Xây dựng nền dân chủ và thành lập các đảng phái chính trị ở Trung Âu và Đông Âu – BS

4 Th2

 

Posted by News on February 2nd, 2014

Phan Thành Đạt

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Đông Âu và Trung Âu, các nhà lãnh đạo ở đây quyết tâm xây dựng chế độ dân chủ nghị viện, theo mô hình chính trị truyền thống của Châu Âu. Những thay đổi lớn về kinh tế chính trị xã hội đã diễn ra khi các nhà lãnh đạo tiến hành cải tổ sâu rộng dựa trên những tiêu chí dân chủ của phương Tây. Các chính đảng được tự do hoạt động nhưng các tổ chức chính trị mới này bộc lộ nhiều yếu kém. Thay đổi nền chính trị cùng cơ chế quản lí đã kéo theo nhiều xáo trộn trong xã hội. Các đảng phái chính trị hoạt động kém hiệu quả, thiếu ổn định, vì những tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội trong thời kì xây dựng nền dân chủ mới.

 

Jean-Michel de Waele là giáo sư giảng dạy tại Đại học mở Bruxelles, ông cùng các đồng nghiệp đã viết chung cuốn sách Các đảng phái chính trị và nền dân chủ ở Đông Âu và Trung Âu, xuất bản năm 2002, cuốn sách giới thiệu bối cảnh chính trị xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây (vốn là các nước vệ tinh của Liên bang Xô viết). Sau 10 năm đổi mới, nhờ những thay đổi triệt để về chính trị đã dẫn đến những thay đổi cơ bản về cấu trúc xã hội (I). Các đảng chính trị đối lập tại Đông Âu và Trung Âu đại diện cho các tầng lớp xã hội khác nhau đã có cơ hội được cạnh tranh chính trị dựa trên các tiêu chí của nền dân chủ mới (II). Bài viết này tổng hợp những phân tích của Jean-Michel de Waele về tiến trình dân chủ hóa tại các nước Đông Âu và Trung Âu.

I. Thay đổi thể chế chính trị dẫn đến những thay đổi căn bản về kinh tế xã hội

Các nước Đông Âu và Trung Âu trước đây xây dựng thể chế chính trị theo mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên bang Xô viết trong suốt 45 năm, cho nên chuyển đổi thể chế chính trị độc tài toàn trị sang mô hình dân chủ phương Tây là một bước tiến quan trọng và cũng là một thách thức lớn. Thay đổi thể chế xã hội chủ nghĩa sang tư bản gắn liền với những thay đổi quan trọng về kinh tế: Từ nền kinh tế tập trung dưới sự quản lí của Nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc sau giai đoạn đổi mới kéo dài 10 năm (A), những quy tắc cũ bị loại bỏ, trật tự xã hội mới được thiết lập. Các đảng phái chính trị cũng có nhiều thay đổi trong giai đoạn đổi mới (B).

A.  Những thay đổi cơ bản trong xã hội sau 10 năm đổi mới           

Các nước Trung Âu và Đông Âu phải đối mặt với nhiều thách thức sau một thập niên xây dựng nền dân chủ. Sẽ khó có những kết luận chính xác về một mô hình dân chủ tiêu biểu đại diện cho toàn bộ các nước ở khu vực này, vì mỗi nước xây dựng nền dân chủ và thiết lập thể chế chính trị theo điều kiện riêng. Ở các nước Nam Âu, đổi mới chính trị được tiến hành trước, sau đó đến đổi mới kinh tế, còn tại Đông Âu và Trung Âu, đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế cùng được thực hiện song song. Những thay đổi toàn diện này đã làm xuất hiện những tầng lớp xã hội mới đồng thời làm thay đổi vị trí của một vài nhóm người trong xã hội. Nhiều ngành nghề mới đã xuất hiện trong các lĩnh vực nông nghiệp và kinh doanh. Tuy nhiên những thay đổi đột ngột về chính trị và kinh tế đã có nhiều tác động tiêu cực đến các vấn đề xã hội: Tỉ lệ nghèo đói tăng nhanh ở một bộ phận dân cư do không thích ứng được với quá trình thay đổi nhanh, một số người cảm thấy lạc lõng trong xã hội mới, thất nghiệp cũng tăng theo, một số nghề nghiệp trong xã hội bao cấp không còn tồn tại. Nhưng điều đáng ghi nhận là tầng lớp trung lưu và xã hội dân sự ra đời, đây là nền tảng cho một chế độ dân chủ non trẻ.

Các tổ chức chính trị xã hội vừa mới được thành lập, nên chưa bảo đảm tính ổn định. Điểm hạn chế lớn cho tiến trình dân chủ ở các nước Đông Âu và Trung Âu là các đảng phái chính trị và xã hội dân sự không có mối liên hệ mật thiết với nhau. Các đảng không tin tưởng vào tầng lớp trung lưu vì tầng lớp mới này chưa phải là chỗ dựa cho họ, vì công dân chưa có quan điểm chính trị rõ ràng để ủng hộ một đảng phái nào đó. Lí do cơ bản là các đảng phái chính trị không ổn định và thường xuyên có những thay đổi, nên không thể tạo được niềm tin cho các cử tri. Các đảng chính trị gặp phải nhiều khó khăn trở ngại để thiết lập mối liên hệ thân thiết với cử tri. Về phía các công dân, họ không biết chính xác tổ chức xã hội hay đảng phái nào sẽ bảo vệ quyền lợi cho mình để tự nguyện đứng về phía một đảng chính trị thích hợp. Ngoài ra, khi đất nước có quá nhiều đảng phái và các đảng này nhiều khi có các chương trình hành động gần giống nhau, cho nên công dân rất khó có được lựa chọn chính xác. Các tổ chức xã hội cũng chưa hoàn thành tốt vai trò của mình vì các tổ chức này chưa trở thành cầu nối giữa công dân và các đảng phái chính trị. Những thay đổi nhanh về cấu trúc xã hội là nguồn gốc của tình trạng thiếu ổn định của các tổ chức chính trị và xã hội.

B. Các đảng phái chính trị không có cơ sở ổn định

Khi cấu trúc xã hội cũ bị phá vỡ mà nền tảng dân chủ vẫn chưa hề tồn tại trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Trung Âu trong suốt 45 năm. Đây là một hạn chế lớn của các chế độ độc tài khi muốn chuyển sang dân chủ. Một điểm yếu khác là ở chế độ cộng sản, do chính sách tuyên truyền thông tin một chiều, nên hầu như không có những cá nhân có trình độ hiểu biết thấu đáo về chính trị và dân chủ, cũng không có các cá nhân coi chính trị như là một nghề, (ngoài các nhà lãnh đạo đảng và các ban bệ ăn theo), điều này là khác biệt lớn giữa xã hội Đông Âu và Trung Âu với xã hội phương Tây. Đây là  trở ngại quan trọng cho việc thành lập và củng cố các đảng phái chính trị trong xã hội dân chủ. Ở đây cũng cần phải kể thêm những khó khăn về kinh tế cũng như những tác động bên trong và bên ngoài khiến cho các đảng phái chính trị không tạo được nền tảng vững chắc, để hướng đến ổn định lâu dài.

Số lượng các đảng ở các nước Đông Âu như Ba Lan và Roumani giảm dần, nhưng số lượng các đảng ở Hungari và Slovaquia sau một thập niên vẫn giữ nguyên. Khi số lượng các đảng chính trị có xu hướng giảm, các đảng còn lại sẽ ổn định hơn, nhưng điều kiện này chưa đảm bảo được chắc chắn là các đảng sẽ giữ được quyền lực lâu dài vì các đảng phái thay nhau nắm quyền lực. Hiện tượng này trở nên phổ biến ở các nước Đông Âu và Trung Âu. Các đảng cầm quyền sau các cuộc bầu cử gần như đều bị thất bại và trở thành các đảng đối lập hoặc không còn ảnh hưởng chính trị. Tình trạng này diễn ra thường xuyên ở Ba Lan, Hungari, Slovaquia, Slovennia và Bulgari.

Các chính đảng không để lại dấu ấn gì do thời gian cầm quyền quá ngắn, nên không tạo được những nét độc đáo riêng để phân biệt với các đảng khác. Bất ổn về chính trị cùng với cách tổ chức thiếu chặt chẽ dễ dẫn đến các đảng phái bị tan vỡ.  Đây là những đặc điểm dễ thấy trong sinh hoạt chính trị của các nước Đông Âu và Trung Âu trong thời kì đổi mới. Có những đảng phái vừa xuất hiện, tham gia tranh cử và chiến thắng, nhưng trong cuộc bầu cử tiếp theo, không còn được tín nhiệm nữa, và buộc phải giải tán hoặc sát nhập vào một đảng khác. Một số đảng phái có vị trí bấp bênh như Hiệp hội những người lao động ở Slovaquia, Công ước chính trị ở Roumani, Liên minh bầu cử đoàn kết ở Ba Lan. Lưỡng cực chính trị đã xuất hiện ở Bulgari, như tại các nước phương tây, đây là tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên hai khuynh hướng chính trị một bên là những người theo chủ nghĩa tự do, một bên là những người của các đảng dân chủ xã hội vẫn chưa thu hút được đông đảo các cử tri ủng hộ.

Để hiểu rõ các khuynh hướng chính trị và mục đích chính trị của các đảng phái tại các nước dân chủ mới ở Đông Âu và Trung Âu, chúng ta cùng tìm hiểu cách xếp loại các đảng phái chính trị theo phương pháp khoa học của Rokkan.

II. Phương pháp sắp xếp của Rokkan, cơ sở để phân biệt hệ thống các đảng phái chính trị

Cách xếp loại các đảng phái theo quan điểm của Rokkan có thể làm sáng tỏ đường lối chính trị của các đảng. Cách sắp xếp này cũng giúp chúng ta hiểu hơn thói quen lựa chọn của các cử tri khi tham gia bầu cử. Phương pháp này dựa trên những đối lập về xã hội, địa lí, chính trị, cũng như dựa trên các tiêu chí đối lập khác. Các đảng phái chính trị có những nét riêng biệt dựa theo các đặc điểm truyền thống (A) và theo các tiêu chí mới (B).

A. Phân biệt các đảng phái theo các tiêu chuẩn truyền thống

Các đảng phái được thành lập và phát triển trong từng khu vực địa lí khác nhau, một số đảng đề cao tiêu chí dân tộc hay tôn giáo. Có đảng đại diện cho những người sống ở các vùng nông thôn hay thành thị. Có đảng thành lập chỉ với mục đích đại diện cho những người sống ở vùng quê ở các nước Đông Âu. Phương châm hành động của các đảng này là bảo vệ các giá trị truyền thống, đảm bảo lợi ích cho những người nông dân, đặc biệt là bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về đất đai, tài sản, bảo vệ các giá trị tự do…Tuy nhiên, phân chia các đảng phái theo đặc điểm thành thị và nông thôn cũng có một số hạn chế do thiếu tính chính xác bởi vì lợi ích của người nông dân cũng là mối quan tâm lớn của nhiều đảng khác được thành lập ở các đô thị. Các đảng này tuy có hoạt động chủ yếu tại các đô thị nhưng chương trình hành động không chỉ nhằm bảo vệ đời sống vật chất và tinh thần của người dân thành phố mà còn bảo vệ các nhóm cư dân khác, đặc biệt là những người nông dân.

Một số đảng được thành lập với mục đích bảo vệ các dân tộc thiểu số (phân chia theo đặc điểm trung tâm-ngoại vi theo cách sắp xếp của Rokkan). Nhiệm vụ bảo vệ các dân tộc thiểu số thường gắn với bảo đảm dân chủ ở địa phương. Xây dựng nền dân chủ lại được thực hiện bằng cách chuyển giao quyền lực của các cơ quan trung ương cho chính quyền địa phương. Xây dựng và phát huy nền dân chủ ở cơ sở trở thành điều kiện đảm bảo các quyền cơ bản cho người dân ở các đơn vị hành chính cấp địa phương. Đa số các đảng ở Đông Âu và Trung Âu đều đưa ra các tiêu chí bảo vệ lợi ích của các dân tộc thiểu số. Một vài đảng đưa ra các giải pháp bảo vệ đa số. Khi các đảng muốn thu hút được đông đảo số cử tri ủng hộ, các nhà lãnh đạo các tổ chức chính trị này đáp ứng trước hết những đòi hỏi của số cử tri sống ở ngoại vi (đa số đều là các dân tộc thiểu số). Hầu hết các đảng không đề ra chương trình bảo vệ lợi ích cho dân tộc đa số, lại đặc biết chú ý đến nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thiểu số, và tự coi là đại diện cho họ. Ngược lại, một số ít các đảng theo chủ nghĩa dân tộc thường đứng về phía đa số và bảo vệ lợi ích cho nhóm người này trước tiên.

Một số đảng cánh tả ít quan tâm đến cộng đồng các dân tộc thiểu số. Các đảng tự do và bảo thủ thường có những đặc điểm độc đoán hơn so với các đảng cánh tả. Đây là những nét chung thường thấy ở các tổ chức chính trị ở Đông Âu và Trung Âu trong giai đoạn hậu cộng sản.

Rokkan còn phân chia các đảng phái theo tiêu chí nhà thờ và Nhà nước: Các tôn giáo lớn ở Đông Âu và Trung Âu như đạo thiên chúa chính thống, đạo tin lành, đạo hồi, trở thành cơ sở cho sự ra đời của hàng loạt các đảng. Ở các nước Trung Âu và Đông Âu, tôn giáo chính thống luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, chính trị, xã hội. Tuy nhiên ở đây, đã co sự phân biệt rõ rệt giữa Nhà nước và tôn giáo hay giữa tôn giáo và xã hội dân sự. Các đảng phái được thành lập không dựa trên nguyên tắc thế tục. Tuy nhiên, một số đảng lại muốn đấu tranh để bảo vệ nguyên tắc này, đồng thời muốn tách Nhà nước ra khỏi ảnh hưởng của giáo hội. Một số đảng cánh hữu cũng có cùng quan điểm về một vài vấn đề chính trị xã hội như các đảng cánh tả như ủng hộ luật cho phép nạo thai,  bảo vệ các quyền tư hữu về tài sản, đề cao bình đẳng nam nữ trong xã hội…

Các đảng ủng hộ nguyên tắc thế tục thường là các đảng cánh tả, ví dụ các đảng dân chủ xã hội, hay các đảng cộng sản trước đây đã đổi tên và có kế hoạch hành động khác trước. Đây chỉ là những nhận xét tạm thời vì cần có thêm thời gian để quan sát hoạt động của các đảng để có cái nhìn khách quan và chính xác hơn. Ngoài phương pháp sắp xếp theo tiêu chí truyền thống, các chính đảng còn được phân chia theo các tiêu chí đối lập.

B. Phân biệt các đảng phái theo đặc điểm đối lập

Các tiêu chuẩn mới nhằm phân biệt tính chất của các đảng phái chính trị được đặc biệt chú ý sau khi chủ nghĩa cộng sản bị con người loại bỏ tại Đông Âu và Trung Âu. Các đảng được đánh giá theo tiêu chí tối đa và tối thiểu. Tiến trình cải cách kinh tế xã hội thể hiện quan điểm đối lập giữa các đảng có ý muốn tối đa hay tối thiểu. Các đảng được xếp loại có động lực tối đa đều đưa ra các biện pháp cải cách kinh tế thật nhanh và triệt để, muốn xóa bỏ toàn bộ những tàn dư của chủ nghĩa cộng sản, xây dựng nền kinh tế tư bản cạnh tranh, đề cao các quyền tự do cá nhân…Ngược lại các đảng có động cơ tối thiểu lại mong muốn cải tổ kinh tế chính trị theo phương pháp hài hòa, bằng cách thực hiện từng bước một, tuy chậm nhưng chắc chắn. Hai trường phái chính trị này có những điểm khác biệt về cách quản lí đất nước, quy mô cải cách kinh tế, nhịp độ cải cách. Các đảng chính trị mong muốn thay đổi nhanh, toàn diện, không muốn dính dáng đến những người cộng sản trước đây, được gọi là những nhà cải cách, còn các đảng phái khác tỏ ra dè dặt, thận trọng khi đổi mới và sẵn sàng hợp tác với những người cộng sản có tư duy thay đổi được xếp là các nhà bảo thủ. Các nhà phân tích đều nhận thấy hai khuynh hướng chính trị đối lập này ở khắp các nước Đông Âu và Trung Âu. Tuy nhiên rất khó để xếp loại các đảng phái có quan điểm chính trị đối lập này thuộc cánh tả hay cánh hữu, cho dù có đối lập nhưng các đảng phái này vẫn có một vài điểm chung là mong muốn canh tân đất nước và biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Rất có thể các đảng phái này sẽ trở thành các đảng theo tiêu chí truyền thống như Rokkan đã xếp loại, khi đất nước đã đi được một chặng đường cải cách kinh tế xã hội.

Các đảng phái còn được xếp loại theo tiêu chí độc đoán hay dân chủ. Các đảng dân chủ luôn ủng hộ các nguyên tắc cơ bản như tam quyền phân lập, cân bằng quyền lực, chú ý đến những đồng thuận trong xã hội và bênh vực các dân tộc thiểu số. Các đảng này luôn hướng đến cải cách kinh tế chính trị và muốn áp dụng nền kinh tế thị trường. Ngược lại, các đảng độc đoán thường là các đảng theo chủ nghĩa dân tộc hay dân túy, các đảng này chú ý trước tiên đến trách nhiệm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn các truyền thống và di sản của các thế hệ đi trước. Các đảng này thường có thái độ dè dặt đối với những chuyển biến về chính trị, hoặc đối với các chính sách tư nhân hóa nền kinh tế. Dù vậy, khó có thể sắp xếp hai khuynh hướng chính trị đối lập này thuộc về các đảng cánh tả hay cánh hữu vì một số các tiêu chí đưa ra từ hai phe luôn có những điểm tương đồng.

Phân biệt các đảng phái còn được xếp theo tiêu chí cộng sản và chống cộng. Hai khuynh hướng chính trị đối lập nhau đã hình thành từ khi có chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Trung Âu trước đây. Xếp loại các đảng phái theo tiêu chí này không có tính thuyết phục do bối cảnh chính trị xã hội ở Đông Âu và Trung Âu không ổn định. Mỗi nước có hoàn cảnh kinh tế và xã hội khác nhau, điều này chi phối đến các diễn biến chính trị tiếp theo. Bối cảnh chính trị ở Slovaquia khác với Hungari, hay ở Bulgari khác với Roumani, cho nên nếu chọn tiêu chí cộng sản và chống cộng để phân biệt các đảng ở Đông Âu và Trung Âu sẽ không hợp lí. Điều ngạc nhiên là một số nhà lãnh đạo ủng hộ chủ nghĩa cộng sản trong quá khứ, hiện nay lại trở thành những người chống lại chủ nghĩa cộng sản. Về phía người dân, họ không mấy quan tâm đến quan điểm cộng sản hay chống cộng sản, họ chú ý nhiều hơn đến chính sách chống tham nhũng, đến tình hình kinh tế xã hội, đến việc cải thiện mức sống của họ trong thời kì chuyển giao này. Một số đảng được xếp loại theo tiêu chí cộng sản hay chống cộng đã biến mất trong các sinh hoạt chính trị ở các nước Đông Âu và Trung Âu, do sát nhập vào các đảng khác, hay do thất bại trong các cuộc bầu cử vì người dân không lựa chọn. Khi có thất bại chính trị, các đảng phái này không còn gượng dậy được nữa. Một số đảng xếp theo tiêu chí này tuy vẫn tồn tại nhưng không có ảnh hưởng gì trong đời sống chính trị của đất nước, vì vậy cách xếp loại theo tiêu chí cộng sản và chống cộng không còn phù hợp nữa.

 —————————-

Bản tiếng pháp

Consolidation démocratique, partis politiques en Europe centrale et orientale

Les pays de l’Europe centrale et orientale deviennent les nouvelles démocraties parlementaires suite à la chute du communisme dans les années 90. Ces pays connaissent de grands changements politiques, économiques et sociaux. Les partis politiques des pays de l’Europe centrale et orientale se qualifient par des critères incertains, temporaires et inefficaces pendant la période de transition car le chaos de structure sociale, économique et politique a des impacts importants sur l’existence des systèmes des partis politiques classés selon les paradigmes Rokkan-Lipset.

Jean-Michel de Waele, professeur de l’Université libre de Bruxelles, dans le livre intitulé “Partis politiques et démocraties en Europe centrale et orientale”, (ce livre a été écrit par plusieurs auteurs et publié en 2002 par les éditions de l’Université de Bruxelles), a décrit le contexte politique et social des  pays de l’Europe centrale et orientale (des PECO), après une décennie de transition vers la démocratie. La conjoncture politique et économique en Europe centrale et orientale a profondément marqué les critères des partis politiques car le bouleversement de la structure sociale suite à ce changement profond (I) entraîne de nombreux clivages de la vie politique dans les PECO (II). Cet article synthétise les idées essentielles de Jean-Michel de Waele sur le processus de démocratisation dans les PECO.

I. Un bouleversement socal à l’issue de changement politique et économique profond dans les PECO

Le grand changement des régimes politiques totalitaires modifie les sociétés d’Europe centrale et orientale (A) car le système socialiste se transforme en système capitaliste, l’économie planifiée à l’économie de marché. Cette transformation sociale très rapide est à l’origine de l’incertitude et de la diversité changeante des partis politiques (B).

A. Le changement profond de société après une décennie du renouveau

Après dix ans, les PECO (les pays de l’Europe centrale et orientale) ont beaucoup de problèmes à résoudre, on ne peut avoir des conclusions précises sur un modèle de transition ou une vague de démocratisation car il reste des limites et différences. Si on fait la comparaison de la transition démocratique dans les pays de l’Europe du Sud, il existe à la fois un changement politique et économique en Europe centrale et orientale. Ce renouveau radical a fait apparaître de nouvelles catégories sociales, modifier le statut social des personnes. Ce grand changement a créé de nouveaux métiers libéraux ainsi que de l’agriculture privée, du commerce mais il a des impacts négatifs sur les problèmes sociaux tels que l’augmentation de la pauvreté et du chômage, la suppression de certaines professions, l’apparition d’une classe moyenne et de nouveaux groupes sociaux. Mais les groupes et associations qui viennent de se former, ne sont pas solides et stables. Il n’y a pas beaucoup de liens entre les partis politiques et la société civile. Les partis politiques ne peuvent pas compter sur la classe moyenne et le citoyen ne peut pas avoir son point de vue politique fixe à cause de l’incertitude et du changement sans cesse des organisations politiques. C’est la raison pour laquelle, les partis politiques ont des difficultés à établir des liens avec les citoyens et vice versa. D’ailleurs, l’individu ne connaît exactement pas quel groupe social, quel parti politique qui peut bien protéger ses propres intérêts, c’est pourquoi, il ne peut pas avoir un choix politique précis. L’imprécision de nouvelles structures sociales cause ces difficultés de choix politique et provoque l’instabilité des organisations politiques.

B. l’instabilité des partis politiques

Le bouleversement de la société, l’absence de tradition démocratique et l’inexistence des professionnels politiques constituent des entraves à la construction et à la perfection des partis politiques. Il faut également citer les difficultés économiques ainsi que les facteurs internes et externes causant l’incertitude et l’instabilité des partis politiques. Le nombre des partis politiques des PECO diminuent s’agissant du cas de la Roumanie, de la Pologne. Mais les partis demeurent les mêmes en Hongrie et en Slovaquie. La quantité réduite des partis politiques et leur stabilisation n’accompagnent pas la certitude. La question de l’alternance politique est systématique. Les partis au pouvoir perdent dans prèsque toutes les élections. Ce phénomène existe en Pologne, en Hongrie, en Slovaquie, en Slovennie et en Bulgarie car ces partis n’ont pas beaucoup d’influences à cause de leur temps très court au pouvoir, ils ne peuvent pas créer leur identité politique. L’instabilité politique et la fragilité des organisations politiques deumeurent des caractères typiques de la vie politique dans les PECO. Certains partis créés gagnent les élections et disparaissent du jour au lendemain. Les partis politiques tels que l’Association des travailleurs en Slovaquie, La convention politique de Roumanie, l’Alliance électorale solidarité de la Pologne représentent bien leurs caractères incertains et temporaires. En Bulgarie, il apparaît une bipolarisation politique avec deux camps d’opposition, les socialistes d’une part et les libéraux d’autre part. Mais ces deux blocs ont du mal à obtenir un grand soutien des électeurs, pour faciliter la compréhension des tendances politiques des partis ainsi que leurs objectifs politiques, le paradigme Rokkan devient une bonne méthode de classifier des partis politiques.

II. Le paradigme Rokkan, moyen utile pour la distinction des systèmes de partis politiques

La méthode de classification des partis politiques selon Rokkan ayant pour but de clarifier les paysages politiques confus, elle facilite l’analyse comparative. Cette classification se réfère aux clivages sociaux, géographiques et politiques ainsi que les nouveaux caractères contradictoires. Les partis politiques s’identifient par les caractères classiques (A) et les nouveaux critères (B).

A. La distinction des partis politiques par les critères traditionnels

Premièrement, les partis politiques sont identifiés par l’espace géographique et les caractéristiques ethniques et religieuses. Certains partis agrariens représentent les populations rurales. Il s’agit des traits typiques des PECO (des pays de l’Europe centrale et orientale) car ce sont des traditions historiques. Pourtant  ce clivage urbain/rural est remis en cause car les intérêts des paysans sont aussi la préoccupation des autres partis politiques. Il n’y a pas de parti politique fondé pour protéger uniquement la population urbaine.

Deuxièmement, il existe plusieurs partis politiques dans les PECO qui protègent les intérêts des ethnies minoritaires (le clivage centre/périphérie). La démocratisation dans les PECO est étroitement liée à la décentralisation et au respect de la démocratie locale. Plusieurs partis politiques représentent les minorités ethniques des pays d’Europe centrale et orientale, mais peu de partis se considèrent comme protecteurs des intérêts du centre, face aux demandes des périphéries (l’absence de la protection des intérêts de la majorité mais l’existence d’une multitude des partis politiques se déclarent représentants des minorités nationales. Il y a seulement des partis nationalistes sont du côté de la majorité. Certains partis de gauche ne s’intéressent pas trop à la communauté des minorités ethniques. Les partis libéraux et conservateurs sont plutôt autoritaires par rapport aux partis de gauche. Le panorama de la quasi-totalité des partis politiques dans les PECO le démontre clair et net.

Troisièmement, le clivage Église/État: Les grandes religions comme le catholicisme orthodoxe, le protestantisme, l’islamisme dans les PECO sont l’inspiration de la création de plusieurs partis politiques. Dans les pays où la religion orthodoxe joue un rôle important sur la vie sociale, culturelle et politique, il y a de grandes différences entre la religion et l’État ainsi que la religion et la société civile. Les partis politiques ne sont pas créés du fait de l’existence du principe de laïcité, pourtant certains partis politiques souhaitent lutter pour la défense de la laïcité de l’État, l’autorisation de l’avortement et la restitution des biens. Certains partis de droite sont tombés d’accord sur ces points proposés par les partis de gauche.

Les partis favorables à la laïcité définissent leur politique de gauche, étant les partis sociaux-démocrates, les partis d’origine communiste. Les modèles des partis politiques en Europe centrale et orientale semblent rapprocher à ceux des pays d’Europe occidentale. Mais il faut encore du temps pour le confirmer. La classification des partis politiques peut également se baser sur les critères de contradiction qui se différencient des critères classiques.

B. La distinction des partis politiques par les nouveaux critères opposés

Ces nouveaux critères ont apparu après la période de la décommunisation dans les PECO. En premier lieu, les partis politiques peuvent être distingués par les modalités maximalistes et minimalistes. Le processus de réforme économique manifeste des oppositions entre les partis maximalistes et minimalistes car les premiers veulent des réformes économiques rapides, les seconds préfèrent des changements et des réformes modérés et graduels. Ces deux catégories d’organisations politiques disposent de divergences sur l’ampleur, la gestion et le rythme des réformes économiques. Les partis politiques qui souhaitent adopter des changements rapides, se définissent comme réformateurs tandis que les autres qui sont réservés, restent conservateurs. Ces deux camps politiques d’opposition se représentent dans tous les PECO. Malgré tout, on aura du mal à qualifier partis de droite ou partis de gauche. A force de réformer l’économie et la politique nationales, ces partis peuvent se transformer en partis politiques ayant des caractères classiques selon le plan Rokkan.

En second lieu, il s’agit d’une classification des partis politiques en fonction des critères autoritaires et démocratiques. Les partis démocratiques disposent de certaines règles essentielles telles que l’équilibre des pouvoirs, le consensus social, la protection des droits des minorités. Ceux-ci accordent un grand soutien aux réformes politiques et économiques, favorisant l’économie de marché. Les partis autoritaires sont nationalistes et populices. Ils souhaitent préserver l’identité nationale et les traditions ancestrales. Ils ont souvent l’attitude réservée à l’égard de la transition et de la privatisation. En tout cas, on ne peut pas les classifier partis de droite ou partis de gauche car il y a toujours une confusion des caractères de ces deux catégories.

En troisième lieu, la distinction entre les partis politiques communistes et anti-communistes car les circonstances des PECO ont créé ces deux blocs idéologiques opposés mais cette classification ne s’avère pas convaincante à cause de l’incertitude du contexte politique et social dans les PECO. La division de ces deux catégories de partis politiques ne semble pas identique dans chaque pays. Il y a des différences entre la Slovaquie et la Hongrie, ainsi que la Bulgarie et la Roumanie. D’ailleurs, certains responsables des partis communistes dans le passé sont anti-communistes aujourd’hui. L’opinion publique ne fait pas attention à ce clivage communiste/anti-communiste car la population s’intéresse plutôt aux problèmes sociaux comme la corruption, la situation économique et sociale pendant la période de transition. De plus, certains partis politiques qualifiés, selon ce critère, disparaissent suite à la coalition politique et à l’échec pendant les élections. Certains partis existent mais n’ont pas d’influence sur la vie politique du pays. Cette classification est également remise en cause.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: