Lưu trữ | 5:35 Sáng

Trần Vàng Sao – Giọt nước trong lá sen – VHNA

29 Th1

 
Chủ nhật, 27 Tháng 1 2013 20:23

Trần Vàng Sao – Giọt nước trong lá sen

  • Email
  • In

Tôi trông lại ngôi nhà gạch cổ chìm dưới tán cây vú sữa trong bóng chiều đông xứ Huế lất phất mưa lạnh. Thế kỷ 20 còn ở lại đây. Ngay trong khuôn viên tuyềnh toàng mới được đeo số 38. Đường Nguyễn Khoa Vi. Phường Vỹ Dạ. Gia chủ của nó tôi vừa được gặp. Trần Vàng Sao.

Tôi yêu mến Trần Vàng Sao từ thuở còn là sinh viên. Dạo ấy vào cuối những năm 60 và đầu năm 70.Những năm tàu bay giặc hung hãn mang bom đạn đốt nhà giết người khắp bờ cõi Việt. Cả một nền đại học rời Hà Nội về rừng núi, thôn quê sơ tán. Chính phủ lo cho hàng vạn học trò cái ăn đã đủ mệt rồi. Thiếu sách , thiếu vở, đói rét là chuyện thường. Một nền đại học ngặt nghèo trong khói lửa chiến tranh. Đám sinh viên hiểu được cái ân huệ yên bình mà mình được hưởng. Ai cũng miệt mài thức khuya dậy sớm. Đêm hôm đèn sách. Thung lũng Đại Từ tỉnh Thái Nguyên bốn bề là núi xanh lơ. Ở giữa lại có hai quả núi nhỏ. Núi Văn. Núi Võ. Xa trông giống như hai cái mũ cánh chuồn úp xuống. Nơi cư ngụ của mấy ngàn ngọn đèn dầu sinh viên thời chống Mỹ. Sinh viên Văn khoa Tổng hợp Hà nội thời ấy oai lắm. Có thói quen chép tay hay truyền miệng nhau thuộc lòng những bài thơ hay. Thôi thì đủ cả. Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm. Không đề của Onga Bergon. Nghĩ lại về Pautopxki của Bằng Việt v. v… và Bài thơ của một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao. Không rõ in năm nào. Nhưng mà còn nhớ in chung trong tuyển thơ cách mạng miền Nam. Nhiều tác giả. Bài thơ ấy không biết ai nhuận sắc. Nó ngắn hơn so với nguyên bản. Nhưng hồn cốt vẫn giữ được. Người ấy chắc phải là tay cao thủ trong làng thơ xứ Bắc. Và chúng tôi thuộc lòng bài thơ kỳ lạ ấy. Suốt một nửa thế kỷ qua. Nó vẫn sống động, vẹn nguyên trong tâm hồn thế hệ thanh niên những năm gian khó. Giờ đã ở tuổi ngoại lục tuần, thi thoảng gặp nhau. Lại đem Trần Vàng Sao ra đọc. Như đọc lại một thời quá khứ long lanh.

Bài thơ độc đáo và đi vào lòng người ở chỗ. Nhiều thi sỹ khác khi viết về Đất nước thường viết theo âm hưởng anh hùng ca. Sang sảng. Phơi phới đi lên. Họ thường đặt đất nước vào vòng tay của lịch sử. Vòng tay rộng lớn. Mạnh mẽ. Nhiều khi đầy uy lực. Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? của Chế Lan Viên. Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Và sau này, Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo v.v và v.v… Trần Vàng Sao đã có cách làm khác hẳn. Ông ôm đất nước vào vòng tay nhỏ bé, tội nghiêp, và cay đắng của chính mình để hát lên một bài ca tha thiết, mà giản dị. Xúc động đến xót xa mà hài hòa vây ấm. Người ta khi đọc lên thấy yêu mến hơn đất nước mình, nhân dân mình một cách tự nhiên từ những gì gần gụi nhất.

Một bài thơ hay có trăm nghìn cách tiếp cận khác nhau để làm rõ ra, để xâm nhập, đào bới vào những vỉa quặng của ý nghĩ xã hội và vẻ đẹp thẩm mĩ. Nhưng dù cách nào, ai nấy đều thừa nhận. Bài thơ của một người yêu nước mình là một trong số ít bài thơ đặc sắc nhất của thi ca Việt Nam hiện đại viết về đất nước. Và nó đã ghi danh tên tuổi của thi sỹ Trần Vàng Sao lên bầu trời thi ca nước Việt, thế kỷ thứ 20. Bài thơ có nhiều vầng sáng lan tỏa trong nhau. Nhưng có ba vầng sáng lung linh và đẹp đẽ nhất. Soi tỏ những vầng trán đắm say và suy tưởng của nhiều thế hệ người đọc. Ba vầng sáng. Đất nước. Người mẹ. Và em. Ba vầng sáng ấy giản dị mà thân thương như ngọn đèn tần tảo của mỗi gia đình để ai đó còn xa xôi cách trở, còn tha phương trong khổ đau cảm thấy tin yêu gần gũi lại giữa trời đêm. Mở đầu bài thơ là sự thảnh thơi, thư thái. Không phải cái gì cao sang to tát mà bồi hồi như hơi thở làng quê, tràn trề hạnh phúc của tuổi thơ mỗi buổi sớm thanh bình.             

                          Buổi sáng tôi mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường

                        Gió thổi những bông nứa trắng bên sông

                        Mùi toóc khô còn thơm lúa mùa qua

                        Bầy chim sẻ đậu trước sân nhà

                        Và lũ trẻ đứng nhìn ngấp nghé

                        Tôi yêu đất nước này như thế.

Tình yêu đất nước bắt đầu từ nỗi nhớ khôn nguôi về một tiếng cười của người mà ta chưa từng gặp mặt. Mang đến cho ta nỗi buồn mang mác hương hoa của cõi xưa vắng lạ trong câu dân ca xa ngái cùng sự chia ly vô cớ của tuổi hẹn hò.

                          Đôi khi nhớ một tiếng cười lạ

                        Một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu

                        Một vết bùn khô trên mặt đá

                        Không có ai chia tay

                        Cũng nhớ một tiếng còi tàu.

Nhưng da diết hơn cả , sâu nặng hơn cả là hình ảnh người mẹ hiền giàu đức hy sinh, chịu bao cay đắng, thiệt thòi, tủi nhục. Suốt đời niệm Phật để nuôi dòng sữa Thiền cho ta khôn lớn. Là tiếng thở dài của mẹ đêm đêm, dài hơn cả cuộc đời ta, dài hơn cả nước sông gạo chợ tảo tần. Hình ảnh mẹ là hình ảnh sâu đậm nhất của quê hương để cuộc sống dù trải qua bao đắng cay cũng trở thành thân thương chan chứa mà dung dị lạ thường.

Tôi yêu đất nước này như thế

                        Như yêu cây cỏ trong vườn

                        Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương

                        Nuôi tôi thành người hôm nay

                        Yêu một giọng hát hay

                        Một bài mái đẩy thơm hoa dại

                        Có sáu câu vọng cổ chứa chan

                        Có ba ông táo thờ trong bếp

                        Và tuổi thơ buồn như giọt nước trong lá sen.

Vâng, giọt nước trong lá sen! Giọt nước long lanh được xứ Huế chắt chiu qua bao khổ đau, dông bão để sinh hạ ra thi sỹ tài hoa Trần Vàng Sao. Thi sỹ của tình yêu Tổ quốc mình. Càng đằm sâu vào thế giới tinh thần của bài thơ những vầng sáng lan tỏa soi tỏ tâm thức cõi người. Yêu đất nước hòa quyện với tình yêu của người con gái ngây thơ đã gọi nhỏ tên ta ở tuổi học trò áo trắng và chùm hoa phượng đỏ để ta nguyện cầu trong nỗi buồn cô đơn không giải thích nổi của tình yêu đôi lứa.

Tôi yêu đất nước này và tôi yêu em

                        Thuở tóc kẹp tuổi ngoan học trò

                        Áo trắng và chùm hoa phượng đỏ

                        Trong bước chân chim sẻ

                        Ngồi học bài và gọi nhỏ tên tôi

                        Hay nói chuyên luyên thuyên

                        Chuyện trên trời dưới đất rất lạ

                        Chuyện bông hoa mọc một mình trên đá

                        Cứ hay cười mà không biết có người buồn.

           

Ôm đất nước trong vòng tay bé nhỏ của mình.Trần Vàng Sao đã mười lần kêu lên:”Tôi yêu đất nước này”! Với bao tâm trạng. “Xót xa”. “Cay đắng”. “Khôn nguôi”. “Áo rách”. “Rau cháo”… Để rồi lần thứ 11, dường như ông không thể nhỏ nhẹ được nữa, cầm lòng được nữa, tiếng thơ như vỡ òa ra, thổn thức bật lên từ những âm vang của lịch sử, của những bài ca lao động, của những huyền thoại bất tử vang vọng hồn xưa.

                       Tôi yêu đất nước này lầm than

                        Mẹ đốn củi trên rừng cha làm cá ngoài biển

                        Ăn rau rìu, rau có, rau trai

                        Nuôi con người từ khi mở đất

                        Bốn nghìn năm nằm gai nếm mật

                        Một tấc lòng cũng trứng Âu Cơ

                        Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng.

Và bài thơ đi đến những âm hưởng cuối cùng trong sự hài hòa của những ước mơ khiêm nhường mà xiết bao hy vọng. Căn nhà nhỏ ban đêm có ngọn đèn thắp sáng. Gió thổi trong vườn cây xào xạc hương thơm. Tiếng trẻ con khóc bên nhà hàng xóm. Mẹ bồng con buổi đất nước hôm nay đã thấm hồn người. Bởi cuộc đời ta trải qua đắng cay đã biết làm người và giữ gìn mãi mãi tình yêu chân thật.

Không một ai đọc bài thơ này mà không một lần trào nước mắt. Đất nước đâu có gì xa xôi mà quá đỗi giản dị trong vòng tay của người thi sỹ và của chính mỗi người dân Việt. Trần Vàng Sao không phải ngọc ngà châu báu. Chỉ là giọt nước nhỏ đọng trong lá sen thôi mà long lanh biết mấy.

Sau khi xuất hiện bài thơ kỳ lạ này không thấy bóng dáng ông trên thi đàn nữa. Không rõ việc gì đã xảy ra , đến với ông.

Lũ chúng tôi ra trường. Tỏa đi bốn phương muôn ngả đường trần trong cõi mưu sinh. Có nhiều cái đã quên. Nhưng Bài thơ của một người yêu nước mình cùng với những kỷ niệm thời trai trẻ thì không quên được. Nó đã trở thành một bộ phận trong thế giới tinh thần riêng có của thế hệ chúng tôi. Mặc dù tác giả của nó cho đến giờ hầu hết còn chưa ai trong chúng tôi biết mặt. Mùa hè năm 2010. Tôi trở về thung lũng Đại Từ. Tìm lại tôi ngày ấy. Sau bốn mươi năm xa cách. Đứng trên chỗ trường xưa giờ chỉ còn là bãi đất. Xung quanh núi đã xanh mờ. Trở về ước mơ năm cũ. Ngang trời mây trắng ngẩn ngơ. Không còn ai trong mấy ngàn người thắp đèn dầu thủơ trước ở đây để nói lời chia tay. Nghe có tiếng còi tàu ở bên kia núi hay ở đâu đó lung linh trong tâm thức bài thơ cũ của Trần Vàng Sao gửi lại.

Mãi đến những năm gần đây, mọi người mới biết rõ ông gặp nạn. Đọc hồi ký “Tôi bị bắt” của ông trên mạng cảm thấy một tâm trạng xót xa và buồn. Nhưng biết làm sao được. Khi lịch sử đi những bước lớn vinh quang trên con đường của nó. Cuốn theo bao nhiêu thân phận con người. Nhưng số phận của mỗi con người đâu phải ai cũng giống ai. Đất nước thống nhất rồi. Không thể nói phía bên này sông thì liên quan, phía bên kia sông thì không liên quan trong khi dòng nước lịch sử tràn giữa đôi bờ thì cứ tha thiết chảy. Và không phải lúc nào hoa mai cũng nở được hai lần để ai lỡ bước kịp phân trần cho mưa lạnh vào đêm hôm trước nở hoa. Nói lịch sử thì to tát quá. Nói cuộc đời có lẽ giản đơn hơn. Ở đời có việc mới xảy ra hôm qua mà tưởng như đã 100 năm rồi. Ngược lại. Việc một trăm năm rồi. Lại tưởng mới xảy ra ngày hôm qua thôi. Cái phép biện chứng vô hình của thời gian là vậy đấy. Ai hay đâu mưa ướt ở ngoài thềm hôm trước lại chính là hạt mưa đã làm xúc động để hoa mai nở tự sớm mai 100 năm thấm thoát qua rồi.

 Thế kỷ trước có một vị tướng tài. Đánh đông dẹp bắc. Khi ngựa chiến vừa dừng chân. Ông nhận được chiếu chỉ của triều đình sắc phong cho ông chức vị chuyên lo về một việc dân sinh. Chẳng gắn gì với tài thao lược trong đời binh nghiệp của ông. Ông thanh thản nhận công việc đó. Việc đánh giặc khác gì đắp đê. Tuy vậy đó là một trong những quyết định khó khăn nhất của cuộc đời ông. Nói như Trần Vàng Sao. Bởi vì ông là một người yêu nước mình. Yêu nhân dân mình. Yêu hơn cả tính mạng và danh dự của bản thân mình. Đồng bào ai ai cũng quý trọng nhân cách làm người ấy. Câu chuyện này không liên quan gì đến cuộc đời Trần Vàng Sao. Nó chỉ như một dẫn chiếu để lý giải cho sự vắng mặt lâu dài của ông trên thi đàn. Và điều đáng quý là Trần Vàng Sao không im lặng. Ông tiếp tục làm thơ. Tiếp tục yêu nước mình dù ngay cả trong lúc cất lên những bài ca đau đớn và ai oán nhất. Đọc kỹ trên mạng thơ ông viết thời đó .Người đàn ông 43 tuổi nói về mình 1984. Khoảng trống ngoài sân khấu 1986. Tau chửi 1997.v .v… khoảng gần 30 bài. Không còn những hình tượng thơ tươi sáng và thanh khiết như Bài thơ của một người yêu nước mình nữa. Năm tháng. Tuổi tác. Và sự đời không thể cho ông làm được như thế nữa. Nhưng dù gì thì gì, Trần Vàng Sao vẫn trải lòng mình với những dòng thơ thế sự thấm đượm nhân văn.

            Một nỗi cô đơn lẻ bóng và yên phận mà sao chân thành và suy tư đến thế.

                        Một, hai, ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó trời nghe chó sủa

                        Miếng nước trà mốc có mùi bông lài rát cổ

                        Cũng không có chi phiền

                        Vấn một điếu thuốc hút

                        Hai ba lần tắt đỏ… .1984.

Lũ trẻ ngày xưa đứng nhìn ngấp nghé trong thơ ông vào buổi sớm mai 1967. Nay cũng chính chúng đang trở về nhà vào lúc chiều hôm theo phá với đàn trâu. Thi sỹ của chúng ta không còn thảnh thơi mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường nữa. Ông bỏ dép đi kín nước dưới sông. Thắp ngọn đèn nhỏ sáng trong ngôi nhà mình như ông từng mơ ước khi kết thúc Bài thơ của một người yêu nước mình. Một sự thống nhất không thể nhạt phai lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mĩ của ông.

                        Tôi bỏ hai chân ra khỏi dép cho mát

                        Đám trẻ con bỏ chơi chạy theo phá đàn trâu bò đi qua

Tôi bước vào nhà mở rộng hai cánh cửa lớn thắp một cây đèn để lên bàn thờ

                        Hai đứa con ra ngoài đường chờ mẹ chưa về

                        Trời còn lâu mới tối

                        Tôi đi gánh một đôi nước uống. 1984.

Năm 1985 ông viết bài thơ Những điều có khi hôm nay bỏ qua không nhớ. Nói là bỏ qua mà không thấy ông bỏ qua được. Thi sỹ Trần Vàng Sao không thể bỏ qua tình yêu quê hương đất nước mình. Cả những gì giản dị nhất.

                         Tiếng trẻ con ru em buổi trưa trời nắng

                        Những điều đó bỏ đi tình cờ gặp lại

                        Không kể năm

                        không kể tháng

                        Không kể ngày

                        …….

                        Con chuồn chuồn hết đạp nước rồi đậu trên dây thép gai

                        Con bò kéo xe chở gạch bước lách cách

                        Người đánh xe đội chụp cái mũ Levis ngồi dựa ngửa hút thuốc

                        Buổi chiều nước sông không có mặt trời

                        Tôi xoa hai đông bạc Kên trên mấy đầu ngón tay. 1985.

Ông không bao giờ chịu để ngọn đèn nơi ngôi nhà mình tắt. Ngọn đèn đã khêu lửa trong thơ ông từ hồi những năm ông rời thành phố Huế lên xanh cùng sống chết với quê hương  mình.

                           Đèn hết dầu

                        Tôi lấy chai ra đường kêu cửa mua chịu. 1985.

Trong số ít bài thơ viết khoảng 30 năm sau 1967. Có bài thơ dài gợi nhiều suy tưởng. Bài thơ Gọi tìm xác đồng đội đã được một tờ báo ở Hà Nội in toàn văn, sau khi tập thơ đã có giấy phép xuất bản, chuẩn bị đưa vào nhà in. Tòa báo này cũng đã điện thoại xin được sự đồng ý của tác giả.

Trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ trước. Thi hào Nguyễn Du có hai tác phẩm độc đáo. Một viết bằng chữ nôm. Văn tế thập loại chúng sinh. Thường gọi là Văn chiêu hồn. Một là bài thơ chữ Hán. Viết khi đi sứ phương Bắc. Có tên trong tập Bắc Hành Tạp Lục. Phản chiêu hồn. Nguyễn Du đã sử dụng hai bút pháp khác biệt. Văn chiêu hồn là bài văn tế 10 loại chúng sinh. Tết rằm tháng bảy xá tội vong nhân thê thảm. Gọi hồn về nhận phần cúng lễ để mà yên phận cho kẻ sống. Người chết lên thiên đàng. Đó là bài văn tế đau thương được Nguyễn Du viết trong nỗi buồn chứa chất của 10 năm lưu lạc, chui lủi giữa nghèo đói rét mướt của ông.  Chứng kiến bao cảnh chết chóc của hàng vạn chúng sinh chẳng khác gì được miêu tả trong Vũ Trung Tùy Bút. Trước khi làm quan với triều Nguyễn. Có người nói. Văn chiêu hồn được viết trước truyện Kiều. Thời Nguyễn Du làm cai bạ ở Quảng Bình. Ngược lại.Ở Phản chiêu hồn Ông gọi hồn Khuất Nguyên đừng có trở về dương thế nữa. Dù oan khuất bao nhiêu! Bởi vì mặt đất này còn đầy rẫy những dòng sông Mịch La hiểm họa!

            Gọi tìm xác đồng đội của Trần Vàng Sao không làm theo hai cách của Nguyễn. Ông theo đuổi lý tưởng nhân văn và thẩm mĩ của riêng mình. Bài thơ không còn những câu thơ lấp lánh nữa. Trần vàng Sao sử dụng phương pháp tự sự, kể chuyện. Ông sử dụng triệt để phương pháp đồng hiện. Những cái chết bi ai trong chiến tranh với nhiều tên người, tên đất cụ thể ở khắp mọi vùng Tổ Quốc. Bài thơ không phải là một văn chiêu hồn mới. Nó là khúc ca nghẹn ngào nhắc nhở hiện tại và mai sau cái giá phải trả cho cuộc sống hòa bình. Nhắc nhở người đang sống dù hạnh phúc hay đắng cay phải biết ơn những người đã chết vì đất nước và quê hương. Dù còn bao gian khó. Hiện thực của bài thơ trần trụi một cách đáng sợ. Người ta không thể tính được cái giá của hòa bình. Cái giá của chiến tranh. Chỉ có quỷ dữ mới tính được cân, được lạng da thịt của người chết! Cái đáng quý của Trần Vàng Sao ở chỗ. Chiến tranh hiện hình trần trụi trong từng cái chết. Nhưng không thể dập tắt khát vọng sống mãnh liệt của con người. Gọi tìm xác đồng đội có những câu thơ trong sáng như mây buổi sớm. Và Ban mai như một hình tượng thơ trong suốt pha lê của cả đời thơ nhà thơ xứ Huế.

Những buổi sớm mai

                        Những buổi sớm mai thơm mùi lúa

                        Tôi đi qua cánh đồng đất nứt  cuốc lật

                        Hai bên đường bông cỏ vừa nở

                        Chim hót trong gió mát

                        Và sương mờ trong cây bên kia vùng

                        Em làm gì mà ngơ ngác như không thấy tôi

                        Những buổi sớm mai

                        Những buổi sớm mai

                        Như thơ tôi

                        Sớm mai

                        Mặt trời mọc

                        Như thơ tôi ở với trời đất và anh em

                        Bạn bè tôi người sống người chết

                        Thơ tôi là đời tôi là tôi đây. 1996.

           

Cho phép tôi được gọi Trần Vàng Sao là nhà thơ của Ban Mai trong khổ đau hy vọng.

            Và như ‘cái thuở ban đầu lưu luyến ấy ‘, cái buổi sớm mai chàng thi sỹ họ Trần mặc áo đi giày ra đứng ngoài đường gặp em gái đang độ tuổi học trò. ‘Bông hoa mọc một mình trên đá. Cứ hay cười không biết có người buồn’ của gần nửa thế kỷ trước lại hiện về xao xuyến yêu thương trong bài thơ đầy chết chóc. Con người hy vọng ở Ban Mai. Vơi đi bao nỗi ưu phiền.

 

                        Mọc trên đá một mình

                        Em còn xa tôi, xa tôi

                        Tôi còn đi mãi bơ vơ

                        Trang giấy buồn

                        Tôi xin đọc lời di chúc phúng điếu tôi  bên

                        Dòng sông này

                        Cùng cây cỏ

                        Cùng anh em tôi. 1996.

           

Không thể không nói những năm sau này thơ Trần Vàng Sao mang nặng những nỗi buồn. Để rồi vượt lên tất cả, kết thúc bài thơ dài Gọi tìm xác đồng đội là tâm hồn thanh thản của Thi Nhân. Tôi chú ý đến ông miêu tả cử chỉ ngó xuống hai bàn tay của ông mà liên tưởng tới thế tay của 3 vị Tam Thế trong chùa. Khuôn mặt của quá khứ, hiện tại và tương lai đều giống nhau thôi. Khác nhau chỉ ở cái ấn quyết của đôi tay Phật. Trần Vàng Sao là nhà thơ yêu nước mình. Ôm trọn đất nước vào vòng tay bé nhỏ của mình mà ca hát đến nghẹn ngào. Cuộc sống dù trải qua bao sa mạc đắng cay thì trời đêm vẫn còn mưa. Để cho hy vọng hoa mai sẽ nở trắng lần thứ hai, dù là sau 100 năm hay 300 năm nữa. Cũng có thể vào sáng ngày mai thôi. Và tiếng chẻ củi cho bếp lửa cuộc đời không tắt vang lên bên nhà hàng xóm.

                                   

Còn tôi

                        Tôi ngó hai bàn tay tôi

                        Rồi ngó trước mặt

                        Ngó sau lưng

                        Đêm mưa không biết

                        Có tiếng chẻ củi ở nhà bên cạnh.

           

Vào dịp cuối năm này, Hội nhà văn bận việc. Cái dinh thự số 9 Nguyễn Đình Chiểu nhỏ nhắn, khiêm nhường nhìn ra cây lá công viên. Có tiền đâu mà bao lơn, tháp nhọn như trụ sở của các bộ ngành. Ấy vậy đó lại là nơi hội ngộ của khoảng một nghìn con người mang danh thiếp sang trọng. Nhà Văn ! Nhà văn của một đất nước 85 triệu người. Họ được đào tạo tốt từ đủ các trường đại học có ở trên đời này. Mặt trận. Ruộng đồng. Hầm mỏ. Làm thuê cấy mướn. Các Học Viện danh giá ở nước ngoài… Có ông mũ cao áo dài. Tiến sỹ nọ. Tiến sỹ kia. Có thời lên ngựa xuống xe hét ra lửa, lại tình nguyện về số 9 Nguyễn Đình Chiểu. Chịu xếp hàng làm người đi sau. Chỉ với mong muốn được mang tước hiệu Nhà Văn! Cái tước hiệu Vinh hoa của nước Đại Việt này từ ngàn đời nay vẫn cơm ăn chẳng kể dưa muối. Áo mặc nài chi gấm thêu. Họ xứng đáng như lời khen ngợi của Lê Quý Đôn khi đề cập đến các danh sỹ đời Trần trong sách Kiến Văn Tiểu Lục: ‘Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ của sỹ quân tử’. Chẳng mấy ai trong số họ được Trên gặp trực tiếp giao phó nhiệm vụ cụ thể cả. Ấy vậy mà không trừ một ai họ cứ lăn lưng vào. Tự nhận cho mình cái sứ mệnh thiêng liêng là tiếng nói của nhân dân. Tâm tình của đất nước. Con chim báo bão của thời đại. Tự giãi bày gan ruột mình, những ý nghĩ thầm kín dễ tổn thương nhất của mình trước thiên hạ. Vậy mà không biết có thách thức nào giống như là thách thức với nhà văn? Tác phẩm của họ phải chịu sự khảo thí nghiêm cẩn của thế gian và cay nghiệt của quan tòa thời gian. Người trồng lúa 6 tháng 1 năm đã biết được mùa hay thất bát. Người làm thơ có khi 6 ngày, 6 tuần đã biết. Có khi 6 năm, rồi 60 năm… chẳng biết được số phận đứa con tinh thần của họ ra sao. Nhưng lúa mẩy hạt thì cứ chín còn bao nhiêu Thơ phải lép theo mùa. Bởi vậy, suy đến cùng danh thiếp sang trọng nhất của nhà văn và cũng là nỗi lo lắng nhất của họ.Tác phẩm.

Nhà thơ Nguyễn Hoa có nói cho tôi biết qua điện thoại. Thi sỹ Trần Vàng Sao đã ba lần được mời tham dự Hội nhà văn. Ngay từ 1990 khóa trước. Hồi bác Vũ Tú Nam còn cầm trịch. Rồi các khóa sau này. Nhà thơ Hữu Thỉnh kế nhiệm. Lần cuối vào khoảng năm 2005-2006. Nhà thơ Nguyễn Hoa lại vào Huế. Khi ở trên bờ đã thấy xuôi xuôi. Xuống thuyền thưởng ngoạn sông Hương xong. Lúc lên bờ. Trần Vàng Sao lại ân cần từ chối. Biết làm sao được.

            Dòng sông Hương bao đời nay chảy giữa tâm tư khát vọng của xứ Huế. Của kinh thành một thời vang bóng. Cờ xí rồng bay. Dường như có một dòng chảy vô hình nữa ở đâu đó dưới làn nước xanh. Sông Hương trầm lặng có bao giờ chia sẻ tâm sự nhân thế với con người đầy mẫn cảm hay vẽ tranh Bồ đề Đạt Ma Trần Vàng Sao – Nguyễn Đính hay không ? Những bức tranh vẽ sư tổ Đat Ma có cái hao hao giống Nguyễn Đính. Tên cúng cơm của Trần Vàng Sao!? Dòng chảy âm thầm của sông Hương mách bảo bí mật những lời của thiên sứ cho các văn nhân tài hoa xứ sở. Tùng Thiện vương Miên Thẩm. Tuy Lý vương Miên Trinh. Trịnh Công Sơn. Nguyễn Khoa Điềm. Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phùng Quán. Trần Vàng Sao và bao nhiêu người khác nữa. Họ có cốt cách của người xứ Huế không pha trộn, vay mượn được.

            Sông Hương có nhiều nơi đẹp. Nhưng tôi yêu nhất Bến Phu Văn Lâu. Ở ngay trước của chính Hoàng Thành. Sát bờ sông Hương. Một tòa lầu nhỏ mái vàng điềm điệp nắng mưa màu xa vắng. Cái lầu nhỏ xa xưa ấy để văn thư , chỉ dụ của Đức Vua, kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức. Dường như đó là biểu trưng của xứ Huế thanh tịnh, dịu hiền, thi thư. Không biết ai đã viết nên câu hò mái đẩy man mác tình sông núi.Chiều chiều trước Bến Văn Lâu. Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm. Ai thương ai cảm ai nhớ ai không. Thuyền ai thấp thoáng bên sông. Nghe câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

            Cứ mùa xuân vào dịp giêng hai. Mưa bụi rải một màn ảo giác mê hoặc cả châu thổ sông Hồng. Và có lần nó lan tỏa tới Bến Phu Văn Lâu.Ước gì mùa xuân tới, tôi lại được đến  Phu Văn Lâu, được hầu chuyện người mà mình ngưỡng mộ. Được đọc thuộc lòng Bài thơ của một người yêu nước mình trước Phu Văn Lâu, trước người làm ra nó, sinh hạ ra nó khi còn ở trên xanh giữa cơn sốt rét rừng ác nghiệt. Năm ấy ông mới có 26 tuổi. Không biết có bao nhiêu bản in bài thơ này từ dạo Mậu Thân 1968 để chuyển tới tay người Huế trong khói lửa giao thừa. Không biết có bao nhiêu người ở phía bên kia đọc nó trong tiếng nấc. Không biết có bao nhiêu người ở phía bên này đọc nó trong nghẹn ngào khôn xiết tình yêu Tổ Quốc mình để đi tới ngày thống nhất. Non sông bền vững âu vàng.

Nước Việt sau đây rồi sẽ biến đổi khôn cùng. Có hàng triệu kiếp người sẽ lặn sâu, lặn sâu mãi mãi dưới bao tầng đất của xứ sở này. Thế gian biến đổi vũng nên đồi. Những Ao Sen. Hồ Sen. Đầm Sen. Hoa Sen. Lá Sen. Hương Sen. Tòa Sen sẽ không bao giờ mất. Giống như Tòa Sen của Phật ở cõi tâm linh. Các thế hệ mai sau sẽ chẳng bao giờ quên. Kể cả giọt nước nhỏ bé đọng trong lá sen xanh sau một đêm dài đất trời ngưng tụ lại.  

12-2012                        

 Khuất Bình Nguyên: Cựu sinh viên khoa Ngữ Văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội [Khoá 13].

Bài đã đăng trên Văn nghệ Tết Quý Tỵ 2013.

Bị coi thường hay tự coi thường ? – VHNA

29 Th1

Bị coi thường hay tự coi thường ?

  • Email
  • In

Những năm gần đây, đặc biệt là thời gian gần đây, các vấn nạn xã hội ở Việt Nam tăng với mức độ chóng mặt, sự xói mòn văn hóa, suy đồi đạo đức, sự kiệt quệ trên phương diện kinh tế, sự yếu kém của khoa học kỹ thuật, sự xuống cấp của giáo dục, nguy cơ mất nước… đòi hỏi phải có các giải pháp hữu hiệu. Trước thực tế đó, con người Việt Nam đương đại bộc lộ toàn bộ sự yếu kém của mình, các giải pháp đưa ra không những không khắc phục được triệt để vấn đề mà nhiều khi còn làm trầm trọng thêm. Trước thực tế đó, xuất hiện nhiều bài viết bàn về về vai trò của trí thức đối với xã hội. Bài viết này chỉ đề cấp đến một khía cạnh nhỏ của vấn đề trí thức.

Sự yếu kém của đội ngũ trí thức (nếu có thể dùng từ này) ở Việt Nam thường được nhìn nhận là bắt nguồn từ chỗ họ không được coi trọng, họ bị coi thường. Bằng chứng được dẫn là: họ phải nhận đồng lương èo uột, không được lên tiếng, khi lên tiếng thì tiếng nói của họ cũng không được coi trọng, ý kiến của họ không được sử dụng. Bao nhiêu người dù không được phép cũng đã tự lãnh trách nhiệm cất tiếng nói bàn về các vấn đề của đất nước, nhưng thông thường chẳng ai trả lời họ, ý kiến của họ chẳng được dùng vào việc gì cả. Chuyện trí thức bị coi thường, bị khinh rẻ thường là như thế.

Nhưng chuyện trí tự coi thường mình, tự khinh bỉ mình, thiếu tôn trọng chính mình, thì lại không dễ thấy. Dĩ nhiên không thể bàn thấu đáo chuyện này chỉ trong một văn bản ngắn, ở đây tôi chỉ nêu một ví dụ về một khía cạnh của sự tự coi thường bản thân mình ở giới trí thức.

Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ, còn gọi là Quỹ Nafosted  là một Quỹ quốc gia và các hoạt động của Quỹ từ mấy năm nay được đánh giá là nhằm tiếp cận với chuẩn mực quốc tế. Việc thành lập các Hội Đồng Khoa Học (HĐKH) của Quỹ dựa trên các tiêu chí được nêu rõ ở trên website của Quỹ. Điều này cho thấy những người được chọn vào HĐKH được nhà nước tôn trọng, được giao trọng trách trong việc xét duyệt những đề tài có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học quốc gia.

Như vậy trong trường hợp này, không thể nói là nhà nước thiếu tôn trọng trí thức hay coi thường trí thức.

Nhưng những Giáo Sư được xem là GS đầu ngành của đất nước có tôn trọng mình hay không, có tự coi thường mình hay không ? Tôi nhường câu trả lời cho công luận, và mời tất cả chúng ta tự xem xét đánh giá sự việc sau đây, liên quan tới HĐKH ngành Văn học và Ngôn ngữ.

HĐKH ngành VH-NN có 9 thành viên, danh sách ở đây :

            http://www.nafosted.gov.vn/index.php/vi/gioi-thieu/Chuyen-gia-danh-gia-va-Hoi-dong-khoa-hoc/HDKH2009VII-20/

Có tổng cộng 6/9 thành viên của HĐKH có đề tài được chính HĐKH xét duyệt cấp kinh phí của quỹ Nafosted.

Phó Chủ tịch HĐKH, GS.TSKH. Lý Toàn Thắng được HĐKH xét duyệt tài trợ năm 2011. Xem đường link sau đây, mục VII. Văn học – Ngôn ngữ:

http://www.nafosted.gov.vn/vi/danh-sach-tai-tro/NCCB-thuong-nien/DANH-SACH-DE-TAI-KHOA-HOC-XA-HOI-VA-NHAN-VAN-NAM-2011-6/

Chủ tịch HĐKH là PGS.TS. Phan Trọng Thưởng cùng một thành viên khác của HĐKH là PGS.TS. Hồ Thế Hà có đề tài được HĐKH xét duyệt tài trợ năm 2012. Xem đường link sau đây, mục VII. Văn học – Ngôn ngữ:

http://www.nafosted.gov.vn/vi/danh-sach-tai-tro/NCCB-thuong-nien/DANH-SACH-DE-TAI-KHOA-HOC-XA-HOI-VA-NHAN-VAN-2012-33/

PGS.TS. Trần Nho Thìn (Thư ký khoa học của HĐKH), GS.TS. Nguyễn Thiện Giáp (thành viên HĐKH) và GS.TS. Nguyễn Đức Ninh (thành viên HĐKH) có đề tài được HĐKH xét duyệt tài trợ năm 2013. Xem đường link sau đây (mục « Danh sách các đề tài được tài trợ »):

http://www.nafosted.gov.vn/vi/news/Tin-ket-qua-tai-tro/Thong-bao-ve-viec-phe-duyet-danh-muc-de-tai-NCCB-trong-KHXHNV-duoc-Quy-phat-trien-khoa-hoc-va-cong-nghe-quoc-gia-tai-tro-thuc-hien-tu-nam-2013-74/

Hội Đồng Khoa Học tự duyệt đề tài của các thành viên của mình, tự thẩm định chất lượng các nghiên cứu của các thành viên của mình. Các thành viên HĐKH lần lượt được duyệt kinh phí của quỹ Nafosted từ năm này qua năm khác. Vậy việc lập ra Hội Đồng còn có ý nghĩa gì ? Cách làm việc như thế thể hiện sự tôn trọng bản thân hay là sự coi thường bản thân của các thành viên HĐKH ? Trong trường hợp này liệu có cách gì để đổ tội cho nhà nước là không tôn trọng các nhà khoa học ? Thực sự là tôi không rõ trên thế giới có nơi nào, thời đại nào cho phép các Hội đồng thẩm định và xét duyệt làm việc theo cách đó. Nêu vấn đề ra đây để có dịp học hỏi quý độc giả.

Tôi thuộc nhóm tác giả của một đề tài ứng cử năm nay đã bị HĐKH ngành Văn học Ngôn ngữ xếp vào loại không đáng được nhận tài trợ. Nhóm chúng tôi đã gửi thư cho HĐ quản lý Quỹ và HĐKH ngành Văn học và Ngôn ngữ để hỏi về một số vấn đề, trong đó có vấn đề về cách làm việc đã nêu trên đây. Hiện chúng tôi đang chờ thư trả lời. Chúng tôi sẽ công bố các văn bản này, chấp nhận đưa ra trước công luận sự yếu kém của chúng tôi, những hạn chế trong hồ sơ của chúng tôi, nhằm góp phần cùng với Quỹ Nafosted thực hiện tiêu chí minh bạch hóa và công khai hóa trong các hoạt động nghiên cứu khoa học của nước nhà.

Tp Hồ Chí Minh, ngày 27/1/2013

 

MỘT CÁCH NHÌN MỚI VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO VIỆT NAM – Huỳnh Ngọc Chênh

29 Th1

MỘT CÁCH NHÌN MỚI VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO VIỆT NAM

 
( Đọc cuốn “ Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo
và văn hóa Việt Nam” của TS. Phạm Huy Thông)
    PGS.TS Đỗ Lan Hiền
 
Đạo Công giáo không phải là một đề tài mới ở Việt Nam. Đã có rất nhiều người nghiên cứu về nó, khen chê nó dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhưng đọc cuốn “ Ảnh hưởng qua lại của đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam” của TS. Phạm Huy Thông do Nhà xuất bản Tôn giáo vừa ấn hành tháng 11-2012 ( dưới đây gọi tắt là “ Ảnh hưởng qua lại”) vẫn đem lại cho tôi nhiều cảm nhận mới về tôn giáo này.
Trước hết, đây là cuốn chuyên luận được nhìn dưới lăng kính triết học. Tác giả không hề dùng khái niệm “ biện chứng triết học” nhưng cách xem xét biện chứng, phương pháp biện chứng hiển thị rõ ràng trong từng trang sách. Ngay tên cuốn sách đã cho thấy tác giả muốn mổ xẻ sự tương tác biện chứng giữa hai đối tượng: đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam. Một vài tác giả khi trình bày vấn đề này thường chỉ thấy một chiều, nghĩa là chỉ thấy được mặt tích cực hoặc tiêu cực nhằm minh giáo, hộ giáo hoặc phủ nhận đạo Công giáo. Cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” đã vượt qua được những thái cực đó để có cái nhìn khách quan trung thực hơn và cũng rất “triết học” khi nhận xét: “Rõ ràng, khi đạo Công giáo đóng dấu ấn của mình lên văn hóa Việt thì văn hóa Việt Nam cũng choàng trang phục dân tộc lên đạo Công giáo. Đây là sự tương tác biện chứng hai chiều và kết quả là làm phong phú cả hai” ( tr.18). Như vậy, không chỉ văn hóa Việt có lợi được làm giàu mà đạo Công giáo cũng được đổi mới mình để trở thành “đạo Công giáo Việt Nam chứ không phải là đạo Công giáo ở Việt Nam” (tr.124).
Những ai dã học triết học biện chứng đều biết rõ, chẳng có sự vật nào đơn độc một mình. Nó luôn bị chi phối, tác động của nhiều yếu tố. Cũng chẳng có sự vật nào tác động đơn phương, một chiều. Bởi vậy, đạo Công giáo ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam, đóng dấu ấn lên văn hóa Việt thì văn hóa Việt cũng ảnh hưởng trở lại, biến đổi đạo Công giáo đến từ phương Tây xa lạ, trở thành một tôn giáo gần gũi với văn hóa dân tộc. Hơn nữa, ảnh hưởng của đạo Công giáo với văn hóa Việt cũng không hẳn hoàn toàn chỉ có mặt tích cực. Dân gian vẫn thường nói: hoa hồng nào chẳng có gai và huân chương nào cũng có hai mặt. Đạo Công giáo cũng thế. Nó có nhiều đóng góp tích cực với văn hóa Việt Nam như tác giả đã trình bày khá thuyết phục từ trang 21 đến trang 98, khó có thể bác bỏ, thì mặt tiêu cực của nó cũng được tác giả chỉ ra từ trang 98 đến trang 120, cũng rất thuyết phục người đọc.
Nội dung của cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” cũng đem lại nhiều tri thức mới cho độc giả.
Cuốn sách ngoài phần mở đầu và kết luận, được chia làm 3 chương. Chương 1 có tên gọi: “ Dấu ấn của đạo Công giáo trong văn hóa Việt Nam”. Chương này chủ yếu trình bày những đóng góp của đạo Công giáo với văn hóa Việt. Về vấn đề này, rải rác đây đó cũng có tác giả, tác phẩm đề cập tới nhưng cuốn “ Ảnh hưởng qua lại”, có lẽ là tác phẩm lý giải hệ thống đầy đủ nhất. Có 4 nhóm đóng góp của đạo Công giáo được ghi nhận: là cầu nối giao lưu văn hóa Việt Nam và thế giới; sáng tạo ra chữ Quốc ngữ; làm phong phú văn hóa Việt qua lễ hội, văn học, nghệ thuật, báo chí Công giáo và giáo lý Công giáo góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong xã hội. 
Có vấn đề không mới, đã được nghe nói nhiều lần như việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ nhưng tác giả cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” vẫn đưa ra những thông tin mới hấp dẫn. Chẳng hạn, mặc dù xây dựng và truyền bá chữ Quốc ngữ, nhưng đạo Công giáo vẫn là nơi lưu truyền các ấn phẩm Hán- Nôm, các trường Công giáo vẫn buộc chủng sinh phải học Hán tự. Hay bàn về danh nhân văn hóa Công giáo Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), tác giả không chỉ nói đến lòng yêu  nước, tư tưởng canh tân mà còn đưa ra nhận xét táo bạo: “Nguyễn Trường Tộ không chỉ là nhà cải cách có lòng yêu nước, ông còn là một triết gia lớn ở Việt Nam thế kỷ XIX” ( tr.69). Một vài học giả cả trong và ngoài nước vẫn cho rằng ở Việt Nam không có triết học nên cũng không có triết gia mà chỉ có nhà tư tưởng. Điều này không đúng. Phương Tây cũng không tự nhiên có hệ thống triết học đồ sộ như ngày hôm nay. Họ cũng phải xây đắp, nhặt nhạnh những tư tưởng triết học của từng cá nhân. Một câu nói “ Người ta không thể tắm hai lần ở một dòng sông” của Heraclit ( 544-483 tr CN) chưa thể xây dựng thành trường phái biện chứng triết học nhưng từ những tư tưởng đó nó đã hình thành. Vậy tại sao phát hiện của Nguyễn Trường Tộ từ cuối thé kỷ XIX: “ Ánh sáng cũng là vật chất trong vũ trụ” (tr.71) lại không thể coi ông là một triết gia?
Chương 2: “Ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam với đạo Công giáo ở nước ta” là khám phá có ý nghĩa nhất của cuốn sách. Đây đó đã có tác giả nói đến quá trình Việt hóa đạo, hội nhập văn hóa dân tộc nhưng cho đó là kết quả của “ sự nhập gia tùy tục” hay là để đạo Công giáo tồn tại chứ không phải là do sự ảnh hưởng của văn hóa Việt. Tác giả, không phủ nhận sự canh tân, đổi mới của Vtican II đối với sự thay đổi của giáo hội Công giáo Việt Nam nhưng rõ ràng sự tác động của văn hóa Việt đã trực tiếp làm biến đổi đạo Công giáo cả trên hai phương diện là hội nhập văn hóa dân tộc và đồng hành cùng dân tộc. Những bài học đau xót trong lịch sử dưới triều Nguyễn về sự phản ứng của xã hội, văn hóa Việt với đạo Công giáo khi tôn giáo này bác bỏ việc thờ cúng tổ tiên đã buộc các nhà truyền giáo ở Việt Nam phải thay đổi thái độ về vấn đề này trước cả khi Vatican ban hành  Huấn dụ Plane compertum est ngày 8-12-1939 cho phép người Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên được thờ cúng tổ tiên bằng hương hoa (tr.144).
Chương 3, tác giả vạch ra xu hướng của mối quan hệ giữa đạo Công giáo và văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay. Vẫn còn có những khác biệt trong một số điểm giữa giáo lý và chính sách, thậm chí có cả chống đối ở nơi này, chỗ kia nhưng cái tương đồng đã hiện hữu nhiều hơn và đang được vun đắp bằng sự chung tay của cả cộng đồng trong nước, bà con người Việt ở nước ngoài và cả thiện chí của Tòa thánh Vatican nên tác giả đã đủ cơ sở để khẳng định: “ Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc” là xu hướng tất yếu của mối quan hệ qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam” (tr.263).
Do tham khảo được nhiều tài liệu nhất là từ phía giáo hội và được cập nhật suốt lịch sử đạo Công giáo từ khi nó có mặt ở Việt Nam đến nay, nên cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” đem lại cho người đọc nhiều thông tin mới. Đạo Công giáo ở Việt Nam có hàng chục tên gọi , tác giả đã giành hẳn 4 trang (21-24) để làm rõ nguồn gốc từng tên gọi và đề nghị nên gọi là đạo Công giáo mặc dù trong nhiều sách báo và cả trên chứng minh thư mục tôn giáo vẫn ghi “ Thiên Chúa giáo”, nhưng tác giả cho rằng ghi như thế là không chính xác cả về khoa học cũng như thực tế vì ở Việt Nam không có “ Thiên Chúa giáo” mà chỉ có “ Công giáo” mới được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân năm 1980 mà thôi (tr.25). Có khái niệm nghe rất quen : “ làng xôi đỗ” nhưng tác giả đưa ra cách giải thích lý thú: “ Gạo nếp xôi không thể ngon bằng khi có đỗ. Nó vừa có hương thơm của nếp, vị bùi của đỗ xanh. Một món ẩm thực rất Việt. Khái niệm này đã nói lên sự gắn kết, hòa quyện từ bao đời tuy không cùng tôn giáo nhưng cùng chung một giếng nước đầu làng, một mái đình rêu phủ”. Chính cái tình “ làng xôi đỗ” đã tạo ra bầu khí an bình ở Việt Nam dù cũng có rất nhiều tôn giáo nhưng không có máu đổ vì lý do khác tôn giáo thậm chí cùng tôn giáo như ở đó đây trên trên thế giới.
Mặc dù là chuyên luận nhưng người đọc không cảm thấy khô khan khi đọc hết 320 trang sách. Với cách tiếp cận triết học- văn hóa, cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” đã chỉ ra những đóng góp của đạo Công giáo “với đất nước, với dân tộc trong suốt chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước” (tr.299) đồng thời cũng “ chỉ ra rằng, chỉ có đi với dân tộc, tôn giáo này mới có sức sống và có nhiều đóng góp cho quê hương” (tr.286). Đó cũng là cái nhìn mới về tôn giáo này và cuốn “ Ảnh hưởng qua lại” sẽ là cuốn sách công cụ cho tất cả những ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về đạo Công giáo. Đúng như lời Giám mục Nguyễn Văn Sang- nguyên Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng GMVN đã viết trong lời giới thiệu: “ Cuốn sách của TS. Phạm Huy Thông hẳn sẽ là chuyên luận thích thú không chỉ với giới nghiên cứu mà cả độc giả trong và ngoài Công giáo” (tr.8).
Ước mong sẽ có nhiều cuốn sách như thế của chính tác giả và các nhà nghiên cứu trong tương lai.
 
PGS TS Đỗ Lan Hiền 
Học viện CT-HC Quốc gia HCM

TIN CHẤN ĐỘNG: NHÀ VĂN Y BAN NÓI RÕ SỰ NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI CỦA MỘT PHÓ CHỦ TỊCH, MỘT UV BCH HỘI NHÀ VĂN VN VÀ “THƯ NGỎ GỬI NHỮNG CON NGƯỜI TỬ TẾ” – VC+

29 Th1

TIN CHẤN ĐỘNG: NHÀ VĂN Y BAN NÓI RÕ SỰ NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI CỦA MỘT PHÓ CHỦ TỊCH, MỘT UV BCH HỘI NHÀ VĂN VN VÀ “THƯ NGỎ GỬI NHỮNG CON NGƯỜI TỬ TẾ”

 
Nay tôi xin nói rõ quan điểm của tôi về cái sự Ngậm máu phun người của hai ông trong BCH Hội Nhà văn VN khóa 8 Lê Quang Trang (Phó chủ tịch Hội) và Vũ Hồng (UV BCH) như sau:

1. Nếu Trò chơi hủy diệt cảm xúc đạo Ý tưởng cuốn tiểu thuyết Cưỡng cơn gió bấc như hai ông đưa lên trang web: Sông Cửu Long (http://www.vannghesongcuulong.org.vn/) và Nhà văn TP Hồ Chí Minh (http://nhavantphcm.com.vn/) thì điều đó đã chứng minh rằng các ông đã không chịu đọc sách. Chính các ông là thành viên ban chung khảo. Chính các ông đã bỏ phiếu cho Trò chơi hủy diệt cảm xúc để nó được bằng khen kia mà. Các ông hãy phải trả lời trước công luận về điều này.2. Trong thư ngỏ trước tôi đã đưa ra những lời cáo buộc, Hội Nhà văn VN đã ra thông báo bác bỏ, rằng đã làm đúng. Trong xã hội dân sự của chúng ta Hội Nhà văn VN hoàn toàn có quyền kiện tôi ra tòa vì nếu sự cáo buộc không đúng sự thật. Cũng như tôi, tôi sẽ kiện hai ông Lê Quang Trang và ông Vũ Hồng ra tòa nếu hai ông này cáo buộc tôi đã đạo văn.
 
Nhà văn Y Ban
 
 

(Văn chương +) Tôi là Y Ban, Hội viên Hội Nhà văn VN từ năm 1996. Trước khi đến với văn chương tôi là Giảng viên trường Cao đẳng Y Tế Nam Định và Trường ĐH Y Thái Bình. Khi tôi bỏ trường ĐH Y để đến với văn chương Bố tôi rất buồn. Bố bảo với tôi: Bố cho con ăn học một nghề tử tế, nay con từ bỏ để đến với cái nghề Mõ này. Năm đời nhà bố không có ai theo văn chương. May bố tôi,  một bác sỹ, một cựu chiến binh đã tham gia và chứng kiến chảo lửa Quảng Trị từ 1972-1975 đã mất rồi, nếu không ông sẽ đau buồn đến thế nào?

Trong lá thư ngỏ trước tôi đã viết: Sau lại thấy may, vì trong quá khứ chẳng đã có đòn của đồng nghiệp mà chết cả đời người lẫn đời văn đó sao. Hiện tại tôi đang phải hứng chịu cái đòn như vậy. Nhưng tôi sẽ rũ bùn đứng dậy chói lòa vì Sự Tử Tế vẫn còn hiện diện xung quanh chúng ta. Và Sự Tử Tế đó đang bao bọc lấy tôi để không một sự Ngậm máu phun người nào làm tổn hại đến tôi. Tôi xin cúi đầu Tri Ân Sự Tử Tế.
Nay tôi xin nói rõ quan điểm của tôi về cái sự Ngậm máu phun người của hai ông trong BCH Hội Nhà văn VN khóa 8 Lê Quang Trang (Phó chủ tịch Hội) và Vũ Hồng (UV BCH) như sau:
1. Nếu Trò chơi hủy diệt cảm xúc đạo Ý tưởng cuốn tiểu thuyết Cưỡng cơn gió bấc như hai ông đưa lên trang web: Sông Cửu Long (http://www.vannghesongcuulong.org.vn/) và Nhà văn TP Hồ Chí Minh (http://nhavantphcm.com.vn/) thì điều đó đã chứng minh rằng các ông đã không chịu đọc sách. Chính các ông là thành viên ban chung khảo. Chính các ông đã bỏ phiếu cho Trò chơi hủy diệt cảm xúc để nó được bằng khen kia mà. Các ông hãy phải trả lời trước công luận về điều này.
2. Trong thư ngỏ trước tôi đã đưa ra những lời cáo buộc, Hội Nhà văn VN đã ra thông báo bác bỏ, rằng đã làm đúng. Trong xã hội dân sự của chúng ta Hội Nhà văn VN hoàn toàn có quyền kiện tôi ra tòa vì nếu sự cáo buộc không đúng sự thật. Cũng như tôi, tôi sẽ kiện hai ông Lê Quang Trang và ông Vũ Hồng ra tòa nếu hai ông này cáo buộc tôi đã đạo văn.
3. Tôi có lời kêu gọi Sự Tử Tế ở quanh tôi. Xin các người hãy hành động. Hãy đọc Trò chơi hủy diệt cảm xúc. Hãy chỉ ra nó có đạo văn hay không? Những tác phẩm của tôi đã ra mắt bạn đọc, có thể hay có thể không hay nhưng tuyệt đối nó là những sáng tạo của tôi.
Tôi không bao giờ mượn ý tưởng của người khác. Với trò bẩn ngậm máu phun người của hai ông Lê Quang Trang và Vũ Hồng và của một số người khác nữa, bịa ra những tin nhắn nặc danh rồi nhắn cho nhau, họ không chỉ vấy máu bẩn lên tôi mà còn vấy bẩn lên cả nền văn học đương đại.
Họ đánh đồng vào một cái gọi là rọ chung gọi là ăn cắp. Trong khi không bao giờ tôi là người ăn cắp. Vì cái sự bôi bẩn này tôi sẽ chiến đấu đến cùng.
Trong một truyện ngắn có tên là Danh Dự tôi đã viết: Mất danh dự là mất tất cả.
Hà Nội, ngày 27/1/2013
“Với 15 cái mũi vô cùng thính nhạy của các vị Ủy viên chấp hành, cộng với mấy chục vị trong các hội đồng chuyên môn cùng hè nhau ngửi văn cuốn sách trên của bà Y Ban, chắc chắn sẽ ngửi thấy sự đạo văn cho coi.
 
Nhà PBVH Trần Mạnh Hảo

Trần Mạnh Hảo tôi có cái mũi hơi bị điếc mùi, sáng sớm nay cũng tìm được cuốn: “Trò chơi hủy diệt cảm xúc” của Y Ban đem về nhà ngửi tít cò bợ mà chưa thấy mùi đạo văn đạo thơ gì sất. Chỉ thấy văn của Y Ban đọc khá hấp dẫn, ít ra là hấp dẫn bằng mấy lần thứ văn xuôi nước ốc được giải thưởng Hồ Chí Minh của bác Lê Văn Thảo, bác Hồ Phương… vừa đây.

Hi vọng hội ngửi nhà ta sẽ ngửi ra mùi đạo văn của Y Ban. Phen này thì Y Ban có thể chạy lên trời, một nữ nhi quần hồng hơi bị phổi bò đang bị Hội ngửi xông vào ngửi phì phò như bễ lò rèn, sớm muộn gì cũng tòi ra tội đạo văn thôi em ơi. Tôi có ý kiến là nếu tìm ra tội đạo văn của Y Ban, xin cứ làm gương khai trừ khỏi Hội cho bà này hết dám vuốt râu hùm.
Theo quan bác Vũ Hồng, hình như nghe trong gió nói cuốn sách của bà trời gầm đất lở này dám dỡn với Hội nhà văn, coi các văn tài lãnh đạo Hội cỡ giải Nobel Hoàng Quang Thuận chỉ bằng con dế đang có vấn đề đạo ý tưởng hay style (phong cách) của Daniel Glattauer gì gì đó…
Trời, hoang đường thay là tội đạo ý tưởng, đạo phong cách trong văn chương. Xin mách nhỏ với quan bác chấp hành chấp tỏi Vũ Hồng nhé, nếu trong gió nói như thế thì tất cả các văn hào từ ông Dox, ông Lep, ông Vic, ông Bal…đều mắc tội đạo văn cả…hà cứ gì chỉ một mình Y Ban?… Hay là trong gió, (vì ngửi văn xem có đạo hay không đạo phải ngửi qua gió) rằng Y Ban đạo lối viết văn bằng các lá thư trao qua đổi lại, mà là thư online. Nếu vậy, sẽ có hàng chục kiệt tác viết kiểu này chắc cũng đạo văn nốt?
Dù sao, chúng tôi cũng đánh giá cao công sức và tinh thần tìm diệt bọn đạo văn (cả đạo thơ nữa nhé) của ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH Vũ Hồng …thể hiện rõ quyết tâm làm trong sạch văn đàn của ban lãnh đạo hội thật đáng hoan nghênh. Đợt đầu ra quân, xin hàng chục NHÀ NGỬI HỌC của hội gồm toàn những bậc nam nhi oai vệ đang bí mật bao vây một kẻ quần hồng yếu đuối viết văn, quyết tìm ra tội đạo văn, nhớ đừng để cho bà ta chạy thoát…”.
 

Tin-Bài viết về PHẠM DUY – BS

29 Th1

 

Tin-Bài viết về PHẠM DUY

 

 Cuộc gặp ‘định mệnh’ với Phạm Duy (BBC). – Nhạc sĩ Phạm Tuyên nói về Phạm Duy (BBC). – Nhạc sĩ Phạm Tuyên tri ân Phạm Duy (BBC). – GS Trần Quang Hải: “Nhạc Phạm Duy gắn liền với lịch sử Việt Nam” (RFI). – Nguyễn Thụy Kha: Nhớ những kỷ niệm với Phạm Duy (TTXVN).  – Nguyễn Thụy Kha: THƠ TẶNG PHẠM DUY (Nguyễn Trọng Tạo).  – Người thân ngậm ngùi bên linh cữu nhạc sỹ Phạm Duy (Zing/ GDVN).  – Nguyễn Ngọc Giao: Vì sao tôi đã mong Phạm Duy sống lâu (Diễn Đàn).   – Mời xem lại: Phạm Duy Và Vết Thương Di Tản (DĐTK).  – PHẠM DUY, THÔI THẾ CŨNG XONG (HNPĐ).

Hòa đàm Paris: VN và các cường quốc – BBC

29 Th1

Hòa đàm Paris: VN và các cường quốc

Cập nhật: 11:48 GMT – thứ ba, 22 tháng 1, 2013

 

Bốn mươi năm sau khi Hòa đàm Paris nhằm ‘chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam’ được ký kết (27/1/1973-2013), giới chuyên gia tiếp tục đánh giá ý nghĩa, diễn biến, cũng như các hệ quả của hiệp định.

Sử gia Vũ Minh Giang, chuyên gia khu vực học và nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho rằng ‘hiệp định Paris chỉ là một cách thức để kết thúc chiến tranh’ nhưng không nhất thiết ‘mang lại hòa bình.’

Ông nói: “Tôi nói đây là một cách thức kết thúc chiến tranh, nhưng không ai ảo tưởng rằng có một hiệp định đem lại sự vui vẻ cho hai bên tham chiến. Điều ấy là không bao giờ có.

“Đấy là một phản ánh tương quan lực lượng và vì vậy cho nên ký như thế, vì người ta không thể làm khác, nhưng trong thâm tâm, cả mấy bên tham chiến, trong thâm tâm đều muốn mình giành một thắng lợi trọn vẹn hơn.

“Cái đó là đương nhiên và tôi cho đó là quy luật của chiến tranh. Cái ký kết ấy không phải là quy luật của hòa bình. Cái đó là cách thức kết thúc chiến tranh và vì vậy nó vẫn nằm trong sự điều hành, tác động của quy luật chiến tranh.

“Có nghĩa là ký thì ký như vậy, nhưng để đạt được mục tiêu của mình, mỗi bên đều có một cố gắng nào đó để đạt được kết quả cao nhất như mình mong muốn. Và vì vậy ở đây như thể là một tình trạng tạm dừng cuộc chiến ở đó…”

Một sử gia khác từ trong nước, ông Vũ Quang Hiển, Phó Giáo sư lịch sử Đảng thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, giữ quan điểm nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris năm 1973 là ‘một thắng lợi của quân và dân Việt Nam’ với mục đích ‘đánh cho Mỹ cút’ để tiến tới làm cho ‘Ngụy nhào’, như cách ông trả lời BBC nhân dịp 40 năm Hòa đàm Paris.

Theo Giáo sư Lý Hiểu Binh, từ Đại học Oklahoma, Hoa Kỳ thì có một sự thay đổi chiến lược trong tư duy của Trung Quốc năm 1968. Bắc Kinh không tham gia hội đàm ở Paris còn Moscow, trái lại, luôn hào hứng ủng hộ đàm phán. Bắc Việt Nam bắt đầu dịch chuyển lại gần Liên Xô.

“Cùng thời gian ban lãnh đạo Trung Quốc bắt đầu cảm thấy có bằng chứng rằng Hoa Kỳ đã là cường quốc mất dần ảnh hưởng vì thất bại của họ tại Việt Nam, trong khi Liên Xô lại chiếm ngay ‘khoảng trống quyền lực’ đó và bắt đầu thay chân Mỹ để thành ‘đế quốc xâm lăng’,”

“Vào tháng 3/1969, theo thỏa thuận với Hà Nội, Quân Giải phóng Trung Quốc bắt đầu rút về, giảm dần từ 16 sư đoàn, gồm 150 nghìn quân, xuống không còn đơn vị phòng không nào ở Bắc Việt Nam vào tháng 7/1970.”

“Sau khi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam và giảm viện trợ cho Hà Nội, Liên Xô ngay lập tức bù vào chỗ trống và còn tiếp tục hỗ trợ kinh tế, quân sự cho Bắc Việt Nam. Từ 1969 đến 1971, Moscow ký bảy hiệp định viện trợ cho Hà Nội. Năm 1972, Liên Xô tiếp tục tăng cường hệ thống phòng thủ bằng tên lửa ở Bắc Việt Nam.”

Nhìn từ Bắc Kinh, theo Giáo sư Lý Hiểu Binh, tác giả các bài và sách về quân đội Trung Quốc, cam kết hỗ trợ liên tục cho cuộc chiến tranh tại Đông Dương của Moscow làm hao hụt nguồn lực của Liên Xô. Ngoài ra, mối đe dọa từ Liên Xô đã thúc đẩy lãnh đạo Trung Quốc cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ. Nhu cầu chiến lược này cuối cùng đã đưa tới chỗ bình thường hóa quan hệ Mỹ – Trung vào nửa đầu thập niên 1970.

 
Cựu đại sứ Việt Nam Công Hòa, ông Bùi Diễm, hiện định cư tại Hoa Kỳ phản bác một số ý kiến nói chính Chính quyền Sài Gòn đã ‘vi phạm hiệp định’.

Người từng là quan sát viên do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định tại Hòa đàm Paris, ông Bùi Diễm nói với BBC vào tháng 1/2013:

“Nếu nói chính quyền ở miền Nam Việt Nam đã vi phạm hiệp định Ba-Lê là quá đáng là bởi vì sự thực ra những người ở miền Bắc đã chủ trương rõ rệt là để lại, mà họ đã làm được việc đó qua Hiệp định Ba-Lê, là giữ lại một số quân của họ ở trong miền Nam.”

Còn nhà báo Harish Mehta, cựu phóng viên Đông Nam Á cho Busines Times (1987 – 2003) nêu ra đánh giá về vị thế của Sài Gòn sau Hòa đàm Paris:

“Hiệp định hòa bình tạo ra người thắng, kẻ thua rõ ràng. Hoa Kỳ thoát khỏi cuộc chiến và lấy lại tù binh. Hà Nội thôi bị đánh bom, nhưng ông Thiệu chẳng được gì. Tháng Sáu 1973, Quốc hội Mỹ thông qua luật ngay lập tức ngừng đánh bom Campuchia, và chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ ở Đông Dương,”

“Tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ thông qua luật buộc tổng thống báo cho Quốc hội trong vòng 48 tiếng quyết định điều quân Mỹ trong chiến tranh, và triệt thoái trong vòng 60 ngày nếu không có phép của Quốc hội. Hai biện pháp này đã khiến Nixon không còn khả năng can thiệp ở Đông Dương.”

“…Bị cô lập, chính thể Sài Gòn ở trên bờ vực sụp đổ kinh tế…”

“Sau chót, chiến lược kiềm chế chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc của Mỹ thất bại thảm hại, vì đa phần nông thôn miền Nam đã do cách mạng nắm giữ, và năm 1975 thì cả nước nằm dưới sự kiểm soát của người cộng sản.”

Với tư cách người quan sát trong cuộc, nhà nghiên cứu Lữ Phương, cựu thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam, một bên ký kết Hiệp định, cho rằng các vi phạm đã làm ảnh hưởng tới các mục đích, mục tiêu mà ban đầu cuộc hòa đàm nhắm tới.

Ông xác nhận trong việc thực thi Hiệp định, cả hai phía Cộng sản Bắc Việt cùng đồng minh Mặt trận Dân tộc và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đều ‘vi phạm’ nhưng cho rằng Chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã vi phạm trước, còn phe cộng sản Bắc Việt khi tiến chiếm ‘giải phóng’ miền Nam, đã có vi phạm nghiêm trọng khác khi loại bỏ các cơ chế ‘hòa giải dân tộc’ và bỏ qua ‘chính phủ ba thành phần’ với vai trò của ‘lực lượng thứ ba.’

Ông nói: “Sau Hiệp định Paris 1973, có một thời kỳ bên Mặt trận họ khựng lại, tất cả các cuộc hành quân đều ngưng lại cả và lo các việc trao đổi tù binh… Lúc bấy giờ có một bức thư của ông Lê Duẩn gọi là ‘thư về hòa giải’ và Liên minh của chúng tôi trong Chính phủ (Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam) được lập ra để chuẩn bị một phương án hòa giải… Ở trong đó, người ta có tính một giải pháp hòa giải mà lịch sử đã chứng mình.

“Nhưng sau đó, Chính phủ Sài Gòn lấn tới rất dữ dội, nên ở trong đó anh em (Mặt trận Dân tộc) đặt vấn đề là hòa hay chiến, chiến tranh hay không chiến tranh, bây giờ nếu mình lùi như thế này hoài thì mất hết… tất cả những vùng gọi là bình định cấp tốc, cắm cờ v.v… Bấy giờ người ta mới ngồi lại và bàn bây giờ phải chống trả trở lại và không để tình trạng này kéo dài được mãi.”

Ông Lữ Phương nói phe Cộng sản Bắc Việt và đồng minh Mặt Trận Dân Tộc ở miền Nam đã ‘tương kế tựu kế’ và lựa chọn thời điểm không có ‘dấu hiệu người Mỹ trở lại’ để tấn công và sau đó ‘thanh toán,’ ‘dứt điểm’ đối phương.

Nhà nghiên cứu này kết luận: “Chiến lược là như vậy, cho nên thực sự là hai bên đều vi phạm hết. Nhưng trong chiến tranh, giải pháp xấu đối với Cộng sản vẫn là giải pháp hòa giải, giải pháp ‘không ăn hết.’ Bấy giờ cái hay nhất là tiến tới ‘ăn cho gọn luôn,’ chứ không để kéo dài lằng nhằng, rồi đấu tranh chính trị, rất mệt mỏi. Logic của vấn đề được hiểu là như vậy.”

 

Sử gia thiên tả người Canana, ông Gabriel Kolko đặt vấn đề:

“Đối với Tổng thống Hoa Kỳ, ông Richard Nixon, và cố vấn an ninh quốc gia của ông, ông Henry Kissinger, thì Hiệp định Paris đem lại cho họ thời gian mà họ hy vọng sẽ thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam bằng cách nói với Trung Quốc và Nga, hai quốc gia đang bắt đầu chia rẽ sâu sắc, rằng nếu họ không hợp tác với Hoa Kỳ bằng cách cắt viện trợ quân sự cho phe Cộng Sản Việt Nam, thì Hoa Kỳ sẽ thực hiện các biện pháp tăng cường cho kẻ thù Cộng Sản của họ, và như vậy đe dọa sẽ dùng chính hai quốc gia cộng sản lớn này đối chọi lẫn vào nhau – được gọi là “đòn tay ba”.

Nhưng Phó Giáo sư Vũ Quang Hiển từ Hà Nội cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng minh Mặt trận Dân tộc hay Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam đã ‘rút kinh nghiệm’ từ Hiệp định Geneve và ‘chủ động hơn’, cũng như không chịu tác động của các cường quốc.

Tuy nhiên sử gia Vũ Minh Giang, từ Đại học Quốc gia Hà Nội nói ‘các sự kiện có liên quan tới nhau’ khi nói về các đợt không kích của không quân Mỹ trong quá trình hai bên đàm phán, kể cả tới sự kiện Trung Quốc tấn chiếm Hoàng Sa một năm sau Hiệp định. Ông cũng cho rằng ‘các nước lớn’ đều có toan tính riêng của họ.

Giáo sư gốc Trung Quốc Lý Hiểu Binh từ Hoa Kỳ cho rằng trong giai đoạn 1968-1973 đã có sự dịch chuyển lớn trong quan hệ Trung – Xô và tác động của nó đến cuộc chiến tại Việt Nam khi đó và rộng hơn là Chiến tranh Lạnh.

Theo ông, giao ước Mỹ – Trung đã tạo ra thay đổi bước ngoặt trong thế chiến lược giữa hai cường quốc là Liên Xô và Hoa Kỳ thời Chiến tranh Lạnh.

Nếu như các nhà hoạch định chính sách ở Washington thấy nhờ đó mà việc tập trung nguồn lực và quan tâm chiến lược của Mỹ vào đối phó với Liên Xô dễ dàng hơn, Liên Xô lại coi việc phải đương đầu cùng lúc với Phương Tây và Trung Quốc là chuyện khiến sức mạnh của họ bị phân tán nghiêm trọng, theo ý kiến ông Lý Hiểu Binh nói với BBC.

Ông cũng xác nhận rằng một năm sau Hòa đàm Paris ký kết, sau khi xảy ra trận Hải chiến Hoàng Sa (Tây Sa), các lãnh đạo quân sự Trung Quốc Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa đã báo cáo lên Mao Trạch Đông và đề nghị Trung Quốc chiếm nốt các đảo do Nam Việt Nam kiểm soát và Mao đã đồng ý.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, sử gia từ Đại học Main, Hoa Kỳ cho rằng Hòa đàm Paris 1973 là một bài học mà thế giới cần rút kinh nghiệm khi nó không thể tránh được hệ quả với các phe ký kết ‘sử dụng đường lối chiến tranh’ để chấm dứt cuộc chiến và qua đó để lại hậu quả lâu dài.

Ông nói: “Hiệp định Paris là một sự nhân nhượng của các bên… Tất cả các bên đều nhân nhượng thì mới có tể có thỏa hiệp. Vấn đề không phải nằm ở chỗ nhân nhượng ở trên bàn hội nghị, mà vấn đề là sau khi có Hiệp định rồi, thì thi hành là như thế nào.

“Trong hai năm từ khi Hiệp định được ký cho đến khi miền Nam bị mất bằng đường lối quân sự, hay nói cách khác, Chính phủ Sài Gòn bị thua bằng đường lối quân sự, thì chúng ta có thời gian khoảng hai năm để thi hành Hiệp định Paris để tránh việc bên này thua, hay bên kia thắng bằng đường lối quân sự'”

“Vấn đề quan trọng ở đây là thua hay thắng bằng đường lối quân sự sẽ có ảnh hưởng rất lâu, sau này, khi cái gọi là hòa bình được thiết lập. Cho nên đây là vấn đề rất quan trọng mà nhiều người phải nghĩ lại, không để cho một cuộc chiến kết thúc thắng thua bằng đường lối quân sự.”

Và ông đưa ra một kết luận ở góc nhìn này:

“Trong vấn đề hòa đàm, vấn đề hậu chiến tranh, chúng ta cần nhìn kinh nghiệm của các hòa đàm khác trong lịch sử trên thế giới và sau chiến tranh, thì lúc đó mới có thể đánh giá được. Còn nếu đánh giá về phía của mình, tức là bên thắng cuộc hay là bên thua cuộc, thì tôi nghĩ là không đủ.”

Còn sử gia Dương Trung Quốc từ Hà Nội thì cho rằng sau khi có một “nước Việt Nam thống nhất,” Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục có hành vi “bao vây” Việt Nam, với Trung Quốc thậm chí đã tiến hành chiến tranh ở Biên giới phía Bắc Việt Nam, còn Hoa Kỳ “đứng sau lưng Pol Pot”.

Ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh bài học lớn nhất mà Việt Nam cần rút ra là Việt Nam cần “tự mình định đoạt số phận của mình” vì theo ông “chừng nào không giữ được độc lập, tự chủ” thì chừng đó “khó đạt được mục tiêu của mình.”

Ông cũng cho rằng không nên coi Hiệp định Paris 1973 là một văn bản “có giá trị vĩnh cửu”.

 

CẢNH “GẦM GIƯỜNG CHIẾU ĐẤT” – Lão Khoa

29 Th1

CẢNH “GẦM GIƯỜNG CHIẾU ĐẤT”
VÀ BỆNH VIỆN CHO DÂN

TRẦN ĐĂNG KHOA

Mới đây, vào những ngày cuối tháng 1, năm 2013 này, tại Trung tâm Triển lãm Nghệ thuật 45 Tràng Tiền Hà Nội, đã có cuộc triển lãm ảnh đặc biệt, không phải ảnh nghệ thuật, mà ảnh phóng sự báo chí, ảnh đời thường, nhưng lại có sức thu hút công chúng rất mãnh liệt. Đó là triển lãm cảnh “ngủ gầm giường, ngủ hành lang bệnh viện” với hơn một trăm bức ảnh. Mỗi bức ảnh là một hoàn cảnh, một nỗi đời, một cảnh ngộ. Tác giả của những bức ảnh này, không chỉ là những phóng viên, những ký giả, cộng tác viên của Trung tâm Sức khỏe và Dân số, mà còn là những người bình thường. Họ là bệnh nhân hoặc người nhà đi theo chăm sóc bệnh nhân. Họ ghi lại những khoảnh khắc mình đã thấy hoặc đã trải, không phải có ý thức làm nghệ thuật, mà chỉ đơn giản giữ lại những kỷ niệm theo kiểu “thấy gì ghi nấy”. Chính vì thế mà nó rất chân thật và sinh động. Không phê phán ngành y tế, chỉ phơi ra một thực trạng mang tính sẻ chia. Chính thế lại đắng đót, lại có sức lay động lương tri những người tử tế. Chỉ những trái tim và tâm hồn lạnh giá mới có thể dửng dưng.

Cuộc triển lãm đặc biệt này cũng đã lên mạng nhiều trang baó điện tử chính thống. Tôi không biết các vị lãnh đạo, các nhà quản lý nghĩ gì khi nhìn những cảnh đời nơi “gầm giường chiếu đất” này? Còn tôi, bao trùm lên mọi cảm giác là nỗi đắng đót đến se thắt cả gan ruột. Lại nhớ đến buổi “vi hành” của bà Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến xuống các bệnh viện cơ sở. Bò từ gầm giường ra chào bà là các bệnh nhân nhí bị ung thư. Rồi những bệnh nhân hiểm nghèo chờ xạ trị ba người ghép một giường. Nhiều khi bệnh nhân phải nằm chen chúc dưới gầm giường, nằm tràn cả ra hành lang bệnh viện trong thời tiết mưa ẩm và giá lạnh. Sống lay lắt như thế, ngay cả một người khỏe mạnh cũng có thể gục đổ, chứ không còn nói đến những con người bất hạnh, lại mang trong mình trọng bệnh mà sự sống mong manh chỉ tính bằng những khoảnh khắc.
Ta hiểu nỗi khổ tâm của bà Bộ trưởng Bộ Y tế có tâm đức. Nhưng chẳng lẽ lại cứ để tình trạng quá tải ở các bệnh viện diễn ra mãi như thế này sao? Hiện nay, Hà Nội đã mở rộng đến hết cả tỉnh Hà Tây cũ, còn nới thêm một phần của tỉnh Hòa Bình, chẳng lẽ vẫn không có đất để xây bệnh viện sao? Đành rằng kinh tế suy thoái trong phạm vi toàn cầu, nợ công ở nước ta cũng lên đến ngưỡng đáng phải quan ngại, Tết năm nay, nhiều cơ quan không có tiền thưởng cho nhân viên, có doanh nghiệp còn nợ cả tiền lương, dẫn đến cảnh tao loạn: Công nhân vác ghế phang giám đốc rồi sẵn sàng vào tù, nhưng cũng không phải vì thế mà không xây được bệnh viện cho dân. Không kể những vụ thất thoát khổng lồ đến hàng ngàn tỷ đồng như vụ Vinashin rồi tiếp đến là Vinalins, chúng ta vẫn còn chi hàng ngàn tỷ đồng để xây Trụ sở làm việc, Bảo tàng Quốc gia, rồi hàng trăm rạp hát, Nhà văn hóa. Đành rằng xây Trụ sở, xây Bảo tàng hay Rạp hát cũng rất quan trọng, rất cần thiết, nhưng đem những công trình ấy, so với những công trình cấp bách, cần phải làm ngay, như bệnh viện cứu chữa điều trị cho dân, hay những lớp học cho trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa thì cái gì cần ưu tiên trước nhất? Tất nhiên là bệnh viện và lớp học rồi. Tôi hoàn toàn đồng ý với Vân Thiêng, ông bạn đồng nghiệp của tôi ở VOV: Xây thêm nhà hát, rạp chiếu phim cũng là cần thiết, bởi đấy là những thiết chế văn hóa đặc biệt gắn với trình độ và nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của nhân dân. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, nhiều nhà hát mà số buổi sáng đèn mỗi năm chỉ đếm được trên mấy đầu ngón tay, nhiều nhà hát, rạp chiếu phim đã làm “dịch vụ cho thuê đám cưới”. Ngân sách là tiền thuế của dân. Vì vậy, đầu tư cái gì, đầu tư lúc nào là điều phải tính toán để đồng tiền ấy phát huy hiệu quả cao nhất. Việc xây dựng trụ sở cơ quan khang trang hiện đại và các công trình văn hóa là cần thiết trong quá trình phát triển đất nước. Tuy nhiên, chưa thấy có chuyện vì thiếu rạp mà hai, ba người phải ngồi một ghế để xem biểu diễn nghệ thuật, cũng chưa có ai chui dưới gầm ghế người khác để xem phim. Trong khi, cảnh hai, ba bệnh nhân phải nằm chung một giường, thậm chí có bệnh nhân phải chịu cảnh “gầm giường chiếu đất” thì đã thấy nhỡn tiền và sẽ còn hiển hiện ở rất nhiều bệnh viện lớn khác nữa.
Có thể giải quyết dứt điểm nạn quá tải ở các bệnh viện ấy được không? Hoàn toàn có thể giải quyết được, nếu chúng ta thực sự vì dân, lo cho muôn dân. Chỉ cần chúng ta tiết kiệm trong chi tiêu, loại bỏ những chi phí chạy theo bề nổi, hoàn toàn mang tính hình thức, rất tốn kém mà không có hiệu quả thiết thực, như các lễ hội rầm rĩ ở rất nhiều tỉnh thành, hay kiểm tra, giám sát chặt chẽ các công trình, tránh được những thất thoát để tiền dân trôi hết ra sông ra bể, như Vinashin hay Vinalins là có thể xây được hàng ngàn bệnh viện, trường học rồi.
Chỉ cần tiết kiệm, bớt hoang phí trong những khoản chi tiêu vô bổ, chúng ta đã cứu được bao nhiêu kiếp người bất hạnh. Điều này là hoàn toàn có thể làm được. Bởi đã có địa phương làm được rồi. Một ví dụ điển hình là Đà Nẵng. Vâng, tôi vẫn lại phải nhắc đến Đà Nẵng. So với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hay các địa phương khác, Đà Nẵng không thuận lợi ở vị trí địa lý, cũng không tiện về giao thông, lại bị chiến tranh tàn phá khốc liệt nhất, số người hy sinh cũng lớn nhất, đã thế khí hậu lại khắc nghiệt, bão gió, lũ lụt liên miên. Một tỉnh rất nghèo. Vậy mà ông Nguyễn Bá Thanh và các cộng sự của ông vẫn vực mảnh đất nghèo ấy thành một đô thị hiện đại, một thành phố nề nếp, sạch sẽ (theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng) và quy củ nhất nước. Trước khi rời Đà Nẵng, ngay mới đây thôi, ông Nguyễn Bá Thanh còn kịp trao cho dân một bệnh viện nhằm xóa bỏ nạn “gầm giường chiếu đất”. Đó là bệnh viện ung bướu có quy mô 500 giường với 27 khoa và phòng, trước mắt đã đưa vào sử dụng 200 giường bệnh với đội ngũ hơn 70 bác sĩ, cùng các chuyên gia, y tá, điều dưỡng có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị y tế bệnh viện được đầu tư hiện đại, chất lượng, với các hệ thống máy xạ trị, y học hạt nhân, gia tốc tuyến tính. Đặc biệt, đây là bệnh viện dành cho những người nghèo có hộ khẩu Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung. Sau khi trừ phần Bảo hiểm y tế thanh toán, các bệnh nhân nghèo sẽ được miễn phí toàn bộ tiền chi trả. Người nhà đi theo chăm sóc bệnh nhân cũng sẽ được hưởng chính sách ăn, ở miễn phí tại bệnh viện với bếp ăn từ thiện. Điều trị miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân nghèo là chính sách nhân văn đặc biệt chỉ có ở Đà Nẵng. Có địa phương nào làm được như thế không?
Bây giờ thì ta hiểu được vì sao người dân Đà Nẵng lại yêu mến Nguyễn Bá Thanh đến như thế. Và không phải chỉ có dân Đà Nẵng, nhân dân ở rất nhiều địa phương khác cũng rất quý yêu Nguyễn Bá Thanh, như quý yêu Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc thuở nào. Và chúng ta tin, rất tin rằng, trong công cuộc đổi mới của Đảng, của Đất nước, vì miếng cơm manh áo của dân, ông sẽ không bị đứt gánh giữa đường như Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc. Và chúng ta cũng hy vọng Đà Nẵng sẽ là một mô hình tốt đẹp có thể nhân rộng ra trên phạm vi toàn quốc. Viết đến đây, tôi lại chợt giật mình nhớ đến câu ca dao:
Thương dân, dân lập đền thờ
Hại dân, dân đái sập mồ lụn xương
Và như thế, làm điều ác, đặc biệt là ác với dân, đâu phải cứ hạ cánh được an toàn là đã an toàn. Bây giờ, làm một cán bộ mà được dân tin, dân yêu như Nguyễn Bá Thanh, đâu có phải là dễ…

%d bloggers like this: