Lưu trữ | 8:33 Sáng

Ô HÔ! GIÁO SƯ AHLĐ VŨ KHIÊU TỪ CÕI TIÊN VỀ GIÁNG BÚT Ở BÌNH ĐÀ

16 Th4

 

 

 

 

 
 
Hình ảnh tấm bia đá ở Đình Bình Đà. chụp sáng 5.4.2014 (tức 6.3 âm lịch năm Giáp Ngọ). Trên bia khắc bài văn “Giáng Bút” của Giáo sư – Anh hùng Lao động VŨ KHIÊU:
 
“Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu đã giáng bút áng văn tuyệt tác 
ca ngợi công đức của Quốc tổ Lạc Long Quân
.
Vinh quang thay!
Trên đất Bình Đà
Dưới trời Hà Nội.
Lục long triều hội.
Lưỡng phượng giao phi.
Mảnh đất thần kỳ.
Mạch nguồn thiên phú.
“Vi Bách Việt Tổ” – trước cửa đền bức đại tự còn lưu
Một tấm phù điêu – Hình Long Quân ngàn năm vẫn tỏ.
Cho hay quốc tổ: tự buổi xưa lập ấp dựng làng
Đại Việt khởi nguyên: tại Bình Đà địa linh nhân kiệt

Vĩ đại thay! 
Đất thiêng Hồng lạc, một đấng anh hùng.
Trời biển vẫy vùng kinh bang tế thế
Sớm khuya sá kể trợ giúp nhân dân.
Diệt quái trừ tinh, xứng danh hào kiệt.
Ngàn năm đại việt, vang vọng thâm ân.
Đức Lạc Long Quân phương danh bất diệt! 

Còn nhớ thủa: (thưở)
Tiên rồng kỳ ngộ tài sắc tương phùng.
Đôi lứa anh hùng nên duyên chồng vợ.
Đất rồng chầu phượng múa – Phật chở che: Trăm trứng – Trăm con
Nơi hổ phục long bàn – Trời phù trợ Trăm miền – Trăm họ
Đây núi cao vượt mọi nguy nan
Kia biển rộng trải muôn gian khó
Hai miền xuôi ngược kết đoàn.
Bốn mặt giang san rộng mở
Gò Tam Thai mộ thiêng Quốc Tổ
Đất Hiền Lương quốc mẫu về trời

Chúng con nay: 
Chút hương hoa: tấc dạ chân thành
Tưởng công đức: kính dâng một lễ.
Hơn bốn ngàn năm, con Lạc, cháu Hồng.
Nguyện nối tổ tông nêu cao đạo lý.
Sơn hà thịnh trị, nhân nghĩa sáng ngời đã trải bao đời, anh tài dũng kiệt.
Toàn dân đoàn kết, mở rộng yêu thương.
Bè bạn muôn phương, giao lưu thi thố.
Tương lai rực rỡ, truyền thống vẻ vang
Lớp lớp cháu con, tu nhân dưỡng trí.
Đất Bình Đà ngút ngàn linh khí
Đền Nội thiêng bát ngát hoa hương
Đồng bào khắp chốn mười phương.
Cùng cúi lậy dâng hương Quốc tổ” 
____________________
 
TS. Sử học Nguyễn Hồng Kiên bình:
 
 
Mớ lạy ông Khiêu họ vũ !   
Giờ nhà cháu mới biết xứ Đoài là VÙNG BIỂN. 
Lại được MỞ MẮT rằng: Hùng Hiền vương ẻ ra Hùng Quốc vương…Mà NHÀ NƯỚC VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI đã xếp hạng bức phù điêu “(đã nghìn năm tuổi)tạc hình Quốc tổ mặc áo hoàng bào cùng các Quan Lạc hầu, Lạc tướng dự hội dua thuyền…” LÀ BẢO VẬT QUỐC GIA CHƯA NHẺ ?
 
Nhà sử học Đặng Hùng (Thái Bình): Không còn gì để nói:bởi lời giới thiệu đã quá bịa đặt thêm thắt quá nhiều ….đúng là người ngày nay đang viết hộ sử cho người ngày xưa…
 
TS. Nguyễn Xuân Diện: 
Cụ PR cho Bình Đà kinh quá: “Đại Việt khởi nguyên: tại Bình Đà địa linh nhân kiệt“. Hóa ra bây giờ cả nước mới ngã ngửa ra vì nơi khởi nguyên của Đại Việt ta là Bình Đà.
 
Gò Tam Thai mộ thiêng Quốc Tổ” – Thưa cụ, chiều hôm mùng 3.4 mới rồi, các cơ quan chức năng đã đình chỉ, yêu cầu phá bỏ phần đang xây dở đã vài vạn gạch, không cho phép xây mả Quốc tổ nữa ạ. Vì chưa có khai quật Khảo cổ học, thưa cụ!

Về MỘ LẠC LONG QUÂN, xin xem bài viết này của nhà biên khảo Phan Duy Kha: Phát hiện mộ Lạc Long Quân: Lại một thông tin giật gân

 
Đền Nội thiêng bát ngát hoa hương” – Cụ đã gần 100 tuổi, cụ đừng nhao theo đám quan chức thời nay biến Đình thành Đền, thế có khác gì cướp đình của dân làng Bình Đà. 

Tại sao lại đổi từ Đình thành Đền: Ấy là vì nếu để là Đình thì không “thổi” được di tích (cùng lắm chỉ có dự án trùng tu khoảng 10-20 tỷ), phải là Đền mới xin được dự án mở rộng quy mô đền với kinh phí vài trăm tỷ đồng, mới móc tiền ngân sách để nâng cấp lễ hội (nghe nói cái lễ hội dọn đường lần này của ông Bùi Quang Thắng được chi 10 tỷ đồng). Đình thì chỉ là hội làng, mà hội làng thì chỉ là hội làng. Phải Đền thì mới hội vùng, hội quốc gia được!  

Làng bị cướp đình, Dân bị cướp hội. Mà cướp rất tinh vi. Làng Bình Đà bên trong thì có ĐÌNH, bên ngoài thì có ĐỀN, tạo thành kết cấu quy hoạch ĐÌNH NỘI, ĐỀN NGOẠI (Đình Trong – Đền Ngoài). Đình làng Bình  Đà thờ Quốc tổ Lạc Long Quân. Bên cạnh đó, làng có ngôi ĐỀN thờ Hoàng tử Linh Lang nhà Lý. Đền này gọi là ĐỀN NGOẠI, để phân biệt với ĐÌNH TRONG (ĐÌNH NỘI) tức là Đình làng Bình Đà. Lợi dụng sự khúc khuỷu đó, ĐÌNH LÀNG Bình Đà được biến thành ĐỀN NỘI, rồi ĐỀN ĐỨC QUỐC TỔ LẠC LONG QUÂN. 

Mới nhất, hôm mùng 3.4, trên cũng yêu cầu gỡ hết băng rôn về “Đền thờ Quốc tổ ” treo la liệt hai bên đường 21 B rồi cụ ạ! 
 
Mời cụ xem 2 tấm ảnh để biết họ đã xóa đình như thế nào?
 
 Biển ghi ĐÌNH NỘI
 
 Họp báo biến thành ĐỀN THỜ
Có thật “Bức phù điêu tạc hình Lạc Long Quân từ 1000 năm trước”?. Thưa cụ, đây đúng là một bức phù điêu rất đẹp, rất quý, nhưng bức phù điêu sơn đắp này chỉ có niên đại thế kỷ 17- 18.  Cụ ủn niên đại lên kinh quá!

Còn chuyện Giáng bút, thì là:

Đọc lời giới thiệu rằng: Giáo sư, anh hùng lao động Vũ Khiêu đã giáng bút áng văn tuyệt tác ca ngợi công đức Quốc tổ Lạc Long Quân” thì cháu suýt nữa thì lăn đùng ra đấy ạ. Vì chỉ có các bậc Tiên – Phật – Thánh – Thần hoặc các bậc tiên tổ (đã quy tiên) thì mới có “giáng bút”. Viết thế khác nào nó rủa cụ đã quy tiên?!! Trời ơi! Cay nghiệt làm sao!

Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một  hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút – một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh – Thần – Tiên – Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt.

Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn. 

Mời chư vị đọc bài này: “100 năm trước: Thương nòi giống, Thần tiên giáng bút“.  

Nghiên cứu về Giáng bút từ năm 1999 đến nay, cháu chỉ mới thấy có một người còn đang sống mà đã Giáng bút là Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận, và hôm nay, được mở mắt ra lần nữa, được biết Cụ cũng “giáng bút”.

Ô hô! Ai tai!

 

 
 

28 nhận xét:

  1. Thưa cụ Đặng Vũ Khiêu
    Cụ đã gần trăm tuổi, vậy mà cụ còn để ý Bình Đà quê tôi. Thật phục cụ. Cụ viết: “Đại Việt khởi nguyên: tại Bình Đà địa linh nhân kiệt”.
    Nhưng thú thật, chúng tôi không dám nhận vơ Bình Đà là khởi nguyên của Đại Việt.
    Cụ có nhắc đến “trăm trứng trăm con”, lại đồ thêm “Nơi hổ phục long bàn – Trời phù trợ Trăm miền – Trăm họ/ Đây núi cao vượt mọi nguy nan/ Kia biển rộng trải muôn gian khó”.
    Xin thưa, Bình Đà là đồng bằng, không có một cục núi nào, rừng không có thì làm sao có hổ. Nếu có thì chỉ có …rắn hổ đất thôi cụ ạ. Con cháu phần nào cũng thông cảm cho cụ, vì cụ đâu có là sử gia. Cụ được cử đi học ở Trung Quốc và 1 nước đồng âu theo đúng bài bản đào tạo một các bộ tuyên giao.
    Thê mới hay là một ông quê tận Nghệ An lại khởi sướng ra cái lễ hội Quốc tổ Lạc Long Quân ở Bình Đà thuộc xứ Hà Đông, đổi đình thành đền; một ông quê Nam Định lại làm đối, làn thơ ngợi ca Bình Đà là khởi nguyên Đại Việt.
    Ôi, sử gia Dương Trung Quốc ôi, ông có ý kiến gì về việc này không?

    Trả lời

  2. Loạn hết rồi ! Văn hóa tâm linh bị tẩu hỏa nhập ma hết rồi ! Đình là đình , đền là đền trong văn minh của người Việt , sao đình có thể biến thành đền ? Đền thuộc về tâm linh quốc gia , đình thuộc về văn minh làng xóm , thôn xã v.v…Gộp lại đình là nền văn minh chính của Việt Nam !

  3. Ô hô ! Không hiểu ! Hiểu chết liền !

    Trả lời

  4. Đọc tiêu đề “Ô HÔ! GIÁO SƯ ANH HÙNG LAO ĐỘNG VŨ KHIÊU TỪ CÕI TIÊN VỀ GIÁNG BÚT Ở BÌNH ĐÀ” giật mình cụ Vũ Khiêu đi bao giờ nhỉ ? Mở http://vi.wikipedia.org mới vỡ lẽ: VẪN SỐNG. Té ra tấm bia có chữ GIÁNG BÚT.
    Ô HÔ. com!

    Trả lời

  5. MỘT LŨ NHỐ NHĂNG VÔ HỌC MÀ DỰNG BIA VẼ CHỮ! THAN ÔI! CỦI ÔI! XÔI OẢN ÔI! BÁT NHÁO ÔI!…

    KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ BÀN.

  6. Đọc tựa bài , cứ tưởng cụ Vũ Khiêu đã qui tiên lâu rồi nay giáng bút ! Thì ra cụ sống mà thực ra đã chết . Bởi vì cụ không còn minh mẫn nữa nên nói năng lung tung lộn cả sử sách ! Hay là cụ không có chút kiến thức sử Việt nào thua cả con cháu mới học cấp 1. Một lạy cụ , trăm lạy cụ , nghìn lạy cụ ! Cụ hãy yên nghỉ !

    Trả lời

  7. Loạn chữ rồi . Các ông nghĩ ra nhiều chiêu trò quá . Thôi thì các ông nói qua cửa miệng cho vui thì các ông cứ nòi , đằng này các ông đem chuyện tạc lên bia đá, như vậy thật là kỳ cục . Các công trình nghiên cứu khoa học , khảo cổ học ( thế kỷ ) cũng chịu thua các ông rồi .

    Trả lời

  8. Nhìn bức ảnh trong bài viết tui cứ tưởng đấy là cái tấm composite bài viết của ông Vũ Khiêu trong vụ đục bia đền thờ Quang Trung tại núi Dũng Quyết thành phố Vinh năm nào.Tấm composiste có ghi tên ông cùng cái mác anh hùng LĐ ấy bây giờ đã bị vứt long lóc trong xó rồi ông Khiêu ơi

    Trả lời

  9. Mình có nghe,có nghe.

  10. Thưa cụ Khiêu, bức phù điêu được làm đầu thế kỷ 20 thôi cụ ạ, cụ đẩy lên cao quá con ngất mất (à mà hình như các cụ ở Bình Đà vẫn nói thế, chắc cụ Khiêu nói theo).

    Trả lời

  11. Theo em từ “giáng bút” này không phải của ông cụ Khiêu mà là do cánh “sử gia” viết để lăng xê
    Có thể ông Khiêu chỉ bắt đầu từ chữ: Vinh quang thay!

    Trả lời

  12. Bạn Ngọc Đông viết chính xác. Chỉ tội lăng-xê không đúng cách đã làm hại cụ Vũ Khiêu.
    Còn bài của cụ thì xin miễn bàn.
    Câu hỏi đơn giản : Lạc Long Quân, bà Âu Cơ, 100 trứng… là truyền thuyết hay chuyện có thật.Với truyền thuyết, cần có cách cư xử khác.

  13. Mấy bạn la quá, cự quá thì phải bỏ tấm bia đá kia thôi . Hay hay dở chà cần, nhưng sao thấy xót tiền quá các bác ạ !

    Trả lời

  14. Một cây đại thụ về văn hóa VN mà lại như thế này ư? xã hội xuống cấp quá lắm rồi ông trưởng ban văn hóa,tư tưởng Trung Ương Đảng ơi!

    Trả lời

  15. Nếu đúng như GIÁNG BÚT của cụ VŨ KHIÊU thì đây là cái phúc của toàn đất nước .Chính quyền huyện thanh oai nên ra gặp ngay ông Dương Trung Quốc đề nghị ghi ngay vào sử sách cho con cháu học và đề nghị Bộ Văn Hóa đầu tư cho vài trăm tỷ xây ngay mộ Lạc Long Quân ở Bình Đà để ND cả nươc đến dâng hương hàng năn chứ còn do dự gì nữa

    Trả lời

  16. Phải rồi, đỡ phải đi xa cho nó vất vả ra!!!

  17. Thưa cụ Vũ Khiêu !
    Cụ đã bị bọn buôn thần bán thánh ở Thanh oai lừa rồi ! Muốn giữ được tiếng thơm cụ hãy trả lại chúng tiền và “MANG VÔI QUÉT TRẢ ĐỀN” ngay thôi! Khổ thân cụ gần trăm tuổi rồi còn mắc hợm!

    Trả lời

  18. Tại cụ ấy tham sân si quá thôi!

  19. Đó được gọi là “Sắc sắc không không” Sống trong nền văn hóa 4 ngàn năm mà không bằng sống trong nền văn hóa 200 năm của hoa kỳ! Vì đâu nên nỗi!

    Trả lời

  20. Cụ Khiêu, như tôi nghĩ Cụ hình như bắt đầu chuyển sang làm công tác tuyên huấn thì phải. Nghĩa là thích gì thì cụ nói, cứ nói cho đã vì dù sao ” nó cũng phù hợp với tuyên huấn bây giờ là tôn vinh nền văn hóa Việt” còn độ chính xác như thế nào không cần biết và có thể Cụ nghĩ là mình đã là anh hùng nói thì ai còn lăn tăn làm gì nữa. Cứ như ông anh hùng Phạm Tuân, ông ấy nói trên trời thì ai biết mà phản biện nữa. Buồn.

    Trả lời

  21. Hoi moi cu Vu Khieu ve vung que ngheo Nam Dinh viet mot ban dieu van ngan 2 trang nhan ngay thanh lap lanh Cu phang cho 3,5 trieu dong

    Trả lời

  22. Tình hình mà cứ thổi kiểu này! chắc hỏa chảy hết cả nước đên nơi roài… Người còn giáng bút – Liệu mai chú Tễu có Ngự Phê chăng…

    Trả lời

  23. Cái gì cũng : ” Vinh quang thay ” , ” Vĩ đại thay ” . Thật không đúng lúc đúng chỗ .

    rồi : ” Sơn hà thịnh trị, nhân nghĩa sáng ngời đã trải bao đời, anh tài dũng kiệt.
    Toàn dân đoàn kết, mở rộng yêu thương. ” .
    Xin thôi đi cho – Ông Khiêu . Ông suốt ngày được ve vuôt , có biết đâu nỗi khổ của người dân oan khuất nơi vườn hoa , góc phố đòi công lý bao năm nay mà chẳng thấy đâu . Thì đoàn kết ở đâu , thương yêu nỗi gì .

    Bút tích trên văn bia để lưu dấu cho hậu thế , nào phải chuyện vung bút nói xằng , đừng để lại ở đó những gì mà người dân không muốn đọc , không muốn nghe , vì nó không đúng .
    Ông quá già và lẫn rồi , nên an trí để người khác , lớp trẻ hiểu biết , thay ông làm việc này thì hơn .

    Để gió cuốn đi

    Trả lời

  24. Kiến thức lỗ mỗ được bơm thổi bởi một bọn lưu liều nên ngỡ mình siêu lắm, đi đâu cũng đề bút giáng bút ngớ nga ngớ ngẩn. Già rồi còn muốn háo danh nổi như sâu bít. Chém tiền ác ôn luôn nếu ai chưa biết mà đến đặt bài lão. Đúng là phong cách trọc phú. Ở cùng khu với nhạc sĩ Phạm Tuyên, nếu ai đã cùng đến hai nhà: Phạm Tuyên và Vũ Khiêu càng thấy rõ nhạc sĩ bình dị khiêm nhường bao nhiêu thì Vũ Khiêu nhố nhăng trọc phú bấy nhiêu.

    Trả lời

  25. Toi ko hieu cac cu dang Lang Xe hay Lang Ma dan toc VN day????

    Trả lời

  26. Dao Phat moi co cach day chua toi 3000 nam. Lac Long Quan – Au Co co truoc do, sao lai viet ” … Phat cho che – Tram trung, tram con” ?

    Trả lời

  27. Cụ Vũ khiêu là sản phẩm đặc sản văn hóa của thời Chủ nghĩa xã hội, phê Cụ cũng bằng không à.

    Trả lời

  28. 21 giờ 57 ngày 5 tháng 4 ơi hãy nhìn bức ảnh dưới chữ họp báo là ban tuyên giáo TƯ thì xẽ hiểu đây là ăn từ trên xuống dưới rồi.

 Bài do nam bộ hai <hainambo40@gmail.com>;  gởi đến Vô Ngã
 

Chúc văn Giỗ tổ Hùng Vương của Đại văn xào Vũ Khiêu – VHNA

16 Th4

Thuốc Đắng

Vu_khieuNhững ngày gần đây trên mạng “lề trái” đăng mấy bài phê ông Vũ Khiêu, người được Đoảng sáng suốt ban tặng danh hiệu Giáo sư, Anh hùng lao động. Trong khi mấy báo “lề phải” thì vưỡn đăng những tin tức đại loại như Sài Gòn khánh thành khu tưởng niệm vua Hùng, trong đó có khắc bài văn của Vũ Khiêu. Lùi lại một chút, số báo tết Giáp Ngọ của chuyên đề Văn nghệ Công an còn đăng một bài ca ngợi ông Vũ Khiêu do chính bà con dâu của ông Vũ Khiêu (GS.TS. Nguyễn Thị Quý) viết, lại còn đăng ảnh đại gia đình ông Khiêu 4 thế hệ tươi như hoa chụp cùng ông Đại tướng Bộ trưởng công an Trần Đại Quang, như một cách ngầm khoe rằng nhà ta quen nhiều cốp lắm, ai mà dây vào là dại nhé. Người xưa có câu “mẹ hát con khen hay”, qua bài viết ca tụng bố chồng hết lời của bà Quý thì thiên hạ chỉ còn biết chặc lưỡi “bố chồng… giáng bút, con dâu khen hay”.

 

Ông Khiêu giỏi giang gì thì sớt gúc-gồ thấy toàn bài ca ngợi, nhưng khổ nỗi ở Việt Nam ta khi Đoảng đã khen thì ai dám chê. Mà Đoảng phong ông là giáo sư, Anh hùng lao động rồi cơ mà. Nên nhớ như cô Nhã Thuyên, Đoảng có ý kiến thì đến cái bằng Thạc sỹ học bằng thực học cũng bị thu lại.

Mot_cau_doi_khau_hieu_cua_Vu_KhieuSẽ có bạn thắc mắc, nhỡ đâu Đoảng khen ông Khiêu là đúng thì sao? Vì dân gian có câu “người khôn nói trăm câu cũng phải câu dại, người dại nói trăm câu cũng được câu khôn”. Có lẽ ông Khiêu rơi vào cái xác xuất đúng 1% này. Do vậy, Thuốc Đắng tôi xem lại khoảng mươi tác phẩm ông Khiêu viết từ trước tới nay (khổ, nghỉ hưu rồi, rỗi rãi chả có việc gì mà), về cơ bản mà nói thì “hổng ngửi được”. Để mấy bữa rảnh tôi sẽ có bài viết phân tích sâu. Về cái phần câu đối, văn chúc nọ kia của Vũ tiên sinh thì càng nôn ruột, bài nào cũng “vinh quang thay”, “vẻ vang thay”, “tự hào thay”. Nào là nhân nghĩa sáng soi, nào là toàn dân đoàn kết, sơn hà thịnh trị… toàn những khẩu hiệu sáo không ngửi được, khiến một bạn đọc phải kêu lên rằng: “Xin thôi đi cho, ông Khiêu. Ông suốt ngày được ve vuốt, có biết đâu nỗi khổ của người dân oan khuất nơi vườn hoa, góc phố đòi công lý bao năm nay mà chẳng thấy đâu. Thì đoàn kết ở đâu, thương yêu nỗi gì. Bút tích trên văn bia để lưu dấu cho hậu thế, nào phải chuyện vung bút nói xằng, đừng để lại ở đó những gì mà người dân không muốn đọc, không muốn nghe, vì nó không đúng. Ông quá già và lẫn rồi”.

Cái sự già và lẫn của Vũ tiên sinh còn ở chỗ ông “đọc nhầm” câu đại tự trên hoành phi đình Bình Đà, hoành phi ghi rành rành “Thánh Tổ Siêu Việt”, ông lại đọc thành “Vi Bách Việt Tổ”. Sự “nhầm” của ông còn ở chỗ cái ấn giả ở đền Trần (Hưng Hà – Thái Bình), trên đó có bốn chữ Thượng Nguyên Chu Thị (Họ Chu ở huyện Thượng Nguyên – bên Tầu) mà ông đọc thành Thiên Nhân Hộ Quốc, để đến nỗi Chủ tịch nước phải về khai ấn. Thêm một sự nhầm nữa là ông viết ca ngợi Bình Đà thời Lạc Long Quân: “Đất rồng chầu phượng múa – Phật chở che: Trăm trứng – Trăm con”. Ối giời ơi là giời, đạo Phật mới có chưa đến 2.600 năm, trong khi thời đại Hùng Vương theo truyền thuyết là 4.000 năm, thế mà Phật lại chở che được. Tài quá!

Nhân “dư âm ngày Giỗ Tổ” (là vì các cơ quan ban ngành của Việt Nam nghỉ lễ dài lắm, trước lễ, trong lễ và sau lễ cơ), tìm đọc lại bài chúc văn dâng lên vua Hùng của Vũ Tiên sinh, lại phát hiện một điều là tiên sinh xào xáo kinh người, một bài đem nhân bản ra để đọc, chỉ thay tí ngày tháng, nhuận bút lĩnh đều, lại thuộc hàng “khủng” nữa, vì có dán mác GS, AHLĐ mà. Thật xướng là một đại văn xào. Kính mời quý độc giả xem 2 bài này thì biết.

 

 
                 Năm 2010                                              Năm 2000
IChúng con nay

Sáu mươi ba tỉnh thành: nhớ lại tổ tiên
Năm mươi tư dân tộc: tìm về cội rễ!
Công ơn Quốc tổ, vẻ vang Hồng Lạc bốn ngàn năm
Hùng khí Thủ đô, rực rỡ Thăng Long mười thế kỷ.
Một vùng rộn rã trống chiêng
Muôn dặm tưng bừng cờ xí!
Trống đồng dội tới, núi sông dậy sấm rền vang
Trống đồng vang lên,Trời đất ngút ngàn linh khí!
Bừng lên nhật nguyệt, mây xanh hạt trắng, bát ngát trường thiên…
Rực rỡ sơn hà, Cờ đỏ sao vàng, thênh thang thánh địa.
Thuyền xuôi sóng vỗ, sông ba dòng tưới mát muôn phương
Rồng cuộn, Hổ ngồi, núi trăm ngọn chầu về một phía
Núi mây sừng sững công cha
Sông nước dạt dào nghĩa mẹ!

II

Nhớ thuở xưa:

Mẹ từng non cao tỏa sáng nghĩa nhân
Cha vốn biển cả quật cường mưu trí.
Sánh đôi tài sắc Kim cổ kỳ phùng
Hợp một âm dương uyên ương tuyệt mỹ!

Đẹp gia đình trăm trứng trăm con
Vui sơn thủy một lòng một ý.
Cuộc mưu sinh thử thách muôn vàn
Đường lập nghiệp gian nan xiết chảy

Nào rừng rậm, đầm lầy, vực sâu, núi hiểm… chẳng quản xông pha
Nào kình nghê, hổ báo, bệnh tật, bão giông… lấy gì bảo vệ?
Chia con hai ngả lên đường
Chọn trưởng một ngôi kế vị.
Giang sơn một cõi, sao cho vạn đại trường tồn?
Rừng bể đôi nơi, cùng dựng bốn phương hùng vĩ!

Hiên ngang thay Phù Đổng diệt thù!
Dũng cảm thay Sơn Tinh trị thủy!
Đẹp thay Chữ Đồng Tử! Tình yêu như ngọc sáng gương trong
Giỏi thay Mai An Tiêm! Lao động như dời non lấp bể

Dựng non sông, qua mười tám vương triều
Vững nền móng, để muôn đời thịnh trị

III

Kiên cường bất khuất:

An Dương Vương kế nghiệp, hợp hai bộ tộc vốn thân thương
Âu Lạc quốc hình thành, dựng một cơ đồ thêm tráng lệ
Nước manh giầu, binh hùng mạnh, đánh tan mọi cuộc xâm lăng
Tình với bạn, nghĩa với đời, giữ trọn một niềm chung thủy.
Giận quân giặc bao phen thua trận, dở mưu hèn giả dạng cầu hòa
Bởi vua ta cả dạ tin người, để con gái sa vào qủy kế
Cơ đồ xưa: bỗng chốc tiêu vong
Sự nghiệp mới: cũng thành hủy phế
Cảnh lầm than đè nặng khắp dân gian
Cuộc chiến đấu trải dài bao thế hệ
Gái anh hùng, nào Trưng Nữ, Triệu Trinh
Trai dũng lược, nào Phùng Hưng, Lý Bí!
Ào ào khí thế, cờ Vạn Xuân trao Triệu Việt Vương
Bền bỉ tinh thần, gương Khúc Hạo soi Dương Đình Nghệ
Quét sạch ngoại xâm, sơn hà giành lại, lẫy lừng đại nghiệp Ngô Vương
Dẹp yên nội loạn, đất nước thanh bình, oanh liệt hùng tài Đinh Đế
Dương Thái hậu một lòng vì nước, thay Tiên vương trao áo Hoàng bào
Lê Đại Hành mười đạo ra quân, dìm hoàng tặc dưới dòng Bạch Thủy
Lòng hung dạ tối, Lê Ngoạ Triều hết kiếp hôn quân
Nước cậy dân tin, Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế

IV

Kể từ đây:

Đạo trị binh đủ phép kinh luân
Tài thao lược hơn đời nhân trí
Ra tay dựng lại, vững vàng thêm cơ nghiệp Vua Hùng
Định hướng đi lên, rực rỡ mãi Vương triều họ Lý
Cùng nhân dân phấn đấu tận tình
Với bạn bè chân thành hữu nghị
Cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng
Ta muốn yên mà người chẳng nể
Giã tâm cướp nước cũng lại như xưa
Quyết trí diệt thù ta đành phải thế
Cứu nước giữ nhà, toàn dân càng rạo rực đồng tâm
Vác giáo mang gươm, cả nước bừng bừng nộ khí!
Sóng Bạch Đằng còn cuồn cuộn thế Ngô Vương
Gió Như Nguyệt đã vang vang lời Thái úy
Hội Diên Hồng rung chuyển trăng sao
Hịch Hưng Đạo sục sôi tướng sĩ!
Nằm gai nếm mật, mười năm ròng, bạt vía lũ Vương Thông.
Lở đất long trời, một trận đánh, tan hồn quân Sĩ Nghị

Thế kỷ hai mươi:

Hồ Chí Minh mở lối, ánh chiếu dương rực sáng cả mây trời
Đảng Cộng sản soi đường, đưa cách mạng ào lên như bão bể
Năm năm tư Pháp thua đại bại
Súng Điện Biên vang dội toàn cầu
Năm bảy nhăm Mỹ cút Ngụy nhào
Cờ đại thắng lẫy lừng thế kỷ
Cả Nam Bắc đập tan đế quốc, chấm dứt bạo quyền
Toàn Đông Tây hết nạn thực dân, không còn nô lệ

V

Thế mới biết:

Nước giàu không chỉ quân lương
Dân mạnh còn nhờ đạo lý!
Quốc Tổ răn: Coi sơn hà xã tắc là thiêng
Bác Hồ dạy: Lấy độc lập tự do làm quý!
Trăm con một bọc, yêu thương nhau như ruột thịt chan hòa
Một gốc trăm nhành, gắn bó mãi như keo sơn chặt chẽ
Dựng cơ đồ, chị ngã em nâng
Cơn hoạn nạn, bầu thương lấy bí
Đủ bốn phương: Nam, Bắc, Tây, Đông
Cả trăm họ: Gái, Trai, Già, Trẻ
Bền lòng yêu nước: Vì nghĩa quên thân
Vững đạo làm người: Đồng tâm nhất trí
Thế gian chìm nổi, coi yêu thương là lẽ sống ở đời
Nhân loại khổ đau, lấy đoàn kết làm phương châm xử thế
Gìn giữ tinh hoa Đại Việt, tiếp thu thêm văn hoá Đông Tây
Nêu cao văn hiến Thăng Long, hoàn thiện mãi quốc hồn nhân trí

VI

Nay gặp buổi:

Đảng ta đổi mới tư duy
Dân ta mở mang kinh tế
Con đường giàu mạnh đã thênh thang
Cuộc sống văn minh càng đẹp đẽ!
Thời cơ thuận lợi đã có nhiều
Thách thức gian nan còn chẳng dễ
Trước chông gai cờ Đảng mở đường
Trong bão gió nhân dân vững trí
Với tinh thần sắc sảo thông minh
Lại truyền thống sáng ngời nhân nghĩa
Noi theo Quốc Tổ, tiếp tiền nhân phẩm chất anh hùng
Học tập Bác Hồ, truyền hậu thế tinh hoa đạo lý
Thủ đô ngàn năm tuổi, cùng toàn dân đẩy mạnh phồn vinh
Cả nước một lòng, với nhân loại hoà bình hữu nghị

Rực muôn đời Hồng Lạc tinh hoa
Cao muôn trượng Hùng Vương khí thế!

IMừng hôm nay:

Trống đồng dội tới,
Núi sông dậy sấm rền vang
Trống đồng vang lên,
Trời đất ngút ngàn linh khí!

Toàn dân giỗ tổ Hùng Vương
Cả nước vui ngày quốc lễ
Rộn rã trống chiêng
Tưng bừng cờ xí!

Bừng lên nhật nguyệt:
Mây xanh hạt trắng, bát ngát trường thiên…
Rực rỡ sơn hà:
Cớ đỏ sao vàng, thênh thang thánh địa.

Thuyền xuôi sóng vỗ,
Sông ba dòng tưới mát muôn phương
Hổ lượn rồng bay,
Núi trăm ngọn chầu về một phía

Từ đỉnh cao muôn trượng cơ đồ
Cùng nhìn lại bốn mươi thế kỷ.
Núi mây: sừng sững công cha
Sông nước: dạt dào nghĩa mẹ.

II

Nhớ thuở xưa:

Mẹ Âu Cơ
Từng non cao tỏa sáng nghĩa nhân
Cha Long Quân
Vốn biển cả quật cường mưu trí.
Sánh đôi tài sắc: Kim cổ kỳ phùng
Hợp một âm dương: Uyên ương tuyệt mỹ!

Đẹp gia đình: trăm trứng trăm con
Vui sơn thủy: một lòng một ý.
Cuộc mưu sinh thử thách muôn vàn
Đường lập nghiệp gian nan xiết kể.

Nào rừng rậm, đầm lầy, vực sâu, núi hiểm:
Há quản xông pha
Nào kình nghê, hổ báo, bệnh tật, bão giông:
Lấy gì bảo vệ?
Chia con: hai ngả lên đường
Chọn trưởng: một ngôi kế vị.
Giang sơn một khoảnh, sao cho vạn đại trường tồn?
Rừng bể đôi nơi, cùng dựng bốn phương hùng vĩ!

Hiên ngang thay! Phù Đổng diệt thù!
Dũng cảm thay! Sơn Tinh diệt thủy!
Đẹp thay Chữ Đồng Tử! Tình yêu như ngọc sáng gương trong
Giỏi thay Mai An Tiêm!  Lao động như dời non lấp bể

Vẻ vang mười tám vương triều
Rực rỡ một thời thịnh trị

Qua gian nan bao độ nổi chìm
Trải thử thách những hồi hưng phế!

Chi công lao khai phá một thời kỳ
Mà uy lực trải dài bao thế hệ!

Hãy xem như:
Gái anh hùng, Triệu nữ, Trưng vương
Trai dũng lược, Đinh tiên, Lý đế!
Sóng Bạch Đằng cuồn cuộn thế Ngô Vương
Gió Như Nguyệt vang vang lời Thái úy

Hội Diên Hồng rung chuyển cả trăng sao
Hịch Hưng Đạo xốn xang toàn tướng sĩ
Nằm gai nếm mật, mười năm ròng, bạt vía lũ Vương Thông.
Lở đất long trời, một trận đánh, tan hồn quân Sĩ Nghị

Thế kỷ hai mươi:
Cờ giải phóng xua tan bóng tối, danh Bác Hồ vang dậy đông tây
Khắp toàn cầu hết nạn thực dân, mộng đế quốc tan thành mây khói.

Thế mới biết:
Nước giàu, không chỉ quân lương
Dân mạnh, còn nhờ đạo lý:
Coi sơn hà xã tắc là thiêng
Lấy độc lập tự do là quý

III

Chúng con nay:

Sáu mươi mốt tỉnh thành: nhớ lại tổ tiên
Năm mươi tư dân tộc: tìm về cội rễ
Bốn phương: nam, bắc, tây, đông
Trăm họ: gái, trai, già trẻ
Hân hoan muôn dặm trùng phùng
Kính cẩn một chầu đại lễ
Xin Tổ vương vạn thế linh thiêng
Giúp con cháu ngàn điều chỉ vẽ.

Nay gặp buổi:

Đảng ta đổi mới tư duy
Dân ta mở mang kinh tế
Dù dân gian chưa hết đói nghèo
Dù xã hội vẫn còn nạn tệ
Đường lên giàu mạnh đã thênh thang
Nẻo đến văn minh thêm mới mẻ

Xin cúi nguyện:

Trăm con một bọc, yêu thương nhau như ruột thịt chan hòa
Một gốc trăm cành, gắn bó mãi như keo sơn chặt chẽ
Dựng cơ đồ, chị ngã em nâng
Cơn hoạn nạn, bầu thương lấy bí
Trước tương lai mở  rộng tâm hồn,
Vì sự nghiệp nâng cao trí tuệ

Bác Hồ dạy: hoàn thành nhiệm vụ
Vượt mọi khó khăn, thắng mọi quân thù!
Bác Hồ răn: uy vũ coi thường
Chớ ngại nghèo nàn, không ham phú quý!

Dấn thân cho nước, há ngại tử sinh
Hết dạ vì dân, kể gì khó dễ!
Giữ muôn đời Hồng Lạc tinh hoa
Cao muôn trượng Hùng Vương khí thế!

THUỐC ĐẮNG

 

Văn hóa, toàn cầu hóa và tự do – VHNA

16 Th4

  •   Mario Vargas Llosa
 

 

250px-Vargas_Losa_Göteborg_Book_Fair_2011b

Những cuộc công kích hiệu quả nhất nhằm chống lại quá trình tòan cầu hóa thường lại không phải là những cuộc công kích liên quan tới kinh tế học. Mà là những cuộc công kích về mặt xã hội, đạo đức, và trên hết là lĩnh vực văn hóa. Những luận cứ này từng nổi lên trong những vụ lộn xộn ở Seattle vào năm 1999 và lại vang lên ở Davos, ở Bangkok, và Prague trong thời gian gần đây. Họ nói như sau:

Sự biến mất của các đường biên giới quốc gia và giới quyền uy trên thế giới gắn bó với thương trường sẽ giáng những đòn chí tử vào nền văn hóa khu vực và quốc gia, vào truyền thống, thói quen, truyền thuyết và tập tục, tức là những thứ quyết định bản sắc văn hóa của đất nước và khu vực. Vì đa số các nước và các khu vực trên thế giới không đủ sức chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa từ các nước đã phát triển – mà cụ thể là từ siêu cường Mĩ – nước chắc chắn sẽ mở đường cho các công ty đa quốc gia cực kì lớn, nền văn hóa Bắc Mĩ cuối cùng sẽ buộc người ta phải chấp nhận nó, nó sẽ định ra tiêu chuẩn cho thế giới và xóa sổ sự đa dạng của những nền văn hóa khác nhau. Theo cách này, tất cả các dân tộc, chứ không chỉ các dân tộc nhỏ và yếu, sẽ đánh mất bản sắc, sẽ đánh mất tâm hồn mình và chỉ còn các thuộc địa trong thế kỉ XXI – những thây ma hay những hình nộm được làm theo những tiêu chuẩn văn hóa của chủ nghĩa thực dân mới, đấy là chủ nghĩa thực dân mà ngòai việc cai trị thế giới bằng đồng vốn, sức mạnh quân sự và kiến thức khoa học của nó, còn áp đặt cho người ta ngôn ngữ, cách tư duy, niềm tin, thú vui và ước mơ của nó nữa.

Cơn ác mộng hay là điều hoang tưởng theo nghĩa tiêu cực về một thế giới mà do tòan cầu hóa đang đánh mất dần sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, đang bị Mĩ xâm lược về mặt văn hóa không chỉ là địa hạt của các chính trị gia tả khuynh, luyến tiếc Marx, Mao hay  Che Guevara. Cơn mê sảng về việc bị ngược đãi – do lòng thù hận người khổng lồ Bắc Mĩ mà ra – còn được thể hiện rõ ở cả những nước đã phát triển và những dân tộc có nền văn hóa cao, được cả các nhóm tả, trung dung và hữu khuynh chia sẻ nữa.

Khét tiếng nhất là nước Pháp, ở đây chúng ta thường thấy chính phủ tung ra những chiến dịch nhằm bảo vệ “bản sắc văn hóa Pháp”, một nền văn hóa được cho là đang bị quá trình tòan cầu hóa đe dọa. Một lọat các nhà tri thức và chính trị gia Pháp lo lắng về khả năng là cái vùng đất từng sinh ra Montaigne, Descartes, Racine, và Baudelaire – và đất nước đã có một thời gian dài từng là người đưa ra tiếng nói cuối cùng về thời trang, tư duy, nghệ thuật, ẩm thực và về tất cả những lĩnh vực tinh thần khác – có thể bị những McDonald’s, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, rock, rap, và phim ảnh của Hollywood, quần bò, bánh sneakers, áo T-shirts xâm lấn. Nỗi sợ này đã dẫn tới, thí dụ, những khỏan tài trợ rất lớn của Pháp cho ngành công nghiệp điện ảnh và đòi hỏi các rạp chiếu bóng phải chiếu một số lượng phim trong nước và hạn chế nhập phim Mĩ. Nỗi sợ này còn là lí do vì sao các chính quyền địa phương ban hành những quy định xử phạt nặng những băng rôn quảng cáo làm ô uế ngôn ngữ của Molière bằng những từ ngữ tiếng Anh. (Mặc dù, nếu nhìn vào vỉa hè các đường phố ở Paris thì thấy rằng những quy định như thế cũng không được người ta tôn trọng cho lắm). Đấy là lí do vì sao José Bové, một điền chủ có thái độ bài xích các món ăn tạp nham (ngụ ý thức ăn nhanh của Mĩ – ND) đã trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Pháp. Và việc ông ta bị bắt giam ba tháng trong thời gian gần đây có vẻ như chỉ làm cho ông ta nổi tiếng thêm mà thôi.

Nhưng tôi tin rằng luận cứ chống tòan cầu hóa như thế là không thể chấp nhận được, chúng ta phải công nhận rằng nó ẩn chứa một sự thật không thể bác bỏ được. Trong thế kỉ này, cái thế giới chúng ta sống sẽ kém sinh động và không có nhiều màu sắc như là cái thế giới mà chúng ta đã bỏ lại phía sau. Những buổi lễ hội, đồ trang sức, phong tục, nghi lễ, nghi thức và tín ngưỡng, tức là những thứ đã tạo cho nhân lọai sự khác biệt mang màu sắc dân tộc và văn hóa dân gian, đang dần dần biến mất hoặc sẽ thu mình vào trong những nhóm thiểu số, trong khi phần lớn xã hội từ bỏ chúng và chấp nhận những thứ khác, phù hợp hơn với thời đại của chúng ta. Tất cả các nước trên thế giới đang trải qua quá trình này, nhanh chậm khác nhau, nhưng đấy không phải là do tòan cầu hóa. Mà đấy là do quá trình hiện đại hóa, tòan cầu hóa là kết quả chứ không phải là nguyên nhân. Có thể khóc than, dĩ nhiên là như thế, rằng quá trình này đang diễn ra và có thể nuối tiếc về cuộc sống của một thời đã qua, mà với những tiện nghi của ngày hôm nay dường như đấy là cuộc sống vui vẻ, độc đáo và đầy màu sắc. Nhưng đây là quá trình không thể nào tránh được. Những chế độ tòan trị như Cuba hay Bắc Hàn sợ rằng mở cửa sẽ là tự sát, họ tìm cách bế quan tỏa cảng, ban hành đủ thứ quy định kiểu cấm đóan và chỉ trích hiện đại hóa. Nhưng ngay cả những nước đó cũng không ngăn cản được sự thẩm thấu một cách từ từ của quá trình hiện đại hóa và nó sẽ gặm nhấm dần cái gọi là bản sắc văn hóa của họ. Về lí thuyết, một đất nước có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng với điều kiện là họ phải sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn, chấm dứt mọi trao đổi với các dân tộc khác và thực hiện một nền kinh tế tự cấp tự túc – giống như một vài bộ lạc ở châu Phi hay những bộ lạc sống trong rừng già Amazon vậy. Bản sắc văn hóa dưới hình thức như thế sẽ đưa xã hội trở lại với cách sống của thời tiền sử.

Đúng là hiện đại hóa làm cho nhiều lối sống truyền thống không thể tồn tại được. Nhưng đồng thời nó lại mở ra cơ hội và làm cho cả xã hội tiến những bước quan trọng về phía trước. Đấy là lí do vì sao khi có cơ hội tự do lựa chọn quần chúng lại ủng hộ hiện đại hóa mà không hề có chút lưỡng lự nào, đôi khi họ còn phản đối điều mà các nhà lãnh đạo hay những người nệ cổ ủng hộ.

Những luận điệu nhằm chống lại toàn cầu hóa và ủng hộ bản sắc văn hóa tiết lộ cho ta thấy quan niệm tĩnh về văn hóa, một quan niệm không có cơ sở lịch sử. Nền văn hóa nào đã từng giữ mãi bản sắc và không thay đổi theo thời gian? Muốn tìm được những nền văn hóa như thế, chúng ta phải thâm nhập vào những cộng đồng tôn giáo ma thuật nguyên thủy và nhỏ bé, tức là những cộng đồng sống trong hang hốc, thờ thần sấm và thú dữ; và vì tính chất nguyên thủy như thế mà họ càng ngày càng dễ bị bóc lột và hủy diệt. Tất cả những nền văn hóa khác, nhất là những nền văn hóa có quyền được gọi là hiện đại và sống động đều tiến hóa đến mức mà chúng chỉ còn là cái bóng mờ của nền văn hóa từng hiện diện cách đây vài ba thế hệ mà thôi. Sự tiến hóa này thể hiện rõ nhất ở các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nơi đã diễn ra những thay đổi cực kì ngoạn mục và sâu sắc đến mức Marcel Proust, Federico García Lorca, hay Virginia Woolf khó mà có thể coi đây là những xã hội nơi họ đã ra đời – những xã hội mà tác phẩm của họ đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho chúng thay da đổi thịt.

Khái niệm “bản sắc văn hóa” là khái niệm nguy hiểm. Từ quan điểm xã hội thì đấy có thể chỉ là quan niệm nhân tạo và đáng ngờ, nhưng từ viễn cảnh chính trị thì nó đe dọa ngay thành tựu quí giá nhất của nhân loại: quyền tự do. Tôi không phủ nhận rằng những người nói cùng một ngôn ngữ, sinh ra và sống trên cùng một vùng lãnh thổ, phải giải quyết những vấn đề giống nhau, theo những phong tục và tôn giáo như nhau, có những đặc điểm như nhau. Nhưng tính chất chung đó không bao giờ có thể xác định được đầy đủ đặc tính của từng người, nó chỉ xóa bỏ hoặc đẩy tất cả những tính chất và đặc điểm đơn nhất, tức là những đặc điểm làm người nọ khác biệt với người kia, xuống hàng thứ yếu mà thôi. Quan niệm bản sắc, khi không được áp dụng cho từng cá nhân riêng biệt, là một quan niệm đã được đơn giản hóa và phi nhân tính, nó là sự trừu tượng hóa mang tính ý thức hệ và tinh thần tập thể của tất cả những gì là độc đáo và sáng tạo trong mỗi con người, của tất cả những gì không được áp đặt bởi di sản, nơi sinh hay áp lực xã hội. Mà sự thật là, bản sắc xuất phát từ khả năng của con người trong việc chống lại những ảnh hưởng đó và phản công lại với chúng bằng những hành động tự do theo sáng kiến của riêng mình.

Khái niệm “bản sắc tập thể” là khái niệm hư cấu mang tính ý thức hệ và là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Nhiều nhà nhân chủng học và nhân loại học cho rằng ngay cả các cộng đồng cổ xưa nhất cũng không có bản sắc tập thể. Những thói quen và phong tục được nhiều người chia sẻ có thể là những điều tối cần thiết đối với việc bảo vệ cả nhóm người, nhưng sự cách biệt về khả năng sáng tạo và sáng kiến giữa các cá nhân – điều kiện để họ tách biệt khỏi nhóm – bao giờ cũng khá lớn,  và khi các cá nhân được thử thách theo những khả năng của riêng họ thì những khác biệt của từng người sẽ lấn át những đặc tính chung, chứ không chỉ là những thành tố ngoại vi của tập thể nữa. Toàn cầu hóa mở rộng một cách căn bản khả năng của tất cả các công dân trên hành tinh này, nó tạo điều kiện cho họ thông qua những hành động tự nguyện mà tạo dựng bản sắc văn hóa của riêng mình, phù hợp với sở thích và động cơ thầm kín của họ. Bây giờ người công dân không phải lúc nào cũng phải – như trong quá khứ và ở nhiều nơi hiện nay – tôn trọng bản sắc nhưng trên thực tế là làm cho họ mắc kẹt vào trại tập trung không thể nào thoát ra được – đấy là bản sắc được áp đặt lên mỗi người thông qua ngôn ngữ, dân tộc, nhà thờ, thói quen của vùng đất nơi họ ra đời. Theo nghĩa này thì ta phải hoan nghênh toàn cầu hóa vì nó mở rộng một cách đáng kể chân trời cho tự do cá nhân.

Hai lịch sử của cùng một lục địa

Châu Mĩ Latin có thể là thí dụ tốt nhất của những thủ đoạn và sự phi lí của việc cố tình thiết lập bản sắc tập thể. Cái gì có thể là bản sắc văn hóa của châu Mĩ Latin? Phải đưa những gì vào cái tập hợp những tín điều, phong tục, truyền thống, thói quen và những câu chuyện cổ tích để thể hiện rằng khu vực này có một tính cách duy nhất, không ai có và không chuyển nhượng được? Lịch sử của chúng ta được trui rèn trong những cuộc tranh luận trí tuệ – đôi khi quyết liệt – nhằm tìm cho ra đáp án cho câu hỏi đó. Đáp án nổi bật nhất là đáp án của những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm[i] đưa ra trong cuộc đấu trí với những người ủng hộ văn hóa bản địa và có ảnh hưởng trên khắp lục địa ngay từ những năm đầu thế kỉ XX.

Đối với những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm như José de la Riva Agüero, Victor Andrés Belaúnde, và Francisco García Calderón thì Mĩ Latin hình thành khi – nhờ quá trình phát hiện và chinh phục – nó gặp ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chấp nhận Thiên chúa giáo và trở thành một phần của nền văn minh phương Tây. Những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm không coi thường những nền văn hóa tiền-Tây Ban Nha, nhưng họ coi đấy chỉ là một lớp chứ không phải là cốt lõi của hiện thực xã hội và lịch sử, phải nhờ ảnh hưởng của phương Tây mà nó mới hoàn thiện được bản chất và tính cách của mình.

 Mặt khác, những người ủng hộ văn hóa bản địa lại cực lực bác bỏ những lợi ích mà có người cho rằng người châu Âu đã mang tới Mĩ Latin. Theo họ, bản sắc của chúng ta có nguồn gốc và linh hồn trong nền những nền văn hóa và văn minh tiền-Tây Ban Nha, quá trình phát triển và hiện đại hóa của nó đã bị kìm hãm bằng bạo lực và là đối tượng của kiểm duyệt, đàn áp và đẩy ra ngoài lề không chỉ trong suốt ba thế kỉ thuộc địa mà còn cả sau này, tức là sau khi có chế độ cộng hòa nữa. Theo những tư tưởng gia ủng hộ văn hóa bản địa thì “Biểu hiện Mĩ” (tên một tác phẩm của José Lezama Lima) nằm ở tất cả những biểu hiện mang tính văn hóa – từ ngôn ngữ bản xứ tới đức tin, nghi lễ, nghệ thuật và tập tục của nhân dân – nhằm chống lại sự áp chế về mặt văn hóa của phương Tây và còn tồn tại cho đến ngày nay. Ông Luis E. Valcárcel, một nhà sử học nổi tiếng của Peru, thậm chí còn khẳng định rằng cần phải đốt bỏ tất cả các nhà thờ, các nhà tu và tượng đài theo phong cách kiến trúc thuộc địa vì chúng thể hiện tinh thần “bài-Peru”. Chúng là những kẻ giả hình, là sự phủ nhận bản sắc nguyên thủy của châu Mĩ, một bản sắc có nguồn gốc hoàn toàn bản địa. Và ông José María Arguedas, một trong những tiểu thuyết gia độc đáo nhất của Mĩ Latin đã xây dựng được – trong những câu chuyện cực kì duyên dáng và đầy tinh thần phản kháng – bản anh hùng ca về tàn tích của nền văn hóa Cuechua trong dãy núi Andes, mặc dù đã bị phương Tây chẹn họng và làm cho méo mó đi.

Những người thân Tây Ban Nha cũng như những người ủng hộ văn hóa bản địa đã viết được những tác phẩm lịch sử tuyệt vời và những cuốn tiểu thuyết đầy tinh thần sáng tạo, nhưng nếu xét theo bối cảnh của chúng ta ngày hôm nay thì cả hai học thuyết này đều là những học thuyết mang tính bè phái, giản lược và sai lầm. Không bên nào đủ sức nhồi nhét sự đa dạng đang gia tăng của châu Mĩ Latin vào những khuôn khổ ý thức hệ của họ, và cả hai bên đều sặc mùi phân biệt chủng tộc. Hiện nay ai còn dám tuyên bố rằng chỉ có những cái mang “phong cách Tây Ban Nha” hoặc “da đỏ” mới có quyền đại diện hợp pháp cho Mĩ Latin? Thế mà hiện nay những cố gắng nhằm trui rèn và phân lập “bản sắc văn hóa” đặc thù của chúng ta vẫn được tiếp tục thực hiện với lòng nhiệt tình chính trị và tri thức đáng lẽ nên dành cho những công việc xứng đáng hơn. Tìm cách áp đặt bản sắc văn hóa cho quần chúng nhân dân cũng chẳng khác gì nhốt họ vào tù và không cho họ được hưởng một trong những quyền tự do quý giá nhất – đấy là quyền lựa chọn: họ muốn thành người như thế nào, và bằng cách nào? Châu Mĩ Latin không có một mà có nhiều bản sắc văn hóa, không có bản sắc nào có thể tuyên bố là hợp pháp hơn hay trong sạch hơn những bản sắc khác.

Dĩ nhiên là Mĩ Latin bao hàm trong nó cả thế giới tiền-Tây Ban Nha lẫn các nền văn hóa của nó, những nền văn hóa đó còn giữ được sức mạnh xã hội đáng kể ở các nước như Mexico, Guatemala, và các nước vùng Andes. Nhưng Mĩ Latin c̣n là rất đông người nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, với truyền thống của năm thế kỉ ở sau lưng, sự hiện diện và hành động của họ có ý nghĩa quyết định trong việc định hình những đặc điểm hiện nay của châu lục. Và chả lẽ Mĩ Latin không phải là một phần của châu Phi, châu lục đã đến bến bờ của chúng ta cùng với châu Âu hay sao? Không phải sự hiện diện của châu Phi đã tạo ra làn da, âm nhạc, khí chất và xã hội của chúng ta hay sao? Những thành tố mang tính xã hội, sắc tộc và văn hóa làm nên Mĩ Latin đã liên kết chúng ta với hầu như tất cả các khu vực và các nền văn hóa trên thế giới. Chúng ta có nhiều bản sắc văn hóa đến nỗi tưởng như chẳng hề có một bản sắc nào hết. Thực tế đó – trái ngược với niềm tin của những người dân tộc chủ nghĩa – là tài sản quí báu nhất của chúng ta. Đấy cũng là phẩm chất tuyệt vời, làm cho chúng ta cảm thấy mình là những công dân đầy đủ tư cách trong thế giới toàn cầu hóa này.

Giọng điệu địa phương, lan tỏa toàn cầu

Sợ Mĩ hóa toàn bộ hành tinh là hoang tưởng mang tính ý thức hệ chứ không phải là thực tế. Dĩ nhiên là không nghi ngờ gì rằng cùng với quá trình toàn cầu hóa, tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ phổ biến trong thời đại của chúng ta, cũng như tiếng Latin trong thời Trung Cổ vậy. Nó sẽ còn tiếp tục vươn lên vì đấy là phương tiện không thể thiếu được trong giao dịch và thông tin quốc tế. Nhưng điều đó có nghĩa là tiếng Anh nhất thiết sẽ phát triển, sẽ gây thiệt hại cho các ngôn ngữ lớn khác hay không? Hòan tòan không. Trên thực tế, ngược lại mới đúng. Sự xóa nhòa các đường biên giới và thế giới ngày càng tương thuộc lẫn nhau hơn đã và đang khuyến khích các thế hệ trẻ học và đồng hóa với những nền văn hóa khác, đấy không chỉ là sở thích mà còn là điều cần thiết, vì nói được vài thứ tiếng và thích ứng một cách dễ dàng trong những nền văn hóa khác nhau đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Hãy xem xét trường hợp tiếng Tây Ban Nha. Nửa thế kỉ trước những người nói tiếng Tây Ban Nha là cộng đồng hướng nội, chúng ta cho rằng mình chẳng có mấy cơ hội ở bên ngoài biên giới ngôn ngữ truyền thống. Hiện nay tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ năng động và có nhiều người dùng, nó đã chiếm được những thành tựu ban đầu hay thậm chí những vùng đất rộng lớn trên cả năm châu lục. Sự kiện là có từ hai mươi lăm đến ba mươi triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ở Mĩ là nguyên nhân vì sao hai ứng viên tổng thống Mĩ gần đây – thống đốc Texas là George W. Bush và phó tổng thống Al Gore – tiến hành vận động tranh cử không chỉ bằng tiếng Anh mà còn dùng cả tiếng Tây Ban Nha nữa.

Có bao nhiêu triệu thanh niên nam nữ trên khắp hòan cầu đã và đang phản ứng lại những thách thức của tòan cầu hóa bằng cách học tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Quan thọai, tiếng Quảng Đông, tiếng Nga hay tiếng Pháp? May thay, xu hướng này sẽ gia tăng trong những năm sắp tới. Đấy là lí do vì sao cách bảo vệ tốt nhất  nền văn hóa và ngôn ngữ của chúng ta là nỗ lực quảng bá chúng trên khắp thế giới chứ không phải cứ vờ vịt tìm cách làm cho nó miễn nhiễm với sự đe dọa của tiếng Anh. Những người đưa ra những biện pháp như thế là những người nói rất nhiều về văn hóa, nhưng đấy là những kẻ dốt nát, họ đang che dấu ý định thật sự của mình: chủ nghĩa dân tộc. Đấy không phải là họ đang tranh luận về những xu hướng phổ quát của văn hóa, đấy là những cách nhìn thiển cận, lầm lẫn, biệt lập, mà những người có quan điểm dân tộc chủ nghĩa tìm các áp đặt lên đời sống văn hóa. Bài học tuyệt vời nhất mà văn hóa dạy cho chúng ta là nó không cần những quan chức hay các chính trị viên bảo vệ, cũng không cần che chắn sau song sắt hay dùng lực lượng hải quan để cách li nhằm giữ cho nó sống và đơm hoa kết trái; ngược lại, những cố gắng như thế chỉ làm cho nó khô kiệt hoặc trở thành tầm thường mà thôi. Văn hóa phải sống một cách tự do, phải thường xuyên va chạm với những nền văn hóa khác. Điều đó sẽ làm cho nó luôn luôn đổi mới, luôn luôn tái tạo, làm cho nó tiến hóa và thích ứng với dòng chảy liên tục của cuộc đời. Ngày xưa tiếng Latin đã không giết chết tiếng Hy Lạp; ngươc lại, sự độc đáo và chiều sâu trí tuệ của nền văn hóa Hy Lạp đã thẩm thấu vào nền văn minh La Mã và nhờ nó mà những bản trường ca của Homer và triết lí của Plato và Aristotle mới vươn ra khắp thế giới. Tòan cầu hóa không xóa bỏ các nền văn hóa khu vực, trong không gian bao la của cả hòan vũ, tất cả những gì có giá trị và đáng sống trong những nền văn hóa khu vực sẽ tìm thấy những mảnh đất màu mỡ để có thể đơm hoa kết trái.

Điều đó đã diễn ra trên khắp châu Âu. Đặc biệt đáng ghi nhận là ở Tây Ban Nha, ở đây những nền văn hóa địa phương đang tái xuất hiện với một sức mạnh đặc biệt. Dưới chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, những nền văn hóa địa phương bị đàn áp và buộc phải sống trong vòng bí mật. Nhưng cùng với sự trở về của chế độ cộng hòa, sự đa dạng của nền văn hóa đã được cởi trói và được tự do phát triển. Ở những khu vực tự trị, văn hóa địa phương càng phát triển mạnh, đặc biệt là ở Catalonia, Galicia, và xứ Basque; các khu vực khác ở Tây Ban Nha cũng đều như thế cả. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không được đánh đồng sự hồi sinh của văn hóa khu vực – một hiện tượng tích cực và làm cho đời sống ngày càng phong phú thêm – với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền văn hóa của tự do.

Trong tác phẩm nổi tiếng: Góp phần định nghĩa văn hóa (Notes Towards the Definition of Culture) xuất bản năm 1948, T.S. Eliot đã dự đóan rằng trong tương lai, nhân lọai sẽ được chứng kiến sự phục hưng của những nền văn hóa địa phương và khu vực. Lúc đó, đấy là một lời tiên đóan quá táo bạo. Nhưng tòan cầu hóa có vẻ như sẽ làm cho nó trở thành hiện thực trong thế kỉ XXI và chúng ta nên vui mừng vì chuyện đó. Sự phục sinh của những nền văn hóa nhỏ bé, mang tính khu vực sẽ trả lại cho nhân lọai sự đa dạng trong cách thể hiện và hành vi mà cuối thế kỉ XVII và đặc biệt là trong thế kỉ XIX các quốc gia-dân tộc đã từng hủy bỏ nhằm tạo ra cái gọi là bản sắc văn hóa. (Sự kiện này đã dễ dàng bị lãng quên hay chúng ta tìm cách lãng quên vì những ẩn ý mang tính đạo đức sâu sắc của nó). Các nền văn hóa dân tộc thường được trui rèn trong máu lửa, nó cấm đóan giảng dạy và xuất bản các tác phẩm viết bằng thổ ngữ hay cấm đóan thực hành các tôn giáo và tục lệ khác biệt với những tôn giáo và tục lệ được quốc gia-dân tộc coi là lí tưởng. Bằng cách đó, các quốc gia-dân tộc tại nhiều nước trên thế giới đã áp đặt nền văn hóa ưu trội lên các nền văn hóa địa phương, văn hóa địa phương bị đàn áp và bị lọai bỏ khỏi đời sống chính thức. Nhưng, trái ngược với những cảnh báo của những người sợ tòan cầu hóa, không dễ gì xóa bỏ một nền văn hóa – dù nó có nhỏ đến đâu – nếu đằng sau nó là một truyền thống phong phú và có những người thực hành nó, dù là thực hành một cách bí mật. Và hôm nay, nhờ có sự suy yếu của quốc gia-dân tộc, chúng ta mới được nhìn thấy sự tái xuất hiện của những nền văn hóa đã từng bị lãng quên, bị đẩy ra bên lề và vị bóp nghẹt và thể hiện một đời sống năng động trong sự hài hòa vĩ đại của hành tinh tòan cầu hóa này.

…………

Mario Vargas Llosa là tiễu thuyết gia và trí thức nổi tiếng thế giới. Năm 2010 ông được trao giải Nobel văn chương vì “những thành tựu trong việc mô tả cơ cấu của quyền lực và những hình tượng sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của cá nhân con người”. Ông là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như: Bữa tiệc của con dê (The Feast of the Goat), Cuộc chiến của ngày tận thế(The War of the End of the World), Cô Julia và người viết kịch bản (Aunt Julia and the Scriptwriter), Cô gái không ra gì (The Bad Girl), Cuộc đời thực của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta), và nhiều cuốn khác.

Phạm Nguyên trường dịch

Nguồn: http://studentsforliberty.org/college/the-morality-of-capitalism/

Bản dịch giả gửi VHNA

Đầu đề là do VHNA đặt

…………………………………………………………………………………………………………….

 [i] Dịch thoát ý từ Hispanists, thực ra là nói về cả Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha. 

 

 

 

 

Một biểu tượng của chủ nghĩa Đại Hán VHNA

16 Th4

  •   Hoa Bảy
 

Chân dung Mao Trạch Đông ở Thiên An môn Chân dung Mao Trạch Đông ở Thiên An môn

 

Không rỗi nhưng cũng ngồi đọc hết cuốn “Bác sĩ riêng của Mao” của Lí Chí Thỏa, bản dịch tiếng Việt. Ông bác sĩ họ Lí là thầy thuốc riêng của Mao Trạch Đông từ năm 1954 cho đến khi ông này chết vào năm 1976, cũng là người trông coi việc ướp xác Mao và chứng kiến việc nặn giả hình Mao. Nhiều lúc ông Lí còn gần gũi Mao, cả theo nghĩa bóng, hơn những cận vệ và thuộc hạ trực tiếp. Chẳng hạn, Mao đã cho Lí biết chủ trương “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua nói” (cho giới trí thức, văn nghệ sĩ) chỉ là cái bẫy, là “mồi nhử rắn rết ra khỏi hang” và “thả cho cỏ dại mọc lên” để tận diệt.Cuốn sách của Lí làm hiện rõ chân dung Mao với đặc trưng là “sự tàn nhẫn, vô cảm, xảo trá, tham nhũng, không dung nạp bất đồng chính kiến​​, không muốn thừa nhận thất bại, không quan tâm đến vệ sinh cá nhân, nghiện thuốc an thần Barbiturate, và say mê nhân tình trẻ”(Wikipedia). Cuốn sách cũng cung cấp các chi tiết quan trọng mà trước đó chưa từng được biết về nhiều đồng chí, đồng nghiệp của Mao tại Trung Nam Hải và các sự kiện quan trọng xảy ra trong thời gian Mao cai trị Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Dù rằng sau khi Mao mất, người ta đã tiết lộ nhiều những chuyện “thâm cung bí sử”, -khá kĩ là cuốn “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội” của Tân Tử Lăng (cựu giảng viên học viện quân sự của Trung cộng), tác phẩm của Lí Chí Thỏa vẫn làm “giật mình”.

Khỏi nói những chuyện riêng tư đã rất động trời như: Mao không tắm bao giờ tuy thích bơi lội (hàng ngày có người dùng khăn ướt lau người cho), nhai lá chè thay cho đánh răng, ngủ với không biết bao nhiêu phụ nữ chưa chồng hoặc có chồng (có thể “xài” hai người một đêm, có lúc “rỡn” với năm cô trên chiếc giường riêng rộng quá khổ!), thản nhiên phung phí của công để tôn uy quyền tối cao của mình như cho xây biệt điện hành cung ở các địa phương, cần nhiều người chăm sóc và bảo vệ thường trực, mà họa hoằn lắm mới đến ngự vài ngày, …Cũng khỏi nói những hậu quả bi thảm: gần 40 triệu người dân chết đói trong phong trào “Đại nhảy vọt” cuối những năm 50 thế kỉ trước; nhiều triệu người chết trong “Đại cách mạng văn hóa vô sản” (theo cuốn “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội” thì khoảng 20 triệu); số thương vong khó kể xiết trong những đợt đấu tố từ những năm 1940 trở đi như “chỉnh phong”, “tam phản, ngũ phản”, “cải cách điền địa”, …  Chỉ nói cái uy, cái quyền của “bậc chí tôn” với bốn “vĩ đại” (lãnh tụ vĩ đại, thống soái vĩ đại, người cầm lái vĩ đại, ông thầy vĩ đại) đẻ ra cái tư tưởng “vĩ đại”, xứng đáng là “Lênin thời nay”, -ngôn từ một thời huyễn hoặc và khống chế toàn nước Trung Hoa và ban bố cho cả và thiên hạ. Nhiều tình tiết trong cuốn sách của bác sĩ Lí minh chứng đầy đủ cho cái uy, cái quyền ấy.

Tất nhiên, sá gì với dân đen vốn chẳng được đếm xỉa đến đã đành; với giới trí thức cũng vậy thôi. Ngay giới lãnh đạo chóp bu, những đồng chí, những bạn chiến đấu của Mao, cũng cúi đầu trước cái uy cái quyền ấy, không loại trừ những người hùng mà oai danh một thời trùm khắp nước và vang xa cả ở nước ngoài. Bành Đức Hoài, nguyên soái tổng tư lệnh quân đội từng chỉ huy quân kháng Mĩ viện Triều, chỉ viết thư riêng trình Mao về nỗi điêu linh của dân quê do quốc sách “Ba ngọn cờ hồng” mà bị đưa ra phê phán, qui kết tội đồ rồi cách tuột mọi chức vụ và đầy đọa cho đến chết. Lưu Thiếu Kì, nhân vật số hai được Mao “dự kiến” cho kế vị ngôi “số một”, đương kim chủ tịch nước, người có công đầu vá víu lại đất nước tan hoang vì đường lối hoang tưởng của Mao, nhưng không nắm được thâm ý của ông ta lại làm cho ông ta nghi ngại tham vọng của mình, nên đã bị đẩy ra cho bọn tiểu tướng lau nhau hồng vệ binh truy bức hành hạ ngay trong phủ chủ tịch nước, giam giữ luôn tại đó, cuối cùng rồi thân tàn ma dại “được” chết tại một xó vô danh như một kẻ ăn mày thảm hại nhất. Đặng Tiểu Bình tuy khôn ngoan hơn, không nói thẳng như Bành, không để hở sườn như Lưu, nhưng cũng bị đám tiểu tướng đấu tố, và hai lần bị hạ bệ. Đến như Chu Ân Lai, thủ tướng từ ngày thành lập nước CHNDTH cho đến lúc ông ta mất năm 1976, một người khôn khéo, người mà trong lần thăm dò dư luận của một cơ quan truyền hình Bắc kinh năm 1992 được 100% phiếu tín nhiệm, trong khi Mao được chưa đến 2% (theo tờ “Kính báo” Hông Công –Tân Tử Lăng dẫn lại), người khá nổi tiếng cả ở nước ngoài, lại là người phục tùng, nịnh bợ Mao nhất, theo nhận xét của bác sĩ Lí, cho đến đỗi một lần đang họp được tin gì đó từ dinh Mao ông ta bĩnh ra quần phải vội vàng thay nội y mới đến chỗ Mao được (Chỉ trong hồi kí của bs Lí mới có được những tiết lộ loại này. Chả trách Trung cộng “la lối” cuốn sách và xóa tên cùng mọi vết tích của Lí Chí Thỏa khỏi các lưu trữ về Trung Nam Hải thời Mao, phi tang, tạo cớ để phủ nhận những sự thật được phơi bày trong quyển hồi kí của bác sĩ Lí!).

{Không một ai dám làm trái ý Mao. Ngay Đặng Tiểu Bình, người đã dám nói vụng ám chỉ Mao: “Không ỉa ra cứt mà cứ ôm lấy nhà xí chẳng cho ai vào cả”, cũng không dám công khai phản bác. Vậy mà có một người, cô Trương Ngọc Phượng, vừa là y tá hầu cận vừa là người tình của Mao, đã dám chửi ông ta. Lí Chí Thỏa kể đã có lần nghe cô ta cãi nhau với Mao: “chủ tịch chửi mẹ tôi nên tôi chửi lại”. Lần khác, khi Mao dọa sẽ trừng phạt, cô ta nói: “Nếu không làm được, chủ tịch là con chó!” (!) [Rõ là “thần l. ám ảnh cũng mê mẩn đời” chăng?!]}.

Mao đã “ra đi” gần bốn chục năm rồi, chẳng nên nói đến nữa làm chi. “… chết là hết chuyện” nhưng thật ra nào chuyện đã hết! Không chỉ là những “câu hỏi lớn không lời đáp”. Chẳng hạn, làm sao những con người từng vùng lên chống áp bức bóc lột và lôi kéo hàng triệu quần chúng đi theo, những con người từng chiến đấu vào sinh ra tử, những con người từng nuôi “lí tưởng giải phóng nhân loại”(!) lại có thể trở nên bé nhỏ, hèn hạ, thậm chí ti tiện trước một con người vốn từ cùng hàng ngũ mà ra, từng là “đồng chí” của nhau? Phải chăng lí do trên hết là ở Mao tích tụ “chí nhớn” của họ. Nữa, chẳng hạn, từ “cải cách, mở cửa” về sau, “chí nhớn” ấy “di căn cốt lõi” ra sao? …

Ở Trung Quốc, kết tinh những “chất liệu” làm nên “uy” và “quyền” kia. Truyền thống quân quyền tuyệt đối liên tục hơn hai nghìn năm chìm đắm trong đạo “tôn quân” của “thánh” Khổng chẳng thể dễ gột bỏ sau năm 1911. Mặt khác, chủ nghĩa bành trướng đại Hán cũng trườn mình suốt hơn ba nghìn năm, tuy có lúc phải nép mình trước “ngoại tộc” song rồi thôn tính luôn kẻ đô hộ mình, hình thành nên tinh thần và ý thức “thần dân con trời”. Dân chúng, kể cả tầng lớp “tinh hoa”, nhiễm những truyền thống ấy cần một “đấng chí  tôn” để sùng bái. Đây là “lợi địa” để cho thế lực nào đó đứng lên lập nên chính quyền chuyên chế nhất thống. Mao và những người cộng sản Trung Quốc là một thế lực như thế. Nhưng nếu không dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin làm công cụ mê hoặc và tập hợp quần chúng, không có thời cơ là cuộc xâm lăng của Nhật-bản thất bại trong thế chiến thứ hai, và không có sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên-xô (xưa) thì họ chẳng dễ mà đoạt được quyền hành từ tay Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân đảng, một thế lực chẳng hề kém cạnh về tham vọng chuyên chế, cái thế lực đã xướng xuất ra cái hình “lưỡi bò” trơ tráo trên biển Đông mà nay Bắc kinh chính thức bám chặt lấy!

Nay hết thời Mao rồi thì Trung Nam Hải “tỉnh giấc mơ” chứ? Đúng là sau cơn bát nháo: sức sản xuất phong kiến + quan hệ sản xuất vừa “nô lệ” vừa “cộng sản nguyên thủy” + thuyết chủ nghĩa xã hội hoang tưởng, họ đã tỉnh ra, nhưng chưa (hoặc không) rứt được thứ (mệnh danh hay bán rao là) “chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc”, có nghĩa là đối nội vẫn là chuyên chế toàn trịđối ngoại vẫn là bành trướng bá quyền đại Hán (duy, chỉ khác là với vế trước thì bớt mê tín ma mị, còn vế sau thì thêm trắng trợn ngang ngược). Thay vì “một thiên tử đỏ” là “một tập (mượn từ của lí thuyết tập hợp) thiên tử đỏ”, chứ chẳng hề là “giai cấp công nhân lãnh đạo xã hội”(!). Thay vì trương khẩu hiệu “chống phục hồi chủ nghĩa tư bản” (tuy thâm tâm Mao vẫn hướng tới Hoa Kì, -ông ta cho Chu Ân Lai chìa tay ra với Mĩ ở hội nghi Genève năm 1954 nhưng không đắt, ông ta học tiếng Anh chứ không học tiếng Nga, …), thay vì “tiêu diệt” là “phục hồi” tư sản (đỏ) trong cái chế độ không mang danh tư bản chủ nghĩa!

Thế cũng tốt chứ? Chẳng phải nay TQ giàu mạnh nhanh đến chóng mặt sao! Đúng là tiến nhanh thật, như nước Đức thời đảng Quốc xã cầm quyền, như Liên xô xưa thời “vàng son”. Tư sản đỏ TQ thừa hưởng cái “gien” làm ăn của giới tư sản Tàu trước đây [Phải thừa nhận người TQ biết làm ăn. Một quan chức HP hồi còn bao cấp đi tham quan bên Tàu về nói “một người bên họ làm việc bằng bốn người mình”(!)]. Lại được chế độ độc tài toàn trị hiện đại hóa “lãnh đạo” học cung cách làm ăn của “tư bản rẫy chết” một cách bài bản và có bản lĩnh. Vậy ra độc tài cũng “hay” đấy nhỉ! Ờ, có thể! Với đối tượng nào đó, trong điều kiện nào đó, vân vân. Tuy nhiên, rồi ra kết cục chẳng thế nào tốt đẹp đâu! Nếu không đi đến làm loạn thế giới do tham vọng bá chủ để rồi bị tiêu diệt như Đức quốc xã thì cũng đi đến suy tàn và sụp đổ do tự làm ruỗng mình với những mâu thuẫn nội tại như Liên-xô xưa. Chẳng chế độ độc tài nào ngự trị được mãi; vấn đề là chóng hay chầy và kết thúc theo cách nào.

Dân tộc Trung Hoa là dân tộc vĩ đại. Song le, ranh giới giữa tinh thần dân tộc và chủ nghĩa dân tộc khá mong manh. Niềm tự hào dân tộc dễ bị kích lên tính tự đại dân tộc. Chẳng lẽ phản ứng của người Nga trước sự kiện bán đảo Crưm sát nhập vào nước Nga vừa đây không nói lên điều gì ư? Uy tín của tổng thống Nga Putin đang dần giảm sút vì sự chuyên chế, bỗng tăng vọt lên 80% theo một kết quả điều tra độc lập. Lí Chí Thỏa từng hãnh diện vì Mao “dám đương đầu với đế quốc Mĩ ở Triều Tiên”. Tân Tử Lăng từng phục Mao đã coi Khơrútsốp chẳng là cái đinh gì (chỉ ngại Stalin thôi). Cả hai người này đều đã vỡ mộng về Mao. Nhưng nếu cái “vĩ đại” của Mao làm tôn sự vĩ đại của đất nước và dân tộc Trung Hoa thì đánh giá của họ có thể khác.

Những người mệnh danh cộng sản kế tục Mao thống trị Trung Quốc vẫn quyết liệt đeo đuổi “giấc mơ Trung Hoa”, giấc mơ về một cuộc “phục hưng vĩ đại” mà hẳn người tiền bối “4 vĩ đại” hằng ôm ấp. Họ tiếp tục “giáo dục” người dân TQ về chủ nghĩa dân tộc cực đoan bằng những thủ đoạn thâm hiểm hơn.

Với chân dung và “công tích” của Mao Trạch Đông như vậy mà người ta vẫn trưng ảnh ông sừng sững trước lầu Thiên An môn! Nó không chỉ là biểu tượng của tư tưởng Mao Trạch Đông cũ rích và lỗi thời, mà hơn mọi thâm ý khác, đây là một thứ “biểu tượng” bành trướng bá quyền đại Hán ./.

  

Thượng nghị sỹ Mỹ Patrick Leahy thăm VN – BBC

16 Th4
 
Cập nhật: 04:23 GMT – thứ ba, 15 tháng 4, 2014

Ông Patrick Leahy là Thượng nghị sỹ Dân chủ từ bang Vermont

Chủ tịch Thường trực Thượng viện Hoa Kỳ Patrick Leahy thăm Trung Quốc, Việt Nam và Hong Kong trong chuyến đi ‘hoạch định chính sách’.

Văn phòng của ông Leahy cho hay trong một thông cáo rằng ông thượng nghị sỹ sẽ được dân biểu Peter Welch và một đoàn quan chức hạ viện lưỡng đảng tháp tùng.

 

Chuyến thăm Á châu từ 12/4-23/4, bên cạnh các chủ đề khác, sẽ đặt trọng tâm là luật sở hữu bản quyền trí tuệ, nhân quyền và riêng ở Việt Nam có nỗ lực nhân đạo như khắc phục hậu quả chất độc Da cam và bom mìn từ thời chiến tranh Việt Nam.

Ông Patrick Leahy sẽ thăm Việt Nam từ thứ Ba 16/4 tới Chủ nhật 20/4.

Ngay trước chuyến thăm của ông, chính quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn cho hai nhân vật bất đồng chính kiến có tiếng là hai ông Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung.

Việc trả tự do được nói là “vô điều kiện” và “bất ngờ” ngay cả cho hai vị tù nhân lương tâm này.

Chuyến thăm của ông Leahy được cho là rất quan trọng trong việc quyết định hợp tác song phương, mà Việt Nam hy vọng sẽ đẩy lên một thang bậc mới.

Thông tấn xã Việt Nam khi đưa tin thông báo: “Chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Thường trực Thượng viện Mỹ Patrick Joseph Leahy được kỳ vọng sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa hai cơ quan lập pháp hai nước”.

‘Giai đoạn hợp tác mới’

Ông Patrick Leahy sinh năm 1940, là Thượng nghị sỹ theo đảng Dân chủ đại diện cho tiểu bang Vermont.

Ông là Chủ tịch Ủy ban Tư pháp của Thượng viện Mỹ.

Thông cáo của văn phòng ông nói tại Việt Nam, phái đoàn Hoa Kỳ sẽ có các cuộc gặp với lãnh đạo chính phủ, đại diện xã hội dân sự, sinh viên luật của Việt Nam, những người tham gia các chương trình trao đổi Hoa Kỳ-Việt Nam và đại diện doanh nghiệp Mỹ.

Tại Hà Nội, đoàn của ông Leahy cũng sẽ có cuộc gặp với Giám đốc Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ Gina McCarthy, người cũng đang có chuyến thăm Việt Nam.

Đoàn nghị sỹ Hoa Kỳ cũng sẽ thăm nơi cơ quan viện trợ Mỹ USAID đang hỗ trợ tiến hành giải trừ chất độc dioxin ở Đà Nẵng, một bệnh viện và trung tâm phân phối xe lăn cũng nhận hỗ trợ từ cơ quan này. Ông Patrick Leahy chủ trì ủy ban đánh giá và quản lý ngân sách của USAID.

Nhân quyền là một trong các lĩnh vực quan tâm của ông Chủ tịch Thường trực Thượng viện Hoa Kỳ.

Ông Leahy nhiều lần tuyên bố rằng với tư cách quốc gia “giàu có nhất, hùng mạnh nhất thế giới, Hoa Kỳ cũng có một loạt quyền lợi và trách nhiệm rộng lớn trên toàn cầu, từ phát triển đầu tư thương mại tới đấu tranh chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ủng hộ nhân quyền”.

Ông cũng là một trong các nhân vật ủng hộ quan hệ với Việt Nam, đã bỏ phiếu thuận cho việc bỏ cấm vận Việt Nam năm 1994 và thông qua quy chế bình thường hóa thương mại với Việt Nam.

Thêm về tin này

 

Chủ đề liên quan

Thế giới 24h: ‘Ukraina trên bờ vực nội chiến’ – Vnn

16 Th4

Kiev điều động khí tài hạng nặng tới trấn áp miền Đông, Thủ tướng Nga nói rằng Ukraina đang trên bờ vực nội chiến, công việc tìm kiếm MH370 trở ngại… là những tin nóng những giờ qua. 

TIN BÀI LIÊN QUAN

 

Tin nổi bật

Donetsk, trấn áp, Ukraina, MH370
Xe tăng và pháo tự hành của Ukraina đổ về thị trấn Slavyansk. Ảnh: RIA

Hãng tin BBC cho hay hàng loạt xe tăng của chính quyền Kiev đang tiến về thị trấn Slavyansk thuộc vùng Donetsk của Ukraine. 

Đài Tiếng nói nước Nga dẫn lời người đứng đầu chính quyền thị trấn là Vyacheslav Ponomarev xác nhận thông tin xe tăng và vũ khí tự hành của Kiev đang di chuyển về phía thị trấn này.

Ponomarev cho biết lực lượng dân quân tự vệ Donbass đang tích cực chuẩn bị phòng ngự, tuy nhiên, ông này cũng nói thêm là người dân tại đây đang có ý định đàm phán chứ không muốn đổ máu. 

Trước đó, quyền Tổng thống Ukraina Aleksandr Turchinov đã tuyên bố sử dụng vũ lực để trấn áp những người biểu tình chống chính phủ ở phía bắc vùng Donetsk, miền đông Ukraina sau khi những người này bỏ qua tối hậu thư của ông đưa ra. 

Trong bối cảnh này, Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev viết trên trang mạng cá nhân của mình rằng Ukraia đang trên bờ vực của nội chiến. 

“Một lần nữa, máu lại đổ ở Ukraina. Đất nước lại đứng trước ngưỡng cửa nội chiến” – ông Medvedev viết. Theo ông, đây là một thảm kịch’ vì lãnh đạo mới của đất nước khoogn thể duy trì luật pháp và trật tự. 

Ông Medvedev nói rằng các nhà chức trách Ukraina đã rơi vào cái bẫy của chính mình. “Thật đáng tiếc là người dân đã trở thành con tin của những chính trị gia thiếu năng lực mà họ không bầu nên, và cả những người cấp tiến vô trách nhiệm đã thay thế quân đội và cảnh sát”.  

“Tình trạng hỗn loạn đã lấp đầy khoảng trống chính trị” – Thủ tướng Nga bình luận. 

Tin vắn 

Các công tố viên Libya đã bắt đầu mở phiên xét xử các con trai và các quan chức dưới thời Tổng thống bị lật đổ Muammar Gaddafi và đây được coi là một phép thử lớn đối với hoạt động chuyển giao sang dân chủ ở quốc gia Bắc Phi này. 

Đại sứ Jordan tại Libya, ông Fawaz al-Itan, đã bị bắt cóc sau khi các tay súng bịt mặt tấn công ôtô của ông và bắn người lái xe. 

Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đã cảnh báo Kiev không dùng vũ lực để đàn áp những phần tử ly khai ủng hộ Nga tại miền đông Ukraina, vì hành động “tội ác” như vậy sẽ gây tổn hại đến cuộc đàm phán dự kiến tại Geneva. 

Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Dương Quang Thành đang bị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Tỉnh ủy Vân Nam điều tra do nghi liên quan đến các hành vi vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng. 

Nhân vật tạm quyền đứng đầu cơ quan hành chính thành phố Slavyansk kiêm chỉ huy lữ đoàn tự vệ thành phố cho biết lữ đoàn dù số 25 của Ukraine đã quay sang ủng hộ người biểu tình thân Nga. 

Hai ứng viên Tổng thống Ukraina đã bị đánh trọng thương trước khi có cuộc tranh luận trên truyền hình với cựu Thủ tướng Yulia Tymoshenko. 

Các hoạt động kỷ niệm một năm vụ đánh bom cách đây một năm tại giải chạy Marathon  diễn ra trên khắp thành phố Boston của Mỹ. 

Công việc tìm kiếm máy bay mất tích của Malaysia đã gặp trở ngại nhất định do vùng biển quá sâu đối với thiết bị lặn.  

Quyền Tổng thống Ukraina Aleksandr Turchinov đã tuyên bố trấn áp những người biểu tình chống chính phủ ở phía bắc vùng Donetsk, miền đông Ukraina. 

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký một sắc lệnh bổ nhiệm ông Sergey Aksyonov làm lãnh đạo lâm thời của Cộng hòa Crưm. 

Hải quân Trung Quốc bác bỏ thông tin cho rằng họ đã làm Nhật Bản bẽ mặt khi không mời Tokyo tham gia duyệt binh hải quân trong một hội nghị chuyên đề quốc tế, và nói rằng hai sự kiện này không liên quan tới nhau. 

Thông tin trong ảnh 

Donetsk, trấn áp, Ukraina, MH370
Hơn 5000 lính cứu hỏa, cảnh sát, nhân viên bảo vệ rừng, binh sĩ và thủy thủ cùng các công nhân bảo vệ dân sự tham gia cứu nạn trận hỏa hoạn kinh hoàng tại thành phố cảng Valparaiso, Chile, nhưng ngọn lửa vẫn chưa được khống chế hoàn toàn.

Phát ngôn ấn tượng 

Donetsk, trấn áp, Ukraina, MH370
“Sẽ tốt đẹp nếu Nga tránh xa các hành động bạo lực và phi pháp của những người biểu tình ủng hộ Nga” – ông Frank-Walter Steinmeier, Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier nói.

Sự kiện 

16/4/1947 – Cố vấn chính trị người Mỹ Bernard Baruch trở thành người đầu tiên sử dụng cụm từ “Chiến tranh lạnh” để miêu tả quan hệ Mỹ – Liên Xô. 

16/4/2007 – Cho Seung-Hui gây ra vụ thảm sát Đại học Bách khoa Virginia tại Hoa Kỳ, khiến 32 người chết và 23 người bị thương. 

Lê Thu (tổng hợp)

%d bloggers like this: