Lưu trữ | 8:11 Sáng

Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa vô chính phủ – VHNA

11 Th4

  Lê Đỗ Huy (lược dịch)

M. Bakunin (1814 – 1876) và Marx, hai nhân vật nổi bật tại Quốc tế (International) lần thứ nhất (1864). Năm 1872, Bakunin bị khai trừ. M. Bakunin (1814 – 1876) và Marx, hai nhân vật nổi bật tại Quốc tế (International) lần thứ nhất (1864). Năm 1872, Bakunin bị khai trừ.

 

Gần đây một số tác giả Liên Xô cũ hay dẫn bài “Chủ nghĩa xã hội Nhà nước và Chủ nghĩa vô chính phủ: chúng nhất trí với nhau đến mức nào, và khác nhau ở chỗ nào” (State Socialism and Anarchism: HOW FAR THEY AGREE, AND WHEREIN THEY DIFFER) của triết gia, nhà biên tập báo chí Benjamin Tucker (1854 – 1939), như những dự đoán từ thế kỷ 19 về kỷ nguyên Liên Xô…

Bài đăng trên tạp chí Liberty số 120, ra 10 -3-1888[1]. Đây là thời kỳ, ngoài chủ nghĩa vô chính phủ, thuật ngữ CNXH bắt đầu “mốt”, còn khái niệm chủ nghĩa cộng sản sẽ nổi trội khoảng ba chục năm sau, vào kỷ nguyên của Lenin.

Chắc là không có một sách động (agitation) nào đạt mức hoành tráng, kể cả về quân số tân binh vừa tuyển được, lẫn cấp độ gây ảnh hưởng, như chủ nghĩa xã hội hiện đại (Modern Socialism). Đồng thời, sự hiểu biết ít, hoặc hiểu sai về nó (Modern Socialism) cũng là vô cùng ghê gớm, không chỉ bởi cả những vị thù ghét lẫn những vị cảm tình với nó, mà thậm chí bởi cả những vị đã nhập vào đội ngũ của nó (Modern Socialism) rồi.

Tình cảnh rủi ro và vô cùng nguy hiểm này hẳn do quan hệ người – người, cái mà trào lưu này, nếu bất cứ thứ gì hỗn loạn đến như thế mà vẫn gọi được là trào lưu, đang  nhắm vào để thay đổi, lại không chỉ dính đến một giai cấp, hay một số giai cấp nhất định, mà dính dáng thực sự đến toàn nhân loại. Về nguyên cớ, một mặt vì các mối quan hệ của thế nhân, về bản chất, đang biến đổi không ngừng và phức tạp vô cùng, hơn  bất kỳ cuộc cải lương nào các nhà cải cách xã hội từng được tiến hành trước đó, mặt khác do các lực lượng tạo tác (great moulding forces) của xã hội, các kênh thông tin và khai sáng, đều hoàn toàn bị kiểm soát bởi các thế lực mà lợi ích của chúng là đối lập với đòi hỏi có tính nền tảng của CNXH: lao động phải thuộc về sở hữu của chính nó (labor should be put in possession of its own)…

Các nguyên tắc của CNXH hiện đại ((Modern Socialism – ở cuối thế kỷ 19) là kết luận logic từ các nguyên lý mà Adam Smith đã trình bày trong các chương đầu của cuốn “Của cải của các dân tộc” (Wealth of Nations) – nói rõ ra: lao động là thước đo chân chính của giá cả. Nhưng Adam Smith, sau khi diễn đạt nguyên lý trên một cách rõ ràng và súc tích nhất, lại đột ngột từ bỏ các nghiên cứu tiếp theo của mình về vấn đề này, và cống hiến hoàn toàn cho các đề tài khác như: giá cả được đo lường thế nào, và của cải hiện đang được phân phối ra sao. Kể từ đó, các nhà kinh tế chính trị học đều noi gương ông, hạn chế chức trách của họ trong việc diễn tả xã hội như nó có trong các thời kỳ công nghiệp và thương mại của nó. Chủ nghĩa xã hội, ngược lại, dành cho mình chức trách diễn tả xã hội nên trở thành gì, và còn cố phát hiện các phương tiện để làm cho xã hội trở thành dạng mà nó (theo các nhà theo chủ nghĩa xã hội) phải trở thành. Khoảng hơn nửa thế kỷ sau khi Adam Smith phát biểu nguyên lý nói trên, (các nhà theo) Chủ nghĩa xã hội đã chộp lấy nó (nguyên tắc của CNXH hiện đại) ở nơi mà Adam Smith đã bỏ rơi nó, và trên con đường theo đuổi nguyên lý này đến những kết luận logic, đã lấy nó làm nền tảng cho một triết học kinh tế mới.

Việc này (phát triển nguyên lý CNXH hiện đại của Adam Smith) dường như đã được tiến hành bởi ba người, thuộc ba dân tộc, ba ngôn ngữ khác nhau: Josiah Warren, một người Mỹ; Pierre J. Proudhon, một người Pháp; Karl Marx, một người Đức gốc Do Thái. Việc từng người trong Warren và Proudhon đến với kết luận của họ một cách độc lập, không có sự trợ giúp từ bên ngoài là rõ ràng, thì việc Marx không vay mượn, ở quy mô lớn, các ý tưởng về kinh tế của Proudhon, lại đáng ngờ (questionable). Tuy nhiên, cách Marx trình diễn các ý tưởng của ông trong nhiều khía cạnh thể hiện được dấu ấn riêng của ông, đến mức ông giành quyền được ghi danh mình như chính chủ của công trình. Các công trình mà bộ ba thú vị này, làm hầu như đồng thời với nhau, dường như biểu thị rằng: Chủ nghĩa xã hội đã lơ lửng trong không khí rồi đấy, rằng thời gian đã chín muồi, và các điều kiện đang đầy hứa hẹn cho việc xuất trình một trường phái tư duy mới…

Không nhất thiết cứ phải dẫn giải đến nơi rằng Warren, Proudhon, hay Marx đã dùng đúng cách diễn đạt như thế, hoặc (nhăm nhăm) theo đuổi đường hướng tư duy như thế (phải đánh đổ độc quyền), nhưng đã rõ ra rằng cả ba ngài này đã đứng trên những lập trường rất căn bản, và luồng tư tưởng chính của họ đều đã vươn được tới những ranh giới nơi họ đồng hành (về tư tưởng)… (Điều quan trọng là) chính tại luận điểm này – cần thiết phải đánh đổ độc quyền, đường đi của các tác gia này đều đụng vào ngã ba. Và họ nhận thấy họ sẽ phải chọn rẽ vào ngả nào: hoặc vô con đường mòn (path) của Quyền lực, hoặc vào con đường mòn của Tự do. Marx dấn vào con đường thứ nhất, trong khi Warren và Proudhon chọn con đường thứ hai. Thế là Chủ nghĩa xã hội Nhà nước (State Socialism), và Chủ nghĩa Vô chính phủ chào đời.

Trước hết, ta xem xét Chủ nghĩa xã hội Nhà nước. Nó có thể được mô tả bằng một học thuyết: tất cả mọi việc của con người đều phải được điều hành bởi chính quyền, bất chấp ý muốn của từng người dân.

Marx, nhà sáng lập Chủ nghĩa xã hội Nhà nước, kết luận rằng con đường duy nhất để xóa bỏ độc quyền giai cấp là: tập trung hóa và hợp nhất mọi lợi ích của công nghiệp và của thương mại, mọi các lực lượng sản xuất và phân phối, thành một thế lực độc quyền khổng lồ trong tay Nhà nước.

Những vị có thể trở thành Chính phủ (government – nhà cầm quyền) là: chủ ngân hàng, chủ xưởng, chủ nông trại, doanh nhân (làm dịch vụ) vận tải, nhà buôn, và trong các ngành (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) này, nó (chính phủ) không phải chịu cạnh tranh. Đất đai, dụng cụ, các công cụ sản xuất phải bị tước đoạt khỏi tay các cá nhân, và biến thành tài sản tập thể. Chỉ các sản phẩm làm ra (để) tiêu thụ là thuộc về các cá nhân, các phương tiện sản xuất thì không.

Một cá nhân có thể sở hữu quần áo và thức ăn của mình, nhưng không được sở hữu chiếc máy may làm ra chiếc sơ mi cho anh ta, hoặc chiếc xẻng anh ta vẫn dùng đào khoai tây. Sản phẩm và tư bản là hai thứ khác nhau về bàn chất; sản phẩm thuộc về cá nhân, còn tư bản thuộc về xã hội. Xã hội cần đoạt lấy tư bản, là cái thuộc về nó, bằng cách: hoặc bỏ phiếu, hoặc làm cách mạng, nếu cần.

Một khi xã hội đã sở hữu được tư bản, nó phải được cai quản tư bản theo nguyên tắc đa số, thông qua bộ máy nhà nước, và phải dùng tư bản trong sản xuất và phân phối, phải ấn định giá cả theo tổng lượng lao động đã tiêu hao (để tạo ra sản phẩm), và phải tạo điều kiện cho toàn dân làm việc trong các công xưởng, nông trại, quầy hàng… của xã hội.

Toàn dân phải được chuyển hóa thành một cỗ máy chấp hành khổng lồ (vast bureaucracy), và mỗi cá nhân trở thành một viên chức Nhà nước (như khái niệm “biên chế” tiếng Việt). Mọi thứ đều phải được làm ra thể theo nguyên tắc giá trị, con người ta sẽ không còn động cơ (theo đuổi) lợi nhuận. Mỗi cá nhân không thể được phép có tư bản riêng, và không ai được phép thuê người làm, kể cả thuê chính mình. Mỗi người dân là một vị thuộc diện làm công ăn lương (wage-receiver/lĩnh lương), và Nhà nước là người phát lương duy nhất. Ai không chịu làm việc cho Nhà nước sẽ phải chết đói, hoặc phải đi tù. Tất cả các dạng tự do buôn bán phải triệt tiêu. Cạnh tranh phải bị xóa sạch sành sanh. Tất cả các hoạt động sản xuất và thương mại phải được tập trung vào một (cơ chế) độc quyền, rộng khắp, to lớn, ôm tất tần tật (all-inclusive). Thuốc để trị (bệnh) nhiều độc quyền là cơ chế độc quyền duy nhất (The remedy for monopolies is monopoly).

Đó là chương trình kinh tế của CNXH Nhà nước, theo kiểu Karl Marx.

Những áp dụng tiếp theo của nguyên tắc Quyền lực, khi nguyên tắc này được đưa vào (lãnh đạo) nền kinh tế, dẫn đến những điều gì, là quá ư hiển nhiên. Nó có nghĩa là sự kiểm soát tuyệt đối của đa số đối với hành vi của cá nhân. Quyền được kiểm soát như thế (của đa số) đã được xác nhận bởi các những người theo CNXH Nhà nước, mặc dù họ vẫn khăng khăng, rằng cá nhân rồi sẽ được hưởng tự do rộng rãi hơn là hiện tại họ đang có. Nhưng cá nhân chỉ được phép có tự do thôi, không được tuyên bố tự do là quyền không tách rời (he could not claim it as his own). Đâu có cơ sở nào để kiến thiết xã hội (theo chủ nghĩa xã hội Nhà nước) dựa trên đảm bảo là bất kỳ ai cũng được hưởng quyền tự do thả cửa (a guaranteed equality of the largest possible liberty). Tự do (trong một xã hội XHCN Nhà nước như thế) chỉ được tồn tại ở mức được chấp nhận (bởi nhà cầm quyền), và có thể bị tước đi bất kỳ lúc nào. Các bảo đảm của hiến pháp sẽ chẳng có hiệu lực. Sẽ chỉ có một điều khoản thôi cho hiến pháp của một nước theo CNXH Nhà nước (State Socialistic country): “quyền lợi của đa số là bất khả xâm phạm”.

Khẳng định của những người theo chủ nghĩa xã hội Nhà nước, là quyền này (của đa số) sẽ không áp dụng trong các trường hợp liên quan đến đời sống tình cảm riêng (intimate), đến quan hệ riêng của từng cá nhân, không được xác nhận bởi lịch sử của các chính quyền. Có một xu hướng của quyền lực là luôn tự vơ vào, luôn tự mở mang lãnh địa của mình, luôn lấn chiếm ra ngoài giới hạn từng được xác định cho quyền lực ấy; và khi nào thói quen chống lại những cơi nới (của quyền lực) không được khuyến khích, còn các cá nhân thì không được dạy dỗ để ganh đua vì các quyền lợi của mình, nhân cách (individuality) dần dần biến mất, và chính quyền, hay nhà nước trở thành nhân tố bao trùm mọi mặt đời sống (the all – in – all).

Kiểm soát dĩ nhiên đi kèm trách nhiệm. Vì thế, dưới chế độ XHCN Nhà nước, nhà nước sẽ chịu trách nhiệm về sức khỏe, thịnh vượng, trình độ học vấn của cá nhân, thì hiển nhiên là cộng đồng, dưới sức ép số đông, sẽ cố vơ vào mình các điều kiện về y tế, của cải, và học vấn, dẫn tới làm hư hoại, và cuối cùng, sẽ hủy diệt độc lập tính của cá thể, cùng với mọi cảm giác trách nhiệm cá nhân gắn với nó[2].

Dù các vị theo XHCN Nhà nước có cố khẳng định điều này hay phủ định điều kia, thì chế độ của họ kiểu gì rồi cũng thành: một tín ngưỡng Nhà nước (State religion – tín ngưỡng toàn tòng cho cả nước) chi phí nhờ vào việc tất cả mọi người đều phải cúng hiến (cho thứ tôn giáo này), và phải quỳ lạy trước bàn thờ chung; thành một trường đào tạo thày thuốc cấp toàn quốc, nơi những (ai bị xem là) bệnh nhân đều buộc phải đưa vào diện điều trị; thành một hệ thống vệ sinh cấp nhà nước, nơi mọi người buộc phái làm theo hướng dẫn: ăn gì, uống gì, mặc gì, làm gì; một bộ luật về phẩm hạnh (ban hành bởi) Nhà nước (a State code of morals), có thể sẽ không gồm các nội dung  trừng phạt tội phạm, nhưng sẽ cấm những gì bị đa số coi là suy đồi; thành một hệ thống chuyên ban hành các chỉ thị chung cho cả nước (a State system of instruction), nơi mọi trường học, học viện, trường cao đẳng tư thục bị tiêu biến; thành một trại nhi đồng cỡ toàn quốc, nơi tất cả trẻ em lớn lên trong chung đụng (in common) nhờ vào chi tiêu công; và cuối cùng, thành một đại gia đình quy mô toàn quốc, nơi thử nghiệm nuôi nấng, dạy dỗ tất cả trẻ con (bằng tiền của công), nơi mà không một đàn ông hay đàn bà nào được đẻ con, nếu đã bị nhà nước cấm, và không một ai được từ chối sinh con đẻ cái, nếu nhà nước ra lệnh.

Bằng cách ấy, mà Quyền lực sẽ đạt được địa vị tột đỉnh, và Độc quyền sẽ trở thành quyền lực tối thượng.

Trên đây là hình mẫu mà người theo CNXH Nhà nước sẽ đi tới, cũng là đích đến trên nẻo đường mà Karl Marx chọn (sau khi tới “ngã ba”). Còn bây giờ ta đi theo Warren and Proudhon – những người rẽ sang lối khác – lối đi của Tự do.

Con đường này dẫn tới Chủ nghĩa Vô chính phủ, có thể diễn giải bằng Học thuyết sau: mọi việc của con người đều phải được tiến hành bởi các cá nhân, hay các tổ chức tình nguyện, rằng Nhà nước phải bị bãi bỏ[3]

Marx, như ta đã thấy, giải quyết vấn đề bằng cách tuyên bố tư bản và sản phẩm là hai thứ khác nhau. Ông ta khẳng định rằng tư bản thuộc về xã hội, phải được xã hội đoạt lấy, và khai thác vì lợi ích mọi người một cách bình quân (for the benefit of all alike).

Prudon thì đưa việc phân biệt tư bản và sản phẩm ra để nhạo báng. (Đối lập với Marx) ông ta cho rằng tư bản và sản phẩm không hề là những hình thái khác nhau của của nả (wealth – giàu có), rằng mọi dạng tư bản hay sản phẩm chỉ, hoặc đóng vai trò những điều kiện, hoặc đóng vai những chức năng (functions) cho của nả mà thôi; rằng mọi thể loại của cải đều biến chuyển không ngừng: từ tư bản thành sản phẩm vả ngược lại, từ sản phẩm thành tư bản; rằng tư bản và sản phẩm chỉ là những thuật ngữ xã hội; rằng cái đang còn là sản phẩm của người này, lập tức trở thành tư bản của người khác, và ngược lại/vice versa; rằng nếu trên thế giới nếu chỉ còn một nhân mạng thôi, thì toàn bộ của cải đối với anh này sẽ vừa là tư bản, vừa là sản phẩm; rằng hoa trái của lao động quần quật của anh Kèo, khi được bán cho anh Cột, sẽ trở thành tư bản của Cột (trừ khi Cột là một kẻ tiêu thụ không sản xuất gì, trong trường hợp này sản phẩm sẽ trở thành của cải bị thải đi, bị đặt ra ngoài tầm quan sát của nền kinh tế của xã hội); rằng cái máy khâu cũng là một thứ sản phẩm, giống như cái áo, và cái áo cũng là một thứ tư bản, như một cái máy khâu; rằng khâu sở hữu bị chi phối bởi cùng một bộ luật bình đẳng: những luật lệ chi phối sự sở hữu của Kèo, nhưng Kèo này đến lượt mình lại chi phối sự sở hữu của Cột…

Sự phát triển của chương trình kinh tế (của Warren và Proudhon) bao gồm sự tiêu hủy các dạng đặt quyền (đặc quyền phát hành các loại hối phiếu, đặc quyền về đất đai, đặc quyền về thuế, đặc quyền về cấp phép sáng chế/ môn bài…) và thay chúng bằng dạng cao nhất của tự do cạnh tranh, đã đưa các tác giả này đến kết luận, là tư tưởng của họ xây dựng trên cùng một nguyên tắc cơ bản, đó là tự do cá nhân, là chủ quyền của một cá thể đối với chính anh ta, đối với sản phẩm lao động, đối với công việc của anh ta, và đối với sở nguyện không khuất phục sự sai khiến của các thế lực bên ngoài. Ý đồ tước đoạt tư bản khỏi tay tư nhân và giao nó cho chính phủ đã dẫn dắt Marx vào con đường hẻm (path) dẫn tới điểm cuối đường là, làm cho nhà nước trở thành mọi thứ, còn cá nhân thì chẳng là gì. (Ở chiều song đối) ý đồ tước tư bản khỏi các dạng độc quyền được chính phủ bảo hộ và đặt nó vào tầm dễ với của cá nhân đã xui khiến Warren và Proudhon vào con hẻm, với điểm cùng đường là làm cho cá nhân trở thành tất cả, còn chính phủ biến thành cái chẳng là gì[4]

Lập trường của họ đối với vấn đề này (như “Chính quyền tốt nhất là chính quyền chỉ đạo ít nhất”[5]) là chủ chốt trong thái độ của họ đối với mọi vấn đề khác mang bản chất chính trị hay xã hội. Về mặt tôn giáo họ là vô thần chỉ khi bày tỏ các quan điểm riêng của từng người, bởi vì họ nhìn nhận thần quyền và những hình phạt tôn giáo về mặt đạo đức như sự viện cớ của các giai cấp có đặc quyền nhằm áp đặt quyền uy của chính các giai cấp ấy. “Nếu ông Trời có thực”, Proudhon nói, “ông ta là kẻ thù của con người”. Tương phản với phát biểu trào lộng của Voltaire, “Nếu ông Trời không tồn tại, cần phải tạo tác ra ông ta”, nhà vô chính phủ (nihilist)[6] vĩ đại người Nga Mikhail Bakunin[7] đưa ra phản đề sau: “Nếu ông Trời tồn tại, cần phải thủ tiêu ông ta”. Tuy nhiên, dù vẫn xem thứ bậc tôn ti về tôn giáo là thù địch với vô chính phủ và không công nhận chúa Trời, những người theo chủ nghĩa vô chính phủ đứng vững trên lập trường tin vào tự do. Họ hăng hái chống lại những  phủ định quyền tự do tôn giáo…                                     

 


[2]Đoạn này có thể kiến giải bằng ngôn ngữ hiện đại: bao cấp (cấp dịch vụ, hàng hóa công gần như không mất tiền, theo “bình xét”…) dẫn đến xu hướng “chùa” các hàng hóa, dịch vụ này theo kiểu: “cuốc xẻng phân từ dưới lên, đường sữa phân từ trên xuống”). Cũng còn có thể suy luận: ai cũng cố “khai tăng” để dành thuận lợi trong sử dụng dịch vụ công vốn miễn phí, trong bổ nhiệm cán bộ (kiểu như hiện tượng “bằng tại chức”)… Báo AiF (Luận chứng và sự kiện) của Nga, số 17, 19, 2010 cho rằng một trong những khuyết thiếu và bi kịch lớn nhất của Nga – Liên Xô là “không coi người là người”, dẫn đến một tử huyệt là triệt tiêu khái niệm trách nhiệm cá nhân, ai cũng muốn ỷ vào tập thể, cả lúc cầu lợi, lẫn lúc “có sự cố”…

[3]Những năm 1880, các nhà vô chính phủ được xem là những người chống đối hệ thống xã hội dựa trên cơ chế tư bản chủ nghĩa. Nhiều nhà hoạt động công đoàn (cyndicalist) theo chủ nghĩa vô chính phủ. Nhiều hoạt động đấu tranh ôn hòa của công nhân nổ ra. Nhưng trong cuộc tuần hành 4-5-1886 đòi ngày làm 8h tại Quảng trường Haymarket, Chiacgo, Mỹ đã xảy ra vụ thảm sát dẫn đến một số cảnh sát và công dân thương vong. Dẫn đến 8 người theo chủ nghĩa vô chính phủ bị bắt, 4 người trong đó bị kết án treo cổ, một người tự sát trong tù, hai người bị án chung thân (Vụ Tám người vô chính phủ/The eight arnachists). Về sau, một số nguồn cho rằng toàn thế giới được hưởng chế độ làm việc 8h và ngày Lao động 1-5 là do công của các nhà vô chính phủ đầu tiên…  

[4]Trong phần nói về chủ nghĩa vô chính phủ kiểu Warren và Proudhon, có bóng dáng của xã hội mẫu hệ hiện đại kiểu của người Mo Suo (Xưa và Nay số 425, tháng 4-2013), với câu: when the children born of these relations shall belong exclusively to the mothers until old enough to belong to themselves – khi bọn trẻ sinh ra từ các quan hệ như thế này (trong nhà có các buồng dành riêng cho những người tình khác nhau của chủ nhà), chúng sẽ hoàn toàn thuộc về người mẹ cho tới khi trưởng thành đến mức chỉ thuộc về chính chúng…

[5]The best government is that which governs least – phương châm của Tạp chí Hoa Kỳ và quan sát Dân chủ/ The United States Magazine and Democratic Review, một ấn phẩm xuất bản định kỳ ở Mỹ, thời 1837–1859

[6]Riêng trường hợp những nhà vô chính phủ kiểu Nga (theo đuổi một trường phải vô chính phủ cực đoan, quá khích hơn), thường dùng chữ nihilist (còn nghĩa là người theo thuyết hư vô nihilism), các trường hợp khác, về chủ nghĩa vô chính phủ, chữ anarchist thường được dùng.

[7]Theo Bakunin: “Họ [các nhà Marxists] luôn xác nhận rằng chỉ là một chế độ độc tài – dĩ nhiên là chế độ độc tài của họ – có thể tạo ra ý chí nguyện vọng (will) cho người dân, nhưng câu trả lời của chúng tôi về điều này là: không có chế độ độc tài nào nhắm được vào mục đích nào khác hơn, ngoài tự làm cho mình bất tử (self-perpetuation), và nó chỉ có thể là cha đẻ của nô dịch, nhờ vào việc người dân phải chịu đựng nó (chế độ)…”

M.Bakunnin, sách Chủ nghĩa Nhà nước và Vô chính phủ (Statism and Anarchy),1873, tr. 288. Dẫn theo http://www.nybooks.com/articles/archives/1976/apr/01/freedom-and-anarchy/?pagination=false

 

 

Làm sao chấn chỉnh công an Việt Nam? – Bauxite

11 Th4
 

LS Ngô Ngọc Trai

clip_image002

Báo chí Việt Nam gần đây phản ánh nhiều vụ việc về tình trạng bạo quyền của lực lượng Công an, điều này có lẽ là hệ quả từ việc Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về chống tra tấn và đối xử tàn bạo.

clip_image003

Cũng có thể do Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đã đi vào những hoạt động cụ thể thiết thực nhằm xây dựng một nền tư pháp Việt Nam được trở nên công minh tiến bộ.

Xem ra lực lượng Công an đang không gặp may, nhưng rất có thể đây chỉ là sự ồn ào của một giai đoạn, sau đó mọi việc sẽ trở lại tình trạng cũ.

Vậy làm thế nào để xử lý tận gốc tình trạng lộng quyền của lực lượng Công an?

Giải pháp nếu có cũng cần ở tầm sách lược thể hiện ở các chế định mới về pháp lý và chính trị. Như thế mới tạo nền tảng căn cơ bền vững duy trì uốn nắn hoạt động của lực lượng này ở cả hiện tại và tương lai.

Pháp lý hay chính trị

Thông thường sau khi ký kết gia nhập Công ước quốc tế, Quốc hội và Chính phủ sẽ truyền tải những nội dung Công ước thành các văn bản pháp quy. Sửa đổi quy định cũ hoặc ban hành thêm quy định mới để điều chỉnh các vấn đề của đời sống đất nước sao cho phù hợp với tinh thần Công ước.

Nhưng tình trạng bạo quyền của lực lượng Công an là do hiện tại còn thiếu chế định pháp lý ngăn cấm hay do chế định về chính trị hiện trao quyền quá lớn cho lực lượng này ở Việt Nam?

Ở phương diện pháp lý thì thấy: Bộ luật tố tụng hình sự quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình. Bộ luật hình sự quy định một loạt tội danh xâm phạm hoạt động tư pháp như Tội dùng nhục hình, Tội bức cung, Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn giam giữ người trái pháp luật.

Luật công an nhân dân đã quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm và những việc không được làm của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân.

Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã quy định những việc Điều tra viên không được làm, quy định về bổ nhiệm miễn nhiệm cách chức chức danh Điều tra viên.

Các văn bản pháp lý khác như Luật cán bộ công chức cũng điều chỉnh hành vi việc làm của cán bộ chiến sĩ Công an.

Các chế định pháp lý là không thiếu vậy tại sao Công an vẫn lộng quyền?

Người ta dám làm sai vì họ không sợ bị trừng phạt, không sợ bị trừng phạt vì quyền lực họ to lớn. Quyền lực to lớn đó là vấn đề vị thế chính trị.

Vậy phải tìm nguyên nhân ở các chế định chính trị về lực lượng này.

Vị thế của Công an

clip_image004

Tuy cùng là Đảng viên CS nhưng Công an lại là Đảng viên mang vũ khí

Thực tế cho thấy một người vừa là Công an vừa là đảng viên thì ta chỉ toàn thấy người đó là Công an.

Vì Công an là một chức nghiệp và thường xuyên tác động tới dân, trong khi tư cách đảng viên chỉ hiển diện trên giấy tờ và trong phòng họp.

Công an thì chắc chắn phải là đảng viên, nhưng đảng viên chưa chắc đã là Công an, Công an lại có kỷ luật của lực lượng vũ trang nghiêm hơn kỷ luật Đảng. Cho nên công an là lực lượng có tính đồng nhất và tổ chức cố kết hơn tổ chức Đảng.

Công an được coi là thanh kiếm bảo vệ Đảng nhưng nhiều trường hợp người ta phải làm một việc vì sợ uy quyền của công an chứ không phải vì chính sách phù hợp với nhân tâm. Người ta khấn phật vì sợ ông thiên lôi.

Vị thế của lực lượng Công an so sánh với các lực lượng khác trong cùng tổ chức Đảng như công nhân, nông dân, công chức khác có thể ví như một quả tạ bằng sắt nằm trong cùng túi với các thứ đồ chơi bằng nhựa.

Như thế thật khó xác định Đảng lãnh đạo Công an hay Công an lèo lái Đảng.

Làm cách nào để Đảng nắm chắc và siết chặt lực lượng này?

Giải pháp là cần giữ khoảng cách giữa Đảng và Công an.

Lâu nay Đảng coi Công an là lực lượng trung thành bảo vệ nên giữ lực lượng này ở gần, hoặc có thể Đảng sợ để nó ở xa thì khó kiểm soát điều khiển.

Vì thế nên Đảng tổ chức sắp xếp để người đứng đầu các đơn vị công an giữ vị thế chính trị cao.

Người đứng đầu các đơn vị Công an đồng thời là thành viên trong cơ quan lãnh đạo tập thể của Đảng, ví như Bộ Trưởng Bộ Công an là ủy viên Bộ chính trị, Giám đốc công an tỉnh là Ủy viên thường vụ tỉnh ủy, Trưởng công an huyện là Ủy viên thường vụ huyện ủy.

Nhưng khi Đảng giữ Công an ở gần thì cũng có những rắc rối.

Xét theo tự nhiên: Khi chúng ta sử dụng công cụ lao động, chúng ta được an toàn nhờ khoảng cách từ cổ tay đến bả vai. Sẽ rất nguy hiểm nếu bàn tay mọc ngay trên cơ thể. Đó là ví dụ kinh điển về giá trị của khoảng cách.

Xét theo đời sống thực: Lẽ thường, vị thế (chính trị) kém hơn sẽ dễ sai khiến hơn, bởi vì sẽ khó bảo khi nó bằng vai với mình.

Cũng theo lẽ thường, làm sao mà nói lý lẽ đúng sai với một kẻ có võ lại đầy thủ pháp kinh nghiệm áp chế người khác?

clip_image005“Công an có thể tham gia lắng nghe để thừa hành cho tốt, được trình bày ý kiến khi được cho phép nhưng không được tham gia biểu quyết”

Làm sao trao đổi lý lẽ đúng sai với một kẻ có vũ khí?

Thực tế vị thế tiếng nói của người bên Công an có uy lực như thế nào trong các cấp của tổ chức Đảng hẳn các đảng viên biết rõ.

Giảm vị thế chính trị

Một nguyên lý tổ chức và hoạt động của Đảng là lãnh đạo tập thể, và đây chính là cơ sở nền tảng dẫn đưa đến việc để cho người bên lực lượng Công an tham gia vào hoạt động lãnh đạo tập thể.

Cách bố trí xắp xếp nhân sự như vậy có ích lợi là Đảng nhanh chóng có được ý kiến tham mưu đề xuất, lực lượng Công an lại nắm rõ vấn đề và có khả năng giải quyết nên thuận tiện cho tham gia làm thành viên của cơ quan tập thể lãnh đạo.

Bố trí đó cũng bởi bối cảnh Đảng hoạt động trong môi trường nhiều thù địch, cần có lực lượng công an bảo vệ thường trực bên mình.

Cách bố trí đó xuất phát từ những nhận thức đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh.

Nhưng nay môi trường và hoàn cảnh đã khác, nên cần thiết phải thay đổi.

Không nên để Bộ trưởng Bộ Công an giữ cương vị ủy viên Bộ chính trị mà chỉ nên để ở Ủy viên Trung ương Đảng. Giám đốc công an các tỉnh, huyện không nên để là Ủy viên thường vụ mà chỉ nên là ủy viên thường.

Trong các cuộc họp người bên Công an có thể tham gia lắng nghe để thừa hành cho tốt, được trình bày ý kiến khi được cho phép nhưng không được tham gia biểu quyết.

Theo đó, Công an tham mưu đề xuất, nhưng quyết định ở người khác.

Bằng cách đó Đảng sẽ vẫn sử dụng phát huy được ưu thế vũ khí sắc bén của lực lượng Công an, nhưng lại khắc chế kiểm soát được lực lượng này.

Đó là giải pháp khả dĩ nhất trong tương quan chính trị giữa lực lượng Công an với các lực lượng khác trong cùng tổ chức Đảng.

clip_image006

Công an cũng hoạt động trong lòng một xã hội đang có nhiều vấn đề

Ở nhiều quốc gia, họ quy định lực lượng công an không được tham gia chính trị, không được là đảng viên của bất kỳ đảng phái nào. Không cho có vị thế chính trị chỉ cho có vị thế pháp lý (quyền hạn theo luật), bằng cách đó hạn chế được sự lộng quyền.

Trong khi đó ở Việt nam lực lượng Công an giữ vị thế chính trị cao trong Đảng, lực lượng này vừa nắm vũ khí lại có cả cơ quan ngôn luận báo chí, truyền hình.

Đạo đức công dân

Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại.

Tình trạng bạo quyền cho thấy đạo đức công vụ yếu kém nhưng Công an đâu có sống trong chân không.

Họ tồn tại trong môi trường xã hội, đạo đức xã hội xuống cấp phần nào phản chiếu tới đạo đức công vụ của lực lượng Công an.

Tình trạng bạo quyền xâm phạm tới quyền tự do dân chủ của công dân, nhưng đây chỉ là một phần của hàng loạt các tệ trạng xã hội mà người dân là tác nhân và có trách nhiệm trong đó.

Rất nhiều người khi thấy thực tế cuộc sống không được như ý muốn thì chỉ biết phê phán mà không chấp nhận lẽ đời là cần bỏ công vun trồng mới tới ngày hái quả.

Rất nhiều người khi gặp vấn đề thì ai cũng chỉ biết tìm cách luồn lọt cho được việc của mình trong khi hòn đá tảng rắc rối vẫn nằm đó và chờ đợi người khác.

Ai cũng ích kỷ cá nhân, mũ ni che tai, ngậm miệng ăn tiền, sống chế mặc bay.

Đạo đức công dân như thế, làm sao đòi hỏi đạo đức công vụ của Công an?

“Một nền tư pháp công minh tiến bộ đâu phải chỉ là công việc của chính quyền, người dân cũng phải có trách nhiệm trong đó”

Mình đã công chính chưa mà đòi hỏi điều đó ở người khác?

Biết bao vấn đề bất cập xảy ra trong đời sống hàng ngày nhưng có mấy ai đụng đậy ngón tay để góp phần giải quyết?

Muốn có đời sống dân chủ an lành thì phải dựng xây, tự dưng đâu có được. Một nền tư pháp công minh tiến bộ đâu phải chỉ là công việc của chính quyền, người dân cũng phải có trách nhiệm trong đó.

Cho nên khi chê trách người thì cũng phải nhìn nhận lại mình. Hành xử của cán bộ công quyền thực chất là tấm gương phản chiếu và tương xứng với thái độ trách nhiệm của công dân.

Nêu ra vấn đề đạo đức công dân đặt trong mối tương quan với đạo đức công vụ của Công an là nhằm thúc đẩy mọi người sống có trách nhiệm hơn, chứ không phải chê trách.

Vì chê trách không phải là giải pháp.

Giải pháp ở Đảng.

Ở Việt Nam hiện nay, trị được Công an không ai ngoài Đảng.

N. N. T.

Bài viết nguyên có tựa đề là ‘Vận hạn Công an’, thể hiện quan điểm của luật sư Ngô Ngọc Trai, hiện đang hành nghề ở Hà Nội và Nam Định.

Nguồn: bbc.co.uk

 

Bà Trần Thị Ngọc Minh thỉnh cầu quốc hội và chính phủ Đức đòi trả tự do cho Đỗ Thị Minh Hạnh – Bauxite

11 Th4

 

Berlin (ngày 10 tháng 4 năm 2014)Trong cuộc vận động quốc tế đòi trả tự do cho cô Đỗ Thị Minh Hạnh tại thủ đô Berlin của CHLB Đức, mẹ cô là bà Trần Thị Ngọc Minh đã đến họp với Uỷ Ban Nhân quyền Quốc hội Liên bang Đức vào ngày 8.4.2014. Bà cũng đến gặp Đặc ủy viên Nhân quyền Liên bang Đức vào ngày 9.4.2014. Trong dịp này bà đã đến trao đổi với văn phòng nữ dân biểu Sabine Bätzing-Lichtenthäler là người đỡ đầu cho con gái bà. Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam nhận được sự quan tâm của cả hai cơ cấu bảo vệ nhân quyền cao cấp nhất trong ngành lập pháp và hành pháp tại Đức.

Dân biểu Michael Brand, Chủ tịch Uỷ Ban Nhân quyền và Cứu trợ Nhân đạo của Quốc hội Liên bang Đức (Bundestagsausschuss für Menschenrechte und Humanitäre Hilfe), đã điều hành buổi họp với bà Ngọc Minh vào ngày 8.4.2014 nói trên. Cùng tham dự buổi họp này có các dân biểu Martin Patzelt, Frank Heinrich và Philipp Lensfeld. Các dân biểu đã bàn với bà Minh về các phương cách tranh đấu cho cô Đỗ Thị Minh Hạnh được tự do. Các dân biểu đặc biệt quan tâm đến việc cô Minh Hạnh không được khám và điều trị bướu ngực một cách đúng mức, bị tra tấn hành hạ trong các nhà tù và bị giam xa nhà. Dân biểu Tiến sĩ Philipp Lensfeld đã hỏi bà Ngọc Minh rất kỹ về vai trò của các chủ nhân Đài Loan của Công ty Giày da Mỹ Phong (Trà Vinh) trong vụ án này. Chủ tịch Brand thông báo sẽ họp các dân biểu thành viên trong Uỷ Ban Nhân quyền Quốc hội để thống nhất về đường hướng can thiệp. Mặc dù các dân biểu đang rất bận rộn với các cuộc họp về những vấn đề lớn của thế giới nhưng Chủ tịch Brand vẫn gấp rút triệu tập cuộc họp đặc biệt với bà Ngọc Minh. Điều này nói lên mối quan tâm lớn của Uỷ Ban Nhân quyền Quốc hội Đức đối với các vấn đề tù nhân chính trị, tra tấn hành hạ trong tù, nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam là những vấn đề được bà Ngọc Minh trình bày rõ ràng.

Cùng ngày 8.4.2014, bà Ngọc Minh đã đến trao đổi với luật sư Clemens Neumann, Trưởng văn phòng của nữ dân biểu Sabine Bätzing-Lichtenthäler. Dân biểu Bätzing-Lichtenthäler đã nhận bảo trợ cho Minh Hạnh từ đầu tháng Ba năm nay và đã viết thư để can thiệp ngay với chính phủ Việt Nam. Dân biểu Bätzing-Lichtenthäler hiện nghỉ dưỡng nhi nên không có mặt trong buổi họp. Nhân dịp này luật sư Clemens đã tìm hiểu thêm về vấn đề cưỡng bức lao động trong các trại giam là nguyên nhân khiến cho cô Minh Hạnh bị đánh nhiều lần trong tù.

Vào ngày 9.4.2014, bà Ngọc Minh đã nhận lời mời của dân biểu Christoph Strässer, Đặc ủy viên về Chính sách Nhân quyền và Cứu trợ Nhân đạo của Chính phủ Liên bang Đức (Beauftragter der Bundesregierung für Menschenrechtspolitik und Humanitäre Hilfe) để đến trình bày về các nguyện vọng cho con bà. Tuy cũng quan tâm đến các vấn nạn nhân quyền chung tại Việt Nam được bà Ngọc Minh trình bày thấu đáo nhưng Đặc ủy viên Strässer đã dồn hết chú ý vào việc làm sao cho cô Minh Hạnh được trả tự do và được khám chữa bệnh đúng mức và không bị tra tấn hành hạ trong nhà tù. Bà Minh nhấn mạnh rằng hai người bạn đồng hành với con bà là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương cũng cần nhận được những can thiệp như đối với con bà.

Bà Trần Thị Ngọc Minh là mẹ của nữ tù nhân chính trị Đỗ Thị Minh Hạnh, 29 tuổi, hiện bị giam ở trại Thanh Xuân, Hà Nội, cách xa nhà cô 1.700 Km. Cô bị bắt năm 2010 vì đã tổ chức đình công cho 11.000 công nhân tại Công ty Giày da Mỹ Phong (Trà Vinh) và bị xử án bất công 7 năm tù dưới tội danh „phá rối trật tự công cộng“. Tổ chức nhân quyền quốc tế VETO! xem cô là một người Bảo vệ Nhân quyền theo đúng định nghĩa của LHQ.

Nhân dịp sang Đức bà Trần Thị Ngọc Minh cũng đã có hai buổi gặp gỡ với cộng đồng người Việt tại thành phố München vào ngày 5.4 và tại thành phố Frankfurt vào ngày 6.4.2014. Buổi gặp gỡ tới đây sẽ được tổ chức tại Berlin vào ngày 12.4.2014.

 

Việt Nam sẽ ra sao khi Lào trở thành một tỉnh của Trung Quốc? – Bauxite

11 Th4
 

Hoàng Mai

Đó là suy nghĩ của người viết bài này, và có thể cũng là suy tư của rất nhiều người Việt Nam khi nghĩ về hiện tình Việt Nam và Lào hiện nay. Nguy cơ mất nước của người Lào về tay Trung Quốc là rất cao, nếu như nhân dân Lào, ngay từ bây giờ không nhận thức được một cách đầy đủ, thường trực về điều đó!

1. Nguy cơ Lào mất nước nhìn từ Việt Nam

Không khó để nhận ra rằng, Bắc Kinh đang làm chủ cuộc chơi tại Việt Nam và tại Lào trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa…. Quan hệ Trung-Việt, cũng như Trung-Lào hiện nay, đã vượt ra khỏi khái niệm “láng giềng hữu nghị”.

Nhìn cách mà Trung Quốc mua chuộc, điều hành quan chức từ Trung ương, đến địa phương ở Việt Nam, thông qua việc hơn 90% công trình trọng điểm quốc gia đều rơi vào tay người Trung Quốc; Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, trong tổng số 240 quốc gia và vùng lãnh thổ quan hệ kinh tế, thương mại với Việt Nam, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam-Trung Quốc năm 2013 lên tới 50,2 tỷ USD, trong đó nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Trung Quốc là 36,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 28,1% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam (1)… đủ cho ta dự đoán, rằng Lào cũng chẳng thế khác hơn, thậm chí nguy cơ Lào bị mất nước lớn hơn Việt Nam nhiều lần.

Lào (diện tích 236.800 km2, dân số 6,80 triệu người, mật độ dân số 26,70 người/ km2), với mật độ dân số rất thấp, chỉ bằng một phần mười so với Việt Nam (259 người/ km2 -năm 2012) là mảnh đất vô cùng màu mỡ và thuận lợi để Trung Quốc thực hiện di dân thông qua chính sách đầu tư tại Lào.

Cách đây hơn một năm, ngày 02/01/2013, báo infonet.vn, trong bài viết có tựa đề “Lào có thể phải trả giá vì nhận tiền đầu tư của Trung Quốc”(2), cho biết: “Chính phủ Lào đã phê duyệt dự án xây dựng tuyến đường sắt dài 470 km nối liền miền Bắc nước này tới tỉnh Vân Nam Trung Quốc, bất chấp những cảnh báo của các chuyên gia kinh tế quốc tế về cái giá mà nước này sẽ phải trả”.

Một quốc gia dân cư thưa thớt như Lào, GDP hàng năm chỉ khoảng 8 tỷ USD, việc Lào đầu tư tuyến đường sắt nói trên, rõ ràng, chỉ có những kẻ bán nước Lào cho Trung Quốc mới cố tình để làm như vậy.

Về nhân lực để thực hiện dự án này, bài báo cho biết:

“Wang Quan, một ông chủ khách sạn người Trung Quốc tại một thị trấn ở vùng núi nhiệt đới miền Bắc nước Lào, đang chờ đợi khoảng 20.000 công nhân Trung Quốc đầu tiên sẽ đến đây sớm để bắt đầu xây dựng một tuyến đường sắt mới.

Các tuyến đường sắt do Trung Quốc tài trợ cho Lào khá dài và “ngoằn ngoèo”, thông qua hàng chục đường hầm, cầu, mà mục đích cuối cùng của nó là liên kết miền nam Trung Quốc với Bangkok, Thái Lan và sau đó là Vịnh Bengal ở Myanmar, mở rộng đáng kể khu vực thương mại hiện đã rất lớn của Trung Quốc với Đông Nam Á”.

clip_image002

Bản đồ hiển thị tuyến đường sắt nối giữa Vân Nam, Trung Quốc và Viên Chăn, Lào dài 420 km, dự kiến tiêu tốn của Lào 7 tỷ USD và vô số những vấn đề phát sinh đối với đất nước và con người nước này

Nguồn: http://infonet.vn/lao-co-the-phai-tra-gia-vi-nhan-tien-dau-tu-cua-trung-quoc-post49670.info

Không chỉ nhân dân Lào lo lắng cho vận mệnh của đất nước mình, các nhà phân tích kinh tế quốc tế cũng quan ngại và cho rằng: “hầu hết các lợi ích sẽ “chảy” về Trung Quốc, trong khi hầu hết các chi phí sẽ do nước chủ nhà gánh chịu. Dự án đường sắt dài 420 km, trị giá 7 tỷ USD, gần bằng GDP 8 tỷ USD của Lào. Lào sẽ vay hầu hết số tiền này từ Trung Quốc”.

“Lào sẽ vấp phải “một sai lầm đắt giá” nếu các điều khoản này được ký kết. Lào sẽ phải dùng các tài nguyên thiên nhiên, các khoáng chất quý như kali và đồng để làm tài sản thế chấp cho khoản vay khổng lồ của mình”, tờ The New York Times bình luận”.

Mưu đồ của Trung Quốc đang từng bước chiếm lĩnh các địa danh quan trọng trong chiến lược di dân của họ tại Lào, thông qua bài báo ta có thể nhận thấy:

“Ở Luang Prabang, một điểm du lịch nổi tiếng, nơi tuyến đường sắt chạy qua, Trung Quốc đã xây dựng các bệnh viện, nâng cấp sân bay.

Theo tờ The New York Times, rất nhiều người dân Lào không hài lòng với sự hiện diện ngày càng nhiều của Trung Quốc, đã khiếu nại rằng đất nước của họ đang dần trở thành một tỉnh, hay nói cách khác, là một nước “chư hầu” của Trung Quốc”.

Để trả một khoản nợ khổng lồ như thế (không chỉ có đường sắt nói trên, mà nhiều dự án khác nữa, lên đến hàng chục tỷ USD), Lào chỉ có thể bán tài nguyên cho Trung Quốc, là cơ hội để Trung Quốc đưa người sang khai thác và qua đó, là cơ hội lớn để thực hiện chính sách di dân của họ.

Với một chính thể ngập ngụa về tham nhũng, rõ ràng, không phải ai khác, chính Việt Nam, nước có ảnh hưởng đặc biệt với Lào, là nước “xuất khẩu” mô hình tham nhũng sang Lào, và đến lượt nó, nay đã và đang phát huy tác dụng và đe dọa nguy cơ mất nước không chỉ của Lào mà còn cả Việt Nam.

2. Bài học Ukraine với Lào và Việt Nam

Không khó để nhận ra rằng, đến cuối thế kỷ này, dân số Lào vào khoảng 15 đến 20 triệu người. Khi đó người Hán tại Lào sẽ chiếm khoảng hơn 60% dân số lại Lào. Người Lào trở thành một dân tộc thiểu số ngay trên quê hương của họ. Một cuộc “trưng cầu dân ý” như đối với bán đảo Crimea của Ukraine như đã được Bắc Kinh lập trình từ lâu.

Mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào, với khoảng vài trăm ngàn bộ đội Việt Nam hy sinh tại Lào trong thế kỷ XX sẽ trở nên vô ích.

Một khi Lào đã là một tỉnh, hoặc trở thành một khu tự trị của Trung Quốc, thì Việt Nam, cho dù có sự đề kháng mạnh mẽ thế nào đi chăng nữa, thì cũng chỉ là “cá nằm trên thớt”. Cùng với “đường lưỡi bò”, một gọng kìm từ phía Biển Đông, kết hợp với gọng kìm từ phía Lào sẽ bóp nát ý chí của người Việt, và cái tên Việt Nam rất có thể sẽ biến mất sau hơn một trăm năm nữa.

3. Kết luận

Không còn nghi ngờ gì nữa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (thực chất là những người cộng sản Lào), thì nguy cơ Lào bị Trung Quốc thôn tính là rất rõ ràng và hiện thực. Nếu Việt Nam và Lào không kịp thời chuyển đổi thể chế hiện hành sang thể chế Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự thực sự, với cơ chế “Tam quyền phân lập”… thì nguy cơ cả Việt Nam và Lào bị Trung Quốc thôn tính xem như đã được thiết lập.

Dân số của Lào chỉ tương đương với dân số của hai tỉnh là Thanh Hóa (3,412 triệu) và Nghệ An (2,943 triệu) cộng lại. Đúng ra, Việt Nam phải là một nước tiên phong, trở thành cường quốc… để làm chỗ dựa cho Lào về mọi mặt. Phải xác định rằng, sự toàn vẹn của Lào cũng là sự toàn vẹn của Việt Nam. Tiếc thay, những người cộng sản Việt Nam không có được tư duy đó. Phải chăng, việc hàng trăm ngàn bộ đội Việt Nam hy sinh tại Lào trong thế kỷ XX, chỉ là cách nhìn ngắn hạn của những người cộng sản Việt Nam trước đây, vì chỉ muốn có con đường vào miền Nam Việt Nam trên lãnh thổ Lào?

Nghĩ lại, ta thấy tư duy của người Nhật thật sáng suốt. Việt Nam cách Nhật Bản hàng vạn dặm, nhưng với tầm nhìn về tuyến hàng hải trên Biển Đông, người Nhật đã từng muốn thuê cảng Cam Ranh để khống chế Trung Quốc, qua đó làm chủ tuyến hàng hải tối quan trọng đối với Nhật. Qua đó, người Nhật đã không tiếc tiền của để giúp Việt Nam trở nên hùng mạnh bằng việc viện trợ vốn ưu đãi cho Việt Nam trong hơn vài chục năm qua.

Ngược lại, những người cộng sản Việt Nam, với tư duy và tầm nhìn hạn hẹp, luôn xem người Tàu là bậc thầy của mình, luôn tự ti, yếu thế… trước Bắc Kinh, nên đã không nắm được những vận hội cho Dân tộc và đang sa lầy như hiện nay.

10.4.2014

H. M.

Bài tham khảo:

(1) http://www.moit.gov.vn/vn/tin-tuc/2850/27-thi-truong-xuat-khau-va-17-thi-truong-nhap-khau-cua-viet-nam-dat-kim-ngach-tren-1-ty-usd-trong-nam-2013.aspx

(2) http://infonet.vn/lao-co-the-phai-tra-gia-vi-nhan-tien-dau-tu-cua-trung-quoc-post49670.info

Tác giả gửi BVN.

 

‘Khó có chuyện ông Hà Vũ được trở về’ – BBC

11 Th4
Cập nhật: 15:13 GMT – thứ tư, 9 tháng 4, 2014

Media Player

Ông Cù Huy Hà Vũ khó có thể được xét quay trở lại Việt Nam, theo luật sư Nguyễn Văn Đài.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Luật sư Cù Huy Hà Vũ tới Mỹ

Luật sư Cù Huy Hà Vũ cùng vợ, bà Dương Hà, tới Mỹ hôm 08/4/2014.

Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ sẽ khó có thể được xét quay trở lại Việt Nam sau khi đã ra nước ngoài ‘chữa bệnh’, trong lúc các nỗ lực đòi phóng thích các tù chính trị khác đang được thu xếp với sự tác động của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Úc và cộng đồng quốc tế, theo luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài.

Bình luận với BBC về việc ông Hà Vũ vừa được nhà chức trách Việt Nam cho ra tù và sang Hoa Kỳ ‘định cư, chữa bệnh’, ông Đài cho rằng đây là một ‘nỗi buồn’ và một thiệt thòi cho cuộc đấu tranh vì dân chủ, tự do và nhân quyền ở trong nước.

Luật sư Đài cho rằng khả năng ông Hà Vũ trở lại Việt Nam trong ngắn hạn là rất khó, ông nói:

“Theo kinh nghiệm những trường hợp đã được đi theo như vậy chữa bệnh, hoặc đi định cư hẳn, khả năng quay trở lại Việt Nam rất khó, gần như là không thể, thế nhưng tình hình chính trị Việt Nam trong vòng một vài năm tới tôi cho rằng có thể thay đổi,

“Và khi đó thì tôi tin anh Cù Huy Hà Vũ sẽ có thể có cơ hội quay trở lại Việt Nam với một vị thế khác so với vị thế hiện nay.”

Ông Đài nói ông không ngạc nhiên về thông tin ông Hà Vũ được thu xếp qua Mỹ, vì ông và một số ‘bạn bè’ của ông đã được luật sư Dương Hà, vợ của Tiến sỹ Hà Vũ, cho biết “từ hơn một tháng rưỡi” về trước về khả năng này.

Theo luật sư Đài, việc ông Hà Vũ được cho ra tù đã được các bên dàn xếp trong suốt một thời gian dài, và các ông Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân và blogger Điếu Cày (tức Nguyễn Văn Hải) là ba trong số các trường hợp được Hoa Kỳ và phương Tây, cũng như cộng đồng quốc tế quan tâm và liên tục ‘hối thúc’ chính quyền Việt Nam trả tự do.

Theo luật sư Đài, nhà nước đang có thay đổi trong một số chính sách ứng phó với giới bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ và tự do ở trong nước.

‘Thay đổi chiến lược’

Theo kinh nghiệm những trường hợp đã được đi theo như vậy chữa bệnh, hoặc đi định cư hẳn, thì khả năng quay trở lại Việt Nam rất khó, gần như là không thể, thế nhưng tình hình chính trị Việt Nam trong vòng một vài năm tới tôi cho rằng có thể thay đổi

Luật sư bất đồng cho hay hiện chính quyền đã giảm sử dụng các điều 79, 88 của Bộ luật Hình sự để đối phó, nhưng đang chuyển sang ngày một nhiều hơn việc sử dụng điều 258, điều luật cùng Bộ luật, liên quan tới cái gọi là “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” để hoạt động chống chính quyền.

Ông Đài nói mới đây, ông được biết chính quyền đang đặt vấn đề để ông “Hải Điếu Cày” đồng ý ra nước ngoài, cũng như đã đang làm điều tương tự với nhiều nhân vật khác trong đó có luật sư Lê Quốc Quân, bà Bùi Thị Minh Hằng và chính bản thân ông Đài.

Luật sư Đài thuật lại cho hay theo gia đình luật sư Quân, ông Quân đã thẳng thắn từ chối lời đề nghị của chính quyền và khăng khăng khẳng định ông vô tội và yêu cầu chính quyền thả tự do ngay lập tức cho ông, hoặc nếu không, ông Quân sẽ ở tù hết thời gian bản án.

Về phần của bà Bùi Hằng, luật sư Đài phỏng đoán ‘với bản lĩnh và phong cách’ như đã thể hiện, rất khó có chuyện nhà hoạt động này chịu nghe lời chính quyền và ra nước ngoài.

Luật sư Đài cũng cho rằng hiện còn khoảng 120 tù chính trị và lương tâm, ngoài ra có từ 40-50 người H’mong ngồi tù, 100 tù nhân khác nữa cũng những người “dân tộc thiểu số” bị cầm tù.

Phạm Chí Dũng : Hãy để yên cho ông Cù Huy Hà Vũ sống như một người bình thường – RFI

11 Th4

 

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tại phiên xử ở Hà Nội, ngày 04/04/2011

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tại phiên xử ở Hà Nội, ngày 04/04/2011

(DR)
Thụy My

Nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng của Việt Nam, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã được bất ngờ trả tự do hôm 06/04/2014, đưa thẳng từ nhà tù ra sân bay và đến Hoa Kỳ hôm 7/4. Nếu báo chí nhà nước không hề loan một dòng tin nào về sự kiện này, thì trên các mạng xã hội việc ông Cù Huy Hà Vũ được phóng thích và đi Mỹ ngay sau đó đã làm dấy lên nhiều bình luận sôi nổi. RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà báo tự do Phạm Chí Dũng ở TP Hồ Chí Minh về vấn đề này.

 

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Thưa anh, việc thả tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tất nhiên là một tin vui nhưng nhiều người cho là các nhà bất đồng chính kiến một khi đã ra hải ngoại sẽ khó thể tiếp tục tranh đấu cho dân chủ được nữa ? 

 
Nhà bình luận Phạm Chí Dũng – TP Hồ Chí Minh

 
10/04/2014
by Thụy My
 
 

 

 

 
Nhà báo Phạm Chí Dũng

DR

Nhà báo Phạm Chí Dũng : Tôi thấy tình hình dư luận càng ngày càng phức tạp và đa chiều, thậm chí là hỗn mang, và có nét dị biệt không thể tránh khỏi trong quan điểm của cộng đồng. Gọi là cộng đồng, nhưng thực ra có rất nhiều nhóm, phái. Và điều này đã xảy ra không phải chỉ với ông Cù Huy Hà Vũ – đối với ông thì đây không phải là lần đầu tiên, mà cả với những người khác nữa. Thí dụ như ông Đoàn Viết Hoạt, bà Trần Khải Thanh Thủy – cũng từ trong nước mà đi ra, cũng từ nhà tù mà đi ra – nhưng cũng đã phải chịu những lời dị nghị khá nhiều. Ông Cù Huy Hà Vũ cũng vậy. 

Và tôi xin nhắc lại, cho tới giờ vẫn có dư luận đánh giá ông Đoàn Viết Hoạt là một loại « » của chính quyền cộng sản đưa ra hải ngoại để hoạt động, quấy phá « phong trào dân chủ ». Tôi cho đó là quan điểm khá cực đoan. Bà Trần Khải Thanh Thủy cũng thế, một số người cho rằng bà là tay sai của Nhà nước, và cũng được gài vào trong các nhóm, các phong trào dân chủ để hoạt động. 

Thì ngay lập tức khi ông Cù Huy Hà Vũ mới đáp xuống phi trường Washington DC có một ngày thôi, lại đã xuất hiện dư luận tương tự như đối với bà Trần Khải Thanh Thủy và ông Đoàn Viết Hoạt. Điều đó làm cho tôi cảm thấy ngạc nhiên vì tại sao mới chỉ có một ngày, trên người đang mang một số thứ bệnh – và đúng là có lý do để đi chữa bệnh thật sự – ông Cù Huy Hà Vũ lại bị lôi ra trước công luận để mổ xẻ, với một thái độ không mấy thiện cảm như thế. 

Còn có luồng dư luận đánh giá là ông sẽ phải chịu những điều tiếng khá nặng nề nếu ông không hòa nhập được với cộng đồng. Và có thể bản thân ông Cù Huy Hà Vũ, vốn là một người xuất thân từ chế độ, mang những đặc tính tâm lý truyền thống khó tránh khỏi, sẽ khó thể hòa nhập được cộng đồng người Việt hải ngoại, ở Mỹ hoặc ở một số nước khác trên thế giới. Đó là một thách thức mà ông Cù Huy Hà Vũ phải đối mặt, phải giải quyết trong thời gian tới. Và người ta cho rằng có thể ông Cù Huy Hà Vũ sẽ không vượt qua được thử thách đó. 

Mà khi không vượt qua được thì làm thế nào ? Hoặc là ông sẽ phải im lặng, hoặc là ông từ bỏ con đường tranh đấu. Vì nói gì thì nói, để tạo dựng nên một uy tín, năng lực và chân đứng ở hải ngoại, điều đó khó hơn nhiều so với ở trong nước. 

Khi ở trong nước, người ta đương nhiên là có uy tín, đặc biệt là những nhân vật mới ở tù ra, và còn có thể tập hợp được một số quần chúng nào đó. Nhưng mà ở hải ngoại, với đặc tính có quá nhiều các nhóm thậm chí là phe phái, thì việc có thể đứng vững được trên đôi chân của mình, với uy tín của mình dù là có năng lực, cũng là một điều khá khó khăn. 

Điều đó đã được chứng thực là hiện nay cho tới giờ, ở hải ngoại vẫn ít có gương mặt nào được coi là trở thành thủ lĩnh có thể thống nhất được các lực lượng tranh đấu hải ngoại. Thậm chí chỉ có một ít thủ lĩnh nhỏ thôi, và những người thủ lĩnh đó cũng đang phải đối mặt với khá nhiều khó khăn. Đó là đặc thù mà người ta gọi là tính chia rẽ, trong các phong trào đấu tranh dân chủ hải ngoại nói riêng, và trong đặc tính tâm lý của người Việt nói chung. 

Đây là vấn đề mà chúng ta phải bàn tới ngày hôm nay. Tôi cho đó cũng là một thử thách mà trong những ngày tới, ông Cù Huy Hà Vũ dù có muốn đấu tranh trở lại hay là không vẫn phải đối mặt với nó, vẫn phải tìm cách vượt qua nó. 

RFI : Thưa anh, như vậy khi trả tự do ông Cù Huy Hà Vũ, Việt Nam có được lợi thế nhiều hơn là bất lợi phải không ạ ? 

Tôi có cảm giác là kỳ này Nhà nước Việt Nam đã giành một lợi thế nho nhỏ trong việc thả ông Cù Huy Hà Vũ. Bởi vì trước mắt họ đáp ứng được điều kiện của phía Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ dường như cũng hài lòng về chuyện đó – lên tiếng hoan nghênh, thậm chí từ phía dân biểu Ed Royce. Đó là người đã cùng một số nghị sĩ khác vào tháng 7/2013, trước khi ông Trương Tấn Sang đến Washington DC gặp Tổng thống Barack Obama, thì ông Ed Royce và một nhóm nghị sĩ đã gửi thư riêng cho ông Trương Tấn Sang, đề nghị trả tự do cho ông Cù Huy Hà Vũ. Nhà nước Việt Nam đã đáp ứng một vấn đề, có thể nói là một điều kiện nhỏ của phía Hoa Kỳ – một điều kiện nhỏ thôi. 

Thứ hai nữa, có thể là một bước tiến nhỏ trên con đường đạt tới mục tiêu tối thượng mà tôi nghĩ Nhà nước Việt Nam đang muốn tiến tới, đó là Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Và sau đó nữa, có thể cả một lời hứa của Tổng thống Barack Obama – hoặc vào cuối năm nay, hoặc sang năm tới – nhưng gần như chắc chắn là vào một lúc nào đó, phía Hoa Kỳ sẽ xác định là Tổng thống Obama đến Việt Nam. 

Lúc đó sẽ là một hình ảnh tái lập chuyến đi của Barack Obama đến Miến Điện vào cuối năm 2012, khi tình hình dân chủ Miến Điện được cởi mở, Tổng thống Thein Sein đã thả khoảng hơn 100 nhân vật được coi là bất đồng chính kiến và tù nhân chính trị. Đó là mối lợi của Việt Nam. 

Đồng thời về mặt trong nước, nếu Nhà nước Việt Nam chịu khó tuyên truyền thì tôi nghĩ rằng họ cũng đạt thêm được một mối lợi nhỏ. Rằng họ đã bắt đầu mở cửa, bắt đầu có dân chủ hơn, và đã bắt đầu chiếm được một chút lòng tin của dân chúng. 

Nhưng khách quan mà nói, sau cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát Nhân quyền vào tháng 2/2014 tại Thụy Sĩ, Nhà nước Việt Nam đã bắt buộc phải thể hiện sự tôn trọng hơn chút đỉnh đối với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về chống tra tấn. Trong đó liên quan tới những điều kiện thả tù nhân chính trị, cải thiện chế độ lao tù một chút. 

Điều đó cho thấy, có những tín hiệu đang phát ra về một lối mở thỏa hiệp – nhẹ nhàng hơn, mềm dẻo hơn, và có triển vọng hơn một chút, giữa Nhà nước Việt Nam với Hoa Kỳ, trong mối quan hệ thương thảo giữa hai bên về chính trị, ngoại giao, quân sự và kinh tế. Đó là một tương lai mà tôi cho là cũng không đến nỗi quá tồi đối với nền dân chủ Việt Nam nói chung, và đối với ông Cù Huy Hà Vũ nói riêng. 

RFI : Nhưng tại sao lại là ông Cù Huy Hà Vũ, trong lúc nhà tù Việt Nam hãy còn nhiều tù nhân lương tâm khác.  

Còn bản thân ông Cù Huy Hà Vũ tại sao lại được chọn để thả ? Trong trường hợp này, nói « thả » vì thực chất là Nhà nước Việt Nam cho ông đi luôn, chứ không phải là sau khi chữa bệnh, ông Cù Huy Hà Vũ phải trở lại thụ án nữa. Theo đánh giá của tôi, ông Cù Huy Hà Vũ không phải là một nhân vật quá nguy hiểm đối với Nhà nước Việt Nam. 

Ông có tiếng nói, nhưng có thể về mặt tập hợp quần chúng và vị thế trong phong trào dân chủ ở Việt Nam, ông khó mà bằng được những nhân vật khác đang nằm trong chốn lao tù như ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hay ông Lê Quốc Quân, ông Trần Huỳnh Duy Thức, hoặc linh mục Nguyễn Văn Lý. 

Khi xác định chọn thả nhân vật nào đó, Nhà nước Việt Nam phải tính toán rất kỹ về ảnh hưởng của nhân vật đó sau khi được thả, tác động của của người đó trên trường quốc tế và cả với chính trị đối nội trong nước như thế nào. 

Chúng ta nhớ rằng vào tháng 8/2013, sau chuyến đi của ông Trương Tấn Sang đến Washington DC gặp Barack Obama, thì nghe nói phía Hoa Kỳ đã đưa ra một danh sách có năm người, đề nghị phía Việt Nam trả tự do. Đứng cuối danh sách đó là cô Phương Uyên – bị bắt năm 2012 trong một vụ rải truyền đơn. Và phía Việt Nam đã chọn nhân vật nhẹ nhàng nhất, trẻ tuổi nhất, ít ảnh hưởng nhất, chỉ mang tính biểu tượng nho nhỏ mà thôi. Đó chính là cô Phương Uyên, và họ đã trả tự do cho cô. Sau đó vào tháng 11/2013, họ tiếp tục trả tự do tại tòa cho một blogger là Đinh Nhật Uy. 

Đối với những trường hợp như thầy giáo Đinh Đăng Định, hay cựu đại úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Hữu Cầu, mà Nhà nước Việt Nam đưa ra lệnh đặc xá cho họ vào đầu năm 2014, cũng là những bước đi có tính toán. Vì đó là những người có thể nói là không còn sức khỏe để hoạt động nữa, hay nói cách khác đó là những người « sắp chết ».

Đó là cách tính toán của Nhà nước Việt Nam, làm sao vừa tạo ra một điều gọi là « nhân hòa » đối với tình hình chung, mà vẫn không làm cho các tù nhân chính trị được thả có điều kiện để hoạt động mạnh. 

Riêng với ông Cù Huy Hà Vũ, vấn đề sức khỏe của ông có thể khả quan hơn nhiều so với thầy giáo Đinh Đăng Định (đã mất) và ông Nguyễn Hữu Cầu. Nhưng việc quyết định đưa ông đi nước ngoài, tôi cho đó là một tính toán khôn ngoan, vì đó là một cách – theo Nhà nước Việt Nam – là « tống khứ » được nhân vật bất đồng chính kiến nào ra hải ngoại thì càng tốt chừng đó. 

Ở hải ngoại, họ sẽ khó có điều kiện như ở trong nước để tập hợp quần chúng, để nói lên tiếng nói và tạo được phản ứng của dư luận. Đặc biệt là ở nước ngoài, họ khó có độ cảm nhận, độ rủi ro thường trực len lỏi, theo đuổi như là người ở trong nước. Vì vậy họ sẽ khó thể phân tích, đánh giá tình hình một cách thuyết phục như là những người trong nước. 

Đó là lý do mà tôi nghĩ Việt Nam đã chọn lựa khi thả ông Cù Huy Hà Vũ, phù hợp tương đối theo cách nhìn của Nhà nước. 

RFI : Dư luận cũng đang cho là việc thả những tù nhân lương tâm nổi tiếng là một cách vô hiệu hóa họ. Người ta mong muốn họ được trả tự do nhưng vẫn ở lại trong nước. 

Tình trạng chung hiện nay là nhiều tù nhân lương tâm còn trong tù chỉ muốn ở Việt Nam khi được tự do, không muốn đi nước ngoài. Những người thể hiện quan điểm kiên định nhất theo tôi biết là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, linh mục Nguyễn Văn Lý, kể cả một số người khác. Nghe nói họ đã được gợi ý đi định cư ở nước ngoài, nhưng họ kiên quyết không chịu, và cũng kiên quyết không ký kết bất kỳ một cam kết nào đối với giám thị hay cơ quan công an, an ninh điều tra về việc đi nước ngoài và phải chấp nhận im lặng. 

Thế thì vấn đề đối với ông Cù Huy Hà Vũ là như thế nào ? Ngay lập tức đã xuất hiện những dư luận có vẻ bất lợi cho ông. Dường như là những người nóng ruột đang muốn ông ngay sau khi đến Hoa Kỳ phải lập tức lao vào dòng thác đấu tranh, và làm tất cả những gì theo họ là có lợi cho phong trào dân chủ. Họ không hài lòng về việc tại sao ông Cù Huy Hà Vũ đến Washington DC một cách lặng lẽ như thế. Không có bạn bè tiếp đón ở phi trường, thậm chí đài VOA muốn phỏng vấn cũng không nhận được hồi âm ngay của ông. 

Theo một số dư luận, điều đó cho thấy dường như đã có một sự thỏa hiệp nào đó giữa cá nhân ông Cù Huy Hà Vũ, giữa gia đình của ông với ngành công an, với Nhà nước Việt Nam. Thậm chí có sự thỏa hiệp giữa Việt Nam với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong việc đưa đón ông Cù Huy Hà Vũ – từ nhà tù không phải ghé qua nhà ông ở đường Điện Biên Phủ ở Hà Nội mà ra thẳng sân bay để đi Mỹ. 

Vấn đề đặt ra là ông Cù Huy Hà Vũ sẽ suy nghĩ như thế nào, và sẽ phải đối mặt ra sao trước vấn đề này. Nhưng theo quan điểm của tôi, thì tôi xin nói luôn là những người ở ngoài, chưa từng bao giờ chịu cảnh tù đày, nên có một chút chia sẻ và thông cảm đối với những người đã từng trải qua tình trạng mà người ta gọi là một ngày tù bằng ngàn thu ở ngoài. 

Nhà tù không phải là môi trường lãng mạn một chút nào hết. Đó là một môi trường mà người ta đói ăn, nóng bức, chịu những áp lực về tâm lý, kể cả sự xúc phạm về thân thể thường xuyên, thậm chí là có thể dẫn tới những căn bệnh nan y như đối với thầy giáo Đinh Đăng Định mà chúng ta vừa chứng kiến. 

Vì vậy cần có một sự cảm thông nhất định đối với những người mới ở tù ra. Đừng quá đặt nặng việc họ phải là một nhân vật này, nhân vật kia ; đừng quá coi trọng sự nổi tiếng của họ, để rồi tạo ra áp lực là họ cần phải đấu tranh ngay lập tức. Hãy xem họ là một người bình thường thôi, và một người bình thường thì cũng có tâm sinh lý hết sức bình thường. 

Đối với ông Cù Huy Hà Vũ, trước mắt ông cần đi chữa bệnh, thì hãy để cho ông đi chữa bệnh. Còn những điều ông làm trong quá khứ – ông là một trong những người đầu tiên trong phong trào phản biện đối với dự án bauxite ở Việt Nam, thì chúng ta hãy ghi công ông. Còn đối với hiện tại và tương lai thì hãy để cho ông bình yên chữa bệnh. 

Đừng tạo áp lực quá lớn đối với ông rằng trong tương lai gần ông phải làm một điều gì đó, còn nếu ông không làm sẽ trở thành một nhân vật thừa thãi, ở trong cái xã hội hết sức công nghiệp. Một xã hội mà nếu người ta không làm việc thì sẽ phải nhận trợ cấp, sẽ phải nhờ vả tới mọi người, và có thể sẽ trở thành một ngoại lệ không đáng có. 

RFI : Về phía người được thả là ông Cù Huy Hà Vũ đã tỏ ra hết sức lặng lẽ. Nhưng về phía chính quyền – như lúc nãy anh có nói, nếu chịu khó tuyên truyền thì sẽ có được uy tín. Nhưng Việt Nam cũng không thông tin gì về việc trả tự do cho tù nhân lương tâm nổi tiếng này? 

Tôi hơi ngạc nhiên về điều đó. Và chẳng lẽ điều mà tôi muốn nói lại là mách nước cho Nhà nước Việt Nam rằng, nếu đúng họ đang có những lợi thế nho nhỏ về chuyện thả Cù Huy Hà Vũ, thì tại sao họ không tuyên truyền về chuyện đó ? Đúng ra bộ máy Nhà nước Việt Nam có thể làm điều này, trong khi nhiều trường hợp khác không đáng có mà họ vẫn tuyên truyền. 

Nhưng lần này tôi cho rằng họ rơi vào thế bị động. Và đó là thế bị động truyền thống vốn có, tức là không ai dám quyết định về một vấn đề, một trường hợp quan trọng. Họ luôn e ngại rằng tuyên truyền vấn đề này ra thì dân biết, và có thể « lợi bất cập hại ». Có thể sẽ phản tác dụng cho chế độ – rằng Nhà nước Việt Nam đã phải yếu thế trước đòi hỏi của Hoa Kỳ và phương Tây, phải nhượng bộ trước các vấn đề nhân quyền, và phải thả tù chính trị. 

Thực ra đối với vấn đề Cù Huy Hà Vũ thì tôi cho rằng Việt Nam nên làm điều đó. Và một khi đã tuyên truyền, thì tính minh bạch chỉ gây hiệu quả tốt đối với họ thôi. Không chỉ minh bạch đối với trường hợp này, cứ nói thẳng ra tất cả những trường hợp khác. Kể cả về thầy giáo Đinh Đăng Định, về ông Nguyễn Hữu Cầu, về tất cả những trường hợp họ thả người, và viết một cách khách quan, tôi cho đó không chỉ là tính minh bạch mà còn là tính chính danh của chế độ nữa. 

Họ cứ nói thẳng ra điều đó đi, đừng có ngại ngần gì cả. Càng nói ra thì tôi nghĩ phương Tây và người Mỹ sẽ yêu mến họ hơn, và càng dễ vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương hơn. 

RFI : Thưa anh, có ý kiến cho là đối với phong trào dân chủ bây giờ, không chỉ cần đấu tranh đòi thả các tù nhân lương tâm, nhưng còn phải đòi hỏi chính quyền không buộc họ phải ra nước ngoài sau khi được trả tự do. 

À, tất nhiên ! Đó là một vấn đề mà tôi nghĩ phong trào dân chủ và những người bất đồng chính kiến Việt Nam sẽ phải làm trong thời gian tới. Và không chỉ làm đơn độc trong tập thể, cá nhân, mà sẽ vận động quốc tế – đặc biệt là áp lực của quốc tế. 

Các báo cáo viên, thanh sát viên quốc tế của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc can thiệp vào vấn đề Việt Nam để làm sao trong xu hướng mở dần sắp tới, thì những tù nhân chính trị được thả – và tôi cho là trong năm 2014 này sẽ còn thả thêm một số nhân vật nữa – sẽ được ở lại Việt Nam, không bị áp lực đi định cư ở nước ngoài. 

Và một trong những lý do mà tôi cho rằng nên nêu ra là gia đình họ ở đây, khi họ ra tù và ở Việt Nam sẽ có điều kiện để đóng góp hơn nhiều hơn là ở nước ngoài. Vì Nhà nước Việt Nam đã kêu gọi sự phản biện mà, và những người tù bất đồng chính kiến thực ra trước đó họ cũng chỉ thể hiện sự phản biện, tự do biểu đạt mà thôi. 

Nếu sắp tới họ ra tù thì họ cũng sẽ thể hiện tự do quan điểm, tự do chính kiến, đóng góp phản biện với Nhà nước Việt Nam, thì tại sao phải đưa họ ra nước ngoài ? Ở đây họ sẽ đóng góp tốt hơn, nhiều hơn, hiệu quả hơn ; và nếu Nhà nước chịu thỏa hiệp với họ, thì tôi cho đó là một điều kiện tốt để cùng phát triển. 

RFI : Xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ.

 
tags: Châu ÁCù Huy Hà VũNhân quyềnPhạm Chí DũngPhỏng vấnViệt NamXã hội

Thế giới 24h: Hàn Quốc bị lộ bí mật quân sự – Vnn

11 Th4

Hàn Quốc lộ bí mật quân sự, bầu cử tại Ấn Độ, khủng hoảng Ukraina tiếp diễn, thêm hy vọng tìm thấy MH370…đó là tin nóng 24h qua.

Tin nổi bật

Ukraine, khủng hoảng, bạo lực, xung đột, chính trị, Thái Lan, Hàn Quốc

Các nhân viên ADD mô phỏng một cuộc thử nghiệm máy bay trong thời tiết lạnh giá. (Ảnh: Korea Times)

Một lượng lớn các bí mật quân sự quốc gia đã bị rò rỉ từ Cơ quan Phát triển Quốc phòng (ADD) trực thuộc Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, hãng thông tấn Yonhap trích lời Hạ nghị sỹ Kim Young-joo thuộc Liên minh chính trị mới vì dân chủ cho biết.

Các tin tặc bị nghi là tới từ Trung Quốc và Triều Tiên đã lấy cắp các thông tin mật bằng cách cài các mã độc và chương trình có hại vào các máy chủ trung tâm của ADD.

Theo bà Kim, các bí mật bị rò rỉ bao gồm thông tin về máy bay không người lái (MUAV) tầm trung mà quân đội Hàn Quốc đã phát triển nhằm nâng cao khả năng do thám chống lại Triều Tiên.

“Tổng cộng 3.000 máy tính tại ADD đã bị tấn công song cơ quan này và quân đội đã không biết vụ việc xảy ra khi nào cũng tổn thất ra sao,” bà Kim nói.

Những tiết lộ đã kêu gọi một cuộc điều tra kỹ lưỡng và các biện pháp đối phó khi ADD là một cánh tay quan trọng của bộ quốc phòng, có nhiệm vụ phân tích những máy bay không người lái nghi là của Triều Tiên được tìm thấy ở gần biên giới trong thời gian gần đây, nữ nghị sĩ cho biết thêm.

ADD chỉ trình báo với cảnh sát sau khi bà Kim yêu cầu xác nhận về vụ rò rỉ thông tin.

Tuy nhiên, cơ quan này từ chối hầu hết các tuyên bố của bà, đồng thời nói rằng các tài liệu bị rò rỉ không bao gồm những thông tin tuyệt mật.

ADD cũng khẳng định rằng tất cả các nghiên cứu của họ được thực hiện trong mạng nội bộ, vốn ngăn chặn hoàn toàn sự truy cập từ bên ngoài.

“Không tìm thấy dấu vết của cuộc tấn công bên ngoài sau khi kiểm tra chặt chẽ hệ thống máy tính của ADD ba lần,” cơ quan này tuyên bố.

ADD cũng nói thêm rằng quân đội đang tiến hành điều tra để xác định xem các tài khoản hòm thư điện tử và các chương trình được kết nối với Internet có bị tấn công hay không.

Tin vắn:

Ngày 10/4, hàng triệu người dân Ấn Độ bắt đầu ngày bỏ phiếu quy mô lớn đầu tiên của cuộc tổng tuyển cử, trong đó Đảng Quốc đại cầm quyền đương đầu với đối thủ chính là đảng BJP.

Ngoại trưởng Hàn Quốc Yun Byung-se cảnh báo nếu Triều Tiên tiến hành thêm một vụ thử hạt nhân nữa, nước này sẽ phải trả một “cái giá không thể tưởng tượng được”.

Bộ ngoại giao Nga hôm 10/4 đã cáo buộc NATO đã lợi dụng cuộc khủng hoảng ở Ukraina để lôi kéo thêm các thành viên mới.

Hãng thông tấn AP đưa tin 18 nghị sỹ Nga, những người là thành viên của Hội đồng nghị viện châu Âu (PACE), đã tẩy chay một phiên tranh luận của hội đồng này về việc có nên trừng phạt Nga vì sáp nhập Crưm hay không.

Giới chức phụ trách công tác tìm máy bay MH370 mất tích của hãng hàng không Malaysia ngày 10/4 xác nhận, một máy bay của Lực lượng Không quân Hoàng gia Australia (RAAF) đã bắt được một tín hiệu tương thích với hộp đen, gần khu vực tàu Ocean Shield thu được những tín hiệu trước đó.

Ứng cử viên thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi lần đầu tiên công bố ông đã có vợ, sau một thời gian ông lảng tránh các câu hỏi về người vợ bị ông bỏ mặc không đoái hoài.

Theo tin tức ngày 10/4 trên đài phát thanh từ Bình Nhưỡng, Bí thư Thành ủy Bình Nhưỡng, ông Mun Kyong Dok – người được biết là có quan hệ gần gũi với chú rể của nhà lãnh đạo Kim Jong-un, đã bị cách chức.

25 người, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em, đã thiệt mạng, và hơn 107 người khác đã bị thương sau hai hai chiếc xe chứa bom phát nổ cách nhau khoảng nửa giờ tại một khu dân cư do quân đội chính phủ kiểm soát ở thành phố Homs, Syria.

Ngày 10/4, các cuộc đàm phán chuyên sâu giữa quan chức Nhật Bản và Mỹ nhằm phá vỡ bế tắc về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã kết thúc tại Tokyo mà không đạt được kết quả đột phá nào.

Những kẻ bắt cóc một nữ du khách Trung Quốc từ khu resort Singamata Reef ở đảo Sabah của Malaysia đã lên tiếng đòi số tiền chuộc lên đến 11,25 triệu USD.

Phát ngôn:

“Trong trường hợp mọi người [những người biểu tình] hạ vũ khí và trả lại các tòa nhà, chúng tôi sẽ xem xét ân xá. Chúng tôi đảm bảo rằng những người hạ vũ khí sẽ không bị truy tố”, quyền Tổng thống Ukraina Oleksandr Turchinov hôm 10/4 cam kết.

Tin ảnh:

Ukraine, khủng hoảng, bạo lực, xung đột, chính trị, Thái Lan, Hàn Quốc

Các chuyên gia đang tìm kiếm bằng chứng sau khi một chiếc xe bom phát nổ ngay trước Ngân hàng Nhà nước Hy Lạp ở thủ đô Athens rạng sáng 10/4, đúng ngày chính phủ nước này phát hành đợt trái phiếu mới trị giá 3 tỷ euro. (Ảnh: Reuters)

Kỷ niệm:

Ngày 11/4/1898: Hiệp định Paris giữa Tây Ban Nha và Mỹ có hiệu lực, theo đó, Mỹ giành lấy quyền kiểm soát Cuba, Puerto Rico, một phần Tây Ấn, Guam, Philippines. 

Sầm Hoa

%d bloggers like this: