Lưu trữ | 8:56 Sáng

Thơ hiện đại – cảm hứng và thi pháp – VHNA

18 Th4

  •   Đỗ Minh Tuấn
 

 I. Đức hạnh mới của con người vũ trụ

Mỗi một cách tân văn học đều có cơ sở triết học, mỹ học riêng của nó, thể hiện rõ nhất ở quan niệm về con người và phương thức văn hoá biểu hiện con người ấy. Thơ ca nhân loại thế kỷ XX đã có nhiều nỗ lực cách tân với nhiều trường phái gây ảnh hưởng nhiều mặt trong đời sống và sáng tạo thơ ca Việt Nam. Nếu như Thơ Mới có nhiều bài thơ tượng trưng, siêu thực thì thơ của một số cây bút trẻ hôm nay lại rất gần với trường phái Beat trong thơ Mỹ.

Thơ hiện đại mang những giá trị thời đại, nó sẽ trở thành truyền thống theo lôgíc truyền kiếp của tiếp biến văn hóa nên nó chỉ là phát triển biến dạng tinh vi của những giá trị thơ ca truyền thống chứ không hề phủ định những giá trị này. Nghiên cứu thi pháp của thơ hiện đại, chỉ ra những khác biệt của nó về đam mê và hình tướng trong so sánh với thi ca truyền thống cũng là để lần tìm trong cái rối bời cảm xúc và ngôn ngữ của nó một đầu mối mong manh liên kết sự hỗn loạn phù du của nó với cái gốc văn hoá, tâm linh và đời sống đã hiển nhiên trong tư cách nền tảng của giá trị thơ ca.

Trong nỗ lực cách tân của thơ ca hiện đại, con người dường như đang được phá ra làm lại, y như sửa lại một bản thảo với gạch xoá và thêm bớt. Con người bị xoá đi cái đường viền quen thuộc như ngàn xưa, cái đường viền tạo nên ranh giới giữa nó với tự nhiên và xã hội, giữa trần gian và vũ trụ. Để biểu hiện cái sức sống mởi mẻ, mãnh liệt và cái tâm thức giắng xé quằn quại của thời đại, con người hoá thân thành rất nhiều sinh thể khác nhau trong thơ. Nó cũng phân thân thành từng linh kiện, cái lưỡi, ngón tay, đôi mắt, chứng minh thư, mùi xoa, chiếc ghế… tất cả giờ đây chẳng ở yên trong trật tự của cái Tôi, một người tình, một công dân… mà náo loại đổi chỗ, đổi ngôi bứt khỏi nhau, vượt thoát khỏi lực hút của những trật tự cũ, những ý nghĩa cũ để lơ lửng trong thơ như những sinh thể riêng của vũ trụ. Chúng dường như đang sống trong nhịp đập của những thân phận vũ trụ vừa kỳ vĩ lớn lao, vừa thầm lặng bé nhỏ, vừa như đánh mất con người xã hội lại vừa như mở rộng đến vô cùng cuộc sống trần gian, là chứng nhân cho sự mở rộng nhân cách con người trong sự đồng cảm với những sinh vật khác.

Con người trong thơ hiện đại trở nên  khoáng đạt, đôi khi ngông ngạo. Nó chẳng con giữ cái nhìn thiêng liêng sùng kính vào vũ trụ, vào người yêu, vào lãnh chúa như xưa. Nó lôi tuột vũ trụ huyền ảo về làm đồ vật thường ngày của nó: đám mây làm tã lót, sông Ngân Hà là con sông đục ngầu bởi mỏ vịt mò cua, tia nắng như lạt buộc, vầng trăng như cốc thủng, cây xanh thì tự xé rách lưỡi mình ví ngứa, những con chim thì bay lên như mí mắt người chết sống lại từ từ mở ra… Cả một vũ trụ bị đời thường hoá, đồ đạc hoá, còn đâu cái xa vời, lung linh, hư ảo của ngày xưa. Lý Bạch xưa chỉ dám coi trăng như bạn rượu, lịch sự và khát khao mời mọc. Looca thấy túi tiền xu  như “vầng trăng trăm đầu”, khắc khoải ám ảnh bởi cái khoảnh khắc “khi vầng trăng hiện”. Trăng trong thơ  xưa bao giờ chẳng xa, đẹp và thánh thiện, chẳng mấy ai ví nó như một đồ vật tầm thường như thi sĩ hôm nay. Có một sự đảo lộn và đổi chất trong quan niệm và cảm thức về cái thi vị, thiêng liêng. Thi sĩ hiện đại nổi loạn, lật đổ những  ngôi vị thiêng liêng thơ mộng, những khát vọng trần  thế để chiếm lĩnh vũ trụ, giống như Tôn Ngộ Không nhảy tót lên thiên đình vỗ vai Ngọc Hoàng và ngốn ngấu đào thiêng. Sự nổi loạn này có cội nguồn dân chủ và thực dụng, song nó không phải là dấu hiệu của sự khô đạo. Nó chỉ là sự đảo chính tôn giáo, lật đổ những Chúa Trời cũ, những thần tượng biểu tượng thơ ca cũ để xây dựng một tôn giáo mới, một chủ nghĩa trữ tình mới, ở đó những sinh vật bé nhỏ, những đồ đạc vốn tầm thường được trân trọng, lên ngôi, nhảy múa điên cuồng, thậm chí lung linh, tung tẩy trong áo mới như trong ngày hội. Nếu thơ xưa là ngày hội của quần chúng của thánh thần trong lịch sử và trong vĩnh cửu, thì giờ đây, thơ là ngày hội của các sinh vật nhỏ bé trong đời thực và trong vũ trụ. Chúng vừa được các nhà thơ đưa  lên ngôi Chúa tể của thi hứng và được chia một mảnh trăng, một mảnh lịch sử, một mảnh  cô đơn, một mảnh tình yêu, một mảnh hư vô …  Chúng gói ghém tất cả hành trang ấy trong cái tay nải thùng thình của ngôn ngữ chất lên vai và lết đi, trườn đi, như một lực lượng mới gánh vác tất cả những sứ mệnh vũ trụ, lịch sử, tôn giáo và thi ca của hàng ngàn năm, trườn đến cái đích vô định mà thậm chí các nhà thơ hiện đại cũng không hình dung được. Các nhà thơ hiện đại không chỉ bàn giao cho chúng sứ mệnh và thân phận của con người, họ còn trao cho chúng tất cả tình yêu và nghi lễ, những bài hát đưa tang, những khẩu hiệu tự do. Và thế giới hiện lên trong thơ hiện đại giống như giọt nước nhìn qua kính hiển vi nhung nhúc những sinh thể bé nhỏ, lấp lánh, điên cuồng, sợ hãi và tội nghiệp. Chúng giống như nạn nhân, bầu bạn và cứu tinh của con người, là nơi pha trộn cái  bất lực, cái thi vị thiêng liêng, cái thảm hại đáng thương của đời sống hôm nay và hy vọng của ngày mai.

Con bọ chó trong thơ, giờ đây, đâu phải là con bọ chó tầm thường bẩn thỉu của ngày xưa, mà đã trở nên một sinh vật hùng tráng mang trong nó cái nguyên lý vũ trụ  mênh mang mà con người vừa giác ngộ. Nó không còn là ký sinh trùng của một sinh vật quen thuộc trong thế giới quen thuộc của con ngươì mà đã trở thành một đại biểu của một thế giới mới mà con người vừa mới khám phá và đang còn say sưa thám hiểm – thế giới vi mô vô cùng vô tận, thế giới sinh học kỳ bí khôn lường, thế giới vô lượng kiếp trong cái nhìn nhà Phật, thế giới của những tiết tấu vũ trụ thầm kín mà hùng tráng nơi con người đã giác ngộ sự bất lực hữu hạn để khao khát hoà vào trong vũ điệu kỳ ảo của thiên nhiên. Bởi thế, nhà thơ hiện đại chẳng ngại ngần ký thác những tâm sự thời đại kỳ vĩ, những ám ảnh triết học khôn nguôi vào những bầu bạn mới vốn nhỏ bé và gớm ghiếc. Nhà thơ biết rằng, trong cách đo khác thường của giá trị thơ ca, con bọ chó, chú ốc sên có tầm vóc chẳng thua những ông vua, những anh hùng trong thơ ca truyền thống vì trong tư cách những hình tượng và biểu tượng những sinh vật bé nhỏ và yếu ớt kia có thể là điạ chỉ cuối cùng của hy vọng nơi những hồn thiêng của những anh hùng và những vĩ nhân tạm thời nương náu trong cơn thương khó bị xua đuổi khỏi lốt người. Nhà thơ có thể viết những bài thơ hùng tráng ca ngợi cuộc đấu tranh của chúng để kéo dài sự sống trong một kẽ lá khô, ca ngợi cái khát vọng muốn tận hưởng ánh trăng mà lâu nay chỉ dành riêng cho con người tận hưởng. Trong mắt nhà thơ hiện đại các sinh vật tầm thường bé nhỏ cũng đã được nhìn nhận như những vệ tinh mang nhân cách con người. Chúng là những công dân mới của vương quốc thơ ca mang trong mình cả cái phi thường và cái phàm tục, cái vô tận và cái nhỏ bé của nhân loại hôm nay. ở  những bài thơ hay, chúng trở thành những ứng cử viên có hạng của sự tìm kiếm nhân vật thời đại vì chúng chính là những mảnh vụn của một vũ trụ thơ vừa bị phá nát vẫn cố mang cái sức mạnh, cái cao cả của vũ trụ trong cái vóc dáng bé nhỏ tội nghiệp… Chúng chỉ còn cố làm vẻ kiên trì đạo lý, làm nơi cư trú của tinh thần vũ trụ trong sự trốn chạy của một thế giới hư nát, thực dụng. ở những bài thơ xoàng, những nhân vật này chỉ là những con giòi nhốn nháo và lơ lửng đục khoét thi thể kiều diễm của Nàng Thơ, chúng thiếu đức hạnh của tôn giáo và vũ trụ. Dù ở cực nào thì những sinh vật nhỏ bé, những đồ đạc tầm thường trong thơ hiện đại cũng bộc lộ rõ xu hướng khước từ cái vĩ mô cổ điển, phổ những gì thi vị thiêng liêng cao cả vào những cái vi mô, cái đời thường. Đó là cách lặn sâu vào thế giới, thám hiểm những đường hầm chật chội bên dưới những nền tảng  đời sống ù lì quen thuộc và nhàm chán.

Nhà thơ hiện đại đập nát vũ trụ thơ cũ và đập nát cả con người anh ta, cả gia đình, xã hội, cái tôi. Gia đình chẳng còn quyến rũ như tổ ấm, nó hiện lên trong thơ hiện đại như nơi cư trú của cô đơn, goá bụa, nơi gặp gỡ của những kẻ đi hoang, những kẻ ngoại tình, những chiếc mạng nhện, những con gián rung râu. Xã hội trở thành cái chợ nháo nhào những sách thánh, những xa lông, những xi líp, phao bơi, ly chén và ngỗng quay – nhốn nháo, ô hợp và dung tục. Còn con người, cái tôi, cả linh hồn và thân thể đều đang bị đập ra, mỗi bộ phận quấy lộn như một con thú muốn đòi riêng quyền sống, quyền tự trị. Cái lưỡi từng kiêu hãnh là kẻ phát ngôn những lời cao siêu tinh tế, giờ đây cũng không chịu nằm yên trong miệng mà cố trườn ra như rắn. Thân thể đòi quyền là một xác chết ngay khi nhà thơ còn sống. Móng tay tầm thường đòi trở thành  chiếc lông chim ngũ sắc…  Nhưng những đổ vỡ đó, những nhốn nháo ô hợp đó lại phát lộ một nỗi đau sâu sắc của nhà thơ thông qua những ấn tượng ghê sợ về sự dung tục của xã hội đương đại nơi con người có nguy cơ xuống cấp thảm hại về văn hoá. Tất cả những ấn tượng, cảm giác, những quấy lộn có màu sắc bệnh hoạn, nổi loạn đó là dấu hiệu hoang mang khắc khoải của một thời đại thi ca trong cảnh ngộ mất đi lực hút của những ý nghĩa nền tảng làm nên cấu trúc tổng thể của con người xưa và vũ trụ xưa. Chính là ý nghĩa sống, ý nghĩa xã hội, những giá trị lịch sử, những biểu tượng văn hoá cũ đã mất đi lực hút để cố kết tất cả những sinh thể và đồ vật của thế giới bên trong và bên ngoài thi sĩ, nên thi sĩ hiện đại quằn quại rên siết trong  sự cứa xát của hàng triệu mảnh vụn vỡ của thế giới, nhạy cảm đớn đau, chạy trốn, khóc gào, điên dại và vơ váo nhưng vẫn không thôi mơ mộng khát khao cái đẹp và hướng thiện. Tất cả những sự loạn luân của con người với đồ vật,  sinh vật và chủ nghĩa chỉ là cơn hoan lạc thi ca của những kẻ cùng cảnh ngộ  đi hoang, vật vã  đam mê, đớn đau trong bản năng vũ trụ, bản năng chữ, bản năng người. Cuộc loạn luân thơ ấy,  thi pháp quần hôn mông muội ấy có thể không đẻ ra ý nghĩa cuộc đời, mà chỉ sản sinh ra cảm giác và ấn tượng. Nhưng điều đó không hề là dấu hiệu mất đi của chủ nghĩa nhân văn. Trái lại, đó là một chiều kích mới của chủ nghĩa nhân văn, không chỉ vì những ấn tượng và cảm giác đó vẫn thường khơi gợi những miền ký ức văn hoá thiêng liêng, những cảm hứng sáng tạo lành mạnh, mà chính vì đó là sự rên xiết của con người, cỏ cây và đồ vật trong một thế giới đã hư nát bởi sự đầu độc của văn minh vật chất, của những vụ cưỡng hiếp văn hoá, của những ảo tưởng tham lam, ti tiện, thù địch ngày ngày với ý tưởng nhân văn hằng sống trong thơ và tâm khảm các nhà thơ. Hơn thế nữa, trong thi pháp quần hồn mộng muội ấy đã lấp ló một đức hạnh của cảm thức hoà đồng quán xuyến trong cái nhìn vũ trụ và xã hội của con người phương Đông xưa. Cái đức hạnh sâu sắc khôn ngoan của con người công dân vũ trụ ấy trong đời sống tinh thần của con người Tây phương là khát vọng chinh phục vũ trụ, là ý thức về môi trường, là đạo đức học sinh thái, một đạo đức mới  mà sự xuất hiện của nó đã gặp nhiều sự phản đối vì nó phá vỡ cấu trúc của chủ nghĩa nhân văn truyền thống. Dù ta quan niệm rằng cái đức hạnh vũ trụ khoáng đạt kia đã hạ thấp con người xuống tầm sâu bọ và sỏi đá hay đã nâng sâu bọ, rác rưởi lên ngang tầm con người, thì đó cũng là một thực tại tinh thần đang hiện diện, ám ảnh và day dứt trong tâm khảm các nhà thơ hiện đại đích thực. Và sự phập phồng của những thân phận vũ trụ khác xa với sự đập phá con người, xã hội và ngôn ngữ ở các chiều sâu triết học và những năng lượng thi ca.

II. Sự đầy đoạ ngôn từ

Hay là những ám ảnh của siêu ngôn ngữ

Trong thơ hiện đại bài thơ hay giống như một làn hương ám ảnh mà khó nắm bắt, thức dậy mà khó định hình, nó như con chim sôi động vỗ cánh trên tay nhà thơ và vút bay đi. Nhà thơ không buộc nó bằng  một sợi dây ý tưởng như ngày xưa mà chỉ có thể chỉ tay lên khoảng không mông lung với cái nhìn ngẩn ngơ tiếc nuối. Thơ hiện đại là cái lá tươi non run rẩy trên cây hoặc nhàu nát trên tay, giữa những ngón bối rối, xé nát nó như người ta vẫn làm trong khoảnh khắc im lặng bên người yêu. Và, chiếc lá ngôn ngữ bị xé nát toả ra một làn hương bí ẩn của tâm trạng và của thiên nhiên cái hương lá thoảng qua có vẻ thứ yếu ấy ngờ đâu lại chính là kẻ lưu giữ ký ức, kỷ niệm, tình yêu, mang cái mã của khoảnh khắc bí ẩn kia để rồi có thể bất chợt bùng lên trong tâm trí. Đó là siêu ngôn ngữ, đó chính là thơ… Nếu như thơ xưa cố gắng mô tả bằng cái nhìn quan sát tỉnh táo mọi lời đối thoại, mọi quẫy lộn tinh tế của tâm hồn làm hiển hiện trên trang giấy cái hình hài rõ mồn một của sự bí ẩn tâm lý và  nhịp đi của cuộc sống, thi thơ ca hiện đại tìm một cách riêng, bằng sự dày vò, đoạ đầy ngôn ngữ cố làm cho  tâm hồn và cuộc sống tự nó toả hương.

Thơ truyền thống kể về sự thiêng liêng, đó là ngôn ngữ của các thầy chùa nói về các bí tích, các vị thần đang thờ phụng và các tấm lòng công đức ngưỡng mộ của tín đồ. Đôi khi nhà thơ cũng cảm nhận được cái run rẩy mơ hồ tinh tế đâu đây của một nguồn thơ vô hình, vô địa chỉ,  nhưng sự tinh tế ấy, cái mơ hồ phiêu lãng ấy lại được kể lại, được hiện hình lên quá nét, quá tỉnh, quá rạch ròi, nó mất đi các chiều kích của hư vô làm nên bí ẩn và thấp thoáng. Thơ hiện đại cố gắng trình bày một bàn thờ mà ở đó chân  dung các tượng thần có phủ một chút bóng tối thần bí, tạo nên chiều sâu của khoảng cách giữa thần thánh và trần thế khiến người đọc thơ có cơ hội đối diện với thần thánh đích thực, một sự đối thoại run rẩy có pha im lặng,  từ chối và hoà nhập, không phải là sự đối thoại giữa khách viếng thăm với người quản lý chùa như thơ xưa. Những cảm xúc lớn hay những cảm xúc tinh tế đều cố gắng hiện diện  trực tiếp qua bản thân hình thức trong hình thức có thêm chiều kích, lương tri của đời sống và của hư vô, không còn là một mặt phẳng rạch ròi và đơn điệu của sơ đồ thiết kế hay bản báo cáo về linh hồn và cuộc sống. Thông qua hình thức nhà thơ đưa tới hay thức dậy cho người đọc cái tính chất cái hồn vía của đời sống đích thực, run rẩy, tươi mới, sống động chứ không phải trình bày một đời sống đã  đóng hộp trong các lô gích, sự kiện và kỷ niệm.

Nếu  đọc thơ bằng đầu óc, để gắng hiểu ý nghĩa của câu thơ, bài thơ thì người đọc sẽ luôn cảm thấy khó hiểu. Phải đọc thơ, nhất là thơ hiện đại bằng sự cảm nhận tinh tế của văn hoá, của trái tim. Lâu nay ta vẫn có ngộ nhận đồng nhất tâm hồn, cuộc sống thực với ngữ pháp, ta cứ tưởng các mệnh đề ngôn ngữ sáng tỏ rạch ròi đó chính là cuộc sống  nên khi thấy ngữ pháp bị xúc phạm ta tưởng rằng cuộc sống bị xuyên tạc, lương tri bị phá tan. Thực ra cuộc sống đích thực và chân lý thơ ca không phải luôn đồng nhất với các mệnh đề ngôn ngữ phổ biến. Nhiều khi do nó mang những chiều kích lớn hơn, tinh vi hơn, bí ẩn hơn ngôn ngữ nên nó phải phá tung  bộ áo ngôn ngữ thô cứng chật chội để hiện ra trong sinh thể quyến rũ và vạm vỡ của sự sống và nhiều khi của chính lịch sử. Đó chính là cuộc sống đang tuôn chảy trong tiềm thức, vô thức của nhà thơ, cuốn trôi đi các bờ đê ngôn ngữ tạo nên một thác lũ, một phù sa mới. Đó chính là cái lịch sử đang hình thành  và đang phát lộ, chưa thành lịch sử nhưng không thể nói là  những giá trị của nó đối lập hay đứng ngoài cái lịch sử mà ta vẫn coi là chuẩn mực giá trị văn chương.

Thơ cũ với tinh thần  duy lý tỉnh táo đóng chốt vào đầu ta những câu thơ hay như đóng những chiếc đinh vào ván gỗ. Câu thơ đến găm vào trí não như một vật cứng, ta có thể nhổ ra để nhường chỗ cho  một chiếc đinh khác, có thể lớn hơn. Nhìn chung, thơ cũ giống như những vật cứng có quảng tính dễ đo đạc và dễ cắt tỉa ra chi tiết. Hiện tượng lảy ra một vài câu thơ hay để thưởng thức độc lập chỉ là dấu hiệu tố giác thơ ngày xưa không phải sự sống vô định mà cao nhất chỉ như những hòn ngọc trang sức ở trên thân thể của đời sống. Thơ hay đích thực giống như một người đẹp ta không thể cắt ra cái mũi để khoe nhau. Thơ hay giống như một làn hương thông qua ám ảnh và lan toả không dễ gì thu gọn lại, rút tiả ra một vài câu hay để thuộc lòng, để ngâm nga, để nhớ. Thơ hiện đại toả ra hương vị bí ẩn từ toàn bộ tác phẩm, mặc dù ta không thể nhớ một câu một chữ. Nó tạo nên một trường ám ảnh xung quanh các câu chữ, các câu chữ chỉ là những viên sỏi ném xuống mặt hồ tâm hồn và mất tích ở đó. Cái còn lại là những vòng sóng miên man lan toả mãi, run rẩy mãi trong ta, xung quanh ta. Chẳng có ai làm cái việc  sưu tầm những viên sỏi đã ném đi theo cái lối chép những câu thơ hay vào sổ tay để thuộc như  cái thời ấu trĩ của văn chương. Ngôn ngữ thơ ca chỉ là cái mà nhà thơ ném đi, hồn nhiên và loạn xạ, không phải là thứ nhà thơ cần nâng niu,  gọt giũa vì cái đích của thơ ca  không phải là bản thân ngôn ngữ. Nếu như những đứa trẻ có thể đập vụn một viên gạch để lấy những mảnh vụn chơi trò  ném thia lia thì nhà thơ cũng có thể và cần phải đập vỡ những  khuôn mẫu ngôn ngữ thô kệch để đạt tới sự ám ảnh, chập chờn và lan toả. Phật đã dạy : “Khi ta trỏ cho các ngươi mặt trăng thì hãy nhìn theo hướng ta trỏ chứ đừng nhìn vào ngón tay ta”. Ngôn ngữ mà nhà thơ sử dụng cũng chỉ là những ngón tay chỉ lên những mặt trăng thi ca xa vợi không thể nhìn chằm chằm vào ý nghĩa của từ ngữ và câu cú mà tưởng rằng đã lĩnh hội được thơ ca đích thực.

Thơ hay thực sự bao giờ cũng mang trong nó một trường thẩm mỹ, lan toả mơ hồ và ám ảnh người đọc mà không dễ gì nắm bắt, không dễ gì định vị và học thuộc. Nó toả ra cái hương vị thân thiết và quyến rũ của cuộc sống và tâm hồn giống như mùi thơm từ thịt da con trẻ và mái tóc người yêu. Ta có thể cắt một lọn tóc để kỷ niệm, để làm một nghi lễ thề nguyền hẹn ước, nhưng cái mẩu tóc ấy quyết không phải là vật mang giá trị của con người. Câu thơ hay mà ta rút tỉa ra để học thuộc lòng cũng vậy, nó chỉ có thể gợi nhớ một giá trị, bản thân nó là vật chết chẳng có giá trị riêng. Cái giá trị đích thực là cái ở ngoài ta, xa ta, ta đã tưởng đạt tới nó, nắm bắt được nó (học thuộc nó, trích dẫn nó) nhưng nó lại chợt biến đi ẩn tàng  ú tim đâu đó trong ta và quanh ta. Ta chỉ có thể ngơ ngác bần thần trong một khát khao  kiếm tìm trở lại cái hình hài chợt hiện trong khoảnh khắc nó viếng thăm ta chứ không thể lôi nó từ trí nhớ đặt trên bàn như thò tay vào túi lấy ra những đồ đạc thuộc quyền sở hữu của ta. Ký ức thơ là một cái khác hoàn toàn trí nhớ  khoa học và kỹ thuật cũng khác cái trí nhớ của người làm chứng tỉnh táo trong một phiên toà. Ký ức thơ ca tiềm ẩn trong ta, khiến cho một chiếc lá thu, một thoáng heo may, một giọt sương, một trận mưa rào, một tà áo thoáng qua có thể thức dậy cả một qúa khứ văn hoá, cả một thế giới thơ ca. Ta đâu có thuộc lòng hết thơ của Lý Bạch, Nguyễn Du. Paul Verlen và những ai đó nữa, nhưng một chữ một chi tiết hay một ngẫu nhiên thi thoảng trong trời đất và trong thơ có thể làm sống dậy tất cả hồn vía của các vị đó, ta thẫn thờ như một kẻ bị ma ám, bị lên đồng, bị bắt làm tù binh của một làn hương. Cái thấm thía thơ, cái ám ảnh thơ nó đâu có phải là cái thuộc lòng xác chữ. Nó là cái lãng quên – siêu nhớ, là cái ám ảnh vô hình lan toả từ phía sau ngôn ngữ. Đó là những ký ức văn hoá ấn tượng văn hoá mà  không phải cậu học trò nào thuộc lòng bài vở cũng có thể có được. Đó là những mã văn hoá của đời sống tâm linh. Thơ hay là thơ thức dậy những ký ức văn hoá đó, để rồi lại trở thành ký ức văn hoá mới, ấn tượng mới, quên lãng mới. Nếu không đạt được điều đó – không ám ảnh ta bằng một sắc thái thẩm mỹ riêng – thì tất cả những trò đoạ đầy ngôn ngữ chỉ là trò ngáo ộp doạ trẻ con và trò loạn luân chữ nghĩa rẻ tiền. Trò chơi chữ vô hồn đó giống như các cậu bé tinh nghịch đi xe đạp bỏ hai tay trên đường phố dễ gây tai nạn. Và tai nạn ngôn ngữ, va quệt về ngữ pháp và ngữ nghĩa ấy rất khác với sự náo loạn vừa kinh sợ vừa thú vị của những người được chứng kiến sự đổ bộ của người ngoài vụ trũ từ những đĩa bay.  Trò xiếc đơn giản ấy cũng rất khác với việc ảo thuật gia Devid Coccpophin làm biến mất cả bức tượng thần Tự do một biểu tượng có uy tín có lẽ còn lớn hơn uy tín của các mệnh đề ngữ pháp.

Ta vẫn hay dùng từ “phù thủy” ngôn từ để chỉ những nhà văn nhà thơ nhà hùng biện có năng lực sử dụng ngôn ngữ siêu việt cấp cho ngôn ngữ một năng lượng đảo lộn tâm hồn và cuộc sống. Vậy cái quyền năng ấy, cái bùa phép ấy thực sự là gì? Nếu nó chỉ là cái khả năng thức dậy sức mạnh trong chính ngôn ngữ thì hẳn là nó phải tôn trọng bộ lễ phục ngữ pháp mà ngôn ngữ vẫn kiêu hãnh chưng ra. Chắc chắn rằng việc các thầy phù thủy, các thiền sư, các nhà thơ hiện đại  phá vỡ các kết cấu ngữ pháp và các kết cấu lô gích thông dụng là một việc lớn lao hơn một hành vi cư xử với ngôn ngữ – nó giống như một hành động phá đập để giải phóng những năng lượng tiềm ẩn của tâm hồn và đời sống, nó cũng giống như việc phá hủy kết cấu ổn định của nguyên tử tạo nên những phản ứng nhiệt hạch.

Phá vỡ một ngữ pháp một lô gích không giản đơn là trò đảo chữ và và chơi chữ, đó là sự công phá một tâm thức bền vững, một kết cấu truyền kiếp, một đập chắn khổng lồ trong ký ức cộng đồng mà nó chỉ có thể được thực hiện bởi một nội lực văn hoá mãnh liệt trong cảm hứng sáng tạo thi ca. Nội lực văn hoá đó, sự xâm nhập bất khả kháng của một luồng cảm hứng như năng lượng của thần linh hay của một thế giới khác ập đến  sẽ biến câu thơ bài thơ thành một tập hợp siêu ngôn ngữ mà cái hỗn loạn của nó, sự đỗ vỡ ngữ pháp của nó mang một linh hồn mới khác  hẳn với những xác chữ vô hồn trong các trò chơi chữ, hình thức chủ nghĩa cầu kỳ và lý trí. Các trò chơi đảo chữ thuần túy không phải là cái lắp bắp ú ớ của người thân trong cơn xúc động hay mê sảng làm ta thắt lòng, mà chỉ là những câu đố do đầu óc tỉnh táo và lạnh lùng chế tác.

Suy cho cùng, cái giá trị của thơ ca đích thực nằm trọn vẹn ở cái năng lực gây ám ảnh mà cái nguồn gốc của năng lực đó là nằm ngoài ngôn ngữ. Đó chính là tâm hồn, là cuộc sống là những giao lưu văn hoá sâu sắc và tinh tế giữa con người và những khoảng mờ của đời sống, những vùng xoáy của tâm linh, những tầng ký ức lịch sử, văn hoá, những thấp thoáng hình hài của tương lai ẩn hiện trong tiên cảm và linh giác. Bởi vậy, những người muốn cách tân ngôn ngữ thơ ca không nên vội loay hoay xoay đảo ngôn từ mà  trước hết cần  trang bị một vốn văn hoá lớn  và vốn những ấn tượng trong đời sống thực. Khi những vốn liếng đó đủ đầy, rồi thì những cảm hứng sáng tạo mãnh liệt tự nó sẽ xáo tung kho ngôn ngữ, sống chết trong đấu trường với những con bò tót ngữ pháp. Ngay cả khi đó, chàng hiệp sĩ đấu bò vẫn không được quên cầm trên tay trái một tấm vải đỏ kỹ thuật để làm khiên che chắn, lái chiếc sừng ngôn ngữ hung hãn về phía có lợi cho chiến thắng của thi ca…

 

  

 

 

Hai chuyện cười … cấp quốc gia – VHNA

18 Th4

  •   Thái Hữu Thịnh
 

Thực ra không phải chuyện cười. Nhưng nghe thủng câu chuyện,  ngẫm nghĩ, cũng phải bật cười!

Thứ nhất là chuyện Việt nam đăng cai Asiad.

Asiad là ngày Hội Thể thao của các nước Châu Á. Mục đích ý nghĩa cao đẹp của Thế vận hội, cũng như Á vận hội, là để cổ vũ, động viên phong trào rèn luyện thể dục, thể thao , nâng cao sức khỏe của con người. Tuy vậy, để tổ chức được một kỳ Hôi thể thao Châu lục là hết sức tốn kém. Lịch sử Á vận hội từ khi ra đời đến nay , đã có 3 Quốc gia được lựa chọn đăng cai, đó là Hàn quốc, Pakistan, Singapo, sau đó, đã xin rút lui, bỏ cuộc, vì tài chính khó khăn. Và, tất cả  các nước chủ nhà đã tổ chức, sau khi kết thúc ngày Hội, đều lâm vào tình trạng nợ nần. Gương nhã tiền,  Hy lạp, một phần quan trọng vì hăng hái đầu tư “khủng”vào Thế Vận hội  Athens 2004 mà đã đứng bên bờ vực vỡ nợ phá sản. Hay như hiện nay, nước Brazin giàu có, nền kinh tế mới nổi, đứng thứ 8 thế giới, cũng đang khốn đốn về tài chính cho World cup 2014, Olimpic 2016 và đang đối mặt với làn sóng biểu tình rông lớn của dân nghèo phản đối đăng cai sự kiện thể thao này.

Việt nam ta, Bộ VH-TT-DL đang hăng hái, hồ hởi, chạy đôn, chạy đáo để  đăng cai Asiad 18.

Qua thời kỳ Đổi mới, nước ta nay đã khá hơn, bớt nghèo một tý, trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Dù vậy, dân ta vẫn còn nghèo. Hàng năm, cứ đến mùa giáp hạt, Chính phủ vẫn phải cứu đói cho dân hàng chục tỉnh, rồi cứu trợ thiên tai bão lụt liên miên, rồi cấp phát gạo cho dân ăn Tết… Trong khi, vẫn cần rất nhiều tiền, để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển Đất nước, Chính phủ phải vay nợ, kêu goi vốn ODA, chắt chiu từng đồng tiền bát gạo. Bởi vậy, dư luận xã hội phản đối VN đăng cai Asiad 18. Những tiếng nói bày tỏ nguyện vọng của nhân dân đã được đăng tải trên hầu hết các báo lớn trong cả nước. Một cuộc thăm dò dư luân của Báo Tuổi trẻ , tính đến ngày 31/3/2014 cho thấy,  trong tổng số 13.661 phiếu thăm dò, có đến 11.523 ý kiến( 85%) phản đối, 1.917 ý kiến đồng ý., 221 ý kiến khác. Tiếng nói phản đối của nhân dân  đã đến các Nhà lãnh đạo Nhà nước, đến cả Quốc hội. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nói: Phải tính đến cả phương án rút đăng cai Asiad 18. Bộ trưởng Bộ KHĐT nói: Nên dừng đăng cai Asiad 18. Ông Hà Quang Dự, nguyên Chủ tịchUỷ ban Olimpic VN nói: Trong tình hình kinh tế hiện nay, chưa phải là thời điểm VN đăng cai Asiad 18…

Thế là đã rõ. Không thể hiểu nổi, ông  Bô trưởng Bộ VH-TT-DL Hoàng Anh Tuấn, do động cơ nào mà khăng khăng đòi tổ chức cho kỳ được Asiad 18?  Lúc đầu, ông bảo tổ chức Asiad  để nâng cao vị thế VN trên trường quốc tế. Vị thế của nước VN ta trên trường Quốc tế hiện nay, cao đến mức độ nào, chắc ông rõ hơn nhân dân. Chờ chi đến Asiad 18.  Sau đó, ông lại bảo, về kinh phí, chỉ cần 150 triệu USD, số còn lại, ông  không xin ngân sách Trung ương, mà lấy từ ngân sách địa phương, của  các thành phố vệ tinh cùng tham gia tổ chưc Asiad, như Hà nội, Hải phòng , Nam định, TP HCM…Sao Ông lại không chịu hiểu rằng: Ngân sách địa phương là của ai? Ngân sách Trung ương hay của địa phương  thì cũng là tiền thuế của dân đóng góp.

Nghe thủng câu chuyện, liên tưởng đến chuyên ngụ ngôn “Anh nhà nghèo muốn chơi trội !”, tôi bật cười.

Thứ hai là chuyện Bauxit Tây nguyên:

Cách đây khoảng dăm năm, từ khi khởi đầu, Vụ Bauxit Tây nguyên được xã hội tranh luận hết sức sôi nổi, thậm chí gay gắt. .Nói chung, dư luận xã hội, nhất là ý kiến các Nhà Khoa học, đều cho rằng, Việt Nam ta phát triển các dự án Bauxit ở Tây nguyên  là “ Lợi bất cập hại”  về tất cả mọi phương diện: Kinh tế, chính trị, quốc phòng, môi trường , an sinh xã hội…( Trong đó có ý kiến phản đối của Cố Đại tướng Võ Nguyên  Giap)..

Dẫu vậy, bất chấp công luận, các dự án vẫn triển khai.. Sau mấy năm tiến hành, với những vật nài xin ưu đãi nhiều thứ, kể cả vốn đầu tư, thuế tài nguyên môi trường,..Đến nay,  Tập đoàn Công nghiệp Than,Khoáng sản Việt Nam(TKV).đã phải công khai thừa nhận: Dự án Tân rai năm 2013 lỗ hơn 258 tỷ đồng, dự án Nhân cơ dự kiến năm 2015 sẽ lỗ hơn 671 tỷ đồng. Cả hai dự án, từ nay cho đén năm2020 sẽ lỗ hàng ngàn tỷ đồng.. Thực tế lỗ lãi., thất bại của dự án Bauxit Tây nguyên là điều đã được cảnh báo trước. Đáng tiếc là, Nhà Chủ đề tài Tập Đoàn TKV đã không lắng nghe , tiếp thu  ý kiến của công luận xã hội,  nhất là ý kiến can ngăn của các Nhà Khoa học( như đã nói ở phần đầu bài viêt). .Và, cũng thật bất ngờ, gần đây, trên Báo Tuổi trẻ, số ra ngày 19/3/2014, ngay trang mặt đầu tiên, xuất hiện một bài báo rất giật gân, với cái tít in rất to, đậm nét chữ: “ Đòi ưu đãi  cho dự án Bauxit” .Bài báo viết tiếp: Bộ Công thương ,đưa ra hàng loạt đề nghị táo bạo, đòi ưu đãi đặc biệt  cho hai dự án: Giảm đầu tư hồ chứa bùn đỏ, giảm phí môi trường, thuế tài nguyên,  bỏ thuế VAT( đưa về 0%), chỉ thuê đất có thời hạn của dân, thay vì đền bù. Lại càng bất ngờ hơn,là lần này, không phải là Ông Chủ TKV kêu xin, mà là “người bạn đồng hành”- Bộ Công thương  kêu xin hộ!…

Chuyên buồn như vây, với tôi không có gì đáng buồn, mà là “bật cười”.

Ai đời! Đã làm ăn kinh doanh thì “Lời ăn lỗ chịu”. Thời buổi kinh tế khó khăn, mỗi năm, cả nước ta, có hàng  ngàn xí nghiệp vừa và nhỏ, làm ăn thua lỗ, phải tuyên bố phá sản, giải thể. Họ kêu cứu ai? Ai cứu? Đằng này: “Con đã bảo mẹ rằng đừng…”. Ai cũng can ngăn, họ cứ làm. Rồi bây giờ, sắp…chết, họ lại van xin ưu đãi cứu vớt. Phải chăng, họ là Doanh nghiệp Nhà nước, lâu nay  được ưu ái, bao cấp đủ điều nên tiếp tục xin.  Lời thì các Ông Doanh nghiệp và Nhóm lợi ích hưởng. Lỗ thì Nhà  nước, nghĩa là toàn dân- những người đóng thuế chịu. Các Ông có mất gì đâu!…

Đúng là hai chuyện cười  ra nước mắt cấp quốc gia!          

Một cách nhận diện văn học Việt Nam hiện đại* – VHNA

18 Th4

 

  •   Bích Thu
 

Phong Lê là một trong những chuyên gia hàng đầu của chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại. Ông vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2005 với cụm công trình: Văn học Việt Nam hiện đại – Nhữngchân dung tiêu biểu (2001); Một số gương mặt văn chương-  học thuật Việt Nam hiện đại (2001). Dù đã qua tuổi thất thập, đã đạt được những thành tựu đáng kể trong sự nghiệp nghiên cứu của mình nhưng Phong Lê không dừng lại, vì với ông được viết, được đồng hành với văn học hiện đại Việt Nam không chỉ là công việc mà còn là niềm vui sống. Và chính vì vậy, trong thập niên mở đầu thế kỷ XXI này, ông lại tiếp tục cho ra mắt bạn đọc: Về văn học Việt Nam hiện đại-Nghĩ tiếp (2006), Hiện đại hoá và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX (2009), Đến với tiến trình văn học Việt Nam hiện đại (2009), Đến với 55 nhà văn,nhà văn hoá Việt (2011), Thơ văn Hồ Chí Minh – Những giá trị vĩnh cửu(2012), Định vị văn chương Việt (2013) và gần đây nhất, Phác thảo Văn họcViệt Nam hiện đại (thế kỷ XX) (2013). Nếu như không có một hành trang tri thức phong phú, dày dặn, uyên thâm về văn hóa, về lý luận và lịch sử văn học trong nước và thế giới, nếu như không có niềm đam mê, tâm huyết và bản lĩnh khoa học sẽ khó có thể cho ra đời nối tiếp nhau những cuốn sách, những chuyên luận mang tính học thuật, có hàm lượng khoa học cao, góp phần bồi đắp, ngày càng làm đầy đặn hơn sự nghiệp của Phong Lê – một tên tuổi tiêu biểu đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại.

Trong số những cuốn sách đứng tên Phong Lê ra đời vào những năm đầu thế kỷ XXI, cuốn Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX) mang một ý nghĩa đặc biệt với chính tác giả của nó. Với ông, đây là công trình “thâu tóm những tri thức cần thiết về một thế kỷ văn học Việt Nam hiện đại, là đối tượng tôi (Phong Lê – BT) luôn muốn áp cận với nó ở tư cách người phê bình, lại vừa tranh thủ những độ lùi nhất định để nhìn nó với con mắt lịch sử” (Lời đầu sách, trang 9). Hơn nửa thế kỷ chuyên tâm nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại ở Viện Văn học – một môi trường khoa học thuần khiết, nơi hội tụ một đội ngũ những người xác định đi đến cùng với công việc nghiên cứu văn học đầy hứng thú và không kém nhọc nhằn đã khiến Phong Lê yên tâm bám trụ trong ngôi nhà chung 20 Lý Thái Tổ Hà Nội. Tại đây, với quan niệm và cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu của riêng mình, ông ý thức gắn công việc nghiên cứu với ba thao thác cơ bản: Đọc – Viết – Nói trong suốt hành trình nghề nghiệp. Ở thao tác nào, Phong Lê cũng hết sức tự tin bởi việc đọc, viết và giảng dạy đã trở thành thói quen thường nhật nơi ông. Hơn nữa, là nhà nghiên cứu văn học hiện đại, Phong Lê luôn có mặt, luôn tham dự vào đời sống văn học với cách hiện diện của riêng mình. Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại từ đầu thế kỷ XX cho đến nay dường như luôn “sống” trong ông, khiến tư duy nghiên cứu của Phong Lê luôn ở thế động. Động trong suy nghĩ và trong cách lập ngôn. Không phải ngẫu nhiên ông được mệnh danh là “người đang viết”. Một thế kỷ văn học với bao biến động của nó luôn thôi thúc Phong Lê vừa đúc kết vừa nghĩ tiếp. Và Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷXX) là “một trong số ít cuốn sách quan trọng nhất”, chỉ có thể ra đời sau hơn năm mươi năm viết và sau hơn 20 tập tiểu luận và chuyên khảo trước đó của ông. Đến đây, Phong Lê mới có dịp triển khai và thực hiện một công trình mong đạt được “một cái nhìn xuyên suốt thế kỷ XX, với đường dây gắn nối hai đầu thế kỷ là Canh tân và Đổi mới”.

Công trình được cấu trúc thành 5 chương. Chương 1: Tổng luận gồm 7 mục. Chương 2: Thơ gồm 6 mục. Chương 3: Văn xuôi gồm 4 mục. Chương 4: Lý luận, phê  bình, nghiên cứu văn học gồm 5 mục và Chương 5: Phụ lục, gồm 3 mục.

Chương 1 Tổng luận gồm 107 trang, đề cập những vấn đề chung trước khi đi vào 3 loại hình cơ bản của công trình, đó là: Hiện đại hoá văn học Việt Nam trong đối sánh khu vực Đông Á; Chữ viết trong lịch sử văn học dân tộc; Thơ và văn xuôi trong chuyển động từ trung đại đến hiện đại; Tính chuyên nghiệp của nghề văn; Khởi động và phân kỳ một thể kỷ văn học; Ảnh hưởng của văn học Pháp và văn học phương Tây đối với văn học Việt Nam từ nửa sau thể kỷ XIX đến 1945; Mối quan hệ giữa văn học Nga – Xô Viết và văn học Việt Nam trước và sau 1945. Có thể nói, những vấn đề chung như là cơ sở vững vàng cho một công trình nghiên cứu bao quát toàn bộ lịch sử văn học nước nhà thế kỷ XX. Bằng cách nhìn nhận khách quan, công tâm và nghiêm túc, Phong Lê đã phác dựng bối cảnh và yêu cầu hiện đại hoá như một vấn đề chung cho khu vực Đông Á gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam với những tương đồng và khác biệt của mỗi quốc gia. Trong đó, Việt Nam tự xác định một con đường riêng với những thách thức của lịch sử buộc phải gắn hiện đại hoá với cách mạng hoá diễn ra trong cả thế kỷ XX. Đó là một nền văn học trước sau luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc. Chỉ cần nhìn vào những vấn đề đặt ra ở Chương 1 cũng có thể nhận thấy đây là một thế kỷ văn học đầy cốt cách và bản lĩnh. Trong sự chuyển mình dữ dội, với nhiều gian nan, thử thách của dân tộc ở thế kỷ này, văn học đã đảm đương phần việc của nó như một trọng trách: “Lịch sử đã khéo sắp xếp cho thế kỷ XX nhiệm vụ giải quyết triệt để yêu cầu cách mạng hoá, nhằm giành lại Độc lập – Tự do trọn vẹn cho dân tộc; đồng thời cũng đặt ra nhiệm vụ giải quyết yêu cầu hiện đại hoá để hướng dân tộc hội nhập một cách chủ động vào văn minh nhân loại, và từng bước thực hiện các mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh và tiến bộ xã hội” (tr 539). Với những vấn đề đặt ra trong phần Tổng luận, tác giả công trình đã làm rõ sự lớn mạnh của văn học nước nhà ở thế kỷ XX là một bước phát triển mang tính đột biến. Sức mạnh của văn học, những đóng góp mới mẻ của nó góp phần vào đời sống sôi động của dân tộc qua các thời kỳ đã là thành tựu của một sự nghiệp lớn, một sự nghiệp mang ý nghĩa khai mở và ngày một trưởng thành trên tiến trình lịch sử nước nhà.

Sau phần Tổng luận, ở Chương 2, công trình dành cho thể loại thơ (96 trang), được chia thành 6 mục: Thơ canh tân và thơ cách mạng; Thơ cũ và thơ mới; Thơ trong bước chuyển lịch sử tháng Tám – 1945; Thơ thời chống Pháp; Thơ thời chống Mỹ; Thơ thời đổi mới. Một hành trình thơ Việt Nam thế kỷ XX được tái hiện theo các giai đoạn tương ứng với những bước chuyển của lịch sử. Công trình đã cho thấy cùng với hai cuộc khai thác thuộc địa và sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, trào lưu thơ chủ trương canh tân của các nhà Nho chí sĩ xuất hiện trong những năm đầu thế kỷ XX đã chuyển sang trào lưu thơ cách mạng trong thập niên 30 với hai tác giả tiêu biểu là Hồ Chí Minh và Tố Hữu. Bên cạnh yêu cầu cách mạng hoá, đưa trào lưu thơ canh tân sang thơ cách mạng thì yêu cầu hiện đại hoá lại được thực thi một cách triệt để và ngoạn mục trong phong trào Thơ mới 1930 – 1945 với những tên tuổi tiêu biểu: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử… để tạo nên “một thời đại trong thơ ca” (Hoài Thanh). Tác giả đã có cái nhìn bao quát về thơ từ Cách mạng tháng Tám – 1945 đến công cuộc đổi mới. Ở mỗi chặng đường thơ, tác giả đều nhấn mạnh đến sự chuyển đổi về cảm hứng và bút pháp, về nội dung và phương thức thể hiện, thấy được những thành tựu cũng như những giới hạn mà thơ cần vượt qua để hoà nhập vào bối cảnh mới, đáp ứng thị hiếu của độc giả hiện thời.

Đến với địa hạt văn xuôi trong Chương 3 (131 trang), tác giả công trình đã tỏ rõ thế mạnh và sở trường trong việc nắm bắt thực tiễn sáng tác qua từng giai đoạn, làm rõ các vấn đề cần tổng kết với ý thức nhìn nhận lại, đánh giá lại những hiện tượng tác giả, tác phẩm tưởng đã bị bao bọc bởi lớp bụi thời gian; không chỉ thế, còn tiếp xúc cận cảnh với những tác phẩm, tác giả đương đại đang nóng hổi tính thời sự. Bốn chuyên luận về văn xuôi của công trình dồn nén một trữ lượng thông tin đáng tin cậy, vừa có tư chất học thuật, vừa có giá trị văn học sử, bộc lộ chính kiến cá nhân, với cách lập ngôn mang đậm “made in Phong Lê” quả quyết mà không quá đà, xác tín, chừng mực mà vẫn nồng nhiệt, uyển chuyển. Những chuyên luận này cho thấy cách tiếp cận toàn cảnh lịch sử, làm sáng tỏ giá trị văn xuôi hiện đại. Và đặc biệt người viết luôn nhấn mạnh đến “gia tốc lịch sử” của quá trình hiện đại hóa văn học thế kỷ XX. Theo tác giả, hành trình văn xuôi hiện đại khởi động từ cuối thế kỷ XIX với những áng văn Quốc ngữ đầu tiên của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản. Song phải đến đầu thế kỷ XX, trong phong trào báo chí xuất bản, với vai trò quan trọng của hai tờ Đông Dương tạp chí  và Nam Phong tạpchí thì văn xuôi mới có những chuyển động quyết định đưa đến sự dồn tụ của các cây bút trong một phòng chờ lớn là Hà Nội vào những năm hai mươi, với những người khởi nguồn cho hai trào lưu lãng mạn và hiện thực: Tản Đà, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách… Thời kỳ 1932-1945 là thời kỳ hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học trên cả ba khuynh hướng lãng mạn, hiện thực và cách mạng; với những gương mặt nổi bật cùng những tác phẩm kết tinh ở trình độ cao các giá trị hiện đại trên cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan, Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Nhất Linh, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Tô Hoài… Từ sau năm 1945, văn xuôi chuyển vào quỹ đạo hai cuộc kháng chiến trên cơ sở nền tảng đã được xây cất từ trước năm 1945, lấy nội dung yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng làm đối tượng miêu tả, nhằm đáp ứng yêu cầu  “dân tộc, khoa học, đại chúng” và trong khí hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những người cầm bút đã tự nguyện trở thành những nhà văn chiến sĩ, chọn văn chương làm vũ khí. Một số cây bút thuộc thế hệ chống Pháp, chống Mỹ đã tình nguyện có mặt tại chiến trường, bằng những trang viết “tại chỗ” đã thực hiện chức trách người thư ký trung thành của thời đại như Nam Cao, Trần Đăng… trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đến Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Nguyễn Trọng Oánh… trong cuộc kháng chiến lần thứ hai. Giai đoạn văn học đổi mới đã ghi nhận bước chuyển của văn xuôi khi bước vào quỹ đạo của thời bình. Các nhà văn thuộc thế hệ mới nối tiếp những “người tiền trạm” như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu,…là Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai… Trong bối cảnh mới của thời cuộc, văn xuôi bước vào thời kỳ hội nhập với sự tiếp nối của những “làn sóng trẻ” thuộc thế hệ 7X đến 9X mang trong mình những nung nấu đổi mới, cách tân lối viết theo hướng hiện đại. Phần lớn những tác giả trẻ vẫn còn trong quá trình thử nghiệm hoặc rụt rè hoặc đầy tự tin mà việc đánh giá thường khó tìm được sự nhất trí trong tiếp nhận của bạn đọc. Hơn bao giờ hết, với thâm niên nghề nghiệp và tuổi tác, nhà nghiên cứu Phong Lê thấu hiểu: “Sự sống quả là vô cùng. Là không có sự phản ánh nào trong văn học đi được hết đường biên của nó. Sự sống là những nghịch lý, bởi nó tồn tại trong nghịch lý. Sự sống không hiếm những điều phi lý, bởi ta đã sống trong niềm tin tuyệt đối vào cái hợp lý đã lâu. Sự sống không có mở đầu và kết thúc, mà là vô thủy, vô chung. Sự sống mang tính triết học, bởi nó đòi hỏi mãi mãi những khai phá, khám phá. Sự sống dường như ngày càng khó hiểu hơn bởi cái không biết là quá lớn, bên cái biết chỉ là có hạn… Và do thế, văn học phải có rất nhiều những phương thức cho sự thể hiện” (trang 328). Tuy nhiên trong quá trình thâm nhập thực tiễn sáng tác văn xuôi, với những tác phẩm cách tân theo hướng hiện đại hay hậu hiện đại nghiêng về sự đánh đố, bí hiểm, nhà nghiên cứu đã đưa ra nhận xét như một sự thú nhận mang màu sắc tự trào: “Thời dân chủ hóa cho tất cả mọi hành vi của con người, tức là thời giảm nhẹ những căng thẳng cho hoạt động của con người, thời dành nhiều hơn quyền tự do cho con người, mà lại bắt con người chuốc lấy sự mệt mỏi, thôi chi bằng cứ trở về với cái dễ hiểu thâm thúy của người khai sáng văn học thế giới hiện đại là Cervantes trong Don-Kihôtê cho xong!” (trang 329).

Sang đến Chương 4: Lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học gồm 5 chuyên đề (157 trang). Cũng theo kết cấu của Chương 2 và 3, tác giả công trình tìm hiểu lĩnh vực này theo tiến trình văn học từ buổi đầu: Sinh hoạt tư tưởng và học thuật thời kỳ 1930-1945 đến Lý luận và phương pháp luận nghiên cứu, phê bình văn học trước yêu cầu và trong quy định của lịch sử trước và sau 1945… Phong Lê đặc biệt chú ý đến những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu lý luận phê bình thời kỳ đổi mới. Bằng cái nhìn cẩn trọng, mang tính khoa học của nhà nghiên cứu văn học sử, tác giả công trình đã phác thảo bức tranh toàn cảnh của khu vực lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học mà biểu hiện tập trung nhất của kết quả hiện đại hóa là sự xuất hiện những tác phẩm tiêu biểu thuộc chuyên ngành này vào những năm 1941-1945 của Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai… do ảnh hưởng của lý luận văn học phương Tây, qua một đội ngũ kết hợp Tây học và Hán học làm tốt công việc sưu tầm, biên soạn di sản văn học dân tộc, và dịch thuật văn học phương Tây trên những tờ báo quan trọng trong ba thập niên đầu thế kỷ XX. Trong khối tri thức mới, ảnh hưởng của lý luận phương Tây hiện đại, của tư tưởng Mác-xít và văn học vô sản mà trung tâm là văn học Xô Viết là cơ sở diễn ra những cuộc đấu tranh tư tưởng và sinh hoạt học thuật vào những năm 1930 trên các vấn đề duy tâm và duy vật, nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Trong giai đoạn văn học từ năm 1945-1975 và từ năm 1975 đến những năm tiền đổi mới, văn học Việt Nam vẫn hướng đến các tiêu chí của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và theo mô hình văn học Liên Xô (cũ), nhằm đáp ứng yêu cầu của thời cuộc nhưng lại vấp phải không ít hạn chế trong một mô hình phát triển xã hội không phù hợp với quy luật khách quan. Đó là nguyên cớ chính dẫn tới công cuộc đổi mới văn học cùng triển khai trên cả hai khu vực sáng tác và lý luận vào những năm tám mươi. Phong trào đổi mới là hệ quả của một sự tái nhận thức lịch sử nửa thế kỷ đã qua trên các bình diện của nội dung và phương pháp luận nghiên cứu, lý luận, phê bình. Đồng thời, đó là một đòi hỏi những tiếp nhận mới, những cách thức tiếp cận mới lý luận văn học thế giới trên cơ sở của sự biến động và mở rộng không ngừng của môi trường tri thức và xã hội trước  xu thế hiện đại hóa và toàn cầu hóa, mà Việt Nam đã có cơ hội tham gia ở tư thế chủ động.

Khép lại công trình là Chương 5: Phụ lục (30 trang) gồm 3 chuyên đề: Đôi nét phác thảo về cái thời hôm nay chúng ta đang sống; Hiện thực hôm nay và sự đồng hành của hơn bốn thế hệ viết, và: Phác thảo một thế kỷ văn học. Dẫu tác giả công trình có hàm ý giới hạn đối tượng nghiên cứu trong thế kỷ XX nhưng khi công trình ra mắt bạn đọc thì thế kỷ XXI đã đi hết thập niên mở đầu của nó. Công cuộc đổi mới khởi động từ thời điểm 1986 đã sang thập niên thứ ba; năm 2000 cũng là mốc đánh dấu cuộc Toàn cầu hóa lần thứ ba, hứa hẹn những biến đổi còn nhiều bất ngờ hơn sau gần 30 năm đổi mới và sau một thế kỷ vận động và phát triển theo mô hình hiện đại. Phần Phụ lục như khúc vĩ thanh về những chuyển đổi và động thái mới trong bối cảnh chung của đất nước. Trong đó, tác giả công trình lưu ý đến ba chuyển đổi cơ bản, đó là: từ sự phân cách, chia đôi chuyển sang hội nhập, cộng sinh; từ cộng đồng chuyển sang cá nhân; và từ phong bế ở các cấp độ khác nhau đến sự mở rộng giao lưu và hội nhập. Trong tương ứng với hiện thực mới của dân tộc là sự đồng hành của các thế hệ viết gồm từ thế hệ 7X đến 9X. Nếu xét về sự đông đảo thì chưa có thời kỳ nào trong lịch sử văn học nước nhà sánh bằng. Trên hành trình nghề nghiệp của mình, Phong Lê rất chú ý đến sự phát triển của đội ngũ những người cầm bút, đến sự tiếp nối và đồng hành của hơn bốn thế hệ viết với mong muốn những gì lớp trước chưa làm được lớp sau sẽ kế tiếp trong sáng tác cũng như lý luận phê bình. Bao giờ ông cũng có cái nhìn biện chứng, nhìn trong thế động về đội ngũ, thực tiễn sáng tác, thành tựu và giới hạn. Các chuyên đề của Phong Lê không là lý luận suông, lại càng không chỉ là đôi ba nhận xét chung chung mà là những tiếp cận cụ thể. Phong Lê là một trong số ít cây bút lý luận phê bình được lãnh đạo Hội Nhà văn tin cậy, tín nhiệm mời tham gia nhiều hoạt động  quan trọng của Hội, do vậy ông có điều kiện đọc nhiều, luôn nắm bắt nhanh nhậy thực tiễn đời sống và sinh hoạt nghề nghiệp. Khi nghiên cứu các chặng đường, dấu mốc, các hiện tượng văn học và nhất là về các tác giả, Phong Lê đều chua thêm năm sinh, điểm đầu và cuối trên hành trình sáng tác của họ để nhận thấy những đóng góp của họ trong quá trình của cá nhân gắn với những bước đi của thời đại và lịch sử. Có thể chia sẻ với Phong Lê về những suy nghĩ thấu đáo và chân thành mang tính dự báo của ông: “Một đội ngũ viết hùng hậu, ở nhiều lứa tuổi, ai cũng muốn viết đến tận cùng những trải nghiệm và ao ước của mình; ai cũng mong đến được với cái riêng của mình – đó là điều tự nhiên; nhưng dẫu sự theo đuổi cái riêng là ráo riết đến mấy thì trước hiện thực hôm nay, tất cả các thế hệ viết đều có một mẫu số chung cho sự tìm kiếm: đó là cảnh ngộsố phận của dânnước – hai khái niệm đã được đặt ra trong tính khẩn thiết của nó, ngay từ đầu thế kỷ XX, và đã được chứng nghiệm cực kỳ sâu sắc trong Cách mạng tháng Tám và hai cuộc chiến tranh. Nếu chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn là xuyên suốt lịch sử cả nghìn năm văn học trung đại và cả trăm năm văn học hiện đại, thì câu hỏi về nó vẫn không phải đã hết ý nghĩa thời sự ở thời điểm bây giờ” (tr 521).

Trên hành trình nghề nghiệp hơn 50 năm của mình, nhà nghiên cứu Phong Lê luôn nhất quán một quan niệm: “Văn học như là tấm gương của xã hội, chịu sự tác động của các ý thức hệ xã hội. Tôi (Phong Lê – BT) muốn làm rõ con đường phát triển của văn học gắn với lịch sử dân tộc, đặt văn học đồng hành với lịch sử” (Báo QĐND 27-3-2013). Người đọc tôn trọng quan niệm và phương pháp tiếp cận đối tượng của tác giả công trình.

Phác thảovăn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX) là một công trình khoa học dày dặn, bề thế với 25 chuyên đề lớn nhỏ, ký thác gần như cả một đời nghiên cứu gắn với sở nguyện của tác giả. Cuốn sách ghi nhận công sức và cống hiến của Phong Lê với chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên do một số vấn đề trong công trình đã được trình bày trên một vài diễn đàn và hội thảo khoa học nên không tránh khỏi đôi chỗ có sự trùng lặp và sự dư dôi một số cụm từ quen thuộc như: “ngoạn mục”, “đỉnh cao”, “phòng chờ”, “tiền trạm”… Và như sự thừa nhận của chính tác giả công trình, ông cũng chưa vận dụng một cách thích đáng các phương pháp nghiên cứu phương Tây hiện đại mà vẫn sử dụng “những phương thức canh tác chưa thật mới mẻ” nhưng lại là sở trường của ông. Không chỉ thế, một số vấn đề thuộc văn học thế kỷ XX như văn học đô thị miền Nam, văn học hải ngoại vẫn còn ở ngoài vùng phủ sóng. Dù vậy, những gì chưa thực hiện được, đúng như Phong Lê nói: “sẽ là công việc của các thế hệ nghiên cứu mai sau, những người có sức trẻ và hoài bão”.

Có thể nói, bên cạnh hàng chục các công trình nghiên cứu khác, Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX) là công trình khoa học bao quát  không gian văn học của thế kỷ XX, thực sự cần thiết và bổ ích đối với giới nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại. Sau khi in lần đầu, công trình đã được nối bản, cho thấy Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại thế kỷ XX đã chạm đến tâm thế đón đợi của học giới và độc giả hiện nay.

 

                                                                                         Tháng 2 – 2014

___________________

(*) Đọc Phác thảo văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX), chuyên luận của PhongLê. NXB Tri thức, Hà Nội, 2013; 543 trang. 

 

 
 

 

Mỹ lập thế « chân vạc » tại châu Á Thái Bình Dương – BBC

18 Th4
 
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel (T) và đồng nhiệm Trung Quốc Thường Vạn Toàn (Chang Wanquan) tại cuộc họp báo chung ngày 08/04/2014 ở Bộ Quốc phòng Trung Quốc (Bắc Kinh).

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel (T) và đồng nhiệm Trung Quốc Thường Vạn Toàn (Chang Wanquan) tại cuộc họp báo chung ngày 08/04/2014 ở Bộ Quốc phòng Trung Quốc (Bắc Kinh).

REUTERS/Alex Wong
Tú Anh

Trong những ngày 7-8-9/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel và Thủ tưóng Úc Tony Abbott, kẻ trước người sau cách nhau vài giờ, công du ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Chuck Hagel còn bay sang Mông Cổ để tăng cường hợp tác quân sự. Trước đó, vào ngày 01/04, Tokyo thông báo sẽ bán « công nghệ quốc phòng » cho các nước bạn dọc theo con đường hàng hải Biển Đông và Hoa Đông. Ngăn chận chiến thuật « tằm ăn dâu » của Hoa lục bằng thế trận « chân vạc » là phương án của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương .

Trong cuộc họp tại Bắc Kinh ngày 08/04/2014, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ bị người đồng cấp Trung Quốc là Thường Vạn Toàn và Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trượng Long (Fan Chang Long) – chỉ đứng sau Tập Cận Bình – đáp trả bằng lời lẽ nặng nề nào là « Mỹ sợ Trung Quốc lớn mạnh, nào là nhân dân Trung quốc không chấp nhận những lời công kích »

Trước khi đến Bắc Kinh, trong khi tiếp xúc với lãnh đạo quân sự Hoa lục, và sau đó, khi phát biểu tại Học viên Quốc phòng Trung Quốc, chủ nhân Lầu Năm Góc Hoa Kỳ đều có một tuyên bố trước sau như một : Trung Quốc là nước lớn, phải biết tôn trọng láng giềng và không được sử dụng cường lực để hiếp đáp các quốc gia nhỏ hơn tại Hoa Đông và biển Đông Nam Á.

Trong thời điểm này, thì từ cực nam của Thái Bình Dương, Thủ tướng Úc Tony Abbott bay lên Bắc Á, và tại Tokyo, ký hiệp ước hợp tác an ninh và quốc phòng ngay sau khi Nhật thông báo sẽ bỏ nguyên tắc tự cấm xuất khẩu vũ khí.

Tất cả các sự kiện trên diễn ra trong bối cảnh Matxcơva chiếm quần đảo Crimée của Ukraina bằng áp lực quân sự nhưng không cần sự tham chiến của chủ lực quân.

Washington và một số nước đồng minh của Mỹ tại Thái Bình Dương nhất là Úc, Nhật Bản và Philippines lo ngại Bắc Kinh sẽ thừa cơ lấn chiếm các quần đảo trong vùng và khống chế con đường hàng hải huyết mạch.

Nếu ở Ukraina, Hoa Kỳ lúng túng vì Nga lấn tới mà không động binh, thì tại Biển Đông và Hoa Đông, nếu Trung Quốc cũng theo chiến thuật « tằm ăn dâu » mà chiến pháp Tôn Tử gọi là « bất chiến tự nhiên thành », dùng tàu « hải giám, kiểm ngư » dân sự để chiếm Senkaku hay Trường Sa thì Hạm đội 7 của Mỹ phản ứng ra sao ?

Ngăn chận trước Hoa lục bằng thế trận « chân vạc » là phương án mà Hoa Kỳ tiến hành tại Châu Á Thái Bình Dương.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về Trung Quốc, đại học Maine, Hoa Kỳ phân tích :

Mục đích của chuyến công du Chuck Hagel và Tony Abbott

« Đối với tôi, chuyến công du của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel sang Bắc Á và của Thủ tướng Úc Toney Abbott sang Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc không phải là một sự tình cờ mà là một sự dàn xếp trước giữa Mỹ và Úc. Còn việc Tokyo thông báo bán vũ khí cho các nước bạn có quan hệ đến việc ông Tony Abbott đến Nhật sẽ bàn sau.

Nhưng sự kiện Chuck Hagel và Tony Abbott công du ( Đông Bắc Á) có nhiều lý do. Một là sau vụ Crimée (bị Nga sáp nhập), thì nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á không biết là Mỹ có tiếp tục bảo vệ hay giúp bảo vệ an ninh khu vực hay không. Thành ra, Mỹ cùng với Úc sang vùng đó để trấn an khu vực là chính sách của Mỹ không thay đổi và có Úc ủng hộ Mỹ. Ngoài ra còn có hội nghị Bát Ngao (đảo Hải Nam), có nhiều nguyên thủ quốc tế tham dự, cho nên đây là dịp để Mỹ và Úc tái khẳng định chính sách.

Mỹ, Úc muốn các nước kể cả Trung Quốc hội nhập vào một mạng lưới an ninh trong khu vực không những để bảo vệ an ninh khu vực mà còn bảo vệ vấn đề phát triển kinh tế của thế giới.

Trao đổi mậu dịch thế giới chiếm đến 90% bằng đường biển và trong số này thì 60% thông qua Biển Đông. Mà vùng biển này bị Trung Quốc khiêu khích , lấn chiếm với một chính sách rõ ràng « tằm ăn dâu » làm mất an ninh. Mỹ tuy là một nước lớn nhưng lại khó đối đầu với chiến thuật « tằm ăn dâu » cho nên ít nhất Mỹ phải nói rõ cho Trung Quốc biết là Trung Quốc là bạn hàng lớn của Mỹ , Úc là bạn hàng lớn của Trung Quốc , Nhật cũng là bạn hàng lớn của Trung Quốc mà nếu bây giờ Trung Quốc làm xáo trộn như thế này thì sẽ khó cho vấn đề phát triển kinh tế của Trung Quốc, của khu vực và của cả thế giới.

Cho nên trước khi sang Bắc Kinh, Bộ trưởng Chuck Hagel tuyên bố Trung Quốc là nước vĩ đại, một nước vĩ đại phải có thái độ hòa hoãn và có bổn phận đối với an ninh khu vực và an ninh thế giới. Trung Quốc phải coi trọng các nước trong khu vực, không nên dùng vũ lực, không nên đe dọa vì như vậy sẽ làm mất an ninh…

Phản ứng bực bội của Trung Quốc và thái độ hòa hoãn của Mỹ

Tại Bắc Kinh , Chuck Hagel lập lại là vấn đề an ninh khu vực rất quan trọng. Ông nói Mỹ không chống Trung Quốc thành lập vùng « phòng không » nhưng Trung Quốc không có quyền thiết lập một cách đơn phương, không có hợp tác hay tham khảo ý kiến của các nước xung quanh. Điều đó sẽ gây căng thẳng dẫn đến ngộ nhận và xung đột.

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường vạn Toàn đáp lại là đối với Trung Quốc thì vấn đề lãnh thổ Điếu Ngư, Hoàng Sa, Trường Sa là vấn đề chính yếu, không thỏa hiệp , không trao đổi, không nhượng bộ với ai. Không nước nào được phép vi phạm. Ngay sau đó, Phạm Trượng Long (Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương) nói thẳng với Chuck Hagel là việc lập vùng phòng không là chuyện của Trung Quốc, dân tộc Trung Quốc không chấp nhận bị chỉ trích.

Ý nghĩa của phản ứng này là gì ? Là khu vực Đông Á này là của tao (Trung Quốc), tao (Trung Quốc) từ từ sẽ đẩy mày (Mỹ) ra khỏi khu vực này, Mỹ không được nói gì hết. Nếu nhượng bộ thì được còn nếu không thì Trung Quốc vẫn làm tới…

Trong khi đó thì Chuck Hagel rất hòa hoãn, Mỹ từ trước đến nay cũng rất hòa hoãn. Vì sao ? Vì nếu Trung Quốc cứ hàm hồ thì những nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc có mậu dịch hai chiều rất lớn với Trung Quốc sẽ cảm thấy mất an ninh. Mất an ninh thì họ thấy cần có sự che chở. Nước mạnh nhất hiện nay trên thế giới về quân sự lẫn kinh tế là Mỹ. Mỹ đã đóng vai trò quan trọng này từ sau thế chiến thứ hai và muốn tiếp tục . Mà muốn tiếp tục đóng vai trò này thì Mỹ không thể « tự mình nhảy ra ».

Khi Tổng thống Obama thông báo chính sách « xoay trục » thì có nói là đến năm 2020 thì 60% lực lượng hải quân Mỹ sẽ ở trong Thái Bình Dương. Mà hiện giờ (mới 2014) đã nâng lên 55% rồi. Khi Trung Quốc khiêu khích thì Mỹ đưa 2000 Thủy quân lục chiến sang Darwin (Úc), cách đảo Hải Nam nơi Trung Quốc đóng 20.000 Thủy quân lục chiến đến mấy ngàn cây số.

Đối với Mỹ, việc này (gửi quân) chỉ là vấn đề hình thức (còn thông điệp chính) là tôi có mặt ở đây, các anh (Nhật, Úc, Hàn và Đông Nam Á) phải liên kết với nhau trong một cơ chế an ninh, một mạng lưới an ninh thì các anh có thế dựa vào tôi….

Lá bài của Mỹ và trận thế ‘tam quốc mới’

Kính mời quý thính giả theo dõi toàn bộ phần trình bày của chuyên gia Ngô Vĩnh Long trong phần « âm thanh ».

Ukraina : Đàm phán tại Genève, Putin ngầm đe dọa – RFI

18 Th4

 

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (T) và Ngoại trưởng Nga gặp nhau trước cuộc họp 4 bên về Ukraina tại Genève ngày 17/04/2014.

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (T) và Ngoại trưởng Nga gặp nhau trước cuộc họp 4 bên về Ukraina tại Genève ngày 17/04/2014.

Reuters
Thụy My

Hôm nay 17/05/2014 lần đầu tiên bốn bên Nga, Hoa Kỳ, Liên hiệp châu Âu và Ukraina đàm phán tại Genève để cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng tệ hại nhất giữa phương Đông và phương Tây từ thời chiến tranh lạnh cho đến nay. Tổng thống Nga Vladimir Putin ngầm đe dọa có thể sử dụng vũ lực.

 

Các nhà ngoại giao Mỹ bày tỏ hy vọng sẽ có được đối thoại thực sự giữa Matxcơva và Kiev, và giảm được căng thẳng ở miền đông Ukraina. Nhưng cách đây một tuần chính Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách châu Âu Victoria Nuland đã nhìn nhận không chờ đợi nhiều ở hội nghị này.

 

Tổng thống Nga Vladimir Putin cũng tỏ ra cứng rắn, khi tuyên bố « rất hy vọng sẽ không buộc lòng phải gởi quân đội đến Ukraina ». Ông Putin kêu gọi Kiev «chấp nhận đối thoại kẻo đưa đất nước đến thảm họa », cho lời khẳng định quân Nga có mặt tại miền đông Ukraina là « tào lao », đòi « bảo đảm quyền lợi của người Nga » tại đây. Putin cũng cam đoan không hề sợ hãi NATO.

Từ Genève, thông tín viên Daniel Vallot nhận định :

« Một số nhà ngoại giao cho rằng bản thân việc tổ chức được cuộc hội nghị tại Genève đã là một thành công. Đây là lần đầu tiên Ngoại trưởng Nga gặp gỡ người đồng nhiệm Ukraina, xuất thân từ cuộc cách mạng Maidan. Nhưng trừ trường hợp phép lạ xảy ra, có rất ít cơ hội khiến các thương thảo này mang lại được kết quả cụ thể.

Một bên là người Nga khăng khăng với dự án biến Ukraina thành một liên bang. Đề án này bị chính quyền Ukraina và các đồng minh phương Tây bác bỏ ngay lập tức, cho rằng đây là khúc nhạc dạo đầu dẫn đến việc đất nước này bị tan rã. Phía Kiev cho biết sẵn sàng thảo luận vấn đề tản quyền, để cho khu vực miền đông được tăng cường tự trị. Tuy nhiên các nhượng bộ của Ukraina vẫn chưa đủ dưới mắt Matxcơva.

Ngoài các đề nghị căn bản về tương lai của Ukraina, tình hình tại chỗ ngày càng gay go. Matxcơva và Kiev tố cáo lẫn nhau là đã khơi dậy căng thẳng tại miền đông Ukraina. Thế nên cần phải có một sự bày tỏ thiện chí cao độ từ các bên, để có thể tiến hành đối thoại, và hình thành nên hy vọng thoát khỏi khủng hoảng từ cuộc đàm phán này ».

Vụ ACB: bầu Kiên ‘sẽ phản công’? – BBC

18 Th4
Cập nhật: 16:06 GMT – thứ tư, 16 tháng 4, 2014
Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên)

Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) trình tòa gần 2 năm sau khi bị bắt.

Hai năm có thể là khoảng thời gian đủ dài để bị cáo chính trong ‘đại án’ ở Ngân hàng ACB, ông Nguyễn Đức Kiên, tức Bầu Kiên, phản công và những người muốn thấy ông Kiên và những ai đứng sau lưng ông bị ‘suy giảm uy tín’ hoặc ‘trừng phạt’ có thể không còn ‘nắm đằng chuôi.’

Bình luận từ Sài Gòn về diễn biến vụ xử sơ thẩm ông Bầu Kiên bị hoãn lại cùng ngày phiên tòa được khai mạc hôm 16/4/2014, nhà báo tự do, Tiến sỹ kinh tế Phạm Chí Dũng nói với BBC:

 

“Theo tôi thấy từ năm 2009, 2010 trở về trước, những vụ hoãn xử như thế này không có nhiều và nó cũng không liên đới nhiều lắm tới những động thái, cơ mưu, những tính toán chính trị,

“Nhưng đặc biệt từ năm 2011, khi thành lập tân chính phủ cho đến giờ, động thái hoãn xử dường như có tính toán tới một số cái ảnh hưởng tới đối nội và thậm chí là đối ngoại.”

Chắc chắn vụ bầu Kiên liên quan khá nhiều quan chức và chắc chắn cũng có những đường dây đi đêm với một số ngân hàng và dắt dây thêm một số chính khách nào đó mà người ta không tiện nêu tên ra mà thôi

TS Phạm Chí Dũng

Theo nhà quan sát này, ông Bầu Kiên là người có một tầm ảnh hưởng và quyền lực ngầm rất mạnh ở Việt Nam, tuy nhiên, việc ông ‘chịu im lặng’ trong thời gian dài là ‘bất thường’ và cũng có thể việc hoãn xử hôm thứ Tư là một động thái ‘phản công nhẹ’ của ông.

‘Bầu Kiên sẽ không để yên?’

Bầu Kiên là một nhân vật quyền lực và ông sẽ không dễ dàng để cho mình thua cuộc trong một cuộc ‘đụng độ’ liên quan các nhóm lợi ích, theo TS Phạm Chí Dũng.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

TS Dũng nói: “Trước kia Bầu Kiên rất tự tin, Bầu Kiên chưa bao giờ nghĩ là mình bị bắt, còn một thời gian khi bị đưa vào trại giam thì Bầu Kiên lắng tiếng hẳn và dường như có một áp lực nào đó bắt Bầu Kiên phải im lặng, đó là một sự lạ đời,

“Tôi cho rằng Bầu Kiên không thiếu gì bạn bè và các luật sư, bạn bè thân hữu và các luật sư để bảo vệ và có thể đưa ra những phản tố, nhưng mà tại sao lại im lặng cho tới giờ này và tới giờ này chỉ lấy lý do là ông Trần Xuân Giá, là quan chức Nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư ‘bị bệnh’ và ngừng phiên tòa, tôi cho đó là một lý do khá nhẹ nhàng và nếu gọi là sự phản công của Bầu Kiên thì cũng khá nhẹ nhàng.”

Theo ông Dũng, vụ án ông Bầu Kiên chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp, ông đưa ra lý do:

“Chắc chắn vụ bầu Kiên liên quan khá nhiều quan chức và chắc chắn cũng có những đường dây đi đêm với một số ngân hàng và dắt dây thêm một số chính khách nào đó mà người ta không tiện nêu tên ra mà thôi.”

‘Ông Trần Xuân Giá vô tội?’

Ông Trần Xuân Giá

Ông Trần Xuân Giá lúc ‘còn khỏe’ trong một lần xuất hiện ở Viện Kiểm sát.

Hôm thứ Tư, từ Hà Nội, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho rằng vụ án ông Bầu Kiên đã bị kéo dài bất thường, tính từ thời điểm ông bị bắt và nay đưa ra xét xử.

Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) trực thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư nói:

“Đây là một vụ án hết sức phức tạp và kéo dài một cách không bình thường, và các luật sư đã đề nghị là phải hoãn vụ án, trước khi nó bắt đầu, và ông Bầu Kiên, ông Trần Xuân Giá đều nhiều lần khẳng định một cách rất mạnh mẽ là họ vô tội,

“Và tôi không biết phiên tòa này sẽ được tiếp tục như thế nào và có hoãn lại sau khi phúc thẩm xử vụ Huyền Như và Vietinbank hay không, đấy là các tình tiết mà phải theo dõi tiếp.”

Trước câu hỏi các bị cáo trong vụ án ACB có vô tội hay là không, TS Doanh cho rằng cựu Bộ trưởng Trần Xuân Giá không có tội.

Ông nói: “Tôi không nghiên cứu kỹ trường hợp của ông Bầu Kiên, nhưng tôi có xem xét trường hợp hồ sơ của ông Trần Xuân Giá và tôi đồng ý rằng ông Trần Xuân Giá vô tội.

Tôi không nghiên cứu kỹ trường hợp của ông Bầu Kiên, nhưng tôi có xem xét trường hợp hồ sơ của ông Trần Xuân Giá và tôi đồng ý rằng ông Trần Xuân Giá vô tội

TS Lê Đăng Doanh

“Vì ông ấy quyết định gửi tiền đến ngân hàng Vietinbank khi đó chưa có quyết định cấm việc gửi tiền như thế, cho nên bây giờ áp dụng một điều được công bố sau đó một năm để kết tội những người đã thực hiện những điều đó trước một năm, theo tôi là điều hết sức không bình thường.”

Hôm 16/4, Hội đồng Xét xử vụ án Bầu Kiên đã đồng ý với đề nghị của Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội hoãn phiên tòa vì lý do cựu Bộ trưởng không đủ sức khỏe để hầu tòa.

Khi được so sánh quyết định này với một phiên tòa trước đây ở Đà Nẵng, Tòa án đã đưa một bị cáo, Tướng Trần Văn Thanh, nguyên Giám đốc Công an Thành phố ra tòa trong tình trạng phải nằm trên cáng, với các thiết bị chăm sóc tích cực, Tiến sỹ Doanh nói:

“Trong trường hợp ông Trần Văn Thanh tôi không biết rằng đã có sự giám định của cơ quan y tế hay chưa, và đã có kết luận của cơ quan công an hay chưa, trong trường hợp của ông Trần Xuân Giá, đã có kết luận của cơ quan y tế và bên điều tra đã đến gặp cơ quan y tế, cho nên đã có kết luận và phiên tòa đã chấp nhận.”

Trước câu hỏi, các phiên tòa kéo quá dài và ‘xử đi, xét lại’ quá nhiều có gây ra hiệu ứng gì cho xã hội hay không, ông Doanh nói:

“Theo tôi việc tôn trọng pháp luật và điều phải xử đi, xử lại thế này là một điều đáng mừng, chứ còn nếu như họ cố ý họ xử theo sự chỉ đạo như một án bỏ túi thì đấy lại còn tiêu cực hơn nữa.”

‘Phải đợi vụ Huyền Như’

Bà Huỳnh Thị Huyền Như

Có dư luận cho rằng bà Huỳnh Thị Huyền Như đã ‘gánh tội’ cho Vietinbank trong một vụ án có liên quan ACB.

Hôm thứ Tư, blogger Huỳnh Ngọc Chênh nói với BBC một phiên tòa có thể có nhiều lý do để ‘hoãn xử’ và trong vụ Bầu Kiên, bên cạnh lý do sức khỏe của ông Trần Xuân Giá, kết quả phúc thẩm vụ ‘lừa đảo’ của bà Huỳnh Thị Huyền Như ở và liên quan ngân hàng Vietinbank, một ‘mắt xích’ liên quan tới vụ án ACB, có thể là một lý do khác.

Ông Chênh nói: “Lý do không xử và hoãn lại cũng nhiều yếu tố, và phiên tòa muốn hoãn lại cũng dễ lắm, kể cả Chủ tọa phiên Tòa nói người ta (ốm) đau thì hoãn cũng được rồi, thì như ông Kiên, ông Giá ông nói ông đau thì người ta hoãn lại thôi,

“Vụ ACB nó dính với vụ Huyền Như, vì ACB mang tiền sang gửi cho Vietinbank mà sau đó ‘bị Huyền Như rút đi’, cho nên có sự liên quan, nhưng có một điều tôi rất ngạc nhiên là trong vụ Huyền Như, rồi có 4.000 tỷ đồng mà nói là Huyền Như ‘lừa đảo’, thì số tiền đó đi đâu, không thấy người ta truy cứu, cái tiền đó dùng vào đâu là nghi vấn lớn… và vụ Huyền Như lại có liên quan tới vụ ACB.”

Hôm 16/4, blogger Osin Huy Đức trên trang Facebook của mình đưa ra một thông tin đặt dấu hỏi về việc có khả năng một số lãnh đạo các tờ báo ở Việt Nam đã được ngân hàng Vietinbank ‘mời’ ra nước ngoài.

Nhà báo Huy Đức viết: “Trước phiên xử phúc thẩm vụ Huyền Như hàng chục tổng biên tập, phó tổng biên tập các báo được Vietinbank mời đi châu Âu. Một nguồn tin vừa xác nhận đây là chuyện có thật.

Trước phiên xử phúc thẩm vụ Huyền Như hàng chục tổng biên tập, phó tổng biên tập các báo được Vietinbank mời đi châu Âu. Một nguồn tin vừa xác nhận đây là chuyện có thật.

Blogger Osin Huy Đức trên FB

“Các Tổng Biên tập Tuổi Trẻ, Thời báo Kinh Tế Sài Gòn, Thanh Niên đã từ chối chuyến đi. Một số TBT khác nghe nói đang xấu hổ vì lúc đầu họ tưởng là Ngân hàng Nhà nước mời (NHNN mời nhưng bằng tiền của Vietinbank). Quốc hội nên chất vấn Thống đốc xem có phải NHNN mời và bằng tiền của ai. Nếu Ngân hàng Nhà nước đứng sau vụ này thì các ngân hàng nạn nhân của Vietinbank không lẽ ngồi im?”

Nghi vấn này cũng đã được một Blogger trong nước là Bùi Văn Bồng nêu lên cùng hôm thứ Tư, bình luận về khả năng thực hư và động cơ, nếu có sự việc này, của Vietinbank, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói:

“Tôi cho rằng Vietinbank là một “địa chỉ đỏ” cần phải chú ý, tại vì đây là một ngân hàng được coi là thần thế, nhưng mà cũng là ngân hàng để xảy ra vụ Huỳnh Thị Huyền Như ‘để thất thoát’ bốn nghìn tỷ đồng, như vậy vấn đề ở Vietinbank là rất không bình thường,

“Tôi cho rằng báo chí nếu không cẩn thận, những người được Vietinbank mời và chấp nhận lời mời đi nước ngoài của Vietinbank, sau đó họ sẽ phải im lặng, một sự im lặng được trả giá và phải trả giá, và sau đó họ có thể nhúng chàm cùng với Vietinbank nếu như Vietinbank trở thành một vụ án ngân hàng trong tương lai, thậm chí là còn lớn hơn cả vụ Ngân hàng ACB nữa.”

‘Không còn hiệu nghiệm, linh ứng’

Phiên tòa xét xử Bầu Kiên

Cán bộ Hội đồng xét xử ra về sau khi vụ Bầu Kiên được hoãn xử.

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cùng ngày nói với BBC hai vụ án không chỉ có sự liên quan tới nhau mà còn hết sức phức tạp và riêng với vụ Bầu Kiên, khó có thể chắc chắn biết được ngay sự thực và do đó sẽ phải chờ đợi thêm.

Ông Doanh nói:

“Hai vụ án Huyền Như và Bầu Kiên là hết sức phức tạp và các luật sư đã lên tiếng rất mạnh mẽ và họ có những ý kiến rất khác đối với kết luận của phiên tòa, và tôi nghĩ rằng việc hoãn phiên tòa của Bầu Kiên và việc xem xét phúc thẩm phiên tòa của Huyền Như cho thấy rằng diễn biến là không dễ dàng.”

Trước câu hỏi, liệu trong vụ án ACB, ông Bầu Kiên, ông Trần Xuân Giá và một số bị cáo khác đang là ‘nạn nhân’ của một cuộc xung đột quyền lực nào đó giữa các phe cánh đang tranh giành ảnh hưởng trong Đảng và trong chính quyền ở Việt Nam hay không, Tiến sỹ Doanh nói:

Nhưng tôi cũng được nghe rằng từ sau khi Thứ trưởng (Công an) Phạm Quý Ngọ tạ thế, thì nếu có một sự tranh chấp của một nhóm phái nào đó, đối với phe lợi ích, thì sự tranh chấp đó không còn hiệu nghiệm, linh ứng như trước đây nữa, mà mọi sự đã gần như kết thúc sau cái chết của ông Phạm Quý Ngọ

TS. Phạm Chí Dũng

“Trong dư luận đang có những ý kiến khác nhau về những vụ án như thế này, điều đấy thì có lẽ sẽ phải chờ thời gian, và lịch sử sẽ có trả lời cuối cùng.”

Còn Tiến sỹ Phạm Chí Dũng thì nói:

“Tôi được biết rằng vấn đề của Bầu Kiên là rất nhạy cảm và liên quan mật thiết tới lãnh vực chính trị và có thể không loại trừ là có thể xảy ra một sự tranh giành về mặt chính trị nào đó giữa các nhóm, giữa các phe pháí với nhau,

“Nhưng tôi cũng được nghe rằng từ sau khi Thứ trưởng (Công an) Phạm Quý Ngọ tạ thế, thì nếu có một sự tranh chấp của một nhóm phái nào đó, đối với phe lợi ích, thì sự tranh chấp đó không còn hiệu nghiệm, linh ứng như trước đây nữa, mà mọi sự đã gần như kết thúc sau cái chết của ông Phạm Quý Ngọ,

“Cho nên vấn đề của Bầu Kiên theo đánh giá của dư luận hiện nay không phải là quá lớn và sẽ không ảnh hưởng nặng nề tới quyền lợi của phe lợi ích trong thời gian tới.”

Thêm về tin này

 

‘Xiềng chân Bầu Kiên là ngược đãi’

18 Th4
Cập nhật: 16:08 GMT – thứ năm, 17 tháng 4, 2014
Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) bị xiềng

Ông Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên) bị còng tay, xiềng chân trong lúc bị dẫn giải.

Việc xiềng chân khi dẫn giải bị cáo Nguyễn Đức Kiên (tức Bầu Kiên) tại phiên tòa xử ông và một số bị cáo khác ở Ngân hàng ACB là mang tính chất ‘tiêu cực’ giống như ‘một sự ngược đãi’, ‘trù giập’ đối với ông Kiên, theo một luật sư nhân quyền từ Việt Nam.

Hôm 16/4/2014, bị cáo Nguyễn Đức Kiên đã bị xiềng xích chân, trong khi tay bị còng mặc dù đã có ít nhất vài chục công an mặc cảnh phục áp giải kề cận tại phiên sơ thẩm xử ông Kiên và những bị cáo khác trong vụ án kinh tế ở Ngân hàng ACB.

 

Các hình ảnh được đăng tải trên truyền thông chính thức của nhà nước cho thấy ông Kiên bị xiềng chân và có thời điểm xuất hiện trước tòa trong một đôi dép lê ‘tổ ong’, được cho là khá ‘nhếch nhác’.

Trả lời câu hỏi của BBC hôm 17/4 về việc liệu có hoàn toàn cần thiết và là điều bình thường hay không khi ông Kiên vừa phải bị còng tay, lại xích chân khi được dẫn giải đi trong ngày hầu tòa, luật sư Lê Thị Công Nhân nêu quan điểm:

Chưa từng thấy một trường hợp bị can trong một vụ án, gọi nôm na là về kinh tế, lại bị xích chân như là ông Bầu Kiên, thì đây quả thực là một sự việc rất hiếm thấy, rất là đặc biệt và theo một hướng tiêu cực; mà theo tôi nó đã mang tính chất giống như là sự ngược đãi

LS Lê Thị Công Nhân

“Câu hỏi liên quan đến sự kiện ông Nguyễn Đức Kiên và hình ảnh của ông bị đưa ra phiên tòa mà ông ấy cũng phát biểu tại phiên tòa là ông phản đối việc nhân viên trại giam T16 người ta xích cả chân ông ấy, ngoài việc còng tay,

“Theo tôi, việc ông Kiên phản đối là hoàn toàn đúng đắn, bởi vì việc ngăn chặn một người nghi can của một vụ án, ngăn chặn một bị cáo để khỏi trường hợp giống như là trốn chạy, người ta thường áp dụng những biện pháp mạnh,

“Mạnh nhất có lẽ là xích chân, chỉ đối với trường hợp mà tính chất là côn đồ và manh động nó thể hiện rất là rõ rệt, từ bản chất của vụ án của bị can liên quan, cũng như là tính cách của bị can đó trong suốt quá trình người ta giam giữ, thì cảnh sát người ta được phép làm việc đó.”

‘Tiêu cực và ngược đãi’

Theo nữ luật sư bất đồng chính kiến này, việc ông Bầu Kiên, một bị cáo trong một vụ án kinh tế chưa có phán quyết, kết luận của tòa án và lại đang ‘kêu oan’, ‘khiếu nại’ bị áp dụng hình thức khống chế đặc biệt này là điều ‘rất hiếm’.

Luật sư Công Nhân, người cũng là một cựu tù nhân chính trị, nói:

“Theo tôi thì chưa từng thấy một trường hợp bị can trong một vụ án, gọi nôm na là về kinh tế, lại bị xích chân như là ông Bầu Kiên, thì đây quả thực là một sự việc rất hiếm thấy, rất là đặc biệt và theo một hướng tiêu cực,

Bầu Kiên

Ông Kiên đã có lý khi phản đối chính thức trước tòa về việc ông bị xích xiềng chân, theo luật sư nhân quyền.

“Mà theo tôi nó đã mang tính chất giống như là sự ngược đãi, đối với cả Bầu Kiên, khi mà ông ấy ra khỏi nhà giam và xuất hiện trước công chúng sau 20 tháng bị giam giữ.”

Khi được hỏi có khác biệt gì khi ông Kiên bị còng tay, xích chân, trong khi nhiều bị cáo trong các vụ án khác như các ông Phạm Thanh Bình (vụ xử Vinashin), Dương Chí Dũng, Dương Tự Trọng (vụ xử Vinalines và liên quan), bà Huỳnh Thị Huyền Như (vụ Vietinbank)… đều không ai bị áp dụng hình thức xiềng chân, dù phần lớn các bị cáo này là các bị can, bị cáo trong các đại án kinh tế, luật sư Công Nhân nói:

“Những trường hợp vừa nêu, không ít thì nhiều, các bị cáo đều thừa nhận hành vi của họ, và có thái độ tôi nói rõ là thừa nhận hành vi, tức là họ làm một số việc gì đó và họ nhận là họ có làm những việc đó, giống như kể cả tù chính trị chúng tôi,

“Nhìn nhận những sự việc mà họ làm là có tội hay không, thì chúng ta thấy là những ví dụ vừa nêu, nói chung họ đều nhận tội, nhưng trong trường hợp của ông Nguyễn Đức Kiên, chúng ta thấy rằng là ngay trong buổi sáng hôm qua, khi ông ra tòa, ông ấy đã tuyên bố là ông ấy vô tội,

“Và điều ấy là một sự xuyên suốt khi mà ông ấy nói là 20 tháng tù, ông ấy đã gửi không biết bao nhiêu là đơn thư tới những nơi để mà kêu oan, để mà khẳng định ông ấy vô tội.”

‘Phải theo ý nhà tù’

Nhưng ở Việt Nam thì vận động đã biến thành cưỡng bức, đấy là một sự thực và thường thì người tù không thể nào đủ sức để chống lại những mệnh lệnh như là phải cắt tóc, hoặc là phải mặc bộ quần áo theo như ý mà nhà tù muốn

LS Lê Thị Công Nhân

So sánh với kinh nghiệm bản thân khi từng bị tù giam trước đây, luật sư Công Nhân cho rằng ông Kiên đã bị ‘trù dập, ngược đãi’, luật sư nói:

“Theo như kinh nghiệm của tôi khi đã ở trong tù, cách mà ông ấy bị đối xử như vậy rõ ràng là một sự cố ý mang tính chất là trù dập và ngược đãi, bởi vì họ đã không biết làm cách nào để khuất phục ông ấy phải nhận tội,

“Trong suốt hai mươi tháng giam giữ, ông ấy liên tục kêu oan một cách có hệ thống, một cách thống nhất chứ không phải là (như) người ta hay dùng từ gọi là phản cung, ông ấy không phải trường hợp như vậy.”

Theo luật sư Công Nhân bản thân ông Nguyễn Đức Kiên và các luật sư được ông ủy thác bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông trước Tòa trong vụ án hoàn toàn ‘có quyền’ được khiếu nại và yêu cầu các cơ quan thực thi pháp luật chấm dứt sử dụng các hình thức mà bà gọi là ‘ngược đãi’.

Nhân dịp này, luật sư nhân quyền nêu quan điểm cho rằng chính quyền và các cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam, trong đó có tòa án và ngành công an, cần xem lại các hành vi được cho là ‘vi phạm nhân quyền và nhân phẩm’ của các bị can, bị cáo, tù nhân.

Trong đó có các hành vi như ‘cạo trọc đầu’ nghi can, làm người bị tình nghi xuất hiện trước tòa án, truyền thông, báo giới trong những bộ quần áo và hình thức bên ngoài có thể định hướng và gây cảm giác, suy diễn rằng ‘đối tượng là một tội phạm’ trước khi thậm chí có phán quyêt cuối cùng của tòa án.

Yên tâm, yên tâm! Không sao đâu! Cả nhà cứ yên tâm đi, nhá

Ông Nguyễn Đức Kiên nói với người nhà

Luật sư nói: “Tôi khẳng định là không có những quy định nào bắt buộc mà họ (cơ quan công quyền) luôn dùng hình thức vận động, nhưng mà nếu như một chính quyền tử tế và những nhân viên công quyền hiểu biết pháp luật, tuân thủ đúng nguyên tắc thượng tôn pháp luật, thì vận động nó sẽ đúng là vận động,

“Nhưng ở Việt Nam thì vận động đã biến thành cưỡng bức, đấy là một sự thực và thường thì người tù không thể nào đủ sức để chống lại những mệnh lệnh như là phải cắt tóc, hoặc là phải mặc bộ quần áo theo như ý mà nhà tù muốn.”

Hôm thứ Tư, một số báo chí của Việt Nam đã không chỉ đăng tải ảnh chụp mà còn cả clip video cho thấy bị cáo Nguyễn Đức Kiên bị xiềng xích ở chân, một số clip trên báo chính thức còn ghi âm và tường thuật ông Kiên nói:

“Yên tâm, yên tâm! Không sao đâu! Cả nhà cứ yên tâm đi, nhá!”, ông Kiên vừa bước đi trong sự dẫn giải của số đông cảnh sát mặc sắc phục, vừa nói trong clip.

Thêm về tin này

 
%d bloggers like this: