Lưu trữ | 5:25 Chiều

Việt Nam : Hàng ngàn công an cưỡng chế đất tại Dương Nội – RFI

26 Th4

 

Lực lượng cưỡng chế phong tỏa đường Lê Trọng Tấn để giải tỏa đất ở Dương Nội, sáng 25/04/2014 (ảnh : Mai Dũng)

Lực lượng cưỡng chế phong tỏa đường Lê Trọng Tấn để giải tỏa đất ở Dương Nội, sáng 25/04/2014 (ảnh : Mai Dũng)
Thụy My

Từ sáng sớm hôm nay 25/04/2014 khoảng 1.000 công an đã được huy động để cưỡng chế đất tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội nhằm thực hiện dự án khu B đô thị Lê Trọng Tấn.Trong số khoảng một trăm người dân Dương Nội có mặt tại chỗ để giữ đất, chừng mười người đã bị bắt hoặc phải nhập viện vì bị đánh đập.

 

Trả lời RFI Việt ngữ, anh Nguyễn Văn Thắng, cư ngụ tại tổ dân phố Quyết Tiến, phường Dương Nội, cho biết trong số những người bị bắt có bà Cấn Thị Thêu, một dân oan lâu nay tích cực đấu tranh. Bà Thêu đang đứng trên chòi cao để chụp hình thì bị công an leo lên chụp thuốc mê, dùng gầu xe xúc đưa xuống và chở đến bệnh viện, sau đó bị đưa vào trại giam. Chồng bà Thêu cũng đã bị bắt giam.

 
Anh Nguyễn Văn Thắng, phường Dương Nội

 
25/04/2014
 
 

 

” Chúng nó đã thông báo ngay từ hôm trước rồi, thì hôm nay chính quyền bắt đầu đổ quân vào khoảng độ trên một nghìn người, cả công an cả đầu gấu – thuê xã hội đen đấy ạ. Cả chục cái xe 45 chỗ, chưa kể mấy chục cái xe con – xe 4 chỗ rồi xe 12 hay 15 chỗ. Riêng phường Dương Nội đã tầm hơn 200 vừa công an vừa dân phòng, tất tần tật khoảng hơn nghìn. Đông kinh khủng luôn ! Đông còn hơn cả ngày mùng 9 tháng Ba nữa, ngày đó cũng cưỡng chế mà.

Lực lượng người ta đông quá. Thứ hai nữa là các bà con là người già. Nói chung tất cả đều lễ sống các ông công an ấy, quỳ lạy các ông ấy. Chị bảo, bây giờ mình có một nhúm người ấy thì làm sao, toàn người già thì chống đỡ làm sao được hàng nghìn người như thế. Cũng đành chỉ xin chúng nó thôi chứ biết làm thế nào. Nhưng mà người ta vẫn không buông tha, người ta vẫn cứ túm rồi là đánh, rồi bóp cổ mấy người.

Bà con giữ đất thì có khoảng hơn 300 hộ, nhưng thực tế hôm nay vì có cái đám ma nhà đấy cũng to nên bà con hôm nay lên chỉ tầm độ trăm người đổ lại. Hôm nay người ta cho máy ủi, máy xúc cào lung tung hết cả lên, xong rồi họ quây tôn. Người ta dự kiến làm từ giờ đến mùng 8 tháng sau là phải quây xong hết chỗ đấy và san ủi hết.

Sáng nay em cũng ở đấy mà, nhưng trước khi làm người ta xuống xua hết, đuổi hết dân đi. Vừa đánh vừa đuổi dân ra khỏi khu vực đấy. Có mỗi chị Thêu đứng trên một cái chòi cao để chụp ảnh, thì bọn nó biết chị ở trên đấy, nó lên nó oánh thuốc mê.

Bọn công an, cả đầu gấu, xã hội đen nó trèo lên, lấy khăn mặt oánh thuốc mê cho mê man không biết gì. Nó ngửa cái cần vục ra, rồi bọn nó khênh chị vứt vào cái gầu vục để hạ xuống, xong chở ra ngoài viện. Hồi sức cấp cứu một tí thì nó chở đi xuống trại số 3 công an thành phố Hà Nội. Và anh chồng chị Thêu thì cũng bị bắt ngay từ đầu. Nói chung là họ chủ định bắt chị Thêu từ lâu rồi. Chúng nó nghĩ là chị Thêu ăn tiền nước ngoài, cầm đầu với kích động bà con nọ kia, nhưng thực ra có gì đâu.

Bà con nông dân toàn là tự phát. Nói chung là mọi người không có lý do gì để bắt, nhưng mà cứ vớ được là bắt à. Bắt đến gần chục người. Rồi một số thì cũng cho đi viện – bị oánh mà ! Một số bị thương nữa.

Tình hình bây giờ thì bọn chúng vẫn chặn hai bên đường không cho dân vào. Cả trục đường lớn như thế mà chặn hết, kể cả ô tô phải quay đầu đi đường khác. Họ đổ bộ nhiều lắm cơ, mà họ lùa bà con như lùa vịt, vớ vẩn là đánh ngay !”

Anh Nguyễn Văn Thắng nói thêm, khu đất màu mỡ này bị cưỡng chế để làm dự án địa ốc. Bên cạnh khu bị giải tỏa hôm nay còn nhiều mồ mả từ xưa để lại vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng:

” Cái khu đất này ngày trước đã cưỡng chế một lần rồi, nhưng bà con lại tăng gia sản xuất. Có nghĩa là cứ ra mỗi người cuốc một tí để tăng gia thêm, trồng trọt lại. Bây giờ người ta lại cho máy vục, máy ủi vào phá xong rồi quây tôn lại. Công trình này ở dạng mua đất xây nhà xong rồi bán, dạng chung cư.

Cạnh khu đấy bây giờ thì chưa thấy làm, nhưng không biết là từ giờ đến mùng 8 người ta có làm ở đấy không. Còn khu tha ma, ngày mùng 9 tháng Ba là chính quyền đã ủi tan nát hết, không thông báo di dời mà cứ thế ủi tan hết. Lúc đấy họ không đưa giấy di dân và mả, cho nên họ ủi, người dân chúng em không chịu nhận bốn triệu hai một ngôi.

Bình thường di chuyển đi là bốn triệu hai, nhưng bây giờ người ta ủi, cái thì vỡ nắp, cái thì mất tiểu…nhiều lắm. Người ta không đồng tình bồi thường bốn triệu hai, mà bắt phải đi xét nghiệm để gom xương cốt của cha ông người ta để lại.

Ở đây nhiều mộ lắm, chôn từ 1945 mà. Năm 1945 lúc đấy là chết đói, ngày xưa toàn là cuốn chiếu, chôn ở đây nhiều lắm. Hằng bao nhiêu tầng lớp chứ không phải là một tầng lớp ở đấy, không thể đếm xuể được.”

Được biết ngay sau khi bà Cấn Thị Thêu bị bắt, di chúc của bà đề ngày 24/04/2014 đã xuất hiện trên mạng xã hội. Theo đó, bà ủy quyền cho « tập thể 365 hộ nông dân mất đất ở phường Dương Nội, dân oan cả nước, nhân sĩ trí thức, các blog đấu tranh dân chủ, truyền thông trong nước và quốc tế » lên tiếng giúp nếu bà bị bắt giam.

Bà Thêu cho biết cuộc đấu tranh của bà và bà con Dương Nội kéo dài đã hơn sáu năm, bản thân bà nhiều lần bị truy bức. Bà Cấn Thị Thêu yêu cầu nếu đem bà ra xử thì phải xử công khai, trường hợp bị bắt và đánh đập đến chết, nếu chính quyền làm ngơ thì « bà con hãy đưa thông điệp này đến Hội đồng Nhân quyền Thế giới kêu gọi giúp đỡ để lấy lại sự công bằng cho tôi và cả dân tộc Việt Nam ».

QUÊ HƯƠNG

26 Th4

 Quê hương nơi mẹ sinh con
Nơi chôn nhau rốn thuở còn sơ sinh
Khỏang trời nựng nịu âm thanh
Tiếng con bập bẹ tròn vành môi thương

Quê hương rau muống cà tương
Vạc, Cò mẹ hát đêm sương cành mềm
Trăng mơ màng rọi sân thêm
Cho con giấc ngủ êm đềm từng hôm

Quê hương khói rạ tro rơm
Bón thân cho đất lúa đơm đầy đòng
Cho con lớn những ước mong
Giấc mơ Phù Đổng giống dòng Lạc-Âu

Quê hương ruộng cạn đồng sâu
Mồ hôi mặn đất da nâu ánh vàng
Lũy tre giếng nước cổng làng
Ấm hơi chân mẹ, vai quàng gió sương

Quê hương trăm mến ngàn thương
Đàn con xa tổ muôn phương lại về
Người người chung một tình quê
Ai đi cũng muốn lần về cố hương.

1891208_1388455531417513_270574962_n

Phiếm đàm Bao giờ mới xuất hiện tác phẩm văn học “xứng tầm” ?

26 Th4

 

Đào Dục Tú

Nhiều thập kỳ vừa qua, có một nỗi niềm băn khoăn trăn trở của cả người viết lẫn người đọc là văn học Việt Nam bao giờ xuất hiện tác phẩm “xứng tầm” thời đại, xứng đáng với dân tộc ?

Đặt câu hỏi bao giờ xuất hiện , cũng có nghĩa “ngầm” đặt vấn đề tiên quyết là làm thế nào để có tác phẩm như thế ? Đã có, thì xuất hiện chỉ còn là vấn đề thời điểm ,thời gian. Lại chợt liên tưởng đến giai đoạn văn học chống Mỹ cứu nước . Cái mà mọi lý thuyết văn học XHCN thường xem trọng là “hiện thực cuộc sống”. Mà hiện thực cuộc sống thời đó thì. . .” vô cùng hoành tráng” cả về chiều kích lịch sử thời đại lẫn chiều sâu nhân bản ,nhân văn : “Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa” . . .Ta vì ta cũng vì cả . . . loài người. . . Ấy thế nhưng ; có lẽ không chỉ “tự kiểm kê ” gia sản văn học của từng cá nhân mà trông rộng ra, của cả nền văn học; có mấy người cầm bút dám tự mãn, hài lòng. Xin viện dẫn trường hợp. hai nhà văn quân đội tiêu biểu là Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Khải Mỗi người một cách nói ,mỗi người một cách diễn dịch ; song đều dẫn tới lời bình ngụ ý : chẳng có tác phẩm nào “sống được” với thời đoạn vài thập kỷ chứ đừng nói gì đến giấc mơ ” sống mãi với thời gian”. “

 

Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa !” hay ” một thời lãng mạn” thiếu chân đế sự thật, thì cũng chỉ là hai cách nói, hai cách diễn dịch của một nội hàm ,của một nội dung “tác phẩm còn phản ánh phiến diện sự thật”.Mà một nửa bánh mì là bánh mì còn một nửa sự thật thì không là . . . sự thật. Tác phẩm “không là sự thật” cũng thật khó coi là tầm cỡ ,đương nhiên. Kể cũng buồn. Đối với lớp người cầm bút hậu sinh sau chiến tranh, nay đã ở độ tuổi trên dưới “tứ thập bất hoặc” “chín” cả về đời lẫn về nghề thì lời cảnh báo ,lời di huấn của các bậc đàn anh như thế có thể nói là “muộn còn hơn không”. Chứ với người đã kinh qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nói chung”lực bất tòng tâm”, thì chỉ còn một việc duy nhất là đem theo nỗi buồn tiếc nuối văn chương sang. . . thế giới bên kia “một ngày xấu trời” nào đó mà thôi. Còn ai không tiếc nuối, không “phản tỉnh ,phản biện” trước hết với chính mình, thì còn biết nói gì với họ . Với người đời đa lộc đa thọ thành đạt tự mãn , nghề văn cũng mát mái xuôi chèo, xin được kính nhi viễn chi. . .

Những lời “tự vấn nghề nghiệp” văn chương của hai ông họ Nguyễn “trẻ” để tạm phân biệt một cách vui vẻ với cụ “Nguyễn già” khả kính mà phong cách văn chương lẫn phong cách sống đã gần như. . . giai thoại, có quá nhiều giai thoại . . . thật đáng ” để đời” suy ngẫm. Chao ôi, tác phẩm lớn “lộng gió bốn phương” ánh sáng cuối đường đời ,cuối chân trời đối với người cầm bút xa xôi như ảo ảnh . ” Sống và chiến đấu” đến như hai bác Nguyễn trẻ, với vốn sống và vốn thời gian kinh lịch ở đời đáng nể đáng kể như thế ,với tâm huyết đổ vào nghề cầm bút cũng đáng nể đáng kể. như thế, kinh nghiệm viết văn như thế và chồng sách vở trước tác ra khá cao như thế . . .như thế . . .mà còn không hài lòng ,mà còn vẫn mơ, dù nói ra hay không ,,tác phẩm để đời ,có ích lâu dài cho người đường thời và cho mai hậu. Huống chi là người mới “sạch nước cản” ,nghề văn ,nghiệp văn còn mỏng cánh chuồn chuồn ! Không ngoại trừ có những tài năng đột xuất, có những . . . “ngôi sao ban ngày”. Ví như đầu thời kỳ đổi mới nửa cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước ,sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp và hàng loạt truyện ngắn xuất sắc của ông ta đến mức nghe nói nhà văn Nguyễn Khải lúc bấy giờ chỉ muốn đánh đổi chồng sách cao của mình lấy “Tướng về hưu” của Thiệp . . . .Hỏi văn giới Việt mấy chục năm qua ,có được mấy người như Thiệp? Còn thì . . .

Hình như “nghiệp chữ” chỉ trả công, chỉ vinh danh thích đáng cho những ai, nói như cụ Trần Dần ” Thủ lĩnh trong bóng tối” (chữ của Phạm Thị Hoài) thồ chữ ở xứ này lên. . . .Hay nói như cụ Lê Đạt, phu chữ, nhọc nhằn ,đổ mồ hôi sôi nước mắt với chữ. Ấy là chỉ nói ,”nghiêng nói” về nghề, về cái đạo văn chương thời nào cũng vậy. Để phần nào phân biệt với đủ thứ người viết lập thân bằng đủ thứ nghề khác nhau ,kinh lịch khác nhau nhưng giống nhau ở một điểm là đơn giản hóa công việc cầm bút, dễ dãi với chữ đến mức trong thực tế xem chữ như con lừa thồ . . . khẩu hiệu luận đề tuyên truyền thời sự , thồ những bài học đạo đức xã hội ” hợp thời trang” có khi rất xa đời sống xã hội . Họ quên , ý thức hoặc vô thức , rằng chữ có đời sống riêng của nó ,cũng như hình tượng nghệ thuật muốn sống được trên trang giấy trắng mực đen phải có đời sống riêng,”nhân cách” riêng, cá tính riêng điển hình của nó. Lại nhớ một thời lý thuyết điển hình của chủ nghĩa hiện thực ” tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”. . . cùng rất nhiều thứ “tính” của văn học ghi trong giáo trình trung cấp của tác giả Nga Xô viết Ti-mô-phi-ép . . .được các thầy truyền giảng cho sinh viên Văn khoa nước ta thập kỷ sáu mươi ,bẩy mươi thế kỷ trước .

Thời cụ Nam Cao, cụ đâu được thừa hưởng. . . lý thuyết đó ! Lại càng xa lạ với “thời đại thông tin toàn cầu” như thời a-còng mà tài thế , “tài đến thế là cùng” ,cặp bài trùng Chí Phèo Thị Nở chẳng những không bị thời đại hậu hiện đại ” át vía” mà còn ,hình như sống động hơn xưa !. Hay tại bởi “hiện thực đời sống” thời nay số lượng Chí Phèo các kiểu càng ngày càng đông đúc, đi tới đâu cũng không khéo vào nhầm phải làng . . Vũ Đại ! Tiếc thay hình tượng con người mới trong văn chương mấy chục năm nay chả có nhân vật nào sống động được như . . . anh Chí, chị Nở ! Hình như lão Khúng của bác Châu “khách ở quê ra” tỉnh cũng mờ dần ,các lão “Khùng” có cơ lấn lướt xô đẩy lão Khúng vào một xó quên lãng rồi cũng nên !. . . Chưa kể đến những người lính trong “Dấu chân người lính” hay “Mảnh trăng cuối rừng” hình như chỉ còn phảng phất như . . . mơ trong tâm cảm lớp người thuộc diện ” xưa nay hiếm” trở nên trung thọ ,đại thọ , mỗi khi họ ” chống mắt ,dỏng tai” ngồi xem truyền hình nhà nước chiếu lại cảnh Trường Sơn năm xưa ” Ai chưa tới đó thì chưa hiểu mình” ( Tố Hữu).

Trước khi có lời đáp bao giờ xuất hiện tác phẩm văn học xứng tầm, chắc chắn phải có lời giải trình thuyết phục được độc giả bởi chính người cầm bút; là  làm gì, làm thế nào để có được tác phẩm “đẹp như mơ” như thế. Hiện thực đời nào cũng ” hoành tráng theo kiểu riêng của nó” cả, vấn đề chỉ còn ở chỗ tinh thần người cầm bút có thực sự trọng chữ ở mức cần thiết hay. . . cao hơn ,”trên cả mức cần thiết” cho văn chương hay không mà thôi ./.

 

http://www.badamxoevietnam2.wordpress.com/2014/04/19/phiem-dambao-gio-moi-xuat-hie  

 

 

Share this:

 

This entry was posted on Tháng Tư 19, 2014 at 3:40 chiều and is filed under Báo chí, Lý luận phê bình. Bạn có thể theo dõi phản hồi của bài này với dòng phản hồi RSS 2.0. Bạn có thể gửi phản hồi, hoặc trackback từ trang web của bạn.

7 phản hồi tới “Phiếm đàm Bao giờ mới xuất hiện tác phẩm văn học “xứng tầm” ?”

  1. Thắng Dư nói:
    Tháng Tư 19, 2014 lúc 11:32 chiều | Trả lờiĐọc bài viết này, tui lại nhớ đến bài viết do một ông bạn photo từ trên mạng cách đây mấy năm có cái tựa là : Tản mạn về cái sự văn nô. Đọc xong, tui bảo, kiếp văn nô thì làm đéo gì có tác phẩm lớn được ?
  2. D.N.L. nói:
    Tháng Tư 19, 2014 lúc 11:51 chiều | Trả lờiNhà văn Nam Cao không những là một tài năng lớn mà còn là
    một “tiên tri thấu thị” vốn có ở những văn nghệ sĩ bậc thầy.
    Chỉ có thời này mới nhan nhãn các điển hình Chí Phèo-Thị Nở
    đang kêu than… “ai cho tôi làm người lương thiện ?” !
  3. Phan Ngọc Thái nói:
    Tháng Tư 20, 2014 lúc 4:00 sáng | Trả lời

    Tôi tài hèn sức mọn thấy mấy tác phẩm xứng tầm:
    -Trường ca chân đất của Thanh Thảo có hình tượng bất hủ bác 5 Trì gãi háng và “tôi mơ cứt ngập nhà anh”. Thời đại nào cũng cần gãi háng cho đã ngứa và cứt để bón ruộng (cần cho ngành nông nghiệp). Nói chung thơ cứt đái của Thanh Thảo xứng tầm, xú uế ra xú uế, không thối không ăn giải!
    – Tâpj thơ đạo văn Giờ thứ 25, vừa ăn cắp thương hiệu Ru ma ni, vừa văng “đếch” liên tục vào thơ, thơ không cần cảm xúc khô khốc như máy ủi bị giật. Xưa nay người ta làm thơ đàng hoàng, rất cảm xúc, không đạo văn, nay nhà thơ dỏm Phạm Đương đổi mới, không cần những thứ truyền thống đó. Rất xứng tầm thơ tầm bậy, không tầm bậy không ăn giải!.
    – Thơ thiền Hoàng Quang Thuận, thơ dở không thể nào dở hơn, lại đạo ý tưởng từ tập hướng dẫn du lịch của Trần Trương, vẫn được giới thiệu NObel.Không xứng tầm sao HNV gửi dự quốc tế và các GSTS quốc doanh ca tụng trong hội thảo!
    – Sóng & khoảng lặng của Từ Quốc Hoài thua xa văn học sinh lớp 6 với những câu thơ dở điên dở dại dở què dở cụt. Các nhà thơ chân chính làm hơn học sinh lớp 6 là chuyện bình thường. Từ Quốc Hoài làm thua học sinh lớp 6 mới giỏi! Thơ Sóng & khoảng lặng không kém cỏi không ăn giải!
    Nhà thơ Đỗ Hoàng bình luận rất chính xác các thứ trên là “thơ vô lối”>Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo chê đó là các tập “nước cống”.Nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức nói đó là các chú thấp kém tiểu nông!
    Thôi thấy các tập thơ trên xứng tầm Vô văn hóa!

Văn học nghệ thuật tại Việt Nam hiện nay: tên lớn hơn tác phẩm!

26 Th4

Văn học nghệ thuật tại Việt Nam hiện nay: tên lớn hơn tác phẩm! (Dân News 20-4-14) — Lời bình của GS Trần Hữu Dũng: Bài ngắn nhưng rất đúng!

Văn học nghệ thuật tại Việt Nam hiện nay: tên lớn hơn tác phẩm!


Lẽ thường tình nghệ sỹ được lưu danh chính từ tác phẩm của họ, nhiều khi chúng ta nhớ tên tác phẩm, còn tên tác giả chúng ta… quên mất. Thế nhưng oái ăm thay tại Việt Nam hiện nay điều này hoàn toàn ngược lại.

Nếu chúng ta tò mò, muốn biết tên các nghệ sỹ Việt Nam được chế độ tôn xưng là bậc nhất, bằng cách vinh danh họ với giải thưởng Hồ Chí Minh (giải cao nhất hiện nay tại Việt Nam) và xin cho tôi biết bạn yêu thích, đã và đang đọc sách, mê thơ, mê phim, mê kịch, mê tuồng… của các vị này như thế nào, ngoài cái tên tác phẩm họ đã chinh phục bạn ra sao? Tôi thì nói thật, hoàn toàn không một chút thiên kiến nào về chính trị, nhưng tác phẩm của những Nguyễn Quang Sáng, Phạm Tiến Duật, Lê Văn Thảo, Anh Đức, Hữu Thỉnh, Hồ Phương… không gợi lên cho tôi một cảm xúc nhân văn hay thẩm mỹ nào từ dòng đầu tiên, và tôi không đọc họ, dù biết tên họ.

Với các tác giả đã ghi tên vào nền văn học Việt Nam trước năm 1945 và trước năm 1975 (nếu ở miền Nam) thì cái qui luật tác phẩm- tác giả lại đúng với lẽ thường nói trên. Chúng ta nói đến Huy Cận sẽ nhớ ngay đến Lửa Thiêng hay các bài thơ lừng danh khác của ông, nói đến Chế Lan Viên chúng ta nhớ Điêu Tàn, Xuân Diệu nhớ đến Gửi Hương Cho Gió, nhắc Nguyễn Tuân nhớ Vang Bóng Một Thời…, dù những nhà thơ, nhà văn đó được giải cao nhất của nhà nước này với những “tác phẩm” mà giờ đây chẳng ai thèm đọc, chẳng ai nhớ tên!

Còn tại miền Nam trước năm 1975 tác phẩm khẳng định tên tuổi nghệ sỹ là đương nhiên, bởi trong một môi trường cạnh tranh bằng tự do sáng tạo, chỉ có tác  phẩm mới giúp người nghệ sỹ thành danh, điều này giải thích vì sao hiện nay vẫn còn rất nhiều người tìm đọc tác phẩm của Võ Phiến, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc…; vẫn nghe nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trúc Phương…, thậm chí những tác phẩm của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Vũ Khắc Khoan, Hồ Biều Chánh… từ trước năm 1945 vẫn còn được tìm đọc, dù với góc nhìn hiện tại, các tác phẩm đó lỗi thời về mọi phương diện!

Đẩy tên tác giả lớn gấp nhiều lần tác phẩm là một đường lối tuyên truyền hẳn hoi của một chế độ toàn trị, nơi nhà cầm quyền nhìn đám “trí thức (bao hàm cả văn nghệ sỹ) như cứt” nhưng vẫn muốn họ cúc cung làm nô bộc, nên thí cho cái danh, một ít lợi lộc… nhằm làm cho họ ngày càng hèn hơn, tự thỏa mãn với cái danh hão của mình. Mà một kẻ đã hèn, tất sẽ chỉ viết những lời tụng ca cho chủ của mình, tự đánh mất cái giá trị của người nghệ sỹ!


NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Mấy cảm nhận khi này. đọc “Những lớp sóng ngôn từ” (*)

26 Th4

Thêm một nhà thơ chê Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân. Tiếp theo những tập trung bình kém như Trường ca chân đất của Thanh Thảo, thơ đạo thương hiệu như Giờ thứ 25 của Phạm Đương, phải nói rằng Hội chứng tôn vinh thơ dở, tôn vinh thơ tiêu diệt cảm xúc sáng tạo, tôn vinh thơ giả cầy…của những người cầm cân nảy mực cho thơ Việt hiện đại đã đến mức báo động. Chúng cháu phải chờ đợi gì khi các nhà thơ nhà văn trong BCH Hội Nhà văn hưởng bổng lộc ngân sách, đàn đúm du hí bốn phương, ngồi bỏ những lá phiếu đáng xấu hổ thế này. Tất nhiên, trong BCH cũng có nhà thơ lớn, tốt,tiêu biểu cho thế hệ họ, tuy nhiên quá hiếm! Còn hình như những kẻ ăn theo nói leo, không đủ năng lực thẩm định thơ, chỉ cốt kiếm thêm nhiệm kỳ nữa để hưởng thêm những ngày du hí, hơi bị đa số! Bọn cháu trẻ người non dạ, nhận định theo kiểu sinh viên mới ra trường, có gì không phải mong các bác bỏ qua. Và nếu thấy không vừa ý, xin vui lòng delete email này. Cháu cúi xin sự lượng thứ.

Trịnh Bảo Chân

 

Mấy cảm nhận khi này. đọc “Những lớp sóng ngôn từ” (*)

Nguyễn Hữu Quý

Thứ hai ngày 21 tháng 4 năm 2014 8:55 PM  

Thú thực, trước khi Hội Nhà văn Việt Nam thông báo giải thưởng năm 2013 tôi chưa được đọc Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân. Lý do rất đơn giản là không có sách và hình như dư luận cũng không nhắc tới mấy. Đến khi tập thơ đoạt giải thì trên báo Văn nghệ mới có một đôi bài khen nhưng trên “mạng” lại xuất hiện mấy bài chê không tiếc lời của Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng…Một số nhà thơ, nhà phê bình tuy không viết bài chê nhưng khi chuyện trò với tôi cũng đánh giá thấp tập thơ này. Tôi phân vân không biết ai khen chê đúng. Khi nghe một nhà thơ nổi tiếng nằm trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nói, đại ý rằng: lẽ ra năm nay giải thưởng thơ nên bỏ trống vì chưa có tập nào xứng đáng kể cả Những lớp sóng ngôn từ. Có lẽ, từ câu nói này mà tôi phải mượn cuốn thơ Những lớp sóng ngôn từ để đọc một cách kỹ càng.

Tôi nghĩ trong tập thơ này Mã Giang Lân chủ tâm hướng tới đời thường, có nhiều hoài niệm về lịch sử xa xôi và quá khứ đã từng trải. Nhìn cầu Hàm Rồng anh tưởng nhớ tới bao người lính năm xưa nằm xuống, đến động Long Quang lại nghe dư âm lịch sử vọng lại từ thơ Lê Thánh Tông, về quê thì xới lại tuổi thơ khi gặp cây đa xanh nỗi niềm cô tịch / ngôi đình đầy những tiếng nói thầm những bước chân nhẹ…Cảm xúc và suy ngẫm về lịch sử hay hoài niệm dĩ vãng không có gì mới trong thơ ca nhất là với lớp người cầm bút trưởng thành trong giai đoạn chống Mỹ như Mã Giang Lân. Người đọc đợi chờ những phát hiện mới, diễn đạt mới mang dấu ấn sáng tạo thăng hoa của nhà thơ.

Có không? Hình như đọng lại đôi chút trong những câu thơ thế này:…ngôi sao mai đẫm ướt / như vừa vớt lên từ cánh đồng / chưa ráo mồ hôi (Gọi mùa màng) hay: Không hy vọng thì không thể sống / dù hy vọng cùng đường / Ban đêm đốt đèn tìm ánh sáng / ban ngày đốt đèn tìm bóng đêm (Ngẫu hứng).

Còn lại, phổ biến là những bài thơ nặng về kể tả bằng cái giọng đẫm chất khẩu ngữ, không có tứ hay và ít hình ảnh lạ. Cảm giác như Mã Giang Lân làm thơ rất dễ, anh không nhiều lựa chọn khi “đặt” các sự vật, chi tiết cuộc sống vào thơ. Những dẫn dụ sau đây chứng minh cho điều đó: Bốn lăm năm lại một sáng này / nhà chài tung lưới / đoàn tàu hối hả lao vào / hình như ngày hè găm đầy mắt lưới (Một sáng Hàm Rồng); Gió lạnh kéo về / tôi vội vã ra ga mua vé / hối hả tàu / nôn nao xe lượn / nôn nao trời / nôn nao đất / mây chơi vơi / hết một tuần hong hóng ngóng lên trời / nuốt vội nỗi buồn / choàng thêm giá rét / lại xuôi (Mưa tuyết Sa Pa); tôi gặp lại tuổi thơ / chạy nhông nhông theo những con còng gió / những con còng gió chạy nhông nhông trên cát / sóng ập vào ngoi ngóp nhoài lên (Lại về biển); Năm nay lúa chín muộn lại mưa như trút / ứa nước mắt nhìn lúa / liềm hái đành treo suông / đất rừng trông vào sắn vào khoai / chợ xa gánh sắn bán rẻ mua được / mấy gói mì ăn liền / một gói bột ngọt / để dành cho những ngày giỗ Tết (Người chị họ nói); Quán phở chiều ba hào / cô hàng cỡ tuổi tôi nhìn chằm chằm thương mến lắm (Thành phố ngày trở lại); Hai đứa rủ nhau đi Đà Lạt / tránh xa đất Bắc nắng nôi dài (Những ngày Đà Lạt)…

Sở dĩ tôi phải trích dẫn hơi tham thơ của Mã Giang Lân trong Những lớp sóng ngôn từ vì muốn “nói có sách mách có chứng”. Không nhà thơ nào có thể giấu được “đẳng cấp” của mình trong tác phẩm. Một tập thơ khá hoặc xuất sắc phải có nhiều bài, nhiều câu vượt trội; người đọc sẽ bị hút vào đó bởi ma lực của câu chữ, sự mới mẻ của thi ảnh, sự “đắc địa” của ngôn từ. Tính đa nghĩa cũng cần thiết đối với các thi phẩm hay. Nếu đối chiếu những tiêu chí ấy với phần lớn các bài thơ trong Những lớp sóng ngôn từ tôi thấy nó còn non lép. Tôi muốn thẳng thắn nói rằng Những lớp sóng ngôn từ không có nhiều phẩm chất thi ca nổi bật.

Chi tiết trong những bài thơ hay gồng gánh được ý tưởng và tình cảm của tác giả một cách tối ưu nhất. Để cái cụ thể, nhỏ bé trở thành cái khái quát, to lớn nhà thơ không thể không cân nhắc lựa chọn kỹ càng khi đưa các chi tiết vào thơ. Tôi chưa quên được hình ảnh cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật thời chống Mỹ bởi nó vừa cụ thể lại vừa khái quát đến “tầm” thế hệ: Cạnh giếng nước có bom từ trường / Em không rửa ngủ ngày chân lấm / Ngày em phá nhiều bom nổ chậm / Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà…Thực đấy nhưng cũng là ảo đấy. Phôi liệu đời sống đã trở thành tinh hoa thi ca. Cái thật thà của câu chuyện trong Gửi em, cô thanh niên xung phong được chắp cánh bay cao nhờ giấc mơ chập chờn diệu ảo lẩn quất ấy. Trong khi cái thật thà trong khá nhiều bài thơ của Mã Giang Lân mới chỉ là sự “ghi chép” đời sống mà thôi. So sánh thế để thấy rằng, chi tiết hình ảnh trong thơ Mã Giang Lân thường không đắt và có khi ta thấy nó na ná của ai đó, ví dụ: Cây xanh đến nao lòng / Hồn các anh xanh thế khônghình như ngày hè găm đầy mắt lưới ( Một sáng Hàm Rồng). Đỗ Trung Lai trước đó rất lâu đã có câu thơ đẹp: Sao trời lọt qua mắt lưới trong Đêm sông Cầu (viết năm 1980). Và những câu như thế này nữa, tôi thấy ý thơ cũng quen cũ quá: phóng túng như biển / rộng lòng như biển / cô đơn như biển (Lại về biển); khi đói lòng thì dựa vào tiếng hát / khi ngặt nghèo thì dựa niềm tin ( Lang thang); tôi trở về đất bụi nguyên sơ (Viết theo Kinh thánh); Một mùa hè đi dọc miền Trung / cát chang chang (Những ngã đường); Tôi mở những trang thơ lửa bỏng / những trang thơ lấm láp chiến hào (Những ngã đường); Chúng ta đến chợ tình đã vãn / những đôi lứa tìm nhau khuất vào đá / khuất vào cây / khuất vào số phận / thôi đành chúng ta khuất vào nhau (Sa Pa một ngày); giá cả cứ leo thang chóng mặt / miếng cơm manh áo dễ gì đâu (Những ngày Đà Lạt); Ta còn nợ một mùa ký ức / đêm không đèn ngồi với trăng suông (Trăng ở bên trời)…

Lại còn thêm sự dễ dãi của người viết nữa chứ. Xin đọc những câu này: Trở về thăm thú Dinh Bảo Đại / xem ra thua kém nhà doanh nhân / vua trước vua nay sao sánh được / có chăng so với kẻ bần dân (Những ngày Đà Lạt); Tôi mở vào đêm / nhấp nhoáng mặt người / trố mắt chờ xổ số / ánh điện màu cô gái nào cũng đẹp / đẹp đến kinh người (Mở)…

Chuyện cũng đã rồi. Tập thơ Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2013. Tuy nhiên, trước khi được Ban chấp hành Hội bỏ phiếu thông qua thì nó phải vượt qua “ải” Hội đồng Thơ. Dù là chỉ của một năm nhưng tập thơ được chọn trao giải ít nhất phải từ khá trở lên. Tôi nghĩ thế. Trong khi đó, Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân chỉ ở mức trung bình, nếu không có tên trong danh sách giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013 thì chắc ít người nhắc tới. Với thơ như thế, tại sao nó lại thuyết phục được đa số các thành viên Hội đồng Thơ, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng năm 2013? Chả trách, sau khi giải thưởng công bố thì Những lớp sóng ngôn từ lại bị chê nhiều đến thế. Đối tượng chê tập thơ này nhiều nhất lại là các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thuộc ngành Thơ. Người ta không tâm phục, khẩu phục tác giả, tác phẩm được giải thưởng đã đành mà đến Hội đồng Thơ và Ban chấp hành Hội cũng bị hồ nghi.

Đến bây giờ thì tôi tán đồng ý kiến của nhà thơ nổi tiếng giữ vị trí khá quan trọng trong Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam: lẽ ra phải bỏ trống giải thưởng thơ năm 2013 mới đúng.

                                            Đồng Xa, Thanh minh Giáp Ngọ, 2014

                                                                     NHQ

———————-

(*) Tập thơ của Mã Giang Lân, NXB Hội Nhà văn, H.2013

TQ sẽ dùng vũ lực cho đảo tranh chấp? – BBC

26 Th4

Cập nhật: 11:52 GMT – thứ năm, 24 tháng 4, 2014

Vùng đảo Điếu Ngư gồm năm đảo nhỏ và ba đảo đá

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tới Nhật hôm thứ Tư 23/04 để hội đàm với đồng minh chính của họ tại châu Á. Giới lãnh đạo Trung Quốc quan sát diễn biến từ xa trong khi ông Obama nói với một tờ báo của Nhật rằng quần đảo có tranh chấp nằm trong phạm vi hiệp ước an ninh giữa hai nước, mà theo đó Mỹ sẽ có hành động nếu Nhật Bản bị tấn công.

Được biết đến với tên Điếu Ngư ở Trung Quốc, và Senkaku tại Nhật Bản, các đảo này không quá nổi trội trên bản đồ trong khu vực, nằm giữa Hoa lục và phía Nam Nhật Bản.

Trong nhiều thập niên, nhà chức trách Nhật đã cai quản những đảo được cho là có vị trí chiến lược tại Biển Hoa Đông và có thể có dầu khí phía dưới. Tuy nhiên trong vài năm gần đây, Bắc Kinh đã khởi động chiến dịch khẳng định chủ quyền lịch sử đối với các đảo này.

Giới lãnh đạo Trung Quốc thoạt đầu tranh cãi về quyền sở hữu của Nhật vào thập niên 1970 nhưng cả hai nước nhất trí để vấn đề này cho thế hệ tương lai giải quyết.

Chủ đề lại được hâm nóng vào năm 2012 khi chính phủ Nhật mua lại các đảo này từ chủ sở hữu tư nhân.

Những người theo chủ nghĩa dân tộc Nhật muốn phát triển hòn đảo, theo Tokyo. Họ muốn ngưng kế hoạch này, một phần để thỏa hiệp với Trung Quốc. Không mấy ai tại Trung Quốc tin vào lời giải thích này.

Thay vào đó, việc thay đổi hiện trạng này cho Trung Quốc cơ hội để thể hiện tham vọng chính trị đang gia tăng.

“Khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền, ông thay đổi cách tiếp cận cơ bản về chính sách ngoại giao của Trung Quốc,” giáo sư Trần Tiểu Hà từ Đại học Nhân Dân nói.

Nếu Nhật từ chối đối thoại về vấn đề này, Trung Quốc phải đưa tàu ra đảo Điếu Ngư để khẳng định quyền về chủ quyền.

Giáo sư Lưu Vĩnh Giang, đại học Thanh Hoa, Trung Quốc

“Từ việc duy trì hiện trạng tới cách tiếp cận mới không ồn ào khi làm một việc gì đó.”

Trước sự thất vọng của giới lãnh đạo Trung Quốc, Nhật đã không công khai thừa nhận tuyên bố về chủ quyền của Bắc Kinh. Do đó, để tạo sức ép với Tokyo, Bắc Kinh đã đưa tàu ra tuần tra tại khu vực.

Chiến đấu cơ của Trung Quốc thường xuyên bay trên vùng đảo trong khi tàu chiến hoạt động trên biển.

“Nếu Nhật từ chối đối thoại về vấn đề này, Trung Quốc phải đưa tàu ra đảo Điếu Ngư để khẳng định quyền về chủ quyền,” giáo sư Lưu Giang Vĩnh từ Đại học Thanh Hoa bình luận.

Tháng 11 năm ngoái, Bắc Kinh có động thái bất ngờ khi tuyên bố vùng Nhận dạng Phòng không bao trùm khu vực tranh chấp này.

Một số quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, đã phớt lờ quy định của Trung Quốc, tuy nhiên đây là phần thuộc chiến lược lâu dài của Bắc Kinh, giáo sư Trần Tiểu Hà nói.

“Cách của Trung Quốc là để bảo lưu một dạng quyền và thế tự do để có thể hành động quân sự nếu có điều gì đó xảy ra ở vùng đảo Điếu Ngư hoặc một số khu vực có tranh chấp khác,” giáo sư Cheng giải thích.

‘Một tấc lãnh thổ’

Tàu và phi cơ Trung Quốc thường xuyên xuất hiện ở vùng đảo tranh chấp

 

Bên trong Trung Quốc, chính phủ dùng công cụ khác là việc tuyên truyền bài Nhật để đưa biển đảo thành vấn đề tiền tuyết trong chính sách đối ngoại.

Thế hệ trẻ thậm chí thường xuyên được nhắc nhở về những căng thẳng chưa được giải quyết xuất phát từ thời Thế chiến II.

“Bắn quỷ Nhật Bản, trò chơi trên mạng được tung ra hồi tháng Hai trên People.com, một trang web của chính phủ Trung Quốc.

Người chơi trò này chọn các lãnh chúa Nhật và ghi điểm bằng việc dùng súng bắn những người này.

Trò chơi chỉ là hoạt hình nhưng câu hỏi quan trọng là liệu chiến dịch của Bắc Kinh đơn giản chỉ là trò chơi?

…Tuy là đảo nhỏ nhưng đối với Trung Quốc thì một tấc lãnh thổ cũng đủ lớn để họ giao tranh.

Giáo sư Trần Tiểu Hà, đại học Nhân dân Trung Quốc

Liệu ông Tập Cận Bình có thực sự lâm chiến cho vùng lãnh thổ không người sinh sống hay không? Câu trả lời là có.

“Có là bởi tuy là đảo nhỏ nhưng đối với Trung Quốc thì một tấc lãnh thổ cũng đủ lớn để họ giao tranh” giáo sư Trần Tiểu Hà nói.

Rốt cùng thì đây là vấn đề có tính tương tác và giá trị có tính biểu trưng của những đảo này vẫn tiếp tục còn đó chừng nào cả hai nước đều muốn cai quản.

“Nếu Trung Quốc và Nhật có quan hệ thân tình, lợi ích quân sự tại các đảo này sẽ giảm,” giáo sư Lưu nói thêm.

Tại bên ngoài tòa đại sứ Nhật ở Bắc Kinh, an ninh được điều động cẩn mật với lính gác và tường rào cao tới 4 mét để không ai nhìn được gì từ bên ngoài.

Có nhiều l‎ý do vì sao Trung Quốc và Nhật Bản nên tránh chiến tranh vì lãnh thổ, bao gồm cả hoạt động mậu dịch song phương gia tăng cũng như việc Washington dọa sẽ can thiệp.

Tuy nhiên, những khuôn mặt lạnh của lính gác cả bên trong lẫn bên ngoài đại sứ quán Nhật ở Bắc Kinh dường như cho thấy đối đầu quân sự nghiêm trọng sẽ không bao giờ là quá xa vời.

Thêm về tin này

Ưu việt của giáo dục miền Nam – BBC

26 Th4

 

Cập nhật: 14:35 GMT – thứ năm, 24 tháng 4, 2014

Được BBC phỏng vấn, Giáo sư Tiến sĩ Trần Ngọc Vương Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Giáo dục xưa nay là một trong những lĩnh vực chịu sự chi phối của chính trị. Thực ra nền giáo dục nào, ở đâu cũng là vậy thôi. Chính trị vẫn cứ đặt ra những mục tiêu, những đích đến và đòi hỏi mọi nền giáo dục phải phục vụ cho nó.”

Ông Trần Ngọc Vương nhận xét: “Nền giáo dục của miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975 có những thành tựu rất quan trọng và cần được tổng kết một cách thực sự nghiêm túc.”

 

Ông Vương cho biết: “Tôi cũng có quen biết những trí thức được trưởng thành trong giai đoạn đó. Một số khá đông trong lứa tuổi của tôi lẫn lớn hơn một chút từ miền Nam cũng là sản phẩm của nền giáo dục của miền Nam cũ, nhiều người trong số họ rất xuất sắc.”

Mặc dù ông Vương đã nhìn nhận kết quả của nền giáo dục tại miền Nam, nhưng có thể ông chưa nhận ra chính sự độc lập giữa giáo dục và chính trị tại miền Nam là nhân tố tạo ra kết quả này.

Giáo dục miền Nam

Vào năm 1958, một Đại hội Giáo dục quy tụ phụ huynh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền, các tổ chức quần chúng và cơ quan văn hóa giáo dục đã được tổ chức tại Sài Gòn nhằm đề ra một triết lý giáo dục cho miền Nam. Đại Hội đồng thuận chọn ba nguyên tắc dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản.

Đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, năm 1964, một Đại Hội khác lại được tổ chức tại Sài Gòn nhằm xem xét lại triết lý nói trên. Kết quả Đại Hội tiếp tục nhìn nhận ba nguyên tắc.

Đây là một bằng chứng cụ thể, mục tiêu chiến lược và những đích đến của nền giáo dục tại miền Nam là một quyết định dân chủ hòan tòan độc lập với chính trị. Có chăng chính quyền chỉ chính danh đứng ra triệu tập và tổ chức các Đại Hội về Giáo Dục.

Giáo dục là công việc chuyên môn của những người làm giáo dục

Về mặt quản lý, chính quyền miền Nam đề ra những chính sách và quyết định việc chi tiêu nhằm thực hiện những mục tiêu cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Tuy nhiên việc giáo dục từ điều hành, đến soạn thảo chương trình và giảng dạy là công việc chuyên môn của những người làm giáo dục.

Trong Bộ Giáo dục ngoài trừ một số chức vụ có tính chất chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư… các chức vụ khác đều do những nhà giáo dục có chuyên môn đảm trách.

Tại miền Nam nhiều bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục được bổ nhiệm là những người xuất thân từ ngành giáo dục.

Trong Bộ Giáo dục ngoài trừ một số chức vụ có tính chất chính trị như đổng lý văn phòng, bí thư… các chức vụ khác đều do những nhà giáo dục có chuyên môn đảm trách.

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa nhận xét những người làm giáo dục tại miền Nam đều am hiểu công việc chuyên môn, có kinh nghiệm, giàu tâm huyết, và xem chính trị chỉ là nhất thời, tương lai của dân tộc mới trọng đại.

Ông Liêm cho biết “những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đều phải ngưng lại trước ngưỡng cửa học đường.”

Trong các cơ quan lập pháp, những người đứng đầu các ủy ban hay tiểu ban giáo dục của Thượng viện và Hạ viện đều là những nghị sĩ dân biểu xuất thân từ nhà giáo.

Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, Điều 10 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967) nêu rõ: Nền giáo dục đại học được tự trị. Bộ Giáo dục có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học nhưng công việc của vị này chủ yếu là lo thực thi những chính sách về giáo dục đại học.

Về học vụ và điều hành, các cơ sở giáo dục đại học được tự trị. Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai. Các khoa trưởng của các trường phân khoa không do Bộ Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.

Tác giả cho rằng giáo dục miền Nam nhiều ưu điểm dù trong thời chiến

Triết lý nhân bản mà miền Nam chọn làm căn bản cho giáo dục lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào.

Triết lý nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt tư tưởng chính trị, giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… con người có giá trị như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Nói rõ hơn nền giáo dục miền Nam lấy quyền con người, quyền dân sự và lấy với bản Tuyên Ngôn Quốc Tế nhân quyền làm nền tảng để xây dựng con người.

Chính vì dựa trên nền tảng nhân bản nên không có vấn đề lý lịch trong học đường miền Nam. Ngay cả con em của cán bộ cộng sản tập kết ra Bắc, những người miền Nam công khai theo cộng sản đều được đối xử bình đẳng như mọi học sinh sinh viên trong học đường miền Nam.

Một số trường Quốc gia nghĩa tử được lập ra để trợ giúp việc giáo dục cho học sinh có cha mẹ là quân nhân đã hi sinh bảo vệ miền Nam. Một số trừơng do tư nhân, do các tôn giáo hay do các cộng đồng sắc tộc điều hành. Nhưng tất cả các trường đều theo nguyên tắc cơ bản và chương trình giảng dạy chung.

Công Dân Giáo Dục

Học sinh Việt Nam hiện nay bị nhồi nhét chính trị?

Dựa trên nền tảng nhân bản học sinh miền Nam từ lớp mẫu giáo đến hết bậc Trung Học đều được dạy môn Công Dân Giáo Dục. Ở bậc tiểu học học sinh được dạy về quyền và bổn phận của một công dân.

Lên Trung Học Đệ Nhất Cấp chúng tôi được học những bài học về: cá nhân và gia đình, tổ chức ở học đường, bổn phận của học sinh, đời sống xã hội và tôn giáo, quyền và bổn phận một công dân.

Bước sang Đệ Nhị Cấp nhà trường tiếp tục giáo dục về Quốc Gia (dân tộc, lãnh thổ, chánh phủ, hiến pháp, lập pháp, hành pháp, tư pháp), Liên Hiệp Quốc (tổ chức, UNESCO, các tổ chức khác), Phong Tục, Kinh Tế (các lý thuyết, sản xuất, thương mại, tiền tệ, ngân hàng), Chính Trị (dân chủ, chính đảng, chính thể, độc tài, phát xít, cộng sản).

Từ bậc Trung Học chúng tôi đã được thực hành dân chủ qua việc bình bầu Ban Điều Hành lớp. Việc chọn lựa từ Trưởng lớp cho đến các Trưởng ban do quyết định của học sinh, quyết định hòan tòan độc lập với nhà trường và chính quyền.

Mặc dù giáo dục độc lập với chính trị chúng tôi được dạy và thực hành cơ bản chính trị dân chủ để khi cần sẵn sàng tham gia việc quản trị đất nước.

Độc lập vì thế không có nghĩa là “phi” chính trị mà là không bị phụ thuộc vào các đảng chính trị, đảng cầm quyền hay chính quyền.

Học đường miền Nam giáo dục học sinh trở thành những công dân với ý thức chính trị và ý thức dân chủ sẵn sàng đóng góp cho gia đình, đất nước và nhân lọai.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, nguyên chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Canberra và phó chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc Châu.

Thêm về tin này

 
%d bloggers like this: