Lưu trữ | 4:03 Chiều

Chính phủ: 30% công chức vô dụng – BBC

27 Th1

Chính phủ: 30% công chức vô dụng

Cập nhật: 01:27 GMT – chủ nhật, 27 tháng 1, 2013
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói hàng trăm ngàn công chức có cũng như không

Một phó thủ tướng vừa lên tiếng nói hàng trăm ngàn viên chức nhà nước đến cơ quan nhưng không được việc gì.

Ông Nguyễn Xuân Phúc được báo Lao Động dẫn lời nói hôm 25/1:

 

“Tình trạng chạy công chức vẫn diễn ra do chế độ thi cử đầu vào bất cập.

“Trong bộ máy chúng ta có tới 30% số công chức không có cũng được, bởi họ làm việc theo kiểu sáng cắp ô đi, tối cắp về, không mang lại bất cứ thứ hiệu quả công việc nào”.

Ông Phúc phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ban chỉ đạo đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức tại trụ sở Chính phủ.

Đây không phải là lần đầu tiên người ta nói tới con số 30% công chức không được việc nhưng ông Phúc là quan chức cao cấp nhất đề cập tới tỷ lệ này.

Báo Lao Động nói đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” của Chính phủ Việt Nam có mục tiêu dựng lên một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp, có trách nhiệm, năng động, minh bạch và hiệu quả.

Mục tiêu của đề án được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt hồi cuối năm 2012 là đến năm 2015 có 70% các cơ quan, tổ chức của Nhà nước từ trung ương đến cấp huyện trình và được phê duyệt danh mục vị trí việc làm và cơ cấu công chức theo ngạch.

Đề án cũng nhằm lập ra các chức danh và tiêu chuẩn công chức, nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức và thi nâng ngạch công chức.

‘Cầm tay chỉ việc’

Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ban chỉ đạo đề án, ông Phúc nói Việt Nam hiện có 2,8 triệu công chức và đặt câu hỏi liệu số công bộc này có “cống hiến hết mình hay không?”

Câu trả lời của ông là 30% trong số này, tức 840.000 người, có thể cho nghỉ việc mà vẫn không ảnh hưởng gì tới công việc chung.

Theo Bấm Lao Động, ông Phúc nói Việt Nam sẽ “thất bại trước nền kinh tế thị trường” nếu không đổi mới chế độ công vụ và công chức.

Vị Phó Thủ tướng được dẫn lời nêu “quyết tâm” thực hiện đổi mới và yêu cầu áp dụng ngay việc thi công chức “công khai” và “minh bạch”.

Các Đại biểu Quốc hội đã từng nêu Bấm vấn đề “chạy việc” trong biên chế nhà nước có thể tốn hàng trăm triệu đồng.

Họ cũng nói ngoài 30% số công chức không làm được việc, 30% khác cần phải được “cầm tay chỉ việc”.

Giáo sư Chu Hảo: Là trí thức, cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc – VHNA

27 Th1

Giáo sư Chu Hảo: Là trí thức, cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc

  • Email
  • In

LTS: Vừa rồi, ngày 1/11, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết lần này đã có những nhận định tuy không hoàn toàn mới về nhận thức nhưng đề cập nhiều vấn đề mới của thực tiễn và đề ra một hệ thống giải pháp mới khả quan vì phù hợp với quy luật vận động của khoa học và với thực trạng nền khoa học Việt Nam hiện nay. Nhân dịp này chúng tôi đã có cuộc trao đổi với giáo sư Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ, Ủy viên đoàn chủ tịch Hội liên hiệp khoa học kỉ thuật Việt nam, Giám đốc Nhà xuất bản tri thức.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Phóng viên: Thưa giáo sư, theo các nhà khoa học của chúng ta ở trong và ngoài nước thì nền khoa học của chúng ta đang có vấn đề, đang yếu kém và khủng hoảng, đang tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực. Gần đây nhất, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt nam cũng đã nhận định rằng “hoạt động khoa học và công nghệ nhìn chung còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội. Là người đã từng và hiện nay vẫn đang gắn bó với các hoạt động khoa học, quản lý khoa học, là người trong cuộc, giáo sư hiểu như thế nào về nhận định này?

Giáo sư Chu Hảo: Sau Hội nghị TW6 (Khóa XI) trên báo Thanh Niên có chuyên mục “Vật vờ nghiên cứu khoa học” đăng tải ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về thực trạng hoạt động KH&CN ở nước ta trong những năm gần đây. Dùng chữ “vật vờ” nghe đã nẫu ruột, đọc kỹ các ý kiến còn thấy đau lòng hơn! Không phải chỉ là “trầm lắng” hoặc “chưa thực sự trở thành động lực phát triển KH-XH” như được viết trong Nghị quyết Hội nghị, mà còn trầm trọng hơn thế nhiều. Các NQTW thì vẫn cứ viết theo kiếu “ba sôi hai lạnh” mãi như thế, còn thực tế cuộc sống thì khác hẳn.

Thực tế là nền KH&CN (gồm cả KHXH& NV và các Giải pháp kỹ thuật) đang tụt hậu xa hơn nữa so với các nước tiền tiến trong khu vực và trên toàn thế giới theo các chỉ số được coi là thông lệ quốc tế. Số các công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế đầu ngành (thuộc hệ thông ISI chẳng hạn) hàng năm của cả nước ta chi xấp xỉ bằng của một trường Đại học vào loại khá ở Thái Lan. Số lượng bằng Sáng chế Phát minh và Giải pháp hữu ích được đăng ký ở nước ngoài (đặc biệt là đăng ký ở Mỹ) trong các năm vừa qua là hy hữu. Tỷ lệ nội địa hóa các Công nghệ sản phẩm là vô cùng thấp ( đặc biệt là trong các nghành công nghiệp điện tử và chế tạo máy…). Các nghiên cứu về KHXH&NV của chúng ta nói chung là quá đặc thù, phi tiêu chuẩn so với thông lệ quốc tế.

Nói gì thì nói cũng phải thừa nhận rằng thực trạng trên gắn liền với năng lực yếu kém của đội ngũ các nhà KH&CN. Vì sao năng lực ấy lại yếu kém như vậy thì còn phải thảo luận cho ra nhẽ, nhưng trách nhiệm xã hội của họ thì không thể thoái thác được. 

Với một mặt bằng thấp kém như vậy của KH&CN nước nhà mà lại vẫn chỉ thấy là nó  “trầm lắng” và “chưa thực sự trở thành động lực phát triển KT-XH” thì quả là chỉ mới dũng cảm nhìn vào “bên cạnh sự thật” thôi !

Phóng viên: Về nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút yếu kém của nền khoa học nước nhà hiện nay, Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương cũng đã nhận định là do “Chưa tạo được môi trường minh bạch trong hoạt động khoa học và công nghệ; thiếu quy định về dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn”. Đây là một nhận định có thể nói là đã đi sát, xác định chính xác bản chất của vấn đề hơn bất cứ đánh giá hay nhận định nào trước đó của Đảng ta. Sự minh bạch và dân chủ trong khoa học, những vấn đề lớn và có thể nói là những điều kiện cần có đầu tiên cho hoạt động khoa học, lâu nay chúng ta không hoặc ít nói đến một cách công khai vấn đề này, còn lần này, ban lãnh đạo của Đảng đã chính thức xác nhận. Điều đó, tôi nghĩ là một sự đổi mới và là một bước tiến lớn trong nhận thức và thực hành lãnh đạo của Đảng ta. Còn giáo sư, ông nghĩ sao?

Gs Chu Hảo: Nguyên nhân của tình trạng này cũng không phải chủ  yếu nằm ở chỗ : “Chưa tạo được môi trường minh bạch trong hoạt động KH&CN; thiếu quy định về dân chủ trong nghiên cứu KHXH&NV”.  Nguyên nhân côt lõi của tình trạng này trước hết phải kể đến là sự thiếu quyết tâm chính trị của lãnh đạo, từ cấp cao nhất cho đến cơ sở, trong việc thực thi chủ trương do chính mình đề ra là: Cùng với phát triển GD&ĐT, phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu. Không có một quốc sách hàng đầu nào lại bị xem thường một cách bất cẩn như đối với GD&ĐT và KH&CN như trong tới kỳ vùa qua. Nếu không thì tình trạng đã không đến mức báo động như hiện nay.

Cũng chính vì vậy mà  động lực thúc đẩy phát triển KH&CN đã không còn mạnh mẽ cả từ phía cầu (chủ yếu là các tập đoàn kinh tế công nghiệp lớn của Nhà nước) lẫn  phía cung (nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh không còn là khát vọng của số đông bạn trẻ). Đã từ lâu ta nghe thấy câu vè trong dân gian “khoa học ngày nay chán lắm rồi/ mười người nghiên cứu chín người thôi”. Đặc biêt là đối với nghiên cứu cơ bản mà những  cấp “cầm cân nảy mực” với tư duy “ăn xổi” cứ nhăm nhăm đòi hỏi “một đồng vào được mấy đồng ra?”

Cơ chế quản lý các hoạt động KH&CN cứ luẩn quẩn mãi trong khuôn khổ hành chính hóa, quan liêu bao cấp. Phương thức tổ chức xác đinh nhiệm vụ, thực hiện và nghiệm thu kết quả của các Chương trình-Đề tài nghiên cứu KH&CN từ trung ương đến địa phương, dù đã được cải tiến liên tục, nhưng vẫn bám theo mô hình “kế hoạch hóa” từ những năm 60 của thế kỷ trước ở Liên bang Xô viết cũ. Nguồn chi cho KH&CN chủ yếu là từ phía Nhà nước, nhưng Nhà nước lại áp dụng một phương thức quản lý tài chính vô cùng lạc lậu, buộc các nhà khoa học phải “đối phó” để hợp thức các chứng từ rất rườm rà và bất hợp lý, mà nhiều người đã nản lắm rồi. “Thiếu môi trường minh bạch” cũng chính là khâu này, đã tù mù thì làm sao mà quản lý hiệu quả được.

Có lẽ chúng ta không “thiếu quy định về dân chủ trong nghiên cứu khoa học Xã hội và nhân văn”, mà thật ra chúng ta đang thừa rất nhiều các quy định (thành văn cũng như bất thành văn) thiếu dân chủ. Cái vòng kim cô của ý thức hệ giáo điều cứng nhắc đã “chính trị hóa” các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này, buộc chúng phải thực hiện chức năng minh họa – tô hồng là chủ yếu, chứ không chấp nhân sự đa dạng và không khuyến khích độc lập tư duy, tự do sáng tạo. Khoa học XH&NV vì vậy mà không thể phát triển một cách tự nhiên được.

Các chuẩn mực phổ quát không được tuân thủ trong việc tuyến chọn, bổ nhiệm, sử dụng các chức danh  Thạc sỳ, Tiến sỹ, Phó giáo sư, Giáo sư dẫn đến tình trạng thiếu những nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh  đầu đàn, bằng cấp chủ yếu chỉ là để tìm danh phận trong bộ máy công quyền. Ít chú trọng thực học-thực nghiệp mà dung túng sự hư danh, giả dối chạy theo thành tích.

Ngần ấy nguyên nhân cũng chính là ngần ấy  điều bất cập cần được khắc phục một cách đồng bộ và quyết liệt nhằm chấn hưng nền KH&CN nước nhà.

Phóng viên: Như vậy, theo giáo sư, nguyên nhân của sự sa sút nó còn nằm ở tầng sâu hơn như đã phát hiện và công bố, nó nằm ở “quyết tâm chính trị”, có nghĩa nó chưa phải là một việc mà phải được dành cho những quyết tâm và nỗ lực lớn nhất để thực hiện, từ ý chí cho đến nguồn lực và các chính sách, tức là con đường và những phương tiện để đi tới mục tiêu. Tôi nghĩ, để đạt được bất cứ mục đích nào thì quan trọng là xác định cho đúng con đường cần phải đi. Có thể là con đường thẳng, cũng có thể buộc phải là con đường không thẳng, con đường vòng vì các vật cản chi phối. Trong khoa học cũng vậy. Cả một nền khoa học càng vậy. Một con đường đúng hướng, thoáng đãng, không có chướng ngại vật, một cỗ xe khoẻ, người lái giỏi, ắt sẽ sớm đi tới đích. Đó là điều chúng ta đang chờ đợi chăng?

Gs Chu Hảo:Tôi nghĩ, đường đã có nhưng chưa thoáng, còn nhiều chướng ngại vật. Đó là quyết tâm chính trị chưa đủ mạnh mẽ, còn nhiều nhận thức chưa phù hợp, thậm chí lạc hậu nên dẫn đến nhiều chính sách gây khó cho sự vận hành của nền khoa học và các hoạt động nghiên cứu khoa học.

Phóng viên: Số phận của một đất nước hay một nền khoa học, một hành trình văn hoá luôn có mặt và sự đóng góp quan trọng của giới trí thức. Trong lịch sử, tuỳ vào thời cuộc, sự nhập thế, dấn thân của trí thức mỗi lúc một khác. Hiện nay, có ý kiến cho rằng một bộ phận trí thức của chúng ta đã không khẳng định được vị trí của mình trong hành trình khoa học của đất nước, trong đó có nhiều người bàng quan,  như chủ ý đứng bên lề sự vận động của khoa học và số phận của đất nước.

Trở lại câu chuyện, thưa giáo sư, ông có thể cho biết quan niệm của mình về giới trí thức, thế nào là giới trí thức, vị trí, vai trò của họ đối với xã hội, với đất nước, một cái nhìn xa từ Việt Nam chẳng hạn?

Gs Chu Hảo: Từ xưa tới nay ở nước ta thường gọi những người lao động trí óc được xem là có học, đặc biệt là có bằng cấp, là sĩ phu ( thời phong kiến ) và  trí thức ( thời hiện đại ). Thời phong kiến các sĩ phu thường phải là những người có trình độ Hán học từ tú tài trở lên. Uớc vọng chính của họ là được làm quan phụng sự giai cấp thống trị. Nguyện vọng ấy không có gì sai trái vì đó là con đường duy nhất để thoát khỏi nghèo hèn. Trượt làm quan thì về làng quê dạy chữ “thánh hiền” cho trẻ nhỏ, làm thầy địa lý hay thày lang. Vào cuối thế kỷ thứ 19, cùng với sự tiếp xúc với các nền văn minh khác ngoài Trung Hoa, đã có những sĩ phu có tư tưởng cấp tiến trình tấu triều đình những đề xuất cải cách để phát triển, nhưng không được nghe thì nín lặng theo đúng lẽ vua-tôi. Đó là những người như Phạm Phú Thứ (1820-1883), Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Nguyễn Lộ Trạch ( 1852-1895 )… Họ là lớp tiền thân của tầng lớp sỹ phu yêu nứơc hồi cuối TK19 đầu TK20 dù là theo đường lối bạo lưc như phong trào Cần vương ( Phan Đình Phùng, 1854-1895 ) và Đông Du ( Phan Bội Châu, 1867-1940 );  hay chủ trương tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa-giáo dục như phong trào Duy Tân ( Phan Châu Trinh, 1872-1926; Huỳnh Thúc Khàng, 1876-1947; Trần Quý Cáp,1870-1908…) và Đông kinh Nghĩa thục ( Lương Văn Can, 1854-1927: ). Kế tiếp sau tầng lớp sỹ phu yêu nước này, từ những năm 20-30 thế kỷ trước, đã xuất hiện một tầng lớp xã hội mới dùng chữ quốc ngữ và tiếng Pháp để hành nghề tự do như bác sỹ, kỹ sư, luật sư, nhà giáo, nhà văn, họa sỹ, nhac sỹ và nghệ sỹ…Tầng lớp lao động trí óc này ở nước ta lúc ấy đã được gọi là trí thức  dựa theo khái niệm “người trí thưc” ( intellectual, xuất hiện lần đàu ở Pháp  năm 1871 ) và “ tầng lớp trí thức “ ( intelligentsia, xuất hiện lần đâu ở Nga từ giữa thé kỷ 19 ). Từ sau CMT8 cho đến tận ngày nay, những người có trình độ học vấn từ Cao đẳng-Đại học trở lên cũng được gọi là trí thức.

Thế nhưng người Nga, người Pháp,  rồi ở các nước văn minh tiến bộ khác người ta chỉ dùng chữ trí thức để chỉ bộ phân có thể gọi là tinh hoa trong hàng ngũ những người lao động trí óc; tức là  những ngừơi không chỉ có trình độ học vấn cao, chuyên môn giỏi, mà còn  có một vài phẩm tính khác để tự tập hợp lại thành một tầng lớp được coi là “cơ quan nhận thức ( bộ nào) của cơ thể xã hội”.   Nhà bác học –trí thức tiêu biếu của thời đại, Einstein đã có lần nói đại ý: anh có thể là kỹ sư nguyên tử giỏi, nhưng không phải là một trí thức. Người lao động trí óc có khả năng sáng tạo thì đông, nhưng tầng lớp trí thức thực thụ thì không thể là đại trà. Cũng chẳng có tiêu chuẩn và sự xét duyệt nào để phong tặng danh hiệu trí thức cho ai cả. Tầng lớp trí thức không phải là một đoàn thể, họ có thể xuất thân từ các giai cấp khác nhau, và qua đối thoại-giao lưu chính kiến họ sẽ tự hình thành trong một thể chế có xã hội dân sự lành mạnh.

Đó là nhận thức của riêng tôi về trí thức và tầng lớp trí thức, muốn được chia sẻ với bạn đọc chứ không đưa ra một định nghĩa mới nào cả. Tôi chỉ mong muốn đông đảo những người hoặc tự coi mình, hoặc được xã hội coi  là trí thức, nhận thức đầy đủ trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc và đất nước.

Phóng viên: Vậy theo giáo sư thì giới trí thức có, và cần có những phẩm chất tiêu biểu nào?

Giáo sư Chu Hảo: Theo thiển ý của tôi, những phẩm tính ấy là :

1) Có khả năng tiếp thu và truyền bá tri thức khoa học-công nghệ hoăc/và  văn hóa-nghệ thuật

2) Có năng lực sáng tạo ra các giá trị mới của tri thức khoa học-công nghệ hoặc/và  văn hóa-nghệ thuật.

3) Có chính kiến rõ ràng trước những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc và sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình.

4) Đề xuất, tư vấn, phản biện và giám sát một cách độc lập các chủ trương, chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội.

5) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.   

Phóng viên: Hiện nay ở nước ta có tình trạng có tỷ lệ quá lớn các nhà khoa học, đúng hơn là những người có học vị, học hàm khoa học tách rời khỏi công tác khoa học để làm công tác quản lý. Người không có năng lực nghiên cứu khoa học tìm cách trú ngụ ở các chân ghế quản lý, người có năng lực khoa học cũng ào ào tìm cách làm cán bộ quản lý.

Có thể nói đây là một biểu hiện “sinh động” và “mạnh mẽ” nhất của “chủ nghĩa bằng cấp”, một biến thái của bệnh thành tích, và nói cho cùng là bệnh nói dối của xã hội hiện thời. Tôi không thể hiểu được nhiều người đã học tập, nghiên cứu lúc nào mà có bằng tiến sĩ?!  Điều này tưởng rằng đơn giản, không chết ai nhưng nó báo hiệu sự suy thoái cả về giáo dục, đào tạo, cả về văn hoá và đạo đức của xã hội. Nếu có quá nhiều trí thức “dởm” loại này thì cũng có thể là một tai họa cho không chỉ cho giới trí thức mà cả một nền khoa học, cả đất nước.

Thưa giáo sư, Nghị quyết Trung ương 6, trong phần giải pháp thực hiện chiến lược phát triển khoa học công nghệ có chủ trương “Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tư vấn, phản biện của các nhà khoa học”. Tôi nghĩ rằng đây không phải quan điểm mới của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, là một điều rất cần vì lâu nay trong môi trường hoạt động khoa học, môi trường học thuật, tinh thần dân chủ và tự do bị o bế, hạn chế rất nhiều. Theo giáo sư thì để thực hiện được dân chủ và tự do trong hoạt động khoa học, trong môi trường học thuật, môi trường tri thức và trí thức thì phải có những điều kiện và tiền đề gì?

Giáo sư Chu Hảo: Tôi cũng đồng ý rằng, không những trong NQTƯ6 mà trong nhiều văn kiện chính thống khác, kể cả trong Hiến Pháp, những quyền cơ bản của con người về Tự do và Dân chủ đều được khẳng định một cách đúng đắn. Và từng bước đã  đưa được vào đời sống tinh thần của xã hội, tuy còn lâu mới đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển.  Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ trong các hoạt động nghiên cứu KH&CN, mà trong các lĩnh vực khác cũng vậy, cơ chế dân chủ để đảm bảo quyền độc lập tư duy, tự do sáng tạo và tự do ngôn luận giữa lí thuyết và thực hành vẫn còn một khoảng cách không nhỏ…

Tôi nghĩ, những ai tự coi mình là trí thức đều phải có trách nhiệm góp phần tháo dỡ tình trạng này. Dân chủ không phải là miếng thịt bò rán thơm đăt sẵn trên đĩa…Bạn hỏi cần phải có điều kiện và tiền đề gì để có dân chủ và tự do trong họa động NCKH? Ai đấy sẽ trả lời bạn là phải sửa lỗi hệ thống . Nhưng điều đó “to tát”quá đối với khuôn khổ bài phỏng vấn này. Ở đây tôi chỉ muốn chia sẻ với độc giả một điều giản dị: Trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, tùy vào điều kiện và khả năng cụ thể  của từng người, ta hãy bắt đầu từ những việc “trong tầm tay”, để thực hành dân chủ. Chẳng hạn, ai cũng thấy rằng cái tàn dư cơ chế xin – cho (thành văn cũng như bất thành văn) thiếu dân chủ đã gây nên quốc nạn ngày nay là sự dối trá, y hệt như ở Liên Xô (cũ) mà Alekcandr Solzenitsyn đã mô tả trong tiểu luận “Người có học”  ( Về trí thức Nga, NXB Tri thức, 2009 ). Vậy mà , cũng như tầng lớp được gọi là “trí thức” ở Liên Xô (cũ), chúng ta hiện nay cũng đành “đương nhiên” chấp nhận mà chưa dám đấu tranh để làm cho cuộc sống trung thực hơn, tốt đẹp hơn. Vậy thì ít nhất hãy làm như Solzenitsyn gợi ý : “Không nói dối! Không tham gia vào những việc dối trá! Không đồng lõa với dối trá !” bằng cách “Không nói những điều ta không nghĩ…, không dơ tay, không cúi đầu, không giả bộ cười, không có mặt, không đứng lên, không vỗ tay.”

Một điều quan trọng, mà lịch sử đã chỉ dẫn cho chúng ta, đó là các nhà lãnh đạo quốc gia và đội ngũ trí thức phải có tiếng nói chung, đồng hành trong nhận thức và hành động để phát triển khoa học và đất nước.

Tôi tin tưởng rằng với trí tuệ, truyền  thống yêu nước của mình, trí thức Việt Nam sẽ đoàn kết để tận tâm cống hiến cho Dân tộc và Nhân dân một cách có hiệu quả nhất.

Phóng viên: Tôi nghĩ rằng, trước khi Đảng và Nhà nước “Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tư vấn, phản biện của các nhà khoa học” thì hơn ai hết chính giới trí thức phải thực hành điều đó với nhau, với mình. Đó là điều căn bản để tập hợp trí tuệ, tình cảm và ý chí của đội ngũ trí thức.

Trân trọng cảm ơn giáo sư về cuộc trao đổi này.

PHAN THẮNG thực hiện

 

 

Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô – Tứ Xuyên (Trung Quốc) – VOA

27 Th1

Hai bức ảnh lịch sử ở Thành Đô – Tứ Xuyên (Trung Quốc)


Đứng giữa là ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Ông Giang cầm cánh tay Nguyễn Văn Linh. Bên trái là Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng (chắp tay)

 
 Tin liên hệ

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã nhận định về cuộc họp Thành Đô đầu tháng 9-1990 rằng: “một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. Một lời than não nề. Một lời cảnh báo đến vẫn nay còn có giá trị.

Để hiểu rõ sự kiện lịch sử tệ hại này, mời các bạn tìm đọc tập hồi ký rất chân thực và sinh động của nguyên thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ, với đầu đề “Hồi Ức và Suy Nghĩ” dày hơn một trăm trang, mô tả tỷ mỷ các sự kiện, khắc họa từng nhân vật các bên ở một thời điểm lịch sử then chốt.

Sau chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc những năm 1976 -1979, rồi chiến sự ở Campuchia kéo dài đến cuối năm 1988, mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc vốn dĩ phức tạp từ xa xưa, khi bạn, khi thù, đến đây lại có bước ngoặt, từ chiến tranh quyết liệt, từ đối đầu chuyển sang bình thường hóa, rồi từ bình thường hóa chuyển nhanh sang tình hữu nghị «16 chữ vàng» và «láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt», trên thực tế là phía lãnh đạo Việt Nam chịu sự phụ thuộc về nhiều mặt đối với thế lực bành trướng nước lớn.

Thái độ này được các nhà trí thức yêu nước và bà con ta gọi là thái độ “hèn với giặc, ác với dân”, từ sự kiện Thành Đô đến nay đã kéo dài 22 năm.

Về các nhân vật lãnh đạo vào thời điểm tháng 9-1990, nên chú ý: Lê Duẩn, nguyên tổng bí thư từ năm 1960 – là người chống Trung Quốc bành trướng quyết liệt nhất – đã chết bệnh ngày 10-7-1986. Trường Chinh làm quyền tổng bí thư từ tháng 7 đến tháng 12 -1986, rồi làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, chết ngày 30-9-1988. Trường Chinh khi cuối đời rất hăng hái với việc ghi trong Hiến pháp 1980 đoạn lên án bọn xâm lược và bành trướng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh được bầu là tổng bí thư trong Đại hội đảng lần thứ VI cuối năm 1986, chỉ làm 1 nhiệm kỳ, đến Đại hội VII làm cố vấn. Ông Linh nổi tiếng là con người hời hợt, không có chiều sâu, hay ngả nghiêng, có thời rất cởi mở, viết báo đều trong chuyên mục «Những việc cần làm ngay» ký tên N.V.L. (sau bị châm biếm là « Nói và Lừa »), sau lại quay sang kiểm soát chặt báo chí. Có dạo được coi là một Gorbachev Việt Nam, chủ trương cởi trói cho văn nghệ sỹ được tự do sáng tác, sau đó lại quay ngoắt sang trừng trị họ. Tại Thành Đô ông là kẻ ngây ngô tán tỉnh Giang Trạch Dân và Lý Bằng nên ưu tiên thắt chặt tình hữu nghị Trung – Việt do cùng là nước xã hội chủ nghĩa anh em (!). Ông còn có lúc ngả sang theo quan điểm thâm độc của Lê Đức Anh là thực hiện «giải pháp đỏ», nghĩa là đoàn kết trước hết các đảng cộng sản Trung Quốc, Việt Nam, Khơme Đỏ theo bản chất cộng sản là anh em thân thiết nhất. Ông từng nghe bùi tai lời của Lê Đức Anh là “tôi từng quen, là bạn và làm việc với Pon Pot”. Ông Linh bị nhỡ tàu khi phía Trung Quốc trả lời rằng Trung Quốc chỉ coi quan hệ với Việt Nam như với mọi nước bình thường khác.

Phạm Văn Đồng bị nhử sang Thành Đô chỉ là do phía Trung Quốc hé ra khả năng ông sẽ được Đặng Tiểu Bình – lúc ấy là lãnh tụ cao nhất tiếp. Về sau ông tỏ ý tiếc, rằng lẽ ra ông không nên đi. Con người ông lú lẫn đến mức quên rằng Đặng là kẻ mưu thâm và tàn ác nhất khi đích thân ra lệnh cho quân bành trướng khi rút quân phải phá sạch, giết sạch, không ngần ngại, theo phương châm 4 chữ «sát cách vô luận».

Bắc Kinh triệu tập cuộc họp Thành Đô một cách rất trịch thượng. Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy chỉ báo trước có 5 ngày, yêu cầu ngày 2-9-1990 phải có mặt ở Thành Đô, lại là ngày Quốc khánh chẵn của Việt Nam.


Hàng đầu: Tổng bí thư Giang Trạch Dân cùng Thủ tướng Lý bằng đứng giữa. Phía bên phải Giang là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Cố vấn Phạm Văn Đồng (chắp tay). Phía bên trái Lý là Thủ tướng Đỗ Mười, Chánh văn phòng TW Hồng Hà, Thứ trưởng ngoại giao  Đinh Nho Liêm.

Sau Thành Đô, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Lý Bằng hiểu rõ bụng dạ của từng người lãnh đạo Việt Nam, nên ngay năm sau 1991 họ đã vận động để gạt phăng Nguyễn Cơ Thạch ra khỏi Bộ Chính trị, đưa Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư, đưa Lê Đức Anh lên cương vị chủ tịch nước, rồi đưa Nông Đức Mạnh làm chủ tịch Quốc hội và tổng bí thư sau này. Cả một bộ sậu thân Tàu, chịu khuất phục Tàu, lũng đoạn nền chính trị nước ta cho đến tận ngày nay

Chống tham nhũng là đồng minh của dân chủ – Bauxite

27 Th1

Chống tham nhũng là đồng minh của dân chủ

Hà Đình Sơn

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

Chế độ độc tài là một thể chế nhà nước chuyên quyền mà ở đó nhà nước được cai trị bởi một cá nhân: kẻ độc tài (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

Xã hội Việt Nam thiếu dân chủ; dân chủ là mục tiêu, là nhu cầu sống còn của đất nước hiện nay. Nhưng kẻ thù của dân chủ lại chính là chế độ độc tài. Phương pháp đấu tranh loại bỏ chế độ độc tài được nhân loại văn minh ngày nay lựa chọn là đấu tranh bất bạo động.

Chế độ độc tài đẻ ra tham nhũng. Tham nhũng chính là “lý tưởng” thật của chế độ độc tài. Tham nhũng là chất keo gắn kết của chế độ độc tài. Ngược lại không có chế độ độc tài thì không thể tham nhũng tràn lan, nhưng tham nhũng lại làm xói mòn và dẫn đến hủy diệt chế độ độc tài. Đây chính lý do giải thích một mâu thuẫn là tại sao chế độ độc tài cũng kêu gọi chống tham nhũng, nhưng chỉ chống nửa vời vì không còn tham nhũng thì cũng không còn chế độ độc tài. Tham nhũng và chế độ độc tài là hai mặt của “sinh vật ký sinh” trong xã hội. Nên thường một người mới lên làm lãnh đạo thì đều tuyên bố sẽ tuyên chiến với tham nhũng, nhưng trong đó chỉ có 20%  là thật tâm còn đến 80% là giả dối. Do tách rời lợi ích của số ít với lợi ích của toàn dân, lợi ích của đất nước nên dẫn đến: chống ngoại xâm thì lo mất bạn; chống tham nhũng thì sợ thù oán. Trong cuộc chiến chống tham nhũng sẽ phân định ai là vì thể chế độc tài ai là vì lợi ích nhân dân.

Người chống tham nhũng thật sự là người dám tin vào nhân dân, dựa vào nhân dân, minh bạch hoạt động nhà nước và lấy đó là nguồn lực chính để chống tham vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước. Chống tham nhũng mà không dựa vào nhân dân là không thể và chỉ là dối trá; hậu quả nguy hiểm là thất bại: hoặc thỏa hiệp, trở thành đồng bọn với tham nhũng hoặc ngả làm tay sai bán nước để duy trì lợi ích.

Trong một chế độ độc tài không thể nào sinh ra một con người có quá khứ hoàn toàn trong sạch, không có chút tham nhũng. Hãy xếp lại quá khứ của mọi cá nhân để vì cuộc đấu tranh hiện tại và vì tương lai, xem tất cả những cá nhân, tổ chức chống  tham nhũng đều là đồng minh của dân chủ, nhân dân phải ủng hộ họ. Ai chống tham nhũng mà dựa vào nhân dân, dám minh bạch là người chống tham nhũng thực sự và là người của nhân dân, của đất nước. Xã hội không nên chỉ đặt niềm tin và trông chờ ở một cá nhân mà thay bằng việc ủng hộ, sát cánh và giám sát những hành động của họ. Độc lập dân tộc, tự do dân chủ không thể van xin mà có, mà phải đấu tranh giành giữ.

Hà Nội, ngày 26/01/2013

H. Đ. S.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Ấn Độ lần đầu tiên phô trương tên lửa tầm xa đủ sức tấn công Trung Quốc – BS

27 Th1

Ấn Độ lần đầu tiên phô trương tên lửa tầm xa đủ sức tấn công Trung Quốc

Ấn Độ phô trương tên lửa Agni V nhân ngày lễ quốc khánh (AFP)

Ấn Độ phô trương tên lửa Agni V nhân ngày lễ quốc khánh (AFP)
 

Nhân lễ diễn binh chào mừng ngày quốc khánh hôm nay, 26/01/2013, Ấn Độ đã cho phô trương lần đầu tiên tên lửa tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân đời mới của mình. Loại hỏa tiễn Agni V có tầm bắn 5000 cây số, và như vậy có thể vươn tới mọi mục tiêu trên lãnh thổ Trung Quốc cũng như các nước ngoài châu Á.

 

Tên lửa Agni V đã được New Delhi thử nghiệm thành công hồi tháng Tư năm ngoái. Việc cho trình làng loại vũ khí tối tân này của họ diễn ra trong bối cảnh quân đội Ấn Độ và Pakistan, hai đối thủ đều có vũ khí hạt nhân, vừa đồng ý trên một thỏa thuận ngừng bắn ở vùng Kashmir vào tuần trước, sau cái chết của năm binh sĩ trong chín ngày, bị giết trong nhiều vụ chạm súng ở vùng biên giới. 

Phát biểu vào hôm nay, Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee xác định là nước ông yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng thân thiện với nước khác. Tuy nhiên ông cũng lưu ý là các nước khác không nên ngộ nhận về quyết tâm của Ấn Độ.

Ấn Độ và Pakistan đã đụng độ với nhau trong ba cuộc chiến tranh, hai lần tại Kashmir kể từ khi hai nước tách ra khỏi nhau để hình thánh hai quốc gia độc lập vào năm 1947. 

Trong khi các tên lửa tầm ngắn Agni I và II (lên đến 2.500 km) đã được phát triển chủ yếu nhắm vào Pakistan, Agni III và IV (lên tới 3.500 km) được xem như một phương tiện răn đe, ngăn chặn Trung Quốc. 

Theo các chuyên gia, Agni V có thể bắn trúng mục tiêu trên khắp lãnh thổ Trung Quốc cũng như tại phần còn lại của châu Á và một số nước châu Âu. Vũ khí này phục vụ cho nguyện vọng của Ấn Độ muốn đóng một vai trò quan trọng hơn trên trường quốc tế.

 

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 1992 PHÁ HỦY NỀN TẢNG CỦA CHÍNH BẢN HIẾN PHÁP – BS

27 Th1

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 1992 PHÁ HỦY NỀN TẢNG CỦA CHÍNH BẢN HIẾN PHÁP

Trần Mạnh Hảo *

Điều 4 trong bản “Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – 2005 – Bản sửa đổi), có đoạn viết như 1sau: “Đảng Cộng Sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 4 này mâu thuẫn và chống lại Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 15, Điều 16, Điều 21, Điều 83… của chính bản Hiến pháp. Chúng tôi sẽ lần lượt chứng minh.

Điều 2 của bản Hiến pháp có đoạn viết như sau: “Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”. Theo Điều 2 này khẳng định nước CHXHCNVN là một nước dân chủ. Bởi, Điều 2 nhắc lại định nghĩa của Ngài Abraham Lincoln (1809-1865) – vị anh hùng giải phóng nô lệ, vị tổng thống thứ 16 của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, thần tượng của Karl Marx, được Marx tôn làm biểu tượng của Tự Do – định nghĩa về một quốc gia dân chủ như sau: “Một quốc gia dân chủ là một quốc gia mà chính quyền của dân, do dân, vì dân!”.

 

Như vậy, khi Điều 4 khẳng định: “Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tức là nước CHXHCNVN theo một chế độ Đảng trị = Đảng chủ, hoàn toàn chống lại Điều 2: khẳng định nước CHXHCNVN là một nhà nước Dân trị = Dân chủ! Như vậy, nếu căn cứ vào Điều 2, thì Điều 4 là vi hiến và ngược lại; nhưng Điều 2 có trước Điều 4, nên ta có thể coi Điều 4 là điều vi hiến được chăng?

Điều 83 của Hiến pháp có đoạn viết như sau: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…”. Như vậy, Điều 2 và Điều 83 cùng khẳng định quyền tối thượng của nước CHXHCNVN thuộc về nhân dân chứ không thuộc về Đảng CSVN như Điều 4 đã quy định Đảng CSVN nắm quyền tuyệt đối: “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” . Xã hội là toàn bộ đời sống văn hoá, chính trị, kinh tế, pháp luật, thể chế, lịch sử, tôn giáo…của con người trong một quốc gia. Tức là Điều 4 quy định Đảng CSVN là chủ nhân ông của đất nước và dân tộc Việt Nam, là ông vua của các vua, chúa của các chúa. Nhưng oái oăm thay, ở Điều 2 và Điều 83, bản Hiến pháp năm 1992 lại khẳng định Nhân Dân là chủ nhân ông của đất nước và dân tộc, nắm quyền tối thượng quốc gia, y hệt các nhà nước dân chủ khác trên thế giới vậy (Thế giới ngày nay có chừng 95% số quốc gia theo chế độ dân chủ đại nghị). Do đó, cứ theo Điều 4, Điều 2, Điều 83, thì nước Việt Nam ta có hai “vua”: “Vua Đảng CSVN” và “Vua Nhân Dân” ư ? Nếu lấy hai chọi một, thì Điều 4 là thiểu số phải bị coi là vi hiến trước Điều 2 và Điều 83 đa số?

Chưa hết, ngay cả ở Điều 3 trong bản Hiến pháp 1992 cũng hàm chứa yếu tố chống lại Điều 4.

Điều 3 có đoạn viết như sau: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. “Quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân” nghĩa là nhân dân làm chủ tất tần tật mọi sinh hoạt xã hội từ chính trị, văn hoá xã hội, thể chế, luật pháp, lịch sử… của nước Việt Nam. Mệnh đề này của Điều 3 trong Hiến pháp phủ nhận Điều 4. Như vậy, Điều 3 đã về hùa với các Điều 2 và Điều 83 cùng xóa bỏ Điều 4 trong bản Hiến pháp.

Mệnh đề thứ 2 của Điều 3 viết như sau: “… Thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…”. Chính Điều 3 trong Hiến pháp đã xác định xã hội Việt Nam là một xã hội công bằng, tự do. Tự do và Công bằng xã hội là mọi công dân đều bình đẳng, không ai nhảy ra sai khiến (lãnh đạo) ai mà không được sự đồng ý của người bị sai khiến (bị lãnh đạo). Đảng CSVN chỉ là một nhóm người rất thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (ngót ba triệu đảng viên CS trong khi đó có hơn 90 triệu người dân ngoài đảng). Vậy thiểu số kia muốn cai trị (lãnh đạo) đa số này phải hỏi ý kiến xem 80 triệu dân có đồng ý (cho phép) Đảng CSVN cai trị đại đa số nhân dân Việt Nam hay không?

Nghe câu hỏi này, Đảng CSVN bèn bảo: – Quốc hội nước CHXHCNVN đã bỏ phiếu xác định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng CS thì không phải là toàn dân đồng thuận là gì? Vâng, đấy chỉ là sự đồng thuận hình thức, đồng thuận ảo, đồng thuận giả tạo! Vì trong Quốc hội có đến hơn 95% đại biểu là đảng viên CS, thì Quốc Hội thực chất chỉ là Quốc hội của Đảng CS mà thôi! Với phương châm bầu cử: “Đảng cử, Dân bầu” của Đảng CS, thì người dân (hơn 80 triệu) đã bị tước quyền ứng cử và bầu cử. Khi Nhân Dân mất quyền “cử” thì chữ “ bầu” cũng thành vô nghĩa, thành trò hề! Do đó, mọi cuộc bầu bán do Đảng CS tổ chức để hình thành Quốc hội đều chỉ là hình thức, là trò ảo thuật kiểu Đảng CS vừa đá bóng, vừa thổi còi, vừa lĩnh thưởng mà thôi! Bầu cử Quốc Hội mà Đảng CS toàn cử người của mình ra ứng cử, rồi bắt dân chỉ được quyền “Bầu”, không được quyền “Cử”, Dân không được quyền kiểm phiếu… thì cái Quốc Hội kia chỉ là Quốc Hội của Đảng chứ nào đâu còn là Quốc hội của Dân? Do đó, chính Đảng CSVN đã vi phạm Điều 3 của Hiến pháp là không tôn trọng hai chữ: Tự do – Bình đẳng (Công bằng)!

Như vậy, Điều 3 trong Hiến pháp đã phủ nhận chính Điều 4 vậy!

Điều 8 trong bản Hiến pháp 1992 có đoạn viết như sau: “… Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”. Điều 8 không cho phép ai (kể cả Đảng CS) được phép quan liêu, cửa quyền. Nhưng ở Điều 4, Đảng CSVN đã chứng tỏ sự quan liêu, cửa quyền của mình bằng cách tự cho mình quyền lãnh đạo tối thượng nhân dân Việt Nam trái với quy định ở Điều 2, Điều 3 và Điều 83. Do đó, Điều 8 cũng đã phủ nhận chính Điều 4.

Điều 15 trong bản Hiến pháp, có đoạn viết: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng…”. Chính sự khẳng định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường (khái niệm “định hướng XHCN” hoàn toàn vô nghĩa), chấp nhận nền kinh tế tư nhân tại Việt Nam nơi Điều 15 này đã phủ nhận Điều 4; vì Điều 4 ghi: “Đảng CSVN theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì sao vậy? Vì ai đã đọc Mác-Lênin, dù chỉ ở trình độ sơ cấp, cũng biết chủ nghĩa Mác-Lê phủ nhận kinh tế thị trường = tư bản, xóa bỏ sở hữu tư nhân. Có chủ nghĩa Mác- Lê thì không có kinh tế tư bản = kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân và ngược lại! Như vậy, Điều 15 đã xóa bỏ Điều 4 hay ngược lại!?

Điều 17 trong bản Hiến pháp 1992 tiếp tục phủ nhận Điều 4 bằng cách nói rõ hơn sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam như sau: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…”. Chính sự khẳng định Đảng CSVN lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Điều 17 này đã giết chết chủ nghĩa Mác-Lênin là tôn giáo và cương lĩnh của Đảng như Điều 4 đã quy định. Vậy, Điều 17 này đã xóa bỏ Điều 4 hay ngược lại?

Điều 21 trong bản Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường, tức kinh tế tư bản chủ nghĩa, như có đoạn viết sau: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động…”. Mục đích của chủ nghĩa Mác-Lê Nin là chôn chủ nghĩa tư bản. Sao Đảng CSVN ghi trong Điều 4 Hiến pháp “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội… theo chủ nghĩa Mác-Lênin” lại phát triển kinh tế tư bản? Hóa ra, bằng cách đề ra bốn Điều: 15, 16,17, 21 trong Hiến pháp 1992 là xây dựng nền kinh tế tư bản trên đất nước Việt Nam, Đảng CSVN đã làm ngược lại 180 độ chủ nghĩa Mác–Lênin; cũng có nghĩa là chính Đảng CSVN không chôn tư bản như nguyên lý Mác-Lênin đã dạy, mà ngược lại còn đi xây dựng tư bản chủ nghĩa. Như vậy, có phải chính là Đảng CSVN đã ngầm xóa bỏ Điều 4 trong bản Hiến pháp?

Tựu trung, Điều 4 trong Hiến pháp 1992 (bản sửa đổi) đã xóa bỏ các Điều 2, 3, 8,15, 16, 21, 83… của chính bản Hiến pháp, cũng là xóa bỏ nền tảng của bản Hiến pháp vậy! Muốn bản Hiến pháp không bị vô hiệu hoá vì sự thậm vô lý (ngược đời), cần phải xóa bỏ Điều 4 . Vả lại, nếu Điều 4 Hiến pháp không bị xóa bỏ, hiển nhiên là các cuộc bầu cử của nhà nước Việt Nam chung quy chỉ là hình thức, là trò đùa mà thôi; vì Hiến pháp đã khẳng định đảng cộng sản Việt Nam với số đảng viên thiểu số ( ba triệu) là lực lượng  vĩnh viễn lãnh đạo đất nước, lãnh đạo khối nhân dân đa số ( 90 triệu ) thì còn bầu cử làm gì cho mất công, vô ích. Chính Điều 4 Hiến pháp này đã thông báo một điều hiển nhiên : NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LÀ NHÀ NƯỚC ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐẢNG , TUYỆT ĐỐI KHÔNG PHẢI LÀ NHÀ NƯỚC DÂN CHỦ như Hiến pháp đã lừa dối tuyên bố  .,.

Sài Gòn 2006-2013

Trần Mạnh Hảo

* Đọc thêm:  Trần Mạnh Hảo (Wikipedia).  – Trần Mạnh Hảo trả lời phỏng vấn RFA (YouTube).  – Nhà thơ Trần Mạnh Hảo: Sự thật và giải phóng (YouTube).  – Trần Mạnh Hảo – Good Bye đại hội bịt mồm (talawas).

Hiến pháp nên nói về nhất thể hóa VNN

27 Th1

Hiến pháp nên nói về nhất thể hóa

Góp ý cho dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi, nhiều độc giả đề xuất nên bổ sung quy định về nhất thể hóa “Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư”.

TIN LIÊN QUAN:

 

Các ý kiến được đăng tải công khai trên trang web lấy ý kiến nhân dân của Văn phòng Quốc hội.

Theo độc giả Phạm Gia Minh, việc sửa đổi Hiến pháp lần này phải quy định rõ Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, là người đứng đầu Nhà nước. Phải làm nổi bật vai trò của người đứng đầu tham gia các hoạt động đối nội và đối ngoại. Thủ tướng là người điều hành Chính phủ do Chủ tịch nước giới thiệu để Quốc hội bầu.

Cụ thể, theo độc giả Gia Minh, khi Chủ tịch nước giới thiệu Thủ tướng để Quốc hội bầu thì phải giới thiệu 3 người chứ không giới thiệu 1 người như hiện nay.

Ngoài ra, cần sớm hợp nhất hai chức danh Tổng bí thư và Chủ tịch nước để tăng thêm quyền và vị trí đứng đầu Đảng và Nhà nước.

Một số độc giả cũng tán thành đề xuất trên về nhất thể hóa.

Chẳng hạn, theo độc giả Lê Khắc Thành, Hiến pháp nên ghi rõ: “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại”.

Còn theo bạn Đại Dũng, Hiến pháp nên quy định Chủ tịch nước có quyền đề cử và với sự phê chuẩn của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ tướng, Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.

“Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là thành viên của Chính phủ và có tác động trực tiếp đến bộ máy Hành pháp. Chủ tịch nước sẽ chủ trì việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Chính phủ và phải là trung tâm quyết sách của Chính phủ. Nếu quy định như vậy thì vai trò, vị trí và quyền lực của Chủ tịch nước sẽ tương tự như quyền lực của Chủ tịch nước được quy định trong Hiến pháp năm 1946 hoặc tương tự như quyền lực của Tổng thống trong các nước có chính thể Cộng hoà hỗn hợp hiện nay”, bạn Dũng góp ý.

Theo bạn Dũng, muốn quyền lực của Chủ tịch nước được tăng cường theo hướng nói trên thì quy trình bầu cử phải thay đổi theo hướng Chủ tịch nước cũng phải để nhân dân bầu trực tiếp.

“Như thế, quyền lực của Chủ tịch nước nhận được từ nhân dân, do nhân dân uỷ quyền nên có thể độc lập với Quốc hội ở một mức độ nhất định”, bạn Dũng phân tích.

Ngoài ra, với điều kiện Đảng lãnh đạo như hiện nay, nên chăng có thể quay lại thực tế lịch sử của đất nước trước đây, đó là nguyên thủ quốc gia sẽ đồng thời là Tổng bí thư hoặc Chủ tịch Đảng. Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa là Chủ tịch nước, vừa là Chủ tịch Đảng.

Cũng theo bạn đọc Đại Dũng, trong xu thế hiện nay và nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan Nhà nước cần rạch ròi hơn, sự giám sát và kiểm soát quyền lực Nhà nước cũng cần được tăng cường. Hiến pháp nên quy định cho Chủ tịch nước quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận lại hoặc xem xét lại một dự luật mà Quốc hội đã thông qua trong một thời gian nhất định và quyền này không thể bị từ chối. Nếu ở lần thảo luận lại này mà Quốc hội vẫn thông qua với ít nhất là 2/3 số phiếu tán thành thì Chủ tịch nước phải công bố.

“Quy định như vậy sẽ vừa làm tăng trách nhiệm, sự cẩn trọng của Quốc hội trong việc làm luật, vừa làm cho quy trình làm luật cẩn thận, kỹ càng và chắc chắn hơn, qua đó vừa nâng cao sự ổn định của luật, vừa tăng cường được ảnh hưởng, sự quan tâm và trách nhiệm của Chủ tịch nước với việc làm luật của Quốc hội và đảm bảo sự giám sát lẫn nhau trong hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước”, bạn Đại Dũng lý giải.

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi hiện đang được lấy ý kiến mọi tầng lớp nhân dân. Theo thuyết minh của ban soạn thảo, bản dự thảo tiếp tục giữ các quy định cũ về vị trí, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Quy định như vậy phù hợp với bản chất và mô hình tổng thể của bộ máy nhà nước của nước ta.

Dự thảo cũng đã có điều chỉnh bổ sung để làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Dự thảo quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh các lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các lực lượng vũ trang nhân dân. Bổ sung và làm rõ hơn thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc quyết định đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế hoặc quyết định phê chuẩn, gia nhập điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định.

Dự thảo Hiến pháp chưa đề cập đến chủ trương “nhất thể hóa” như đề xuất mà nhiều độc giả nêu ở trên.

Ngọc Lê

Mời bạn đọc theo dõi các bài viết về Hiến pháp tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/sua-hien-phap/

Mọi ý kiến đóng góp cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp xin gửi về banchinhtri@vietnamnet.vn

 

%d bloggers like this: