Lưu trữ | 10:35 Chiều

Những tên bình dị về Núi & Đèo (2) – Nguyễn Ngọc Chính

24 Th1

Những tên bình dị về Núi & Đèo (2)

(Tiếp theo)
 
Đi từ đồng bằng lên cao nguyên bằng đường bộ chúng ta sẽ phải qua những đoạn đường đèo xuyên các rặng núi. Việt Nam có khoảng hơn 30 đường đèo lớn nhỏ cũng như dài ngắn. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những cái tên bình dị nhưng cũng kỳ lạ của núi và đèo mà tôi đã từng nghe đến hoặc có dịp đi qua trong những chuyến cross-country xuyên Việt vào cuối thập niên 90.
 
Đến Nha Trang, đoàn sinh viên Mỹ khám phá một điểm du lịch sinh thái mới trên Hòn Hèo, chính thức đón khách du lịch từ cuối năm 1998. Hòn Hèo là núi đảo cao nhất Nha Trang (873 m) bên cạnh các Hòn Phủ Mái Nhà, Hòn Răng Cưa, Hòn Tiên Du… trong dãy Phước Hà Sơn, có 3 mặt giáp biển, một mặt giáp xã Ninh Phú.
 
Kho tàng ngôn ngữ Việt Nam quả là phong phú nhưng cũng không kém phần dí dỏm. Riêng chỉ ở Nha Trang cũng đã có những cái tên như Hòn Tre, Hòn Vợ, Hòn Chồng, Hòn Mun, Hòn Tằm, Hòn Đỏ… rồi thì ở Phan Thiết có Hòn Rơm; Phú Yên có Hòn Rùa; Rạch Giá có Hòn Sơn; Kiên Giang có Hòn Phụ Tử, Hòn Nghệ; Cà Mau có Hòn Khoai; Hải Phòng có Hòn Dâu; Thanh Hóa có Hòn Ne… và ở tít ngoài Biển Đông có Hòn Ngư, Hòn Tro…
 
Cách Nha Trang 37 km có Hòn Bà là một khu rừng nguyên sinh, độ cao 1.574m, có khí hậu của vùng ôn đới thuộc huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Tại đây, năm 1915, bác sĩ Yersin đã dựng nhà để ở và trồng cây canh-ki-na là cây được dùng làm nguyên liệu chế ra thuốc ký ninh trị bệnh sốt rét. Hòn Bà hiện là khu du lịch với nhà nghỉ, rừng hoa và hệ thống cáp treo.
 
Theo ‘chúa đảo’ Đinh Ngọc Thi, người phụ trách Hòn Hèo, cái tên ngộ nghĩnh của núi đảo này xuất phát từ loại dây mây được khai thác làm gậy (hèo), nột lọai ba-tong người già hay dùng để di chuyển. Cũng theo lời anh, ‘đảo danh’ Hòn Hèo đã đi vào văn chương dân gian. Anh dẫn chứng:
 
Bao giờ Hòn Đỏ mang tơi
Hòn Hèo đội mũ thì trời sắp mưa
 
Muối Hòn Khói, ruộng Đồng Hương
Hòn Hèo mây bạc, nước nguồn Cửa Bô
 
Rồi lại có cả bài hát:
 
Hòn Hèo đội mũ
Mây phủ Đá Bia
Cóc nhái kêu lia
Trời mưa như đổ.
 
Anh chê em nghèo khổ
Kiếm chỗ sang giàu
Rồi mai sau anh sụp
Như cái đầu cầu chợ Dinh.
 
Để thưởng thức cảnh đẹp của suối Hoa Lan trên Hòn Hèo, khách phải đi đường bộ qua đèo Rù Rì đến cầu cảng Đá Chồng, sau đó mất khoảng 40 phút đi tàu ra đảo rồi leo 374 bậc thang để lần lượt ghé 3 tầng thác nước ở độ cao 778 mét.
 
 
Sinh viên Mỹ tại Suối Hoa Lan trên Hòn Hèo
 
Đèo Rù Rì, lại một cái tên rất dân giã, là đường đèo cuối cùng tại miền Nam, nối liền Nha Trang với Ninh Hòa, nơi có món nem nổi tiếng. Người ta giải thích tại đoạn đường đèo dài 2 km này trước kia có nhiều cây “rù rì” nên có tên như vậy. Người khác lại cho rằng rù rì là tên một loài chim có tiếng kêu thảm thiết và sau mỗi lần kêu đều có tiếng “rù” thật dài trong cổ họng.
 
Tôi lại nghĩ khác, có phần tiếu lâm: đây là đoạn đường đèo ngắn nhưng rất nguy hiểm nên khi vượt đèo người ta chỉ nói chuyện “rù rì” chứ không còn giữ giọng điệu bình thường! Bằng chứng: xung quanh đèo Rù Rì có bãi tha ma, trên đỉnh đèo còn có tượng Đức Mẹ Maria giơ tay ban phước cho vùng đất có ngọn đèo nguy hiểm này.
 
 
Đèo Rù Rì
 
Có một bãi rác lớn trên đèo Rù Rì lẫn lộn với bãi tha ma. Chúng tôi đã gặp những con người không phải chỉ sống với rác một giờ, một ngày mà họ đã trải qua nhiều năm, nhiều tháng, thậm chí cả một đời phải sống chung với rác. Họ cho biết, mỗi ngày có từ 50 đến 60 xe ép rác, chuyển từ 300 đến 400 tấn rác về đây.
 
Những người sống bên rác gắn bó với cái cào có hai chấu, một chiếc bao trên vai, một ngọn đèn soi trên trán và một đôi ủng dưới chân. Ngày ngày, dù nắng mưa, dù gió rét, cứ khoảng 5 giờ chiều họ túa ra bãi rác và đợi những chiếc xe chở rác về. Họ lăn lộn với rác đến sáng để bươi móc, săn nhặt những chiếc bao nilông, những mảnh nhựa vỡ, chút dây kẽm, dây điện và hàng trăm thứ linh tinh không tên khác.
 
 
Bãi rác trên đèo Rù Rì
 
Ngoài Rù Rì, nếu đúng là ngọn đèo mang tên một loài chim có tiếng kêu rù rì, còn có một ngọn đèo lại mang tên một loài chim thuộc loại “vua của các loài chim”: Phượng Hoàng. Đèo Phượng Hoàng, còn gọi là Đèo M’Drak, có chiều dài 12 km, nằm trên quốc lộ 26, đoạn giáp ranh giữa tỉnh Khánh Hòa với Đắc Lắc. Thủ phủ của Đắc Lắc là thị trấn Ban Mê Thuột, nơi tôi đã có một thời gian sinh sống thời niên thiếu.
 
Tháng 3/1975 đã xảy ra một cuộc đụng độ lớn giữa quân đội hai miền Nam-Bắc trên đèo Phượng Hoàng. Lính nhảy dù của VNCH đã được thả xuống đây trong nỗ lực tái chiếm Ban Mê Thuột và đèo Phượng Hoàng cũng là đường rút lui đầy máu và nước mắt của quân và dân từ cao nguyên đổ xuống miền duyên hải Nha Trang trước khi Sài Gòn sụp đổ.
 
Có người nói ngọn đèo Phượng Hoàng chỉ là một cái tên đã được thi vị hóa. Thực tế chẳng thấy bóng chim phượng hoàng mà chỉ toàn loài quạ đen. Trên đỉnh đèo, quạ kêu inh ỏi cộng thêm với những chiếc am nhỏ để tưởng niệm những người đã mất khiến cho đèo Phượng Hoàng mang một bầu không khí ảm đạm, chết chóc khi nghĩ đến dòng người di tản đổ đèo năm 1975. 
 
 
Đèo Phượng Hoàng là ranh giới giứa Khánh Hòa & Đắc Lắc
 
Phong cảnh và những dấu tích lịch sử quan trọng khiến cho đèo Phượng Hoàng có một sức hút đặc biệt đối với du khách khi có dịp ngược đồng bằng lên với vùng cao nguyên đất đỏ. Đó là chưa kể những người đến đây vì những kỷ niệm một phần đời có liên quan đến xứ “bụi mù trời, buồn muôn thuở” Ban Mê Thuột và Nha Trang “miền quê hương cát trắng”.
 
Tôi biết đến Nha Trang vào những năm cuối cùng của thời trung học. Học xong Đệ Nhị tại trường Trung học Ban Mê Thuột tôi phải xuống Nha Trang để thi Tú tài 1 vì BMT hồi đó chưa có hội đồng thi. Xong Đệ Nhị, tôi lại vòng về Đà Lạt để tiếp tục học năm Đệ Nhất tại trường Trần Hưng Đạo. Có lẽ cuộc đời học sinh của tôi có sao “thiên di” chiếu mệnh vì phải phiêu bạt đến nhiều thành phố.
 
Bây giờ, dù đã đến Nha Trang nhiều lần, nhưng tôi vẫn giữ những ký ức của tuổi học trò thời mới lớn: Nha Trang là thành phố biển sinh động với nhịp sống hối hả hơn Ban Mê Thuột rất nhiều.
 
Tôi nhớ mãi một câu chuyện có phần tiếu lâm khi làm “sĩ tử” tại miền quê hương cát trắng. Tại Ga Nha Trang có nhiều gánh đậu hũ bán dạo, có cô mời khách bằng câu: “Đậu không cụ?”. Khi đó, trong lòng thắc mắc nhưng không dám hỏi tại sao cô lại mời như vậy. Mãi sau mới biết là cô… nói lái!
 
Tại Nha Trang ngày xưa có rất nhiều quân trường của Không quân, Hải quân và Biệt động quân nhưng tôi muốn nhắc đến Trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế với bức tượng người lính cầm súng đứng theo thế “thao diễn nghỉ” dựng trên vách núi. Xa xa là dãy núi Hòn Khô, trông mường tượng như một cô gái đang nằm… Thế nên mới có hai câu thơ bất hủ của một thi sĩ nào đó:
 
        “Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
        Em nằm xõa tóc đợi chờ ai”
 
Ngày nay, bức tượng người lính không còn nữa. Cứ tưởng anh lính đứng trên núi ngàn năm, ngờ đâu người lính biến mất khi miền Nam sụp đổ. Nghĩ cho cùng, cuộc đời này chẳng bao giờ có sự vĩnh viễn vì quy luật của tạo hóa là sự thay đổi, tiến hóa không ngừng.    
 
 
Đèo Phượng Hoàng
 
Từ Nha Trang muốn lên “phố núi” Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai phải vượt qua hai địa danh mang những tên rất quái dị: dốc Đầu Lâu và đèo Măng Giang (Mang Yang). Người địa phương giải thích, theo tiếng Gia Rai, “măng” có nghĩa là cổng còn “giang” là trời. Chắc người ta muốn nói đèo Măng Giang cao ngất như cổng trời.
 
Như vậy, ngoài “cổng trời” trên Tây Nguyên, nếu đi khắp Việt Nam ta còn có dịp qua những “cổng trời” ở Quản Bạ trên cao nguyên đá Đồng Văn, “cổng trời” nằm trên đèo Kéo Cao của ngọn núi Phia Đây, có độ cao gần 1.000 m so với mặt biển tại Cao Bằng…
 
Không thể không nhắc đến trại giam “Cổng Trời”, nơi giam giữ các trọng tội hình sự và các tù nhân tôn giáo trong đợt xóa sổ năm 1959 tại miền Bắc và sau đó mở tung cánh cửa một lần nữa vào năm 1976 để đón những tù nhân cải tạo từ miền Nam gửi ra [1].
 
Có người lại gọi Măng Giang là dốc “Mang Rơi” vì khi qua đây là chấp nhận để tất cả những gì mình có “rơi” lại phía sau lưng và đương đầu với mọi khó khăn trước mặt ở phía bên kia dốc. Đó là tâm trạng của những người, vì cuộc sống đòi hỏi, phải lặn lội lên miền đất “khỉ ho, cò gáy” để mưu sinh.
 
Trong các đèo ở Tây nguyên thì có lẽ Măng Giang là nơi có nhiều tai nạn nhất trên quốc lộ 19 nên có biển báo “Đèo Măng Giang – Cua gấp nguy hiểm, lái xe chú ý giảm tốc độ”. Đường đèo khá rộng nhưng ngay đỉnh đèo có dốc thẳng đứng, nhiều bác tài lạ đường cứ nhấn ga bon bon, không kịp đề phòng khi gặp khúc cua gấp.
 
 
Đèo Măng Giang
 
Sau khi vượt đèo Măng Giang xe chúng tôi đi qua rất nhiều vườn trồng cà phê, một thế mạnh của vùng cao nguyên. Rất may, khi đó đang vào thời điểm cà phê nở hoa trắng xóa trên nền lá xanh um. Xe dừng lại để sinh viên tỏa vào vườn, chiêm ngưỡng hoa cà phê bằng mắt và cả bằng mũi: hoa cà phê thơm, mùi hương dịu nhẹ, thoang thoảng. Có sinh viên còn nhận xét một cách dí dỏm: mùi hoa cà phê khác hẳn mùi cà phê khi uống! 
 
Nhân dịp lên Pleiku, đoàn sinh viên Mỹ ghé vào Dakto, một địa danh nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam. Những cái tên thời chiến như Dakto, Charlie, Snoul, Krek, Toumorong… đã đi vào thơ, nhạc như trong bài hát Người ở lại Charlie của Trần Thiện Thanh [2]:
 
Toumorong, Dakto, Krek, Snoul
Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu
Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.
 
Chiến trường Dakto vào Mùa hè đỏ lửa năm 1972 giờ chỉ còn trơ lại những ngọn đồi trọc xác xơ cây cối. Chuyến ghé Dakto được coi như một cuộc hành hương về chiến trường xưa đồng thời cũng là dịp tốt để sinh viên có thể “mắt thấy, tai nghe” sinh hoạt buôn làng của người Sedang bên dòng Dakto có cây cầu treo bắc ngang.
 
 
Cầu treo bằn dây mây bắc ngang sông Dakto
 
Trong khi người Sedang thoăn thoắt bước đi trên cầu, đám sinh viên dò dẫm từng bước trên mặt cầu rung rinh, chao đảo theo từng bước. Cầu được thiết kế hoàn toàn bằng dây mây, bề ngang chỉ có 3 tấm ván, nhiều chỗ chỉ còn 2, nhìn qua khe hổng trên mặt cầu dòng nước sông Dakto vẫn lững lờ chảy. Chắc chắn đó là một trong những kỷ niệm khó quên đối với  những người trẻ đến từ một thế giới khác…
 
 
Sinh viên trên chiếc cầu treo
 
Tỉnh láng giềng Kon Tum có một đường đèo cũng mang tên Măng nhưng lại là Măng Đen nằm trong địa phận huyện Kon Plong. Với độ cao 1.100 mét, rừng nguyên sinh, rừng thông đỏ cùng hàng chục hồ và thác nước, Măng Đen hiện đang được quy hoạch thành khu du lịch quốc gia, được mệnh danh là Đà Lạt thứ hai hay Đà Lạt của Kon Tum.
 
 
Đèo Măng Đen
 
Nằm giữa tỉnh Gia Lai và Bình định là Đèo An Khê, dài khoảng 20 km. An Khê dài, quanh co nhưng không dốc bằng đèo Măng Giang. Qua đỉnh đèo, huớng xuống Quy Nhơn, có ngay một khúc cua tay áo rất nguy hiểm.
 
Trên đèo An Khê đã diễn ra một trận đánh lịch sử vào tháng 6/1954. Quân đội Pháp vì lo ngại nguy cơ bị bao vây như ở Điện Biên Phủ nên quyết định nhanh chóng bỏ căn cứ An Khê để rút về Pleiku cách đó 80 km. Binh đoàn cơ động 100 được lệnh hành quân bằng cơ giới theo Quốc lộ 19 và đã bị đánh chặn. Tổn thất của người Pháp lên đến 500 và khoảng 600 người bị thương.   
 
Đèo Măng Giang và đèo An Khê là hai con đèo lớn nhất trên Quốc Lộ 19 từ ngã ba Bà Di lên cửa khẩu Lệ Thanh, huyện Đức Cơ, Gia Lai. Măng Giang có độ dài thua xa đèo An Khê, phong cảnh cũng không thể sánh bằng An Khê. Từ trên đỉnh đèo An Khê bạn có thể phóng tầm mắt bao quát một phần tỉnh Bình Định với các huyện Tây Sơn, An Lão, Tuy An…
 
 
Đường vào thị xã An Khê
 
Như đã nói, vừa ra khỏi thành phố Nha Trang là gặp ngay đèo Rù Rì, sau đó đến đèo Rọ Tượng, còn có tên là Ruột Tượng, ranh giới giữa huyện Ninh Hòa và Vĩnh Xương thuộc tỉnh Khánh Hòa. Ít người biết trong lòng đất bên dưới đèo Rọ Tượng là đường hầm dành cho xe lửa trên tuyến đường sắt Bắc-Nam.
 
Nguyễn Đình Tư trong Non nước Khánh Hòa giải thích về cái tên Rọ Tượng: ngày xưa vùng này có nhiều voi, còn được gọi là tượng. Người dân thường làm những chiếc rọ đặt trên đèo để bắt voi… (?). Lại có một lối giải thích khác cho rằng vì có khúc rộng ở giữa nhưng thắt lại ở hai đầu nên đường đèo này được gọi là “ruột tượng” (?).
 
Đèo Rọ Tượng băng qua núi Đá Vách thuộc huyện Ninh Hòa. Từ Nha Trang, khi qua khỏi đèo sẽ gặp sườn núi vòng sâu vào bên trong thành một hình móng ngựa gồm Hòn Son (660m), Hòn Khô (329m) Hòn Chùa (682m). Hiện vẫn còn dấu tích thành Thạch Lũy của người Chiêm Thành. Dưới chân thành có một hồ nước trong veo sâu thăm thẳm, xung quanh hồ, đá được xếp thành bờ rất đẹp.
 
 
Đèo Rọ Tượng
 
Tiếp nối đèo Rọ Tượng là đèo Bánh Ít cũng thuộc huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Đèo Bánh Ít và núi Ổ Gà (cao gần 400 m) là hai địa danh quen thuộc của người dân Ninh Hòa. Núi Ổ Gà địa thế hiểm trở nên từ năm 1945 trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp trở thành một mật khu của Việt Minh. Người dân tỉnh Khánh Hòa thường nhắc đến 4 địa danh nổi tiếng: “Mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa, cọp Ổ Gà, ma Hòn Lớn”.
 
Phía bên phải đèo Bánh Ít là một đồi tròn cao non 200 m trông giống như cái bánh ít lột trần nên có lẽ vì vậy đèo mang luôn cái tên Bánh Ít. Có người lại kể theo tương truyền thời xa xưa một bà già hằng ngày ngồi trong túp lều tranh ngay trên đỉnh đèo bán bánh ít. Bánh ít của bà ngon có tiếng khiến khách qua đường thường ghé ăn bánh ít và xin nước uống.
 
 
Đèo Bánh Ít
 
Trên đọan đường từ Ninh Hòa đi Tuy Hòa dài 91km còn có đèo Cổ Mã dẫn ra biển Đại Lãnh. Đèo Cổ Mã nằm gần núi Đại Lãnh trên Quốc lộ 1A, thuộc địa bàn xã Đại Lãn, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà. Tại đây có hầm xe lửa dài 402m, từ km 1284+262 ở phía nam ga Ninh Hoà và vào thời Nguyễn đã có trạm bưu điện dưới chân đèo.
 
Tên đèo nằm giữa cao nguyên và duyên hải tại vùng này quả thật là “khác người”. Về tên  gọi Cổ Mã, sách Non nước Khánh Hoà giải thích vì hình núi ở đây giống như cổ con ngựa. Chắc có lẽ phải nhìn từ trên cao hoặc đi từ ngoài biển vào trông mới thấy cổ ngựa.
 
Dưới chân đèo Cổ Mã còn có một bãi tắm tuy nhỏ, vắng người nhưng thật lý tưởng cho những ai thích hòa mình vào thiên nhiên. Nhiều người cho rằng bãi biển Đại Lãnh gần đó, dù đã được Tổ chức Du lịch thế giới đánh giá là “tầm cỡ thế giới”, nhưng quả thật không bằng tắm ở Cổ Mã hoang sơ, vắng lặng và gần gũi với thiên nhiên hơn.
 
<!–[endif]–>
Đèo Cổ Mã
 
(Còn tiếp)
 
***
 
Chú thích:
 
[1] Đọc Trại giam Cổng trời, Mặc Lâm, Đài Á châu Tự do (RFA):
 
 
[2] Video clip Người ở lại Charlie do Thanh Lan & Duy Quang trình bày:
 
 
***
 
(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 8: Thời mở của)
 
Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:
 
  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 
Tác giả đang viết tiếp Chương cuối cùng mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!    

“NHỨC ĐẦU” VÌ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012: VÌ ĐÂU NÊN NỖI? – VC+

24 Th1

“NHỨC ĐẦU” VÌ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?

Mình được biết ở năm làm việc đầu tiên của BCH mới, Hội đồng Giám khảo chung khảo có 12/15 vị ủy viên, 3 vị có tác phẩm được xét thì không được tham dự. Đến năm nay thì quy chế lại thay đổi: chỉ có 9/15 người của BCH có mặt để chung khảo. Sự thay đổi hàng năm như thế cho thấy sự lúng túng của BCH khi phải “đối phó” với dư luận!
Trở lại với ban chung khảo năm nay, khi điểm về thành phần chuyên môn thì thấy có 3,5 nhà thơ (Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Văn Công Hùng, Lê Quang Trang), 4 nhà văn (Nguyễn Trí Huân, Đình Kính, Vũ Hồng, Đào Thắng), 1,5 nhà lý luận phê bình (Phan Trọng Thưởng. Lê Quang Trang). Mình không dám cho rằng các anh này (không có chị nào cả) không có trình độ thẩm định văn chương, nhưng dù thế nào thì anh viết văn xuôi cũng có cách nghĩ khác anh làm thơ và ngược lại! Sao bắt họ phải có ý kiến “trái ngành nghề”, một hình thức làm khổ họ? (Thì đó, cả thông báo trên web Hội Nhà văn và web của nhà thơ Văn Công Hùng trong Ban chung khảo đều đã ghi tên tiểu thuyết của Phạm Ngọc Cảnh Nam, từ “Thế kỷ bị mất” thành ra “Một thế kỷ bị mất” khiến PNCN phải phàn nàn).

 
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và nhà văn Khôi Vũ
1. Mấy hôm nay mình theo dõi rất sát những gì diễn ra sau khi Hội Nhà văn VN công bố giải thưởng thường niên năm 2012. Trước đó vài tháng, dư luận đã lên tiếng về việc nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ sẽ được nhận giải thưởng với tập truyện “Thành phố đi vắng”, như một “thông lệ” ưu tiên trao giải cho các nhà văn trong Ban Chấp Hành. Dư luận không phải bao giờ cũng đúng. Nhưng lần này thì… không sai! Bất kể cuốn sách của NTTH có xứng đáng hay không thì sự việc “lần lượt trao giải cho UV BCH” cũng đúng về hiện tượng. Mà dư luận chỉ cần đến “hiện tượng” thôi, chẳng cần đi sâu vào “bản chất”!
Mình có ý nghĩ khác. Thường thì những người nổi trội trong một tập thể mới được các thành viên của tập thể đó bầu vào các “Ban chấp hành”, vì thế việc họ được nhận giải thưởng này kia vẫn chấp nhận được với điều kiện là tác phẩm (hay sản phẩm) của họ xứng đáng! Không nên vội phê phán khi người có chân trong một BCH nào đó được nhận giải thưởng nếu không chứng minh được chất lượng kém của sản phẩm (tác phẩm) được giải!
Nhưng… về phía những người trong cuộc, mình nghĩ rằng không thể cứ bất chấp dư luận. Là người trong cuộc, dẫu có không tham dự bỏ phiếu cho mình thì kết quả bầu phiếu cũng không thật chính xác đâu! Là con người ắt có tình cảm riêng tư, là đồng nghiệp cùng ngồi quanh bàn làm việc ắt có “ưu tiên”… Ai bảo là trong những lá phiếu thuận không có những trường hợp do “nể nang”, do “tình cảm”? Nếu là mình, mình sẽ cảm ơn và xin rút lui ngay từ đầu cho… đẹp! Thực ra điều này cũng hơi bị… khó đối với các “ứng viên”! Vậy thì mình đề nghị cách này: Các tổ chức (như Hội Nhà văn) ra quy định về việc xét các giải thưởng, trong đó nêu rõ: “Các ủy viên Ban Chấp hành không tham dự bất kỳ cuộc xét giải thưởng nào trong suốt nhiệm kỳ. Những tác phẩm có chất lượng nổi trội của họ sẽ có các hình thức khen thưởng khác”.
2. Hai nhà văn được trao “Bằng khen” là Y Ban và Phạm Ngọc Cảnh Nam đã gửi thư từ chối “vinh dự” mà HNV đã dành cho mình. Lý do mà hai nhà văn này đưa ra tuy có khác nhau nhưng vẫn có một điểm chung: Hội đồng văn xuôi đánh giá cao tác phẩm của họ nhưng Hội đồng giám khảo chung khảo lại đánh giá khác!
Mình được biết ở năm làm việc đầu tiên của BCH mới, Hội đồng Giám khảo chung khảo có 12/15 vị ủy viên, 3 vị có tác phẩm được xét thì không được tham dự. Đến năm nay thì quy chế lại thay đổi: chỉ có 9/15 người của BCH có mặt để chung khảo. Sự thay đổi hàng năm như thế cho thấy sự lúng túng của BCH khi phải “đối phó” với dư luận!
Trở lại với ban chung khảo năm nay, khi điểm về thành phần chuyên môn thì thấy có 3,5 nhà thơ (Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Văn Công Hùng, Lê Quang Trang), 4 nhà văn (Nguyễn Trí Huân, Đình Kính, Vũ Hồng, Đào Thắng), 1,5 nhà lý luận phê bình (Phan Trọng Thưởng. Lê Quang Trang). Mình không dám cho rằng các anh này (không có chị nào cả) không có trình độ thẩm định văn chương, nhưng dù thế nào thì anh viết văn xuôi cũng có cách nghĩ khác anh làm thơ và ngược lại! Sao bắt họ phải có ý kiến “trái ngành nghề”, một hình thức làm khổ họ? (Thì đó, cả thông báo trên web Hội Nhà văn và web của nhà thơ Văn Công Hùng trong Ban chung khảo đều đã ghi tên tiểu thuyết của Phạm Ngọc Cảnh Nam, từ “Thế kỷ bị mất” thành ra “Một thế kỷ bị mất” khiến PNCN phải phàn nàn). Mình tin rằng không phải ai trong ban chung khảo cũng “hào hứng” với thực tế mình là nhà thơ phải đọc tiểu thuyết để bỏ phiếu, hoặc mình là nhà văn phải đọc thơ để bỏ phiếu…
Các Hội đồng chuyên môn thì sao? Mỗi Hội đồng đều gồm những người (9 người) được BCH chọn vào và được xem là có uy tín về chuyên môn. Họ đọc, đánh giá các tác phẩm theo “con mắt chuyên môn” rồi chuyển kết quả lên Ban chung khảo. Theo kết quả năm nay thì “ông nói xuôi, bà nói ngược”. Dư luận ì xèo, mà các vị trong Hội đồng chắc cũng chẳng vui gì! Mình e rằng có nhiều vị còn nghĩ: “Mình không được tôn trọng” (Như trường hợp nhà văn Y Ban trong Hội đồng văn xuôi đã lên tiếng và tuyên bố từ chức ủy viên Hội đồng văn xuôi).
Để tránh “làm khổ” các ủy viên ban chấp hành hoặc các thành viên Ban chung khảo “trái ngành nghề”, mình nghĩ chỉ cần trao lại quyền quyết định cho các Hội đồng chuyên môn – về phần đánh giá tác phẩm; còn  phía Ban chấp hành (không cần lập ra ban chung khảo) chỉ chuẩn y kết quả từ các Hội đồng, sau khi xét thêm về phần tác giả, có “vấn đề” gì về pháp luật và đạo đức hay không?
3. Trình bày quan điểm về vụ việc giải thưởng năm nay, nhà văn Đình Kính – người phát ngôn của Hội Nhà văn – trả lời báo chí: “Quyền rút khỏi giải thưởng là quyền của mỗi người. Việc trao giải thưởng là quyền của Hội và Ban chấp hành. Việc từ chối nhận giải thưởng không có gì đáng ngạc nhiên, đó là hiện tượng bình thường, bởi đến giải Nobel còn có người từ chối”.
Mình chưa thật đồng quan điểm với anh ở ý cuối cùng. Việc xét giải Nobel văn học bao năm nay đều theo một quy chế, trong đó giao quyền cho những người có uy tín chứ đâu có thay đổi xoành xoạch (cả về nhân sự và về phương pháp) như ở ta!
4. Giả sử hai ý kiến của mình được thực hiện, thì tất nhiên rồi cũng sẽ có thể có dư luận sau mỗi lần công bố kết quả về tác phẩm này, tác phẩm nọ. Nhưng đó sẽ là tranh luận về học thuật, về chuyên môn (với các Hội đồng chuyên môn) chứ không còn là về “phương pháp” xét giải của Ban chấp hành nữa. Khi ấy, việc so sánh “đến giải Nobel còn có người từ chối” mới thực sự thuyết phục.
5. Vài người bạn nói với mình, mùa giải thưởng nào cũng có chuyện lùm xùm, chuyện thường ngày ở Hội, ông quan tâm làm gì cho mệt óc. Mình cũng muốn thế lắm, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thấy mình vẫn còn là hội viên của Hội Nhà văn, thì làm sao không băn khoăn suy nghĩ đến “nhức đầu”! Lờ đi như người ngoài cuộc thì e chẳng khác nào mình đã ra khỏi Hội?
 
NHÀ VĂN KHÔI VŨ
(Blog KV)
 

Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại – PBVH

24 Th1
 

Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại

Lê Nguyên Cẩn

 

Trong khoảng một hai thập niên trở lại đây, thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại (tiếng Pháp: le postmodernisme, tiếng Anh: postmodernism) xuất hiện trên trường nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam. Có thể coi bài Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach, giáo sư văn học người Tây Ban Nha do dịch giả Nguyễn Trung Đức dịch, đăng trên tạp chí Văn học số 5/1991, là văn bản đầu tiên đưa khái niệm hậu hiện đại – chủ nghĩa hậu hiện đại vào nước ta. Khái niệm này được giới thiệu một cách hệ thống trong cuốn Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ XX của các tác giả I.P. Ilin và E.A.Tzurganova (do nhóm dịch giả Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2003), và gần đây còn có bản dịch Hoàn cảnh hậu hiện đại của tác giả J.P. Lyotard (Ngân Xuyên dịch, NXB Tri thức, Hà Nội, 2008), như là những tư liệu quan trọng để hiểu thêm về lĩnh vực này. Ngoài ra, cho đến nay cũng đã có thêm một vài đầu sách về vấn đề này, vừa của các nhà nghiên cứu ngoài nước vừa của các nhà nghiên cứu trong nước, góp phần vào việc nghiên cứu tìm hiểu một lĩnh vực mới mẻ, đầy mâu thuẫn nhưng cũng khá cuốn hút. Tuy nhiên, nội hàm của thuật ngữ vẫn đang là một vấn đề, cần nhiều minh giải. Bởi vì “mọi người đều thừa nhận rằng khái niệm Hậu hiện đại là hết sức mù mờ, thậm chí không chính xác xét về mặt ngữ nghĩa. Nhưng cái mà khái niệm này có ý nghĩa đã là một hiện tượng được cả thế giới thừa nhận. Đó là cuộc khủng hoảng sâu sắc trong lòng xã hội hậu công nghiệp phương Tây, cuộc khủng hoảng của những nguyên lí lớn từng khuấy động và điều hành sự ổn định của nền văn hóa, của tất cả những gì được gọi là Hiện đại1.

Trước hết, khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại – le postmodernisme – bao hàm trong nó tính thời gian, qua tiền tố post–hậu, nói cách khác, có thể diễn đạt quá trình phát triển của văn học phương Tây nói riêng, của văn hóa phương Tây nói chung trong khoảng hai thế kỉ trở lại đây thành tiến trình thời gian: tiền hiện đại – hiện đại – hậu hiện đại. Từ đây, khái niệm này có cơ sở để tồn tại, trước hết, không phải nó được ngẫu nhiên sinh ra mà, chủ nghĩa hậu hiện đại là một giai đoạn tiếp nối thời kì hiện đại trong đời sống tinh thần châu Âu, cũng như cách mà thời kì hiện đại kế thừa các thành quả trước đó. Vì thế, để có màu sắc riêng, chủ nghĩa hậu hiện đại, một mặt, kế thừa các truyền thống hiện đại; mặt khác, cũng sẽ đề xuất những tiền đề mới để tạo nên tính riêng của nó. Việc kế thừa có thể là kế thừa hoàn toàn có thể là kế thừa từng phần, có thể là kế thừa kiểu mô phỏng nguyên xi, có thể là kế thừa như một hình thức phê phán loại bỏ. Chủ nghĩa hậu hiện đại kế thừa chủ nghĩa hiện đại, kế thừa thời kì được minh định trong tư tưởng châu Âu bắt đầu từ chủ nghĩa Khai sáng, bắt đầu từ thời kì châu Âu bước sang giai đoạn công nghiệp, theo cách thức cuối cùng, vì thế nó trở nên ồn ào, trở nên khiêu khích bởi chính tính chất của kiểu kế thừa loại bỏ này. Tất nhiên, nếu hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ là một lát cắt thời gian thì quá ư đơn giản và cũng chẳng có gì để nói, bởi vì dù muốn hay không muốn thì thời kì hậu hiện đại cũng là thời kì tiếp nối không đảo ngược được với thời kì hiện đại nhưng đây là lát cắt đặc biệt, lát cắt tạo ra sự đứt gãy của tiến trình lịch sử tư tưởng phương Tây, gắn liền với “cuộc khủng hoảng của những nguyên lí lớn từng khuấy động và điều hành sự ổn định của nền văn hóa, của tất cả những gì được gọi là Hiện đại” như Antonio Blach đã nói ở trên; dẫn tới các quan điểm và đánh giá rất khác biệt: “Irving Howe2 và Harry Levin3 khám phá ra trong chủ nghĩa hậu hiện đại hiện tượng xuống cấp của văn hóa. Trái lại, đối với Susan Sontag4, Leslie Fiedler5 hay Ihab Hassan6 chủ nghĩa hậu hiện đại đánh dấu một quá trình phát triển; Susan Sontag hân hoan chào đón sự ra đời của “cảm giác mới”, khúc xạ từ “nhu cầu lí tính đối với nội dung, ý nghĩa và trật tự cấu trúc”7. Đến lượt mình, Leslie Fiedler miêu tả hiện tượng hậu hiện đại như là hiện tượng “hậu – văn hóa”; công lao chủ yếu của ông là tái hiện sự từ bỏ các giá trị truyền thống (chủ nghĩa Tin Lành, chủ nghĩa Victoria, chủ nghĩa lí tính và chủ nghĩa nhân đạo), đồng thời chối bỏ sự khác biệt giữa “nghệ thuật cao quý” và “văn hóa đại chúng”. Còn Ihab Hassan lại chỉ ra “ba phương thức đổi mới nghệ thuật”, đặc thù của một trăm năm trở lại đây, đó là “chủ nghĩa tiền phong, chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại”. Ihab Hassan nhận ra, trong chủ nghĩa hậu hiện đại, những đường hướng phát triển chung, dựa trên ba sự phối hợp: “chống chủ nghĩa hình thức, tinh thần vô chính phủ và giải sáng tạo”8. Dấu hiệu của “cuộc tranh luận lớn xung quanh vấn đề về chủ nghĩa hậu hiện đại đã được đưa ra như vậy”9.

 

Một điều quan trọng nữa là lát cắt này sẽ xác lập các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trước hết là khái niệm đại tự sự: “Nói một cách thật đơn giản “hậu hiện đại” là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự”10. Vậy đại tự sự là gì? Thuật ngữ đại tự sự (grands récits) mà J.F. Lyotard đưa ra, nhìn chung được các nhà nghiên cứu phương Tây quy về ba phương diện: đó là đại tự sự về huyền thoại duy lí tính, về nhận thức luận và về sự giải phóng con người; cả ba đã chi phối và tác động mạnh mẽ đến hoạt động sáng tạo của phương Tây trong hai thế kỉ qua; hay dưới một góc độ khác là đại tự sự về khả năng vô hạn của phép biện chứng tinh thần (liên quan đến huyền thoại Hégel), huyền thoại về Giải thích học (hay Thông diễn học) về nghĩa và sự giải phóng chủ thể lí tính và chủ thể lao động.

Chủ nghĩa hậu hiện đại sẽ đặt ra sự nghi vấn một cách triệt để về ba huyền thoại – ba đại tự sự này. Tuy nhiên, vấn đề nghi ngờ về tính tuyệt đối của ba huyền thoại đã có mầm mống, và hơn cả mầm mống, đã trở thành thành những phản ứng khá mạnh mẽ ở phương Tây trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nó. Chẳng hạn, sự hoài nghi về huyền thoại sức mạnh duy lí tính đã dẫn tới sự nghi ngờ mà đỉnh cao là “thượng đế đã chết” của Nietzsche. Cũng như vậy với huyền thoại về khả năng giải phóng con người: “Theo nhiều quan điểm, chủ nghĩa hậu hiện đại là sự giải thể chủ nghĩa nhân đạo truyền thống; chủ nghĩa nhân đạo truyền thống này phải chịu thao tác giải cấu trúc các thực thể giá trị của nó: trước hết, là sự tôn thờ lí tính (như lí tính đã từng lên ngôi ở thời đại ánh sáng), và lí thuyết về cogito siêu nghiệm (được Descartes vinh danh trong thế kỉ cổ điển và được lấy lại sau đó bởi Kant, và muộn hơn, với Husserl)…”11. Hai đại tự sự được J.F. Lyotard đưa ra trong Báo cáo (1979) là tự sự “giải tỏa (l’émanicipation)”, và tự sự “toàn thư (encyclopédique)”, dẫn tới khái niệm “giải hợp thức hóa (la délégitimation)” nhận thức, xuất phát từ “sự xói mòn”niềm tin vào các đại tự sự. J.F. Lyotard nhận thấy “các hạt mầm (les germes)” giải hợp thức hóa nằm ngay trong “các đại tự sự của thế kỉ XIX”, trong những hạt mầm “cố hữu (l’inhérent)”12 của các đại tự sự này. Liên quan đến đại tự sự “toàn thư” là quan niệm tháo rời (le démembrement), nghĩa là chức năng của đại tự sự này hợp nhất các bộ phận nghiên cứu khác nhau thành một “mạng toàn thư” rộng lớn và phức hợp, khi tự giải tỏa sẽ đạt được một chuẩn mực độc lập nhất định trong kỉ nguyên hậu hiện đại. Sự tan rã của các đại tự sự hợp thức hóa của nhận thức, sự kết thúc của ưu thế về một “siêu ngôn ngữ phổ quát” này trong chủ nghĩa hậu hiện đại, dẫn tới áp đặt trực tiếp tính đa trị (la pluralité) vô hạn của ngôn từ. Chủ nghĩa hậu hiện đại là sự tiếp nối điển hình xu hướng tính phân mảnh (le fragmentisme), đối lập với khuynh hướng tổng thể gắn liền với thời kì hiện đại… Như vậy, có thể dễ dàng nhận ra hình thức đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại, đó là “giải” ở các cấp độ và phương diện khác nhau.

Với đại tự sự sẽ có giải đại tự sự, nghĩa là tạo ra các tiểu tự sự, bởi vì theo J.F. Lyotard thì “ngày nay “chúng ta là nhân chứng chứng kiến sự đập vụn, xé lẻ “những lịch sử lớn” và sự xuất hiện vô vàn những “câu chuyện lịch sử manh mún”, đơn giản, cục bộ; ý nghĩa của những thiên trần thuật có bản chất “cực kì nghịch lí” ấy không phải là hợp thức hóa tri thức, mà là “kịch tính hóa sự hiểu biết của chúng ta về khủng hoảng”13. Đối với quyết định luận khoa học, học thuyết triết luận–lịch sử quan trọng tạo nên thành công của nhiều tác phẩm lớn ở thế kỉ XIX cũng lâm vào hoàn cảnh giải quyết định luận tương tự. Nếu quyết định luận gắn liền với duy lí tính Descartes, với triết học duy vật thế kỉ XVIII và với phép biện chứng của Hégel, với thực chứng luận của Auguste Comte thì sang thế kỉ XX, khi xuất hiện lí thuyết tương đối của A. Einstein, khi con người biết được một thực tế hiển nhiên những hết sức phũ phàng là tia sáng mà con người nhìn thấy trên mặt đất đã ra đời trước đó tám phút, thì quyết định luận rơi vào giải quyết định luận, duy lí tính rơi vào giải duy lí tính. Nhận thức luận mang tính thỏa ước vốn là điều kiện tạo dựng niềm tin vào tri thức, trở thành: “Quan điểm thỏa thuận đã trở thành một giá trị cũ kĩ đáng ngờ”14… Sự đối lập giữa chủ nghĩa hậu hiện đại với thời kì trước đó, như vậy, diễn ra đặc biệt sôi nổi từ những năm năm mươi của thế kỉ XX, đạt tới đỉnh cao với giải cấu trúc và lan tỏa rộng vào thập niên tám mươi của thế kỉ trước.

Có thể chia thành hai nhóm trên những đường hướng lớn liên quan đến vấn đề “giải” mà chủ nghĩa hậu hiện đại tiếp cận và đề xuất. Nhóm thứ nhất với các khái niệm then chốt: giải trung tâm hóa (hay phi trung tâm hóa – la décentralisation), giải cấu trúc (hay giải kết cấu – la déconstruction), phân rã (hay phát tán – la dispersion), phân mảnh (hay mảnh vỡ – le fragmentisme, còn gọi là giải tụ giải khối – la dé-massification), tính đa trị (le pluralisme)… với những đại diện nổi tiếng như Ihab Hassan, J.F. Lyotard, J. Baudrillard… Nhóm thứ hai, với các khái niệm cơ bản: đa trung tâm (le pluricentrisme); chiết trung (l’électicisme), khoan dung (la tolérence), sống chung (la cohabitation)… với các đại diện như John Barth, U. Eco, G. Vattimo, G. Durand… Có thể coi nhóm thứ hai là giải thích học mới (hay thông diễn học mới – le néo–hermétisme). Cơ sở xuất phát của các khái niệm này trước hết đều dựa trên nguyên tắc phản–mô phỏng, tức là chống lại quan niệm nghệ thuật là sự mô phỏng–bắt chước của Aristote; bởi lẽ sự việc sự kiện ở thế kỉ XX và cho đến nay diễn ra hết sức nhanh chóng, với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” hay hơn thế, hơn nữa hiện thực không phải chỉ là những cái nghe được nhìn được mà hiện thực còn là những cái cảm nhận được, là những cái không nghe không thấy những vẫn tồn tại đích thực, còn là hiện thực của giấc mơ, của tiềm thức, vô thức. Cơ sở xuất phát còn là sự chống lại quan niệm về cái tổng thể (la totalité) coi xã hội như một tổng thể không thể chia tách, gắn với mô hình sản xuất tập trung trong các nhà máy, công xưởng của thế kỉ trước, trong khi mà vào cuối thế kỉ XX, với sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực truyền thông, của công nghệ thông tin đã dẫn tới hình thức sản xuất phi tập trung, tính tổng thể chỉ còn là tổng thể của vùng miền của những phạm vi hẹp…

Cơ sở xuất phát còn gắn với các luận đề của chủ nghĩa cấu trúc, của chủ nghĩa hậu cấu trúc đặc biệt phát triển mạnh mẽ xung quanh những năm bảy mươi của thế kỉ XX. “Từ những năm 1970, hoàn toàn ngẫu nhiên, cuộc tranh luận xung quanh hiện tượng hậu hiện đại vượt khỏi giai đoạn này bằng sự rời bỏ cụ thể dần dần các cơ sở hình thành hệ thống lí thuyết hậu hiện đại chủ nghĩa đích thực: công lao nổi bật của khuynh hướng này thuộc về những cá nhân tầm cỡ hàng đầu thế giới: Roland Barthes, Michel Foucault, Gilles Deleuze và Félix Guattari, Jacques Derrida, Jean Baudrillard, Jean-François Lyotard, Ihab Hassan, Fredric Jameson…”15

Hai nhóm này tồn tại đối lập nhưng không phủ định nhau. Quan niệm phân mảnh (cũng đồng nghĩa với giải tích hợp – la désintégration) của trường phái hậu cấu trúc đối lập với quan niệm tái tích hợp (la réintégration) của giải thích học mới. Các nhà hậu cấu trúc dùng cách diễn giải phá hủy (destructif), chẳng hạn, J. Derrida thay tư tưởng về một trung tâm bằng sự phi trung tâm hóa, chỉ ra khả năng không thể tích hợp lại của sự vật hiện tượng, trong khi đó các nhà giải thích học đưa ra cách giải thích xây dựng (constructif), tạo ra đa trung tâm (le pluricentrisme) nghĩa là các trung tâm đều tồn tại đồng thời, không loại trừ nhau. Đối với các nhà hậu cấu trúc thì việc giải tích hợp sẽ là tất yếu, còn đối với các nhà giải thích học thì hiển nhiên sẽ là tái tích hợp. Giải tích hợp của hậu cấu trúc gắn liền với ý niệm về tính tổng thể (le totalitaire) và tính hoang tưởng (le paranoїque), còn đối với các nhà giải thích học sẽ là các khái niệm giải liên hợp (dissociatif) và tâm thần phân liệt (schizophrénique). Chủ nghĩa hậu hiện đại tiếp nối sửa chữa các “khiếm khuyết” bằng các đặc điểm trái ngược, mà đầu tiên là quan niệm về giải trung tâm hóa mà không phải là giải cấu trúc hóa.

Giải cấu trúc hóa (la déconstruction) với tư cách là một quan điểm triết học được hiểu là sự giải cấu trúc của cái siêu hình học, giải cấu trúc về các quan điểm siêu hình liên quan đến các loại chủ nghĩa (isme) khác nhau mà J. Derrida gọi là ngôn từ nam tính trung tâm luận (le phallologoscentrisme) và khi chuyển sang lĩnh vực văn học thì giải cấu trúc hóa trở thành khoa học của sự ghi chép về việc viết, trở thành chiến lược của văn pháp nghiên cứu (la grammatologie). Giải cấu trúc đi vào đối thoại với ngôn ngữ học, ngữ dụng học, phân tâm học, kí hiệu học, nhân chúng học, hiện tượng luận và với các triết học khác kể cả thần học.

Giải cấu trúc không phải là phá hủy mà chỉ ra, phân biệt, khu biệt hay làm cho khác đi; chính là thao tác về sự sai biệt mà J. Derrida đã nói. “Theo Derrida16, điểm nhìn chung nhất của khuynh hướng này được phát triển từ một số giả định siêu hình vừa đủ để mở rộng những gì ông miêu tả dạng thức siêu hình về “sự hiện diện (la présence)”. Sự hiện diện này, nói chung, cho thấy các khoa học cổ điển đều xuất phát từ tiền đề về sự hiện diện tiên quyết của các đồ vật trước khi chúng được định danh; vai trò của các danh xưng không phải “để giữ chỗ” hay để “tái hiện” một số đồ vật trong sự vắng mặt tạm thời của chúng. Do đó, trong khuôn khổ cổ điển, kí hiệu học nắm giữ một tính chất kép, kí hiệu xuất hiện đồng thời vừa như là cái phụ trợ (le secondaire) vừa như cái tạm thời (le provisoire): phụ trợ, trong tiềm năng quan hệ của kí hiệu với sự hiện diện ngay từ đầu, sự hiện diện để được tồn tại trước; tạm thời trong viễn cảnh thực tại hóa cuối cùng của chính các đồ vật, vì vậy sự hiện diện này chỉ là một sự hoãn lại (từ đây thuật ngữ différence – sự hoãn lại, đình lại, được giải thích trong quan hệ chặt chẽ với động từ differer – hoãn lại, đình lại”): “Kí hiệu tái hiện sự hiện diện vắng mặt của nó. Nó đổi vị trí. Khi chúng ta không thể lấy ra hoặc chỉ ra đồ vật để nói về sự hiện diện, về thực thể hiện diện, khi sự hiện diện không tự nó thực hiện sự hiện diện, lúc đó chúng ta tạo nghĩa, chúng ta phương tiện hóa kí hiệu. Chúng ta lấy ra hay đưa ra kí hiệu. Chúng ta làm ra kí hiệu. Cho nên, kí hiệu là sự hiện diện bị đình hoãn. Dù đề cập đến kí hiệu của nói (lời) hay viết (chữ), đến kí hiệu đồng tiền, đến đoàn cử tri hay biểu tượng chính trị, sự vận động của các kí hiệu làm chậm lại thời điểm chúng ta có thể gặp chính đồ vật, có thể làm chủ đồ vật, có thể tiêu thụ hay trả tiền cho đồ vật, có thể chạm vào chúng, nhìn chúng, hay trực cảm được sự hiện diện của chúng. Những gì tôi miêu tả ở đây, với các đặc điểm tầm thường của chúng, để đi tới định nghĩa của việc tạo nghĩa như là sự đình hoãn được thời gian hóa, chính là cấu trúc cổ điển của kí hiệu: nó giả định kí hiệu, khi đình hoãn sự hiện diện, thì chỉ có thể nghĩ tới thời điểm xuất phát của sự hiện diện mà kí hiệu đình hoãn và trong cái nhìn của sự hiện diện bị đình hoãn, cái chúng ta mong muốn tiếp cận”17.

Cũng như vậy, phi trung tâm hóa nghĩa là tạo ra nhiều trung tâm, mỗi nhân vật trong tác phẩm trở thành một trung tâm của một câu chuyện nào đó; giữa các câu chuyện này có thể hoặc không có mối liên hệ nào và không có khả năng kết hợp lại với nhau; tất cả tạo thành các mảnh vỡ được khớp nối theo sở thích của tác giả. Vì thế, khi đọc tác phẩm hậu hiện đại, người đọc sẽ phải phiêu lưu trôi dạt theo các mảnh vỡ mà không nắm bắt được câu chuyện vả lại cũng chẳng có một câu chuyện nào theo mô hình kể chuyện truyền thống được đưa ra ở đây cả. Người đọc sẽ rơi vào trạng thái bất định mà nguyên lí bất định trong toán học đã được E. Thom đưa ra. Trạng thái bất định đó cũng là hiện thực của cuộc sống đương diễn ra.

Mỗi mảnh vỡ trở thành một câu chuyện, có thể lôgic có thể không, tùy thuộc trạng thái của nhân vật người kể chuyện, trạng thái kể có ý thức hay vô thức. Cho nên, mỗi mảnh vỡ đều có giá trị tự thân, giá trị đó lớn hay nhỏ, tùy thuộc chuẩn đánh giá của người đọc mà không nằm trong ràng buộc với một chuẩn chung nào cả. Chuẩn chung chỉ xuất hiện khi xã hội là một tổng thể, còn ở chủ nghĩa hậu hiện đại, xã hội là giải kết hợp, là không thể liên kết được với nhau, là nằm trong trạng thái tâm thần phân lập. Tính đa trị được hiểu là như thế.

Việc loại bỏ18 tư tưởng “trung tâm” trực tiếp xác lập một cấu trúc có khả năng thoát khỏi mọi sự kiểm soát, hoặc, nói cách khác, là xác lập một trò chơi tự do của những cái biểu đạt. Luận đề trò chơi vô hạn của cấu trúc ngay từ đầu loại bỏ tư tưởng coi kết quả cuối cùng của trò chơi này là một cấu trúc hay một tổng thể; sự vắng mặt của mọi trung tâm được tạo dựng, cũng trở thành tiền đề cho “sự thay thế vô hạn”, do đó, sự thay thế này đương nhiên là “phi tổng thể”19.

Gắn liền với tính phân mảnh là sự thay đổi tính chất của trục kể. Theo truyền thống mô phỏng, trục kể thường là tuyến tính, tuân thủ quy luật nhân quả. Ở chủ nghĩa hậu hiện đại, khi tham gia vào việc giải duy lí tính thì đương nhiên việc tuân thủ quan hệ nhân quả sẽ không còn, việc “nghe lời” quyết định luận lịch sử sẽ không xảy ra, trật tự kể trở thành phi tuyến tính, câu chuyện bắt đầu bằng một ngẫu nhiên và cũng ngẫu nhiên kết thúc, có thể kéo dài không kết thúc kiểu Finnegans Wake với mở đầu không viết hoa và kết thúc là một câu bỏ lửng không có dấu chấm câu. “Lí thuyết về văn bản là một trong những biểu hiện vững bền nhất còn lại của chủ nghĩa hậu hiện đại”20. Việc loại bỏ quan niệm cấu trúc có tính trung tâm – được trung tâm hóa và đặt ra nguyên tắc trò chơi tự do xuất hiện trong lí thuyết văn bản. “Theo xu hướng này, khái niệm tác động đến sự phát triển của tiểu thuyết đương đại, của chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa cấu trúc về “tác phẩm” (hiểu theo nghĩa một “tổng thể”, một toàn thể có tổ chức, một công trình cấu trúc hóa bền vững đặt trong quan hệ với trung tâm) sẽ nhường chỗ cho khái niệm hậu cấu trúc, cho tính văn bản (la textualité – được hiểu là “tính vô hại của sự chuyển hóa – l’innocence de la transformation”, không bị bao kín hay bị che chắn bởi quy tắc nào, được rút ra trực tiếp từ biểu hiệu của ẩn dụ mê cung – la labyrinthe; tính văn bản – Frank Lentriccha nói – là “một quan niệm chính thống, thường được bình giải cuồng nhiệt của các đệ tử Derrida ở Hoa Kỳ, qua ẩn dụ mê cung”21)”22.

Antonio đưa ra các nhận xét về đặc trưng của tiểu thuyết hậu hiện đại, trước hết là “một nhận thức mới” dẫn tới “các nghệ sĩ hậu hiện đại đã đứng vững trên lập trường hoài nghi và vô tư chân thành, và bằng cách đó họ đã chối bỏ hoàn toàn cái khuynh hướng giải thích và trình bày thế giới bằng hình thức siêu truyện. Họ đã hào hứng đi tới sự biểu hiện thế giới có tính phức tạp và phiến đoạn như họ đã trải nghiệm”. Đặc trưng thứ hai là “khuynh hướng tự ngắm vuốt mình”, “một khi các cây cầu nối liền trí tuệ của nhà văn với hiện thực cụ thể nào đó bị cắt đứt thì chúng ta không thể ngạc nhiên khi xem xét sự trở về chính mình của nhà văn trong một quá trình hướng kép. Thực tế nổi bật lên ý thức mới về sự tự tan rã của chủ đề mà các tác giả tiểu thuyết mới đã làm nổi bật theo như nhận thức của chính họ về nguồn gốc của hiện sinh. Ngược lại, ngày hôm nay sự lìa xa của chủ đề sẽ phải phụ thuộc vào cảm quan mới trước việc bắt gặp mình đang trèo trên một sợi xích nhiều tầng ý nghĩa mà chẳng cần phải dựa vào cái đã dựa vào. Từ đó, dẫn tới sự quan sát ngạc nhiên này về cái tôi vắng mặt – “cái tôi đang có mặt ở nơi khác; những mối quan hệ từ cái tôi đến cái tôi ngữ pháp trong văn bản, luôn luôn được nhân lên khiến chúng ta nghĩ tới sự tìm kiếm thường xuyên các trạng thái tâm hồn rất đa dạng và mâu thuẫn từng đưa tới sự khúc xạ có tính phiến đoạn của một Narcisse nghìn mắt”. Đặc trưng thứ ba là “một ngôn ngữ tự ám thị”, theo đó “văn bản trở thành một thực tại có ý nghĩa đầy đủ trong chính nó”. Đặc trưng thứ tư là “một thái độ khôi hài”. “Người nghệ sĩ hậu hiện đại không mơ ước một xã hội tiến bộ hơn mà họ chỉ tham gia vào sự sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật song song với thế giới hiện thực mà ở đó với tiếng cười ha hả họ quan chiêm những hình ảnh được thai nghén từ một thế giới nguyên mẫu trong đó những ấu trĩ của tính hiện đại vẫn được vận dụng một cách nghiêm chỉnh”. Đặc trưng cuối cùng là “một thứ văn chương đầy sinh lực và khát vọng”, theo đó “Tác phẩm nghệ thuật sẽ được quan chiêm nếu ở mức độ thấp thì như là một sự trình bày các trạng thái xác định của sự vật, nếu ở mức độ cao thì là một trường hợp thuận lợi cho sự sinh ra và lan tỏa những tồn lưu của sinh lực nhân loại vốn bị chèn ép từ rất lâu trong nền văn hóa của chúng ta. Với sự chối bỏ hoàn toàn các hình thức phục tùng cơ chế, các nhà văn đã làm đảo lộn ngôn ngữ của chính mình: đoạn tuyệt với ngữ pháp, không thừa nhận giá trị ý nghĩa nội tại của ẩn dụ và của tượng trưng. Họ từ bỏ khuôn mẫu, và trong trường hợp này họ đề xướng sự thái quá và sự vi phạm nguyên tắc. Nhờ hình thức này, khát vọng biến thành chủ nhân. Những đam mê, những mơ tưởng của bản năng và các hình ảnh đau đớn nhất của vô thức đã đan bện lấy nhau tạo ra những văn bản đậm đặc đủ sức chuyển tải những trạng thái căng thẳng sâu sắc của con người, chuyển tải cuộc đấu tranh giữa bản năng của sự sống và bản năng của cái chết”23. Đây là một góc nhìn khá tinh tế của nhà nghiên cứu Tây Ban Nha được rút ra từ thực tiễn tiếp cận chủ nghĩa hậu hiện đại ở phương Tây.

Các khái niệm mà chủ nghĩa hậu hiện đại đưa ra đều được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Mỗi cách hiểu như vậy góp phần tường minh khái niệm, để khả dĩ có được cách hiểu ít “mù mờ” nhất. Những ý kiến trên đây của chúng tôi cũng nhằm mục đích như vậy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Antonio Blach, Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại, Nguyễn Trung Đức dịch, đăng trên tạp chí Văn học số 5/1991, trang 64-69.
  2. Irving Howe, Xã hội đại chúng và sáng tạo hậu hiện đại (Mass Society and Posmoderne Fiction), trong Sự cáo chung của cái Mới (Declins of the New)– New York, Horizon, 1970.
  3. Harry Levin, Chủ nghĩa hiện đại là gì (What Was Modernism), trong Các khúc xạ (Refractions), New York, Oxford University Press, 1966.
  4. Susan Sontag, Chống diễn giải (Against Interpretation), New York, Deli, 1966.
  5. Leslie Fiedler, Tuyển tập các tiểu luận của Leslie Fiedler (The collected Essayes of Leslie Fiedler), vol.II, New York Ngôi sao ban ngày (Stein in Day), 1971.
  6. Ihab Hassan, Sự tật nguyền của Orpheus: Về loại văn học hậu hiện đại (The Dismenberment of Orpheus: Toward a Posmodern Literature) Madison University of Wisconsin Press, 1971.
  7. Steven Best and Douglas Kellner, Lí thuyết hậu hiện đại. Những nghi vấn phê bình (Posmoderne Theory. Critical Interrogations), New York, The Guilford Press, 1971, p.10.
  8. Ihab Hassan, Về Quan niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại (Toward a Concept of Posmodernism, 1971), trong Bước ngoặt hậu hiện đại. Các tiểu luận ( The Posmoderne Turn. Essays) trong Lí thuyết và văn hóa hậu hiện đại (Postmoderne Theory and Culture), Ohio, State University Press-1987, p. 88-89.
  9. Liviu Petrescu, Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại. Bản tiếng Rumani. Trang 5
  10. J.F. Lyotard, Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên dịch, NXB Tri thức, Hà Nội, 2008, trang 54.
  11. Liviu Petrescu: Sách đã dẫn trang, 132
  12. Sách trên trang 38.
  13. Dẫn theo I.P. Ilin và E.A.Tzurganova, Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ XX, Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003, 409-410.
  14. I.P. Ilin và E.A.Tzurganova, sách đã dẫn trang 410.
  15. Liviu Petrescu, sách đã dẫn, trang 7.
  16. Liviu Petrescu, sách đã dẫn, trang 108.
  17. Jacsques Derrida, La Différance in Tel Quel. Théorie d’ensemble… (Paris, Editions de Seuil, 1968) trang 47-48.
  18. Liviu Petrescu, sách đã dẫn, trang 92.
  19. Jacques Derrida, Sđd, trang 289.
  20. Liviu Petrescu, sách đã dẫn, trang 96.
  21. Frank Lentricchia, Sđd, trang 179.
  22. Liviu Petrescu, sách đã dẫn, trang 93.
  23. 89Antonio Blach, Bài báo đã dẫn, trang 65-68. 

 

Nguồn: Tham luận Hội thảo “Văn học hậu hiện đại: lý thuyết và thực tiễn”, ngày 15/01/2013, Đại học Sư phạm Hà Nội. Copyright © 2013 – PHÊ BÌNH VĂN HỌC 

Tuần duyên Nhật phun vòi rồng vào tàu Đài Loan – VNE

24 Th1

Tuần duyên Nhật phun vòi rồng vào tàu Đài Loan

Lực lượng tuần duyên Nhật Bản hôm nay dùng súng phun vòi rồng vào một chiếc tàu chở các nhà hoạt động Đài Loan gần Senkaku/Điếu Ngư, tâm điểm tranh chấp chủ quyền trên biển Hoa Đông.

> Tàu Đài Loan đến đảo tranh chấp với Nhật Bản

Tàu tuần duyên Nhật phun vòi rồng vào chiếc tàu của Đài Loan. Ảnh: Huanqiu

“Sau khi vào khu vực tiếp của đất nước chúng tôi, con tàu có các nhà hoạt động Đài Loan tiếp tục đi về phía đông. Vì thế, tàu tuần tra của chúng tôi đã tiến hành ngăn chặn đối với tàu này, ví dụ như cản đường của nó và phun nước”, AFP dẫn thông báo của tuần duyên Nhật Bản.

Ảnh tàu tuần duyên Nhật phun vòi rồng vào tàu Đài Loan

Vào thời điểm xảy ra va chạm, tàu Đài Loan ở cách Senkaku/Điếu Ngư khoảng 32 km về phía tây – tây nam. Tuần duyên Nhật xác nhận thông báo của tuần duyên Đài Loan rằng chiếc tàu sau đó đã rời đi. “Con tàu rời khu vực kể trên vào khoảng 13h30 và tiếp tục di chuyển theo hướng tây – tây nam ra xa khỏi quần đảo Senkaku”, thông báo của tuần duyên Nhật cho hay.

Theo tuần duyên Đài Loan, con tàu kể trên bắt đầu quay về lúc 11h30 giờ địa phương và dự kiến tới cảng Shenao ở phía bắc đảo Đài Loan khoảng 19h tối nay theo giờ địa phương. Người phát ngôn tuần duyên Đài Loan Shih Yi-che thậm chí cho hay tàu này cũng đáp trả tàu tuần tra Nhật bằng cách phun nước.

Video tàu Nhật, Đài Loan đấu vòi rồng năm ngoái

Theo hãng tin Kyodo, sáng 24/1, Cơ quan Tuần duyên của Đài Loan cho biết chiếc tàu kể trên có 7 người, gồm một thuyền trưởng Đài Loan, 4 nhà hoạt động xã hội của đảo, một phóng viên truyền hình và một công nhân ngước nước ngoài. Chuyến đi tới đảo được dự kiến mất khoảng 8-9 tiếng. AFP đưa tin đến 7h (giờ địa phương), con tàu còn cách Senkaku/Điếu Ngư 107 km. Nhóm các nhà hoạt động cho biết họ muốn đưa tượng nữ thần biển cả Matsu tới quần đảo này để người dân có thể tới đó thờ cúng.

Tháng 9/2012, hàng chục tàu cá Đài Loan cũng khởi hành đến vùng biển quanh đảo tranh chấp, thậm chí có tàu thâm nhập vào vùng lãnh hải mà Nhật tuyên bố, để khẳng định chủ quyền. Các tàu tuần duyên Nhật Bản sử dụng vòi rồng để cản đường các tàu này, dẫn đến màn đấu vòi rồng giữa hai bên khi tàu tuần tra Đài Loan đáp trả bằng những ống nước áp suất cao.

Senkaku/Điếu Ngư là quần đảo không người ở trên biển Hoa Đông. Nhật quản lý quần đảo này trên thực tế và đặt tên là Senkaku, trong khi Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền với nhóm đảo này với tên gọi Điếu Ngư. Tranh chấp chủ quyền giữa hai bên bùng phát hồi năm ngoái sau khi Nhật tuyên bố quốc hữu hóa các đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư. Hàng loạt cuộc biểu tình chống Nhật đã nổ ra ở Trung Quốc, khiến quan hệ hai nước rơi vào tình trạng xấu nhất sau nhiều thập kỷ.

Nhật Nam

GS Trọng dự buổi chất vấn thủ tướng Anh – BBC

24 Th1

GS Trọng dự buổi chất vấn thủ tướng Anh

Nguyễn Hùng

bbcvietnamese.com

Cập nhật: 13:54 GMT – thứ tư, 23 tháng 1, 2013

Theo nghị trình chuyến thăm Anh, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hôm 23/1 sẽ tới chứng kiến phiên Chất vấn Thủ tướng với tên tiếng Anh là Prime Minister’s Question Time, còn gọi tắt là PMQ.

 

PMQ, như trong video của phiên mới nhất hôm 16/1 trên đây, diễn ra thứ Tư hàng tuần, từ 12:00-12:30 mỗi khi Nghị viện nhóm họp và có ít nhất 20 phiên PMQ một năm.

Thủ tướng đương quyền sẽ phải trả lời sáu câu hỏi từ lãnh đạo đảng đối lập chính, hai câu hỏi từ lãnh đạo đảng đối lập lớn thứ hai và rất nhiều câu hỏi từ các dân biểu về bất kỳ vấn đề gì.

PMQ được mô tả như ‘võ đài nghị viện’ và các chính trị gia là những ‘gladiator’ do không khí căng thẳng nhưng không thiếu tính hài với những tiếng la ó từ các dân biểu, vốn có thể át những câu phán của chủ tịch quốc hội.

Các nhà bình luận Anh nói có thủ tướng Anh sợ bủn rủn cả người mỗi lần phải đứng lên bục trả lời các câu hỏi và bất kỳ thủ tướng nào cũng sẵn sàng xóa bỏ PMQ nếu họ có thể làm được như vậy.

‘Phép thử uy quyền’

PMQ ở thể thức hiện nay được áp dụng kể từ khi Thủ tướng Tony Blair lên cầm quyền hồi năm 1997.

Trước đó, từ khi chính thức bắt đầu hồi tháng 10/1961, PMQ diễn ra hai tuần một lần vào thứ Ba và thứ Năm, mỗi hôm 15 phút từ 15:15.

Ông Blair và bà đầm thép Margaret Thatcher được cho là hai thủ tướng vững vàng nhất và đã ở thế thượng phong trên bục PMQ.

Bà Margaret Thatcher có tiếng là giỏi đối đáp thời cầm quyền

Cựu biên tập viên chính trị của Press Association, Chris Moncrieff, viết trên báo The Independent:

“Bà Thatcher, nói một cách hình tượng, tuần nào cũng nhai ngấu nghiến Neil Kinnock, đối thủ chính của bà, và nhổ ông ra.”

Bản thân bà Thatcher sau này viết trong hồi ký rằng PMQ là “phép thử thực sự uy quyền của [thủ tướng] tại Nghị viện, uy tín của [thủ tướng] trong đảng, sự nắm bắt chính sách và có các dữ kiện để biện hộ cho chính sách.”

Nhà báo Michael White nói bà Thatcher thường uống chút whisky trước mỗi kỳ PMQ trong khi ông Blair thừa nhận trong hồi ký rằng ông “luôn sợ” các phiên chất vấn và thường uống thuốc ngủ để đảm bảo có sáu tiếng ngủ trước mỗi PMQ.

Bà Thatcher cuối cùng cũng phải từ chức khi các dân biểu tấn công bà trong những phiên chất vấn hồi năm 1990 còn ông Tony Blair cũng ‘suýt chết’ hồi năm 2007.

‘Phòng họp thù nghịch’

Thủ tướng hiện thời của liên minh Bảo thủ – Dân chủ Tự do, ông David Cameron, cũng là tay lão luyện trong võ đài nghị viện.

“Bà Thatcher, nói một cách hình tượng, tuần nào cũng nhai ngấu nghiến Neil Kinnock, đối thủ chính của bà, và nhổ ông ra.”

Chris Moncrieff, cựu biên tập viên chính trị của Press Association

Khi còn là lãnh đạo phe đối lập hồi năm 2005, ông Cameron từng móc máy Thủ tướng Tony Blair tại PMQ:

“Tôi muốn nói về tương lai. Ông ấy [Tony Blair] đã từng là tương lai.”

Còn đối với người kế nhiệm ông Blair, Gordon Brown, đương kim Thủ tướng từng nói tại PMQ rằng ông Brown là “Thủ tướng analogue trong kỷ nguyên digital.”

Về tính chất của các phiên chất vấn, ông Cameron nhận xét:

“Nếu quý vị là Thủ tướng, đó là cách tuyệt vời để kiểm tra xem các bộ phận [trong chính quyền] làm việc ra sao.

“Hay tin tôi đi, cứ mỗi sáng thứ Tư, quý vị sẽ muốn biết tất tần tật mọi thứ.

“Thì cứ cho là có nhiều thứ thú vị hơn [PMQ].

“Bước vào phòng họp đầy thù nghịch và biết rằng quý vị có thể bị hỏi bất kỳ điều gì là khá căng thẳng.

“Thực ra nó là cách hay để khái quát chính trị Anh: một nền dân chủ mạnh với khiếu hài hước.”

Dân chủ ‘độc đáo’

Thủ tướng David Cameron tại phiên Chất vấn Thủ tướng hôm 16/1/2013Ông Cameron là người từng viết hướng dẫn về cách để thành công tại PMQ

Trong vai trò người công kích, cựu lãnh đạo đảng Dân chủ Tự do Charles Kennedy nói ông từng có lúc thấy chán nản khi đóng vai chất vấn nhưng lại thấy vai trò của ông có ý nghĩa khi một bộ trưởng cao cấp trong chính phủ tới gặp ông và nói:

“Ông đã hỏi những câu mà một nửa Nội các muốn hỏi mà không được.”

Bản thân ông Kennedy cũng đã vài lần không thể tới dự PMQ mà sau này báo chí phát hiện ra do ông quá say xỉn và kết cục ông cũng phải từ chức.

Các nhà báo Anh nói nền dân chủ nghị viện của Vương Quốc Anh hoàn toàn độc đáo và ngay cả các chính trị gia Hoa Kỳ cũng không muốn bị chất vấn như vậy.

Tổng thống Bush cha từng được dẫn lời nói: “Tôi thấy thật may là không phải bước vào cái hố mà ông John Major phải đứng mặt đối mặt với phe đối lập.”

“Tôi thấy thật may là không phải bước vào cái hố mà ông John Major phải đứng mặt đối mặt với phe đối lập.”

Tổng thống George Bush cha

Nhà báo Anh Barry Gibson nói PMQ đảm bảo rằng Anh sẽ không bao giờ có lãnh đạo dốt nát vì một thủ tướng cần khôn ngoan và ăn nói rõ ràng mới có thể vượt qua các thử thách trong chất vấn.

Ông Gibson nói trong số năm Tổng thống Hoa Kỳ gần đây, chỉ có ông Barack Obama và Bill Clinton đủ sắc sảo để vượt qua PMQ.

Tổng thống Ronald Reagan bị cho là không nắm bắt được các chi tiết để đối mặt với chất vấn hàng tuần, ông Bush cha quá tẻ nhạt còn ông Bush con thì không “đáng để nói tới”, theo nhà báo Gibson.

Các nhà báo Anh có lẽ khó nhớ hết tên của các vị thủ tướng gần đây của Việt Nam.

So sánh hai hệ thống Anh và Việt, hẳn bạn cũng thấy thú vị khi nghĩ liệu các ông Phạm Hùng, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng có ‘thọ được qua’ ít nhất 100 buổi chất vấn kiểu Anh cho một nhiệm kỳ năm năm của họ hay không.

Bài viết của Nguyễn Hùng dựa trên tài liệu từ trang web của Bấm Nghị viện Anh, cùng các bài viết của Bấm Barry Gibson, Bấm Chris MoncrieffBấm Michael White.

Nguyễn Hùng cũng sẽ tới theo dõi PMQ vào thứ Tư này tại London qua vé mời của dân biểu địa phương nơi anh sinh sống và sẽ tường thuật tại bbcvietnamese.com và qua Bấm Facebook của BBC.

Cập nhật ngày 23/1: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không đến dự buổi PMQ với lý do bị cảm. Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Đại sứ Việt Nam ở Anh Vũ Quang Minh cùng đoàn Việt Nam đã đến dự xem.

Hàng trăm trí thức kiến nghị đa đảng – RFA

24 Th1

Hàng trăm trí thức kiến nghị đa đảng

RFA 23.01.2013
 

Gần 800 nhà trí thức tại Việt Nam hôm qua đã ký thỉnh nguyện thư trên mạng kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng và tổ chức bầu cử tự do.

AFP PHOTO / HOANG DINH Nam

Lễ khai mạc Đại hội lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) tại Hà Nội ngày 12 tháng 1 năm 2011.

 

 

Thỉnh nguyện thư này, phác họa một bản hiến pháp khác, được phổ biến trên nhiều trang blog nổi tiếng hôm thứ Ba để đáp ứng việc đảng CSVN yêu cầu dân chúng góp ý về những khoản tu chính hiến pháp.

Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, thuộc trong số cựu viên chức cao cấp ký tên trong thỉnh nguyện thư, cho biết Hiến pháp năm 1992 được đề ra vào những năm đầu của chính sách đổi mới, do đó không con phù hợp với hiện tình đất nước. Cho nên bản hiến pháp như đề nghị trong thỉnh nguyện thư là tốt hơn văn kiện hiện giờ; và điều tốt nhất là Việt Nam phải có hệ thống đa đảng trong lúc này.

Theo bà Nguyễn Thu Nga, nhân viên tại một văn phòng ở Hà Nội, thì diễn tiến vừa nói rất trọng hệ cho hệ thống chính trị Việt Nam; người CS phải chấp nhận thỉnh nguyện thư này thay vì chống lại trí thức.

Bản Hiến pháp đề nghị trong thỉnh nguyện thư cũng kêu gọi đổi tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay vì Cộng hòa XHCNVN, đồng thời thực hiện tam quyền phân lập giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Mặc dù nhà cầm quyền cho biết sẽ tiếp thu ý kiến của công chúng về đề nghị tu chính hiến pháp, nhưng những vấn đề như bầu cử đa đảng, quyền tư hữu đất đai của người dân bị loại khỏi tiến trình tham khảo ý kiến.

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

Chùm ảnh: Bằng chứng Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam – GDVN

24 Th1

Chùm ảnh: Bằng chứng Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam

Thứ năm 24/01/2013 07:30
(GDVN) – Những tấm bản đồ, hình ảnh sau đây là những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thuyền buồm của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn
Thuyền buồm của Hải đội Hoàng Sa thời nhà Nguyễn sau khi được phục dựng


Bản đồ Châu Á thế kỷ XVII vẽ một phần của “Paracel” hay “bãi cát vàng” khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam hiện nay.


Một tờ châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại năm thứ 13 (1939) liên quan đến đảo Hoàng Sa


Bản đồ “An Nam Đại Quốc Họa Đồ” do giám mục Taberd (Pháp) lập và xuất bản năm 1838 đã vẽ rất chính xác về tọa độ Paracel hay Hoàng Sa của Việt Nam.


Bản đồ các đài khí tượng Đông Dương, 1940. Đài Pattle (Hoàng Sa) và đài ở Ita Aba (Trường Sa) là hai đài khí tượng cấp quan trọng nhất của Việt Nam.
Bản đổ vùng Viễn Đông, Brion de la Tour, 1774. Trên bản đồ vẽ quần đảo Paracel (Hoàng Sa) thuộc lãnh thổ Đàng Trong, Đại Việt.
Bản đồ Tonquin (Miền Bắc Việt Nam), 1682 do Daniel Tavernier vẽ trong những năm 1640 khi ông làm thư ký cho Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Đàng Ngoài.
4 trang Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn, 1776 , chép về việc thành lập và tổ chức hoạt động của Hải đội Hoàng Sa, Hải đội Bắc Hải.
“Đại Nam nhất thống toàn đồ” đầu thế kỷ XIX. Đây là bản đồ nước Việt Nam thời nhà Nguyễn vẽ khoảng năm 1834, trên bản đồ có ghi 2 tên Hoàng Sa và vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Châu bản Triều Nguyễn ghi chép về việc giao thương hàng hải và chủ quyền biển đảo Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 
Hoàng Lâm
%d bloggers like this: