Lưu trữ | 7:16 Chiều

Ai là người đầu tiên gọi tên Hà Nội 36 phố phường? – TT&VH

25 Th1

Ai là người đầu tiên gọi tên Hà Nội 36 phố phường?

Triển lãm kỳ thú về 36 phố phường Hà Nội

Hà Nội 36 phố phường đã có… Hà Nội 36 tạp văn

Trong nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc, truyền hình hiện nay, chúng ta thường nghe đến cụm từ “Hà Nội 36 phố phường” nhưng xuất xứ và những thông tin liên quan đến nó không phải ai cũng biết.

Về băn khoan này, giáo sư sử học Lê Văn Lan đã từng đưa ra ý kiến như sau:

“Chúng ta đang có 2 văn bản đều có tên: Hà Nội 36 phố phường, thực ra là 2 bài thơ – đúng hơn là hai bài vè – đều có tên là Hà Nội 36 phố phường. Một bản kể: Phồn hoa thứ nhất Long thành/36 phố rành rành chẳng sai… Bản kia cũng là Hà Nội 36 phố phường nhưng lại kể: Phồn hoa thứ nhất Long Thành/Phố giăng mắc cửi chạy quanh bàn cờ…
Nếu cộng các tên phố có trong các bài Hà Nội 36 phố phường thì thấy có tất cả có hơn 50 phố. Văn bản có tên 36 phố phường ấy ra đời vào cuối thế kỷ 19, gây ấn tượng lớn nhưng không nên hiểu đó là sự đánh dấu của việc ra đời Hà Nội 36 phố phường, bởi Hà Nội 36 phố phường là điều không có trong lịch sử. Hà Nội chỉ có 36 phường vào thời Lê và có hơn 50 phố bắt đầu bằng chữ “Hàng” ở cuối thế kỷ 19.

Vì sao mọi người hay nhắc tới câu Hà Nội 36 phố phường? Có lẽ “công tích” thuộc về nhà văn Thạch Lam. Tác phẩm Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam quá nổi tiếng, nên dù không là sự thật lịch sử thì vẫn được mọi người đón nhận.

Và người ta vẫn dùng Hà Nội 36 phố phường như 5 cửa ô của Văn Cao hay Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. Tác dụng của Văn học nghệ thuật là cực kỳ lớn. Rất tiếc là khoa học chưa can dự để trả lại tính chính xác của các thông tin này bên cạnh tính hấp dẫn của nó”.

Một trong các số các bài ca về 36 phố phường được ghi trong sách Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có nôi dung như sau:

“Rủ nhau chơi khắp Long thành/Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:/Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,/Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,/Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy/Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,/Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang,/Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng,/Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông,/Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,/Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,/Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,/Quanh đi đến phố hàng Da,/Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh./Phồn hoa thứ nhất Long thành,/Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ/Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ/Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền”.

Xét theo ghi chép của sách sử thì 36 phố phường được đặt ra từ thời vua Lê Hiển Tông với mục đích duy nhất là thuận tiện hơn trong việc giữ gìn an ninh, trật tự. Theo sách Đại Việt sử ký tục biên, vào tháng 12 năm Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 (1748) triều đình “hạ lệnh chia bên trong kinh thành làm 36 khu, mỗi khu đặt một quan coi giữ việc tuần phòng, khám xét. Lại định phép ty tộc đoàn (liên kết các gia tộc ở gần nhau cùng giữ an ninh). Tiếp đó lại chia làm 9 điện, mỗi điện có 4 khu, mỗi khu đặt một viên chánh khu”.

Trong tác phẩm Vũ Trung tùy bút của danh sĩ sống vào giai đoạn cuối thời Lê đầu thời Nguyễn là Phạm Đình Hổ cho biết cụ thể hơn về điều này: “Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc suất hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi.

Song đất kinh thành đông đúc, nhà ở liễn nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa là nơi bể cạn, vật sản rất nhiều, mà lại không thiếu một hạng người nào cả.

Đời Trịnh An Đô Vương (tức Trịnh Cương- TG), Nguyễn Công Hãng làm Thượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi lư cũng có một lư trưởng; bốn lư là một đoàn, mỗi đoàn đặt một quản giám, hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau.

Phàm những việc phòng hỏa, phòng trộm và nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều ủy trách cho khu trưởng, đoàn trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà khá giả coi thường, không thèm ra làm, chỉ để cho những côn đồ trong các xóm chợ ra làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc quan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố. Ôi! “Sinh nhất sự bất như trừ nhất hại” (thêm ra một việc không bằng bớt đi một tai hại) lời nói ấy rất đúng.

Theo lệ cũ, chốn kinh thành không phải chịu thuế dung, thuế điệu, chỉ tính từng dãy nhà, không cứ nhà quan hay nhà dân, hàng năm mỗi nhà phải chịu một suất đi sửa sang đắp lại nền cắm cờ tướng, dọn cỏ chung quanh cung đình, cung ứng các việc kiến trúc. Họ phải thay phiên nhau sắm đủ dây đòn, câu liêm, thang tre, bó đuốc, thùng gánh nước để theo quân quan Đề lĩnh đi túc trực các nơi điếm canh, phòng khi sai khiến; công việc rất là phiền nhiễu. Song tóm lại không tiền là không xong, chỉ làm nặng túi kẻ gian hoạt.

Tuy bảo rằng “phù bản ức mạt” (bồi đắp gốc rễ, ngăn chặn ngọn cành), nhưng cũng không phải là biện pháp tốt của đời thái bình”. Đến thời vua Gia Long nhà Nguyễn, trong một số sách dư địa chí như cuốn “Các tổng, trấn, xã danh bị lãm”, “Hoàng Việt dư địa chí”… cho biết tên của 36 phường.

Cụ thể, ở huyện Thọ Xương có 18 phường gồm: Yên Thọ, Hà Khẩu, Báo Thiên, Đông Hà, Đồng Xuân, Đông Tác, Đông Các, Cổ Vũ, Xã Đàn, Đồng Lạc, Thái Cực, Diên Hưng, Khúc Phố, Phục Cổ, Phúc Lâm, Kim Hoa, Hồng Mai, An Xá. Mười tám phường còn lại thuộc huyện Vĩnh Thuận là: Bích Câu, Quảng Bá, Thuỵ Chương, Yên Thái, Hoè Nhai, Tây Hồ, Nghi Tàm, Nhật Chiêu, Trích Sài, Võng Thị, Bái Ấn, Yên Lãng, Công Bộ, Thạch Khối, Hồ Khẩu, Thịnh Quang, Yên Hoa và Quan Trạm.

Vào năm Tân Mão (1831) vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách lớn, trong đó có việc phân chia và đặt tên mới theo địa giới hành chính cấp tỉnh; lúc này Thăng Long xưa được sáp nhập với một số khu vực khác thành tỉnh Hà Nội với diện tích rộng hơn, gồm 4 phủ, 15 huyện so với Thăng Long xưa.

Trong số 15 huyện của Hà Nội vẫn có 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức, 36 phố phường đều nằm trong địa phận hai huyện này. Sách “Hoàng Việt dư địa chí” in vào năm Qúy Tị (1833) cho biết như sau: “Phủ Hoài Đức, xưa là phủ Phụng Thiên có hai huyện, 13 tổng, 249 thôn phường. Huyện Thọ Xương: 18 phường. Huyện Vĩnh Thuận (xưa là huyện Quảng Đức): 18 phường”.
Trải qua thời gian và biến thiên của lịch sử, phố phường Hà Nội xưa đã thay đổi nhiều về tên gọi, số lượng cũng như diện tích nhưng một số vẫn giữ nguyên tên cũ như gợi nhắc cho những tâm hồn hoài niệm về một Hà Nội trong quá khứ.

Theo Vietnam+

KINH HOÀNG: CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM HỮU THỈNH “THAY MẶT” BAN THƯỜNG VỤ TIẾP TỤC LỪA ĐẢO HÀNG TRĂM CƠ QUAN THÔNG TẤN BÁO CHÍ KHI CÔNG BỐ SAI TÊN TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC VÀ BẰNG KHEN NĂM 2012

25 Th1
Friday, January 25, 2013

KINH HOÀNG: CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM HỮU THỈNH “THAY MẶT” BAN THƯỜNG VỤ TIẾP TỤC LỪA ĐẢO HÀNG TRĂM CƠ QUAN THÔNG TẤN BÁO CHÍ KHI CÔNG BỐ SAI TÊN TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC VÀ BẰNG KHEN NĂM 2012

 
Giải thưởng Hội Nhà văn đang nóng dần lên khi sắp đến ngày trao giải thưởng, việc ghi sai tên tác phẩm được dư luận cho rằng Ban giám khảo lười đọc, làm ẩu ghi bừa phứa. Ngay cơ quan ngôn luận Hội Nhà văn cũng đưa tin sai.

1. Báo Lao động trong bài Tác giả và tác phẩm bị coi thường (Số 19 – Thứ tư 23/01/2013 06:20) đã dẫn lời nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam: “Ông Nam cho biết, không phải đến khi nhà văn Y Ban nói toạc ra trên báo chí, mà ngay từ đầu ông đã rất bức xúc. Đầu tiên là thông tin đăng công bố những tác phẩm đoạt giải năm 2012 của nhà thơ Văn Công Hùng – thành viên của hội đồng giải. Ông Hùng tham gia chấm giải, nhưng lại viết sai cả tên sách thành “Một thế kỷ đã mất”. Khi ông điện thoại cho nhà văn Trần Trung Kỳ để nhắc ông Hùng, nhưng ông ấy tiếp tục sai khi sửa lại là “Một thế kỷ bị mất”. “Điều này minh chứng cho lời nói của Y Ban là có thành viên ban giám khảo không đọc tác phẩm, nhưng vẫn bỏ phiếu chấm giải” – ông Nam bức xúc”.

2. VnExpess trong bài Giám khảo Hội Nhà văn VN bị chỉ trích “lười đọc” , Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng, chất lượng giải thưởng đi xuống là do ban giám khảo “lười đọc”. “Lười đọc nên không phân biệt được đâu là tác phẩm hay, tác phẩm không hay. Đến tên tác phẩm còn viết sai thì làm sao có chuyện đọc kỹ được”, nhà thơ Trọng Tạo nói. Vấn đề sai sót mà Nguyễn Trọng Tạo nêu ra xảy ra ngay trong mùa giải năm nay. Trong bản tin công bố kết quả giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam hôm 16/1, tác phẩm “Thế kỷ bị mất” của nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam bị viết nhầm thành “Một thế kỷ bị mất”. Đến ngày 21/1, Hội mới ra thông báo đính chính trên website chính thức của Hội.
3. Nhà thơ Văn Công Hùng, UVBCH, thành viên Hội đồng chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn 2012 vừa có lời trên blog: “Cuối cùng thì té ra bác Phạm Ngọc Cảnh Nam từ chối nhận bằng khen của Hội Nhà Văn cho tiểu thuyết “Thế kỷ bị mất” là do chị Hoàng Tuyên gọi điện thông báo cho bác ấy (thực ra là chị Tuyên gọi để hỏi thông tin để gửi giấy mời), và do mình gõ thừa chữ Một trong tên sách của bác ấy khi hân hoan thông báo trên blog của mình. Hôm qua mình có trả lời phỏng vấn báo SGGP về việc này, đợi in xong rồi sẽ post”.

 
 
HNV tiếp tục lừa hàng trăm cơ quan thông tấn báo chí
khi đưa tin sai tên tác phẩm của Thanh Thảo và Khuất Bình Nguyên

______________

 

Tưởng chừng sự việc đã chấm dứt, việc đưa tin sai là do lỗi của “cậu đánh máy” vội vàng. Nhưng một bằng chứng không thể chối cãi khi Ban Thường vụ Hội Nhà văn và Hội đồng chung khảo giải thưởng đã dành cả ngày để họp và ra được bản THÔNG BÁO phủ nhận toàn bộ những cáo buộc của nhà văn Y Ban, khẳng định không có “lợi ích Nhóm”.

Điều kinh hoàng là, Chủ tịch Hữu Thỉnh đã thay mặt Ban Thường vụ Hội Nhà văn ký và công bố sai tên TÁC PHẢM đoạt giải thưởng văn học năm 2012.

Với các nhà văn, nhà thơ chỗ nào viết hoa, chỗ nào không viết hoa đều có sức mạnh như một Tu Ma Hốc. Thế mà Ban Thường vụ Hội Nhà văn nỡ nào lại chơi sửa tên tác phẩm đoạt giải. Nhỡ có người kiện thì sao nhỉ, dấu đỏ lòm rồi…

– Tập thơ Trường ca chân đất, của nhà thơ Thanh Thảo trở thành Trường ca Chân đất.

– Tập thơ Hoa Hoàng đàn nở muộn, của nhà thơ Khuất Bình Nguyên, biến thành Hoa hoàng đàn nở muộn.

Hậu quả là hàng trăm cơ quan thông tin báo chí tiếp tục đưa tin sai về tên tác phẩm đoạt giải thưởng và bằng khen của Hội Nhà văn VN.

Không biết, với việc không phải đứa con đẻ của mình được trao giải thưởng và bằng khen, nhà thơ THANH THẢO và nhà thơ KHUẤT BÌNH NGUYÊN có dám can đảm từ chối hay không?


TRƯƠNG CHI


(Văn chương +)

__________________________


DƯỚI ĐÂY LÀ BẢN TRÊN WEB VANVN – CƠ QUAN NGÔN LUẬN CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM TIẾP TỤC ĐƯA THÔNG BÁO CỦA BAN THƯỜNG VỤ SAI TÊN TÁC PHẨM CỦA NHÀ THƠ THANH THẢO VÀ KHUẤT BÌNH NGUYÊN

Thông báo của Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam

(Về Giải thưởng văn học năm 2012)

21-01-2013 07:41:56 PM

THÔNG BÁO

CỦA BAN THƯỜNG VỤ  HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Về Giải thưởng văn học năm 2012

Ngày 21 tháng 01 năm 2013, tại Hà Nội, theo sự uỷ nhiệm của Ban chấp hành, Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam đã tiến hành phiên họp xem xét, thông qua Giải thưởng văn học năm 2012. Tham dự phiên họp có Trưởng Ban Kiểm tra của Hội.

Sau khi nghe báo cáo của các chủ tịch Hội đồng Sơ khảo và Chủ tịch Hội đồng Chung khảo, Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam nhất trí như sau :

1/ Việc xét giải thưởng văn học năm 2012 của Hội đã được tiến hành theo đúng Quy chế giải thưởng; từ khâu nhận tác phẩm đăng ký dự giải đến quá trình xét của Hội đồng Sơ khảo và Hội đồng Chung khảo đã thực hiện đúng quy trình, thể thức và tiến độ quy định.

– Các tác phẩm dự giải năm 2012 là tác phẩm của các tác giả, dịch giả xuất bản từ 01/11/2011 đến ngày 31/10/2012, thực hiện đúng quy định của  Quy chế giải thưởng. Từ 217 tác phẩm tham dự, qua Sơ khảo đã chọn được 15 tác phẩm vào Chung khảo.

– Quá trình xét giải từ cấp Sơ khảo đến cấp Chung khảo được tiến hành công khai, dân chủ, tôn trọng mọi ý kiến khác nhau và quyết định bằng phiếu bầu.

– Các tác giả có tác phẩm dự giải không tham gia Hội đồng Sơ khảo và Chung khảo.

Kết quả làm việc các bước đều có biên bản đầy đủ, báo cáo Ban chấp hành.

– Quy chế giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam quy định: các tác giả là hội viên của Hội và chưa phải hội viên đều có quyền tham dự. Việc các uỷ viên Ban chấp hành tham dự giải là quyền và trách nhiệm của một hội viên, hoàn toàn không có cái gọi là “lợi ích nhóm”. Trong các nhiệm kỳ trước đã có nhiều nhà văn nổi tiếng trong  BCH đã được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.

– Mùa giải 2011, bắt đầu thực hiện theo Quy chế mới, nên năm 2011 phải xét cả hai năm 2010 và năm 2011. Do đó, để bảo đảm chính xác, Ban Chung Khảo bỏ phiếu hai lần, mỗi lần cho một năm.

– Trong mùa giải năm 2012, các thành viên Sơ khảo đến Chung khảo đều đọc kỹ tác phẩm, có chính kiến và bỏ phiếu bầu hợp lệ. Hoàn toàn không có cái gọi là “phiếu trắng”.

 

Theo Quy chế, giải thưởng của Hội gồm có Giải thưởng và Bằng khen của BCH Hội Nhà văn Việt Nam;

2/ Hội nghị đánh giá cao kết quả làm việc của Hội đồng Sơ khảo, Chung khảo và quyết định tặng Giải thưởng văn học năm 2012 gồm các tác phẩm sau: 

I. GIẢI THƯỞNG:  

1. Văn xuôi:

– Tập truyện ngắn Thành phố đi vắng của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ

2. Thơ:

– Tập Trường ca Chân đất của nhà thơ Thanh Thảo

– Tập thơ Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương

– Tập thơ Màu tự do của đất của nhà thơ Trần Quang Quý

3. Lý luận phê bình:

– Tập tiểu luận, phê bình văn học Đa cực và điểm đến của nhà văn Văn Chinh

II. Tặng BẰNG KHEN của BCH Hội Nhà văn Việt Nam:

1. Văn xuôi:

– Tiểu thuyết Trò chơi huỷ diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban

– Tiểu thuyết Thế kỷ bị mất của tác giả Phạm Ngọc Cảnh Nam

2. Thơ:

– Tập thơ Hoa hoàng đàn nở muộn của nhà thơ Khuất Bình Nguyên

– Tập thơ Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng.

Như vậy, Giải thưởng văn học năm 2012 của Hội Nhà văn Việt Nam gồm 5 giải chính thức và 04 Bằng khen của BCH Hội Nhà văn Việt Nam.

3/ Ban Thường vụ giao cho Ban Sáng tác tổ chức thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức lễ trao giải vào dịp đón xuân Quý Tỵ 2013.

 T/M BAN THƯỜNG VỤ

CHỦ TỊCH

 Nhà thơ HỮU THỈNH

(đã ký)

NGUYỄN VĂN THỌ: LÀ NHÀ VĂN, TA SỐNG VỚI BẠN ĐỌC, HAY LÀ TA SỐNG VỚI CÁI GIẢI THƯỞNG CỦA BẤT KỲ ĐOÀN THỂ CƠ QUAN NÀO? – VC+

25 Th1

NGUYỄN VĂN THỌ: LÀ NHÀ VĂN, TA SỐNG VỚI BẠN ĐỌC, HAY LÀ TA SỐNG VỚI CÁI GIẢI THƯỞNG CỦA BẤT KỲ ĐOÀN THỂ CƠ QUAN NÀO?

 
Mấy hôm nay lại rộ lên những ý kiến xung quanh chuyện giải Hội Nhà văn. Với nhiều điều anh nói B, chị nói C, làm tôi chả biết tin ai.


Nhưng tôi nghĩ, việc không nhận giải là chuyện bình thường, nếu thực sự tự thấy giải không xứng tầm tác phẩm của mình, có quyền từ chối, song làm ầm ĩ lên, trở nên kiện tụng hạ bệ nhau, thì đâu có phải việc của một nhà văn. Viết văn để Nhân bản hơn cơ mà, ai lại ùm xùm như thế. Là nhà văn, ta sống với bạn đọc, hay là ta sống với vài cái giải thưởng của bất kì đoàn thể cơ quan nào?
Thế nên cầm bút viết những điều tử tế và cao cả với biết sống sao cho đúng với tinh thần tử tế cao cả là việc khó lắm ru!
 
 
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ
THÁI ĐỘ NHÀ VĂN VÀ CÁC CUỘC CHƠI
 
Tôi quay lại văn chương từ 1996. Tôi từng tham dự bốn cuộc thi. Lần đầu tiên tham gia cuộc thi văn trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi không được giải gì, dù truyện ngắn lần ấy, gần đây nhất nhà văn Lê Minh Khuê vẫn tuyển vào tập những truyện ngắn hay viết về Hà Nội (Người Hà Nội). Sau đó là tham gia cuộc thi trên Tuần báo Văn nghệ và tôi đoạt giải ba truyện ngắn Vườn Maria. Lần thứ ba tôi thi trên Tạp chí văn nghệ quân đội và đoạt giải Nhì không có giải nhất. Lần thứ tư tôi thi trên báo Văn nghệ lại nhận giải Ba truyện Phố cũ. Lần thi này, có những truyện ngắn giải rất cao, song bao nay nay không ai đọc, và thực ra nhiều người thừa hiểu sự thẩm định của các nhà văn cầm chịch có hạn.
Phố cũ và truyện ngắn Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh thi lần ấy tuy nhận giải thấp song rất nhiều tuyển tập vẫn in đi in lại sau gần 8 năm trôi qua.
Những khi đi dự giải như vậy, tôi thường nghĩ như đi hội, đã chơi thì phải chấp nhận hơn thua, vì vậy dù không được giải hay được giải thấp hơn cả những tác phẩm khác, tôi vẫn mỉm cười. Và sự thật, tác phẩm nào thực sự có giá, sẽ được bạn đọc đón nhận lâu dài. Có lẽ chính điều suy nghĩ đó làm cho tôi không hậm hực và vẫn giữ vững lực bút của cá nhân, ngày viết một nhiều hơn, chưa nói là hay hơn, song rõ ràng chín hơn.
Cho tới nay, tôi từng nhận 5 giải văn chương lớn (hai giải của Hội Nhà văn), không cậy nhờ xin xỏ, chạy vạy ai. Tôi rất biết ơn các nhà văn đã từng đưa các tác phẩm của tôi lên bàn xét và trao cho các tác phẩm ấy giải thưởng dù có khi có lần đánh giá chưa đúng trong toàn cục cuộc thi. Có gì đâu, tôi hay nghĩ, tôi sáng tác vì đau khổ, vì muốn chia sẻ, tâm sự có tính đồng loại, chứ đâu phải chiến đấu vì cái giải. Chả nhẽ sự vật vã hàng ngàn đêm trắng để có khi cắt máu ra mà viết chỉ để cho cái giải, thì tôi tầm thường thế ư?
Mấy hôm nay lại rộ lên những ý kiến xung quanh chuyện giải Hội Nhà văn. Với nhiều điều anh nói B, chị nói C, làm tôi chả biết tin ai.
Nhưng tôi nghĩ, việc không nhận giải là chuyện bình thường, nếu thực sự tự thấy giải không xứng tầm tác phẩm của mình, có quyền từ chối, song làm ầm ĩ lên, trở nên kiện tụng hạ bệ nhau, thì đâu có phải việc của một nhà văn. Viết văn để Nhân bản hơn cơ mà, ai lại ùm xùm như thế. Là nhà văn, ta sống với bạn đọc, hay là ta sống với vài cái giải thưởng của bất kì đoàn thể cơ quan nào?
Thế nên cầm bút viết những điều tử tế và cao cả với biết sống sao cho đúng với tinh thần tử tế cao cả là việc khó lắm ru!
 
NHÀ VĂN NGUYỄN VĂN THỌ

Một nhà báo dấn thân – Huy Đức sẽ không đơn độc – Lương Kháu Lão

25 Th1
 24 Tháng 1

Một nhà báo dấn thân – Huy Đức sẽ không đơn độc

Là một trong những người sống gần trọn đời trong chế độ cộng sản, tôi chỉ đọc, chỉ biết những gì báo chí của Đảng viết ra . Một thời tôi đã từng say mê những bài viết của Thép Mới, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh , Hữu Thọ, Hoàng Tùng, và cả Bùi Tín nữa khi anh ta còn làm Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân phụ trách tờ Nhân dân chủ nhật . Có lúc chợt nghĩ nếu Olimpic có môn viết xã luận thì chắc chắn Việt Nam sẽ có huy chương vàng !

Sau năm 1975, một thế hệ các nhà báo trẻ xuất hiện. Họ trưởng thành ở một thành phố gặp muôn trùng khó khăn nhưng cũng mạnh mẽ trỗi dậy và đi đầu trong công cuộc đổi mới . Đó là Đỗ Trung Quân, Nguyễn  Ngọc Châu, Lê Thọ Bình, Bùi Thanh, Thủy Cúc , Lưu Đình Triều ,Tâm Chánh,  Đà Trang… ở tờ Tuổi trẻ, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thịnh, Danh Đức … ở tờ Thanh Niên ; Trong số đó người nổi tiếng nhất là Huy Đức . Tôi đã có nhiều lần cộng tác với số nhà báo trẻ sớm thành danh nói trên nhưng với Huy Đức thì chưa một lần gặp mặt. Chỉ “ gặp” anh trên các bài viết nóng hổi tính thời sự và nhân văn . Sau khi buộc phải rời các tờ báo khá mạnh bạo ở Sài Gòn, Huy Đức nổi tiếng với blog “lề trái” Osin , nhưng tôi cũng ít đọc cho tới khi Bên thắng cuộc ra đời thì nó như một quả bom nổ giữa sự nhàm chán của dư luận làm rúng động cả “quân ta” lẫn “quân địch”.

Huy Đức tung ra ánh sáng biết bao chuyện được gọi là “thâm cung bí sử” mà cả hai bên chiến tuyến, hai bên cựu thù  đều  dấu kín . Huy Đức viết những điều mà nhiều người đương thời còn “sống nhăn răng” ra đó” nên người khen kẻ chê, người phản ứng gay gắt khi chạm nọc là điều không tránh khỏi .

Với một số bà con định cư ở Quận Cam và nhiều thành phố bên nước Mỹ xa xôi, những cay đắng họ phải gánh chịu từ chuyện cải tạo tư sản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền, từ chuyện đổi tiền, chuyện vượt biên với biết bao rủi  ro và mất mát … sẽ không bao giờ nguôi ngoai sự uất hận trong lòng họ cho dù hòa bình đã hơn ba chục năm rồi và nhiều người đã lần lượt trở về quê hương đoàn tụ gia đình tìm cơ hội làm ăn, thậm chí nhiều người già trong đó có những người nổi tiếng  là tướng lĩnh là nhà chính trị trong quân đội Việt Nam cộng hòa, là văn nghệ sĩ nổi danh đã xin được về chết trên mảnh đất quê hương bởi vì như Đỗ Trung Quân đã viết khi còn là phóng viên Tuổi trẻ “Quê hương là chùm khế ngọt” . Ấy là lúc Trung Quân còn trai trẻ và tương lai của dân tộc cũng như tình yêu quê hương đất nước còn đang cháy bỏng trong trái tim anh chứ không phải của Đỗ Trung Quân chín chắn và trưởng thành như bây giờ .

Cho nên một số bà con Việt kiều dù chưa đọc một dòng Bên thắng cuộc nhưng nghe lời xúi dục của các phần tử quá khích đã đi biểu tình chống Bên thắng cuộc là một điều đáng tiếc . Nếu họ đọc , đọc thật kĩ và suy ngẫm về những điều Huy Đức nói về những “người thua cuộc” thì họ sẽ từ chối đi “biểu tình “ như vậy  . Quả thật, nhờ những thông tin mà Huy Đức cung cấp trong kho sử thi đồ xộ của đất nước trong hơn ba chục năm qua , chúng ta bây giờ mới có thể biết được vì sao Cộng sản giải phóng được Sài Gòn và toàn Miền Nam . Không chỉ là chuyện hai miền “nội chiến”” nồi da xáo thịt”  mà  có sự can dự và hưởng lợi của các nước lớn mang danh đồng minh với cả hai phía của cuộc chiến dai dẳng ba chục năm

Tất cả các câu chuyện về thành phố Sài Gòn sau giải phóng đã được Huy Đức giải mã một cách đầy đủ và chân thực . Tại sao những người chịu đau thương và mất mát trong các sự kiện kể trên lại có thể phản đối tác giả khi anh đã giúp họ nói lên một phần sự thật để phần nào nguôi ngoai nỗi đau thương dấu kín bấy lâu. Có lẽ chỉ vì chuyện Huy Đức đã mô tả rất chi tiết việc quân đội Việt Nam cộng hòa tan rã nhanh chóng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội miền Bắc chăng ? Lúc đó ở Hà Nội, tôi thắc mắc tại sao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là một vị tướng lại ra lệnh “tùy nghi di tản” dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt từ Ban Mê Thuột, đến Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng …cho đến tận Sài Gòn . Nếu chỉ bằng những thông tin trên báo chí Miền Bắc thì ta có thể suy ra rằng quân đội cộng hòa Sài Gòn là đội quân bạc nhược sau khi bị Mỹ bỏ rơi . Nhưng Huy Đức đã chỉ ra rằng có rất nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã “tử vì đạo”. Có người đã bắn chết cả gia đình sau đó tự sát như các võ sĩ Nhật Bản . Đáng lẽ người Việt phải rời quê hương ra đi phải  biết ơn Huy Đức đã cho tòan thế giới biết bên cạnh những tướng lĩnh bạc nhược vẫn có những người “anh hùng” như vậy chứ. Vậy thì cớ gì phản đối Bên thắng cuộc ?

Năm 1995, trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật nhân kỉ niệm 20 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước tôi đã viết bài “Sài Gòn 1975-1995 dưới con mắt một người Hà Nội” . Bài viết kể chuyện về ông chú vì đói thông tin đã bán hết hàng hóa ôm một đống tiền , khi chính quyền quân quản đổi tiền ông mất trắng. Trong khi người cháu là sĩ quan quân đội , là đảng viên cộng sản ngày 30-4 vào tiếp quản thành phố đã không dám đến gặp người chú vì sợ bị liên lụy. Chuyện của người anh trai của tôi với ông chú không chỉ là chuyện cá biệt trong trận chiến ba mươi năm giữa những  người cùng dòng máu đỏ da vàng , cho nên chuyện cha con Lưu Quý Kỳ và Lưu Đình Triều cũng chẳng có gì là khó hiểu và anh Triều không nên có phản ứng với người đồng nghiệp một thời cùng chung lưng đấu cật làm nên thương hiệu của tờ Tuổi trẻ . Cuộc chiến Nam Bắc không chỉ hy sinh hàng triệu nhân mạng những người con ưu tú của dân tộc mà còn là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa một bên là cộng sản một bên là cộng hòa mà cuộc chiến về ý thức hệ này còn dai dẳng đến tận bây giờ. Nếu nó không chấm dứt với một bên thắng một bên thua hoàn toàn thì sẽ không bao giờ có hòa hợp dân tộc một cách đúng nghĩa

Nếu như phần I của Bên thắng cuộc với tiêu đề “ Giải phóng” làm cho ai đó bên thua cuộc phản ứng là điều có thể hiểu được thì phần II có tiêu đề “ Quyền bính” đã và sẽ làm cho nhà cầm quyền Hà Nội, bên thắng cuộc phát điên . Bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dấu lẹm đã bị Huy Đức phơi bày . Huy Đức “khôn “ lắm, anh chỉ cung cấp thông tin có dẫn chứng người nói, dẫn chứng từ các văn bản “mật” chứ không bình luận. Tự thân các sự kiện nói lên tất cả tùy nhận thức của người đọc . Cũng không ai có thì giờ và tâm huyết đi kiểm chứng xem những thông tin Huy Đức tung ra là đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, sai bao nhiêu phần trăm. Cho nên nói như Bùi Tín rằng Huy Đức mới chỉ nói 30% sự thật là nói đại. Còn 70% nữa Bùi Tín có giỏi thì nói nốt đi. Cần biết rằng để viết Bên thắng cuộc , Huy Đức không chỉ dành 3 năm để viết và chỉnh sửa, anh đã dành gần cả trọn cuộc đời làm báo của mình để tích lũy sử liệu , để thẩm tra các dữ kiện, để phỏng vấn các nhân vật và nhờ có internet, anh đã lưu trữ được nó trong một chiếc laptop nhỏ bé để mang theo nó sang nước Mỹ rồi tung nó ra toàn cầu bằng giải pháp kĩ thuật số, điều mà ở trong nước anh không thể làm được.

Sau một thời gian im ắng, các báo trong nước chủ yếu là các tờ báo công an bắt đầu phản công Bên thắng cuộc và tác giả Huy Đức . Đọc qua một vài bài tôi thấy hình như họ viết theo sự chỉ đạo của cấp trên nên gò ép và thiếu sự thuyết phục. Những “dư luận viên” mà ông Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà Nội nói theo sự chỉ đạo của cấp trên không đủ tâm và đủ tài để chọi với các bài phản biện của các tay bút bên lề trái . Nó tương tự như bài của ông nghị Hoàng Hữu Phước viết trên blog của mình đại ý rằng một thằng nhóc mới 13 tuổi khi Sài gòn giải phóng thì biết gì mà viết nhăng viết cuội . Cái ông nghị rởm này như có bạn viết trên Facebook là đã bị ung thư dây thần kinh giai đọan cuối này làm sao có đủ trình độ và tư cách phê phán Bên thắng cuộc .

Chúng ta phải cám ơn Bên Thắng cuộc và tác giả Huy Đức đã dũng cảm giải mã biết bao sự thật ở Ba Đình . Ví dụ người có công tiến hành đổi mới đất nước là ông Trường Chinh về lí luận và ông Võ Văn Kiệt về hành động chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh với mấy bài “Những việc cần làm ngay”. Ví dụ vì sao các lãnh đạo Việt nam từ thời ông Lê Duẩn, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, ông Nông Đức Mạnh , đến ông Nguyễn Phú Trọng hôm nay đều “kiên trì” định hướng xã hôi chủ nghĩa cho dù mang tiếng là giáo điều . Bởi vì tuy Huy Đức không nói ra nhưng nếu không bám vào cái  lí thuyết không tưởng đó thì không có lí do gì tồn tại  Đảng Cộng sản mà nếu không còn Đảng thì còn đâu mảnh đất tham nhũng như ngày hôm nay . Cho nên nói chống tham nhũng mà vẫn khư khư theo đuổi định hướng XHCN một cái rất mơ hồ thì chỉ là nói chống cho vui vậy thôi. Bây giờ bên Đảng có Ban nội chính chống tham nhũng, bên chính quyền lại mới đẻ thêm Ban chỉ đạo gì đó tương tự thì chỉ là cuộc chiến giữa Đảng và Chính quyền chứ bè lũ tham nhũng vẫn phè phỡn ngoài vòng pháp luật vì các ông đang kềm chế nhau chứ có đánh gì tham nhũng đâu

Trong hai thứ những người cộng sản sợ nhất là chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Xét lại hiểu theo một cách nào đó là một sự đổi mới chủ nghĩa Maxk đã lỗi thời còn giáo điều là cố níu kéo cái đã lỗi thời đó để thể hiện mình là người trung thành tuyệt đối với lí tưởng mà thời trai trẻ mình đã mù quáng tuyên thệ . Tất cả những gì làm trái quy luật dù cố níu kéo bằng lý thuyết ma giáo hay bằng chuyên chính vô sản tàn bạo , mà tàn bạo nhất là chiến tranh đều không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của lịch sử mà lịch sử thì rất công bằng.

Nhiều thế hệ người Việt nam phải biết ơn “sử gia” Huy Đức bằng những thông tin mà anh cung cấp . Những đời tư của các nhân vật quyền thế từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Hoàng Văn Thái,  Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp , Đinh Đức Thiện , Mai Chí Thọ, Nguyễn Hà Phan, Trần Xuân Bách,  Nông Đức Mạnh … Tất cả những sự kiện hư hư thực thực kể cả chuyện Hồ Chí Minh có vợ đăng trên tờ Tuổi trẻ -lí do mà Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức và suốt đời không được làm báo , những chuyện Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng có bố có mẹ chứ không phải là con ông nọ bà  kia đều đã được Huy Đức công khai danh tính và có thể đó là lí do mà các “dư luận viên” viết theo Lề Đảng sẽ vin vào đó để kết tội Huy Đức làm lộ bí mật quốc gia và bí mật đời tư chiểu theo nghị định này nghị định nọ để có thể bỏ tù khi Huy Đức về tới sân bay Tân Sơn Nhất

Huy Đức đã không thể từ trong nước phát hành Bên Thắng cuộc, anh cũng chưa thể in thành sách . Anh lựa chọn phát hành trên mạng. Cách phát hành này có thể không mang lại cho anh nhiều tiền bạc tương xứng với công sức anh bỏ ra và giá trị của quyển sách mà anh mang đến cho độc giả nhưng bằng cách này sẽ có nhiều người trên thế giới tìm đọc quyển sách đang rất hot này. Càng có nhiều người khen kẻ chê càng có nhiều người tìm đọc. Đó là quy luật mà những người làm công tác tuyên giáo của Đảng Cộng sản rất biết nhưng họ vẫn cứ phải lên án nếu như không muốn bị cấp trên khiển trách , mắng mỏ . Và tôi nghĩ như ai đó đã từng viết rằng các lãnh đạo Việt nam, các Trung ương ủy viên, các ủy viên Bộ Chính trị càng nên đọc sách này để biết một phần sự thật mà họ chưa được biết . Biết để mà phòng thân và tránh các sai lầm khuyết điểm mà tư tưởng giáo điều đã ám ảnh họ , Trên hết ông Nguyễn Phú Trọng cần đọc quyển sách này . Và nếu là người thực sự cầu thị, thì ông phải khuyến khích các đảng viên của ông cùng đọc mới đúng . Và tôi tin lịch  sử sẽ rất công bằng với Huy Đức, một nhà báo dấn thân.

Lương Kháu Lão

Phản ứng của Việt Nam về vụ kiện ‘đường 9 đoạn’

25 Th1

Phản ứng của Việt Nam về vụ kiện ‘đường 9 đoạn’

 Các quốc gia có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phù hợp với Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982.

Philippines đưa TQ ra tòa vì tranh chấp biển

Ngày 24/1, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Philippines chính thức khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài được thành lập theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Chiến nêu rõ:

“Lập trường nhất quán của Việt Nam là các vấn đề liên quan đến Biển Đông cần phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển 1982. 

 

Ảnh do hải quân Philippines cung cấp ngày 18/4/2012: Các ngư dân nước ngoài bị hải quân Philippines ngăn chặn ngoài bãi cạn Scarborough

Việt Nam cho rằng các quốc gia hoàn toàn có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phù hợp với Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982″.

Cũng trả lời câu hỏi của phóng viên về việc vừa qua Tân Hoa Xã và Nhân dân Nhật báo đưa tin Cục Đo vẽ bản đồ quốc gia Trung Quốc công bố đã hoàn thành và dự kiến cho phát hành “Bản đồ toàn quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” và “Bản đồ địa hình Trung Quốc” khổ dọc mới vào cuối tháng 1 này, trong đó vẽ yêu sách “đường 9 đoạn” (hay còn gọi là “đường lưỡi bò”) và các đảo, đá, bãi ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, ông Nguyễn Duy Chiến khẳng định:

“Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở Biển Đông theo Công ước LHQ về Luật Biển 1982.

Mọi bản đồ thể hiện thông tin sai lệch về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông là phi pháp và vô giá trị”.

Theo Vietnam+  

Bộ trưởng ngoại giao VN nói về biển Đông – BBC

25 Th1

Bộ trưởng ngoại giao VN nói về biển Đông

Cập nhật: 13:02 GMT – thứ năm, 24 tháng 1, 2013

Media Player

 

Ông Phạm Bình Minh trả lời phỏng vấn của BBC về chính sách ngoại giao của Việt Nam đối với tranh chấp trên Biển Đông.

Xemmp4

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh gọi chuyến thăm Anh quốc của ông Nguyễn Phú Trọng là “chuyến đi lịch sử” vì là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Cộng sản tới thăm Anh.

Ông Phạm Bình Minh cho rằng, chuyến đi này sẽ nâng mối quan hệ giữa hai quốc gia lên mọi mặt, “từ chính trị, kinh tế, thương mại, và đặc biệt là lĩnh vực giáo dục đào tạo”.

“Vấn đề ở trên Biển Đông đó là vấn đề Việt Nam mong muốn duy trì hòa bình, ổn định và việc giải quyết phải dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, Luật Biển 1982,” theo ông Phạm Bình Minh.

Việt Nam học gì từ vụ Philippines kiện Trung Quốc? – BS

25 Th1

BBC tiếng Việt

Việt Nam học gì từ vụ Philippines kiện Trung Quốc?

Cập nhật: 14:00 GMT – thứ năm, 24 tháng 1, 201

Dương Danh Huy và Phạm Thanh Vân

1

Các tranh chấp liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa, bãi cạn Scarborough và Biển Đông đã tồn tại từ lâu, nhưng việc Philippines khởi kiện Trung Quốc trước một Tòa Trọng tài được thiết lập theo UNCLOS là lần đầu tiên một nước khởi kiện một nước khác trước trọng tài quốc tế.

 

Vì thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS không giải quyết tranh chấp chủ quyền đảo, và vì Trung Quốc đã bảo lưu không chấp nhận thủ tục này cho tranh chấp phân định biển, câu hỏi trước tiên là Tòa có thể phán quyết gì về hồ sơ của Philippines không?

Chìa khóa của Philippines để khắc phục sự trốn tránh luật pháp của Trung Quốc là thiết kế hồ sơ sao cho Tòa không phải giải quyết tranh chấp chủ quyền đảo, mà cũng không phải phân định biển.

Việc đưa tranh chấp ra tòa là một bước tiến cho việc sử dụng luật quốc tế mà Việt Nam có thể rút kinh nghiệm. Nỗ lực của Philippines để khắc phục sự trốn tránh luật pháp của Trung Quốc là một sự sáng tạo mà Việt Nam cũng có thể rút kinh nghiệm.

Nhưng hồ sơ của Philippines có thể vượt qua được sự trốn tránh luật pháp đó hay không, và Tòa có thẩm quyền để, hay có đồng ý, phán quyết như Philippines mong muốn hay không, thì còn là câu hỏi.

Tuân thủ UNCLOS

Thông báo khởi kiện của Philippines đưa ra 13 điểm, bao gồm yêu cầu Tòa phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc phải tuân thủ UNCLOS, nhằm cản trở lập luận dựa trên “quyền lịch sử” mà Trung Quốc có thể toan dùng, và những điểm chính sau.2

Điểm 2: Các yêu sách biển của TQ đựa trên đường lưỡi bò là không phù hợp với UNCLOS và không có giá trị

Điểm yếu của Philippines ở đây là Trung Quốc chưa hề tuyên bố chính thức rằng các yêu sách biển của họ ở Biển Đông là dựa trên đường lưỡi bò.

Trung Quốc có thể tuyên bố rằng các yêu sách biển của họ là dựa trên UNCLOS, dựa trên quan điểm các đảo, hay một số đảo, thuộc Hoàng Sa, Trường Sa được hưởng đầy đủ các cơ chế vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Tòa có sẽ cho rằng không có đảo nào được hưởng cơ chế EEZ? Khả năng đó là thấp. Tòa có sẽ cho rằng EEZ của các đảo này không thể vươn ra đến vị trí của các “yêu sách biển của TQ đựa trên đường lưỡi bò”?

Tòa có thể làm điều đó cho đoạn đường lưỡi bò trong khu vực Scarborough-Luzon, cách Hoàng Sa, Trường Sa hơn 200 hải lý. Nhưng cho các khu vực khác gần hai quần đảo này hơn thì không chắc là Tòa có thẩm quyền để làm điều đó, hay sẽ đồng ý. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc dùng lập luận này thì lập luận dựa trên “quyền lịch sử” sẽ bị loại bỏ.

Như vậy, điểm này có thể được Tòa công nhận và vô hiệu hóa đường lưỡi bò trong khu vực Scarborough-Luzon, nhưng không chắc được Tòa công nhận cho những khu vực khác.

Dù sao đi nữa, điểm này có khả năng làm sáng tỏ về cơ sở của các yêu sách biển của Trung Quốc, và có thể là một cái bẫy để triệt tiêu khả năng Trung Quốc dùng lập luận dựa trên “quyền lịch sử”.

3Điểm 4: Đá Vành Khăn (Mischief) và đá Ken Nan (McKennan) không phải là đảo mà là một phần của thềm lục địa của Philippines

Điểm 6: Đá Ga Ven (Gaven) và đá Xu Bi (Subi) không phải là đảo và không nằm trên thềm lục địa của Trung Quốc, và vì vậy xây cất của Trung Quốc tại đó là bất hợp pháp

Toà có thể công nhận là đá Vành Khăn, Ken Nan, Ga Ven, Xu Bi không phải là đảo (nếu sự thật là đá Ken Nan và Ga Ven là thấp hơn mức thủy triều cao).

Nhưng để công nhận là đá Vành Khăn, Ken Nan là một phần của thềm lục địa của Philippines, hay xây cất của Trung Quốc tại đá Ga Ven, Xu Bi là bất hợp pháp, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ, hay EEZ của các đảo này không vươn ra đến các đá trên. Không chắc Tòa sẽ làm điều thứ nhất, và không chắc Tòa có thẩm quyền để làm điều thứ nhì.

Hai điều này có ảnh hưởng đến Việt Nam. Việt Nam phải xác định đá Ken Nan và Ga Ven có cao hơn mức thủy triều cao hay không, và quyết định quần đảo Trường Sa có EEZ vươn ra đến bốn đá này hay không. Nếu có, Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp.

Điểm 8: Bãi cạn Scarborough, đá Gạc Ma (Johnson), Châu Viên (Cuateron) và Chữ Thập (Fiery Cross) là đá, không được hưởng cơ chế EEZ cách các đá này hơn 12 hải lý, và việc Trung Quốc đòi biển cách các đá này hơn 12 hải lý một cách bất hợp pháp

Rất có thể là Tòa sẽ công nhận rằng bãi cạn Scarborough, đá Gạc Ma (nơi Trung Quốc tàn sát binh lính Việt Nam năm 1988), Châu Viên và Chữ Thập là đá và không có EEZ.

Nếu vậy, Tòa sẽ công nhận rằng việc Trung Quốc đòi biển cách Scarbrough hơn 12 hải lý là bất hợp pháp.

Nhưng để công nhận rằng việc Trung Quốc đòi biển cách đá Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập hơn 12 hải lý cũng là bất hợp pháp, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ, hay EEZ của các đảo này không vươn ra đến các đá trên. Không chắc Tòa sẽ làm điều thứ nhất, và không chắc Tòa có thẩm quyền để làm điều thứ nhì.

Việt Nam phải xác định rằng đá Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập có được hưởng cơ chế EEZ hay không. Nếu cho là có, Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp để khẳng định quyền lợi.4

Điểm 9: Trung Quốc không được cấm Philippines khai thác tài nguyên trong vùng nước lân cận với bãi cạn Scarborough và đá Gạc Ma, cũng như phải chấm dứt các hoạt động không phù hợp với Công ước trong vùng kế cận những bãi cạn và đá này

Philippines không nói rõ khái niệm “vùng nước lân cận” và vùng “kế cận” là gì. Nếu đó là lãnh hải 12 hải lý thì Tòa sẽ không có thẩm quyền để cho rằng bãi cạn Scarborough và đá Gạc Ma là của nước nào, và sẽ không thể công nhận điểm này.

Điểm 10: Philippines được hưởng 12 hải lý lãnh hải, 200 hải lý EEZ cùng với thềm lục địa tính từ đường cơ sở quần đảo

Nếu không có chồng lấn thì sẽ không có vấn đề gì cản trở Philippines được hưởng các vùng biển trên. Nhưng thực tế là EEZ và thềm lục địa của Philippines có chồng lấn với lãnh hải 12 hải lý của các đảo, đá Trường Sa. Nếu quần đảo Trường Sa có đảo có EEZ thì sẽ có thêm chồng lấn với EEZ của các đảo này.

Để công nhận là Philippines được hưởng các vùng biển trên mà không có chồng lấn với EEZ thuộc Trường Sa, Tòa phải cho rằng những đảo như Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc và Trường Sa Lớn không có EEZ. Không chắc Tòa sẽ làm điều đó.

Việt Nam phải quyết định đảo nào của quần đảo Trường Sa có EEZ, và nếu có đảo có EEZ thì Việt Nam phải yêu cầu Tòa cho mình can thiệp để bảo vệ EEZ đó.

Câu hỏi tiếp

5Philippines đã thách Trung Quốc ra một trọng tài quốc tế từ năm 2011. Sau khi Trung Quốc không hưởng ứng, Philippines đã tuyên bố sẽ đơn phương đưa quan điểm của mình ra một Tòa Trọng Tài của UNCLOS, và cuối cùng họ cũng đã làm điều đó.

Đó là một bước tiến quan trọng cho việc thật sự sử dụng luật quốc tế cho các tranh chấp tại Biển Đông, thay vì chỉ nói xuông về luật quốc tế. Hành động của Philippines cho thấy họ không bị trói buộc vào đàm phán với Trung Quốc.

Khi Trung Quốc không thực tâm đàm phán, Philippines sẵn sàng yêu cầu một trọng tài quốc tế phân xử. Đó là những điều Việt Nam cần rút kinh nghiệm.

Thế nhưng, theo tuyên bố khởi kiện thì hồ sơ của Philippines có vẻ yếu trong nhiều điểm, trừ cho vùng EEZ trong khu vực Scarborough-Luzon. Có thể là chiến thắng pháp lý trong khu vực đó là tạm đủ cho Philippines.

Có thể là mục đích của Philippines là làm sáng tỏ về các yêu sách của Trung Quốc và để triệt tiêu những lập luận dựa trên “quyền lịch sử” mà Trung Quốc có thể toan dùng, nhằm sẽ tấn công tiếp trong tương lai. Nhưng như thế cũng đem lại nhiều rủi ro. Trung Quốc sẽ lợi dụng mỗi điểm của Philippines không được Tòa công nhận để tuyên tuyền tối đa cho các yêu sách của họ.

Ngoài ra, theo thông báo khởi kiện thì hồ sơ của Philippines có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của Việt Nam, tùy theo Việt Nam xác định quyền lợi của mình bao gồm những gì.

Vì vậy, hành động của Philippines đặt Việt Nam vào vị trí phải xác định quyền lợi và yêu sách của mình bao gồm những gì, để có thể quyết định phải phản ứng thế nào, thí dụ như yêu cầu Tòa cho mình can thiệp.

Không rõ Việt Nam có sẵn sàng để xác định về quyền lợi và yêu sách của mình chưa, nhưng việc xác định đó không phải là điều xấu, và không sớm thì muộn Việt Nam cũng phải làm.

Bài thể hiện quan điểm của hai tác giả, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Nguồn: BBC tiếng Việt

%d bloggers like this: