nhời phỏng? Các vị thử tự nghĩ, rững cái nguyên này nguyên nọ giờ vác ra phỏng có nghĩa gì? Có làm cho tiếng nói các vị nặng thêm kí lô nào so với bản thân chất lượng của nó hay không? Đến như cụ Giáp, cụ nói mà người ta còn không buồn giả nhời, các vị cứ góp ý nữa, góp ý mãi cũng bằng nước đổ lá môn, phỏng ích gì? Hay chỉ để chứng tỏ cái oai hão rằng tự các vị không nhận làm trí ngủ trùm chăn, dám cất tiếng nói vì đất nước? Nhưng cất tiếng nói thì cứ cất, có nhất thiết phải khư khư ôm mãi những cái danh nguyên này nguyên nọ không? Những cái nguyên này nguyên nọ ý chỉ nói lên được mỗi một điều là chính các vị đã từng một thời ở trong hệ thống, tham gia vào hệ thống, mà không thay đổi được nó, thậm chí góp phần làm cho nó ngày một tệ đi như thực tế đã chứng minh (dù bản thân cá nhân mỗi vị không tệ, nhưng cái hệ thống mà các vị góp phần xây nên ý thì nay tệ mạt).

    Lời nói, góp ý của một người, tự thân nó có trọng lượng, dù là của đứa trẻ lên ba mà nói đúng cũng xứng để nghe. Còn như các vị cứ tiếc mãi mấy cái danh hiệu này kia, tôi thấy chẳng có cái danh nào lớn bằng chính cái tên của các vị. Chính vì thế tôi kính đề nghị các vị từ rày có còn góp ý, kiến nghị, tuyên bố, hay này kia gì gì, mong các vị thử vứt bỏ cho sạch mấy cái nguyên này nguyên nọ, chức này vị nọ, để độc cái tên các vị không, ai muốn nữa cho thêm cái nghề nghiệp cho nó trang trọng trong phép xưng hô cho phải lẽ. Nên chăng như thế, biết đâu lời nói của các vị lại chả có trọng lượng hơn? Như cô Kim Chi, từ bữa cô rũ bỏ sự liên quan liên đới với những cái xấu xa, tự xác lập thế đứng rõ ràng, độc lập cho mình, chỉ thấy thiên hạ nghe đến, biết đến, cảm phục, nể phục, và thậm chí chịu ảnh hưởng, nghe theo làm theo cô ấy nhiều hơn mà thôi.

    Hậu sinh mạn phép.

  3. kieuhung đã nói

    22/01/2013 lúc 03:41 Diễn văn nhận chức tổng thống Mỹ Ôbama có đoạn: “Đối với những người đeo bám lấy quyền lực thông qua những phương cách tham nhũng và lừa dối và sự bịt miệng những tiếng nói phản kháng, hãy biết rằng các vị đang đi ở bên lề trái của lịch sử; nhưng chúng tôi sẵn sàng đưa sang một bàn tay nếu như các vị sẵn lòng nới lỏng nắm đấm.”
    Những kẻ đó làm sao mà thay đổi được?

  4. Xuân Thọ đã nói

    22/01/2013 lúc 03:31 Các công dân Việt Nam yêu nuớc hãy ký vào kiến nghị này. Nhớ là gửi chữ ký về: kiennghisuadoihienphap2013@gmail.com. Chứ đừng gửi về Basam xong lại tưởng là mình gửi rồi.

  5. nắng hạ đã nói

    22/01/2013 lúc 02:52 Thành thật xin lỗi các bậc học rộng tài cao ,không trách oán chi cả ,nhưng cũng không hy vọng chi ,tôi cứ thấy một bầy trâu rừng mạnh bạo sắp hàng dâng lời lên con cọp đói ,nó có nghe gì đâu ,nó chỉ nhìn coi bắt con nào để cho buổi trưa ,trong hoàn cãnh đất nước hiện tại không ai nghe lời các bác đâu ,chỉ nói cho dân nghe thôi ,cũng hơn im lặng ,dân chúng không biết chi cả .trước tình thế nước nhà và thế giới .
    -nước nhà .những ông như bác Trọng ,bác Dũng TT ,đang chuẫn bị về quê ,bác SANG thì yếu quá ,có lẽ họ đưa bác ĐÀ NẴNG lên nắm quyền điều hành ,điều cần thiết là làm sao giúp họ đi vào chính nghĩa cho dân nhờ ,phải nhìn ra chiến tranh biển đông là không sao tránh được ,đầu tiên thử nghe lại sấm trạng TRÌNH .[LONG VĨ XÀ ĐẦU KHỞI CHIẾN TRANH ]từ thời tiểu học tôi đã học được rằng mây ngũ sắc hiện ra là hiện tượng cũa thời thái bình ,mây thành hiện ra là nơi đó có khởi nghĩa ,tôi đã đứng cã buổi nhìn mây thành dựng kín biển đông .tôi lại nhớ câu [ bắc kim thành tráng ,nam ngọc bích thành ,hay là [ ưng lai sư tử dựng ] những câu nói đó không có chi để cho chúng ta tin cả ,nhưng hiện tình thế giới hiện tại và biển đông hiện tại ,quã thật không sao tránh khỏi băn khoăn ,vì quyền lợi và vì sống còn loài người lại dành giựt quyền và lợi ,nước Mỹ là nước ngã về kinh tế quốc phòng ,nền kinh tế này không ai cẠNH TRANH NỔI VỚI HỌ ,trước mắt cả châu á phải trang bị vũ khí ,cái nguy hiễm là nước Tàu đã mạnh lên và họ cạnh tranh ,đũ sức cạnh tranh ,họ lại cũng cần chiến tranh ,cần mở mang mọi mặt nên rất dể chấp nhận chiến tranh ,nước Nhật không được lợi như thời chiến tranh VIỆT NAM ,chuyến này họ phải gánh vác ,chúng ta thấy Mỹ sẻ đến SINGARPORE ,ở đây có phải là ngọc bích thành .và Nhật có phải là kim thành tráng ,hai cái thành bắc và nam này thì biển đông là chiến trường là những kình ngư ngoài biển máu loang hồng ,đãng cộng sản không thể lãnh đạo được nữa rồi ,vì muốn không lệ thuộc vào Tàu thì phải đứng vào thế cũa khối ASEAN ,DÂN CHỦ ,không còn con đường nào ngoài con đường MIẾN ĐIỆN đang đi .việc cần lÀM LÀ PHẢI GIẢI THỂ ĐÃNG CỘNG SẢN ,sau đó mới có những bước tiếp theo hiệu quả hơn ,còn không thì con cọp đói nó không bao giờ tha mạng cho ai đâu ,bầy trâu biết thế thì đủôi được cọp .làm sao tập họp thành những lực lượng giúp cho người cầm quyền lãnh đạo vạch rỏ đường sinh cho dân tộc ,làm sao họ thấy được cửa tử cũa muôn dân và cũa chính họ ,những lực lượng chúng ta có ,nó hiện ra như những ngón tay ,điều cần phải có là cái đầu để điều khiển bàn tay .hảy dựa vào bản thân ,dựa vào dân ,không phải là đãng cộng sản ,làm sao để nước TÀU tan rả thành nhiều mãnh ,phải vỏ trang cho TÂY TẠNG ,KHÔNG TỰ THIÊU NỮA MÀ NẾU CẦN THÌ PHẢI XUNG PHONG CHIẾM LẠI QUÊ HƯƠNG ,phải dựng cho được một L ưỡng Quãng thành một QUỐC GIA những việc này người Mỹ có đang coi là mục đích phải làm ,hay là họ chịu thua ?ngũ một giấc thức giậy viết gì đâu không .xin các bác bỏ qua .

    • Loc Nguyen đã nói

      22/01/2013 lúc 03:47 Toi nhan ra la xa hoi VN dang phan hoa ,co the chung ta nen ung ho ong Nguyen Ba Thanh,ong ta co thanh tich chong Tau,lai co the lam moi nguoi tin tuong (de doan ket),vay trong tinh the cap bach :co gi sai nay ,cu nang do tinh than ong ,sau nay se lo den chuyen hien phap cung khong muon.

  6. 22/01/2013 lúc 02:01 […] 1566. KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 […]

  7. Binhminhmoi đã nói

    22/01/2013 lúc 01:56 Tuyệt vời! Đây mới là Hiến Pháp mà toàn Dân mong đợi.

  8. Nguyễn Tường Long đã nói

    22/01/2013 lúc 01:27 Tôi hoàn toàn tán đồng và vô cùng cảm phục đóng góp của quý vị trong nhóm soạn thảo Dự thảo Hiến Pháp 2013 đã đăng trên Bauxite Việt Nam. Xin trân trọng cám ơn Quý vị.

    Nguyễn Tường Long
    Seattle, Washington State – USA

  9. Nguyễn Hữu Quý đã nói

    22/01/2013 lúc 01:14 Trích: “Mỗi cá nhân tốt thì tổ chức sẽ tốt, mỗi tổ chức tốt thì Đảng ta sẽ mạnh, mà Đảng vững mạnh thì dân tộc ta sẽ mãi trường tồn”.

    Hu hu, đố các bác câu nói được trích nêu trên là của ai?

    Sau đây là bài viết có trích dẫn câu nói trên:
    http://boxitvn.blogspot.com/2013/01/thoi-la-yeu-to-rui-ro.html
    thực tình là lâu nay cứ thấy báo đăng bài nói chuyện của lãnh đạo là tôi không bao giờ đọc, nhưng hôm nay, trong một bài viết nói trên có nói đến đoạn “Đảng vững mạnh thì dân tộc ta sẽ mãi trường tồn”, đọc xong cứ tần ngần mãi.

    Ôi, não trạng lãnh đạo Việt Nam!

  10. MINH HẰNG đã nói

    22/01/2013 lúc 01:07 Nhân dân và Đất nuớc Việt nam chào đón quí vị
    Như chào đón ánh mặt trời ban mai chiếu vào đêm đen kinh dị,
    Như tim óc, linh hồn đã về với xác khô lạnh
    Từ nay dân tộc này không còn bất hạnh
    “Kính cẩn nghiêng mình
    Qúi vị , hàng ngũ anh minh
    Như nghiêng mình trước Anh hùng trí thức tiên phong “

  11. TIÊN LÃNG đã nói

    22/01/2013 lúc 00:58 Nhân dân và Đất nuớc Việt nam chào đón quí vị
    như chào đón ánh mặt trời ban mai chiếu vào màn đêm,
    như tim óc, linh hồn đã về với xác khô lạnh
    Từ nay dân tộc này không còn bất hạnh
    “Kính cẩn nghiêng mình qúi vị như nghiêng mình trước Anh hùng tiên phong ” .

  12. ĐĂNG QUANG đã nói

    22/01/2013 lúc 00:37 Kính cẩn nghiêng mình trước các trí thức tiên phong Anh hùng.

 
 

Obama sẽ công thủ thế nào trong nhiệm kỳ 2?

22 Th1

Obama sẽ công thủ thế nào trong nhiệm kỳ 2?

Có vô vàn báo cáo và tài liệu cố vấn khuyên Barack Obama hãy làm thế này thế nọ trong nhiệm kỳ 2 của ông song phần lớn số đó bị xếp xó bởi tính phi hiện thực. Trái lại, những ý kiến dưới đây rất khác biệt, bởi Tổng thống thứ 44 của Mỹ có thể thực hiện được trong khả năng của ông.

Ngừng sử dụng mìn và đạn chùm

Năm 2009, Tổng thống Obama giành giải Nobel Hòa bình bởi vì “ngoại giao của ông được dựa trên khái niệm những ai lãnh đạo thế giới phải lãnh đạo trên cơ sở những giá trị và quan điểm mà đa số nhân dân thế giới chia sẻ”.

Trong nhiệm kỳ 2, Obama phải tuân theo lời hứa đó – bằng cách thực hiện các bước đảm bảo rằng Mỹ không còn là người ngoài khi nhắc đến các thỏa thuận toàn cầu về hòa bình và giải trừ quân bị. Ông nên bắt đầu bằng cách chuyển Hiệp ước Cấm Mìn 1997 cho Thượng viện thông qua và bằng các hành động để giảm bớt kho mìn của chính nước Mỹ dù Thượng viện có nhất trí hay không.

Ngoài vấn đề mìn, Tổng thống có thể bắt đầu giúp thế giới thoát khỏi một mối nguy khác: đạn chùm. Những vũ khí lớn này được triển khai từ trên không xuống, và chúng bung ra thành hàng chục, thậm chí hàng trăm mảnh đạn nhỏ hơn, đặt dân thường vào nguy cơ tử vong cao hơn nhiều so với đạn truyền thống. Trẻ nhỏ được biết là đã nhầm chúng với đồ chơi. Obama có thể ra lệnh xem xét lại ngay lập tức chính sách đạn chùm.

(Jody Williams, Điều phối viên sáng lập Chiến dịch Quốc tế nhằm Cấm Mìn), được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1997)

Cứu Hy Lạp, Cứu Châu Âu

Trong một thời đại khác biệt về vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Âu, các nhà ngoại giao và đồng đôla Mỹ đã đỡ đầu cho một dự án chính trị táo bạo, một dự án nhắm tới kết thúc chiến tranh và mở ra sự phồn vinh. Kết quả của dự án này chủ yếu là về kinh tế, nhưng nền tảng của nó lại rất chính trị – một sự đồng thuận rộng khắp rằng các cuộc chiến châu Âu phải kết thúc và nỗi kinh hoàng của Thế chiến II không bao giờ tái diễn. Đây là một chủ nghĩa lý tưởng được hun đúc bởi logic Chiến tranh Lạnh, và là chiến thắng vĩ đại nhất của Ngoại giao Mỹ thế kỷ 20.

Ngày nay, kế hoạch châu Âu đó đang bị đe dọa, và thời điểm này đòi hỏi một sự trở lại Mỹ trong vai trò lãnh đạo. Chỉ châu Âu mới có thể tiên phong thoát khỏi cuộc khủng hoảng này, nhưng trong nhiệm kỳ 2 của mình, Tổng thống Obama cần phải góp sức giúp châu lục này.

Hy Lạp là một phần của châu Âu. Cuộc khủng hoảng kết thúc ở đây. Do vậy, Hy Lạp cần sự ủng hộ của nền kinh tế lớn nhất và vẫn là năng động nhất thế giới. Đây là nơi Obama bước vào. Tổng thống Mỹ có thể giúp giải quyết cuộc khủng hoảng châu Âu bằng một kiểu ngoại giao kinh tế khéo léo.

Thành công lớn nhất của Mỹ ở châu Âu chủ yếu là các dự án về hội nhập, từ ủng hộ thành lập Liên minh châu Âu tới thống nhất nước Đức. Tái khẳng định điều đó đòi hỏi Obama và các nhà ngoại giao của ông phải công khai tuyên bố sự tin tưởng của họ vào một châu Âu hội nhập hơn nữa. Trên tất cả, Obama phải nhắc nhở người Đức về cách thức Mỹ đã đứng bên cạnh Đức không chỉ suốt thời Chiến tranh Lạnh mà còn cả thập niên hỗn loạn sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin và sự sụp đổ của Liên Xô. Và ông phải thuyết phục Thủ tướng Angela Merkel hãy làm bất cứ điều gì có thể để làm cho châu Âu vận hành – và đảm bảo với bà rằng người Mỹ một lần nữa sẽ giúp đỡ.

(George Papandreou – Cựu Thủ tướng Hy Lạp)

Bắt Kony

Trước “Gangnam Style”, có một video Kony 2012 lan truyền rộng khắp, khiến cho thủ lĩnh LRA (Đội quân Kháng chiến của Chúa) Joseph Kony trở thành tên tội phạm chiến tranh quốc tế nổi tiếng nhất thế giới chỉ trong một đêm. Nhưng nhân vật này hiện vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật ở Trung Phi.

Thương vong tăng cao khi trẻ em tiếp tục bị những kẻ trung thành với Kony ép phải cầm súng, đi khuân vác và làm nô lệ tình dục. Sức mạnh của LRA có thể là một bộ phận nhỏ của những gì cách đây một thập niên, nhưng với các thông tin về sự ủng hộ ngày càng tăng từ chính phủ Sudan, một đồng minh lâu nay của họ, LRA vẫn là một mối đe dọa lớn đối với không chỉ dân thường mà còn với sự ổn định chung của 4 nước mà LRA thực hiện các cuộc tấn công.

Nếu Tổng thống Obama muốn giúp cho thế giới an toàn hơn và đánh bóng sự nghiệp của ông thì việc bắt giữ Kony là một khởi đầu tốt. Đây là một cuộc chiến có thể giành thắng lợi, và nếu Mỹ, các chính phủ trong khu vực cùng với các nước khác nỗ lực hết sức thì LRA có thể sẽ trở thành lịch sử vào cuối năm 2013.

(John Prendergast là tác giả của Unlikely Brothers, đồng sáng lập Enough Project và Satellite Sentinel Project)

“Cắt đuôi” những đồng minh khó chịu

Trong chiến dịch tranh cử, đối thủ Mitt Romney đã cáo buộc Tổng thống Obama “bỏ rơi các đồng minh như Israel”. Đó là một mô tả ngược đời về một chính sách vốn đã chứng kiến Obama thể hiện rất ít nỗ lực nhằm hạn chế sự mở rộng định cư và không có nỗ lực nghiêm túc nào ngăn nạn phân biệt đối xử nhằm vào người Palestine ở những khu vực do Israel kiểm soát tại Bờ Tây.

Tuy nhiên, có rất nhiều chính phủ đáng bị đuổi khỏi cửa khi nói về sự hỗ trợ vô điều kiện của Mỹ. Trong thế giới mới này, đứng về phía nhân quyền phản ánh không chỉ các giá trị Mỹ mà còn cả các lợi ích của nước này. Nó nên nằm ở trung tâm của chính sách Mỹ chứ không chỉ là một lựa chọn tiện lợi.

Nếu Obama muốn củng cố di sản của mình trong nhiệm kỳ 2, ông có thể và nên cứng rắn với một số bạn bè và đồng minh khó chịu nhất của nước Mỹ. Có thể bắt đầu với Afghanistan, Uzbekistan, Campuchia, Rwanda, Ethiopia, Ảrập Xêút, Bahrain, Mexico.

(Kenneth Roth – Giám đốc điều hành Tổ chức Giám sát Nhân quyền)

Bỏ tình trạng sẵn sàng của các vũ khí hạt nhân

Trong một cuộc khủng hoảng hạt nhân, kế hoạch chiến tranh bí mật của Mỹ yêu cầu Tổng thống chỉ trong 13 phút phải quyết định ông sẽ làm gì nếu có một cảnh báo nghiêm trọng về một cuộc tấn công tên lửa: 13 phút để quyết định vận mệnh của thế giới.

Obama có quyền thay đổi điều đó trong nhiệm kỳ 2, làm sống lại một cam kết tranh cử mà ông đã đưa ra hồi năm 2008. Sẽ không dễ dàng nhưng với một chút tư duy sáng tạo và ngoại giao khéo léo, Obama có thể giúp cho thế giới an toàn hơn rất nhiều bằng cách vứt bỏ tàn tích thời Chiến tranh Lạnh này.

Trong cuộc đối đầu kéo dài nhiều thập niên, cả Mỹ và Liên Xô đã đặt các tên lửa đạn đạo liên lục địa trên bộ của họ trong tình trạng sẵn sàng phóng ngay lập tức. Mỹ hẳn phải dọa sự trả đũa chắc chắn và quy mô lớn nhằm vào Liên Xô để ngăn chặn một cuộc tấn công. Giờ đây, lý do đó không còn nữa. Tuy nhiên, các tên lửa trên bộ của Mỹ vẫn sẵn sàng phóng đi chỉ 4 phút sau khi Tổng thống ra lệnh, và các tàu ngầm tấn công chỉ vài phút sau. Có thể Nga cũng vẫn đang trong tư thế báo động tương tự.

Tại sao? Lý do duy nhất là phía bên kia vẫn làm điều đó. Không gì hơn.

(David E. Hoffman là tác giả của cuốn The Dead Hand: The Untold Story of the Cold War Arms Race and Its Dangerous Legacy, giành giải Pulitzer năm 2010 cho thể loại phi tiểu thuyết)

Còn tiếp

Sam Nguyễn theo Foreign Policy

%d bloggers like this: