Lưu trữ | 7:57 Chiều

Nhìn lại cuộc tranh luận nghệ thuật của Hải Triều nhân 60 năm mất của ông – TĐS

30 Th9

Nhìn lại Hải Triều và cuộc tranh luận nghệ thuật
năm 1936 – 1939 ở Việt Nam
Trần Đình Sử
Lịch sử lí luận văn học Mác xít Việt Nam không thể không nhắc đến tên tuổi Hải Triều, nhà lí luận tiên phong. Sớm giác ngộ chủ nghĩa Mác, sớm dịch, giới thiệu một số phần tác phẩm Tư bản luận của Mác vào Việt Nam, từ một nhà báo cách mạng sắc bén, bị giam cầm, được tha, quản thúc, mở của hang sách, vừa sinh sống vừa hoạt động Hải Triều trở thành nhà lí luận mác xít đầu tiên ở Việt Nam. Hải Triều đã nhận thấy vai trò quan trọng của lí luận văn học đối với cách mạng, ông đã sớm có ý thức xây dựng quan niệm văn nghệ mác xít, biến văn học thành công cụ đắc lực của cách mạng.
Có quan điểm mác xít là một chuyện, làm thế nào để đưa tư tưởng áy vào xã hội, gây thanh thế cho nó, lại là chuyện khác. Xét từ điểm này ta thấy Hải Triều chính là người đã gây nên cuốc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh sôi nổi nhất, kéo dài nhất, số người tham gia đông nhất, có ảnh hưởng rộng lớn nhất từ năm 1935 đến 1939 trong số các cuộc tranh luận văn nghệ ở Việt Nam. Năm 1944 trong Văn học khái luận của Đặng Thai Mai nói đây đã là câu chuyện cũ, thực ra là không đúng. Bởi trong cuốn sách đó, Đặng Thai Mai vẫn giành nhiều tranng để nói lại câu chuyện vị nghệ thuật vị nhân sinh, mà cho đến những năm sau, trong các cuộc tranh luận văn nghệ và tuyên truyền ở Việt Bắc vấn đề nêu trên lại quay lại. Điều đó chứng tỏ tầm vóc cuộc tranh luận còn có ảnh hưởng lâu dài.
Nói Hải Triều là người chủ động gây ra cuộc tranh luận để tuyên truyền lí luận mác xít, là bởi vì, các hoạt động lí luận của ông đều do ông chủ động khởi xướng, chứ không phải ông phải ứng phó, bị động. Ông khởi xướng cuộc tranh luận duy vật, duy tâm với Phan Khôi. Phan Khôi bị ông lôi vào cuộc. Ông là người chủ động tranh luận với cụ Phan Sào Nam, cụ Phan Sào Nam bị ông lôi vào cuộc. Ở đây cụ Phan chỉ là cái cớ để ông tuyên truyền quan niệm văn học là sản phẩm của xã hội. Thiết nghĩ, nếu chỉ muốn trình bày tư tưởng ấy, Hải Triều chỉ cần nêu, ngày xưa người ta hiểu văn học là văn trời, văn đất, văn người, nay phải hiểu khác là văn của xã hội là được, không việc gì phải lôi cụ Phan vào. Nhưng nếu làm như thế thì không mấy ai chú ý. Vì cụ Phan là nhân vật nổi tiếng, danh vọng cao, uy tín lớn, cho nên Hải Triều mượn danh cụ, mượn uy cụ, nhân cãi với cụ để gây chú ý cho toàn xã hội về tư tưởng của mình. Có thể nói đó là nghệ thuật PR gây thanh thế của Hải Triều, một thanh niên mới 26 tuổi.
Hiểu như vậy ta sẽ hiểu thêm, chính Hải Triều là người gây ra cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Nguyên năm 1933,khi Thiếu Sơn viết bài Hai cái quan niệm văn học, phê phán quan điểm của Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Học, đề cao văn chương giáo huấn, tải đạo, coi đó là văn có ích, còn xem thơ, tiểu thuyết chỉ là thứ văn chơi, không có giá trị gì. Phải nói rằng đó là một quan niệm rất sai, có hại cho nề văn học mới, và việc Thiếu Sơn phê bình hai ông là hoàn toàn đúng đắn và rất cần thiết. Thiếu Sơn không hề nhằm nêu khẩu hiệu nghệ thuật vị nghệ thuật. Ông chỉ muốn khẳng định rằng, văn học, thi ca, tiểu thuyết cũng là văn chương có ích, vị nhân sinh, không phải văn chơi, thậm chí là có ích lâu dài hơn văn chương học thuật, giáo huấn. Ông chỉ phê phán hai ông Quỳnh, Học về quan niệm xem văn học thẩm mĩ là vô ích. Quan điểm của Thiếu Sơn là rất quan trọng, nó nêu lên tính chất thẩm mĩ của nền văn học mới, mà hai ông Quỳnh, Học, vì quan điểm thủ cựu trong vấn đề này mà hạ thấp vai trò và giá trị của văn học nghệ thuật. Tiếp theo đó, ông Hoài Thanh cũng khẳng định tính chất thẩm mĩ của văn học trong bài Văn chương là văn chương, một thuộc tính mới của văn học hiện đại so với văn học trung đại mà hai ông Quỳnh, Học đại diện. Cuộc tranh luận này, nếu được tiếp tục, sẽ có ý nghĩa không nhỏ đối văn học hiện đại Việt Nam trên con đường hiện đại hóa.
Nhưng cuộc thảo luận đó không thể xảy ra được, bởi vì Hải Triều đã giật lấy cuộc tranh luận của Thiếu Sơn, mà gây ra cuộc tranh luận khác: nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Phải nói rằng ông Thiếu Sơn hoàn toàn không ngờ và không chuẩn bị, ông đã bị Hải Triều đưa vào tròng, khi bị phê phán, ông đã phát biểu những câu đúng là nghệ thuật vị nghệ thuật và bị Hải Triều phê phán không thể nào chạy thoát được. Sang bài thứ hai của Thiếu Sơn, Nghệ thuật với đời người, ông nêu quan niệm phân biệt nghệ thuật với tôn giáo, chính trị, chủ nghĩa, mang hơi hướng của quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, “chủ nghĩa duy mĩ” rất thịnh hành ở phương Tây. Ông chủ trương “chủ nghĩa” của văn chương là “phô bày cái đẹp”, còn các chủ nghĩa khác có thể có ích cho đời, song tác dụng khác hẳn văn học. Ông chủ trương “Muốn sống với nghệ thuật thì phải giải phóng, phải thoát li với các thành kiến về luân lí, xã hội, chính trị, tôn giáo, mà chỉ biết có nghệ thuật mà thôi”. Ông đã tự trở thành cái bia cho ông Hải Triều bắn vào.
Về phía ông Hoài Thanh, lúc đầu ông Hải Triều không tranh luận với Hoài Thanh, mà chính ông Hoài Thanh chủ động tranh luận với Hải Triều. Nhân chuyện ông Hải Triều phê bình cuốn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, ông Hoài Thành không phục, cho nên lên tiến chỉ trích ông Hải Triều và nêu quan niệm văn học của mình, nhân đó bộc lộ quan điểm văn học của ông. Nhân đó Hải Triều phê phán một thể. Thế là ông Hoài Thanh lúc đầu chủ động, tự coi quan điểm của mình là đúng, sau bị ông Hải Triều quay ngược lại phê bình, ông Hai Triều chủ động, Hoài Thanh lại bị động, ứng phó. Diễn biến cuộc tranh luận cho thấy tài năng, trí tuệ, vốn hiểu biết, chiến lược, chiến thuật của ông Hải Triều đều rất cao tay. Nhờ cuộc thảo luận ấy mà quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh, văn học bình dân và sau đó văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa được truyền bá rất sớm vào xa hội Việt Nam. Chỉ cần qua mấy số liệu sau đây để thấy tài nhạy bén của ông Hải Triều. Năm 1933 ở Liên Xô mới có sách về trích tuyển ý kiến của Marx Engels bàn về nghệ thuật, năm 1934 , sau đại hội nhà văn Liên Xô mới có đề xuất phương pháp hiện thục xa hội chủ nghĩa, mà đến năm 1936- 39 Hải Triều đã giới thiệu các vấn đề đó vào Việt Nam thì quả thật là mau lẹ. Cuộc tranh luận này đã là tiền đề cho đồng chí Trường Chinh khởi thảo Đề cương văn hóa năm 1943 và để Đặng Thai Mai viết Văn học khái luận năm 1944. Hải Triều đúng là nhà lí luận tiên phong, đã nhạy bén truyền bá lí luận mác xít và lí luận văn học mác xít vào Việt Nam. Công lao đó sẽ còn được nhắc mãi. Đối với văn học, cuộc tranh luận đã nâng cao ý thức tự giác của nhà văn đối với sự nghiệp văn học của mình. Nhà văn bây giờ không thể sáng tác chỉ do thích thú cá nhân mà không quan tâm tới xã hội được nữa, và đó cũng là thành tựu to lớn của cuộc tranh luận.
Tuy nhiên, ngày nay nhìn lại, xét từ nhu cầu hiện đại hóa khách quan của nền văn học và quan niệm văn học Việt Nam, từ giả các quan niệm cổ lỗ lỗi thời thời trung đại, thì ta phải thấy rằng, quan niệm của Thiếu Sơn cũng như quan niệm của Hoài Thành về cơ bản không phải là quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật. Đọc bài Văn học bình dân của Thiếu Sơn, đọc Văn chương và hành động, Xin mach một nguồn văn, thì thấy rõ hai ông này không hề phủ nhận văn học vị nhân sinh, không hề coi cái đẹp là vô ích như Theophile Gotiere chủ trương, mà chủ trương khẳng định tính đặc thù của văn học nghệ thuật, và chức năng đặc thù của văn học ấy. Tôi đã có bài khẳng định Hoài Thanh cũng như Thiếu Sơn là người đầu tiên nêu thuộc tính thẩm mĩ của Văn học trong văn học Việt Nam hiện đại. Hải Triều là người đầu tiên khẳng định bản chất xã hội, tính chất xã hội của văn học. Tính xã hội và tính thẩm mĩ đều là hai thuộc tính căn bản của nền văn học hiện đại. Đáng tiếc là do điều kiện xã hội đương thời, đặc biệt là không khí đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ, và phân nào vì định kiến đã làm cho một trong hai thuộc tính quan trọng ấy bị trở thành đối đầu, thậm chí thù địch và tính thẩm mĩ bị thua trong một thời gian dài. Điều đó làm hạn chế sự phát triển của bản thân văn học, nhất là văn học cách mạng. Phải đến thời đổi mới bản tính thẩm mĩ mới thực sự được thừa nhận.
Tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh là cuộc tranh luận của phương Tây, nảy sinh ở phương Tây. Cuộc tranh luận ở Việt Nam chỉ là tia hồi quang, là cái bóng của cuộc tranh luận ấy. Trong cuộc tranh luận của mình ông Hải Triều và các đồng chí của ông phần nào đã đem cuộc đối đầu nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh ở nước ngoài áp dụng vào Việt Nam, chụp lên Thiếu Sơn, Hoài Thanh, tạo nên phái vị nghệ thuật của Việt Nam, dùng đó làm cái bia để đấu tranh phê phán. Thành ra sự phê phán có thể đúng về phương diện lí thuyết và ý thức hệ, mà không thật đúng người, đúng việc ở trong nước. Ông Hoài Thanh đã nổi khùng và tuyên bố “một lời vu cáo đê hèn”, vì ông chỉ chủ trương sự khác biệt giữa văn học nghệ thuật và các sang tác khác phi văn học, như báo chí, phóng sự, chính luận. Tất nhiên sự phân biệt nhà văn và người cầm bút… của ông chưa được thuyết phục lắm, song nói cho đúng, cho đến bây giờ, về lí thuyết sự xác định đặc trưng văn học nghệ thuật với các sáng tác phi văn học vẫn còn là một vấn đề rất khó, chưa được giải quyết xong xuôi, nhất là trong thời hiện đại, hậu hiện đại.
Một mặt, cần phân biệt văn học và phi văn học, như mong muốn của các ông Hoài Thanh và Thiếu Sơn, và mặt khác khái niệm văn học của hai ông rất mơ hồ về nội hàm và ngoại diên, cho nên lí thuyết phân biệt chưa thể giải quyết rốt ráo vấn đề này, do đó lập luận lúng túng của hai ông là dễ hiểu. Về một mức độ nào đó phê bình của ông Hải Triều ít nhiều có tính chất quy chụp, mặc dù các ông Hoài Thanh, xét về sự non nớt của các ông thì bị phê bình cũng không oan. Chúng ta nên nhớ các ông này lúc ấy chỉ mới 26, 27 tuổi. Chúng ta phải nghiêng mình khâm phục tài ba khác thường của họ, cho dù có chút ít non nớt của tuổi tác.
Điểm thứ ba, xét về cung cách tranh luận, chúng ta biết, tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh là sản phẩm của phương Tây, bắt nguồn từ điều kiện xã hội. Đầu thế kỉ XIX ở Nga cũng có nghệ thuật vị nghệ thuật, giữa thế kỉ XIX ở Pháp có chủ nghĩa duy mĩ của Th. Gotiere, Baudelaire, Mallarrme, ở Mĩ có Oscar Wild, các quan điểm này cũng xuất hiện ở Nhật bản, và đầu thế kỉ XX xuất hiện ở Trung Quốc và Việt Nam. Quan điểm duy mĩ của Wild lại có tính chất thương mại. Ông chủ trương cái đẹp đi trước hướng dẫn cuộc sống. Luân Đôn có sương mù, nhưng chỉ từ khi có họa sĩ vẽ cái đẹp của sương mù thì người Luân Đôn mới thấy sương mù là đẹp. Nghệ thuật thời trang phải tạo ra các mod mới, sau đó người ta mới bắt đầu sử dụng các mod vào đời sống. Ró rang nghệ thuật dạy cho người ta sống đẹp. Như thế mọi người thưởng thức, ăn mặc theo cái đẹp của nghệ thuật. Đương thời Plekhanov giải quyết lí thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật bằng cách nêu câu hỏi, vì sao mà người ta có xu hướng nghệ thuật vị nghệ thuật. Đó là vì nghệ sĩ bất hòa với xã hội. Đi tìm nguyên nhân ở xã hội hơn là phán xét đúng sai. Hải Triều cũng đọc Plekhanov, nhưng ông chưa học được bài học này. Ở Trong Quốc vào năm 1921 Hội nghiên cứu văn học do Mao Thuẫn, Chu Tác Nhân, Diệp Thánh Đào..21 người chủ trương văn học vị nhân sinh, chủ trương chủ nghĩa hiện thực, văn học bình dân, quan tâm phơi bày mọi ung nhọt đời sống, tố cáo hiện thực đen tối. Cùng thời Quách Mạt Nhược, Thành Phỏng Ngô, Úc Đạt Phu…thành lập Sáng tạo xã , chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật, văn học sang tạo từ bản ngã cái tôi, biểu hiện lí tưởng, tôn thờ cái đẹp, thoát li nhân sinh. Hai bên cũng tranh luận, nhưng không sát phạt gay gắt. Chẳng bao lâu, phái nghệ thuật vị nghệ thuật thừa nhận nghệ thuật có ích cho nhân sinh, Quách Mạt Nhược theo văn học cách mạng, văn học vô sản, rồi hai phái xích gần nhau. Trong khi đó thì ở Việt Nam hai quan niệm đối lập tuyệt đối về quan điểm. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa hiểu hết quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật ở phương Tây, mà ít nhiều còn mang định kiến.
Xét về quan niệm văn nghệ mác xít, thì đương thời, trình bày quan niệm chủ nghĩa tả thực như Hải Triều trong bài Đi tới chủ nghĩa tả thực trong văn chương là một đóng góp tài năng. Ông không chỉ trình bày nội dung của chủ nghĩa tả thực, mà còn phân tích tính khuynh hướng khách quan của nó, chống lối khuynh hướng chủ quan như thầy tuồng nhắc vở, là một đóng góp đột xuất, đi trước thời gian. Điều này chứng tỏ ông đã tiếp cận tư tưởng của F. Engels về chủ nghĩa hiện thực trong bức thư gửi nữ nhà văn Anh Maguerit Hackness. Bức thư này công bố năm 1932, chúng tôi chưa biết bằng cách nào mà Hải Triều tiếp cận được. Tuy nhiên, xét nội dung lí thuyết marxiste của ông, chủ yếu ông chịu ảnh hưởng của Nicola Bukhrin, ủy viện bộ chính trị Đảng Bolsevich, một nhà lí thuyết tài năng, năm 1938, ông bị Stalin tử hình vì bị quy tội phản quốc. Tư tưởng Bukhrin chủ yếu là giai cấp luận, ý thức hệ luận, kinh tế luận và công cụ luận (xem văn học là vũ khí đấu tranh giai cấp). Bukharin có khuynh hướng tả khuynh, chỉ muốn sau cách mạng xây dựng ngay nền văn học vô sản, đánh đổ các nghệ thuật truyền thống, chẳng hạn theo ông, sau cách mạng tháng 10 thì không cần phải diễn vở kịch Vườn Anh đào của Chekhov nữa. Đó là tư tưởng đi ngược lại Lênin. Sau đó do học tập Lenin ông đã khắc phục phần nào tư tưởng tả khuynh ấy. Trong quan niệm văn học của Hải Triều ta thấy có dấu ấn của Bukharin khá rõ, khi ông tuyên bố khi nền kinh tế cũ sụp đổ thì cái nghệ thuật xây dựng trên nền tảng đó cũng sụp đổ theo. Trong lí luận ông cũng thiên vè nội dung, ít bàn về hình thức, không nói đến cái đẹp. Trong khi đó nghệ thuật sang tạo theo quy luật cái đẹp là một quan điểm cơ bản bên cạnh quan điểm xã hội, lịch sử và ý thức hệ của chủ nghĩa Mác về văn học. Nêu qua mấy điểm để thấy rằng quan điểm văn nghệ mác xít của Hải Triều lúc ấy khó tránh khỏi khiếm khuyết, bởi lí luận mác xít thời đó mới được xác lập chưa lâu, trước tác của Marx, Engels cũng chưa được công bố đầy đủ. Nhắc đến điều này chỉ để thấy thêm tài năng và đảm lược, sự nhạy bén của Hải Triều mà thôi.
Kỉ niệm 60 năm ngày mất của Hải Triều, nhớ lại cuộc tranh luận học thuật do Hải Triều khởi xướng và thực hiện gần 70 năm trước, chúng ta ôn lại tài nưng, trí tuệ của ông, đồng thời cũng có thể rút ra những bài học bổ ích để tiến hành các cuộc thảo luận lí thuyết tiếp theo trong quá trình xây dựng nền lí luận văn nghệ Việt Nam hiện đại.
Hà Nội, ngày 29 – 9 – 2014.
TĐS
Tài liệu thamkhaor
1. Hải Triều toàn tập, Phạm Hồng Toàn, Chu Giang biên soạn, nxb. Văn học, 2 tập, Hà Nội, 1996.
2. Hải Triều nhà lí luận tiên phong, Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
3. Lịch sử phát triển lí luận văn nghệ Marxism. Đại học Phúc Đán, Thượng Hải, 1995.
4. Thiếu Sơn. Văn học và nhân sinh, nxb Văn hóa thong tin, Hà Nội, 2001.
5. Hoài Thanh. Bình luận văn chương, Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Sơn biên soạn, nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
6. Tranh luận văn nghệ thế kỉ XX, tập 2, Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên, Hà Nội, 2001.

Biểu tình ở Hong Kong đe dọa giấc mơ TQ – Vnn

30 Th9

 

Làn sóng biểu tình ở Hong Kong đang thu hút sự chú ý của cả thế giới vào ông Tập Cận Bình. Người ta lo ngại rằng, nếu không được xử lý phù hợp, các cuộc biểu tình đường phố thậm chí có thể biến thành một cuộc cách mạng màu phiên bản TQ.

TQ, Hong Kong, dân chủ, Tập Cận Bình, biểu tình,
Biểu tình ở Hong Kong. Ảnh: AP

“Các phong trào đường phố có thể trở thành một cuộc cách mạng khi nhiều người biểu tình bị cuốn vào đó”, bản tiếng Anh của tờ Thời báo Hoàn cầu TQ viết hôm qua. “Tuy nhiên, Hong Kong không phải là một quốc gia, cũng không có các điều kiện cho một cuộc ‘cách mạng màu’, và các lực lượng đường phố cũng không đủ ảnh hưởng để huy động toàn bộ dân chúng”.

Tuy nhiên, dù không có một kết cục như vậy và rất khó có thể xảy ra điều đó, thì những gì mà người biểu tình đang làm đều bất lợi với ông Tập Cận Bình cũng như toàn bộ đội ngũ lãnh đạo TQ.

Khi ông Tập muốn thể hiện với tất cả rằng, ông là người lãnh đạo quyền lực và hiệu quả nhất trong nhiều thập niên; rằng đảng cầm quyền chịu trách nhiệm hoàn toàn cho dù vô số vấn đề của TQ như tham nhũng, bất bình đẳng thu nhập, bất ổn xã hội; rằng ông có tầm nhìn toàn diện với mọi người dân TQ gồm cả người ở Hong Kong hay Đài Loan… thì cuộc biểu tình lại đang chuyển tải thông điệp ngược lại.

Cho tới nay, thông điệp từ Bắc Kinh đều được kiểm soát cẩn thận. Một người phát ngôn cơ quan phụ trách vấn đề Hong Kong nói rằng, Bắc Kinh tin tưởng Đặc khu hành chính Hong Kong (HKSAR) có thể giải xử lý phong trào biểu tình Occupy Central theo luật pháp.

Trong khi đó, lại có bài báo lập luận rằng, TQ có thể điều quân đội tới Hong Kong nếu như cảnh sát địa phương không có khả năng đối phó với biểu tình. Thông tin này đăng tải được vài giờ trên Thời báo Hoàn cầu TQ trước khi bị gỡ bỏ. Một số trang web khác của nước này như Sohu cũng đăng lại tin.

“Mọi trang web phải lập tức xóa đi những thông tin về sinh viên Hong Kong đụng độ và về ‘Occupy Central’. Kịp thời báo cáo mọi vấn đề. Quản lý chặt chẽ mọi kênh tương tác và hoàn toàn xóa bỏ các thông tin bất lợi. Điều này cần phải tuân thủ một cách chính xác”, mạng Digital Times TQ nói về chỉ thị ban hành với truyền thông nước này.

Trong mọi nỗ lực dự đoán các biện pháp tiếp theo của Bắc Kinh đối phó với biểu tình ở Hong Kong, thì điều quan trọng là cần nhìn nhận quan điểm chính trị của ông Tập Cận Bình. Ông có vẻ thiên về việc ủng hộ áp dụng quyền lực từ trên cao.

Tuần trước, ông Tập đã có cuộc gặp với những người Đài Loan ủng hộ thống nhất ở Bắc Kinh. TQ sẽ “có lập trường vững chắc và kiên quyết”, Tân hoa xã dẫn lời ông nói với đoàn đại biểu. “Không hành động ly khai nào sẽ được dung thứ”.

Cùng lúc đó, ông Tập gắn chuyện thống nhất Đài Loan vào “giấc mơ TQ” của ông: “Chúng ta đang tiến gần hơn tới mục tiêu hồi sinh vĩ đại hơn bất kỳ thời khắc lịch sử nào. Chúng ta có sự tự tin và khả năng hơn bao giờ hết để hiện thực mục tiêu ấy, đó là tin tức tốt lành và cơ hội lịch sử cho Đài Loan”, ông bình luận.

Cuộc biểu tình Hong Kong cũng diễn ra trong lúc ông Tập dường như đang có ý định xây dựng sự sùng bái cá nhân xung quanh mình, trước hết là về mặt quản trị. Hôm chủ nhật, Tân hoa xã đưa tin cuốn sách mới có tiêu đề ‘Tập Cận Bình: Cách quản trị của TQ” được dịch ra ít nhất 9 ngôn ngữ. Cuốn sách này gồm 79 bài viết, nhất mạnh vào “những bài phát biểu, trả lời, chỉ thị, đối thoại của ông Tập” và “cũng gồm 45 hình ảnh của ông Tập”, hãng này cho biết.

Cuối cùng, nếu được coi là hoàn toàn cần thiết, ông Tập và đội ngũ lãnh đạo của ông có lẽ sẽ không nhượng bộ trong quan điểm với phong trào biểu tình. Rủi ro về kinh tế và kinh doanh là một cái giá có thể chấp nhận được để đảm bảo quyền lực của TQ với Hong Kong.

Thái An(theo Businessweek)

 

TIẾC THƯƠNG EM NHUNG HỌC SINH LỚP 3 CHẾT …

30 Th9

http://plo.vn/xa-hoi/qua-doi-be-gai-lop-3-chet-khi-di-hoc-ve-498657.html  

 

TIẾC THƯƠNG EM NHUNG  HỌC SINH LỚP 3 CHẾT ĐÓI

 

Thời nô lệ

dưới ách giặc tây đô hộ

“Con đói lả ôm chân mẹ khóc

Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi” *

 

Sau sáu mươi năm độc lập tự do

xây dựng chủ nghĩa xã hội

con còn đói rách tả tơi

ngả xuống cầu Đông

con chết đuối con ơi !!!

 

Nhà không còn bơ gạo

lấy gì nấu cơm cúng vong con hởi !!!

bụng cha mẹ

đang đói cồn cào

lại trong cơn xé ruột thương con

 

Con ra đi

là tiếng nói

thay cho nhiều cảnh đời nghèo đói khác

và trước con đã có bao nhiêu người như con

vì sập cầu, chìm đò, đu dây đến trường mất mạng

 

Lạ lùng thay

xứ sở mình người ta quản nhau rất chặt

bất cứ ngóc ngách hang cùng nào

ai có ý tham gia biểu tình

đòi dân sinh dân chủ

biểu tình chống phương bắc xâm lăng

người ta đều biết

đều mời lên làm lập biên bản hoặc tống giam

 

Ấy vậy mà

từng hộ đói nghèo chẳng ai rõ để tương thân.

khi chết rồi mới thể hiện lòng nhân nghĩa vì dân…!!!

 

Biết nói sao

Thôi! đành ngậm cười con nhé.

Con ra đi

Mọi người đau lòng vì con chết đói

Nhưng cũng được nhẹ phần gánh công nợ ở tương lai.

 

Cầu mong hương linh con sớm siêu thoát.

 

 

 

*: THƠ TỐ HỮU

 

 

 

 

Tự do hàng hải và Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa

30 Th9

 

Trung Quốc lợi dụng vị thế chiến lược ở Hoàng Sa-Trường Sa vào tham vọng chiếm đoạt Biển Đông của họ, đe dọa nghiêm trọng tự do hàng hải trong một khu vực cực kỳ quan trọng của thế giới.Đầu tháng 5/2014, Trung Quốc bất ngờ di chuyển giàn khoan Hải Dương-981 đến một địa điểm cách đảo Trí Tôn (Hoàng Sa) khoảng 17 hải lý, cách đảo Lý Sơn (Đà Nẵng) 120 hải lý, sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, và cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 180 hải lý.

Giữa tháng 7, Trung Quốc thông báo giàn khoan Hải Dương-981 hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn và rút khỏi EEZ của Việt Nam.

Trong thời gian Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương-981 sâu trong EEZ của Việt Nam, có nhiều hoạt động ở tầm mức quốc tế và quốc gia phản đối hành động vi phạm trắng trợn pháp luật quốc tế và thoả thuận giữa lãnh đạo Việt Nam-Trung Quốc năm 2011.[1]

Mục đích của bài viết để phân tích mối quan hệ giữa tự do hàng hải và chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa, khả năng giải quyết tranh chấp biển đảo của Việt Nam, nhằm đóng góp vào quá trình bảo vệ quyền lợi đất nước một cách hữu hiệu và thiết thực.

Phần 1 bài viết sẽ tập trung vào Quan hệ giữa tự do hàng hải và chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa:

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là đề tài nghiên cứu, tranh luận, và trao đổi của giới quan tâm ở trong nước và ngoài nước trong gần 40 năm qua, dù mức độ từng lúc, từng nơi, thay đổi khác nhau.

Quyết định của Toà án Quốc tế (ICJ) trong hơn 60 năm qua cho thấy chứng cứ xác lập chủ quyền lãnh thổ phải được xây dựng trên cơ sở lịch sử và pháp luật quốc tế.

Trên cơ sở này, nguồn tư liệu cổ của Việt Nam và của phương Tây chứng minh rằng Việt Nam hành xử chủ quyền ở Hoàng Sa, hợp lý và hợp pháp, trong hơn 300 năm, cho đến khi Trung Quốc sử dụng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ Hoàng Sa đầu năm 1974, khiến 74 chiến sĩ hải quân Quân đội Việt Nam Cộng hoà hy sinh.

Mặc dù tư liệu cổ về chủ quyền Trường Sa chưa đầy đủ, vào giữa thập niên 1920, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương tuyên bố chủ quyền ở hai quần đảo, hành xử chủ quyền cho đến khi rời khỏi Việt Nam năm 1956, để lại quyền hành xử chủ quyền cho Việt Nam Cộng hoà. Vào tháng 3/1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực cưỡng chiếm đá Gạc Ma và 5 đá khác ở Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh.[2]

Chủ trương của Trung Quốc là “không đàm phán” về Hoàng Sa với Việt Nam, “Hoàng Sa không phải là khu vực tranh chấp”, “Việt Nam đã thừa nhận Hoàng Sa thuộc Trung Quốc”, “Trung Quốc có bằng chứng xác đáng cho chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa”, v.v.

Để hỗ trợ cho chủ trương trên, từ đầu thập niên 1990 cho đến nay, Trung Quốc từng bước hoàn chỉnh đội ngũ học giả, bao gồm thành phần trí thức đào tạo từ phương Tây, có quan hệ tốt với các trường đại học uy tín, tích cực phổ biến, trình bày quan điểm của Trung Quốc với cộng đồng thế giới.[3]

Mặc dù một số học giả Việt Nam, độc lập hay trong cơ chế nhà nước, đã vạch rõ các sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng về chứng cứ chủ quyền trong tư liệu cổ Trung Quốc, không ít học giả phương Tây, do bị ảnh hưởng bởi nguồn tư liệu cổ, mạnh về số lượng nhưng yếu về chất lượng, và bởi đội ngũ học giả của Trung Quốc, và do không tiếp nhận được phản biện của học giả Việt Nam, đưa nhận định về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa bất lợi cho Việt Nam.[4]

Bên cạnh sự lớn mạnh của quyền lực “mềm”, Trung Quốc thúc đẩy phát triển quyền lực “cứng” với tốc độ nhanh vượt bực ở Hoàng Sa.

Sân bay đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo bị Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp đầu năm 1956, được hiện đại hoá với đường băng dài 2.700m cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư Su-30MKK, Shenyang J-11, với khả năng bay hơn 3.000 km, có tầm hoạt động đến tận Manila (Philippines), hay Thành phố Hồ Chí Minh.

biển Đông, Gạc Ma, Trung Quốc, tự do hàng hải, Hoàng Sa, Trường Sa, Giàn khoan 981, luật quốc tế, Phú Lâm, hải chiến
Đảo Phú Lâm (Woody Island) của Việt Nam bị TQ chiếm đóng bất hợp pháp. Ảnh: Google Earth/ chụp năm 2012

Ngoài cảng biển ở đảo Quang Hoà (Duncan Island), đảo bị Trung Quốc chiếm đoạt bằng vũ lực năm 1974, căn cứ hải quân đảo Phú Lâm được hiện đại hoá và sử dụng cho các tàu khu trục nhỏ và lớn, tàu tuần tra 5.000-tấn, của Trung Quốc.

Song song với sự tăng cường mức độ tác chiến quân sự trên không và trên biển, Trung Quốc thiết lập ở Hoàng Sa một trung tâm thu thập tín hiệu, thông tin tình báo, từ Việt Nam, Philippines, Malaysia, v.v. qua hệ thống vệ tinh ở quỹ đạo thấp, và giám sát sự vận chuyển tàu thuyền qua lại gần khu vực Hoàng Sa.[5]

Gần đây nhất, trong cùng thời gian đặt giàn khoan Hải Dương-981 sâu trong EEZ của Việt Nam, Trung Quốc còn thách thức pháp luật quốc tế khi cho tiến hành xây cất với quy mô lớn ở Gạc Ma và các đá chiếm đoạt của Việt Nam năm 1988.[6]

Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD)) năm 2011 cho biết gần 8,4 tỷ tấn, hay hơn một nửa tổng số hàng hoá vận chuyển bằng đường biển hàng năm của toàn thế giới, đi qua Biển Đông, phần lớn là qua khu vực lân cận Hoàng Sa.[7]

Số lượng hàng hoá vận chuyển có định giá khoảng 5.300 tỷ USD, trong đó 1.200 tỷ USD là của Mỹ. Mậu dịch này tạo thêm khoảng 320 tỷ USD thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, chiếm 3,5% GDP của Trung Quốc cho năm 2013.[8]

Vì không có bằng chứng thuyết phục về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa, và vì chiếm đóng Hoàng Sa và một phần Trường Sa bất hợp pháp, Trung Quốc luôn luôn từ chối đàm phán với Việt Nam.

Không những thế, Trung Quốc lợi dụng vị thế chiến lược ở Hoàng Sa-Trường Sa vào tham vọng chiếm đoạt Biển Đông của họ, đe dọa nghiêm trọng tự do hàng hải trong một khu vực cực kỳ quan trọng của thế giới.

(Còn tiếp)

Thái Văn Cầu

(Chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ)

—–

Chú thích:

[1] Việt-Trung thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển”, vnexpress, 12/10/2011; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Hòa bình, ổn định ở Biển Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng”, Tiền Phong, 11/05/2014; Quốc tế phản đối mạnh mẽ giàn khoan Trung Quốc, Dân Trí, 2014

[2] “Chứng cứ lịch sử về chủ quyền của Việt Nam rõ ràng, vững chắc hơn Trung Quốc”, Báo điện tử Chính phủ, 06/07/2014; Từ Đặng Minh Thu, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, 2007; Nguyễn Hồng Thao, “Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, Thanh Niên, 02/08/2011; Tạ Văn Tài, “Chứng cứ Lịch sử và Khía cạnh Luật pháp về Chủ quyền của Việt Nam tại Hai Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Quyền Chủ quyền ở Vùng Biển Chung quanh”, 2014; Thái Văn Cầu, “Hai Nhà nước Việt Nam và Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa”, 2013.

[3] Tập Cận Bình: Chủ quyền thuộc Trung Quốc, gác tranh chấp cùng hợp tác, Báo Giáo dục, 01/08/13.

[4] Một số nghiên cứu của học giả phương Tây hay học giả Trung Quốc được đào tạo từ phương Tây có lập luận sai lệch về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa: Marwyn S. Samuels, “Contest for the South China Sea”, 1982; Daniel J. Dzurek, “Spratly Islands Dispute: Who’s on First”, 1996; Greg Austin, “China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development”, 1998; Nong Hong, “UNCLOS and Ocean Dispute Settlement: Law and Politics in the South China Sea”, 2011

[5] Trung Quốc đưa tàu 5.000 tấn tuần tra trái phép ở biển Đông, Thanh Niên, 22/01/2014. “People’s Liberation Army Air Force and Naval Air Arm Air Base Infrastructure”, 2012; “Experts Recommend Construction of a Floating Airbase to Allow Fighter Cover in the South China Sea”, (tiếng Hoa), Eastday, 4/6/2012.

[6] Trần Công Trục, “Trung Quốc xây cất ở Gạc Ma còn nguy hiểm hơn đặt giàn khoan 981”, vnexpress, 12/9/2014.

[7] U.S. Energy Information Administration, “South China Sea”, Eia.gov, 2013.

[8] Bonnie S. Glaser, “Armed Clash in the South China Sea”, Cfr.org, 2013.

Bài cùng tác giả:

Việt Nam đối diện trách nhiệm lịch sử to lớn

Việt Nam đang đối diện với trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó đó là sử dụng luật pháp quốc tế để duy trì hoà bình trong một khu vực trọng yếu của thế giới.

VN chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa

Trong quá khứ, việc triều Nguyễn không thường xuyên có hoạt động ở Hoàng Sa không nói lên việc nơi này bị từ bỏ chủ quyền.

Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/chinh-tri

 

 

Vatican – Việt Nam hướng tới thiết lập bang giao – RFI

30 Th9

 

Thanh Phương

 Vatican - Việt Nam hướng tới thiết lập bang giao
 

Đại diện không thường trú của Vatican Leopoldo Girelli tham gia cử hành thánh lễ tại Hưng Hóa, Sơn Tây ngày 25/11/ 2011.Reuters

Sau cuộc họp vòng 5 của Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam-Tòa Thánh trong hai ngày 10 và 11/09/2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố bản thông cáo chung, nhắc lại là Vatican vẫn nỗ lực tiến tới mục tiêu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và cùng với Giáo hội Công giáo Việt Nam, Tòa Thánh muốn “góp phần tích cực hơn nữa” vào việc phát triển trong các lĩnh vực mà Giáo hội Công giáo có những điểm mạnh, như y tế, giáo dục, từ thiện và các hoạt động nhân đạo.

Trong thông cáo chung nói trên, Tòa Thánh cũng cho biết là Đức Giáo hoàng Phanxicô “quan tâm theo dõi” những tiến triển gần đây trong quan hệ giữa Vatican và Việt Nam. Bản thông cáo mô tả không khí của cuộc gặp gỡ vừa qua tại Hà Nội là “thẳng thắn, chân thành và tôn trọng lẫn nhau”. Hai bên cũng đồng ý sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ thứ 6 của Nhóm Công tác Hỗn hợp Tòa Thánh – Việt Nam tại Vatican. Thời điểm sẽ được ấn định sau.

Bang giao Hà Nội-Vatican đã bị gián đoạn vào năm 1975 khi miền Bắc Cộng sản chiến thắng miền Nam. Nhưng từ đó cho đến nay, hàng chục phái đoàn Tòa Thánh đã viếng thăm Việt Nam và đến năm 2007, hai bên đã bắt đầu thảo luận về việc tái lập quan hệ ngoại giao và nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam-Vatican đã được thiết lập từ năm 2009. Từ đó cho đến nay, nhóm công tác này thường xuyên họp luân phiên ở Hà Nội và Vatican. Trước cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vừa qua, phái đoàn hai bên đã gặp nhau vào tháng 6 năm nay tại Tòa Thánh.

Đúng là trong chiều hướng phát triển Giáo hội Công giáo ở lục địa Châu Á, ngoài Trung Quốc, Giáo hoàng Phanxicô rất chú trọng đến Việt Nam, nơi có một cộng đồng Công giáo khá đông đảo ( 7% dân số ) và rất nhiệt thành. Khi đi thăm Hàn Quốc vừa qua, Ngài đã đề nghị thiết lập một đối thoại “ trong tình huynh đệ” với Việt Nam, cũng như với Trung Quốc.

Bản thân Đức Giáo hoàng Phanxicô vào tháng 3 vừa qua đã có dịp tiếp chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng tại Vatican. Đây là lần đầu tiên kể từ khi lên nhậm chức, Đức Giáo hoàng gặpmột lãnh đạo chế độ Hà Nội và đây cũng là lần đầu tiên một chủ tịch Quốc hội Việt Nam đến thăm Tòa Thánh. Trong cuộc gặp gỡ với ông Nguyễn Sinh Hùng, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã có dịp đề cập đến tình hình của người Công giáo ở Việt Nam.

Trước ông Nguyễn Sinh Hùng, các lãnh đạo khác của Việt Nam cũng đã từng đến thăm Vatican như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và0 năm 2007 và Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng vào đầu năm 2013. Quan hệ giữa Vatican và Việt Nam đã tiến một bước quan trọng vào tháng 03/2011, khi Đức Giáo hoàng Benedicto 16 bổ nhiệm Ðức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli làm Ðại diện Tòa Thánh không thường trú đầu tiên tại Việt Nam.

Kể từ khi được bổ nhiệm cho đến nay, Đức cha Girelli đã đi thăm rất nhiều giáo phận, giáo xứ, dòng tu ở Việt Nam, cũng như tham gia cử hành nhiều thánh lễ. Trong những lần đi thăm đầu tiên, đại diện không thường trú của Tòa thánh đã gặp ít nhiều khó khăn, cản trở, nhưng trong bản thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vừa qua, Tòa Thánh nay nhìn nhận rằng Nhà Nước Việt Nam “đã tạo điều kiện dễ dàng” cho các cuộc viếng thăm công tác của Đức Tổng giám mục Girelli.

Nhưng nếu như quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam có vẻ như đang trong chiều hướng cải thiện, thì quan hệ giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với chính quyền vẫn còn gặp nhiều trắc trở, nhất là với các chính quyền địa phương. Ví dụ gần đây nhất là việc tổ chức ngày lễ Hành hương Đức Mẹ Măng Đen ở Kon Tum giữa tháng 9 vừa qua. Theo tin của Truyền Thông Chúa Cứu Thế, Sở Nội Vụ tỉnh Kon Tum đã gây khó khăn cho việc tổ chức ngày lễ Hành hương này qua việc ra một công văn rất cận ngày, với nội dung mang tính lạm quyền, đặc biệt là không cho phép tòa Tổng giám mục Kon Tum dùng chữ “Hành hương” và không cho đặt hòm công đức để thu tiền quyên góp.

Nói chung, trong quan hệ với Nhà nước, Giáo hội Việt Nam tuy vẫn có tinh thần cộng tác, nhưng muốn có một chỗ đứng riêng, để có thể đóng góp một cách hiệu quả cho việc phát triển đất nước. Thế nhưng, hiện nay, Giáo hội vẫn chưa được tạo điều kiện tham gia vào những lĩnh vực như giáo dục hay y tế và chính vì vậy mà trong bản thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ vừa qua với phái đoàn Việt Nam tại Hà Nội, phái đoàn Tòa Thánh đã nhắc lại mong muốn này của giáo hội Việt Nam.

Nhân dịp cuộc họp lần thứ 5 của nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam- Tòa Thánh, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị nghe phần phỏng vấn với Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, kiêm chủ tịch Hội đồng Công lý và Hòa bình.

Đức cha Nguyễn Thái Hợp 24/09/2014

 

 

Đài Loan bày tỏ hậu thuẫn đối với phong trào đòi dân chủ Hồng Kông – VOA

30 Th9

 

 
Sinh viên biểu tình tại Đài Bắc để hỗ trợ cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ đang diễn ra tại Hồng Kông, ngày 29/9/2014.

Sinh viên biểu tình tại Đài Bắc để hỗ trợ cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ đang diễn ra tại Hồng Kông, ngày 29/9/2014.

 
 
 
 
Ralph Jennings

Hàng ngàn người Đài Loan hôm chủ nhật đã xuống đường biểu tình để bày tỏ hậu thuẫn cho phong trào đòi dân chủ ở Hồng Kông. Các nhà lãnh đạo Đài Loan cũng công khai lập lại sự ủng hộ dành cho các nhân vật tranh đấu ở Hồng Kông. Từ Đài Bắc, thông tín viên Ralph Jennings của đài VOA gởi về bài tường thuật sau đây.

Chính phủ Đài Loan đã bày tỏ sự hối tiếc đối với những vụ đụng độ hôm chủ nhật ở Hồng Kông, nơi hàng ngàn người biểu tình chiếm cứ khu trung tâm tài chánh để đòi chính quyền thực hiện phổ thông đầu phiếu.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài truyền hình Al-Jazeera, Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu cho biết ông cảm thấy lo lắng về tình hình Hồng Kông và tuyên bố Đài Loan là nơi duy nhất của Trung Quốc có được dân chủ. Ông cũng bác bỏ đề nghị “một quốc gia hai chế độ” mà giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra.

“Tôi nghĩ rằng nếu có được phổ thông đầu phiếu thì đó là một việc có ý nghĩa vô cùng to lớn cho Hồng Kông và Hoa Lục, nhất là cho hình ảnh của Hoa Lục trên trường quốc tế. Chúng tôi đã nói rất rõ là Đài Loan không chấp nhận mô thức “một quốc gia, hai chế độ”. Chúng tôi nghĩ rằng nếu chế độ đó là một chế độ tốt thì chúng ta nên có “một quốc gia, một chế độ”.”

Các nhà phân tích ở Đài Bắc cho rằng sự ủng hộ cho phong trào dân chủ Hồng Kông có thể sẽ được tăng cường sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói với một phái đoàn Đài Loan dến thăm Hoa Lục rằng Đài Loan nên chấp nhận mô thức một quốc gia, hai chế độ – như Hồng Kông đã làm.

Ông Ngô Thụy Quốc, Giám đốc công ty tư vấn rủi ro chính trị e-telligence, nói rằng Bắc Kinh không hiểu rõ tình hình.

Cảnh sát sử dụng hơi cay để giải tán các sinh viên biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong, ngày 29/9/2014.Cảnh sát sử dụng hơi cay để giải tán các sinh viên biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong, ngày 29/9/2014.
x
Cảnh sát sử dụng hơi cay để giải tán các sinh viên biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong, ngày 29/9/2014.

Cảnh sát sử dụng hơi cay để giải tán các sinh viên biểu tình đòi dân chủ tại Hong Kong, ngày 29/9/2014.

“Rõ ràng là có một cái hố ngăn cách giữa nhận thức của Bắc Kinh và thực tế ở Đài Loan. Nói một cách bao quát, nếu tự do dân chủ là những gì mà người dân Hồng Kông đang theo đuổi thì đó là điều mà tất cả các nước láng giềng cần phải chú tâm theo dõi.”

Đài Loan đã có một chính phủ riêng từ những năm cuối của thập niên 1940, khi chính phủ Quốc Dân Đảng bị phe Cộng Sản đánh bại và thiên đô sang Đài Loan. Từ khi ông Mã Anh Cửu lên giữ chức tổng thống năm 2008, các nhà lãnh đạo Đài Loan và Trung Quốc đã bắt đầu gạt qua một bên những sự khác biệt về chính trị để tiến hành các cuộc thương nghị về kinh tế, thương mại. Những cuộc thương nghị đó đã mang lại hơn 20 hiệp định có lợi cho nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của Đài Loan.

Bắc Kinh áp dụng mô thức “một quốc gia, hai chế độ” ở Hồng Kông năm 1997, theo đó cựu thuộc địa Anh này nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc nhưng được tự trị về kinh tế và chính trị trong vòng 50 năm. Giờ đây các nhà tranh đấu dân chủ Hồng Kông muốn thực hiện phổ thông đầu phiếu để chọn trưởng quan hành chánh vào năm 2017 và các thành viên của Viện Lập pháp vào năm 2020.

Tuy nhiên, hồi đầu tháng này Trung Quốc nói rằng họ không sẵn sàng để cho Hồng Kông có bầu cử tự do. Họ muốn một ủy ban đề cử, hầu hết là những người thân Bắc Kinh, lựa chọn các ứng cử viên cho chức vụ trưởng quan hành chánh.

Ủy ban Hoa Lục của chính phủ Đài Loan hôm thứ 6 vừa qua cho biết đảo quốc này không thể chấp nhận mô thức một quốc gia hai chế độ mà Bắc Kinh đề nghị. Ủy ban này nói rằng hơn 70% dân chúng Đài Loan phản đối mô thức đó.

 
 
Trình bày ý kiến
Mới nhất
Theo thứ tự thời gian

Bấm vào đây để góp ý trên diễn đàn này (7)

 
 
Ý kiến
     
 
 
bởi: Ketainoiro từ: LB Nga

29.09.2014 19:39
 
Trả lời
Từ Trung Quốc sang Việt nam…đến Bắc Hàn tới Cu Ba tại sao..hơn 1tỷ người lại bó tay chịu thua một nhóm nhỏ rất ít ỏi cai trị trên sự độc tài độc đảng vô lý…Chủ nghĩa cộng sản ,vô thần chỉ là cái cớ mị dân của một nhóm người ích kỷ tham lam sống tham lam giàu có dựa trên xương máu và tài nguyên…Chỉ có dân chủ mà dân chủ thì phải đa đảng để lãnh đạo đưa con người tói chổ hạnh phúc và đất nước phồn vinh…Cộng sản đem con người tới chổ diệt vong đất nước lụn bại và đieu tàn…thử hỏi Bọn Cán bộ CS có dám đem tài sản vợ con làm của chung cho cọng đồng không…tại sao lại hô hào chủ nghĩa xã hội mọi tài sản là của chung…lố bịch lừa đảo…thế tại sao lại phải chấp nhận cái lý thuyết vớ vẫn….đã đến lúc….toàn dân trong khối CS còn lại trên thế giới bắt chước Hongkong đứng lên đòi hỏi dân chủ tự quyền ..hãy nói không với chủ nghĩa Cộng sản độc đảng độc tài…nền dân chủ muôn năm…
 
 

bởi: phamd từ: us

29.09.2014 14:37
 
Trả lời
Dường như chưa là thời cơ chín mùi cho người dân lật đổ chế độ ! Chắc chắn sẽ như Thiên an Môn trước kia nếu người biễu tình không rút lui .Vì theo tình hình hiện tại Trung quốc còn đủ sức để đàn áp người dân cho dù số thương vong lên tới hàng triệu người .Theo tôi muốn lật đổ chế độ cần có sự giúp sức bên ngoài và cần có chương trình đủ khả năng cầm cự lâu dài ,chế độ Cộng sản không còn ….nhưng chính con người đã dùng nó như một sách lượt ,cái quan trọng là tiêu diệt những người đó.
 
 

bởi: Thành Tâm từ: SAI-GON VN

29.09.2014 12:21
 
Trả lời
Cộng sản đến đâu là thảm sầu đến đó . Thế giới ngày nay sợ và ghê tởm cộng sản còn hơn là bệnh dịch Ebola !
 
 

bởi: Đặng-Tập từ: Việt Nam

29.09.2014 11:05
 
Trả lời
Ngày cáo chung của chủ nghĩa CS cũng đã tới Hoa Lục .
Trung quốc muốn sánh vai , xưng hùng với Mỹ chỉ có con đường cải cách thể chế chính trị , xoá bỏ tư tưởng ma quỉ của Mark-Mao
Hy vọng Tập cận Bình sẽ làm được để đưa Trung Hoa trở nên cường thịnh !…
 
 

bởi: A Tuấn từ: sài Gòn

29.09.2014 09:20
 
Trả lời
Đài Loan không bao giờ từ bỏ mục tiêu của họ đó là “kháng cộng phục quốc”. Đài Loan chắc chắn sẽ ủng hộ Hongkong tới cùng.
 
 

bởi: SC

29.09.2014 09:18
 
Trả lời
Muôn đời vẫn cứ là như thế thôi! Điểm danh lại, đã là Cộng Sản, thì bất kỳ Cộng Sản lớn, Cộng Sản bé nào cũng chỉ chuyên lừa, chuyên gạt, chuyên bịp, chuyên nói dối, nói láo láo… Cộng Sản là đám lưỡi không xương nhiều đưownfg vô cùng lắt léo, chúng chuyên ăn đàng sóng, nói đàng gió, bọn chuyên ăn ngược, nói xuôi!Những ai còn ngu muội? Tin vào chúng, tin vào miệng lưỡi bọn diieeu, đểu và ác này, thì chỉ có nước… sẽ tự tra cổ vào tròng và khi nhìn ra, nhận thấy…mọi sự ăn năn, tiếc nuối và ân hận nữa đều đã quá muộn màng. Mọi người, nhất là người dân Viện Nam trên khắp thế giới rất cần và nên hiểu, thương cảm và ủng hộ cho nhân dân Hồng Công trong cuộc đấu tranh. quyết giành Dân Chủ, Tự Do trước chế độ độc tài, độc ác…Trung Cộng như chính quyền và người dân Trung Hoa Dân Quốc Đài Loan đã, đang làm với tinh thần ” đồng khí tương lân, đồng chí tương cầu “.
 
 

bởi: Quốc Quốc

29.09.2014 08:13
 
Trả lời
Chỉ hàng ngàn người Trung Hoa Dân Quốc biểu tình ủng hộ nhân dân Hongkong đòi dân chủ thôi ư? Phải cả triệu mới được !Trung Hoa Dân Quốc nên lấy Việt Nam Cộng Hòa làm bài học cho mình !

 

Chuyện Đông Âu kéo tượng Lenin – BBC

30 Th9

 

  • 29 tháng 9 2014

Thời gian trước, trên diễn đàn của người Việt ở Ukraine, có tin chính quyền một thành phố ở xứ này quyết định hạ tất cả tượng đài Lenin ở địa phương để tránh những vụ phá phách của những kẻ không ưa vị lãnh tụ vô sản.

Và sau mẩu tin, có nhiều ý kiến thương khóc, trách móc của độc giả Việt, cho rằng hành động trên là ‘phản bội quá khứ’, ‘tráo trở’, ‘ăn cháo đá bát’…

Đọc những bình luận đó, có thể liên tưởng tới những vần thơ “bất hủ” của Tố Hữu thời 1953, khi ông ta cùng các đồng chí khóc Stalin trong thi phẩm ‘Đời đời nhớ Ông’.

Đối với một kẻ xa lạ, ở một đất nước mà khi đó có lẽ đại đa số dân Việt chưa biết là ở đâu, chưa thấy có mối liên hệ hay công trạng gì với Việt Nam, nhưng nhà thơ lại rưng rưng:

“Yêu biết mấy khi con học nói – Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin”.

Để rồi trong cả ‘bài thơ’, thi sĩ nhiều khi òa lên một cách hết sức vô duyên:

“Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi! – Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? – Thương cha, thương mẹ, thương chồng – Thương mình thương một, thương Ông thương mười…”. Và đặt vào miệng con trẻ những lời hết sức “chối”: “Con còn bé dại con ơi – Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông!”.

‘Sùng bái lãnh tụ’

Tệ sùng bái cá nhân lãnh tụ một cách mù quáng, vô độ, phổ biến trong thế giới cộng sản xưa, đã bị chính các đảng cộng sản bài trừ từ vài chục năm nay, coi đó là cội nguồn của những thảm họa dân tộc.

Chỉ cần đọc lại bản báo cáo mật của lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đọc tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 20 vào cuối tháng 2-1956, là đủ thấy những hậu quả khôn lường của nó.

Dầu sao đi nữa, không thể không đặt câu hỏi: Stalin trên cương vị một trong những đao phủ lớn nhất của lịch sử loài người tất nhiên là đáng lên án, nhưng phải chăng chỉ ông ta mới ‘đáng trách’?

Phải chăng ông là cội nguồn của tất cả những tội ác, mà sau này, một sử gia của Pháp đã nhận định rằng, đau đớn thay, đó là tội ác của một nhà nước nhằm vào và chống lại nhân dân của chính mình?

Câu trả lời là Không.

Bởi lẽ, Stalin đã tiếp thu và tất nhiên, có nâng cao tất cả những tệ hại nhất của người thầy Lenin – như chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, thanh trừng và khủng bố, đàn áp tôn giáo…

 

Lenin rất mạnh tay với giới trí thức và hóa truyền thống Nga

Tất cả những tội ác đó đã được thực hiện rất triệt để trong thời gian 1917-1922, tức là khi Lenin còn khỏe và mọi hành động của ông đều là rất có ý thức, chứ không phải sự nhầm lẫn đáng tiếc lúc già yếu.

Trên cương vị người sáng lập nhà nước vô sản đầu tiên trên hoàn cầu, suốt đời hoạt động của mình, Lenin trước sau như một ủng hộ sự áp dụng bạo lực cách mạng như một phương tiện cần thiết và tiên quyết để giải quyết những mâu thuẫn trong xã hội và chính trị.

Sự độc đoán và phi dân chủ đó của ông đã khiến cả những gương mặt lớn, cùng lý tưởng – như Rosa Luxemburg, hay văn hào Maxim Gorky – phải ‘kêu trời’.

Cũng trong thời gian đó, những phần tử ưu tú, tinh hoa nhất của giới trí thức Nga truyền thống đã bị cưỡng bức rời quê hương – mở đầu cho một thông lệ tệ hại ở Liên Xô là chính quyền có thể trục xuất chính công dân mình nếu cảm thấy ai đó có thể không hợp hoặc không có lợi cho họ.

Đấy cũng là tội của Lenin – người rất thấu hiểu sức mạnh của tri thức nên đã rất mạnh tay với giới trí thức, với nền văn hóa truyền thống Nga.

Thế nên, rất có thể đối với Đảng Cộng sản Liên Xô, hoặc với cá nhân ai đó thì Lenin (từng) là thần tượng, là người hiền, nhưng chỉ cần đọc lại một chút những nghiên cứu lịch sử đứng đắn là biết được di sản của Lenin nguy hại như thế nào đối với một phần đáng kể nhân loại.

Vậy có nên tiếp tục nhắm mắt nhắm mũi mà sùng bái ông hay không, nhất là nhiều khi chỉ là theo quán tính, theo thói quen mà không hề có óc suy xét?

Hơn thế nữa, liên quan tới quyết định của thành phố nọ, có thể nghĩ xem Lenin đã làm được gì cho Ukraine, mà Ukraine cần giữ tượng đài Lenin ở mọi nơi?

Những pho tượng ấy đã được dựng lên – và có thể phù hợp với ý thức hệ bị cưỡng bức của một thời kỳ nào đó, khi dân tộc Ukraine chưa được độc lập – thì bây giờ, sau hai mươi ba năm, nếu thấy nó ko còn phù hợp nữa, người ta hạ xuống. Có gì đáng thương khóc?

Những tượng đài Lenin, hồi xưa vốn hiện diện nhan nhản, đa phần do bị bắt buộc ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ tại Đông Âu, thì nay dường như đã bị loại sạch.

Có những nơi như tại Hungary, những pho tượng ấy được tập trung lại một nơi để ai có nhu cầu tìm hiểu quá khứ có thể tới thăm viếng.

Thêm một pho tượng Lenin bị kéo đổ ở Ukraine

Như thế là văn minh: vị trí của chúng là ở đó, chứ không phải tại các quảng trường, nơi công cộng… bởi công tội phải phân minh.

Cũng như, lịch sử phải được tôn trọng, quá khứ phải được nhìn nhận sòng phẳng. Người dân Đông Âu biết đánh giá hơn ai hết giá trị to lớn của nền văn hóa Nga, vẻ đẹp của đất nước Nga, họ cũng không có vấn đề gì với dân tộc Nga vốn được mô tả như những con người hiền hậu, tốt bụng và mến khách. Tuy nhiên với những trải nghiệm lịch sử đau đớn, họ quá hiểu cần gìn giữ cái gì, và loại bỏ cái gì.

Việt Nam ta ở xa, chớ nên ‘dạy khôn’ cho họ.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả ký bút danh Người Dân đã đăng trên trang Nhịp cầu Thế giới hôm 20/8/2014 ở Hungary.

Ghi chú:

Rosa Luxemburg (1871-1919) là nhà cách mạng, triết gia, tác giả cuốn “Về cuộc cách mạng Nga” (Die Revolution in Russland) viết trong tù ngục để phê phán chủ trương của Lenin – tiêu diệt các đảng phái đối lập và bóp nghẹt dân chủ trong chính nội bộ Đảng. Rosa Luxemburg để lại câu nói nổi tiếng, đến giờ vẫn hay được trích dẫn: “Tự do dành riêng cho những ai ủng hộ chính phủ, dành riêng cho thành viên một đảng – cho dù đông đảo đến mấy – cũng không phải là tự do. Tự do, luôn phải là tự do của những người khác chính kiến”.

Maxim Gorky (1868-1936), tác giả “Những suy tưởng không hợp thời” về cách mạng cộng sản Nga, bị cấm tại Liên Xô trong bảy thập niên trong khi chính quyền vẫn tung hô Gorky như là nhà văn lớn nhất của trường phái Hiện thực Xã hội chủ nghĩa. Nguyên tác Nga ngữ thì kiếm: М. ҐОРЬКИЙ: Несвоеврменные мысли (đăng lần đầu trên tạp chí Литературное обозрение, số 9, 10, 12 năm 1988).

 

%d bloggers like this: