Lưu trữ | 8:10 Sáng

PHAN KHÔI BỊ 3 NĂM TÙ VÌ BÀI THƠ “DÂN QUẠ ĐÌNH CÔNG” – Nguyentrongtao

26 Th1

PHAN KHÔI BỊ 3 NĂM TÙ VÌ BÀI THƠ “DÂN QUẠ ĐÌNH CÔNG”

 
Quantcast
Vợ chồng nhà văn Phan Khôi

Vợ chồng nhà văn Phan Khôi

Phan Khôi có án 3 năm tù trong thời thực dân Pháp đô hộ, thì nhiều người biết, nhưng lý do, hình như  ít người biết rành rẽ  bằng nữ sĩ PHƯƠNG LAN (vợ nhà báo Bùi Thế Mỹ – 1908-1943) kể lại trong sách  NGUYỄN AN NINH 1899 – 1943 -NHÀ CÁCH MẠNG.

(Saigon, 1970, không đề tên nhà xuất bản, chỉ ghi giấy phép của Sở PHNT/ Bộ Thông tin VNCH cấp, số 4587 / ngày 15-10-1970).

Thực ra,  cách viết  sách sưu soạn còn lộn xộn;  nhưng  tư liệu  thì đầy ắp về đời tranh đấu sống động, cam go, mưu lược, chịu nhục khổ hình của Nguyễn An Ninh, và đề cập nhiều nhân vật khác liên hệ: Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Phan Long, Bảo Lương – Nguyễn Trung Nguyệt, Hồ Hữu Tường, v. v.. .

Phương Lan – BÙI THẾ MỸ viết:
” …. Người ta chỉ nhắc đến bài thơ TÌNH GIÀ, một điệu thơ mới của ông…  còn bài DÂN QUẠ ĐÌNH CÔNG không một sách nào biết đến…
Ông Phan Khôi  thời đó còn là một nho sĩ chưa tên tuổi, thấy sự kiện đau lòng, tức tối, nhưng chẳng biết làm gì, nói gì, nên tức sự làm một bài thơ đăng báo mỉa mai sư kiện ấy (…)  Sau khi đăng tải lên rồi, ông bị bắt, cầm  tù  cũng khá lâu, chung một khám với Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhân sĩ khác”.

ĐƯỜNG BÁ BỔN
Saigon, Jan. 6, 2013
.

DÂN QUẠ ĐÌNH CÔNG

PHAN KHÔI

Mồng bẩy tháng bẩy năm Canh Thân (1920)
Chiếu lệ  bắc cấu qua sông Ngân
Hằng hà sa số cu-li quạ
Bay bổng về trời đường chảy quân
Hai bên bờ sông đậu lốc ngốc
Con thì kêu đói, con kêu nhọc
Bỗng nghe lịnh trời truyền khởi công
Nào con đầu cúi, con lưng còng
Thêm thầy Lý Bẻo đứng coi việc
Đụng đâu đánh đó, như bao bông
Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt
Làm có ăn không, chết cho chết !
Cần có kêu Trời, Trời chẳng nghe
Một con bay lên đứng diễn thuyết: *
Hỡi đồng bào nghe tôi nói đây !
Dân quyền thạnh nhất là đời nay
Việc mà chẳng phải việc công ích
Không ai có phép đem dân đày
Trối kệ Hoàng Ngưu với Chúc Nữ
Qua được thời qua không thời chớ ?
Quốc dân ô thước tội tình gì ?
Mà bắt  xâu bơi làm khổ sở
Anh em ta, hề, về quách thôi !
Luôn thể kéo nhau vào cửa Trời
Động trống đăng vân, ầm đế tọa
Ngai vàng bệ ngọc rung rinh rơi
Nghe tin dân Quạ nổi cách mịnh
Đường xa xa xuôi, việc nặng nề
Phần lũ con thơ, ở nhà  khóc
Trời sai Thiên Lôi ra thám thính
Đầu đen, máu đỏ quyết hy sinh
Ngừng búa Thiên Lôi không dám đánh
Năm nay bỗng thấy chiếu Trời ra
Đánh chữ đại xá trời ban tha
Dân quạ ở đâu về ở đó
Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà

Ờ té ra :

Mềm thì ai  cũng cắn
Rắn thì trời cũng nhả
Hàng hà sa số cu li quạ
Bay về hạ giới kêu KHÁ ! KHÁ !

______

* Huỳnh Tân là một nông dân đứng đầu diễn thuyết chống thuế nặng, làm xâu – bị Pháp hạ sát. Trương Tuần làm bài văn truy điệu rất hay thời bấy giờ.
(Chú thích của PHƯƠNG LAN – BÙI THẾ MỸ )

Nguồn Blog Thế Phong

TÔI KHÔNG TIN LÊ ANH HÙNG CÓ VẤN ĐỀ VỀ TÂM THẦN – Hùynh Ngọc Chênh

26 Th1

TÔI KHÔNG TIN LÊ ANH HÙNG CÓ VẤN ĐỀ VỀ TÂM THẦN

 
                                                                                                       Nguyễn Đình Ấm

   Tôi không hề quen biết hoặc có kỷ niệm gì với Lê Anh Hùng (LAH) nhưng nghe tin anh bị bắt đưa về trại tâm thần Hà Nội, một sự lo lắng lập tức xâm chiếm tâm trí tôi.

 

   Cách đây cỡ hai năm tôi biết đến cái tên LAH khi đọc một số đơn tố cáo của anh trên mạng. Đặc biệt những tố cáo này lại nhằm vào một số quan chức “đỉnh” của đảng và nhà nước trong khi người tố cáo lại đề rõ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân… Đặc biệt hơn nữa, những tố cáo của LAH về những tội phạm ít ai có thể tin lại có ở những người bị tố cáo. Đã đành, ở xứ ta thì “điều gì cũng có thể xẩy ra” nhưng do vụ tố cáo của LAH hơi cá biệt như thế nên buổi đầu tôi cũng bán tín, bán nghi về thần kinh của LAH. Khi trao đổi với nhiều người về vấn đến này tôi cũng gặp số lượng không nhỏ khẳng định có lẽ LAH bị bệnh hoang tưởng bởi theo họ thì không thể có những tội kinh khủng thuộc về những đối tượng cũng “khủng” như thế.

   Tuy nhiên, càng về sau tôi càng tin LAH không thể bị vấn đề về tâm thần, ngược lại là con người rất thông minh, nhân hậu, có kiến  thức kinh điển cũng như thực tế rất phong phú, tính nết điềm đạm, chững chạc…khi đọc các bài viết về nhiều thể loại, lĩnh vực, đặc biệt khi  gặp LAH. Các bài viết của LAH nghiêm túc, chững chạc, khúc triết, mạch lạc, sâu sắc. Đặc biệt, những nhận định của LAH về chính trị, kinh tế, xã hội rất sắc xảo. LAH cũng có năng khiếu về văn chương. Cách đặt vấn đề, diến giải nội dung cần thể hiện tác phẩm của anh tinh tế, hấp dẫn…Nghe nói anh còn có nhiều cuốn sách dịch chất lượng cao (tôi chưa được đọc sách dịch của LAH)…Một bộ óc bình thường cũng ít người có thể tư duy, viết được như thế chứ chưa nói là bộ óc bệnh hoạn. Đặc biệt, lần đầu tiên tôi gặp LAH hôm về Văn Giang “ăn theo” suất mời của dân dành cho các đại biểu quốc hội(nhưng không ai hưởng). Hôm ấy tôi mới gặp nhiều người đã biết tên tuổi từ lâu nhưng chưa bao giờ gặp như bà Lê Hiền Đức, Nguyễn Hữu Vinh, JB Nguyễn Hữu Vinh, nhà báo Đoan Trang, đại tá Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Văn Cung, TS Nguyễn Quang A, TS Đào Tiến Thi, Nguyễn Xuân Diện…và đặc biệt là LAH. Khi hai anh Vinh mời tôi làm kiểu ảnh kỷ niệm, anh Vinh kéo thêm một người đầu cua, dáng hơi mập phúc hậu đứng gần đó vào chụp chung. Tôi hỏi mới biết đó là LAH. Tôi bắt chuyện thì thấy Hùng rất khiêm tốn, điềm đạm, sâu sắc, đặc biệt có lòng thương cảm với người dân Văn Giang. Hôm đó ai về đây có lẽ chỉ với động cơ duy nhất là để hiểu rõ sự tình của người dân nơi đây rồi cảm thông, chia sẻ với họ. Tôi thấy buổi đó LAH truyện trò, hỏi han với nhiều người dân và có bài rất sớm khi trở về…
   Trong cuộc sống không ít trường hợp những người có cá tính mạnh mẽ, làm những việc không phải ai cũng làm thường bị cho là lập dị, “hâm”, thần kinh, “chập”…Chính người viết bài này những năm 1995-1998 đã bị nhiều cán bộ, nhân viên ngành HKVN và an ninh kinh tế theo dõi ngành công khai cho là “hâm” khi ngăn chặn, “phá thối” nhiều vụ tham nhũng ở ngành này. Theo họ, đó là việc “cầm đũa chống trời”,chỉ có những người hâm, “chập” mới làm những việc “dã tràng se cát”, không có lợi gì cho mình mà ngược lại chỉ có hại, có khi còn bị mất mạng…Khi ấy nhiều đồng nghiệp, người thân cũng chân thành góp ý việc “cản phá” các phi vụ của lãnh đạo cỡ lớn trực tiếp nắm  vận mệnh của mình là “hâm”, là “ tự sát”…. Sau đó, quả nhiên tôi bị khởi tố, khám xét nhà cửa, thẩm vấn, hỏi cung suốt mấy tháng trời, suýt bị vào nhà đá thật.
   Hiện nay trên cõi VN cũng đang diễn ra những sự ngược đời “châu chấu đá xe, muỗi đốt inox…” như thế: Anh em nhà Vươn với thùng ga, khẩu súng hoa cải dám chống lại chính quyền Hải Phòng có lực lượng tổng hợp đủ các quân, binh chủng trang bị vũ khí “đến tận răng”, Cù Huy Hà Vũ đi kiện thủ tướng, dân Văn Giang dám cãi “thiên đình”,…Nay vụ LAH cũng gần như vụ của TS Cù Huy Hà Vũ, gửi đơn tố cáo VIP thứ 67 đến các cơ quan thẩm quyền, đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc… Vậy tại sao không đem những chuyện LAH tố cáo làm rõ xem sao? Sự thật chỉ có một: Nếu LAH sai thì phải làm rõ, đưa ra tòa xử. Ngược lại nếu LAH tố cáo đúng thì phải công khai xử lý chứ, sao một nhà nước mà P.chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan gọi là “dân chủ gấp vạn lần tư bản” mà lại cứ “ngâm” vụ tố cáo nghiêm trọng như thế bấy nhiêu năm trời? Chính điều này càng làm cho tôi cũng như nhiều người khác không tin LAH có vấn đề về thần kinh.
  Tôi rất mong cơ quan thẩm quyền làm rõ những tố cáo của LAH, đặc biệt mọi việc xử lý với anh đều phải công khai, luôn có luật dư bảo hộ theo đúng pháp luật. Nếu vẫn nghi LAH có vấn đề về tâm thần thì phải yêu cầu cơ quan chuyên môn đáng tin cậy (tốt nhất là cơ quan y tế quốc tế), kiểm tra công khai, có giám sát của gia đình, người thân, bạn bè… để bảo đảm khách quan.
                                         NĐA (Tác giả gởi trực tiếp đến blog nầy)

Đường link đến blog LÊ ANH HÙNG

Đọc thêm thông tin trên trang Ba Sàm

 
15h – Blogger Thành phản hồi về tình hình blogger Lê Anh Hùng: “Một nhóm anh chị em NO-U vừa vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội II lúc 8h sáng để hỏi thăm Lê Anh Hùng. May quá gặp giám đốc là anh Vượng, hỏi được thông tin chi tiết về việc này như sau : Anh Vượng nói: Có đơn cùa mẹ Hùng, có quyết định của Phòng lao động TBXH quận Thanh xuân, chiều qua họ nhận Hùng vào đây, chưa tiêm hay cho thuốc gì. Tình trạng của Hùng bình thường. Ai muốn biết rõ hơn thì gọi về Trung tâm hỏi anh Vượng. Hiện tại tung tích người xưng là mẹ anh Hùng không xác định được, Trung tâm cũng không đưa được các giấy tờ liên quan tới việc này ra. Lúc bị bắt, anh Hùng chỉ mặc một bộ quần áo mỏng và hoàn toàn tỉnh táo. Anh Chí bình luận trên FB:
‘Không người mẹ nào lại viết đơn ĐỀ NGHỊ đưa con trai của mình đang khỏe mạnh, minh mẫn vào TRẠI TÂM THẦN cả. Chỉ có LŨ TÂM THẦN mới ngụy biện ra cái TRÒ TÂM THẦN ấy. Thả ngay Lê Anh Hùng ra. Tổ sư nhà chúng mày!’“
 

3 nhận xét:

  1. Có tật giật mình, có lẻ thế lực khác muốn đem chuyện thủ tướng NTD ra công luận. Những lá đơn tố cáo của anh LAH sẽ được đưa ra ánh sáng của công luận thế giới và trong nước.

    Trả lờiXóa

     
     
  2. Nếu cần phải vào trại tâm thần thì chỉ cần gia đình và bác sĩ là đủ . tại sao công an lại phải tham gia đây đâu phải là việc của CÔNG AN

    Trả lờiXóa

     
     
  3. Đây là trò quen thuộc của công an Liên xô trước đây. Biết bao nhiêu học giả, trí thức, nhà khoa học đã bị làm cho thân tàn ma dại. Tội ác chống lại loài người, cần tố cáo mạnh mẽ!

    Trả lờiXóa

     
     

Công ty Ý chuẩn bị khai thác dầu ở VN – BBC

26 Th1

Công ty Ý chuẩn bị khai thác dầu ở VN

Cập nhật: 12:10 GMT – thứ sáu, 25 tháng 1, 2013

Việt Nam đang tìm cách thu hút các tập đoàn nước ngoài đến hợp tác khai thác dầu khí trong khu vực nước này tuyên bố chủ quyền

Công ty ENI của Ý cho biết sẽ bắt đầu khoan thử nghiệm ở một lô ngoài khơi của Việt Nam vào tháng Sáu năm nay, Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) nói trong một công bố vào thứ Năm ngày 25/1.

Đây là một phần trong chiến lược mở rộng hoạt động tại Đông Nam Á của công ty này.

 

ENI đã được phía Việt Nam cho quyền tham gia khai thác ở các lô 114,120 và 105-110/04.

Tuy nhiên PetroVietnam chưa cho biết chính xác lô nào sẽ được khoan vào tháng Sáu.

Vài ngày trước, PetroVietnam cho biết đã ký với ENI về hợp tác phát triển hoạt động kinh doanh tại Việt Nam và ở nước ngoài, trong đó có các quốc gia như Venezuela và Mozambique.

Thỏa thuận được ký giữa giám đốc điều hành công ty ENI, Paolo Scaroni và chủ tịch và giám đốc điều hành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, ông Đỗ Văn Hậu ở Rome sau cuộc gặp mặt giữa Thủ tướng Ý Mario Monti với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Ngoài các lô nói trên, ENI cũng quan tâm đến lô M2 ở Miến Điện cũng như các đầu tư liên quan đến cơ sở hạ tầng phục vụ khí đốt ở Việt Nam.

 

Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa – BBC

26 Th1

Quan hệ Trung Việt trước trận Hoàng Sa

Lý Hiểu Binh

Gửi tới BBC từ Hoa Kỳ

Cập nhật: 16:50 GMT – thứ tư, 23 tháng 1, 2013

Từ 1968, Mao Trạch Đông và Lâm Bưu nói đến ‘mối đe dọa’ từ Liên Xô

Tiếp tục loạt chuyên đề về Hoà đàm Paris 1973, BBC xin giới thiệu bài của Giáo sư Lý Hiểu Binh từ Đại học Central Oklahoma trả lời câu hỏi của BBC Tiếng Việt và Tiếng Trung từ London về bối cảnh quan hệ Bắc Kinh với Moscow và Hà Nội từ 1968.

Giáo sư Lý Hiểu Binh, tác giả các cuốn sách và bài viết về quân đội Trung Quốc, cũng trình bày lại cách nhìn từ Bắc Kinh về trận hải chiến Hoàng Sa 1974.

Quan hệ Trung Xô đổi hướng

 

Vào ngày 31/3/1968, Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố tạm ngưng ném bom miền Bắc Việt Nam để bày tỏ một thiện chí hòa bình, và đã nhận được phản hồi tích cực từ Hà Nội qua tuyên bố ngày 4 tháng 4 rằng họ sẵn sàng thảo luận với người Mỹ.

Trung Quốc chỉ biết về chuyện Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam (DRV) đàm phán với nhau mãi về sau này. Vào khoảng tháng 4 và 5, Bắc Kinh bắt đầu phê phán Hà Nội đi theo Moscow. Sau khi đàm phán tại Paris bắt đầu ngày 13/5/1968, Trung Quốc vẫn tiếp tục chỉ trích Bắc Việt nói chuyện với Hoa Kỳ. Ngày 31/10, Tổng thống Johnson ngưng oach tạc Bắc Việt cả trên đất liền và vùng ven biển. Trong lúc Bắc Kinh kiềm chế không tham gia hội đàm Paris thì Moscow, trái lại, luôn hào hứng ủng hộ đàm phán. Bắc Việt Nam bắt đầu dịch chuyển lại gần Liên Xô.

Cùng thời gian ban lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu cảm thấy có bằng chứng rằng Hoa Kỳ đã là cường quốc mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam, trong khi Liên Xô lại chiếm ngay ‘khoảng trống quyền lực’ đó và bắt đầu thay chân Mỹ để thành ‘đế quốc xâm lăng’. Trung Quốc và các nước châu Á khác dễ trở thành mục tiêu của ‘chủ nghĩa đế quốc Xô Viết’. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Nguyên soái Lâm Bưu và cộng sự coi Liên Xô là mối đe dọa trực tiếp hơn Hoa Kỳ.

Quan niệm của Lâm Bưu được các cấp chỉ huy và binh sỹ Quân Giải phóng tán đồng vì họ trực tiếp chứng kiến sự thù địch gia tăng của Liên Xô với Trung Quốc. Trong cuộc xâm lăng Tiệp Khắc năm 1968, quân Liên Xô đã tràn vào Đại sứ quán Trung Quốc ở Praha, tập phá và đánh tàn bạo các nhà ngoại giao Trung Quốc. Khi căng thẳng hai bên lên cao, Liên Xô triển khai một số lượng lớn quân đội dọc biên giới Trung – Xô, từ 17 tăng lên tới 27 sư đoàn vào cuối 1968.

Chu Ân Lai cũng từng nói thẳng với Phạm Văn Đồng vào ngày 29/4 rằng: “Nay Liên Xô đang bao vây Trung Quốc và vòng vây đó đã gần trọn, chỉ còn phía Việt Nam là chưa.” Lâm Bưu ra lệnh cho Quân Giải phóng sẵn sàng chiến đấu chống trả Liên Xô một khi có xâm nhập.

“Hai ông Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai ở Hà Nội năm 1960. Ông Hồ đã mời Trung Quốc cử quân đội sang Bắc Việt Nam hỗ trợ nỗ lực chiến tranh”

Các nhà nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có một sự thay đổi chiến lược trong tư duy của Trung Quốc năm 1968. Vì coi Liên Xô là mối đe dọa hàng đầu, Trung Quốc cho rút quân khỏi Việt Nam mà trước đó họ sang theo lời mời của ông Hồ Chí Minh để đề phòng bị tấn công từ phía Bắc. [Trên thực tế] liên minh cộng sản ở Đông Nam Á coi như tan rã.

Ngày 17/11/1968, Mao nói với Thủ tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng rằng một số đơn vị Trung Quốc sẽ rút về nước và Trung Quốc “sẽ gửi quân trở lại nếu người Mỹ quay lại”.

Vào tháng 3/1969, theo thỏa thuận giữa hai quân đội, Quân Giải phóng bắt đầu rút về, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân, xuống không còn đơn vị phòng không nào ở Bắc Việt Nam vào tháng 7/1970.

Trong thời gian ở Việt Nam, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tham gia 2153 trận, bắn rơi 1707 máy bay Mỹ và làm hư hại 1608 chiếc trong trận Sấm Rền (Rolling Thunder) hay ‘Chiến tranh phá hoại miền Bắc’ theo cách gọi của Hà Nội.

Liên Xô thay dần Trung Quốc

Từ đầu tháng 3/1969 bắt đầu có va chạm dọc biên giới Trung – Xô. Các vụ bắn nhau xảy thường xuyên trong cả năm, và hai nước ở vào thế sắp lâm chiến. Sang đầu năm 1970, Liên Xô triển khai tới 48 sư đoàn, bằng gần một triệu quân dọc đường biên. Có tin rằng lãnh đạo Liên Xô tính cả đến cách dùng vũ khí nguyên tử để ‘đánh phủ đầu’ Trung Quốc. Hậu quả của tình hình đó là Quân Giải phóng tăng cường lực lượng lên tới tổng số sáu triệu quân, cao nhất trong lịch sử của họ.

Một tài liệu của CIA 12/8/1969 dự báo rằng:

“Gần như căng thẳng Trung – Xô sẽ không thể nào giảm trong vòng hai ba năm tới. Vì quyền lợi quốc gia xung đột nhau, vì sự cạnh tranh nhằm lãnh đạo phong trào cộng sản quốc tế, và sự lo sợ có thực về ý định của nhau sẽ khiến việc tiếp cận gần gũi không thể xảy ra. Vấn đề biên giới cũng sẽ không dễ giải quyết.”

Sau khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam và giảm viện trợ cho Hà Nội, Liên Xô ngay lập tức bù vào chỗ trống và còn tiếp tục hỗ trợ kinh tế, quân sự cho Bắc Việt Nam. Từ 1969 đến 1971, Moscow ký bảy hiệp định viện trợ cho Hà Nội. Năm 1972, Liên Xô tiếp tục tăng cường hệ thống phòng thủ bằng tên lửa ở Bắc Việt Nam.

Điều thú vị là các lãnh đạo Trung Quốc cũng khuyến khích phía Việt Nam yêu cầu thêm viện trợ từ Liên Xô. Chẳng hạn như Nguyên soái Diệp Kiếm Anh đã nói với Thứ trưởng Ngoại thương Bắc Việt Nam, ông Lý Ban, vào năm 1971, rằng “Các đồng chí cần yêu cầu Liên Xô chuyển nhiều, càng nhiều càng tốt vũ khí, đạn dược, lương thực”.

Khi Chủ tịch Ban thường vụ Quốc hội Trường Chinh thăm Bắc Kinh năm 1972, Thủ tướng Chu Ân Lai nói với ông rằng Bắc Việt Nam cần đòi hỏi nhiều hơn vũ khí, quân trang quân dụng từ Liên Xô.

“Từ những năm 1968-69, Liên Xô tăng cường nhiều sư đoàn quân đội đến biên giới với Trung Quốc”

Với Bắc Kinh, cam kết hỗ trợ liên tục cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương đã và đang làm hao hụt nguồn lực của Liên Xô. Ngoài ra, mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ. Nhu cầu chiến lược này cuối cùng đã đưa tới chỗ bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào nửa đầu thập niên 1970.

Về tác động của nó đến cuộc chiến tại Đông Á và Chiến tranh Lạnh, giao ước Mỹ – Trung đã tạo ra thay đổi bước ngoặt trong thế chiến lược giữa hai cường quốc thời Chiến tranh Lạnh. Nếu như các nhà hoạch định chính sách ở Washington thấy nhờ đó mà việc tập trung nguồn lực và quan tâm chiến lược của Mỹ vào đối phó với Liên Xô dễ dàng hơn, Liên Xô lại coi việc phải đương đầu cùng lúc với Phương Tây và Trung Quốc là chuyện khiến sức mạnh của họ bị phân tán nghiêm trọng.

Không nổ súng trước

Quần đảo Hoàng Sa hay Paracels mà Trung Quốc gọi là Tây Sa nằm cách Đà Nẵng chừng 170 hải lý, giữa vĩ tuyến 15’45” và 17’05” và kinh tuyến đông 111’00” và 113’00”. Quần đảo này gồm khoảng từ 15-30 hòn đảo, tùy cách tính…Sau hai thập niên quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ, năm 1974, Hoàng Sa đã bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa chiếm bằng vũ lực.

Nằm cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 330 hải lý về phía Đông Nam, quần đảo Hoàng Sa gồm các nhóm đảo Tuyên Đức (tên Việt Nam: nhóm An Vĩnh – BBC) và Vĩnh Lạc (nhóm Lưỡi Liềm) và chừng 30 đảo nhỏ khác nằm trải rộng trên khoảng 15 nghìn km2. Đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) là đảo lớn hơn cả, có diện tích 1,6 km2 và hiện nay chính quyền Hải Nam và Quân Giải phóng có trụ sở chính…

Vào tháng 9/1973, VNCH ra tuyên bố sáp nhật đảo Nam Yết và Thái Bình ở Trường Sa cùng 10 đảo khác thuộc vào lãnh thổ trên đất liền (tỉnh Phước Tuy- BBC) nhằm giữ quyền khai thác nguồn lợi thiên nhiên như dầu. Ngày 11/1/1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra công bố chính thức “xác nhận chủ quyền của nước này Nam Sa, Tây Sa, Trung Sa và Đông Sa và toàn bộ các nguồn lợi tự nhiên xung quanh là thuộc về CHND Trung Hoa”.

“Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý.”

Ngày 15/1/1974, Hải quân VNCH gửi một khu trục hạm ra vùng biển quanh đảo Vĩnh Lạc. Sang ngày 16, phía Nam Việt Nam bắn vào đảo Cam Tuyền (Việt Nam: đảo Hữu Nhật) buộc các tàu đánh cá của Trung Quốc phải rời vùng này. Sang ngày 17, phía Việt Nam cử một khu trục hạm nữa chở quân lính đến chiếm Cam Tuyền và Kim Ngân (đảo Quang Ảnh) và nhổ cờ Trung Quốc. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Bộ trưởng Quốc phòng và Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương đã hạ lệnh cho Hải quân Quân Giải phóng trực chiến và sẵn sàng mở chiến dịch bảo vệ Tây Sa.

Nhằm bảo vệ chủ quyền và quyền đánh bắt cá, chính phủ Trung Quốc đã quyết định có biện pháp trước tình hình này. Các tàu cá tiếp tục hành nghề nhưng luôn chú ý đến các hoạt động của Hải quân VNCH. Cùng lúc, Hải quân Trung Quốc triển khai hai chiến hạm săn tàu ngầm số 271 và 274 đến đảo Vĩnh Lạc để bảo vệ ngư dân và dân quân Trung Quốc; hai tàu quét mìn cũng được cử đến, cùng các nguồn cung ứng nước ngọt và tiếp liệu. Chiến lược của Trung Quốc là không nổ súng trước nhưng nếu Nam Việt Nam khai hỏa trước thì Trung Quốc sẽ đánh trả tàn bạo. Nguỵ Minh Sâm, chỉ huy trưởng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm được phong làm ‘tư lệnh chiến dịch bảo vệ Tây Sa’.

Ngày 17/1, hai chiến hạm săn ngầm của Trung Quốc chở một số dân quân ra Tấn Khánh (tên Việt Nam: Duy Mộng), và Sâm Hàng (Quang Hòa). Khi đến khu vực này họ chứng kiến hai tuần dương hạm số 4 và 16 của VNCH đã bắn vào thuyền cá Trung Quốc. Phía Trung Quốc cảnh báo phía Việt Nam ngay lập tức và yêu cầu ra khỏi khu vực. Ngày 18/1 hai khu trục hạm Việt Nam quay lại và bắn vào các tàu cá Trung Quốc tám lần, phá hỏng một thuyền phía Bắc bãi Linh Dương (đá Hải Sâm).

Đến tối, phía Nam Việt Nam cử thêm tuần dương hạm số 5 (Trần Bình Trọng) và hộ tống hạm số 10 (Nhật Tảo) vào vùng nước cạnh Vĩnh Lạc. Như thế có bốn chiến hạm Nam Việt Nam trong khu vực và sau đó, Hải quân Trung Quốc cử thêm hai tuần ngầm số 281 và 282 tới đảo Vĩnh Hưng.

Mao đồng ý chiếm trọn

Ngày 18/1, theo yêu cầu của Thủ tướng Quốc vụ viện kiêm Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Chu Ân Lai (1898-1976), Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc họp phiên đặc biệt cùng nhằm lập ra ban chuyên trách năm người để ứng phó với tình hình. Các vị Diệp Kiếm Anh, chủ nhiệm ban chuyên trách, cùng Vương Hồng Văn (1935-1992), Trương Xuân Kiều (1917-2005), Đặng Tiểu Bình (1904-1997) và Trần Tích Liên (1915-1999) đã nghe Tô Chấn Hoa (1912-1979), Phó Tư lệnh Hải quân báo cáo tình hình và đề nghị phản công.

“Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, chiến hạm số 10 (Nhật Tảo) của Hải quân VNCH bị hư hỏng nặng”

Ban chuyên trách đã ngay lập tức công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các tuần dương hạm của VNCH tại đảo Vĩnh Lạc. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, phía Trung Quốc đã chuẩn bị cho chiến dịch.

Vào 4:10 chiều ngày 18/1, ba tàu tuần dương của Việt Nam đã lập thành một đội hình nhằm tiến vào chỗ hai tàu săn ngầm số 271 và 274 của Trung Quốc. Hai tàu này nhổ neo và lao tới tăng hết tốc lực chặn đội tàu Việt Nam. Các tàu VNCH vì thế đã quay lại. Vào lúc 7:00 sáng ngày 19/1, hai tàu số 4 và số 5 của VNCH đem hơn 40 binh sỹ đổ bộ vào hai đảo Sâm Hàng (Quang Hòa) và Quang Kim (Quang Hòa Tây). Sau cuộc đổ bộ, hai bên bắt đầu đọ súng.

Một binh sỹ VNCH bị bắn chết, ba người khác bị thương. Chừng 10:22 sáng, bốn tàu Việt Nam bắn vào tàu Trung Quốc, phía Trung Quốc bắn trả. Trong loạt đạn đầu tiên, phía Trung Quốc bắn hỏng ăng-ten cho radar trên tàu số 4 của VNCH. Tàu VNCH số 16 cũng bị tàu chống ngư lôi của Trung Quốc bắn trúng và phải rời khu vực. Các tàu Trung Quốc sau đó tập trung hỏa lực và tàu số 10 của Việt Nam.

Sau khi chiến đấu được 1 giờ 37 phút, các tàu Việt Nam để lại chiến hạm số 10 bị hư hỏng nặng. Tàu này tìm cách bơi đến bãi Linh Dương như không được. Hai tàu số 281 và 282 của Trung Quốc đã bắn chìm nó. Cùng thời gian, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý. Sau trận hải chiến thành công ngoài biển, quân đội Trung Quốc đã đổ bộ xuống Cam Tuyền, San Hô (đảo Hoàng Sa), Kim Ngân (Quang Ảnh) và chiếm đóng các đảo này.

Trong trận chiến ‘Bảo vệ Tây Sa’ của Trung Quốc, có 18 binh sỹ Trung Quốc bị giết, 67 bị thương và phía Việt Nam có hơn 100 sỹ quan và binh sỹ bị giết hoặc bị thương, 49 người bị bắt làm tù binh.

Giáo sư Lý Hiểu Binh giảng dạy tại Đại học Central Oklahoma và là tác giả cuốn ‘A History of the Modern Chinese Army’.

 

Hoàng Sa và ‘âm binh’

26 Th1

Hoàng Sa và ‘âm binh’

 

\

Sự thịnh suy, sự hưng vong của một quốc gia, đều bắt đầu từ chữ đây tin (dân tin- hay không) này đó!

Quyết liệt vì Hoàng Sa

Ngày 20/1 mới đây, một sự kiện làm rưng rưng lòng người: Tp Đà Nẵng tổ chức Công bố hàng trăm bản đồ cổ về Hoàng Sa (VietNamNet, ngày 20/1), trong đó, gồm cả bản đồ cổ các nước phương Tây đã vẽ, kể cả Trung Quốc họa đồ, đều khẳng định Hoàng Sa- Trường Sa là của Việt Nam… Đó là những tư liệu rất quý khẳng định những cơ sở pháp lý của VN về vấn đề này.

Đó còn là một hiện thực chủ quyền bất di bất dịch hàng bao đời nay của VN.

Vàng mười…

Năm nay, cũng tròn 39 năm, Hoàng Sa đau thương và mất mát. Khi ngày 19/1/ 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm phi pháp toàn bộ quần đảo này.

Nhưng lịch sử đất nước sẽ tạc mãi trong tâm khảm, những người lính Việt đã ngã xuống vì chủ quyền biển đảo. Họ đã ngã xuống trong mưa đạn, trong nỗi đau khôn cùng trước chủ quyền biển đảo bị mất.

14 năm sau, lịch sử lại lặp lại ở cuộc chiến bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa, năm 1988. Giữa những người lính Việt của ba tàu vận tải HQ- 604, HQ- 605, HQ-505, với lính TQ tại các đảo Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin, những hòn đảo phía tây nam cụm đảo Sinh Tồn.

Cuộc chiến không cân sức lại tiếp tục nổ ra. Chúng ta giữ được đảo Cô Lin. Nhưng 64 người lính Việt đã ngã xuống trong chiến trận này. Đau đớn hơn, trong đó, chỉ còn tìm được hài cốt của vài người.

Dù khác nhau chiến tuyến, ý thức hệ, nhưng cuộc chiến đẫm máu và không cân sức ở Hoàng Sa- Trường Sa là minh chứng thiêng liêng- lòng yêu nước Việt của những con dân Việt, là duy nhất. Họ – những người lính Việt đã yên lặng vĩnh viễn trong sự thét gào mãi mãi của Biển Đông, những đêm giông gió, những ngày gió bão.

Vị mặn của nước Biển Đông gần 40 năm nay mặn đắng hơn. Vị mặn của muối, của máu và của nước mắt.

Khi đọc lại các tài liệu, bài báo để hiểu thêm cuộc chiến, người viết bài đã không sao cầm được nước mắt. Viết trong nỗi đau nghẹn…

Biển Đông – nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược, mang trong lòng nó, cả phúc – họa liền kề với rất nhiều quốc gia. Bởi thế giới này, vẫn luôn tồn tại cụm từ lòng tham khiến con người ta tối mắt.

Dù vậy có phải lúc nào lòng tham của kẻ mạnh cũng chế ngự được tất cả?

Như Philippines chẳng hạn. Đất nước nhỏ hơn TQ rất nhiều về diện tích và số dân số (diện tích 300.000 km2, 92 triệu dân), vừa tuyên bố sẽ thách thức yêu sách chủ quyền của TQ ở Biển Đông tại tòa án quốc tế về Luật Biển (1982) mà cả hai nước đều là thành viên.

Ngay sau đó, Philippines chính thức bổ nhiệm Thẩm phán Rudiger Wolfrum, một chuyên gia luật quốc tế của Đức tại Tòa án Quốc tế về Luật Biển làm thành viên đại diện cho Philippines tại tổ trọng tài. Luật sư Francis Jardeleza được lựa chọn phụ trách tư vấn cho Philippines để tiến hành các thủ tục tố tụng. Dân gian có câu Hành động đi liền với lời nói, là vậy!

Nhiều bạn trẻ đến triển lãm các tư liệu mới nhất liên quan đến chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: Đăng Nam/ TTO

Được biết, ngày 22/1, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki- moon đã lên tiếng, cho biết luôn sẵn sàng cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật chuyên nghiệp cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Không biết, nguyên đơn, hay…bị đơn sẽ thắng ở vụ tranh chấp thế kỷ này? Nhưng nó cho thấy khí phách và sự khôn ngoan của một quốc gia!

Bởi theo các chuyên gia nghiên cứu, như ông Nguyễn Đăng Thắng (Khoa Luật Quốc tế của Học viện Ngoại giao): Philippines muốn lợi dụng việc kiện này để buộc TQ làm rõ hoặc giải thích “nội hàm” của mình ở Biển Đông, một điều mà họ đã không làm được thông qua đàm phán ngoại giao.

Còn một luật sư người Mỹ nhận xét: Trong những trường hợp thế này, đạt được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế có thể còn giá trị hơn nhiều so với kết quả pháp lý.

Trả lời báo chí, trước việc Philippines khởi kiện, đưa TQ ra tòa vì tranh chấp biển, theo ông Nguyễn Duy Chiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia Bộ Ngoại giao: Các quốc gia hoàn toàn có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phù hợp với Hiến chương LHQ, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982.

Một thông tin mới nhất của Nhật Bản cũng rất đáng chú ý. Nước này vừa tìm ra một tài liệu hồi đầu thế kỷ 17 cho thấy TQ hoàn toàn không kiểm soát quần đảo Senkaku (Điếu Ngư). Phó GS Nozomu Ishii (ĐH Nagasaki Junshin): Tài liệu lịch sử chứng minh rằng tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo Senkaku là đúng về mặt lịch sử.

Ông Natsuo Yamaguchi, Chủ tịch Đảng New Komeito, trước khi lên đường sang Bắc Kinh, vẫn khẳng định, Tokyo không có kế hoạch thỏa hiệp với TQ về vấn đề quần đảo Senkaku mà nước này đang kiểm soát.

Cũng về vấn đề chủ quyền biển đảo, sau thông tin Cục Đo vẽ bản đồ quốc gia TQ dự kiến cho phát hành “Bản đồ toàn quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, “Bản đồ địa hình TQ”, trong đó vẽ yêu sách “đường lưỡi bò”, các đảo, đá, bãi ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN, ông Nguyễn Duy Chiến khẳng định:

Mọi bản đồ thể hiện thông tin sai lệch về chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền, quyền tài phán của VN ở Biển Đông là phi pháp và vô giá trị.

Bản đồ Hải chiến Hoàng Sa 1974. Các chiến hạm VNCH (ảnh nhỏ) – Đồ họa: Hồng Sơn

Trước đó, trả lời phỏng vấn của TTXVN ngày 21/, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhắc lại: VN đã tuyên bố và khẳng định rất rõ ràng lập trường của mình, tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Luật Biển 1982.

Chủ quyền biển đảo, chủ quyền đất nước luôn là lửa thử vàng, với chí khí, sự can trường và lòng yêu nước Việt của mọi con dân, từ người lãnh đạo cao cấp đến thường dân.

Những người lính Việt năm xưa, những người lính Việt mới đây đã vĩnh viễn nằm dưới biển sâu, những ngôi mộ gió của những ngư dân, vì nghiệp nước, mãi đi không về, đã chứng minh tấm lòng, bản lĩnh vàng mười của họ.

Còn chúng ta, những người đang sống, chúng ta có gì để không xấu hổ? Khi nhìn thấy ngọn lửa- chủ quyền biển đảo, chủ quyền đất nước, cháy khôn nguôi…

Âm binh

Mới đây, nhà văn Nguyễn Quang Vinh trình làng một vở kịch gây tiếng vang, có tiêu đề: Âm binh.

Vở kịch chỉ có ba nhân vật chính, xoay quanh một câu chuyện thời thượng- đất đai.

Câu chuyện đưa người xem về với quá khứ chiến tranh. Người mẹ trẻ có tên Nhi, từng cứu sống cả hai người đàn ông- người này là lính “ngụy”, người kia là lính “giải phóng”. Họ sống được bằng chính nguồn sữa của người mẹ trẻ, trong khi đứa con gái nhỏ của chị mới ba tháng tuổi, bị chết vì bom đạn chiến tranh.

Nỗi đau mất con, và mộ phần của cha mẹ, người ruột thịt đã níu giữ người đàn bà đau đớn, đơn độc ở lại với vùng cát nóng khô rang. Khô rang và cằn cỗi như số phận của chị. Nhưng nó cũng là mảnh đất, mà ở đó, cả tình yêu, hạnh phúc, cả cay đắng và bất hạnh của chị đều… nảy chồi, đâm lộc.

Chiến tranh qua đi. Chị gặp lại cả hai “người xưa” ngay trên mảnh đất cằn cỗi nhưng máu thịt của mình. Một người nay đã là “Việt kiều yêu nước”. Một người là cán bộ chính quyền địa phương. Cả hai lại chạm mặt nhau xoay quanh mảnh đất của chị, vì nó liên quan đến một đề án hợp tác và đầu tư để mở đường.

Sân khấu vốn mang hơi thở cuộc đời. Nhưng sân khấu và cuộc đời, rất giống nhau và cũng rất khác nhau.

Một cảnh trong vở kịch Âm binh. Ảnh: Họa sĩ Nhím/ SGTT

Ở vở kịch Âm binh, mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu của người đàn bà tên Nhi. Ở cuộc đời, “mảnh đất” cho sự làm ăn, cho sự tham nhũng, đục khoét, thì thiên hình vạn trạng. Còn “âm binh” đâu chỉ là những “vong hồn”…

“Mảnh đất” ấy, có khi rất thực…

Nó thực như thông tin đầu năm 2013, cả xã hội “choáng” vì con số nợ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, vốn mệnh danh là quả đấm thép.

Con số nợ đó lên tới 1,3 triệu tỷ đồng. Có những tập đoàn, TCT lỗ “vắt” từ năm 2011 sang tận năm 2012, và không biết có “vắt” tiếp sang năm nay không?

Dư âm hổ thẹn và đau xót còn chưa lắng xuống, xã hội lại ồn lên chuyện ông Phạm Thanh Trần, nguyên Tổng GĐ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) vừa bị cơ quan chức năng khởi tố, bắt tạm giam vì hành vi thiếu trách nhiệm gây hiệu quả nghiêm trọng– liên quan đến vụ thiệt hại 3900 tỉ đồng tại Agribank chi nhánh Nam Hà Nội…

Cùng số phận với ông này, là ông Đỗ Quốc Khánh, nguyên Tổng GĐ Công ty cổ phần Vận tải Dầu khí Falcon, bị bắt về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Hết thiếu trách nhiệm đến lợi dụng chức vụ, quyền hạn– những cụm từ này, tiếc thay đang ngày càng… có thừa.

Trước đó, chỉ tính riêng năm 2012, hàng chục cán bộ ngân hàng dưới quyền ông Trần đã sa vòng lao lý với đủ các kiểu phạm tội. Dĩ nhiên mọi con đường phạm tội của họ đều dẫn đến hai chữ kim tiền.

Nhưng “mảnh đất” ấy có khi cũng rất…ảo. Ảo mà rất thực.

Như cái Đề án xây dựng, nâng cấp các rạp hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm từ nay đến 2020, với kinh phí gần 11000 tỉ, nay mai sẽ thành hiện thực. Khiến cho giới nghệ sĩ xôn xao.

Theo đó, sẽ xây mới 51 nhà hát, nâng cấp 20 nhà hát, nâng cấp và xây dựng mới 106 rạp chiếu phim, nâng cấp và xây mới 66 công trình nhà triển lãm trên cả nước.

Ảnh minh họa. Nguồn: TTO

Đề án nhân danh đầu tư cho văn hóa, nhưng thực chất chỉ… béo ngành xây dựng- một trong bốn lĩnh vực có nhiều “âm binh”- tham nhũng nhiều nhất, qua khảo sát điều tra của Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới vừa công bố vào cuối năm 2012 mới đây.

Thế nên, dù lẽ ra phải mừng, vì ngành văn hóa còn nhiều thiếu thốn, nhưng nghệ sĩ lại chỉ thấy… những lo cùng buồn.

Bởi trong thực tế, không xây thì thiếu, xây thì thừa. Mà tính quy hoạch ở đây lại chưa rõ ràng.

Ông Trần Bình (GĐ Nhà hát ca múa nhạc nhẹ VN): Cả nước có khoảng 130 đơn vị nghệ thuật. Sang năm 2014, tất cả sẽ phải tiến hành xã hội hóa. Rất nhiều đoàn sẽ sa vào cảnh phải giải thể vì không thể nuôi sống mình với nguồn thu èo uột. Không đầu tư cho con người thì xây nhà hát làm gì? Xây xong ai sẽ diễn ở đó, hay chỉ là để cho thuê hội nghị, gặp gỡ cổ đông hoặc tổ chức… đám cưới?

Còn NSND Trung Kiên (nguyên Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL): Vấn đề quan trọng nhất không phải là xây nhà hát, mà là con người. Không quy hoạch lại các đơn vị nghệ thuật trong cả nước, rồi xây nhà hát lên lấy ai mà diễn?

Ngay rạp Đại Nam (Hà Nội), nơi vừa diễn ra vở kịch Âm binh, cũng thường xuyên là nơi cho thuê đám cưới. Tính ra, hiệu quả của một rạp hát, không nằm ở tài năng nghệ thuật biểu diễn của các nghệ sĩ, mà nằm ở… tình yêu đôi lứa của các đôi trẻ, quyết định.

Chợt nhớ tới cái kết có hậu của vở kịch Âm binh: Bà Nhi già nua tuổi tác, sau những năm tháng khổ đau vì chiến tranh, sau những dằn văt, hoài nghi cả hai phía- “Việt kiều yêu nước”, và chính quyền địa phương- cuối cùng, người đàn bà chân chất đó đã thốt lên gọn lỏn: Dự án tử tế thì …đây tin!

Đây tin. Đây chính là bà Nhi, là người dân, là dân tin. Câu nói gọn lỏn đó, chỉ có thể là nhân-quả của những đề án, dự án minh bạch, đàng hoàng không chút “lợi ích nhóm”, với người dân.

Nhưng liệu cuộc đời này, có nhiều dự án, đề án cái kết có hậu kiểu đây tin như thế không? Khi mà nạn âm binh- tham nhũng còn là quốc nạn?

Sự thịnh suy, sự hưng vong của một quốc gia, đều bắt đầu từ chữ đây tin (dân tin- hay không) này đó!

Kỳ Duyên

——————

Tham khảo:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130119/quyet-liet-vi-hoang-sa.aspx

http://tuoitre.vn/The-gioi/531206/philippines-dua-tranh-chap-bien-voi-trung-quoc-ra-toa-an-quoc-te.html

http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/106621/nhat-tim-thay-tu-lieu-lich-su-bat-loi-cho-trung-quoc.html

http://vtc.vn/7-364416/phap-luat/vi-sao-nguyen-tong-giam-doc-agribank-bi-bat.htm

http://vtc.vn/2-364010/xa-hoi/choang-voi-du-an-khung-11000-ty-xay-rap.htm

 

 

Khi lãnh đạo và trí thức cùng nhìn một hướng – TVN

26 Th1

Khi lãnh đạo và trí thức cùng nhìn một hướng

Tác giả: Trần Văn Thọ
TRONG MỤC NÀY

Trí thức có thể đối lập với chủ trương của lãnh đạo nếu thấy chủ trương đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước, hoặc thấy không khoa học, không hợp với quy luật khách quan.

Thông thường trí thức là người hiểu biết, có trình độ văn hóa cao, có kiến thức chuyên môn, và không bị ràng buộc vào (hoặc có ý thức tránh xa) những lợi ích phát sinh từ quan hệ với lãnh đạo chính trị. Trí thức có thể đối lập với chủ trương của lãnh đạo nếu thấy chủ trương đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước, hoặc thấy không khoa học, không hợp với quy luật khách quan. Nhưng cũng không hiếm những trường hợp lãnh đạo và trí thức tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và trí thức giúp lãnh đạo làm nên sự nghiệp cao cả, đưa đất nước vào thời đại xán lạn. Ngày xưa không thiếu những trường hợp minh quân gặp hiền tài và cùng làm nên nghiệp lớn. Lưu Bang gặp Trương Lương, Lê Lợi gặp Nguyễn Trãi là những ví dụ.

Trong thời đại ngày nay, xã hội phức tạp hơn, vai trò của trí thức và sự thể hiện vai trò đó cũng đa dạng hơn. Lãnh đạo tìm đến trí thức có thể trực tiếp “tam cố thảo lư” nhưng cũng có thể qua nhiều kênh gián tiếp. Chẳng hạn lãnh đạo thường quan tâm đến trí thức, thường đọc sách, đọc báo thì có thể tìm thấy những ý tưởng hay, những đề khởi về con đường phát triển để tham khảo cho các quyết sách chiến lược. Tiền đềở đây dĩ nhiên là phải có tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để trí thức có cơ hội phát biểu ý kiến của mình. Mặt khác, nếu xuất hiện nhà chính trị có văn hóa, có đạo đức và tỏ ra có bản lãnh, có lý tưởng vì đất nước thì qua các quan hệ xã hội hoặc qua các kênh nghiên cứu, thảo luận rộng rãi, họ có thể quy tụ được bên mình nhiều trí thức tài năng, tâm huyết.

Vào cuối thập niên 1950 ở Nhật Bản, xuất hiện mẫu người lãnh đạo lý tưởng đó và trí thức, trí tuệ của xã hội đã cùng với người đó làm nên một kỳ tích chưa từng có trong lịch sử thế giới: Chỉ trong 10 năm đã biến một nước có thu nhập trung bình và mới vừa phục hồi sau chiến tranh trở thành một nước có thu nhập cao, thay đổi hẳn đời sống của đại đa số dân chúng và sánh vai với các cường quốc kinh tế trên thế giới.

Tình hình chính trị, xã hội ở Nhật vào nửa sau thập niên 1950 rất phức tạp vì bất đồng trong dư luận và giữa các chính đảng liên quan đến chính sách ngoại giao với Mỹ.

Ikeda Hayato và John Kennedy (trái)

Về kinh tế, năm 1956 đánh dấu sự thành công của nỗ lực phục hưng hậu chiến. Mức sản xuất đã khôi phục lại mức cao nhất thời tiền chiến. Nhưng cũng trong bối cảnh đó xảy ra tranh luận sôi nổi về hướng phát triển sắp tới. Chưa có ai vẽ ra được viễn ảnh và đưa ra chiến lược có sức thuyết phục.

Trong tình hình dân chúng đang mệt mỏi vì không khí chính trị, xã hội căng thẳng, và không có viễn ảnh về tương lai kinh tế, một chính trị gia kiệt xuất đã xuất hiện. Đó là Ikeda Hayato (1899-1965). Ikeda nguyên là quan chức Bộ Tài chính, làm đến chức thứ trưởng thì ứng cử vào hạ viện. Trong lúc tham gia nội các, giữ các chức vụ quan trọng như Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ Công thương, ông đã quyết chí ứng cử vào chức đảng trưởng đảng cầm quyền LDP (đồng thời là thủ tướng) để thực hiện giấc mơ đưa nước Nhật lên ngang hàng với các nước tiên tiến Âu Mỹ.

Ikeda nguyên là một quan chức mẫu mực, một lãnh đạo chính trị đức độ, thanh liêm. Lúc làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, đầu thập niên 1950, ông dẫn đầu một phái đoàn công du sang Mỹ. Trong tình trạng ngân sách nhà nước hạn hẹp, ông đã tiết kiệm kinh phí đến mức chỉ thuê khách sạn ba sao và hai ba người (kể cả Bộ trưởng) ở chung một phòng. Ban ngày đoàn của ông đi làm việc với chính phủ Mỹ, buổi tối mọi người tập trung tại phòng ông để kiểm điểm công việc trong ngày và bàn nội dung làm việc cho ngày hôm sau. Khách sạn nhỏ nên phòng không có bàn, mọi người phải ngồi bệt trên sàn bàn công việc.

Cùng với đức độ và tinh thần trách nhiệm mà nhiều người đã biết, Ikeda đã được dư luận nhất là giới trí thức đánh giá cao qua những phát biểu về nhiệm vụ của người làm chính trị, về phương châm phát triển đất nước mà ông sẽ thực thi nếu được làm thủ tướng. Có mấy điểm đáng chú ý. Thứ nhất, ông cho rằng giai đoạn sắp tới phải là thời đại kinh tế, Nhật phải tận dụng tiềm năng về nguồn nhân lực của mình và hoàn cảnh thuận lợi của thế giới để vươn lên hàng các nước tiên tiến. Thứ hai, triết lý chính trị là vì dân, vì cuộc sống của dân chúng nên mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là phải tăng thu nhập của toàn dân và mở rộng mạng an sinh xã hội để giúp người không theo kịp đà phát triển chung.

Nhưng nguyện vọng, quyết tâm của nhà chính trị phải được cụ thể hóa bằng chiến lược, chính sách, trước mắt là được đồng tình của dân chúng, tiếp theo là phải được thực hiện có hiệu quả. Lúc này Ikeda cần đến trí thức.

Đang suy nghĩ tìm kiếm một ý tưởng chủ đạo của chiến lược phát triển đất nước, Ikeda đọc được bài viết “Luận về khả năng bội tăng tiền lương” của giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro đăng trên báo Yomiuri. Trong bài viết đó, Nakayama bàn về khả năng cũng như điều kiện để tăng gấp đôi tiền lương thực chất, cải thiện hẳn mức sống của dân chúng.

Theo gợi ý của giáo sư Nakayama, Ikeda thai nghén một chiến lược phát triển gọi là “Bội tăng thu nhập quốc dân” và lập ra một nhóm bảy người gồm các trí thức tên tuổi và các quan chức, các cộng sự tài giỏi để triển khai cụ thể chiến lược này. Đặc biệt trong số này có Shimomura Osamu (1910-1989), nhà kinh tế vừa giỏi lý luận vừa hiểu thực tiễn và có năng lực hình thành các chính sách cụ thể.

Lúc đó ở Nhật đang có tranh luận sôi nổi về hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn tới. Ý kiến chủ đạo lúc đó là trong giai đoạn phục hưng hậu chiến vừa qua, kinh tế Nhật phát triển khá cao (trung bình độ 8%/năm) vì khởi điểm quá thấp, trong giai đoạn tới tốc độ phát triển chỉ có thể bằng mức cao nhất thời tiền chiến (độ 4%) hoặc hơn một chút (5%).

Chủ trương của Shimomura thì khác. Ông cho rằng Nhật đã qua thời hỗn loạn hậu chiến, hiện nay tiết kiệm trong dân đang tăng, đất nước đang mở cửa hội nhập với thế giới nên công nghệ nước ngoài sẽ được du nhập dễ dàng; đó là hai tiền đề để đầu tư tích lũy tư bản. Đầu tư có hai hiệu quả là vừa tăng tổng cầu vừa tăng khả năng cung cấp (sản xuất) của nền kinh tế. Do đó có thể nói kinh tế Nhật đang bước vào thời đại bột phát mạnh mẽ. Thời phục hưng hậu chiến phát triển 8% nên thời đại mới ít nhất phải là 10%. Ngoài giải thích về mặt lý luận, Shimomura còn dẫn chứng bằng các kết quả tính toán chi tiết nên rất có sức thuyết phục. Trợ lý cho Shimomura là hai chuyên viên trẻ, hồi đó chưa có máy tính nên việc tính toán rất mất thì giờ. Trong nhóm bảy người còn có các nhà kinh tế nổi tiếng khác như Inaba Shuzo, Takahashi Kamekichi, và một quan chức tài giỏi là Miyazawa Kiichi (sau này cũng làm thủ tướng). Ikeda trực tiếp tham dự nhiều buổi họp thâu đêm của nhóm này.

Tượng của Ikeda Hayato tại Hiroshima

Được nhóm chuyên viên, trí thức triển khai về mặt lý luận và các chính sách cụ thể, Ikeda tự tin và đã quyết định lấy Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân làm cam kết chính trị trong cuộc tranh cử vào vị trí chủ tịch đảng. Ikeda thắng cử và trở thành thủ tướng vào tháng 7 năm 1960.

Cốt lõi của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân là toàn dụng lao động, làm cho dân chúng thấy cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Phương châm cơ bản là tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tích cực đầu tư. Công việc của chính phủ chỉ là cố gắng tiết kiệm công quỹ để có thể giảm thuế nhằm kích thích đầu tư, đầu tư xây dựng hạ tầng, và bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển là công nghiệp hóa, là phát triển ngành dịch vụ nên lao động phải chuyển dần từ nông nghiệp sang các khu vực phi nông. Do đó Ikeda đã nhấn mạnh phải ra sức giáo dục bậc cao đẳng và hướng nghiệp để quá trình chuyển dịch lao động không bị gián đoạn.

Mặc dù Shimomura chủ trương phát triển mỗi năm 10% (thu nhập quốc dân sẽ gấp đôi trong bảy năm), nhưng để dung hòa với nhiều ý kiến khác, trong kế hoạch được công bố, kinh tế sẽ tăng trưởng độ 7,2% và thu nhập quốc dân tăng gấp đôi trong 10 năm (1960-1970).

Khi nhậm chức thủ tướng, ngoài bài phát biểu về kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, Ikeda còn tuyên bố nhiều ý tưởng được sự đồng tình của dân chúng. Chẳng hạn, “Làm chính trị là nâng cao mức sống của dân chúng. Phát triển kinh tế phải trên tiêu chuẩn tăng thu nhập toàn dân, làm cho mọi người dân cảm nhận thực sự là kinh tế đang phát triển”, hoặc “Chính trị mà để người nghèo không được đi học là chính trị tồi”.

Ikeda đã thổi vào xã hội một không khí phấn chấn, tin tưởng vào tương lai. Doanh nghiệp tích cực đầu tư, mọi người hăng hái làm việc. Trong bối cảnh đó, đúng như dự đoán của Shimomura, kinh tế phát triển trên 10%, chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đạt được mục tiêu chỉ trong bảy năm, thay vì 10 năm như kế hoạch ban đầu. Theo giá thực tế năm 2000, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Nhật vào năm 1960 là 7.700 USD, đến năm 1970 tăng lên 16.600 USD. Mức chi tiêu của một gia đình giới lao động vào năm 1960 trung bình mỗi tháng là 32.000 yen, đến năm 1970 đã tăng lên 83.000 yen. Lương tháng của công nhân trong ngành công nghiệp đã tăng từ 23.000 yen năm 1960 lên 72.000 yen năm 1970. Trừ đi độ trượt giá mỗi năm vài phần trăm, trên thực chất thu nhập của giới lao động đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Ngoài ra, số lao động có việc làm tăng nhiều hơn so với kế hoạch và số giờ làm việc mỗi tháng của giới lao động giảm từ 203 giờ còn 187 giờ. Thập niên 1960 cũng là giai đoạn người Nhật chứng kiến nhà nhà có tủ lạnh, quạt máy, máy giặt, TV,…

Ikeda bị bệnh và mất sớm (năm 1965), lúc đương tại chức thủ tướng. Ông không sống đến hết giai đoạn của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân, nhưng đã chứng kiến những thành tựu bước đầu, cụ thể là ba sự kiện xảy ra trong năm 1964: Tổ chức Olympic Tokyo thành công, khai trương đường sắt cao tốc (Shinkansen) Tokyo-Osaka và Nhật trở thành thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), một tổ chức của các nước tiên tiến.

Nhà chính trị Ikeda Hayato và nhóm trí thức cộng tác với ông đã biến giấc mơ của mình thành giấc mơ của toàn xã hội. Họ là những người hiểu được nguyện vọng của người dân và quyết chí đáp ứng bằng trí tuệ và tâm huyết của mình.

Tokyo, Xuân Quý Tỵ 2013

  • Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

 

%d bloggers like this: