Lưu trữ | Tháng Mười Một, 2014

Các hành vi của Trung Quốc trên biển Đông trong thời gian gần đây dưới góc nhìn của luật pháp quốc tế và phản ứng của Việt Nam – vhna

30 Th11

 

 

  •   Ngô Hữu Phước[1]
 

Tàu Trung Quốc tấn công tàu cảnh sát biển Việt Nam trên biển Đông Tàu Trung Quốc tấn công tàu cảnh sát biển Việt Nam trên biển Đông

 

1. Các hành vi của Trung Quốc trong thời gian gần đây dưới góc nhìn của luật pháp quốc tế.

Với sức mạnh và vị thế của một “cường quốc đang trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc ngày càng ra sức biểu dương sức mạnh của mình đối với thế giới, đặc biệt là với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Trong đó, tâm điểm để Trung Quốc thị uy sức mạnh của họ chính là ở Biển Đông. Nhằm thực hiện mưu đồ “độc chiếm Biển Đông”, thời gian gần đây Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp các cam kết chính trị với Asean và Việt Nam, thực hiện một có hệ thống các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển, đảo của của Việt Nam đã được luật pháp quốc tế và đặc biệt là UNCLOS thừa nhận.

Một là: Các hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông gồm:

– Tuyên bố về yêu sách đường chữ U chín đoạn chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông ngày 7/5/2009[2].

– Thành lập thành phố Tam Sa, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam ngày 22/6/2012[3].

– Tiến hành tôn tạo, xây dựng trái phép các bãi cạn trên quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã xâm lược của Việt Nam tháng 3/1988 (bãi Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma, Ga ven, Tư Nghĩa, Su Bi)[4].

– Đưa vào hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam tháng 6/2014;

– Vẽ lại bản đồ quốc gia theo khổ dọc với đường 10 đoạn chiếm hơn 90% diện tích Biển Đông ngày 26/6/2014[5].

Các hành vi nói trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền đối với lãnh hải và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là những bộ phận không thể tách rời của Việt Nam. Về phương diện pháp luật quốc tế, đây là hành vi “xâm lược mềm”, “xâm lược bằng bản đồ” của Trung Quốc. Các hành vi này được Trung Quốc thực hiện một cách bài bản, có hệ thống nhằm từng bước thay đổi hiện trạng ở Biển Đông, cụ thể hóa âm mưu độc chiếm Đông. Đồng thời, biến Biển Đông nằm trọn trong vành đai liên hoàn với 3 điểm tiền tiêu chiến lược từ Bắc xuống Nam gồm: Đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam để từ đó kiểm soát, khống chế toàn bộ tuyến đường hàng hải, hàng không và mọi hoạt động trên Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao” riêng của Trung Quốc.

Hai là, các hành vi xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông gồm:

– Dùng tàu Hải giám quấy nhiễu và cắt cáp ngầm của tàu Bình Minh 2 đang hoạt động thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ngày 25/6/2011[6]

– Ngang nhiên mời thầu quốc tế 09 lô dầu khí hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 6/2012[7];

– Cản trở hoạt động hợp tác khai thác dầu khí của Việt Nam với các công ty nước ngoài[8];

Các hành vi này vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã được Việt Nam xác lập và thực thi phù hợp với UNCOLS.

Tham vọng bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc không dừng lại mà ngày càng gia tăng cả về tính chất và mức độ nguy hiểm, đe doạ hoà bình, an ninh, tự do hàng hải, hàng không và thương mại của khu vực và thế giới. Đỉnh điểm là sự kiện Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo quy định của UNCLOS (cách đảo Lý Sơn, điểm cơ sở số 10 trên tuyến đường cơ sở của Việt Nam xác lập theo Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12/11/1982, 119 hải lý[9]) vào ngày 1/5/2014,.

Đánh giá trên tất cả các phương diện pháp luật, chính trị và quan hệ quốc tế, hành vi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp quốc, các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia (các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế), UNCLOS, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC năm 2002 và các thỏa thuận song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, cụ thể:

(1) Về phương diện pháp luật quốc tế, đây là hành vi vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam đã được thừa nhận và quy định trong UNCLOS. Theo UNCLOS, quốc gia ven biển có quyền thiết lập vùng đặc quyền kinh tế rộng không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở[10]. Trong vùng biển này, quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về kinh tế (quyền thăm dò khai thác, bảo tồn, quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng biển này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió). Đồng thời, quốc gia ven biển có quyền tài phán (cho phép, kiểm tra, giám sát, xử lý ) đối với các hoạt động lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, nghiên cứu khoa học về biển và bảo vệ và gìn giữ môi trường biển[11].

Để thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, UNCLOS cho phép các quốc gia ven biển có quyền “ thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia đã ban hành theo đúng Công ước”[12].

Bên cạnh đó, UNCLOS cũng quy định trách nhiệm của các quốc gia khác, “khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa vụ của mình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyền và các nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước…”[13].

Đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, UNCLOS cho phép quốc gia ven biển thiết lập một vùng đáy biển có chiều rộng tính từ đường cơ sở đến rìa lục địa hẹp nhất là 200 hải lý và rộng nhất là 350 hải lý là thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia. Quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền đối với mọi tài nguyên thiên nhiên có trong thềm lục địa của mình. Đây là các quyền có tính chất đặc quyền, nghĩa là các quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia đó[14].

Đồng thời, quốc gia ven biển có quyền tài phán ở thềm lục địa trong 4 lĩnh vực: (i) Lắp đặt các đảo và công trình thiết bị nhân tạo; (2) Nghiên cứu khoa học về biển; (iii) Khoan ở thềm lục địa; (iiii) Bảo vệ giữ gìn môi trường biển[15].

Nghiêm trọng hơn, khi các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc hạ đặt bất hợp pháp giàn khoan Hải Dương 981 thì Trung Quốc đã huy động thường xuyên và liên tục một lực lượng hùng hậu với hơn 100 tàu các loại gồm cả tàu hộ vệ tên lửa, tàu tấn công nhanh, tàu kéo, tàu hải giám, tàu ngư chính, tàu hải cảnh, tàu hải tuần và hàng trăm lượt máy bay quân sự đe dọa và tấn công các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam và tàu cá của ngư dân Việt Nam, làm thiệt hại nặng nề đối với tài sản và sức khỏe của các chiến sĩ Cảnh sát biển, Kiểm ngư viên và ngư dân Việt Nam. Đây là hành vi sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực, vi phạm Hiến chương Liên hợp quốcvà các nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia đã được Đại hội đồng Liên hợp quốcthông qua ngày 24/10/1970 trong đó có Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; Nguyên tắc cấm sử dụng và đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Nguyên tắc hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế; Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau và Nguyên tắc tậntâm thực hiện các cam kết quốc tế (tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế Pacta sunt servanda). Đặc biệt, hành vi này của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được UNCLOS ghi nhận mà Trung Quốc, một cường quốc của thế giới và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốcđã phê chuẩn năm 1996, lẽ ra Trung Quốc phải gương mẫu và tuân thủ thực hiện.

(2) Về phương diện pháp luật quốc gia, hành vi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 đã vi phạm nghiệm trọng pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 và Luật Biển Việt Nam năm 2012. Trong đó, Luật Biển Việt Nam 2012, một đạo luật chuyên ngành về biển, là cơ sở pháp lý quốc gia quan trọng nhất để nhà nước, cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển của Việt Nam (nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) đã xác lập hoàn toàn phù hợp với UNCLOS.

Trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Luật Biển Việt Nam 2012 quy định:Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở[16]. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện, quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trinh trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

Đồng thời, Luật Biển 2012 khẳng định, Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam. Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này[17].

          Trong thềm lục của CHXHCN Việt Nam, Luật Biển 2012 quy định, thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét[18].

          Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, Luật Biển Việt Nam 2012 quy định, Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên. Quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng  ý của Chính phủ Việt Nam. Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa. Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan[19].

(3) Về phương diện chính trị ngoại giao quốc tế, hành vi của Trung Quốc đãvi phạm nghiên trọng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông mà Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký năm 2002 (DOC[20]); Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa năm 1993 và Thoả thuận về nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2011.

Về nội dung của DOC, Trung Quốc và các nước ASEAN đã cam kết:

– Tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc, UNCLOS, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác khu vực Đông Nam Á(TAC[21]), năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình (của Trung Quốc) và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế…[22].

– Tìm kiếm những cách thức xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm lẫn nhau hài hòa với những nguyên tắc nêu trên và trên căn bản bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau[23].

– Tôn trọng quyền tự do hoạt động hàng hải, hàng không theo các nguyên tắc được thừa nhận phổ biến trong luật pháp quốc tế và UNCLOS[24].

– Giải quyết tranh chấp về lãnh thổ bằng các phương pháp hòa bình phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận phổ quát của luật pháp quốc tế, kể cả UNCLOS[25].

– Kiềm chế thực hiện các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và sự ổn định khu vực…[26].

– Hợp tác về các lĩnh vực: Bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an toàn hàng hải và thông tin trên biển; tìm kiếm cứu hộ; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, kể cả nhưng không hạn chế trong hoạt động buôn lậu các loại thuốc cấm, hải tặc và cướp có vũ trang trên biển, hoạt động buôn bán trái phép vũ khí..[27].

– Tiếp tục đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan..khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và tranh chấp giữa các bên[28].

– Tôn trọng những điều khoản của Tuyên bố này và hành động phù hợp với sự tôn trọng đó[29].

– Khẳng định quyết tâm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC[30].

Đồng thời, hành vi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đã phá vỡ các Thoả thuận về giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biên giới giữa hai nước năm 1993 và 2011. Trong đó, theo Thỏa thuận năm 1993, hai nước cam kết thương lượng giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình; căn cứ vào tiêu chuẩn và nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận và tham khảo thực tiễn quốc tế để giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ …không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực.

Thỏa thuận năm 2011 tiếp tục ghi nhận, Việt Nam và Trung Quốc cam kết: (i)Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng; (ii) Tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên biển; (iii) Nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước, nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); (iv) Tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi; (v) Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau; (vi) Tiến hành cuộc gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần, luân phiên.

          (4) Về phương diện an ninh, hàng hải quốc tế và thương mại quốc tế,hành vi của Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng an ninh, an toàn hàng hải và hoạt động thương mại của các nước trong khu vực và thế giới, đặc biệt là các cường quốc Mỹ, Ấn Độ, Nga, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc…. và chính của Trung Quốc[31]. Mặt khác, hành vi của Trung Quốc đã làm gia tăng chạy đua vũ trang và nguy cơ xung đột vũ trang, một hệ lụy vô cùng nguy hiểm đối với hoà bình và an ninh của các nước trong khu vực và thế giới.

          (5) Về tình hữu nghị và đoàn kết giữa hai dân tộc Việt – Trung,hành vi hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc đã làm tổn hại đến tình cảm và mối quan hệ hữu nghị, truyền thống tốt đẹp, hòa hiếu, láng giềng thân thiện của hai nước và hai dân tộc Việt – Trung, là tài sản vô cùng quý giá đã được các thế hệ lãnh đạo và người dân hai nước xây dựng và vun đắp từ trước tới nay. Bởi lẽ, để biện minh cho hành vi sai trái của mình, Chính phủ và giới truyền thông của Trung Quốc đã đánh lừa nhân dân Trung Quốc khi tráo trở cho rằng, Việt Nam đã có hành động cản trở, quấy nhiễu, tấn công các tàu Trung Quốc đang hoạt động hợp pháp trong vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc đã không ngần ngại dùng “chiến tranh thông tin” “chiến tranh bản đồ”, “đặt giàn khoan dành lãnh thổ”, cố tình bóp méo sự thật và lịch sử về chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm hợp thức hóa mưu đồ “độc chiếm Biển Đông” phi pháp của mình.

II. Phản ứng của Việt Nam

Trước những hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế của Trung Quốc, xâm phạm đến quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã kiên trì, vận dụng tất cả các biện pháp chính trị, ngoại giao, mọi kênh đối thoại để yêu cầu Trung Quốc đàm phán giải quyết hòa bình các tranh chấp hiện nay nhưng phía Trung Quốc vẫn không đàm phán thực chất để giải quyết[32]. Chính thái độ và cách hành xử đó của Trung Quốc đã buộc Việt Nam phải thay đổi cách tiếp cận trong việc tìm kiếm giải pháp giải quyết tranh chấp, xung đột hiện nay trên Biển Đông trong khuôn khổ Hiến chương Liên hợp quốcvà UNCLOS nhằm bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở Biển Đông. Sự thay đổi có tính bước ngoặt này đã được Thủ tướng CHXHCN Việt Nam tuyên bố, “Chúng tôi (Việt Nam) đã chuẩn bị và sẵn sàng cho hành động pháp lý” và “Chúng tôi đang xem xét thời điểm thích hợp để thực hiện biện pháp này”[33]. Điều đó khẳng định rằng, Việt Nam đã và đang tính tới việc sử dụng biện pháp pháp lý để giải quyết tranh chấp nhằm buộc Trung Quốc chấm dứt các hành vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Nghiên cứu các tranh chấp trên Biển Đông hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc chúng tôi thấy rằng, hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc đang tồn tại hai loại tranh chấp sau đây:

Một là,tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;

Hai là,tranh chấp liên quan đến giải thích và áp dụng UNCLOS, cụ thể là:

(i) Tranh chấp liên quan đến tuyên bố của Trung Quốc về đường chữ U chín đoạn ngày 7/5/2009 (đường lưỡi bò) và nay là đường 10 đoạn được Trung Quốc công bố trên bản đồ khổ dọc vào ngày 26/6/2014;

(ii) Tranh chấp phát sinh từ sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam;

(iii) Tranh chấp phát sinh từ hành vi sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trên Biển Đông.

Vậy, Việt Nam có thể khởi kiện Trung Quốc ra cơ quan Tài phán quốc tế nào? Theo chúng tôi, đối với tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có thể nghiên cứu để khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Công lý quốc tế của Liên hợp quốc (International Court of Justice – ICJ) hoặc Tòa trọng tài thường trực quốc tế La Haye (Permanent Court Arbitration – PCA[34]). Bởi vì, đây hai cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ. Mục đích của vụ kiện này (nếu Việt Nam thực hiện) là nhằm khẳng định quan điểm, lập trường kiên định về chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với Trung Quốc và thế giới; chứng minh cho cộng đồng quốc tế biết và nắm rõ hơn về lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[35]; khẳng định với Trung Quốc và thế giới rằng, Việt Nam chưa và không bao giờ từ bỏ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng đối với quần đảo Hoàng Sa; ngăn ngừa Trung Quốc tiến hành các hoạt động tiếp theo xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này; làm cho nhân dân Việt Nam tin tưởng vào quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, theo Quy chế của ICJ (1945) và PCA (1992), hai cơ quan tài phán này chỉ giải quyết các tranh chấp khi được các bên tranh chấp yêu cầu (đồng thuận[36]). Do vậy, ICJ và PCA sẽ không có thẩm quyền giải quyết nếu Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện. Do vậy, nếu tiến hành thì vụ kiện của Việt Nam sẽ bị “treo” tại ICJ và PCA. Tuy nhiên, việc khởi kiện là một hành động có ý nghĩa chính trị pháp lý rất lớn, biểu thị cho sự minh bạch và bản lĩnh của Việt Nam trước luật pháp quốc tế và cộng đồng quốc tế. Ngược lại, nếu Trung Quốc từ chối, chứng tỏ rằng việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là trái pháp luật quốc tế. 

Theo chúng tôi, Việt Nam cũng có thể xem xét để yêu cầu ICJ tư vấn (thông qua Đại Hội đồng Liên Hợp quốc) với câu hỏi: Các hành vi của Trung Quốc trong thờigian qua trên Biển Đông (hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981; sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực) có vi phạm luật pháp quốc tế?. Để được ICJ tư vấn, Việt Nam cần vận động để Đại Hội đồng ra được 01 Nghị quyết của về vấn đề này. Về phương diện thực tiễn, để Đại Hội đồng ra Nghị quyết ủng hộ Việt Nam là không dễ cho dù hiện nay Việt Nam có sự ủng hộ của Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Philippines…nhưng Trung Quốc lại có thể vận động được rất nhiều phiếu các quốc gia Châu Phi, Châu Mỹ. Tuy nhiên, nếu Đại hội đồng thông qua một Nghị quyết thuận về vấn đề này cho Việt Nam thì tư vấn của ICJ sẽ có ảnh hưởng lớn về chính trị, pháp luật và quan hệ quốc tế rất có lợi cho Việt Nam. 

Hai là: Vụ kiện về giải thích và áp dụng sai UNCLOScủa Trung Quốc (đặc biệt là yêu sách đường chữ U chiếm hơn 90% diện tích Biển Đông và hành vi sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực mà Trung Quốc đã thực hiện trong thời gian gần đây). Với vụ kiện này, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở pháp lý quốc tế để khởi kiện Trung Quốc ra Toà trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS dựa trên 5 cơ sở và lập luận pháp lý sau đây:

(i) Giữa Việt Nam và Trung Quốc đang tồn tại tranh chấp.

Mặc dù Trung Quốc đang cố tình né tránh, không thừa nhận có tranh chấp và luôn cho rằng, họ đang thực hiện các “quyền đương nhiên”, “lợi ích cốt lõi” của họ trên Biển Đông thì thực tế hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn đang tồn tại tranh chấp liên quan đến việc Trung Quốc đã giải thích và áp dụng sai UNCLOS. Đó chính là cơ sở, điều kiện cơ bản, mang tính quyết định cả về thủ tục và nội dung để Việt Nam tiến hành một vụ kiện trước các cơ quan tài phán được qui định tại Điều 287  UNCLOS gồm: Tòa án Công lý quốc tế, Tòa án quốc tế về luật biển, Toà trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS, Toà trọng tài đặc biệt được thành lập theo Phụ lục VIII của UNCLOS;

(ii) Việt Nam đã áp dụng các biện pháp chính trị ngoại giao nhưng Trung Quốc không hợp tác, tranh chấp không được giải quyết.

Căn cứ vào Phần XV- Về giải quyết tranh chấp, Mục 1- Các quy định chung từ Điều 280 đến Điều 285 của UNCLOS, đặc biệt là Điều 281 đã quy định, “1. Khi các quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước đã thỏa thuận tìm cách giải quyết tranh chấp này bằng một phương pháp hòa bình theo sự lựa chọn của mình, thì các thủ tục được trù định trong phần này chỉ được áp dụng nếu không đạt được một cách giải quyết bằng phương pháp này và nếu sự thỏa thuận giữa các bên không loại trừ khả năng tiến hành một thủ tục khác.  2. Nếu các bên cùng thỏa thuận về một thời hạn, thì khoản 1 chỉ được áp dụng kể từ khi kết thúc thời hạn này”. Theo quy định này, từ khi phát sinh tranh chấp Việt Nam đã tiến hành đàm phán, trao đổi quan điểm với Trung Quốc nhưng Trung Quốc vẫn không thiện chí để giải quyết và cũng không có bất kỳ thoả thuận nào với Việt Nam, tranh chấp không được giải quyết và ngày càng căng thẳng, phức tạp. Đây chính là căn cứ quan trọng để Việt Nam sử dụng biện pháp tài phán theo qui định tại Điều 287 của UNCLOS. Phần XV- Giải quyết tranh chấp, Mục 2- Các thủ tục bắt buộc dẫn tới các quyết định bắt buộc, Điều 286 của UNCLOS quy định, với điều kiện tuân thủ Mục 3[37], mọi tranh chấp liên quan đến giải thích hay áp dụng UNCLOS khi không được giải quyết bằng cách áp dụng Mục 1, theo yêu cầu của một bên tranh chấp, đều được ra trước Tòa án có thẩm quyền theo mục này.

(iii)Việt Nam và Trung Quốc không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ giải quyết tranh chấp cụ thể nào trong các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương.

Cho đến nay Việt Nam và Trung Quốc không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ giải quyết tranh chấp dẫn đến các kết quả ràng buộc từ các Hiệp chung, khu vực hay hai bên theo Điều 282. Trên thực tế, Việt Nam và Trung Quốc chỉ bị ràng buộc bởi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 (DOC); Hiệp định Hợptác thân thiện giữa các quốc gia Đông Nam Á (TAC) năm 1976; Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vần đề biên giới, lãnh thổ giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa năm 1993 và Thỏa thuận về nguyên tắc 6 điểm giải quyết các vấn đề trên biển năm 2011. Tuy nhiên, các văn bản này không định bất kỳ biện pháp giải quyết tranh chấp cụ thể nào mà chỉ qui định chung về hòa bình giải quyết tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế.

(iv) Thủ tục trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII là thủ mặc nhiên.

          UNCLOS mặc nhiên coi các bên đã chọn Tòa trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII. Điều 287 của UNCLOS quy định, khi ký hay phê chuẩn UNCLOS hoặc tham gia UNCLOS, hay ở bất kỳ thời điểm nào sau đó, một quốc gia được quyền tự do lựa chọn, hình thức tuyên bố bằng văn bản, một hay nhiều biện pháp sau đây để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng UNCLOS:

(1) Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII;

(2) Tòa án công lý quốc tế; 

(3) Một Tòa trọng tài được thành lập theo đúng Phụ lục VII;

(4) Một Tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII để giải quyết một hay nhiều loại tranh chấp đã được qui định rõ trong đó[38].  

Và khi một quốc gia thành viên tham gia vào một vụ tranh chấp mà không được một tuyên bố còn có hiệu lực bảo vệ, thì được xem là đã chấp nhận thủ tục trọng tài đã trù định ở Phụ lục VII[39]. Cho đến nay cả Việt Nam và Trung Quốc đều chưa có tuyên bố nào theo quy định tại khoản 1 Điều 287. Do vậy, chiếu theo khoản 3 Điều 287 thì Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên đã chọn Tòa trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOSđể giải quyết tranh chấp về giải thích và áp dụng UNCLOS[40].

(v) Về phạm vi và nội dung khởi kiện của Việt Nam (nếu thực hiện) không vi phạm giới hạn và các ngoại lệ theo quy định tại Điều 297 và Điều 298 của UNCLOS.

          Về phạm vi và nội dung khởi kiện của Việt Nam (nếu thực hiện) liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS sẽ không vi phạm giới hạn phạm vi áp dụng của các biện pháp bắt buộc theo qui định tại Điều 297 (các tranh chấp liên quan đến việc thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển về nghiên cứu khoa học biển và đánh bắt hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế sẽ đương nhiên bị loại trừ khỏi phạm vi giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS).

Mặt khác, vụ kiện của Việt Nam (nếu thực hiện) sẽ không vi phạm các qui định tại Điều 298 của UNCLOS về những ngoại lệ không bắt buộc giải quyết trước các cơ quan tài phán đó là 4 loại tranh chấp về:

(i) Giải thích hay áp dụng các Điều 15, 74 và 83 liên quan đến việc hoạch định ranh giới các vùng biển[41];

(ii) Các vụ tranh chấp về các vịnh hay danh nghĩa lịch sử;

(iii) Các vụ tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự, kể cả hoạt động quân sự của tàu thuyền và phương tiện bay của Nhà nước được sử dụng cho một dịch vụ không có tính chất thương mại, và các vụ tranh chấp liên quan đến các hành động bắt buộc chấp hành, đã được thực hiện trong việc thi hành các quyền thuộc chủ quyền hoặc quyền tài phán mà Điều 297, khoản 2 và 3, đã loại trừ khỏi thẩm quyền của một tòa án[42];

(4) Các vụ tranh chấp mà Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, trong khi thi hành các chức năng của mình do Hiến chương Liên hợp quốcgiao phó có trách nhiệm giải quyết, trừ khi Hội đồng bảo an quyết định xóa vấn đề trong chương trình nghị sự của mình hay yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp của họ bằng các phương pháp đã qui định trong UNCLOS[43]. Đây cũng là các ngoại lệ mà Trung Quốc đã bảo lưu theo tuyên bố ngày 25/8/2006[44].

          Chúng tôi cho rằng, nếu Việt Nam quyết định khởi kiện Trung Quốc ra Tòa trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS sẽ có một số thuận lợi sau đây: 

– Toà trọng tài quốc tế về luật biển được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS sẽ giải quyết vụ kiện kể cả khi Trung Quốc không đồng ý;

– Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ vụ kiện của Philipines và các quốc gia đã giải quyết tại Tòa trọng tài quốc tế về luật biển như: Barbados, Trinidad và Tobago, Ireland, Anh, Guyna, Suriname… trong việc chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và chiến thuật tranh tụng tại Tòa.

– Phán quyết của Toà có ý nghĩa chính trị, ngoại giao và dư luận quốc tế rất lớn nhằm góp phần ngăn ngừa các hành động tiếp theo của Trung Quốc;

– Tạo niềm tin và nguồn động viên to lớn đối với nhân dân Việt Nam trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay.

Tuy nhiên, nếu Việt Nam quyết định khởi kiện Trung Quốc ra Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS, Việt Nam có thể gặp một số khó khăn nhất định như phản ứng tiêu cực của Trung Quốc đối với hành vi khởi kiện của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư sẽ tác động đáng kể đến tình hình chính trị, kinh tế – xã hội của Việt Nam. Điều này sẽ có tác động không nhỏ đối với Việt Nam. Bởi lẽ, khác với Philippines, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có lãnh thổ liền kề, có mối quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, văn hóa…chặt chẽ hơn rất nhiều so với Philippines; mặc dù phán quyết của Tòa trọng tài có giá trị chung thẩm nhưng không có cơ chế bảo đảm thi hành. Do vậy, việc thực thi phán quyết của trọng tài là không cao.

Chính vì vậy, trong thời điểm hiện nay Việt Nam cần tính toán hết sức khoa học, thận trọng khi quyết định khởi kiện Trung Quốc.

……………………….

[1]Tiến sĩ Luật học, Trưởng bộ môn Công pháp quốc tế, khoa luật Quốc tế, trường Đại học Luật TP.HồChí Minh.

[2]Theo công hàm mà BộNgoại giao Trung Quốc đã gửi Tổng thưký LiênHợp quốc vào ngày 7/5/2009. Xem Phụlục 1, bản đồđường chữU 9 đoạn (đường lưỡi bò) phi pháp của Trung Quốc.

[3]Nơi đặt trụsởchính quyền thành phốTam Sa là đảo Phú Lâm, tên quốc tếlà Woody Island. Đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất quần đảo Hoàng Sa. Đến ngày 24/11/2012 Trung Quốc đã chính thức công bốbản đồthành phốTam Sa. Xem Phụlục 2, mô tảbản đồthành phốTam Sa được thành lập trái pháp luật quốc tếcủa Trung Quốc.

[4]Xem Phụlục 3, hình ảnh Trung Quốc đang tôn tạo, xây dựng trên bãi cạn Gạc Ma.

[5]Xem Phụlục 4, bản đồđường chữU 10 đoạn của Trung Quốc. Với bản đồkhổdọc này, lần đầu tiên trong lịch sử, bản đồTrung Quốc được vẽtheo khổdọc thay vì khổngang nhưtrước đây. Với cách vẽnày, Trung Quốc đã “biến” bản đồcũ có chiều ngang 5.200km và chiều dọc là 3.000km thành bản đồmới có chiều ngang 5.200km và chiều dọc là 5.500km. Cần lưu ý rằng, tấm bản đồnày bao trùm cảBiển Đông, Biển Hoa Đông và bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ.

[6]Xem Phụlục 5, vịtrí tàu Hải giám Trung Quốc cắt cáp ngầm của tàu Bình Minh 2 đang thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa của Việt Nam ngày 26/5/2011.

[7]Xem Phụlục 6, bản đồ9 lô dầu khí nằm hoàn toàn trong thềm lục địa của Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược mời thầu quốc tế.

[8]Xem hình ảnh và vịtrí các lô dầu khí của Việt Nam hợp tác khai thác với các công ty nước ngoài nhưng bịTrung Quốc cản trởtại Phụlục số7.

[9]Xem hình ảnh và vịtrí Trung Quốc hạđặt giàn khoan Hải Dương 981trong vùng đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa Việt Nam tại Phụlục số8.

[10]Điều 57 UNCLOS.

[11]Điều 56 UNCLOS.

[12] Điều 73 UNCLOS.

[13]Điều 58 UNCLOS

[14]Điều 77 UNCLOS

[15]Điều 78,79,80,81 UNCLOS.

[16]Điều 15 Luật biển Việt Nam năm 2012.

[17]Điều 16 Luật Biển Việt Nam năm 2012.

[18]Điều 17 Luật Biển Việt Nam năm 2012

[19]Điều 18 Luật Biển Việt Nam năm 2012.

[21]Xem nội dung Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á ngày 24/2/1976 (Treaty of Amity and Cooperation inSoutheast Asia Indonesia, 24 February 1976) tại địa chỉwebsite: http://www.asean.org/news/item/treaty-of-amity-and-cooperation-in-southeast-asia-indonesia-24-february- 1976-3

[22]Điểm 1 của DOC.

[23]Điểm 2 của DOC.

[24]Điểm 3 của DOC

[25]Điểm 4 của DOC

[26]Điểm 5 của DOC

[27]Điểm 6 của DOC.

[28]Điểm 7 của DOC

[29]Điểm 8 của DOC

[30]Điểm 10 của DOC

[31]. Theo thống kê, hơn 90% lượng vận tải thương mại của thếgiới thực hiện bằng đường biển và 45% trong sốđó phải đi qua Biển Đông. Khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc, 60% của Nhật Bản và 66% của Hàn Quốc cũng đi qua vùng biển này.

[32]Việt Nam đã chủđộng liên hệ, kêu gọi, đềxuất với Trung Quốc giải quyết tình hình hiện nay hơn 30 lần kểcảsửdụng diễn đàn ASEAN, ARF, Liên Hợp quốc nhưngTrung Quốc vẫn không thiện chí giải quyết.

[33]Trích bài trảlời phỏng vấn của Thủtướng Chính phủnước CHXHCN Việt Nam với hãng tin Bloomberg ngày 30/5/2014.

[34]Tòa trọng tài thường trực La Haye (PCA) được thành lập vào năm 1899, trên cơsởCông ước La Haye 1899 (còn được gọi là Công ước La Haye I) vềgiải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Với tưcách là một thiết chếquốc tếgiúp các quốc gia có thểgiải quyết các tranh chấp quốc tếbằng biện pháp hòa bình, tòa trọng tài thường trực La Haye có trụsởchính tại Cung điện Hòa Bình, thành phốLa Haye của Hà Lan, bắt đầu đi vào hoạt động từnăm 1902.  Từkhi thành lập cho đến nay, PCA đã đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tếcũng nhưgóp phần quan trọng vào sựphát triển của pháp luật quốc tế. Hiện nay Tòa có 115 quốc gia và vùng lãnh thổlà thành viên, PCA đã tham gia giải quyết nhiều vụviệc tranh chấp liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của các quốc gia thành viên. Việt Nam đã là thành viên của Tòa trọng tài thường trực La Haye (Việt Nam chính thức tham gia Công ước La Haye 1899 từ29/12/2011 và Công ước La Haye 1907 từ27/02/2012). Với việc ký kết Hiệp định nước chủnhà với PCA ngày 23/6 vừa qua, Việt Nam đã chính thức công nhận Tòa trọng tài thường trực có tưcách pháp lý cần thiết đểtiến hành các hoạt động giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tếthông qua trọng tài, trung gian, hòa giải và ủy ban điều tra. PCA sẽcó tưcách pháp lý đểcung cấp các hỗtrợthích hợp khác liên quan đến hoạt động giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tếdo Tòa trọng tài thường trực tiến hành tại Việt Nam, cũng nhưtiến hành các hoạt động hợp tác với Việt Nam.

[35]Theo quan điểm của tác giả, thời điểm này Việt Nam chưa nên đưa tranh quần đảo Trường Sa ra giải quyết tại ICJ và PCA vì liên quan đến nhiều bên, trong đó có Việt Nam, Trung Quốc, Philipines, Malaysia, Brunei, Đài Loan, tình hình sẽphức tạp thêm.

[36]Có 3 phương thức đểcác quốc gia trao quyền giải quyết tranh chấp cho ICJ và PCA đó là phương thức chấp nhận trước và phương thức chấp nhận sau: Phương thức chấp trước được thực hiện bằng cách (1) Các quốc gia ký kết các điều ước quốc tếtrao quyền giải quyết cho ICJ và PCA trước khi tranh chấp phát sinh hoặc (2) Các quốc gia tuyên bốđơn phương chấp nhận thẩm quyền giải quyết tranh chấp của ICJ và PCA trước khi tranh chấp phát sinh. Phương thức chấp nhận sau được thực hiện bằng cách, (1) khi tranh chấp phát sinh các bên tranh chấp thỏa thuận đồng thỉnh cầu ICJ và PCA giải quyết hoặc (2) khi tranh chấp phát sinh một bên tranh chấp khởi kiện bên kia ra ICJ hoặc PCA và bên tranh chấp kia tuyên bốchấp nhận. 

[37]Giới hạn và ngoại lệđối với áp dụng được quy định cụthểtại Điều 297 và Điều 298.

[38]Khoản 1 Điều 287 UNCLOS.

[39]Khoản 3 Điều 287 của UNCLOS.

[40]Trong 4 cơquan tài phán được qui định tại Điều 287, thì ICJ và ITCLOS không thểcó thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc nếu Việt Nam khởi kiện nhưng Trung Quốc không chấp nhận. Vì hai cơquan tài phán này chỉcó thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi được các bên tranh chấp đồng thuận yêu cầu. Còn Tòa trọng trọng tài đặc biệt, theo Phụlục VIII của UNCLOS chỉcó chức năng điu tra xác lp các sựkiện từnguồn gốc vụtranh chấp liên quan đến đánh bắt hải sản, bảo vệvà gìn giữmôi trường biển, nghiên cứu khoa học biển và hàng hải kểcảnạn ô nhiễm do các tàu thuyền hay do nhận chìmchứkhông thực sựlà một cơquan giải quyết tranh chấp. Bởi lẽ, nếu tất cảcác bên trong vụtranh chấp yêu cầu thì Toà trọng tài đặc biệt có thểthảo ra các khuyến nghị; những khuyến nghịnày không có giá trịquyết định mà chỉlà cơsởđểcác bên tiến hành xem xét lại những vấn đềlàm phát sinh ra tranh chấp mà thôi.

[41]Phân định lãnh hải, đặc quyền kinh tếvà thềm lục địa.

[42]Điều 298, khoản 1, điểm b của UNCLOS.

[43]Điều 298, khoản 1, điểm c của UNCLOS.

[44]Xem toàn văn Tuyên bốcủa Trung Quốc ngày 25/8/2006 tại địa chỉwebsite: http://www.un.org/ Depts/ los/convention_agreements/convention_declarations.htm#China Upon ratification. Theo đó, Trung Quốc tuyên bốrằng, “Chính phnước Cng hòa nhân dân Trung Hoa không chp nhn bt kỳ thtc quy đnh ti Mc 2 Phn XV caUNCLOSđi vi tt ccác loi tranh chp quy đnh ti khon 1 (a) (b) và (c) vi Điu 298 ca UNCLOS.

 

 

 

Tương quan Sức mạnh: So sánh Chiến lược của Mỹ và Trung Quốc ở Châu Á – ncbđ

30 Th11

 

 

Thứ sáu, 28 Tháng 11 2014 08:32

inShare0

Trung Quốc chắn chắn sẽ gặp khó khăn khi cạnh tranh với một nước Mỹ nhìn nhận nghiêm túc về vị thế bá chủ ở Châu Á. Quả thực, nếu có thể gây dựng nên một cán cân quyền lực có lợi cho mình, Washington sẽ bắt đầu nhìn thấy một số dấu hiệu mong muốn hợp tác từ Bắc Kinh

 

Tổng thống Mỹ Barack Obama mong đạt được điều gì từ chuyến đi Bắc Kinh tham dự Hội nghị thượng đỉnh APEC? Ông Obama đánh giá như thế nào về khả năng đạt được các mục tiêu trong nghị trình thảo luận với Trung Quốc?

Hiện nay không thiếu các vấn đề mà Tổng thống Obama cần thảo luận với Chủ tịch Tập Cận Bình. Hai bên rõ ràng cùng chia sẻ mối quan ngại về một Bắc Triều Tiên bất ổn có sở hữu hạt nhân, một Iran tham vọng phát triển vũ khí hạt nhân, và một trật tự cũ đang rệu rã ở Trung Đông. Nhưng hai bên đạt được rất ít tiến bộ. Khi nói về “quan hệ cường quốc kiểu mới,” dường như ông Tập muốn hàm ý rằng Mỹ cần tìm đến sự trợ giúp của Trung Quốc, giống như điều mà Cố vấn an ninh quốc gia Rice đã làm gần đây, nhờ Trung Quốc giúp đỡ về vấn đề Trung Đông – hiện có tầm quan trọng như nhau đối với cả Bắc Kinh và Washington.

Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ diễn ra vào một thời điểm rất khó khăn cho quan hệ hai nước. Washington đã không phản ứng một cách thích đáng trước hành động gây hấn liên tục của Trung Quốc đối với Nhật Bản và các nước Đông Nam Á. Ngoài ra, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (People’s Liberation Army – PLA) cũng đang quấy rối hoạt động của quân đội Mỹ ở các vùng biển Châu Á.

Chính sách Châu Á của Mỹ đang không có sự tiến triển bởi cả Washington và Bắc Kinh đều đánh giá quá cao sự trỗi dậy của Trung Quốc và đánh giá thấp sự bền vững của sức mạnh Mỹ. Đây là một xu hướng nguy hiểm trong nhận thức về tình hình thực tế. Theo quan điểm của Washington, mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ không mang lại hiệu quả nếu cả hai bên đều cho rằng cán cân quyền lực hiện tại đang nghiêng về phía có lợi cho Trung Quốc.

Muốn đạt được một kết quả chính sách tốt hơn, người ta cần đánh giá lại cán cân quyền lực, vượt ra ngoài khuôn khổ các tính toán thông thường về sức mạnh và năng lực quân sự. Các xu hướng về cân bằng quân sự phải được xem xét trong khuôn khổ cách tiếp cận ưa thích của mỗi bên đối với khu vực cũng như những trở ngại chính trị nội bộ có ảnh hưởng đến chiến lược của từng bên. Vì vậy, các câu hỏi chính ở đây là: Mỗi bên đang cố gắng đạt được điều gì? Chiến lược của mỗi bên ra sao? Hai bên đang triển khai chiến lược của mình thuận lợi như thế nào và đâu là những trở ngại đối với kết quả đạt được của mỗi bên?

Những Tầm nhìn Chiến lược Đối nghịch nhau: Chiến lược của Mỹ

Kể từ khi Thế chiến thứ II kết thúc, Mỹ đã triển khai chiến lược giành lấy ngôi vị bá chủ. Các đời tổng thống của Mỹ tiếp nối nhau đã nhận ra rằng “ưu thế về sức mạnh” sẽ phục vụ tốt nhất cho các lợi ích của nước này ở Châu Á, bao gồm:

  1. Bảo vệ nước Mỹ từ xa. Trong giai đoạn sau chiến tranh Thái Bình Dương, Mỹ đã thiết lập cái từng được gọi là “vành đai bảo vệ”, nay được đến với cái tên Chuỗi đảo Thứ nhất. Thế trận phòng thủ từ xa này chạy dọc các chuỗi đảo và vùng lãnh thổ thuộc Hàn Quốc, tới Nhật Bản và Ryukus, xuống tới Eo biển Luzon và dọc theo đất nước Philippines;
  2. Duy trì cán cân quyền lực có lợi cho Mỹ ở lục địa Á-Âu, để không cường quốc nào có thể thống trị lục địa này;
  3.  Đảm bảo quyền tiếp cập quân sự và thương mại đối với các vùng biển và lục địa ở Châu Á;
  4. Duy trì và tiếp tục cải thiện trật tự thế giới tự do phù hợp với “phong cách Mỹ,” như mục tiêu của những nhà hoạch định chiến lược Chiến tranh Lạnh của Mỹ đã đặt ra;
  5. Ủng hộ một mạng lưới các quốc gia đồng minh, những nhân tố quan trọng góp phần củng cố trật tự trên.

Đại chiến lược của Mỹ với mục tiêu nắm giữ ngôi vị bá chủ đã thành công. Nó đã giúp ngăn chặn cạnh tranh an ninh giữa các đối thủ lâu đời ở Châu Á và tạo ra môi trường thuận lợi để cho tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi hòa bình sang các nền dân chủ ở khắp khu vực. Các quốc gia có khả năng phát triển vũ khí hạt nhân được thuyết phục không làm như vậy. Sự thịnh vượng và tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Châu Á không phải là điều ngẫu nhiên. Đúng hơn, đây là kết quả từ những quyết định khôn ngoan của giới lãnh đạo Châu Á, sự chăm chỉ của người dân khu vực để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn, cùng sự lãnh đạo của Mỹ. Không có gì ngạc nhiên khi các đời tổng thống Mỹ kế tiếp nhau luôn quyết tâm giữ vững ngôi vị bá chủ này.

Vị thế Đứng đầu về Quân sự

Vị thế lãnh đạo của Mỹ ở Châu Á đòi hỏi việc bố trí từ xa các chiến đấu cơ, số lượng lớn tàu ngầm hạt nhân tấn công và tàu ngầm hạt nhân trang bị tên lửa đạn đạo, cùng cụm tàu sân bay tác chiến để có thể dễ dàng triển khai sức mạnh ở Châu Á. Những khí tài này tạo ra sức mạnh răn đe liên tục để ngăn ngừa xung đột. Các tàu ngầm “boomer” của Mỹ, được trang bị tên lửa đạn đạo liên lục địa, ẩn mình dưới biển luôn sẵn sàng hành động khi Mỹ đối mặt với một mối đe dọa thực sự. Cụm tàu sân bay tác chiến là biểu tượng rõ ràng nhất về sức mạnh của Mỹ để ngăn chặn những kẻ gây hấn. Tùy thuộc vào tình hình an ninh thế giới, Hải quân Mỹ có thể triển khai năm cụm tàu sân bay tác chiến ở Nhật Bản và dọc bờ biển Thái Bình Dương.

Các lực lượng không – biển này cho phép Mỹ kiểm soát các vùng chung của thế giới khi cần thiết. [1] Khả năng kiểm soát bầu trời, đại dương và không gian cho phép quân đội nước này có thể huy động một lực lượng áp đảo ở bất kỳ nơi đâu, và bất kỳ khi nào cần thiết. Để tiếp tục giữ vững ngôi vị lãnh đạo ở Châu Á, Mỹ phải duy trì khả năng kiểm soát các vùng chung ở Châu Á. Điều này đòi hỏi phải duy trì hệ thống đồng minh, củng cố các quan hệ đối tác mới cũng như hiện đại hóa “cơ sở hạ tầng” phục vụ cho việc kiểm soát – như các tàu chở dầu, hoạt động không vận và tàu trọng tải lớn, cần thiết để triển khai nhanh chóng lực lượng của Mỹ.

Chiến lược của Trung Quốc

Khi sự thịnh vượng và sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, tầm ảnh hưởng cũng như tham vọng của nước này ở Châu Á – Thái Bình Dương sẽ lớn hơn. Nỗ lực giành vị thế bá chủ khu vực của Đảng Cộng Sản Trung Quốc (The Chinese Communist Party – CCP) được thúc đẩy bởi mục tiêu tối quan trọng của CCP là duy trì vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều đó không có nghĩa là Trung Quốc chỉ tập trung vào vấn đề trong nước, như nhiều người lầm tưởng. Tuy Bắc Kinh đang phải đối mặt với những thách thức “nội bộ” như một tầng lớp dân cư ngày càng giàu có và năng động, các thể chế bất kham ở Tân Cương, Tây Tạng, Hồng Kông, nhưng để duy trì quyền lực thì đòi hỏi nhiều hơn thế:

  1. Đảm bảo rằng thế giới vẫn là nơi “an toàn” cho các chế độ chuyên quyền. Ít nhất Trung Quốc phải chặn đứng những nỗ lực của Mỹ nhằm thúc đẩy quá trình tự do hóa ở nước này, đồng thời ngăn chặn việc hình thành các nhóm dân chủ ở Châu Á;
  2. Theo đuổi mục tiêu hồi sinh đất nước. CCP cho rằng đây là nhiệm vụ tiên phong trong kế hoạch khôi phục vị thế thống trị của Trung Quốc trong một trật tự chính trị có thứ bậc ở Châu Á, và đảo ngược lại “thế kỷ ô nhục” mà nước này từng chịu đựng. CCP khai thác nỗi đau trong quá khứ này để chứng minh cho người dân Trung Quốc về nhu cầu cần tiếp tục sự lãnh đạo độc tôn của đảng;
  3. Tiếp tục duy trì sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc, nay có nghĩa là bảo vệ các lợi ích kinh tế quốc tế ngày một lớn của Trung Quốc. Các vùng ven biển của Trung Quốc đang chiếm một tỷ trọng lớn trong lĩnh vực sản xuất và tài chính của đất nước. Do Liên Xô sụp đổ và mối đe dọa lớn nhất đối với biên giới trên bộ đã không còn, PLA có thể tự do trong việc mở rộng vành đai biển phía đông nam. Trung Quốc muốn hình thành chiều sâu chiến lược trên biển và một con đường tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương để bảo vệ các lợi ích kinh tế vươn xa của mình.

Chiến lược Quân sự của Bá quyền Đang lên: Chiến lược Cưỡng ép và Chống Can Thiệp

Chiến lược quân sự của CCP để giành vị trí bá chủ khu vực là sức mạnh cưỡng ép và năng lực chống can thiệp (hay còn gọi là năng lực A2/AD) trên các vùng biển Đông Á.

Các chiến dịch quân sự của Mỹ những năm 1990 và đầu những năm 2000 đã góp phần rất lớn vào việc định hình chiến lược an ninh khu vực của PLA. Trong hai cuộc chiến ở vùng Vịnh, quân đội Mỹ đã thể hiện khả năng tấn công chính xác khó ai bì kịp. Mỹ có thể triển khai một lực lượng lớn đến khu vực chiến sự theo đúng thời gian biểu họ đặt ra bởi quân đội Mỹ kiểm soát các vùng chung và được phép tiếp cận các quốc gia láng giềng của Iraq thông qua chính sách ngoại giao hiệu quả.

Trong Cuộc Khủng hoảng Eo biển Đài Loan năm 1996, CCP đã rất e ngại vì không thể ngăn cản sự hiện diện ngoài khơi của quân đội Mỹ. Việc Tổng thống Clinton triển khai hai cụm tàu sân bay tới khu vực ngoài khơi Đài Loan gợi lại ám ảnh về chính sách ngoại giao pháo hạm mà các cường quốc phương Tây ở thế kỷ 19 từng áp dụng để gây sức ép đối với Trung Quốc.

Sau đó vào năm 1999, các quan chức của quân đội Trung Quốc đã theo dõi sát sao việc Mỹ triển khai một chiến dịch không kích kéo dài 78 ngày chống chính quyền Slobodan Milosevic từ các tàu sân bay và các căn cứ trên đất liền.

CCP nhận thấy rằng, ngay cả khi Trung Quốc thực hiện kế hoạch dài hạn nhằm hiện đại hóa lực lượng hải quân, nước này cũng cần phát triển năng lực chống can thiệp để ngăn Mỹ có thể lặp lại các hành động tương tự trong cuộc chiến vùng Vịnh và vùng Balkan ở vùng biển ngoài khơi Trung Quốc.

PLA đã tạo ra khu vực có tranh chấp ở “những vùng biển gần của họ”, qua đó ngăn chặn Mỹ tiếp cận các vùng biển chung gần nhất với Trung Quốc. PLA hiện nay đã có thể đe dọa các tuyến cung ứng hậu cần của Mỹ cũng như việc sử dụng các căn cứ ở Nhật Bản. PLA đồng thời có thể cạnh tranh với Mỹ trong các lĩnh vực không gian và không gian mạng. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường xây dựng lực lượng tên lửa dẫn đường chính xác, công nghệ chiến tranh dưới biển, năng lực phòng không tích hợp, năng lực chống thâm nhập không gian và không gian mạng, cùng lực lượng máy bay ném bom và chiến đấu cơ để đối chọi với lực lượng Mỹ và các nước đồng minh.

Đúc kết kinh nghiệm từ các cuộc chiến của Mỹ trong hai thập kỷ trước, chiến lược quân sự của PLA nhằm tạo ra một cái giá rất lớn cho lực lượng quân đội Mỹ nếu họ cố gắng triển khai sức mạnh trong chuỗi đảo thứ nhất hoặc ở Trung Quốc lục địa. Ví dụ, trong trường hợp nổ ra xung đột, các cụm tàu sân bay tác chiến, biểu tượng của sức mạnh Mỹ, có thể phải đối mặt với hàng loạt tên lửa hành trình siêu thanh, tên lửa đạn đạo chống tàu (được báo chí gọi là “sát thủ của hàng không mẫu hạm”), và hạm đội tàu ngầm điện diesel của Trung Quốc. Các máy bay ngày càng hiện đại của không quân PLA cho phép Trung Quốc mở rộng phạm vi không kích các căn cứ và nhóm tàu sân bay của Mỹ. Chiến lược này làm suy yếu các nền tảng của vị thế lãnh đạo mà Mỹ đang nắm giữ.

Các lực lượng “chống can thiệp” này của Trung Quốc cũng được triển khai trong chiến lược cưỡng ép ở khu vực. Nếu có hành động quân sự thì mục tiêu chính của CCP vẫn là Đài Loan. Khả năng tấn công chính xác từ hệ thống tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình phóng từ đất liền, trên không và trên biển kết hợp với một hệ thống C4ISR ngày càng tối tân, có thể gây tổn thất rất lớn cho Đài Loan tương tự như điều mà NATO từng gây ra cho lực lượng Serbia ở Kosovo. Trung Quốc, nước từng điêu đứng vì chính sách ngoại giao pháo hạm của các cường quốc phương Tây, thì nay lại đang sử dụng chiến lược này để chống lại các nước láng giềng.

Đánh giá Tương quan Lực lượng: Quyền Kiểm soát các Vùng Chung và Một Bá quyền Đang lên

Chiến lược quân sự hỗ trợ cho kế hoạch trở thành bá quyền khu vực của Trung Quốc đang được triển khai hiệu quả. PLA có thể thách thức quyền kiểm soát các vùng chung của Mỹ, và thực hiện một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào căn cứ và hạm đội tàu chiến của Mỹ trong khu vực bằng tên lửa và máy bay không kích. Sau một cuộc tấn công phủ đầu, Trung Quốc vẫn có thể củng cố vành đai phòng thủ ở chuỗi đảo thứ nhất, chống lại các đợt phản công của Mỹ. Bên trong vành đai đó, Trung Quốc có thể triển khai sức mạnh cưỡng ép đối với các nước láng giềng để đạt được các mục tiêu quân sự mong muốn, ví dụ như thống nhất Đài Loan hay chiếm giữ các thực thể trên biển đang có tranh chấp. Xét trên bình diện toàn cầu, quân đội Mỹ rõ ràng có sức mạnh lớn hơn. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự tổng thể nằm ngoài khuôn khổ các mục tiêu chính trị cụ thể thì sẽ không giải quyết được vấn đề gì. Do Mỹ có lợi ích toàn cầu nên chiến lược quân sự của nước này ở Châu Á phụ thuộc vào quyền kiểm soát các vùng chung để triển khai lực lượng tới khu vực chiến sự bằng các tuyến đường dài trên không và trên biển. Trung Quốc nay đã gia tăng chi phí đối với chiến lược này của Mỹ.

Vị thế Bá chủ bị Thách thức: Phản ứng của Mỹ

Thách thức của Trung Quốc đối với vị thế độc tôn của Mỹ ở Châu Á đã khiến nước này di chuyển thêm lực lượng tới Thái Bình Dương và củng cố các quan hệ đồng minh những năm đầu của thập kỷ qua. Năm 2011, Mỹ công bố tiếp tục thực thiện kế hoạch lâu dài này để củng cố vị thế quân sự ở Thái Bình Dương. Với những tuyên bố khá ồn ào, chính quyền Obama đã đặt tên cho chiến lược này “xoay trục” về Châu Á hay còn gọi là chiến lược tái cân bằng.

Xây dựng dựa trên nền tảng quan hệ đồng minh được nâng cấp với Nhật Bản từ thời Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush, quan hệ an ninh ba bên Nhật Bản – Úc – Mỹ, quan hệ an ninh gần gũi hơn với Đài Loan, cùng việc tái phân bổ lực lượng Mỹ ở Hàn Quốc, chính quyền Obama đã đưa ra thêm nhiều sáng kiến hợp tác quân sự tăng cường. Mỹ lên kế hoạch triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ tới Úc và khuyến khích nước này tham gia vào hệ thống lá chắn phòng thủ tên lửa đạn đạo ở Châu Á mà Mỹ đang triển khai cùng với Nhật Bản.

Mỹ sẽ triển khai bốn tàu chiến đấu ven biển tại Singapore trên cơ sở luân phiên. Ngoài ra, Mỹ và Philippines có thể mở rộng sự hiện diện của quân đội Mỹ ở nước này. Các mảnh ghép quan trọng đã được sắp xếp để tạo nên một mạng lưới đồng minh và đối tác chặt chẽ hơn trong khu vực, vốn là chìa khóa để tiếp tục duy trì vị thế lãnh đạo của Mỹ.

Không – Hải Chiến: Khái niệm Tác chiến để Bảo vệ Ngôi Vị Bá chủ?

Quân đội Mỹ bắt đầu tìm cách đối phó với chiến lược cưỡng ép và chống can thiệp của Trung Quốc. Bản Đánh giá Quốc phòng 4 năm 1 lần (Quadrennial Defense Review – QDR) vào tháng 2 năm 2010 đã đưa mục tiêu phá vỡ chiến lược chống tiếp cận của Trung Quốc trở thành một phần thiết yếu của chiến lược của Mỹ. Tháng 8 năm 2011, Tư lệnh Tác chiến của Hải quân Mỹ Đô đốc Jonathan Greenhert và Tham mưu Trưởng Không quân Tướng Norton đã thành lập văn phòng phụ trách về Không-Hải Chiến (Air-Sea Battle – ASB) tại Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ phát triển khái niệm ASB, vốn cần sự hợp tác chặt chẽ giữa lực lượng Không quân và Hải quân để “vượt qua các thách thức đang nổi lên đe dọa khả năng tiếp cận như tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, tàu ngầm, chiến đấu cơ tiên tiến, công nghệ chiến tranh điện tử và thủy lôi.”

Ý tưởng căn bản đằng sau khái niệm ASB là tăng cường phối hợp hơn nữa giữa hải quân và không quân, cho phép quân đội Mỹ hoạt động trong các vùng biển tranh chấp của Trung Quốc, và giành lại quyền kiểm soát các vùng chung. Hạm đội trên mặt nước sẽ được trang bị các thiết bị đối phó tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. Máy bay ném bom tàng hình của Mỹ có thể tiến hành các cuộc tấn công dẫn hướng chính xác nhằm vào các nút chỉ huy và kiểm soát và các căn cứ không quân. ASB cũng đòi hỏi phải phát triển năng lực ném bom tầm xa, củng cố vững chắc các căn cứ tiền tiêu trước các đợt tấn công của tên lửa, và tiếp tục đầu tư phát triển các loại tàu ngầm hạt nhân tấn công tiên tiến.

ASB là một công cụ thực hiện đại chiến lược bảo vệ ngôi vị bá chủ của Mỹ. Nếu được thực hiện, quân đội Mỹ có thể hoạt động trong các vùng biển tranh chấp, duy trì sức mạnh áp đảo trước các lực lượng Trung Quốc. Duy trì sự hiện diện quân sự trong thời bình cũng rất quan trọng bởi nó đóng vai trò như một sự răn đe mạnh mẽ. Càng nhiều trang thiết bị, phi công, binh lính, thủy thủ và lính thủy đánh bộ Mỹ được triển khai tới Châu Á, thì càng rủi ro hơn cho Trung Quốc nếu nước này quyết định tấn công các đồng minh và bạn bè của Mỹ.

Trong những tranh luận hiện nay về cách thức duy trì vị thế thống trị của Mỹ, người ta vẫn chưa đề cập về tương lai của lực lượng hạt nhân Mỹ. Một thực tế không mấy dễ chịu là sức mạnh răn đe, sự trấn an và các cuộc chiến đều cần một chiến lược hạt nhân đi kèm các lực lượng truyền thống. Trung Quốc cần phải được nhắc nhở rằng Mỹ đã cam kết bảo vệ hạt nhân các nước đồng minh; rằng các cuộc tấn công vào tàu sân bay sẽ giết hại hàng ngàn người Mỹ; và những gì Trung Quốc gọi là chuỗi đảo thứ hai – vành đai phòng ngự bên ngoài của Trung Quốc – bao gồm cả lãnh thổ của nước Mỹ.

Mỹ phải nhớ rằng chiến lược quân sự của nước này bao gồm cả việc tấn công các lực lượng trên bộ và Trung Quốc cũng là một cường quốc hạt nhân được trang bị các bệ phóng tên lửa di động và tàu ngầm hạt nhân với tên lửa đạn đạo có khả năng phản công hạt nhân. Do vậy, chiến lược giữ vững ngôi vị bá chủ của Mỹ đòi hỏi một vị thế vượt trội về hạt nhân – nâng cấp lực lượng hạt nhân của Mỹ phải phối hợp chặt chẽ với các nước đồng minh trong các vấn đề về hạt nhân. Bên cạnh những động thái như vậy, quan hệ quân sự Trung-Mỹ nên vượt ra ngoài khuôn khổ các tiểu tiết của việc “xây dựng lòng tin”, và đi sâu vào thảo luận các vấn đề kiểm soát leo thang và ổn định khủng hoảng.

Ngân sách để Giữ gìn Ngôi vị Bá chủ: Trở ngại đối với Chiến lược của Mỹ

Chính sách “tái cân bằng” Châu Á đòi hỏi nước Mỹ phải huy động một nguồn lực rất lớn. Tuy nhiên, quân đội Mỹ đang phải đối mặt với việc cắt giảm mạnh ngân sách. Điều này tạo nên một khoảng cách khó vượt qua giữa năng lực của quân đội Mỹ và các mục tiêu đề ra.

Cắt giảm ngân sách đến mức thu nhỏ lực lượng sẽ gây khó khăn cho hoạt động của Hải quân Mỹ, lâu nay luôn đóng vai trò chính trong việc triển khai sức mạnh để duy trì vị thế thống trị của Mỹ. Theo đánh giá của Ủy ban Quốc phòng trong QDR 2014, với mức cắt giảm ngân sách quốc phòng hiện nay, hải quân dự tính chỉ “có thể duy trì hoạt động của 260 tàu hoặc ít hơn”. Nếu so sánh lại, các đánh giá khác nhau trong nội bộ hải quân cho rằng một hạm đội hoạt động hiệu quả cần phải duy trì số lượng khoảng 323 – 346 tàu.

Đô đốc Greenert hiện đang cố gắng tái cơ cấu lực lượng hải quân Mỹ để phục vụ cho chiến lược “xoay trục”, nhưng việc cắt giảm ngân sách đã gây khó khăn cho nỗ lực của ông. Dù có kế hoạch tăng cường Hạm đội Thái Bình Dương từ 50 tàu lên 65 tàu vào năm 2019 nhưng Hải quân thừa nhận rằng kế hoạch này không khả thi trong bối cảnh cắt giảm ngân sách. Lực lượng hải quân chỉ còn duy nhất một lựa chọn khó khăn:hoặc là cắt giảm ngân sách của các lực lượng ở Châu Á, hoặc rút bớt số tàu từ các hạm đội khác để bổ sung cho lực lượng ở Thái Bình Dương. Đứng trước thực tế nước Nga đang sẵn sàng hành động, nguy cơ tổ chức ISIS nắm quyền kiểm soát Iraq, và việc Trung Quốc hành động quyết đoán ở các vùng biển Đông Á, thì không lựa chọn nào trên đây là phù hợp.

Trở ngại đối với Chiến lược Bá chủ Khu vực

CCP phải đối mặt với ba trở ngại chính trong tầm nhìn chiến lược của mình. Đầu tiên, Trung Quốc phải đối diện với sự bất ổn cố hữu của hệ thống kinh tế-chính trị. Chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào đầu tư và xuất khẩu sẽ không còn phát huy hiệu quả nữa. Nhưng CCP lại chưa thực hiện được các cải cách toàn diện, có thể giúp chuyển đổi nền kinh tế nước này sang một nền kinh tế  thúc đẩy bởi tiêu dùng. Thứ hai, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc nhiều vào các lợi ích kinh tế ở nước ngoài, và nước này đang muốn đảm bảo an ninh của các tuyến đường cung ứng trên biển. Nếu Mỹ chặn đứng thành công chiến lược cưỡng ép của Trung Quốc trong khu vực và nền kinh tế của nước này tiếp tục chậm lại, CCP sẽ hết sức khó khăn trong việc lựa chọn triển khai hình thức quân sự nào cho phù hợp. Thứ ba, CCP phải đối phó một loạt thách thức trong nước về tính chính danh của đảng, bao gồm sự bất ổn trong thể chế.

Tương lai Tăng trưởng của Trung Quốc và Các Lợi ích Biển của Nước này

Tốc độ tăng trưởng khoảng 7 đến 8% hàng năm hiện nay của Trung Quốc là không thể duy trì mãi được. Nền kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất khẩu và đầu tư trên quy mô lớn. Nhu cầu thế giới hiện nay lại đang chững lại, Trung Quốc đang mắc nợ khá nhiều và cạn dần vốn đầu tư. Bắc Kinh cần một mô hình tăng trưởng mới dựa vào tiêu dùng nhưng chưa thực hiện các cải cách tự do cần thiết để tái cơ cấu nền kinh tế. Nếu không tiến hành những cải cách cấp thiết này, Trung Quốc có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Báo cáo gần đây của IMF cho rằng Trung Quốc đã vượt qua Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới xét trên sức mua tương đương. Nhưng để đánh giá cán cân quyền lực thì những con số này là vô ích. GDP là một bức tranh tổng thể của hoạt động sản xuất hàng năm, gồm cả những hoạt động gây lãng phí.

Một biện pháp tốt hơn để đánh giá quy mô nền kinh tế là so sánh tài sản. Ngân hàng Credit Suisse vừa công bố bảng so sánh mới nhất về tài sản cá nhân: Tài sản cá nhân của người Mỹ trị giá 83 nghìn tỷ USD trong khi con số này của Trung Quốc là 21 nghìn tỷ USD. Ngay cả khi tính đến đến nợ công, giá trị tài sản cá nhân của Mỹ vẫn lớn hơn Trung Quốc khoảng 40 nghìn tỷ. Rõ ràng giá trị tài sản này có thể chuyển hóa thành sức mạnh quốc gia.

Nếu tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại, đồng thời lại đứng sau Mỹ xét về của cải quốc gia, khi đó Trung Quốc sẽ phải đối mặt với thế tiến thoái lưỡng nan thực sự trong việc bảo vệ các lợi ích kinh tế xa xôi của mình. Năm 2004, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đưa ra khái niệm “Các Nhiệm vụ Lịch sử Mới” cho PLA. Kể từ khi công bố chính sách này, nhiệm vụ quan trọng của Trung Quốc là bảo vệ các tuyến giao thương trên biển. Trung Quốc hiện là một quốc gia thương mại biển, các hoạt động xuất nhập khẩu – bao gồm nhập khẩu năng lượng ngày càng tăng – phải đi qua các nút thắt quan trọng mà Trung Quốc không kiểm soát, bao gồm Eo biển Malacca. Trung Quốc đang phát triển đội tàu ngầm hạt nhân và triển khai chúng tới Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, để có thể triển khai sức mạnh tới những khu vực biển xa hơn, Trung Quốc sẽ phải đầu tư nhiều vào đội tàu mặt nước quy mô lớn, hệ thống C4ISR toàn cầu, các trung tâm hậu cần và trạm tiếp liệu dọc theo Ấn Độ Dương. Điều này có thể là quá tốn kém và rủi ro, bởi Trung Quốc tự biến mình thành mục tiêu của các mối đe dọa như chủ nghĩa khủng bố, nạn cướp biển và các quốc gia thù địch. Đồng thời kế hoạch này cũng rất khó để thực hiện về mặt ngoại giao, đặc biệt nếu như Ấn Độ phản đối. CCP đang gặp phải vấn đề thực sự đối với một trụ cột trong chiến lược của mình – tiếp tục tăng trưởng kinh tế và bảo vệ các lợi ích kinh tế.

Những Bất ổn trong Nội bộ Trung Quốc

CCP tiếp tục tập trung rất nhiều nguồn lực để duy trì ổn định nội bộ. Chính sách mạnh tay của Trung Quốc ở Tân Cương đã làm bùng phát hơn nữa làn sóng bạo lực chống lại Trung Quốc. Các cuộc tấn công gần đây bao gồm một vụ đánh bom vào siêu thị và một số vụ tấn công bằng dao. Giờ đây, Trung Quốc có nguy cơ phải đối mặt với tình trạng bạo lực leo thang đến từ các phần tử thánh chiến trở về từ trại huấn luyện của ISIS.

Về vấn đề Tây Tạng, Trung Quốc vẫn rất nhạy cảm khi các quốc gia khác tiếp xúc với vị Đạt Lai Lạt Ma sống lưu vong, trong khi người Tây Tạng đang chống lại các chính sách chuyên chế của Trung Quốc. Một Đài Loan độc lập trên thực tế tiếp tục đi ngược lại nguyên tắc “Một Trung Quốc” của Bắc Kinh. Việc Trung Quốc không giữ lời hứa trong thỏa thuận cho phép bầu cử tự do tại Hồng Kông vào năm 2017 đã châm ngòi các cuộc biểu tình quy mô lớn. Sự kiểm soát chuyên chế của CCP ngày càng gặp nhiều thách thức hơn. Bên cạnh đó, những chỉ trích của tầng lớp trung lưu về nạn tham nhũng ngày càng tăng và của cải tiếp tục chảy ra khỏi Trung Quốc.

Cán cân quyền lực sẽ nghiêng về bên nào?

Trung Quốc đã đạt những bước tiến lớn trong chiến lược cưỡng ép và chiến lược chống can thiệp ở khu vực. Nước này đang buộc Mỹ phải hành động để bảo vệ ngôi vị bá chủ của mình. Tuy nhiên, Mỹ đã không thể hiện đầy đủ ý chí chính trị để tài trợ cho phản ứng đáp trả của mình.

Tuy nhiên, những thành công của Trung Quốc và phản ứng có phần chậm chạp của Mỹ không hẳn đã là toàn bộ câu chuyện. Đại chiến lược của CCP bao gồm việc phải tiếp tục tăng trưởng kinh tế, vốn ngày càng phụ thuộc vào thương mại trên biển. Để trở thành một cường quốc biển thực sự tốn rất nhiều nguồn lực, trong khi Trung Quốc đang phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh ngay sát cạnh đất nước. Cuối cùng, điểm yếu chủ chốt của Trung Quốc là tính chính danh khá mong manh của đảng lãnh đạo. CCP đang cai trị một chế độ ngày càng khó trị với tầng lớp nhân dân ngày một khát khao về một xã hội tự do và công bằng hơn. CCP đang phải tốn rất nhiều nguồn lực để duy trì quyềnkiểm soát  chuyên chính và giữ vững an ninh nội địa của mình.

Mỹ có nhiều lợi thế về mặt cấu trúc hơn Trung Quốc khi sở hữu nhiều của cải và một hệ thống các đối tác và đồng minh. Nhưng liệu tổng thống Obama có thể dẫn dắt một liên minh hai đảng ở trong nước để sẵn sàng chuyển hóa các lợi thế quốc gia thành một chiến lược được tài trợ mạnh mẽ nhằm duy trì vị thế bá chủ của Mỹ? Trung Quốc chắn chắn sẽ gặp khó khăn khi cạnh tranh với một nước Mỹ nhìn nhận nghiêm túc về vị thế bá chủ ở Châu Á. Quả thực, nếu có thể gây dựng nên một cán cân quyền lực có lợi cho mình, Washington sẽ bắt đầu nhìn thấy một số dấu hiệu mong muốn hợp tác từ Bắc Kinh./.

[1] Bài viết trên tham khảo từ “Command of the Commons: The Military Foundation of U.S. Primacy” (International Security, Mùa hè 2003) của Barry Posen và “The U.S. Response to China’s Military Modernization,” của Dan Blumenthal, được đăng trên Strategic Asia 2012-2013. Bài viết đăng lần đầu tiên trên “National Interest” (ngày 10/11).

Dan Blumenthal là Giám đốc Phụ trách Nghiên cứu Châu Á and thành viên của Viện Doanh Nghiệp Mỹ

Eddie Linczer là Trợ lý Nghiên cứu về Châu Á thuộc Viện Doanh Nghiệp Mỹ

Người dịch: Mỹ Anh

Hiệu đính: Kim Minh

 

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 24/11-30/11 – NCBĐ

30 Th11

 

Thứ hai, 24 Tháng 11 2014 09:11 dinh tuan anh

inShare0

-(Petrotimes 27/11) Indonesia dọa tấn công bằng tên lửa trên Biển Đông: Căng thẳng ở khu vực Biển Đông đã nâng lên một nấc mới sau khi Bộ trưởng Pháp lý và An ninh Indonesia cho biết, Jakarta đang xem xét khả năng triển khai tên lửa trên tàu nhằm chống lại các tàu đánh cá nước ngoài xâm phạm vào lãnh hải nước này; (DT 28/1) Mỹ-Nhật-Australia lập liên minh ‘tam giác sắt’ kiềm chế Trung Quốc thế nào?

-(Toquoc 27/11) Trung Quốc xây đảo nhân tạo để khống chế Biển Đông: Kế hoạch của Trung Quốc phục vụ đòi hỏi chủ quyền và mang ý đồ chiến lược quân sự lâu dài; (GD 27/11) The Diplomat: Mỹ và Nhật hỗ trợ Việt Nam mạnh nhất ở Biển Đông

-(DT 27/11) Anh sẽ “mời” máy bay Mỹ sử dụng tàu sân bay mới: Các nguồn tin nội bộ trong Bộ quốc phòng Anh cho hay lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ có thể được đề nghị sử dụng hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth cho các hoạt động bay; (GD 27/11) 7 chiến lược Việt Nam chống bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông

-(TN 26/11) Khí tài siêu ‘khủng’ mới nhất của hải quân Mỹ: Tàu đổ bộ hiện đại nhất lớp America và tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Virginia Block III là 2 trong số những khí tài mới được trang bị cho hải quân Mỹ; (BĐV 26/11) Trung Quốc hung hăng chê Mỹ vô trách nhiệm ở Biển Đông

-(PetroTimes 26/11) Mỹ cần làm gì để đối phó với Trung Quốc?:Mỹ không thể đứng ngoài cuộc mà cần có những hành động trên thực tế để đối phó với Trung Quốc, bảo vệ các lợi ích chiến lược của mình ở khu vực nói; Trung Quốc phải ngưng ngay việc xây đảo nhân tạo

-(DT 26/11) Giải mã chiến thuật đối ngoại mới của Trung Quốc: Nếu nhìn sâu hơn vào lịch sử đối ngoại của Trung Quốc, có thể nhận thấy Bắc Kinh luôn tiến hành xen kẽ các giai đoạn “cương, nhu” trong quan hệ với các nước và vùng lãnh thổ; (BĐV 26/11) Mỹ có vì đồng minh mà gây chiến với Trung Quốc?

 

-(VOV 25/11) Tòa Philippines phạt ngư dân Trung Quốc về tội bắt rùa biển trái phép: Với tội danh đánh bắt trái phép rùa biển, 9 ngư dân Trung Quốc có thể bị án đến 20 năm tù và có thể bị xử phạt đến 200.000 USD; (TN 25/11) Trung Quốc tuyên bố bản án của Philippines vi phạm chủ quyền

-(DT 25/11) Tàu Trung Quốc lại vào vùng biển tranh chấp với Nhật: Ba tàu tuần tra bờ biển của Trung Quốc đã tiến vào vùng biển 12 hải lý quanh quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang kiểm soát vào khoảng 10 giờ sáng giờ địa phương, và đã rời đi sau 2 giờ; (Vnplus 25/11) Nhật Bản phản đối việc ba tàu Trung Quốc xâm nhập lãnh hải

-(TN 25/11) ‘Trung Quốc đang lập mưu đánh lạc hướng các nước’: Theo Giáo sư Carl Thayer, Trung Quốc đang chìa một “cánh tay hòa bình” nhằm kéo sự chú ý của các nước trong khu vực khỏi hoạt động mà cánh tay còn lại đang làm – đó là tiếp tục tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông; (GD 25/11) “Sân bay phi pháp ở Chữ Thập sẽ đe dọa trực tiếp vịnh Cam Ranh”

-(GD 25/11) Hai tàu hải quân “mạnh nhất Việt Nam” thăm Philippines: Hai tàu hải quân mang tên lửa dẫn đường của Việt Nam neo đậu tại vịnh Manila trong chuyến thăm kéo dài 3 ngày; Báo Nga: Trung Quốc thách thức Mỹ khi cải tạo trái phép đá Chữ Thập

-(VOV 25/11) Trung Quốc bất chấp phản ứng quốc tế, cố tình san lấp đảo ở Biển Đông: Ngày hôm 24/11, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “các hoạt động liên quan đến xây dựng do Trung Quốc thực hiện trên các đảo chủ yếu là để cải thiện điều kiện sống của người dân tại đó”; (VNN 25/11) TQ đang hưởng lợi từ Mỹ?

-(DT 25/11) Nhật Bản lần đầu tập trận chung với Mỹ và Úc: Cuộc tập trận có sự tham gia của 30.000 binh sỹ, cùng nhiều tàu chiến, tàu đệm không khí, máy bay trực thăng và chiến đấu cơ… của các bên. Mục đích tập trận nhằm nâng cao khả năng giành lại đảo bị đối phương chiếm giữ; (GD 25/11) Báo TQ: Nhật-Mỹ-Australia hợp tác, Australia phụ trách Biển Đông

-(ANTĐ 24/11) Nhật Bản mua hàng loạt xe lội nước tăng cường khả năng phòng thủ đảo: Ngày 23-11, truyền thông nước ngoài đưa tin, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản đang lên kế hoạch mua sắm hàng loạt xe lội nước trong tương lai. Cụ thể, năm 2015 mua 30 chiếc và 2016 là 22 chiếc; (Plo 24/11) Trung Quốc xây đảo nhằm kiểm soát giao thương biển Đông

-(KP 23/11) Đại tá TQ lý giải việc xây đảo phi pháp ở Trường Sa: Phát biểu tại Diễn đàn an ninh Xiangshan, đại tá Jin Zhirui, sĩ quan cấp cao không quân Trung Quốc tuyên bố: “Chúng ta cần một căn cứ ở đây để hỗ trợ hệ thống radar và các hoạt động thu thập tình báo”; (VNN 24/11) Vai trò của ASEAN trong vấn đề Biển Đông:Công cụ hữu hiệu chống bành trướng

-(ANTĐ 23/11) Nga-Trung tuyên bố tập trận đáp trả diễn tập Mỹ-Nhật vừa kết thúc: Ngày 19-11, Trung Quốc và Nga tuyên bố, đầu năm 2015 hai nước này sẽ tổ chức tập trận quân sự chung ở Thái Bình Dương và Địa Trung Hải. Thông báo này đưa ra ngay khi liên Minh Mỹ-Nhật vừa kết thúc cuộc tập trận quy mô cực lớn trên biển mang tên “Keen Sword”; (TN 23/11) Săn ngầm trên biển Đông

-(VnMedia 23/11) Trung Quốc gây căng thẳng vì hành vi hung hăng: Một ủy ban của Mỹ mới đây đã kết luận, môi trường đầu tư nước ngoài ngày một xấu đi ở Trung Quốc, những hoạt động thương mại “bất công bằng” và chi tiêu quân sự tăng vọt của cường quốc số 1 Châu Á đã khiến mối quan hệ Mỹ-Trung căng thẳng hơn trong năm 2014; (GD 23/11) Cựu quan chức Mỹ: Mục tiêu của Mỹ là không để Biển Đông có xung đột

-(Vnexpress 23/11) Trung Quốc thử nghiệm ngoại giao hòa hoãn: Trung Quốc đang thử nghiệm việc sử dụng viện trợ và phát triển như công cụ để đạt được quyền lực mềm; (DT 23/11) Nhật Bản bắt thuyền trưởng Trung Quốc khai thác san hô trái phép

 

Tin cũ hơn:

 

‘Đấu dịu’ với Mỹ, TQ muốn ‘đe’ các nước?

30 Th11

 

TQ muốn đưa ra thông điệp rằng, TQ và Mỹ đã có thỏa thuận thì các nước trong khu vực có thể phải ngả theo họ.

>>TQ với tham vọng thế chỗ Mỹ

>> TQ vẫn chưa phải đối thủ của Mỹ

>> TQ đang hưởng lợi từ Mỹ?

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu những phân tích của ông Hoàng Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược ngoại giao, về mối quan hệ Trung – Mỹ, quan sát từ Hội nghị APEC và những diễn biến nội bộ gần đây của nước Mỹ.

Toan tính chiến lược

Cuộc gặp thượng đỉnh Trung – Mỹ trong khuôn khổ hội nghị APEC được hai bên chuẩn bị kỹ càng cả năm nay. TQ là nước chủ nhà APEC, hội nghị lần này diễn ra trong bối cảnh TQ đứng trước cơ hội trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, lãnh đạo TQ có quyền lực mạnh mẽ chưa từng thấy; TQ muốn thể hiện vai trò của mình và thể hiện dấu ấn cá nhân của ông Tập Cận Bình.

Với mối quan hệ Trung – Mỹ, đây là cuộc gặp đầu tiên của ông Tập Cận Bình với Tổng thống Mỹ Obama tại đất TQ kể từ khi ông Tập lên nắm quyền. Cả TQ và Mỹ đều mong muốn xây dựng mối quan hệ kiểu mới giữa hai nước, muốn có một kênh xử lý quan hệ hai nước, làm sao như TQ  nhấn mạnh là ko để xảy ra xung đột hai bên.

Lý thuyết và thực tiễn trước đây cho rằng, giữa cường quốc đang lên và một cường quốc đã được khẳng định thì chuyện xung đột là ko tránh khỏi. Nhưng hiện tại, TQ cho rằng chuyện này có thể tránh được và nó phụ thuộc vào việc xử lý quan hệ giữa hai nước. Ông Tập Cận Bình muốn thể hiện mình là người lắng nghe, muốn thế giới thấy TQ có thể đạt được thỏa thuận với Mỹ, có thể đi theo các thỏa thuận quốc tế (ví dụ như việc ký kết với Mỹ thỏa thuận giảm lượng khí thải sau năm 2030).

Trong cuộc gặp thượng đỉnh hai bên, TQ muốn thổi phồng các điểm tương đồng giữa hai bên. Điều này cho thấy Bắc Kinh rất cần một không khí hợp tác thuận lợi với Mỹ. Qua đó TQ muốn đưa ra thông điệp rằng, TQ và Mỹ đã có thỏa thuận thì các nước trong khu vực có thể phải ngả theo họ.

Giữa bối cảnh Obama gặp nhiều khó khăn sau bầu cử giữa kỳ, khi đảng Cộng hòa kiểm soát lưỡng viện, Bắc Kinh muốn tận dụng lợi thế này để thúc đẩy các chính sách.

Mỹ, Trung Quốc, Bắc Kinh, APEC, TPP, Obama
Ảnh: Washingtontimes

Trong khi đó Mỹ lại nói nhiều tới khác biệt. Thứ nhất, Mỹ cần nhấn mạnh sự khác biệt ở nhiều vấn đề như chiến lược, hàng hải, quan hệ của TQ với láng giềng… Washington khẳng định đây là các điểm mà hai bên chưa có sự tương đồng.

Thứ hai, TQ muốn nhấn mạnh tới việc phân chia ảnh hưởng trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Bắc Kinh tuyên bố “khu vực này đủ rộng, có đủ không gian cho cả Mỹ và TQ”. Nhưng trên thực tế là muốn đẩy Mỹ sang phía đông TBD, còn Trung Quốc nắm giữ Tây TBD. Về đối nội có nhiều cách thức tuyên truyền chống ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực. Về đối ngoại, TQ nhấn mạnh một “trật tự châu Á cho người châu Á”.

Ngay tại Hội nghị APEC lần này, khi Mỹ ra sức thúc đẩy Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì Trung Quốc cũng không ngại ngần nỗ lực cho một kế hoạch đối trọng với TPP. Đó là hiện thực hóa Khu vực thương mại tự do toàn châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP) – một khu vực thương mại tự do mới được Bắc Kinh ủng hộ mạnh mẽ.

Điều đó khiến Mỹ lo ngại. Mỹ không muốn nêu bật các điểm đồng vì cho là nó có thể góp phần thể hiện rõ mong muốn của TQ trong việc xây dựng trật tự riêng ở khu vực.

Thứ ba là Mỹ lo ngại các nước đồng minh trong khu vực trước mối quan hệ Trung – Mỹ. Họ muốn trấn an các nước về cam kết sẽ không thỏa hiệp các lợi ích của Mỹ tại đây. Đây là các lý giải hiện nay trong khu vực.

 

Đó cũng là lý do trong cuộc gặp với ông Tập Cận Bình, Obama đã nhấn mạnh TQ cần là một người chơi có trách nhiệm trong khu vực cũng như toàn cầu.

Nghĩa là, trong quan hệ Trung-Mỹ nhìn từ quan điểm của Washington, các điểm tương đồng nếu có lợi vẫn thúc đẩy, chẳng hạn như kinh tế. Còn khi khác biệt về lợi ích thì phải vẫn đấu tranh kiên quyết và không nhân nhượng.

Với TQ, tổng thống Mỹ sẽ “yếu” hay “mạnh”?

Về chính sách đối ngoại, có thể Tổng thống Mỹ sẽ mạnh mẽ hơn, cứng rắn hơn. Cho tới nay Obama chưa để lại di sản gì, và một trong những điểm ông bị công kích nhiều là chính sách đối ngoại. Gần đây, Obama đã ra quyết định triển khai thêm 1.500 binh sĩ Mỹ tại Iraq (gấp đôi số quân hiện có) để giúp Iraq chống IS. Trước đây, ông tuyên bố không triển khai thêm quân và giờ thì quyết định ngược lại.

Trong đối sách với Nga hay TQ, Obama cũng bị chê là mềm yếu. Khi đảng Cộng hòa nắm quyền kiểm soát lưỡng viện, họ sẽ công kích điều này nhiều hơn. Và để chứng tỏ, ông Obama sẽ có những bước đi quyết đoán, cứng rắn hơn.

Chiến lược xoay trục về châu Á cũng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Bởi đảng Cộng hòa chủ trương tăng ngân sách quốc phòng để đối phó với các nguy cơ đe dọa Mỹ ở khắp nơi. Trong chủ trương tăng ngân sách sẽ có việc gia tăng hiện diện, tăng sức mạnh quân sự ở khu vực.

Đồng sàng dị mộng

Trong khi Mỹ tỏ ra không mấy mặn mà thì TQ lại tỏ ra hào hứng với việc thiết lập “quan hệ cường quốc kiểu mới”.  

Quan hệ kiểu mới mà TQ diễn giải là mối quan hệ không đối đầu, có thể hợp tác được; là quan hệ khu vực và toàn cầu do Trung – Mỹ dẫn dắt. TQ gọi là quan hệ cường quốc kiểm mới hay G2 quyết định mọi vấn đề.

Mỹ lại hiểu khác. Washington nhất trí hai nước cũng có ảnh hưởng, nhưng thế giới sẽ còn nhiều nước khác có ảnh hưởng, vai trò với các vấn đề quốc tế. Theo Mỹ, quan hệ kiểu mới cũng phải tính tới lợi ích của đồng minh, của các nước chứ ko chỉ đơn thuần G2. Trong mối quan hệ ấy, các bên phải tuân thủ luật pháp quốc tế, có trách nhiệm giải quyết vấn đề chung toàn cầu.

Rõ ràng, không nên phóng đại một cách quá mức quan hệ kiểu mới vừa thiết lập giữa TQ và Mỹ. Mặc dù hai bên đồng ý về sự cần thiết phải thiết lập một khuôn khổ quan hệ mới, nhưng việc TQ dùng thuật ngữ “quan hệ cường quốc kiểu mới”, còn Mỹ lại nói về “mô thức hợp tác kiểu mới” cho thấy sự  “đồng sàng dị mộng ” giữa hai nước này, cũng như việc hai bên hầu như chưa nhất trí được về nội hàm quan hệ kiểu mới và họ sẽ phải làm việc nhiều hơn mới ra được các chi tiết cụ thể.

Có hai điểm đáng chú ý. Một là, TQ chỉ đặt vấn đề xây dựng quan hệ “cường quốc kiểu mới” với Mỹ, chứ không phải với bất kỳ nước lớn nào khác như Ấn Độ, Nga hay Nhật Bản. Bằng cách này, TQ tự xếp mình ngang hàng với Mỹ, và cùng với Mỹ xây dựng một dạng “trật tự mini” để xử lý quan hệ song phương, các vấn đề khu vực và toàn cầu. Hai là, cách giải thích về quan hệ đối tác kiểu mới cũng hoàn toàn khác nhau.

Về lâu dài, các cạnh tranh này giữa TQ và Mỹ sẽ ít có chiều hướng giảm mà sẽ ngày càng gia tăng, do sức mạnh giữa một cường quốc đang trỗi dậy là TQ và một cường quốc đã được thiết lập là Mỹ ngày càng thu hẹp. Xét trong bối cảnh đó, thỏa thuận giữa hai nước về việc xây dựng “khuôn khổ quan hệ mới” thực chất chỉ là tạm “đông cứng” các bất đồng đang âm ỉ giữa họ với nhau, chứ không phải và không thể giải quyết được chúng một cách căn bản và lâu dài.

Minh Tâm(ghi)

 

Một điệp viên Mỹ tại Việt Nam – BBC

30 Th11

 

  • 3 giờ trước

Ông William E. Colby
Ông William E. Colby đứng đầu văn phòng CIA tại Nam Việt Nam từ năm 1959-1962.

Đối với nhiều người Mỹ thời đó, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai trên thực tế, đã chấm dứt vào năm 1968.

Báo chí và công chúng tại Hoa Kỳ xem cuộc tấn công Tết Mậu thân là một thất bại lớn cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Vào năm 1968, phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ đã lan rộng và thu hút nhiều nhân vật của chính phủ và các thành viên của tầng lớp trung lưu.

Sau năm 1968, cuộc chiến hầu như biến mất khỏi các trang nhất trên báo chí quốc gia.

Nhưng thực ra Tết Mậu thân là một thất bại quân sự lớn đối với người cộng sản miền Nam (Việt Cộng). Vì vậy mà khi thất bại xảy đến cho miền Nam Việt Nam vào năm 1975, nó đã được tiến hành thông qua một cuộc xâm lược của quân đội Bắc Việt mà không phải là một tấn công tổng nổi dậy, do Việt Cộng khơi mào.

Can dự tích cực của Mỹ vào cuộc chiến còn tiếp tục trong bốn năm nữa sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân.

‘Thu phục nhân tâm’

Đến năm 1968, chính quyền Johnson từ bỏ phương pháp chiến tranh ‘tìm và diệt’ của Tướng William Westmoreland đi kèm việc ném bom bừa bãi.

Trong giai đoạn nửa sau của cuộc xung đột, Mỹ nhấn mạnh nỗ lực chống nổi dậy và bình định, dẫn đến chiến dịch của Mỹ và giới chức Nam Việt Nam nhằm chinh phục nhân tâm ở nông thôn.

Động lực đằng sau sự thay đổi này là William E. Colby, cựu đặc công Mỹ ở thế chiến II, dẫn dắt văn phòng CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) ở Sài Gòn từ năm 1959-1962 và là người đứng đầu Cục Viễn Đông của CIA từ 1963-1968.

Trong giai đoạn Tết Mậu thân, Colby được cắt cử đến Nam Việt Nam để lãnh đạo CORDS, chiến dịch khổng lồ chống nổi dậy/bình định được hợp tác giữa Hoa Kỳ – Nam Việt Nam, vốn được bắt đầu vào năm 1967.

Colby xuất thân từ nhóm xây dựng quốc gia/chiến tranh chính trị của CIA, mà không phải từ cánh gián điệp/phản gián của cơ quan này.

Trong khi làm việc ở Sài Gòn trên cương vị giám đốc phân nhánh CIA, Colby và các nhân viên của ông đã tổ chức các Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) trong những người Thượng gốc Rhađê. CIA vũ trang cho những người dân ở các buôn làng Tây Nguyên, bảo vệ họ tạm thời, rồi khuyến khích chiến đấu chống Việt Cộng. Lực lượng CIDG là nguyên mẫu cho chương trình Ấp Chiến Lược.

Trong thời gian nắm giữ chức Giám đốc Cục Viễn Đông, Colby là kiến trúc sư của cuộc chiến bí mật tại Lào. Tại đó CIA đào tạo và vũ trang cho các thành viên bộ tộc Hmong và gửi họ tới chiến đấu chống lại quân đội Pathet Lào cũng như quân đội Bắc Việt.

Colby tin rằng an ninh ở các vùng quê tại miền Nam Việt Nam chỉ là một phần của giải pháp cho vấn đề.

Ông Colby và George Bush (cha)
Nhiều ý tưởng của ông Colby từ cuộc chiến Việt Nam được áp dụng ở Iraq và Afghanistan, theo tác giả.

Những người Mỹ trên cơ sở quan hệ đối tác với các chuyên gia bình định miền Nam Việt Nam như Thiếu tá Trần Ngọc Châu phải phân tán vào các xóm làng ở Nam Việt Nam, sống với những người nông dân, giúp cải thiện đời sống của họ, vũ trang cho họ và khuyến khích họ đối phó lại cán bộ cộng sản.

Điều mà Colby và các đồng nghiệp của ông hình dung là một cuộc cách mạng từ “cơ sở”, từ “gốc” sẽ mang lại tự trị cho các tỉnh lỵ và trao quyền cho nông dân để bảo vệ chính mình.

Vấn đề là các chế độ quân sự khác nhau ở Sài Gòn lại coi bất kỳ các nhóm vũ trang có gắn kết về chính trị mà họ không kiểm soát được là mối đe dọa đến quyền lực của họ.

Thất bại

Chiến dịch chống nổi dậy và bình định (CORDS) là hoạt động kết hợp quân sự với dân sự đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ.

CIA đã thành lập một trung tâm tại Vũng Tàu để đào tạo cán bộ chính trị và các nhóm chống khủng bố cho Nam Việt Nam.

Tại Washington, một Trung tâm Đào tạo Việt Nam cung cấp hỗ trợ, đào tạo ngôn ngữ suốt năm cho CIA, các sĩ quan quân đội Mỹ, các cán sự ngoại giao và nhân viên Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID).

Vào năm 1970, có người Mỹ nói tiếng Việt ở hầu như mỗi thôn xóm ở miền Nam Việt Nam.

Các sĩ quan chiến dịch CORDS và các đồng minh Nam Việt Nam đạt được một số tiến triển chống lại các hoạt động nổi dậy giải phóng của cộng sản ở các vùng nông thôn, mặc dù cộng sản tiếp tục có sự hiện diện lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung Bộ, và tại các khu vực thuộc mạn nam và đông của Sài Gòn.

Cuối cùng, Colby và các đồng nghiệp của ông đã thất bại.

Họ không thể vượt qua được uy tín dân tộc chủ nghĩa của đối thủ, bản chất áp bức và tham nhũng của chính quyền Sài Gòn, hoặc quyết tâm của chính quyền Nixon kết thúc chiến tranh.

Chiến dịch CORDS phần nào đã trở thành mô hình áp dụng cho người Mỹ chiến đấu ở Iraq và Afghanistan.

Colby trở thành lãnh đạo CIA từ 1973-1976. Tại đây ông hứng chịu cuộc khủng hoảng từ việc công bố “trang sức gia đình” của CIA, tức là những hoạt động bất hợp pháp như âm mưu ám sát nhắm vào các nhà lãnh đạo nước ngoài và việc theo dõi trong nước.

Là người chẳng mấy tin vào sự hợp tác và cởi mở với Quốc hội, Colby đã bị Tổng thống Gerald Ford sa thải vào năm 1976.

Bài viết do Randall B. Woods, giáo sư lịch sử tại Đại học Arkansas, gửi cho BBC. Ông là tác giả của cuốn “Shadow Warrior: William E. Colby and CIA” (tạm dịch: “Người chiến binh trong bóng tối: William E. Colby và CIA”), do Nhà xuất bản Basic Books, New York, ấn hành năm 2013.

Tin liên quan

  • Năm hiểu lầm về Watergate
  • ‘Ngày khởi đầu hoàng hôn của VNCH’
    9 tháng 8 2014
  • Tổng thống Thiệu qua lời kể cựu bí thư
  • Bí mật quanh hồ sơ “Nixon-Thiệu”

 

CẢNH GIÁC TRUNG QUỐC ĐANG VUNG TIỀN MUA BẤT ĐỘNG SẢN – BS

30 Th11

 

Posted by adminbasam on 29/11/2014

Tô Văn Trường

29-11-2014

Các nhà làm luật, làm chính sách, các vị đã quyết nhiều cái để lại hậu quả hiện nay không biết con cháu đời nào mới gỡ ra được. Văn hóa cộng đồng làng xã là “bong ke” ngăn làn sóng nô dịch và đồng hóa hàng ngàn năm trước từ người Hán. Từ khi chủ nghiã thực dân, tư bản thực dụng “xâm thực” và cách quản trị thực dụng về nhiều mặt rất cơ bản của ta từ sau cách mạng Tháng Tám đến nay…cái “bong ke” ấy nó cũng bị long lay, bong tróc và đang vỡ vụn từng phần!

Trung Quốc đang vung tiền mua bất động sản ở nhiều nơi ngon lành và di dân vì có thừa tiền và đủ mạnh. Aucland giá nhà tăng khủng khiếp mấy năm nay do Trung Quốc nhào mua vì so với giá nhà và môi trường sống ở Bắc Kinh thì mọi nơi trên thế giới này đều rẻ và tốt hơn rất nhiều.

Với đa số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Nhà ở sửa đổi với điểm mới đáng chú ý là cho phép người nước ngoài mua nhà ở Việt Nam nhằm thu hút FDI và kỳ vọng thị trường bất động sản sẽ ấm lên!?

Luật Nhà ở được Quốc hội thông qua chiều 25/11 dành riêng một chương (Chương IX) quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của tổ chức và cá nhân nước ngoài. Bên cạnh hai đối tượng được mua và sở hữu nhà tại Việt Nam đã quy định lâu nay, Luật bổ sung các cá nhân được phép nhập cảnh vào Việt Nam. Quy định này được ghi tại Điều 159 của Luật.

Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh Lê Hoàng Châu nhận định, việc mở cửa thông thoáng cho người nước ngoài được mua nhà ở chính là hoạt động xuất khẩu tại chỗ, làm gia tăng tổng tài sản quốc gia, tăng tổng cầu cho thị trường bất động sản, đặc biệt là thị trường thứ cấp.

Chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành thì tỏ ra khá sốt ruột khi những lo ngại về quyền sở hữu nhà dành cho người nước ngoài được một số đại biểu Quốc hội đặt ra. Ông Thành nói: “Lịch sử có nhiều người Pháp sở hữu nhà ở Canada cả 100 năm nay, họ về Pháp, họ sang Mỹ sống, họ đâu có bê nhà đi được. Ngay tôi từng là nhà đầu tư bất động sản ở Pháp, tôi được tạo mọi điều kiện tối đa để phát triển, nay tôi về Việt Nam, dự án của tôi vẫn còn bên đó. Chúng ta đang chứng minh với thế giới một VN thân thiện, cởi mở, thông thoáng và cầu thị, nhưng tư duy mở cửa he hé khiến chúng ta mất điểm ngay trên sân nhà. Nếu bấm nút thông qua luật này, chúng ta đã cởi trói về tư duy của chính chúng ta trong quan điểm nhìn người nước ngoài chứ chưa hẳn là cởi trói giúp họ, những người nước ngoài”.

Qua thảo luận với chuyên gia Việt kiều Vũ Quang Việt và số người am hiểu về việc mua bán nhà cho người nước ngoài, chúng tôi có chung nhận xét ý kiến phát biểu ở trên rất phiến diện vì đừng quên là ở Thái Lan, Singapore, Malaysia xem họ có cho người nước ngoài mua nhà đất không, hay là họ chỉ cho mua condo, trên mảnh đất được cho thuê có thời hạn? Hãy thử sang Trung Đông xem có người nước  ngoài nào được quyền mua nhà đất? Vấn đề là không thể so sánh Việt Nam ở thời điểm này với Mỹ, Pháp và các nước phát triển vì họ làm chủ được vận mệnh của mình. Hơn nữa trình độ và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận không nhỏ quan chức nước ta sẽ bị tư bản Trung Quốc mua chuộc để chiếm thị trường bất động sản Việt Nam và mua hết cả những nơi nhạy cảm.

Việc cho phép người nước ngoài mua nhà có lợi ích cho những người hiện có tài sản nhà không bán được và những người có sở hữu lớn về đất đai, nhà cửa. Tuy nhiên, việc cho người nước ngoài mua nhà cần được xem xét trên các yếu tố nước ta đất chật, người đông nếu để người nước ngoài vào mua thì việc mua bán sẽ đảy giá lên và làm hạn chế khả năng mua nhà của người Việt Nam, nhất là người nghèo, khi đồng lương rất thấp so với khu vực.

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cần phải xem xét những vấn đề sau:

  1. Có thể để người Trung Quốc đổ tiền vào mua nhà đất ở Việt Nam không, trong lúc mà không người Việt Nam nào có thể cạnh tranh nổi?
  2. Biện pháp này có đẩy giá địa ốc lên mà  người Việt Nam bình thường sẽ không thể cạnh tranh được không? Người hưởng lợi trực tiếp thấy rõ là những nhóm lợi ích đầu cơ bất động sản !
  3. Điều quan trọng cần định nghĩa rõ ràng, minh bạch “mua nhà” là gì? Là có số đỏ đối với đất đai? Điều này sẽ có ý nghĩa gì khi bản thân nông dân cũng không có sổ đỏ đối với nhà cửa và ruộng đất của mình?

Một số vị đại biểu Quốc hội phát biểu ủng hộ (kể cả lập luận của ông Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý) luôn lấy Singapore ra làm ví dụ nhưng lại không hiểu bản chất là Singapore cũng không cho phép người nước ngoài mua đất hay nhà mà chỉ cho phép mua condo trong cao ốc. Thái Lan cũng chặt chẽ như vậy. Ở Thái Lan người nước ngoài cũng chỉ có thể thuê đất dài hạn nhất là 30 năm để phát triển nhà.

Ở Việt Nam mua nhà khác với mua đất. Mà mua đất thực chất cũng chỉ là mua quyền sử dụng đất. Khi mua nhà có đất là được quyền làm chủ đất thực sự, được coi là tương đương với đất thổ cư. Đất ruộng chính quyền có thể lấy lại dễ dàng nhưng đất thổ cư, nhất là trong thành phố thì lại hoàn toàn khác. Sổ đỏ, tức giấy chứng nhận sở hữu, cũng chỉ là chứng nhận quyền sở hữu đất thôi vì theo luật đất đai vẫn là sở hữu toàn dân. Đây là lỗ hổng dễ nhập nhằng! Ngay cả nhiều chuyên gia Việt Kiều và lão thành cánh mạng cũng ngửi thấy “mùi khét” cần cảnh giác với với “nhóm lợi ích” muốn cứu đám đầu cơ bất động sản và nguy cơ về bàn tay “lông lá” của Trung Quốc !

Ở nước ngoài về mặt nguyên tắc dù đất không thuộc về nhà nước nhưng nhà nước có quyền thu hồi vì lợi ích công, với điều kiện phải trả giá thị trường, tức là hai bên đồng ý, nếu không đồng ý thì quan tòa sẽ quyết định giá dựa vào đánh giá của giới chuyên môn.

Có ý kiến cho rằng các chính sách kinh tế đối ngoại trước khi quyết định ban hành phải ý thức đến sự tồn tại của Trung Quốc, phải lường trước những tác động, hậu quả đến từ nước láng giềng khổng lồ phía bắc. Phương châm nầy không hàm ý nghĩa kỳ thị với Trung Quốc nếu nhìn từ lý luận về địa kinh tế và kinh nghiệm của thế giới.

Hầu hết Việt kiều không quan tâm đến việc mua nhà hay sở hữu nhà ở Việt Nam. Về mặt pháp luật nếu không có quốc tịch Việt Nam thì là người ngoại quốc, và nên đối xử như người ngoại quốc về mặt pháp luật.

Cảnh báo sớm là việc cho phép người nước ngoài mua nhà dễ dàng có thể sẽ mở cửa cho người Trung Quốc sẽ tung tiền làm lũng đoạn thị trường bất động sản và khiến người Việt các thế hệ sau khó mua nhà kể cả ở những nơi trọng điểm mà người Việt dù giầu có cũng khó lòng cạnh tranh lại. Đây vừa là vấn đề chính trị vừa là vấn đề kinh tế.

Lịch sử thì không có “nếu như”, nhưng tương lai thì “có thể” trong tình huống hiểm nghèo của dân tộc thì cái hào khí “Đông A” liệu có còn không và gần nhất là ai sẽ “xẻ dọc Trường Sơn”, ai sẽ “phá nhà” để sửa đường cho xe bộ đội ta ra chiến trường nữa đây?. Người dân đã đòi được đất một lần rồi và đang cầm cái quyền sử dụng trên tay cũng không chắc chắn như anh em nhà Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng  và biết bao “dân oan” khác. Cảnh báo! Một đất nước muốn ổn định và phát triển thì phải thuận lòng dân nhưng mà đất đai không phải là của họ thì họ giữ cái gì đây?

 

Thế giới 24h: Tòa nhà chính phủ Mỹ trúng đạn – Vnn

30 Th11

 

Ba tòa nhà chính phủ của Mỹ bị một người đàn ông xả súng tấn công, bạo lực tại Tân Cương và Hong Kong, Nga hối thúc ngừng trừng phạt… là những tin nóng 24 giờ qua.

Tin nổi bật

Một người đàn ông đã nã súng vào nhiều trụ sở cơ quan trọng yếu của bang Texas tại thành phố Austin, trong đó có trụ sở cảnh sát và tòa lãnh sự Mexico vào sáng sớm ngày 28/11 (giờ Mỹ).

Thủ phạm đã bị bắn chết ngay sau đó. Theo điều tra, thủ phạm là Larry McQuilliams, 49 tuổi.

thế giới 24h

Khoảng 2 giờ sáng (giờ địa phương), McQuilliams đã nã hơn 100 phát đạn vào ít nhất 3 tòa nhà trọng yếu trong thành phố, bao gồm tòa án liên bang, trụ sở cảnh sát và lãnh sự quán Mexico.

McQuilliams đã tìm cách phóng hỏa lãnh sự quán Mexico song ngọn lửa đã được dập tắt trước khi gây ra thiệt hại nghiêm trọng.

Theo cảnh sát trưởng thành phố là ông Art Acevedo, đối tượng trên là một người da trắng và đã có tiền án.

Bộ Ngoại giao Mexico đã bày tỏ “quan ngại sâu sắc” đồng thời “lên án mạnh mẽ” hành vi bạo lực trên và xác nhận không có nhân viên lãnh sự nào bị thương trong vụ việc do vụ tấn công.

Tin vắn

Một tư lệnh đơn vị tinh nhuệ của Iran đã chỉ huy một cuộc phản công nhằm vào lực lượng thánh chiến tại Iraq sau khi nhóm Nhà nước Hồi giáo (IS) có những bước tiến quan trọng hồi tháng 6 vừa qua.

Một phiên tòa tại Ai Cập đã tuyên trắng án đối với Tổng thống bị phế truất Hosni Mubarak cùng một số cựu quan chức an ninh dưới thời nhà lãnh đạo này khỏi tội danh sát hại người biểu tình trong làn sóng phản đối chính phủ hồi năm 2011.

Tại khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Tây Bắc Trung Quốc, lại xảy ra một vụ tấn công khủng bố khiến ít nhất 15 người thiệt mạng và 14 người bị thương.

Ít nhất 120 người đã thiệt mạng và 270 người bị thương trong hai vụ đánh bom liều chết và xả súng ngày 28/11 nhằm vào các thánh đường Hồi giáo ở Nigeria vào thời điểm các tín đồ hành lễ cầu nguyện cuối tuần.

Ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier cho biết mặc dù Berlin và Moscow có quan điểm khác nhau về nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng Ukraina, tuy nhiên Đức thừa nhận Nga mong muốn thực hiện các thỏa thuận Minsk về giải quyết cuộc xung đột này.

Binh chủng phòng không-vũ trụ Nga (ASD) trong năm 2014 đã hoàn thành nhiệm vụ do Tổng thống Nga đặt ra là thiết lập hệ thống không gian vô tuyến định vị bảo vệ toàn bộ lãnh thổ đất nước trước các cuộc tấn công bằng tên lửa.

 

Liên minh châu Âu (EU) đã nhất trí áp dụng các biện pháp trừng phạt về kinh tế và đi lại đối với thêm 13 cá nhân và 5 thực thể nữa bị cáo buộc dính líu tới phe ly khai ở miền Đông Ukraina.

Thứ trưởng Ngoại giao Nga Alexei Meshkov đã hối thúc EU dỡ bỏ các lệnh trừng phạt nhằm vào Moscow liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraina, đồng thời cam kết từ bỏ những biện pháp trả đũa.

Công tố địa phương đã khởi tố vụ án hình sự về tội ăn cắp thiết bị đắt giá trên tàu chiến Mistral mang tên Vladivostok mà Pháp đóng cho Nga đang neo đậu tại cảng Saint-Nazaire. 

NATO và Pháp đều xác nhận sự hiện diện của 4 chiến hạm Nga ở eo biển Anh hôm 28/11, nhưng khẳng định các tàu không tập trận.

Thông tin trong ảnh

thế giới 24h

Hàng ngàn người biểu tình ở Hong Kong sáng sớm ngày 29/11 đã đụng độ với cảnh sát tại khu vực Vượng Giác trong nỗ lực nhằm giành lại các khu vực biểu tình lớn và bất ổn nhất ở Đặc khu hành chính này. Cuộc đụng độ đã khiến nhiều người bị thương. Ảnh: Reuters

Phát ngôn ấn tượng

Đài Tiếng nói nước Nga dẫn phát biểu của Tổng thư ký Hội đồng châu Âu Thorbjorn Jagland cho biết sự xuất hiện của một cuộc Chiến tranh Lạnh là một kịch bản hiện thực, nhưng có thể tránh được nếu giải quyết dứt điểm cuộc xung đột ở Ukraina.

“Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang có Chiến tranh Lạnh giống như trước năm 1989. Nhưng chúng ta có thể có nó, vì vậy giờ đây cần nỗ lực hết sức để giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraina” – ông Jagland nói.

Sự kiện

30/11/1936 – Cung Thủy tinh tại thủ đô Luân Đôn của Anh Quốc bị phá hủy cùng với nhiều hiện vật triển lãm do hỏa hoạn.

30/11/1939 – Hồng quân Liên Xô vượt qua biên giới Phần Lan ở một số địa điểm và ném bom thủ đô Helsinki, khởi đầu Chiến tranh Mùa đông.

30/11/1982 – Phát hành album thứ sáu của ca sĩ Michael Jackson mang tên Thriller, đây là album bán chạy nhất thế giới.

Lê Thu

 

Việt Nam sẽ vỡ nợ? – GNA

29 Th11

 

Việt Nam sẽ vỡ nợ?

Tác giả: Trần Diệu Chân

no vo

Bài viết này tìm hiểu tình trạng nợ công « nguy kịch » của Việt Nam và đề nghị một số giải pháp.

Định nghĩa “nợ công”

Nợ chính phủ, còn gọi là Nợ Công hoặc Nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay để tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách hằng năm.

Nợ chính phủ thường được phân loại thành:

Nợ trong nước (chủ nợ là người dân) và nợ nước ngoài (chủ nợ người ngoại quốc).

Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở xuống), nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm) và nợ dài hạn (trên 10 năm).

Các hình thức vay nợ của chính phủ

1. Phát hành trái phiếu chính phủ

Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu  để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì chính phủcó thể tăng thuế, giảm chi hoặc in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có mức cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn so với trái phiếu phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, đồng thời còn có rủi ro về tỷ giá hối đoái.

2. Vay trực tiếp

Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)… Hình thức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu của họ không cao.

Cách tính nợ công của Việt Nam … “không giống ai”

Theo Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới về tình hình nợ công của Việt Nam hiện nay, thì cách tính nợ công của Việt Nam khác thế giới rất nhiều. Nợ công của Việt Nam chỉ nói đến nợ của Chính phủ và bộ máy công quyền, chứ không hề tính tới nợ của doanh nghiệp nhà nước, các xí nghiệp công ích và bảo hiểm xã hội mà nhà nước phải chịu trách nhiệm. Do trong định nghĩa nợ công không có các khoản này nên không đánh giá đúng tình trạng trầm trọng của nợ công và nguy cơ vỡ nợ của quốc gia.

Năm ngoái (2013), Việt Nam báo cáo nợ công chiếm 54% GDP (Tổng sản lượng Quốc gia), nhưng có nguồn tính ra lên tới 106% GDP nếu tính thêm các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước. Còn năm nay, con số đó có thể cao hơn nhiều. Con số 64% hiện tại chỉ phản ánh một nửa thực tế. Xét về thực chất, nợ công VN đang ở mức “rất nguy hiểm” nếu theo tiêu chuẩn của quốc tế.

Khả năng trả nợ của Việt Nam

Theo ông Bùi Ngọc Sơn, khả năng trả nợ không chỉ đánh giá bằng tổng số nợ hay tỷ lệ nợ so với GDP mà còn do tiềm lực trả nợ của quốc gia. Nếu so sánh tỷ lệ Nợ Công/GDP , Nhật nợ tới 200%, Mỹ nợ 100% mà không có vấn đề gì. Trong khi đó, Argentina vỡ nợ khi nợ công mới ở mức 54% GDP. Do đó, khi Việt Nam đưa ra tỷ lệ an toàn để khỏi vỡ nợ là 65% của GDP thì đây là điều không thực tế.

Điều quan trọng là phải xem tốc độ gia tăng nợ nhanh hay chậm so với tốc độ tăng trưởng của GDP và triển vọng phát triển của nền kinh tế. Argentina vỡ nợ vì tốc độ gia tăng nợ rất nhanh, không kiểm soát được chi tiêu của chính quyền địa phương, phát hành trái phiếu vay nước ngoài ồ ạt, trong khi xuất khẩu lại rất kém.

Nước ngoài khi cho vay sẽ căn cứ vào khả năng tăng trưởng và năng lực xuất khẩu. Nếu tăng trưởng chậm, xuất khẩu có vấn đề thì không còn ai muốn đưa tiền vào đất nước đó. Và đó là thảm họa đã xảy ra ở Argentina.

Nếu tính cả số nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ trái phiếu chính phủ, nợ đọng xây dựng cơ bản thì nợ công của Việt Nam đã vượt trần. (theo báo cáo Quốc hội hoàn thành ngày 28/10/2014) . Nhiều đại biểu QH bày tỏ sự lo lắng trước tình hình nợ công lớn, xu hướng tăng nhanh, rủi ro lớn, và đang ở mức báo động; áp lực trả nợ rất lớn trong khi năng lực trả nợ của nhà nước không cao.

Trong một cuộc hội thảo hồi cuối năm 2013 (22/11/2013), chuyên gia kinh tế Nguyễn Anh Dương cho biết: cứ mỗi ba tháng Việt Nam phải trả nợ công, gồm cả gốc và lãi lên tới 25.000-26.000 tỉ đồng (hơn một tỉ đôla)

Bản tập hợp ý kiến thảo luận cũng nhấn mạnh: “Nhiều đại biểu cho rằng nợ công đang trở thành vấn đề nguy hiểm, nếu không giải quyết tốt có thể đe dọa đến tài chính quốc gia và ổn định vĩ mô, chính trị”.

Ông Bùi Đức Thụ, ủy viên thường trực Ủy ban Tài chính – ngân sách, cho báo Tuổi Trẻ trong nước biết: Tính trong nhiệm kỳ (2011-2015), chính phủ phải vay khoảng 872.000 tỉ đồng để bù bội chi ngân sách và phát hành 395.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ để đầu tư xây dựng cơ bản (tổng cộng hai khoản khoảng 60 tỉ USD, tức trung bình 12 tỉ một năm).

Đặc biệt, năm 2014 Việt Nam đã phải vay 70.000 tỉ đồng để đảo nợ. Năm 2015, nợ đến hạn phải trả của VN là 280.000 tỉ (hơn 13 tỉ USD) nhưng chỉ lo được 150.000 tỉ để trả nợ và phải vay 130.000 tỉ (hơn 6 tỉ USD) để đảo nợ.

Nợ trái phiếu chính phủ trong nước tương đối ngắn hạn và có lãi suất cao, cho nên yêu cầu chi trả nợ hàng năm cũng tăng lên rất nhanh, yêu cầu đó trong năm nay và 2015 đã vượt mức an toàn 25% của ngân sách.

Tác động của nợ chính phủ

Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng GDP chậm lại vì những lý do sau:

Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.

Một khoản nợ công lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân: thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở hữu nợ chính phủ (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về vốn cạn kiệt vì tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh nghiệp hạn chế đầu tư.

Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì chính chủ chỉ nợ công dân của chính nước mình, tuy vậy nếu nợ trong nước lớn thì chính phủ buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội.

Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô, tức đi vay để phát triển, sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (tức hoạt động của chính phủ làm giảm mức hoạt động của tư nhân) và nguy cơ lạm phát như sau:

Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành thêm trái phiếu, điều này làm giá của trái phiếu giảm, do đó, chính phủ phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới chiêu dụ được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền kinh tế cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ đầu tư của khu vực tư nhân, khiến họ giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước khiến cho tỷ giá hối đoái tăng làm giảm xuất khẩu.

Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực (ngắn hạn) từ việc tăng chi tiêu chính phủ và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu cực (dài hạn) tới tốc độ tăng trưởng thực.

Hệ lụy do vỡ nợ

Chuyện vỡ nợ công của Việt Nam đang là một đe dọa hiển nhiên theo sự nhận xét của nhiều chuyên gia kinh tế. Nếu quốc gia vỡ nợ, tình trạng kinh tế sẽ suy sụp như sau:

1) Thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ và điểm tín dụng xuống cấp thê thảm.

2) Mọi cơ chế tài chánh sẽ phải đóng cửa. Tiền mất giá, lạm phát leo thang, trái phiếu và đồng nội tệ sẽ chỉ còn là mớ giấy lộn. Tiền gởi trong ngân hàng sẽ “bốc hơi” vì mất giá trị.

3) Mọi chương trình do chính phủ tài trợ đều ngưng hoạt động (y tế, cảnh sát, an ninh, quốc phòng, giáo dục, cầu, đường, năng lượng v…v…). Quỹ hưu trí tan vỡ, nhà thương, trường học ngưng hoạt động.

4) Các thương vụ đóng cửa và nạn thất nghiệp tràn lan. Mọi mặt hàng khan hiếm kể cả nhu yếu phẩm. Giá cả tăng vọt. Đời sống của người dân sẽ bị đảo lộn hoàn toàn.
5) Nội loạn sẽ xảy ra và không có người để duy trì trật tự công cộng. Nạn đói và cướp bóc sẽ xảy ra. Hiện tượng vô kỷ luật, vô trật tự, vô tổ chức sẽ hoành hành.

6) Kẻ giàu có sẽ cuỗm tiền bạc quốc gia và trốn ra ngoại quốc.

Đó là trong ngắn hạn. Còn dài hạn thì con cháu chúng ta sẽ phải trả nợ – có thể suốt đời, và nhiều thế hệ. Tiền trả các món nợ đó sẽ cướp đi cơ hội đầu tư để phát triển đất nước. Việt Nam tiếp tục đi giật lùi so với đà phát triển của thế giới, và có thể tiếp tục bị chi phối, khai thác, thao túng bởi những thành phần xấu trong cộng đồng dân tộc cũng như ngoại bang.

Giải pháp cấp cứu Việt Nam

Ông Bùi Kiến Thành, một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về thị trường tài chính quốc tế từ Hà Nội nhận định:

“Phải tìm cách hãm lại gánh nợ công, hãm lại đầu tư công, hãm lại những thứ gọi là những phí phạm trong vấn đề quản lý nhà nước, hãm lại những cái rút ruột công trình, hãm lại vấn đề cán bộ nhà nước không kiểm tra đầy đủ chi tiêu nợ công.”

Chuyên gia ngoài chính phủ trong & ngoài nước nhiều lần kêu gọi Việt Nam cải cách thể chế, công khai minh bạch và dân chủ trong kinh tế thì mới có thể phát triển kinh tế bền vững. Tham nhũng đi đôi với lãng phí và đầu tư không hiệu quả.

Cách tính nợ công khác thường của Bộ Tài chính Việt Nam và cách tính GDP của Việt Nam nhằm tạo một bộ mặt kinh tế tốt đẹp đã tạo ra nguy cơ lâu dài cho nền kinh tế. Thời báo kinh tế Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 7/8/2014 tại Hội nghị Đà Nẵng, nguyên văn: “Yêu cầu các tỉnh thành từ nay phải tính toán xác thực không tô hồng hay làm sai lệch vì trong những năm qua tỉnh thành nào cũng báo cáo GDP tăng trưởng 10% tới 15% nhưng GDP cả nước chỉ tăng từ 5% đến 7%.”

Theo các chuyên gia, cách tính GDP không xác thực dẫn tới sai lầm dây chuyền trong nền kinh tế, từ kế hoạch phát triển cho đến đầu tư sai lạc và dàn trải kém hiệu quả. Một đất nước với các chỉ số ảo về tăng trưởng GDP, nợ công không được công bố một cách đầy đủ và minh bạch thì khó có thể bảo đảm không có ngày vỡ nợ. Những khoản nợ công bị phung phí ngày hôm nay chính là gánh nặng cho các thế hệ Việt Nam mai sau (RFA).

Các đối sách ứng phó để tránh vỡ nợ chưa hề thấy Nhà nước Việt Nam đưa ra trừ việc cảnh giác nguy cơ và dự trù bán tài nguyên, thu thêm thuế và mượn thêm tiền để đảo nợ.  Các chuyên gia nhận định cần phải :

–          Thứ nhất, điều chỉnh ngay những khoản chi ngân sách. Hiện nay, Việt Nam có tỉ lệ sử dụng ngân sách Nhà nước rất cao trong khu vực, so với phần trăm GDP và đấy là một gánh nặng đối với người dân.

–          Thứ hai, chi thường xuyên của ngân sách chiếm đến 72% tổng số chi, như vậy, chỉ còn lại 28%, mà 25% sẽ phải chi để trả nợ, như vậy, chỉ còn 3% để đầu tư, đây là điều hết sức đáng lo ngại, vì nếu như vậy, nền kinh tế Việt Nam sẽ không thể công nghiệp hóa cũng như không thể tăng trưởng với số vốn đầu tư quá ít.

–          Thứ ba, cần phải tái cấu trúc đầu tư công và phải có những biện pháp để giám sát và đầu tư công hiệu quả hơn. Cho đến nay, Nhà nước vẫn muốn trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động kinh doanh, đưa đến tình trạng thua lỗ.

Theo Ts Lê Đăng Doanh, một chuyên gia kinh tế trong nước, thì « Việc giải quyết vấn đề nợ công của Việt Nam đòi hỏi phải có những biện pháp cấp bách trước mắt và những biện pháp tái cơ cấu lâu dài, những điều đó đòi hỏi Nhà nước Việt Nam phải trải qua một cuộc cải cách hết sức mạnh mẽ, mạnh mẽ hơn cả kỳ đổi mới cách đây 30 năm » (RFA).

Giải pháp đề nghị từ tác giả

Tác giả bài viết này xin đưa ra một số giải pháp cấp thiết và cải cách lâu dài, bao gồm:

Thành lập một Ủy Ban Cấp Cứu Nợ Công (UBCCNC) với các chuyên gia yêu nước để nghiên cứu các giải pháp thực tiễn, không phân biệt trong nước hay hải ngoại. UBCCNC hoạt động độc lập với Đảng và Nhà nước, và có toàn quyền giám sát, quyết định và đề nghị giải pháp.

Song song, thực hiện 3 yếu tố căn bản cần thiết cho một nền kinh tế lành mạnh, đó là :

Thiết lập hệ thống thanh tra độc lập/chuyên nghiệp, và nền truyền thông tự do/độc lập để bảo đảm « kiểm tra và cân bằng » (check and balances) hầu bài trừ tham nhũng và những hoạt động khuất tất, bảo đảm minh bạch/công khai sổ sách chi thu và các chính sách kinh tế.

Thiết lập một nền luật pháp nghiêm minh.

Thiết lập nền chính trị « tam quyền phân lập » để tránh tình trạng « mâu thuẫn lợi ích » (conflict of interest), xóa bỏ chính sách ưu đãi và đặc quyền/đặc lợi.

Ngay lập tức, yêu cầu mọi cấp chính quyền « thắt lưng buộc bụng », xong cần nghiên cứu để các khoản chi cho công ích xã hội không bị giảm làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống đã quá khó khăn của người dân hiện nay. Hữu hiệu hóa các chi tiêu và đầu tư cho đúng người, đúng việc.

Cắt giảm tối đa hệ thống công an, cảnh sát, dư luận viên hiện nay đang được xử dụng dư thừa và vô ích để theo dõi và hành hung các nhà yêu nước.

Cải thiện guồng máy quan liêu, cồng kềnh, kém hiệu năng hiện nay.

Thay đổi tư duy về một nền « kinh tế thị trường dưới định hướng xã hội chủ nghĩa». Dẹp bỏ các công ty quốc doanh và tư hữu hóa các hoạt động kinh tế. Cần phải cải tổ nền kinh tế theo nguyên tắc kinh tế thị trường đúng nghĩa, không thể tiếp tục cấu trúc quái thai « KTTT dưới định hướng XHCN »

Hợp tác chân thành với các quốc gia dân chủ khắp nơi để thoát khỏi sự khuynh loát/lấn lướt cả về kinh tế lẫn chính trị của Trung Cộng.

Để thực hiện được những điều này, lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam cần cởi bỏ tư duy « thù nghịch » và « nghi ngờ » với bất cứ ai khác chính kiến hoặc cổ võ cho tự do/dân chủ. Cần có tư duy cấp tiến của thế kỷ 21 – cởi mở, chấp nhận mọi khuynh hướng, tôn trọng quyền làm chủ đất nước của người dân, hợp tác để cùng tiến (win-win situation), thay vì lối suy nghĩ lạc hậu « ta-địch, thắng-thua » của thế kỷ trước.

Liệu những người trách nhiệm có can đảm làm một cuộc cách mạng « Tư Duy » để dân chủ hóa nền kinh tế, để dân chủ hóa đất nước, để cứu nguy Việt Nam và khép lại trang sử đen tối của dân tộc?

Trần Diệu Chân

Tiến sĩ kinh tế

Tổng hợp từ nhiều nguồn

22 tháng 11, 2014

Nguồn tham khảo:

http://boxitvn.blogspot.com/2014/08/ba-thang-mat-mot-ti-ola-bao-gio-viet.html

http://www.ijavn.org/2014/08/nguoi-dan-viet-nam-se-ra-sao-khi-nha.html

http://rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-public-debt-quick-outpaced-10152014151510.html

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/581607/cu-moi-ba-thang-viet-nam-tra-no-1-ti-usd)

http://vietbao.vn/Kinh-te/That-lung-buoc-bung-de-giam-no-cong/196026602/87/

http://vietbao.vn/Kinh-te/No-cong-cua-Viet-Nam-da-vuot-tran/196042780/87/

http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%A3_ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/viet-nam-dang-vay-no-nhu-the-nao-3100618.html

 

‘Xã hội dân sự VN sẽ tiến triển mạnh’ – BBC

29 Th11

 

  • 27 tháng 11 2014

Tiến sỹ, bác sỹ Trần Tuấn
Tiến sỹ Trần Tuấn lạc quan về triển vọng của xã hội dân sự ở Việt Nam.

Mặc dù có khó khăn, xã hội dân sự ở Việt Nam đang tìm được chỗ đứng, phát huy vai trò của mình, theo ý kiến các nhà quan sát và hoạt động từ Việt Nam.

Xã hội dân sự đang khẳng định vai trò không những trong ‘thực tiễn’ mà còn trong ‘tác động’ tới sửa đổi, hình thành chính sách của nhà nước, vẫn theo ý kiến phát biểu tại cuộc Tọa đàm Trực tuyến trên Google Hangout của BBC hôm 27/11/2014.

Tiến sỹ Trần Tuấn, một nhà nghiên cứu về chính sách và phát triển cộng đồng thuộc Vusta (Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), nói với Tọa đàm:

“Chúng tôi thấy rằng trong những năm vừa qua đã có sự phát triển, chúng tôi gọi là gia tốc tăng lên ngày càng nhanh, đặc biệt trong 5 năm qua.

“Vào khoảng hai năm gần đây, thấy rằng có sự phát triển, tiếng nói của xã hội dân sự bắt đầu dần đi vào, ngoài những vấn đề thực tiễn, nhưng đồng thời trong cả vấn đề chính sách, hoặc những tác động để thay đổi chính sách đã bắt đầu có được.

“Cho nên, trong trung hạn và dài hạn, chúng tôi nghĩ, trong thời điểm khoảng 3-5 năm tới sẽ thấy một sự thay đổi một cách mạnh mẽ hơn nữa của xã hội dân sự.

“Đặc biệt tiếng nói của xã hội dân sự trong vấn đề nghiên cứu, tác động chính sách và những vấn đề đi dần vào các lợi ích của người dân được đặt lên trên bàn để thảo luận trong vấn đề cân bằng lợi ích với các bên doanh nghiệp, cũng như bên về các lợi ích của nhà nước.”

Triển vọng lâu dài

Về triển vọng lâu dài của xã hội dân sự, nhà nghiên cứu cho rằng Việt Nam sẽ theo kịp bước của thế giới văn minh để có chỗ đứng cho định chế này.

Tiến sỹ Trần Tuấn nói: “Còn về mặt lâu dài, chúng tôi nghĩ rằng chắc chắn Việt Nam sẽ phải chung bước với sự tiến bộ của thế giới văn minh này, có nghĩa là phát triển xã hội phải đứng trên trụ cột có nhà nước, có thị trường và có xã hội dân sự.

“Trong đó tôi nghĩ vai trò hiện nay, lúc này đang cần là cần có sự đi đầu của những các nhà hoạt động dân sự, chúng tôi gọi là thực tiễn, để lấy thực tiễn buộc thay đổi chính sách và điểm thứ hai nữa là phải có sự vào cuộc của các nhà khoa học.

“Tôi nghĩ rằng đã đến lúc các nhà khoa học phải thể hiện mình, hay nói khác đi phải ‘lột xác’ so với trước. Bởi vì chúng ta thấy rằng trước đây so với bây giờ, thực tiễn bây giờ đòi hỏi các nhà khoa học phải gắn với thực tiễn hơn rất nhiều.

“Và nếu làm được việc đấy, cứ trước hết nhắm vào các vấn đề mà tôi cho rằng, chưa nói gì đến các vấn đề chính trị, thì ít nhất là vấn đề về an sinh xã hội, về vấn đề y tế, giáo dục v.v…, cũng đủ để mà xã hội dân sự, các tổ chức xã hội dân sự thể hiện được tiếng nói của mình.”

‘Không thể đảo ngược’

Nhà xã hội học, Tiến sỹ Lê Bạch Dương, chuyên gia trong lĩnh vực phát triển xã hội, cho hay ông lạc quan về triển vọng của xã hội dân sự ở Việt Nam.

Ông nói với Tọa đàm của BBC: “Tôi khá là lạc quan, tôi nghĩ là xã hội dân sự đương nhiên sẽ tiếp tục phát triển, và điều kiện khách quan ở Việt Nam hiện nay cũng đang mở ra những cơ hội.

“Chẳng hạn Việt Nam hiện nay, đang hội nhập rất mạnh mẽ, tham gia rất nhiều những diễn đàn quốc tế song phương, đa phương, ký kết rất nhiều những công ước v.v…

“Rồi những nguồn thông tin toàn cầu thông qua hệ thống Internet, thông qua những tài liệu thông tin, những giòng di cư dịch chuyển, rồi người dân Việt Nam bây giờ cũng đi du lịch, rồi người nước ngoài vào Việt Nam và sự tham gia của những nhà tài trợ, những tổ chức quốc tế vào Việt Nam.

“Bên cạnh giúp cho Việt Nam phát triển về mặt kinh tế, về mặt thể chế, cũng có rất nhiều những chương trình khuyến khích, thậm chí đặt vấn đề bắt buộc phải có sự tham gia của người dân, tham gia của những tổ chức cộng đồng.

“Và bằng sự tham gia như vậy thì các tổ chức cộng đồng hay những tổ chức phi chính phủ, không những chỉ tiếp cận được với những nguồn thông tin kiến thức mà còn có được những kỹ năng phát triển xã hội dân sự rất tốt.

“Có những mối liên kết vượt ra ngoài biên giới quốc gia, cho nên tôi nghĩ triển vọng đấy là không thể đảo ngược được và xã hội dân sự đang từng bước trưởng thành, tôi nghĩ như vậy. Nói chung là tôi rất lạc quan và đó là quan điểm chung của tôi về triển vọng của xã hội dân sự.”

‘Xu thế tất yếu’

Mặc dù vai trò và triển vọng của xã hội dân sự Việt Nam là như vậy, nhưng theo ông Lê Bạch Dương, định chế này đang gặp một số khó khăn, thách thức nhất định.

Nhà xã hội học nói với Tọa đàm: “Tất nhiên là nó cũng có những khó khăn, chẳng hạn như vấn đề khung pháp lý ở Việt Nam như các anh chị biết chưa có được khung pháp lý tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển tốt.

“Rồi nhận thức xã hội còn có những hạn chế, rồi những vấn đề nguồn lực, nhân lực vẫn còn có những giới hạn, tuy nhiên tôi tin rằng xu thế đó đang ngày càng tích cực hơn.”

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, nói với Tọa đàm từ Nha Trang:

“Tôi cũng đồng ý và thấy lạc quan về tình hình phát triển của xã hội dân sự, bởi vì xã hội dân sự là một trong những điều kiện tiên quyết, tiến trình phát triển của đất nước cần xã hội dân sự.

“Vì vậy, là một trong những người đi đầu, tôi nghĩ dù có khó khăn thì nhất định nó sẽ phải phát triển vì đó là xu thế tất yếu không thể nào thay đổi trong thời điểm hiện tại.”

‘Bảo vệ nhân quyền’

Mới đây tại Hà Nội diễn ra một cuộc Tọa đàm về bảo vệ “người bảo vệ nhân quyền” ở Việt Nam với sự tham gia của đại diện nhiều đoàn ngoại giao, sứ quán nước ngoài.

Được hỏi vì sao vấn đề này được đặt ra và ‘bảo vệ nhân quyền’ có quan hệ gì với xã hội dân sự hay không, hay là nằm ngoài thiết chế này, blogger Nguyễn Tường Thụy, một nhà báo độc lập từ Hà Nội tham dự sự kiện, nói với Tọa đàm của BBC:

“Trước hết là nó không hề nằm ngoài một chút nào cả.

“Bằng chứng là chủ trương của buổi tọa đàm này là mời tất cả các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam tham gia và đã có nhiều tổ chức tham gia.

“Như là ngày hôm qua (26/11), trong buổi tọa đàm ấy có Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị, Hội Nhà báo Độc lập, Hội Anh em Dân chủ, Hội Bầu bí Tương thân, Mạng lưới Bloggers, No-U Sài Gòn, No-U Hà Nội, hay là Hội Phụ nữ Nhân quyền.

“Cho nên điều này, các tổ chức này không có gì độc lập và khác biệt với các tổ chức dân sự của xã hội dân sự Việt Nam hiện nay,” ông Thụy nói.

‘Đương nhiên liên hệ’

Cũng về vấn đề này, nhà xã hội học Lê Bạch Dương bình luận:

“Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh Tường Thụy là không có gì mà có thể nói là nằm ngoài sự quan tâm của xã hội dân sự cả.

“Vấn đề bảo vệ những người ‘bảo vệ nhân quyền’, tôi thấy rằng cái này đương nhiên là một vấn đề mà xã hội dân sự phải quan tâm, và cái nhận thức của xã hội dân sự, của những tổ chức xã hội dân sự, cũng trong thời gian khoảng hơn mười năm nay, đã được nâng lên hơn rất nhiều.

“Rất nhiều tổ chức xã hội dân sự cũng đang làm những vấn đề liên quan đến quyền. Và tôi có thể nói hầu hết các tổ chức cộng đồng hay những tổ chức phi chính phủ hiện nay, không ít thì nhiều, đều đề cập những vấn đề liên quan đến nhân quyền.

“Hoặc là bình đẳng giới, hoặc những vấn đề quyền kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, cho nên việc bảo vệ những người ‘bảo vệ nhân quyền’ thì tôi hình dung, tôi có thể khẳng định luôn nó chính là một trong những cái là mối quan tâm của các tổ chức xã hội dân sự và tất nhiên sự tham gia là ở các quy mô khác nhau.

“Và tôi cũng đồng ý với các ý kiến của các anh chị trước là chúng ta đừng giới hạn xã hội dân sự chỉ ở những tổ chức có đăng ký, mà đây có thể là những mạng Internet hay là những nhóm người dân cùng chia sẻ những mối quan tâm khác nhau.

“Cho nên khi đã trở thành một vấn đề quan tâm chung, thì sự bảo vệ ‘những người đứng ra bảo vệ’ những vấn đề quyền của người dân thì đương nhiên tôi nghĩ nó có mối liên hệ,” Tiến sỹ Lê Bạch Dương nói với Tọa đàm.

‘Một sự dũng cảm’

Blogger Nguyễn Tường Thụy nói với Tọa đàm rằng nhiều tổ chức trong xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong có ‘phép thành lập’, và ông nói thêm ngay chỉ việc lập ra tổ chức ‘đã là một sự dũng cảm’.

Ông giải thích: “Sở dĩ tại sao các tổ chức trong tình trạng xã hội dân sự mới thành lập, hình thành trong vài năm trở lại đây, hiện tới nay khoảng 30 tổ chức, thì tất cả các tổ chức này, không một tổ chức nào được cấp phép thành lập.

“Và họ cho rằng những tổ chức này thành lập là trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, bởi vì (với) các tổ chức này, họ rất sợ danh từ ‘xã hội dân sự’.

“Nói xã hội dân sự là họ cho rằng là cái gì đấy đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, là hoạt động lật đổ, là hoạt động chống phá, chính vì vậy, những tổ chức hoạt động dân sự thành lập ra đã là một sự dũng cảm rồi.

“Và khi thành lập ra phải đối mặt với tất cả những sự nguy hiểm, sự sách nhiễu, phiền toái và họ không được nhà nước, chính quyền và các cơ quan Đảng ủng hộ họ.”

Bình luận về ý kiến tại sao có một số tổ chức được đưa vào trong luật, còn một số khác lại không được, Tiến sỹ Trần Tuấn nói:

“Đất nước Việt Nam hiện nay của chúng ta được xuất phát trên mô hình xã hội chủ nghĩa, và trong mô hình xã hội chủ nghĩa thì Đảng lãnh đạo và các đoàn thể xã hội phục vụ cho triển khai các đường lối của Đảng. Cho nên đó là lý do tại sao được đưa vào.

“Còn chúng ta đang bàn đến vấn đề của Việt Nam hiện nay, trong giai đoạn bước vào để hòa nhập với thế giới, trong toàn cầu hóa, thì chắc chắn sẽ có sự hình thành tổ chức xã hội dân sự. Và quá trình này muốn đưa được vào luật, hoặc để có sự cho chúng ta hiểu được, chắc chắn đòi hỏi chính các tổ chức xã hội dân sự phải thể hiện được mình.

“Để chứng minh được rằng đấy là những hoạt động thiết thực cho sự phát triển của xã hội và bên cạnh đó phải có những bài viết về mặt lý thuyết, những cơ sở để đưa ra”.

‘Đi đầu khó khăn’

Theo ông Tuấn, trong thời gian qua ở Việt Nam đã xuất hiện một số tổ chức thuộc khối xã hội dân sự đem lại những ‘lợi ích cho dân, vì dân và bởi dân’, nhưng theo ông những người đi đầu ‘chắc chắn sẽ gặp những khó khăn’.

Nhà nghiên cứu chính sách phát triển cộng đồng giải thích:

“Bởi chính sự hình thành mà chúng tôi gọi là sự ổn định và kiểu tư duy ‘nhà nước quản lý và Đảng lãnh đạo’ và mô hình cấu trúc xã hội chủ nghĩa trước kia, nó sẽ còn nằm dài trong xã hội một thời gian dài nữa.

“Cho nên sự dị ứng đối với các tổ chức do dân, bởi dân, vì dân lập ra phục vụ cho các hoạt động của dân nó sẽ tồn tại một thời gian.

“Và những người đi tiên phong chắc chắn gặp những trở ngại.

“Tôi nghĩ rằng, bên cạnh đó, các nhà khoa học phải đóng một vai trò trong quá trình này, bởi vì chỉ có thể bằng các bài viết, bài phân tích để gợi mở, đi song song với các hoạt động thực tế mới có thể giúp cho người ta, tôi tạm gọi là ‘ngộ ra’ vấn đề này.

“Và thời gian ngộ ra lâu hay chóng là nó phụ thuộc vào sự quyết tâm của chúng ta đến đâu.”

‘Tiến bộ số lượng’

Từ Hà Nội, Luật sư Lê Thị Công Nhân bình luận với Tọa đàm về sự tiến bộ trong phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay.

Nữ luật sư nói: “Thứ nhất có một sự tiến bộ về mặt số lượng, khoảng hai năm gần đây chúng ta thấy nở rộ lên các tổ chức tự do người dân thành lập về những mục đích khác nhau, ví dụ như mục đích giúp đỡ trẻ em nghèo về vấn đề học hành ở miền núi, hoặc là giúp đỡ về vấn đề từ thiện trong các bệnh viện, hoặc giúp đỡ thăm nuôi những tù nhân lương tâm như là Hội Bầu bí Tương thân mà tôi tham gia đồng sáng lập v.v…

“Thì rất nhiều những tổ chức chúng ta thấy là họ tự công bố thành lập, và khi tôi đọc luật quốc tế, tôi thấy rằng việc tự công bố cũng là một yếu tố thể hiện ý chí của những cá nhân thành lập đó, một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhất và tạo nên giá trị của hội, nhóm đó.

“Ở những nước văn minh phát triển như ở bên Úc, bên Mỹ chẳng hạn, các hội nhóm này có thể đăng ký ở những ủy ban dân chính tùy vào từng đất nước, giống như ở Việt Nam là cơ quan nội vụ, sở nội vụ, có thể không cần phải đăng ký, nhưng trong quá trình hoạt động của họ, họ phải tuân thủ những gì mà họ thỏa thuận với nhau trước đó và họ không được vi phạm các quy định của pháp luật.

“Và không làm tổn hại đến những giá trị mà ngay cả quy định pháp luật chưa quy định, tức là tính tự giác của họ cực kỳ cao. Và khi nhìn lại hai năm gần đây ở Việt Nam, tôi thấy rằng sự phát triển như vậy rất là đáng mừng về mặt số lượng.

“Còn về mặt chất lượng, tôi không cảm thấy có quá nhiều bi quan, mặc dù nó chưa được như chúng tôi mong đợi,” Luật sư nêu nhận xét với BBC.

Tin liên quan

  • Thách thức với xã hội dân sự VN
    27 tháng 11 2014
  • Tọa đàm về người bảo vệ nhân quyền ở VN
    26 tháng 11 2014
  • Ý nghĩa của Diễn đàn Xã hội Dân sự
    23 tháng 9 2013
  • Làn gió mới lướt qua Xã hội dân sự VN
    10 tháng 7 2014
  • Các tổ chức dân sự VN: Tốt hay xấu?
    15 tháng 9 2014
  • Điếu Cày nhận giải thưởng tự do báo chí
    27 tháng 11 2014

 

Thế giới 24h: TQ “sờ gáy” quan lớn Quảng Đông

29 Th11

 

 

– TQ điều tra quan chức cấp cao Quảng Đông, Giáo hoàng thăm Thổ Nhĩ Kỳ, Nga phản ứng trước các lệnh trừng phạt phương Tây, cơn cuồng mua sắm ngày Thứ Sáu đen…Đó là những tin nóng 24h qua.

Triều Tiên,Ukraina, thế giới 24h, Hong Kong, Nga
Ông Đông Chu Minh Quốc.

Tin nổi bật

Một quan chức cấp cao tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, đã bị điều tra vì tình nghi “vi phạm nguyên tắc và pháp luật nghiêm trọng”.

Hãng Tân Hoa xã dẫn thông cáo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cho biết, ông Chu Minh Quốc, 57 tuổi, là Chủ tịch Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân tỉnh Quảng Đông.

Ông Chu từng giữ chức phó Chủ tịch Hải Nam đồng thời là Bí thư Ủy ban chính trị pháp luật tỉnh Hải Nam trong giai đoạn từ 1998 – 2001.

Năm 2001, ông này giữ chức Giám đốc Công an Trùng Khánh.

Từ năm 2006, ông Chu lãnh đạo cơ quan kiểm tra đảng tại Quảng Đông, phó bí thư Quảng Đông và bí thư Ủy ban chính trị pháp luật Quảng Đông.

Tháng 1/2013, ông Chu được bổ nhiệm giữ chức cố vấn chính trị cao cấp của tỉnh Quảng Đông.

Tin vắn

– Giáo hoàng Francis dự kiến sẽ có chuyến thăm lịch sử tới Thổ Nhĩ Kỳ nhằm nâng cao niềm tin giữa các tôn giáo tại quốc gia này.

– Tổng thống Pháp Francois Hollande sẽ có chuyến thăm tới Guinea. Đây được coi là chuyến thăm đầu tiên của một lãnh đạo phương Tây tới quốc gia đang bị đại dịch Ebola hoành hành.

– Thứ trưởng Ngoại giao Nga Alexei Meshkov cho biết, Nga coi khả năng Ukraina gia nhập NATO là một mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu.

– Bộ trưởng Thông tin Syria Omran al-Zoubi đã lên tiếng chỉ trích tuyên bố của Mỹ cáo buộc các đợt không kích của Syria ở tỉnh al-Raqqa là ‘những cáo buộc vô căn cứ”.

– Theo Bộ trưởng Giao thông Nga Maxim Sokolov, Nga sẽ xây dựng các tuyến đường sắt mới vòng qua Ukraina.

– Liên minh châu Âu (EU) và Ukraina đã ký thỏa thuận hỗ trợ cho Kiev 55 triệu euro (68,66 triệu USD) nhằm cải cách chính sách khu vực.

– THX đưa tin, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCDI) ngày 28/11 cho biết Chu Minh Quốc, cố vấn chính trị cấp cao của tỉnh Quảng Đông, hiện đang bị điều tra về những cáo buộc “vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng.”

 

– Phát ngôn viên của Hội đồng An ninh Hà Lan Sarah Vernoy ngày 28/11 cho biết công việc điều tra tại hiện trường vụ tai nạn máy bay MH17 của Hãng hàng không Malaysia Airlines rơi tại miền Đông Ukraine hồi tháng Bảy vừa qua đã hoàn tất.

Tin ảnh

Triều Tiên,Ukraina, thế giới 24h, Hong Kong, Nga

Một trận bão tuyết gây hỗn loạn giao thông khắp miền đông bắc Mỹ đẩy hàng nghìn người vào cảnh mất điện đúng dịp lễ Tạ ơn.

XEM CHÙM ẢNH

Clip

 

Những pha “hỗn chiến” kinh hoàng ngày “Thứ Sáu Đen”

Black Friday – Thứ Sáu Đen – hàng năm là một “ngày vàng mua sắm” của người dân Mỹ với hàng chục nghìn mặt hàng được giảm giá, tạo nên một “cơn lốc” shopping.

Phát ngôn

“Thực tế nhiều lần chứng minh, các lệnh trừng phạt đơn phương chống lại chúng tôi đều phi pháp, gây phương hại đến sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu và chẳng dính dáng gì đến sứ mệnh giải quyết cuộc khủng hoảng ở Ukraina”, Ngoại trưởng Nga Lavrov phát biểu hôm 28/11 tại Moscow.

Kỷ niệm

Ngày 29/11:

1899 – Một người Thụy Sĩ là Joan Gamper thành lập nên FC Barcelona, nay là một trong những câu lạc bộ thành công nhất của bóng đá Tây Ban Nha.

1945 – Quốc hội lập hiến của Nam Tư chính thức bãi bỏ chế độ quân chủ và tuyên bố nhà nước là một cộng hòa.

Hồng Hà

 

 

Diễn đàn tranh luận: Quân đội có cần phi chính trị hóa? – VNTB

29 Th11

 

VNTB : Sau báo Quân Đội Nhân Dân, đến lượt TTXVN lên tiếng “bác bỏ những luận điệu sai trái&quo…

 
VNTB: Sau báo Quân Đội Nhân Dân, đến lượt TTXVN lên tiếng “bác bỏ những luận điệu sai trái” và một lần nữa mở chiến dịch công kích “Diễn biến hòa bình”. ‘Diễn biến hòa bình” cũng vì thế có nguy cơ bị đưa trở lại “công cụ của các thế lực thù địch” như thời điểm năm 2012, bất chấp xu thế hội nhập quốc tế và tình cảnh “hướng ngoại tìm đường cứu nước” của nhiều quan chức cấp cao. 
Ở chiều kích ngược lại, từ đầu năm 2013 đến nay nhóm Kiến nghị 72 và một số tướng lĩnh quân đội về hưu, cách mạng lão thành và trí thức đã bức thiết đòi hỏi về sự cần kíp phải chuyển đổi quan điểm “Quân đội trung thành với Đảng” sang “”Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân”.
Rất nhiều ý kiến đã gióng lên mối nguy hiểm về tương lai quân đội chỉ phục vụ cho những nhóm lợi ích chính trị và cả lợi ích kinh tế. Hiện tượng một số đơn vị bộ đội bị điều động tham gia và những chiến dịch cưỡng chế đất đai đối với dân oan và chống biểu tình chính đáng của người dân chịu rủi ro an sinh là điển hình về hành vi từ lạm dụng đến lợi dụng quân đội. 
Không khí tranh luận cũng bởi thế đang dần hình thành một diễn đàn đa chiều, bổ ích và quyết liệt trong đời sống chính trị người Việt Nam. 
VNTB xin giới thiệu bài “Thực chất quan điểm đòi “Phi chính trị hóa quân đội”” trên Vietnamplus, TTXVN để bạn đọc tham khảo, hầu mong dân chủ hóa hoạt động thảo luận, tranh luận trên các phương tiện thông tin đại chúng để định hình rõ hơn vai trò quân đội trong lòng Dân tộc.

————————–

Thực chất quan điểm đòi “Phi chính trị hóa Quân đội”

(TTXVN/VIETNAM+) 
(Ảnh minh họa: Trọng Đức/TTXVN)

Nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ráo riết tuyên truyền quan điểm “cần phải phi chính trị hóa Quân đội.”

Vạch trần sự vô lý của quan điểm này có ý nghĩa rất thiết thực cả về tư tưởng và tổ chức trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.”

Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài viết về vấn đề này của phó giáo sư-tiến sỹ Nguyễn Ngọc Hồi, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân với chủ đề: “Phi chính trị hóa Quân đội” – Một đòi hỏi vô lý.

Bài 1: Thực chất quan điểm đòi “Phi chính trị hóa Quân đội”

1. Xuất xứ và các phiên bản khác nhau

“Phi chính trị hóa Quân đội” là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng, để hạn chế quân đội “can dự” vào những tranh giành chính trị của các đảng phái. Ngay từ năm 1905, V.I. Lenin đã chỉ rõ: “… những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị… là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào.” (1)

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, khi thấy rằng phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp gây chiến tranh xâm lược không hiệu quả, chủ nghĩa đế quốc đã đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình.”

Một trong các thủ đoạn mà chúng sử dụng là đưa khẩu hiệu “quân đội phải duy trì tính trung lập về chính trị” vào các nước xã hội chủ nghĩa; nơi chỉ có một đảng (Đảng Cộng sản) lãnh đạo, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang cách mạng; mà thực chất là nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vô hiệu hóa vai trò của quân đội là công cụ bạo lực của Đảng, Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thủ đoạn này đã được chúng áp dụng thành công ở Liên Xô trước đây; khi những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã tự rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Marx-Lenin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, như tự xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho Quân đội Liên Xô bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa.

Chỉ trong khoảng hai năm 1987-1989, gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân; hơn 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến lược – chiến dịch bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ.”

Tháng 3/1990, Đại hội đại biểu bất thường lần thứ ba Đảng Cộng sản Liên Xô đã chấp nhận từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội ở Điều 6 trong Hiến pháp Liên bang Xô Viết; chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Ngày 20/7/1991, sau khi đắc cử Tổng thống Liên bang Nga, B.Yeltsin đã ban bố sắc lệnh “phi đảng hóa” và tuyên bố cấm các chính đảng hoạt động trong cơ quan nhà nước các cấp (bao gồm cả trong các lực lượng vũ trang).

Ngày 23/8/1991, trước ngày Mikhail Sergeyevich Gorbachyov tự ý tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Sapôxnicốp đã tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng. Tất cả những hành vi đó đều nhằm thực hiện “phi chính trị hóa,” làm cho Quân đội Liên Xô mất phương hướng chính trị, mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mặc dù, Quân đội này vẫn còn 3,9 triệu quân thường trực với trang bị rất hiện đại. Đó là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự tan rã của Liên bang Xô Viết vào cuối năm 1991.

Đối với nước Việt Nam, từ nhận định rằng, hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm chắc Quân đội, Công an, nên chưa thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; chưa thể xóa bỏ được chế độ xã hội chủ nghĩa, nên các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam ráo riết thực hiện chiêu bài “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị.” Họ hy vọng rằng, một khi lực lượng vũ trang đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, đội ngũ cán bộ quân đội đã dao động, mất phương hướng chính trị, họ sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng”(!).

Năm 2013, lợi dụng việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức xin ý kiến nhân dân vào bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, các thế lực chống phá con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội xem đây là thời cơ để công khai đòi hỏi “phi chính trị hóa” quân đội. Họ đưa ra nhiều luận điểm, như “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị,” “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào,” mà áp dụng cụ thể vào Việt Nam là “không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”…

Đáng tiếc rằng, không ít người đã vào hùa với chúng, mà không tỉnh táo tự vấn mình rằng: tại sao những đề xuất về “phi chính trị hóa quân đội” lại được VOA, BBC, RFA, RFI… cùng những kẻ phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng ở hải ngoại tung hô, cổ vũ nhiệt thành đến vậy (?). Khi bị chỉ trích những đề xuất đó là biểu hiện của sự “suy thoái về tư tưởng chính trị,” những người cổ súy cho tư tưởng này vội “lấp liếm” rằng “chúng tôi chỉ yêu cầu lực lượng vũ trang trung lập về chính trị, chứ đâu có đòi phi chính trị hóa quân đội”(?).

Sự ngụy biện đó không đánh lừa được công luận; bởi xét về bản chất, yêu cầu “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị” chỉ là một phiên bản của quan điểm đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang.” Nói đến “trung lập về chính trị,” nghĩa là “đứng giữa các lực lượng chính trị,” “đứng ngoài chính trị,” “không can dự vào chính trị”…; trong khi đó, Quân đội Nhân dân Việt Nam đang được xây dựng theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,” lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nền tảng để xây dựng vững mạnh toàn diện.

Hơn nữa, bản thân Quân đội Nhân dân Việt Nam đang là lực lượng chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng Cộng sản Việt Nam, tức là đang “không đứng ngoài chính trị;” đòi hỏi “Lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị” thực chất là đòi “phi chính trị hóa” Quân đội Nhân dân Việt Nam.

2. Các biện pháp thâm hiểm

Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch sử dụng mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.

Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước, nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào; hoặc hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc, nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào…

Nghe thoáng qua, không ít người ngộ nhận sự có lý của lập luận này, mà không hiểu rằng: đây là thủ đoạn nhằm chuyển lập trường chính trị của lực lượng vũ trang cách mạng sang lập trường của bọn cơ hội chính trị, của giai cấp tư sản.

Trong hành động thực tiễn, những người cổ súy cho tư tưởng “phi chính trị hóa quân đội” đòi “quân đội phải trung lập về chính trị,” tức là một khi có biến động chính trị, quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào.

Đối với những nước đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa, chỉ có một Đảng Cộng sản lãnh đạo như Việt Nam, họ đòi xóa bỏ nguyên tắc “Đảng Cộng sản lãnh đạo lực lượng vũ trang;” hạ thấp, đi đến đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cùng hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị (nhất là chế độ chính ủy, chính trị viên) trong quân đội – một trong những yếu tố riêng có của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, nhằm đảm bảo cho Đảng Cộng sản giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội.

Họ xuyên tạc các sự kiện chính trị trong lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài đơn vị quân đội và một bộ phận quân nhân trong quá trình làm nhiệm vụ; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang… hòng qua đây, làm cho quân đội mất uy tín trong nhân dân, hạ thấp vị thế của quân đội trong xã hội…; đồng thời từ đó mà vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng.

Đối với Việt Nam, để thực hiện mục tiêu nhất quán là xóa bỏ thành quả cách mạng và lái con đường phát triển của đất nước sang quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh các chiến dịch vận động đòi thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và logic tất yếu của tiến trình đó, nếu được thực hiện, sẽ là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội Nhân dân.

Họ công khai đòi bỏ quy định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; “bỏ quy định lực lượng vũ trang nhân dân phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lợi dụng tình cảm của nhân dân Việt Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, họ cố tình lờ đi hoàn cảnh lịch sử của sự kiện ngày 26/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Trường Võ bị Lục quân Trần Quốc Tuấn lá cờ “Trung với nước, hiếu với dân,” để xuyên tạc tư tưởng nhất quán của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, bằng lý lẽ rằng: Cụ Hồ chưa bao giờ yêu cầu quân đội phải trung thành với Đảng cả (!).

Mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn./.

Bài 2: Sự vô lý của quan điểm đòi “phi chính trị hóa quân đội”

Chú thích: (1). V.I. Lenin, Toàn tập, Tập 12, Nhà xuất bản Tiến bộ, 1979, trang 136.

Theo Vietnamplus
 
 

Related

Tháng 2/2015: “Deadline nhân quyền” cho Việt Nam vào TPP?

VNTB: Vừa xuất hiện thông tin về hạn chót để kết thúc chuỗi đàm phán TPP đã kéo dài quá lâu – 2/2015, theo đề xuất của Đại diện thương mại Mỹ Michael Froman. Như vậy, cánh cửa TPP dành cho Nhà nư…

Văn nghệ thời nay: Từ hiện thực bắt bớ đến tì thiếp cung đình

Nam Giang* Tác giả gửi bài cho VNTB Tranh “Chân dung nhà thơ Hoàng Cầm” của họa sỹ Bùi Quang Ánh.“Tất cả mọi nghệ thuật đều phục vụ cho một nghệ thuật vĩ đại nhất là nghệ thuật sống trên Trái Đất” (Be…

Công an và nạn kiêu binh

Ngân Giang* Tác giả gửi bài cho VNTBNhà báo tự do Trương Minh Đức bị đánh đập, cướp bóc tài sản vào tối ngày 2/11/2014, bởi một nhóm người bị anh nhận ra là công an, tại khu vực Ngã 3 Suối Giữa (quốc …

 

Bắc Kinh công bố kế hoạch khai thác dầu tại Biển Đông – RFI

29 Th11

 

mediaTrung Quốc thông báo chương trình phát triển 9 mỏ dầu tại Biển Đông và biển Bột Hải – Reuters
 

Theo nhật báo mạng Đài Loan Want China Times, hôm nay, 28/11/2014, Văn phòng Chính phủ Trung Quốc thông báo chương trình phát triển 9 mỏ dầu tại Biển Đông và biển Bột Hải nhằm bảo đảm nguồn năng lượng trong nước. Báo Đài Loan dự đoán, kế hoạch này « chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc xung đột với các nước láng giềng ».

Dẫn lại tin thông tin từ tờ nhật báo thương mại Hồng Kông, Want China Times nhấn mạnh đây là lần đầu tiên Văn phòng Quốc vụ viện Hoa lục – tức Chính phủ Trung Quốc – công bố một kế hoạch khai thác dầu lớn tại Biển Đông, với dự kiến 10.000 tấn dầu/năm trong vòng 6 năm (2014-2020).

Cho đến nay, Trung Quốc đã khai thác dầu tại nhiều khu vực ven bờ với diện tích tổng diện tích khoảng 160.000 km² tại Biển Đông, vùng biển có diện tích hơn 3 triệu km². Với sự phát triển của các phương tiện công nghệ cho phép khoan dầu tại biển sâu và áp lực của nền kinh tế khát năng lượng, Trung Quốc đang có kế hoạch phát triển các giàn khoan ngoài khơi xa.

Cách nay hơn hai năm, ngày 23/06/2012, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã loan báo mời nước ngoài đầu thầu thăm dò 9 lô dầu khí ở khu vực mà họ xác định là « vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc » ở Biển Đông. Các lô dầu này nằm sát bờ biển miền Trung và miền Nam của Việt Nam.

Xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam lên đến đỉnh điểm với sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan nước sâu HD-981 vào vùng biển nằm trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc đã bị nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, lên án. Giàn khoan nói trên đã rút ra khỏi vùng biển này vào giữa tháng 7/2014.

Theo Reuters cũng hồi tháng 07/2014, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc tuyên bố đang nghiên cứu khả năng xây dựng một nhà máy khí hóa lỏng nổi trị giá hàng tỷ đô la để khai thác khí đốt ở vùng nước sâu của Biển Đông.

Biển Đông là khu vực được cho là có trữ lượng lớn về dầu khí. Theo nhật báo kinh tế Pháp Les Echos, một số ước tính, đặc biệt của các công ty dầu khí và bộ ngành Trung Quốc, đưa ra các con số khổng lồ, từ 17 đến 50 tỷ tấn. Tuy nhiên, theo nhiều ước đoán từ phía Hoa Kỳ, thì trữ lượng dầu Biển Đông chỉ ở mức khoảng 1,5 tỷ tấn.

Trữ lượng này là không nhỏ, nhưng chỉ tương đương với nhu cầu dầu mỏ hiện tại của Trung Quốc trong vòng ba năm. Báo Want China Times, trong bài viết nói trên, nêu ra con số 5,22 tỷ tấn dầu có thể khai thác được tại Biển Đông, con số gần với kết quả điều tra năm 1966 của Ủy ban Kinh tế Liên Hiệp Quốc về Châu Á.

 

 

Hàng chục ngàn giáo sư, tiến sĩ Việt… đang làm gì?

29 Th11

 

Cái quan trọng nhất không phải chúng ta không muốn sử dụng nhân tài mà là chúng ta không có khả năng sử dụng họ.

>>Khoa học nước nhà đã đạt ‘cảnh giới’ siêu thực?

>> Tiến sĩ lái gỗ và trò chơi “đánh trận giả”

>> ‘Tiến sĩ Việt’ bao giờ thành ‘hộ chiếu quốc tế’?

>> Sao lại ‘đày ải’ tiến sĩ, giáo sư làm… sếp

Tôi có một người bạn lấy bằng Tiến Sĩ tại một trường ĐH có tên tuổi ở xứ Cờ Hoa. Khi về nước anh chỉ có một ước mơ rất đơn giản – làm việc và sống được bằng nghiên cứu khoa học! Khi đó anh rất tự tin vào những gì mình đã học được có thể đóng góp và tạo ra những thay đổi tích cực cho khoa học nước nhà.

Sau hơn một năm bắt tay vào thực hiện các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước, bên tách cafe đắng, anh chia sẻ: “Tôi thấy người nước mình thực sự không trọng dân trí thức.”.

Dù đã có ít nhiều trải nghiệm thực tế, nhưng câu nói của một người bạn có bằng TS lúc đó làm tôi có phần cảm thấy chua xót. Đồng ý rằng các ngành khoa học của chúng ta sinh sau, đẻ muộn và không nhất thiết phải bắt đầu từ con số 0. Thế nhưng, kể cả muốn đi trước đón đầu, chúng ta cũng cần phải học để biết cần đón ở đâu và đi đến đâu. Một khi nền tảng khoa học không có thì mọi thứ chúng ta tiếp thu và ứng dụng được chỉ đều là phần nổi, phần ngọn và cũng chính vì vậy mà đất nước luôn tụt lại phía sau và mãi mãi chạy theo người khác.

Khi nhìn lại các sự kiện gần đây, tôi mới thấm thía những điều mà anh bạn tôi bộc bạch. Ngân sách hàng năm dành cho nghiên cứu khoa học vốn đã rất khiêm tốn (chỉ chiếm 0,5% GDP) nhưng luôn bị cắt xén và thất thoát tại mỗi cấp. Nếu muốn được duyệt một đề tài nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước thì chi phí lobby đôi lúc lên đến vài chục phần trăm ngân sách đề tài. Công sức bỏ ra để hợp thức hóa số tiền bị cắt xén này hầu như chiếm gần hết thời gian của đơn vị nghiên cứu, khiến cho các sản phẩm đầu ra đều không đáng tin cậy hoặc ở dạng nửa vời.

Thật đáng buồn khi nhiều nhà nghiên cứu bỗng nhiên trở thành những nhà “chạy dự án” chuyên nghiệp. Việc xem các đề tại Nhà nước như là một chiếc bánh cho nhiều cá nhân và đơn vị để cải thiện thu nhập khiến cho đất nước ta luôn vắng bóng những công trình tầm cỡ. Sự thiếu hụt các cơ chế giám sát, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong nghiên cứu khoa học được xem như nguyên nhân chính khiến cho phần lớn các kết quả đề tài không có tính ứng dụng trong thực tiễn nhưng vẫn được phê duyệt và nằm yên, bám bụi trên các giá sách vốn đã rất bụi tại các cơ quan nhà nước. Dù có thế nào thì cũng không ai phải chịu trách nhiệm.

 

Những người làm khoa học không chuyên thì sao? Sự cứng nhắc, rập khuôn và giáo điều của các cơ quan chức năng cộng với tính sính ngoại và tự coi thường khả năng, trí tuệ của chính người nhà mình đã khiến cho bao nhiêu nông dân và kể cả doanh nhân phải ngửa mặt kêu Trời.

Sự kiện hai cha con ông Hải phải tìm đường sang Campuchia để thỏa mãn khát vọng được cống hiến cho khoa học liệu có khiến cho những người có trách nhiệm thấy chua xót ít nhiều? Hay phải chăng sức ép dư luận trong những ngày qua cũng chỉ là một vài hòn đá ném xuống cái ao bèo, để rồi nhanh chóng bị những cánh bèo dày đặc kia khỏa lấp?

Khoa học, chuyên môn, nghiên cứu, tiến sĩ, giáo sư, nhân tài, nguyên khí quốc gia, chạy dự án, Trần Quốc Hải, Đại tướng quân Hai lúa

Con số khoảng 9.000 GS, PGS tại nước ta đang làm gì và được dùng vào việc gì?

Theo số liệu thống kê, trên tổng số hơn 90 triệu dân hiện thời, VN có tới hơn 100 nghìn người có bằng Thạc sĩ (trình độ được xem là nghiên cứu viên) và hơn 25 nghìn người có bằng Tiến sĩ. Những con số ấn tượng này khiến tôi nghi ngờ nhận định của anh bạn mình khi cho rằng “Trí thức Việt không được trọng dụng và chỉ dùng để trang trí mà thôi!” Nếu thực sự chỉ dùng để trang trí thì quả thực đất nước ta có thể xếp vào loại xa xỉ nhất thế giới khi sử dụng một nguồn lực khổng lồ như vậy chỉ để mà chơi và trang hoàng cho đẹp mắt.

Vậy nếu không chỉ để mà chơi hay cho vui mắt thì tại sao trung bình hàng năm Việt Nam có số lượng ấn phẩm khoa học được duyệt và đăng trên các tạp chí khoa học Quốc tế chỉ bằng 1/5 của Thái Lan và 1/10 của Singapore. Riêng trên tạp chí Nature, thì trong mười năm qua chúng ta chỉ có 5 ấn phẩm khoa học trong nước được đăng trên tạp chí hàng đầu thế giới này. Đồng ý rằng, dân ta có nhiều người học TS chỉ để cho oai, vậy con số khoảng 9.000 GS, PGS với phân nửa số lượng TS đang là giảng viên ĐH hay nghiên cứu viên tại nước ta đang làm gì và được dùng vào việc gì? Hay lại là để cho đẹp đội hình?

Thời Hoàng Đế Lê Thánh Tông, nước Đại Việt của chúng ta có thể được xem là hùng cường bậc nhất trong lịch sử Phong kiến. Có lẽ ý thức được nguyên tắc “hiền tài là nguyên khí Quốc gia” nên nhà Vua đã tạo dựng được một triều đại huy hoàng đến vậy. Tuy đời sau ít nhiều thấm nhuần tư tưởng này nhưng chưa ai làm được những gì mà “Vị Hoàng Đế mở cõi” này đã làm. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng theo tôi cũng giống như ngày nay, cái quan trọng nhất không phải chúng ta không muốn sử dụng nhân tài mà là chúng ta không có khả năng sử dụng họ.

Chúng ta hiện vẫn còn thiếu rất nhiều thứ để có được một nền khoa học tiên tiến. Cơ sở hạ tầng phục vụ nghiên cứu, thiết bị và kể cả ngân sách rồi cũng có thể có được. Cái quan trong hơn, cấp thiết hơn lúc này chính là cần phải xác định được mình thực sự mong đợi gì? Muốn làm gì và cần ưu tiên cái gì? Chỉ đến khi những người có trách nhiệm thấu hiểu được khoa học chính là con đường then chốt để thay đổi vị thế đất nước, rằng đất nước ta không thiếu vắng nhân tài và rằng phải có tinh thần cầu thị, dám chịu trách nhiệm, đức tính bao dung, không đố kị cùng một tấm lòng vì đại cục, thì ngày đó đất nước ta sẽ có thể cất cánh bay cao.

Hơn hết, dụng nhân như dụng mộc, hãy trả mọi người về đúng vai trò của họ, nơi họ có thể sống, làm việc và cống hiến theo đúng khả năng của mình. Hãy tạo dựng một môi trường phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của mỗi công dân và sẵn sàng lắng nghe cũng như hành động, nhằm khích lệ kịp thời, giúp tập hợp nguồn “nguyên khí Quốc gia” cho phát triển đất nước. Khi đó nhiều cái tử tế sẽ theo về và tách cafe mỗi lần tôi uống với anh bạn Tiến sĩ kia cũng sẽ đậm, ngọt hơn.

Trần Văn Tuấn

 

Thế giới 24h: Đâm chém kinh hoàng chấn động TQ

28 Th11

 

– Chém giết điên cuồng gây chấn động ở Trung Quốc, thỏa thuận tại ngoại của lãnh đạo sinh viên biểu tình Hong Kong…là các tin đáng chú ý 24h qua.

Nổi bật

Chín người đã được đưa tới bệnh viện sau khi một nhóm người cầm dao đâm chém điên cuồng vào nhân viên và khách tại một siêu thị ở nam Trung Quốc lúc 3h chiều hôm 27/11, nhật báo Thượng Hải đưa tin.

Đây là vụ chém giết hàng loạt bằng dao mới nhất trong chuỗi những vụ tấn công làm chấn động nước này. Viên quản lý siêu thị cho hay, các nhân viên an ninh đã bắt được một trong những kẻ tấn công và giao cho cảnh sát.

đâm chém, Trung Quốc, mạng xã hội, tay súng, Nga, Thái Lan, Ấn Độ, Enrico Fermi

Kẻ tấn công bị tóm là một thanh niên trong độ tuổi 20, họ là Zhou. Đối tượng này đã tấn công một số người ngay ở cửa vào siêu thị Hualian ở Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, Tân Hoa xã cho biết.

Hai trong số các nạn nhân bị thương nặng. Nhà chức trách hiện đang điều tra vụ việc song không nêu thêm chi tiết.

Các bức ảnh lưu truyền trên mạng xã hội Trung Quốc cho thấy một số nạn nhân nằm bên ngoài siêu thị, mặt đất có các vệt máu và một thanh niên bị trói quặt tay ra sau và bị cảnh sát dẫn đi.

Các vụ phạm tội bạo lực ở Trung Quốc là khá hiếm so với những quốc gia khác. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, hàng loạt vụ tấn công bằng dao đã xảy ra.

Cho tới giờ, người Trung Quốc vẫn chưa hết kinh hãi về vụ đâm chém điên cuồng tại một nhà ga ở thành phố Côn Minh làm 29 người chết và 140 người bị thương.

Tin vắn

– Các tay súng mặc đồng phục quân đội đã tấn công một căn cứ quân sự của Ấn Độ ở gần biên giới với Pakistan, làm 10 người thiệt mạng. Đây là vụ bạo lực tồi tệ nhất tại vùng tranh chấp Kashmir trong hơn một năm qua

– Tổng tuyển cử Thái Lan, theo kế hoạch diễn ra vào năm sau, sẽ bị trì hoãn tới 2016, một phó thủ tướng nước này cho hay.

– Nhật đang cân nhắc thành lập một cơ quan tài chính được chính phủ hậu thuẫn để xuất khẩu vũ khí. Động thái này sẽ đẩy nhanh kế hoạch xa rời quá khứ theo chủ nghĩa hòa bình của Nhật và củng cố quan hệ an ninh khu vực của Tokyo khi sức mạnh quân sự của Trung Quốc gia tăng.

– Thủ tướng Malaysia Najib Razak đã ủng hộ một luật bảo vệ tính thiêng liêng của đạo Hồi và các nhà cầm quyền truyền thống của nước này – các sultan, khi bắt đầu loại bỏ một luật cấm chỉ trích chính phủ.

 

– Một kẻ đánh bom liều chết đã tấn công một chiếc xe của đại sứ quán Anh ở thủ đô của Afghanistan, làm ít nhất 3 người chết và khiến nhiều người qua đường bị thương.

– Lãnh đạo của các sinh viên Hong Kong là Joshua Wong bị cấm có mặt tại khu vực Mong Kok như một điều kiện để được tại ngoại sau khi người này bị bắt trong cuộc đụng độ với cảnh sát khi lực lượng an ninh dọn một trong những điểm biểu tình lớn nhất.

– Giới chức Kiev đã dừng hoạt động các máy rút tiền ở đông Ukraina và các đơn vị kinh doanh cũng ngừng chấp nhận thẻ tín dụng, dân địa phương và nhân viên ngân hàng cho hay.

– Một cuộc tổng đình công trên toàn quốc để phản đối các biện pháp thắt lưng buộc bụng đang diễn ra đã làm các ngành dịch vụ ở Hy Lạp ngừng hoạt động, các chuyến bay không cất cánh, phà không hoạt động và trường học đóng cửa, bệnh viện chỉ còn các nhân viên trực cấp cứu.

– Một phóng viên người Nhật tuyên bố không làm gì sai trái bất chấp các cáo buộc phỉ báng Tổng thống Hàn Quốc khi đưa tin đồn rằng người đứng đầu chính phủ ở Seoul vắng mặt 7h trong thảm họa phà chìm hồi tháng 7 vì đang ở bên một người đàn ông.

– Một quan chức hàng đầu của công ty sản xuất rượu Mao Đài thuộc quản nhà nước, hiện bị điều tra vì những vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, cơ quan chống tham nhũng của đảng cầm quyền Trung Quốc cho hay.

Tin ảnh

đâm chém, Trung Quốc, mạng xã hội, tay súng, Nga, Thái Lan, Ấn Độ, Enrico Fermi
Cây thông Giáng sinh được dựng lên bên ngoài Nhà thờ Đức bà Paris, Pháp (Ảnh Xinhua)
Phát ngôn 
“Nga lên án việc dùng các nhóm cực đoan nhằm thay đổi chế độ ở Syria”, Ngoại trưởng Nga Lavrov tuyên bố tại một cuộc họp báo ở Sochi sau khi gặp người đồng nhiệm Syria Walid Muallem.

Sự kiện

Ngày 28/11/1954, nhà vật lý đoạt giải Nobel là Enrico Fermi qua đời ở Chicago ở tuổi 53. Ông Fermi là người đầu tiên tạo ra và kiểm soát chuỗi phản ứng hạt nhân, đồng thời là một trong các nhà khoa học của dự án Manhattan

Hoài Linh

 

Việt Nam Cộng Hòa và dòng họ Ngô-Đình – BS

28 Th11

 

Posted by adminbasam on 27/11/2014

  Trọng Đạt  

27-11-2014

Lời Giới Thiệu- Tôi mới nhận được sách do người bạn gửi tặng, cuốn La République du Việt Nam et les Ngô Đình bằng tiếng Pháp của tác giả Ngô-Đình Quỳnh, Ngô-Đình Lệ Quyên (2012), nhà xuất bản L’Harmattan, in năm 2013, dầy 246 trang. Phần sau có in thêm hồi ký hậu tử của bà Ngô Đình Nhu (suivi des Memoires posthumes de Madame Ngô Đình Nhu) xuất bản sau khi tác giả đã qua đời.

     Phần chính nói về Việt Nam Cộng Hòa và gia đình họ Ngô dài trên 60 trang, khoảng 30 trang gồm hình ảnh gia đình và cuối cùng phần phụ: hồi ký của bà Ngô Đình Nhu dài 120 trang.

    Tôi xin lược dịch phần chính của cuốn sách do hai tác giả Ngô-Đình Quỳnh và Ngô-Đình Lệ Quyên biên soạn, tác phẩm gồm 4 chương diễn tả lại những sự kiện lịch sử nay đã vang bóng một thời.

    Các danh từ, địa danh tiếng Việt đều được viết có dấu, văn tiếng ngoại quốc có phần khó hiểu, tôi chỉ lược dịch những ý tưởng chính. 

                                                                             TĐ

    Chương 1- Dòng họ Ngô-Đình

    Họ Ngô-Đình thuộc dòng dõi Ngô Quyền, vị Hoàng đề đầu tiên của Việt nam. Ở thế kỷ thứ nhất vào năm 939, sau nhiều cuộc chiến chống xâm lược, Ngô Quyền đã dựng lên triều đại Việt Nam đầu tiên.

    (Có lẽ tác giả nhầm, chắc là thế kỷ thứ 9, nguyên văn Au 1er siècle, en 939, TĐ).

     Thế kỷ thứ 14, thời nhà Trần, họ Ngô-Đình là một trong những gia đình đầu tiên cải đạo Thiên Chúa Giáo.

     Ông Ngô-Đình Khả (1857-1923) được gửi đi học bên Tầu, Mã Lai về nước lập gia đình, là cha của hai ông Diệm, Nhu sau này. Họ Ngô-Đình ít thấy có ở Việt Nam.

     Ngô-Đình Khà là người học rộng được vào triều đình dậy học, sau làm Thượng thư bộ Lễ, quân sư vua Thành Thái. Làm quan to nhưng ông chống Pháp, từ bổng lộc. Theo Thiên Chúa Giáo nhưng vẫn thờ tổ tiên, sau Tết ba ngày ông thường mời những người bên lương đi tảo mộ. Mặc dù theo Thiên Chúa Giáo nhưng Ngô-Đình Khả yêu nước, chuộng văn hóa phong tục cổ của dân tộc. Ông khác với những người đồng đạo Thiên Chúa theo Tây, thực dân, tại Nam Việt nhiều vùng Thiên Chúa Giáo dựa vào thực dân để được cấp đất dai.

     Sau Thế chiến thứ nhất 1914, thập niên 30 Việt Nam nghèo, phong trào dành độc lập bắt đầu. Năm 1931 phong trào Việt Minh thành lập. Ông Ngô -Đình Khôi con cả của ông Ngô-Đình Khả, tổng đốc Quảng Nam bị Việt Minh giết năm 1944 cùng với người con trai duy nhất. Con thứ hai là ông Ngô-Đình Thục sinh năm 1897 đi tu, năm 1938 được bổ nhiệm Giám mục địa phận Vĩnh Long, năm 1960 làm Giám mục địa phận Huế, không có mặt trong cuộc đảo chính ngày 2-11-1963 (thực ra ngày 1-11, TĐ), ông lưu vong tại Ý, Pháp, Tây Ban Nha và mất tại Mỹ ngày 13-12-1984.

     Ông Ngô-Đình Diệm sinh ngày 3-1-1901 là con trai thứ ba, sinh viên xuất sắc trường luật và hành chánh Hà Nội, năm 1921 ông đậu thủ khoa làm việc tại thư viện Hà Nội sau làm Tuần vũ (tỉnh trưởng) Phan Rang gồm 300 làng, ông hiểu rõ về đời sống nông thôn. Sau này khi làm Tổng thống ông hay đi thăm các tỉnh. Là người có tài năng ông được Hoàng đế Bảo Đại đưa vào triều giữ chức Thượng thư bộ lại năm 1933 khi còn trẻ mới có 32 tuổi. Mấy tháng sau ông Diệm từ quan vì là người yêu chuộng độc lập, ông thấy nhà vua không muốn dành độc lập tử tay người Pháp, ông tuyên bố không có thực quyền, người Pháp dọa bắt ông.

     Tháng 9-1945 ông Diệm bị Việt Minh bắt đưa đi giam ở một vùng đồi núi biên giới Việt Hoa, ông bị bệnh nặng. Hồ Chí Minh mời ông Diệm hợp tác chống Tây nhưng ông từ chối và kết án Việt Minh giết anh ông, vu cáo gia đình ông: Diệm nói Ông coi tôi có sợ ai không?

     Sau đó Hồ thả Diệm. Biết là mình bị đe dọa nên ông Diệm tìm đường ra ngoại quốc tại Á châu, Âu châu, Mỹ. Năm 1950 ông ở La Mã, sang Bỉ rồi sang Mỹ ở trong một tu viện tại Lakewood, New Jersey nghiên cứu sử, thần học, triết học.

     Ngô-Đình Nhu sinh taị Huế ngày 7-10-1910 là con trai thứ tư, đi Pháp du học văn khoa đại học Sorbonne, tốt nghiệp năm 1938 môn khảo cổ về nước làm phó giám đốc thư viện Hà Nội. Từ 1946-1954 ông hoạt động chính trị để thành lập chính phủ quốc gia độc lập.

     Ngô-Đình Cẩn và Ngô-Đình Luyện là hai người em út sau này cũng giữ chức vụ, nhiệm vụ trong chính phủ Việt Nam.

     Trần Lệ Xuân, sau này là phu nhân Ngô-Đình Nhu sinh năm 1924 tại Hà Nội, bà cụ thân sinh thuộc dòng dõi nhà Nguyễn, cha là luật sư Trần Văn Chương, bộ trưởng ngoại giao thời vua Bảo Đại năm 1945, bà lấy ông Nhu năm 1930 tại Hà Nội và cải đạo Thiên Chúa Giáo. 

       Chương 2- Thành Lập và mở mang nền Cộng Hòa Việt Nam

      Khi Hội nghị Genève đang diễn ra sau khi Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, Hoàng Đế Bảo Đại nghĩ tới ông Ngô-Đình Diệm. Pháp không ưa ông nhưng Mỹ chú ý tới, ngày 16-6-1954 Hoàng Đế mời ông làm chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng

     (Tác giả nhầm, hồi đó gọi là Thủ Tướng, Le Premier Ministre chứ không phải Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, President du Conseil des Ministres, TĐ)

     Ông Diệm về Việt Nam tháng 7-1954, khi chấp chính ông   gặp trở ngại vì Pháp ngăn trở. Hoàng Đế Bảo Đại ở Cannes không quan tâm việc nước, khi ấy nhà vua giao cho ông Diệm được toàn quyền.

     Cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức ngày 23-10-1955, ông Diệm được 98% số phiếu. Ngày 4-3-1956 bầu lập pháp Quốc hội, ông Diệm mời ông Nhu, em trai làm cố vấn. Trước mắt có nhiều điều khó khăn nguy nan gồm  Các giáo phái và bọn cướp Bình Xuyên. Giáo phái và Bình xuyên được Pháp giúp. Tướng Trịnh Minh Thế giúp Tổng thống dẹp loạn Bình Xuyên,chúng lộng hành tại Sài Gòn, sau khi đánh Cao Đài Hòa Hảo xong ông Diệm đánh Bình Xuyên.

     Ngày 27-9-1956 tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Ngày 26-10-1956 thành lập nền Cộng hòa, ông Diệm là người sáng lập nền Cộng hòa Việt Nam, chấm dứt phong kiến và chế độ thuộc địa.

      (Tác giả nhầm: sự thực ông Diệm đánh Bình Xuyên, Hòa Hảo giữa năm 1955 xong mới Trưng cầu dân ý lên làm Tổng thống tháng 10-1955 chứ không phải làm TT rồi mới dẹp loạn, TĐ)

     Ông Diệm mở mang giáo dục, mở nhiều trường học. Hạ tầng cơ sở được tạo dựng nhưng bị Việt Cộng phá hoại. Đời sống người dân được bảo đảm về y tế, an ninh. Việc giáo dục tiến bộ, các trường gia tăng mở mang, xuất cảng gạo tăng 500% tính từ 1954-1959. Ông Ngô-Đình Nhu lập đảng Cần Lao Nhân vị, thành lập Thanh niên Cộng hòa, lập thuyến Nhân Vị có tầm vóc tinh thần, tầm vóc xã hội và chính trị, kinh tế.

     Cộng Sản lừa dối cán binh, nhiều ngưới đã ra hàng, ông Nhu sáng kiến và thực hiện Ấp chiến lược. Trưởng ấp, xã trưởng, giáo viên, ý tá đã bị Cộng Sản sát hại. Ấp chiến lược cấp cho người dân phương tiện tự vệ chờ trực thăng chở quân chiến đấu tới, nay người dân được an tâm sinh sống trong làng có hàng rào. Việt cộng không áp dụng chính sách quân dân cá nườc được, họ ra hồi chánh nhiều, mùa hè 1962 cuộc chiến thuận lợi nhờ ấp chiến lược.

     Ngày 23-7-1962 Bộ trưởng quốc phòng McNamara lập kế hoạch rút quân và giảm viện trợ VNCH. Ông Nhu chủ trương hòa bình với Bắc Việt, ông Hồ chí Minh tặng cành đào cho ông Diệm dịp Tết, Ngô-Đình Nhu còn đề nghị ra Bắc cũng như đưa hai con trai ra thăm miền Bắc.

      Mỹ ép ông Diệm nhận thêm cố vấn quân sự, đòi đưa ông Nhu ra ngoại quốc nhưng bị phía VN từ chối, họ giảm viện trợ để khiến người dân nổi dậy chống ông Diệm. Tổng thống Kennedy tuyên bố muốn thay đổi chính trị và thay đổi người ở VN, họ tuyên truyền làm giảm uy tín của ông Diệm tạiTây phương, ngưởi ta tin Mỹ và tin vào tuyên truyền của họ.

     Ngày 3-12-1962 Roger Hilman, Giám đốc nghiên cứu Bộ ngoại giao nhận định Ấp chiến lược khiến chính phủ bình định được miền quê hiệu quả. Việt Cộng gây ảnh hưởng tỉnh thành, tuyên truyền dụ dỗ những thành phần bất mãn chính phủ Diệm, những người này thân Cộng bài Mỹ. Ông Diệm phải trấn an công chức quân nhân, tiên đoán có đảo chính.  Văn thư trên của Hilman cũng cho thấy chính phủ VN có tiến bộ. Chính phủ vừa phải chống Cộng và chống nội bộ tranh dành quyền hành (đảo chính)

    Tháng 4-1963 ông Nhu ban hành chính sách chiêu hồi, ra lệnh quân đội không được giết kẻ địch mà chỉ phá hậu cần và cho chúng con đường chạy. Quân địch ra hàng rất nhiều, sau mấy tháng có 6,000 người, họ đói rách khốn khổ, họ nói ấp chiến lược khiến họ không còn lương thực.

    Tháng 10-1963 McNamara nói tình trạng an ninh tiến triển tốt, Tướng Harkins, Tư lệnh quân Mỹ ở VN nói tinh thần chiến đấu rất cao. Khi Ngô-Đình Nhu chết, 8,000 trong số 12,000 làng đã được lập thành.  Ấp chiến  lược khiến cho VC không ám sát, bắt thanh niên. Khi người Mỹ loại bỏ ông Nhu, họ bỏ ấp chiến lược và đổ nửa triệu quân vào với những phương tiện chiến tranh to lớn nhưng thất bại 12 năm sau đó.

    Bà Ngô-Đình Nhu được bầu dân biểu, cũng là Chủ tịch Phong trào liên đới phụ nữ, phong trào đã giúp đỡ đồng bào di cư, tổng cộng có một triệu người từ Bắc vào Nam như vậy chứng tỏ chính phủ Diệm hấp dẫn hơn Hồ Chí Minh. Phong trào Liên đới giúp đỡ cô nhi, nạn nhân chiến tranh, tàn tật, bà cũng mở một phong trào bán quân sự, huấn luyện tự vệ.

      Khi ông Diệm mất, đất nước chịu những tranh dành quyền hành trở thành bi kịch của các Tướng lãnh. Bà Nhu đã giải phóng phụ nữ, đưa ra luật gia đình. Từ  năm 1958 bà trình quốc hội và được chấp thuận, nam nữ bình quyền, bỏ tục đa thê, bà Nhu thực hiện được bộ luật gia đình. Tổng thống độc thân nên bà Nhu giữ vai trò đệ nhất phu nhân trong các nghi lễ lớn ngoại giao.

     Các báo chí, hình ảnh Việt nam đầu thập niên 60 thể hiện tiến bộ của kinh tề miền nam dưới thời Ngô-Đình Diệm. Về quân sự ấp chiến lược đã có kết quả, những thành quả tốt đẹp sau đó bị hành pháp Mỹ phá hỏng hết, họ quyết định hạ Diệm-Nhu. Không phải người dân chống chính phủ mà vì các Tướng nhiều tham vọng, tham quyền, ham danh vọng do Mỹ điều khiển

       Chương 3- Cuộc đảo chính

      Trong tháng 8 -1963, Tổng thống Diệm và Nhu biết Mỹ định mua chuộc các Tướng để lật đổ chính phủ. Hai ông bèn triệu tập các Tướng để nhắc nhở họ về trách nhiệm với đất nước. Tổng thống Kennedy cử ông Cabot-Lodge tới Sài Gòn làm Đại Sứ thay ông Nolting. Cabot-lodge  tới Sài Gòn ngày 22-8-1963, ông điện tín về Bộ ngoại giao Mỹ nói các Tướng giữ nhiệm vụ quan trọng ở Sài Gòn trung thành với ông Diệm, các Tướng khác thì không rõ, đảo chính chỉ là cầu may. Cuối tháng 8 họ không có chính sách về  VN. Dean Rusk (bộ trưởng ngoại giao) chủ trương Mỹ không rút khỏi VN trước khi thắng CS và không làm đảo chính tại VN.

     Hồ sơ giải mật Ngũ giác đài đã cho biết những sự kiện mới. Ngày 13-6-1971 báo New york Times cho đăng những tài liệu bí mật mà McNamara thu thập từ 1967, bị tiết lộ ra báo chí. TT Nixon tức giận muốn muốn cấm đăng nhưng ngày 30-6-1971 Tối cao Pháp viện cho phép đăng.

     Chương 4 của hồ sơ này có tên là Lật đổ Ngô-Đình Diệm , có lời ghi “Tài liệu nghiên cứu Ngũ giác đài về chiến tranh Việt Nam”  cho thấy TT Kennedy biết kế hoạch đảo chính quân sự 1963 và ông chấp thuận.

    Tài liệu khảo cứu nói từ tháng 8-1963 chúng ta (tức người Mỹ) đã khuyến khích, chấp thuận kế hoạch đảo chính của các Tướng lãnh VN và hứa lập chính phủ thay thế lâu dài… chúng ta đảo chính để tăng thêm trách nhiệm của chúng ta tại VN và sự can thiệp của Mỹ. Hồ sơ cho thấy người Mỹ không đồng lòng khi kết án hành động ông Diệm.

     TT Kennedy cử một phái đoàn sang Sài Gòn để lượng giá tình hình, cử Tướng Krulak và Mendenhall nguyên Cố vấn chính trị đại sứ Mỹ, họ về  báo cáo trái ngược nhau. Ngày 23-9-1963 ông gửi một phái đoàn khác gồm McNanara và Tướng Maxwell Taylor, ngày 2-10 họ báo cáo quân sự tốt đẹp, ấp chiến lược mở mang, chúng ta có thể rút cố vấn về cuối 1965, cắt viện trợ kinh tế để ép chính phủ Diệm cải tổ chính trị. Kennedy chấp thuận, McNamara tuyên bố 1,000 người Mỹ sẽ rời VN nước cuối 1963. Kennedy lưỡng lự trước hai báo cáo của những người ủng hộ và chống Diệm.

     Tướng Harkins ở VN báo cáo về Mỹ: lúc này thay đổi lãnh đão không tốt, tôi không thấy ai chống cộng bằng ông Diệm, tình hình quân sự ở vùng 1, 2, 3 và 4 nói chung tốt đẹp. Đại sứ Cabot-lodge gửi thư cho George Bundy, cô vấn Kennedy ngày 30-10-1963 nói Mỹ đã giúp xứ này về quân sự kinh tế nhưng muốn thắng cuộc chiến phải thay đổi chính quyền, phải chuẩn bị đảo chính. Các Tướng chủ mưu cần tiền để mua chuộc các Tướng thân cận ông Diệm thì đảo chính sẽ thành công, chúng ta sẽ lo di tản gia đình họ. Đại sứ Cabot-Lodge công nhận kinh tế, quân sự tiến bộ nhưng cho là ông Diệm lỗi thời cần phải trừ khử bất kể hậu quả ra sao.

     Quyết định của Đại sứ Cabot-Lodge ảnh hưởng tới TT Kennedy, cuộc đảo chính đang tiến hành không thể dừng lại được, hai ngày sau nó bùng dậy. Trung tá CIA Lucien Conein được giao nhiệm vụ liên lạc các Tướng vì ông biết tiếng Pháp, ông ta khuyến khích các Tướng phản lại Tổng thống Diệm, hứa nếu thất bại sẽ được Mỹ bảo vệ, thắng thì nắm quyền. Tòa đại sứ bật đèn xanh, CIA hợp tác chặt chẽ các tướng.

     Cuối tháng 10, không khí Sài Gòn u ám, Ngô-Đình Nhu nghĩ tới vợ và con gái (bà Nhu và Lệ Thủy) đi xa, ông gọi Trác lúc ấy 16 tuổi, Trác là người nối dõi dòng Ngô-Đình vì ba người anh lớn (của ông Nhu) không có con nối dòng. Ông Nhu bảo Trác đưa hai em (Quỳnh, Lệ Quyên) lên Đà Lạt. Tác giả chú thích nói hôm sau ngày đảo chính ba anh em ở Đà Lạt, trốn vào rừng cùng mấy người cận vệ rồi tìm tới phi trường (Đà Lạt) lên máy bay sang La Mã

       (Tác giả nhớ sai vì hồi đó ông còn nhỏ, sự thực ba người con bà Nhu đã được tân chính phủ cho đi chính thức tại Sài Gòn sau đảo chính TĐ)

     Trưa ngày 1-11 (1963), các Tướng họp dự tiệc ở bộ Tổng tham mưu do Tướng Trần Thiện Khiêm đãi, khi mọi người vào bàn Tướng Dương Văn Minh đứng dậy tuyên bố một cuộc đảo chính đang bắt đầu và yêu cầu mọi người ủng hộ. Ai nấy đều hoan hô riêng Tướng Lê Quang Tung, chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt của cố vấn Ngô-Đình Nhu nói: Các ông phải biết ai gắn sao cho các ông?” LQTung bị bắt đi xử tử cùng với người em Lê Quang Triệu.

     Nguyễn Hữu Duệ, đại úy (thực ra là Thiếu tá, TĐ) Tham mưu trưởng lữ đoàn phòng vệ phủ Tổng thống gọi điện thoại cho Tổng thống và cho biết ông sẽ tấn công chớp nhoáng bộ TTM bằng bộ binh, chiến xa, nếu tấn công sẽ bắt trọn bộ các Tướng làm phản.

     Ông Diệm từ chối nói người đồng đội không giết lẫn nhau, lúc 17 giờ (5 giờ chiếu) Tướng Dương Văn Minh điện thoại cho cố vấn Ngô-Đình Nhu nói nếu hai người không ra hàng thì sẽ cho ném bom, bắn đại bác vào dinh (Gia Long). Tối lúc 20 giờ, đại sứ Cabot-Lodge điện thoại cho ông Diệm nói nếu ông hàng thì sẽ được đi ngoại quốc nhưng Tổng thống nói sẽ tử thủ tại đây.

    Tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh vùng I, Huế cũng như Nguyễn Khánh, Tư lệnh vùng II (Pleiku) báo cáo Tổng thống  muốn đưa quân về cứu, Tướng Huỳnh Văn Cao Tư lệnh vùng IV ở Cần Thơ cũng ra lệnh tiến về Sài Gòn nhưng Tổng thống bác bỏ không muốn đổ máu. Nguyễn Khánh đề nghị anh em ông đến Pleiku nhưng ông cũng từ chối không muốn đổ máu cho quân đội quốc gia.

     Nửa đêm hai ông Diệm Nhu đi xe Cao Xuân Vỹ, Tổng giám đốc Thanh niên cộng hòa, ông Diệm ngồi trước, Nhu, Đỗ Thọ ngồi sau. Tới nơi ông Diệm ra lệnh cho quân phòng thủ (tại dinh Gia Long) ngưng chiến tranh đổ máu. Khi đại tá Nguyễn Văn Thiệu mở cuộc tấn công, những ngưòi lính phòng thủ trong dinh chiến đấu tới viên đạn cuối cùng.

    Tổng thống và người em ngủ tại nhà Mã Tuyên, người Việt gốc Hoa phụ trách Thanh niên Cộng hòa tại Chợ Lớn. Sáng ngày 2-11-1963 hai anh em Ngô-Đình chịu lễ  tại nhà thờ Francois Xavier Chợ Lớn (nhà thờ Cha Tam). Sau lễ ông Diệm nhờ linh mục (người làm lễ) liên lạc với Tướng Trần Văn Đôn, ông muốn đưa họ về lý lẽ và tình yêu tổ quốc.

     Các Tướng Đôn và Trần Tử Oai chuẩn bị xe cộ đàng hoàng đi đón hai ông nhưng Tướng Mai Hữu Xuân được lệnh đi gặp có thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung, cận vệ Tướng Dương Văn Minh đi theo. Trước khi khởi hành Dương Văn Minh đưa hai ngón tay ra hiệu giết cả hai người

     Ông Diệm và Nhu đợi trước nhà thờ với linh mục, bỗng một xe díp và một xe bọc thép tới. Tướng Xuân nói ông được lệnh tới bắt và mở cửa xe thiết giáp, ông Nhu phản đối thì ông Xuân nói xe này bảo đảm an ninh. Trên đường về hai anh em ông Diệm bị Nguyễn Văn Nhung bắn nhiều viên và đâm chết, để chối tội anh này nói hai ông tự sát thực ra hai tay bị trói. Bộ Tổng tham mưu ngạc nhiên thấy hai ông bị giết, TT Kennedy cũng bối rối trước cảnh hai ông đã mạng vong trong cơn khói lửa, việc mà ông không tiên đoán sẽ sẩy ra.

     Sau khi chính phủ bị lật đổ, Cộng quân  tuyên truyền dụ dỗ đồng bào miền nam chống đế quốc  Mỹ. Cũng chính Tướng Dương Văn Minh được Mặt trận giải phóng kêu gọi. Chính ông ta đã đuổi Mỹ, ông ta đầu hàng không chống cự Việt Cộng khi họ vào Sài Gòn và giao đất nước cho quân địch.

     Một kết thúc ô nhục cho kẻ chịu trách nhiệm chính trong sự phản bội và sát hại thượng cấp đưa đất nước vào tình trạng hỗn loạn.

     Ngày 5-11-1963, Tổng thống Pháp De Gaulle có tiếp xúc Đại sứ Mỹ Bohlen và nói:

     “Tôi không tin các ông thành công bằng can thiệp trực tiếp vào VN, rất tiếc cho Mỹ là hai ông Diệm Nhu đã bị giết, những người thay thế chắc sẽ không thành công. Kinh nghiệm riêng của chúng tôi thì những người cầm quyền do ngoại bang điều khiển sẽ thất bại nhất là về sự lãnh đạo cuộc chiến, tôi không tin là sẽ tốt đẹp. Quan điểm của tôi như đã quyết định từ Genève 1954, không can dự vào vấn đề Việt Nam, nhận định này dùng cho Cộng Sản nhưng cũng cho các ông, tôi sợ các ông sẽ sa lầy khó rút ra”

     Sau khi chính phủ Ngô-Đình Diệm bị lật đổ, trong hai năm có 8 chính phủ, mặc dù được Mỹ bảo trợ nhưng không lãnh đạo được đất nước. Tất cả thành quả mà họ Ngô-Đình xây dựng bị bị phá hủy hết, các đảng phái phong trào bị dẹp hết, 41 tỉnh trưởng bị thay thế.

    Năm 1964 cuộc chiến gia tăng khi Johnson lên làm Tổng thống Mỹ.

    Các Tướng lãnh làm đạo đức suy đồi so với thời ông Diệm. Họ nói bà Ngô-Đình Nhu là một trong bẩy người đàn bà giầu nhất thế giới nhưng khi lưu vong bà chỉ lấy thù lao qua các cuộc phỏng vấn để chăm lo cho các con nhỏ.

     TT Kennedy bị ám sát, chính phủ Johnson đương đầu với Việt Cộng, Nguyễn Hữu Thọ Chủ tịch mặt trận giải phóng tuyên bố với ký giả Úc Wilfrid Burchett

    “Chế độ Ngô-Đình sụp đổ là món quà tự trên trời rơi xuống cho chúng tôi”  

     Chương 4 Một khía cạnh khác

    Sách nói về nhà Ngô-Đình thường viết “ngược đãi Phật giáo, độc tài, tàn ác, thối nát” ngừòi ta cũng kết án Tổng thống Diệm không tôn trọng Hiệp định Genève, không thực hiện Tổng tuyển cử … những nhận định trên vô căn cứ, dưới đây là những quan điểm hợp lý.

     Về Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước nó chỉ được chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Minh) ký đã bị chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ miền nam VN tương lai của Ngô-Đình Diệm bãi bỏ.

     (Thực ra hồi đó gọi là Quốc Gia Việt Nam, État du Việt Nam   chứ không phải Việt Nam Cộng Hòa, République du Việt Nam như tác giả nói, TĐ)

      Mỹ cũng không ký, trong đó có Trung cộng, Nga, Anh. Phần nói về bầu cử thống nhất hai miền không có bên nào ký không có giá trị, tuy nhiên miền nam đòi bầu cử được bảo đảm trong sáng.

    Trái lại CS vi phạm Hiệp định Genève, xâm nhập, khủng bố miền nam đã bị Ủy hội quốc tế phản đối nhiều lần. CS với mục đích bá chủ và không tôn trọng Hiệp định Paris (1973) mặc dù Kissinger và Lê Đức Thọ được phát giải Nobel hoà bình nhưng Hiệp định lại bị CS vi phạm. CSBV xâm lăng miền nam VN tháng 4-1975 lợi dụng Mỹ suy yếu vì vụ Watergate.

     Về vụ Phật giáo lịch sử đã chứng minh một huyền thoại lớn để chống TT Ngô-Đình Diệm. Bà Ngô-Đình Nhu cho biết cuộc khủng hoảng này như cơn gió thổi ngược chiều bởi những phe đối nghịch từ nhiều phía Việt Nam, Pháp, Mỹ và CS.

     Trước vụ một nhà sư tự thiêu 1963 mà báo chí thế giới đã phổ biến không có ai chống đối chính phủ Diệm cầm quyền từ 1954. Tháng 5-1963 truyền thông phóng đại kết án chính phủ Công giáo Ngô-Đình Diệm gây nhiều tội ác nhưng dưới sự lãnh đạo của chính phủ Diệm chùa chiền phát triển nhiều. Một nghìn hai trăm bẩy mươi lăm (1275) ngôi chùa mới được xây dựng. Chùa Xá Lợi được xây dựng nhờ Tổng thống tặng 600,000 đồng, một ngàn hai trăm chín mưoi năm (1295) ngôi chùa được trùng tu, như vậy số chùa đã tăng lên 200%. Về phía Thiên Chúa Giáo số nhà thờ chỉ tăng 30%.

     Trong số 18 Bộ trưởng của chính phủ chỉ có 5 người Thiên Chúa Giáo, hơn nữa chỉ có 3 trong 19 Tướng lãnh là Thiên chúa giáo. Trong số 113 dân biểu 75 người là Phật giáo, phó Tổng thống và ngay cả Tỉnh trưởng Huế,  (nơi xẩy ra vụ Phật giáo) là người theo đạo Phật.

     Ông Diệm trả lời một ký giả nói:

     “Tôi đâu có điên, chín năm cầm quyền trong lúc có chiến tranh lại đi đàn áp”

     Tổng thống thành lập Ủy ban để giải quyết vấn đề Phật giáo, khi phái đoàn hai bên ký thông cáo chung ngày 16-6-1963, vấn đề được giải quyết xong, Phật giáo thỏa mãn. 

    Thích (Thượng tọa,Vénérable) Trí Quang  là nhà sư giả, ông ta là CS, ông thành lập Phật giáo cấp tiến tổ chức tự thiêu liên tục, TT Diệm cho khám chùa thấy nhiều truyền đơn chống chính phủ và cả vũ khi súng gươm. Thượng tọa Thích Thiện Hòa, phái Cổ sơn môn kêu gọi chấm dứt biểu tình, tuyệt thực, hoạt động chính trị. Trong số 4,000 ngôi chùa, 12 chùa bị đóng cửa đã dược mở lại tại Sài Gòn , 250 ngàn người biểu tình ủng hộ Ngô tổng thống do các Thanh niên Cộng Hòa kêu gọi.

    Ủy ban điều tra Liên Hiệp Quốc được chính phủ VN mời vào điều tra từ 24-10 tới 3-11-1963, Ủy ban tuyên bố không có đàn áp Phật giáo. Ngày 7-12-1963 họ soạn tờ trình 234 trang, Ủy ban gồm thành viên các nưóc Afghanistan, Brésil, Thái Lan, Costa Rica, Dahomey, Maroc, Népal.

     Tòa Đại sứ Mỹ cho ông Thích Trí Quang tỵ nạn nhưng lại từ chối không cho ông Ngô-Đình Cẩn tỵ nạn.

     Johnson, người chống đảo chính , thừa hưởng chính quyền, năm 1968 ông ta đưa tổng cộng 536,000 quân Mỹ vào VN, quân VNCH tăng từ 820,000 người lên 968,000 người. Nixon lên nhậm chức TT  năm 1969 tìm hòa bình, ngày 27-1-1973 ký kết Hiệp định Paris, tổng cộng có 55,000 quân Mỹ chết tại VN.

     Lấy lý do muốn thắng CS nhanh nên họ đã tổ chức  cuộc đảo chính. Từ 2-11-1963 tới 2-7-1976, 13 năm cuộc chiến đẫm máu tàn phá đất nước, giết hại hàng triệu người. Cả thế giới thấy ông Đại sứ Mỹ cuốn cờ trên nóc tòa Đại sứ chạy. Hôm sau ngày 30-4-1975 bà Ngô-Đình Nhu trả lời phỏng vấn đài MBC nói: Sức mạnh quân sự Hoa Kỳ để làm gì hay chi để chạy?

     Ngày 17-4 Khmer Đỏ vào Nam Vang, ngày 30-4 Việt Cộng vào Sài Gòn, ngày 29-11-1975 Lào thành lập chính phủ Cộng hòa nhân dân, ngày 2-7-1976 thống nhất nước Việt Nam, Đông Dương vào tay CS.

     Dưới ánh sáng sự thật làm sao giải thích những lời vu khống anh em Ngô-Đình và sự yên lặng vẫn phủ nhận sự thật.

     Tháng 6-1964, bà Nhu, Lệ Thủy 19 tuổi được báo Truth Rally mời sang Mỹ phỏng vấn, họ muốn tìm thêm những gì khác lạ nhưng chính phủ Mỹ không cấp Visa lấy lý do an ninh quốc gia. Tại sao hai người đàn bà đến  một siêu cường có thể ảnh hưởng an ninh quốc gia?

     Khủng bố đe dọa Tây phương, người ta khám xét tại phi trường thì không ai coi chính phủ đó là độc tài.

     Chính phủ Ngô-Đình Diệm lại không có quyền tương tự như vậy sao?

Báo chí, giới trí thức, chính trị gia đòi phải có dân chủ tại VN (miền nam) trong khi đang có chiến tranh, khủng bố.

     Trên thế giới có hàng triệu thanh niên chống cuộc chiến tranh mà họ chẳng biết gì. Nếu không có hàng triệu người vượt biển cuối thập niên 70, đầu 80 trốn CS có lẽ huyền thoại Việt Cộng yêu nước vẫn còn. CS chiếm miền nam, họ tàn phá đất nước thì truyền thống Tây phương im lặng cho tới khi hàng nghìn, hàng vạn người VN vượt biển.

     Hai anh em Diệm-Nhu tỏ ra người cầm quyền Thiên Chúa Giáo đạo đức đối với cuộc đảo chính phản bội. Người ta không thể làm cho người chết sống lại nhưng ít ra phải có công lý và sự thật cho họ.

     Cuối cùng phải kể đến trách nhiệm của những người gây nên nhưng cái chêt ây và gây thảm kịch cho VN

     Sự tòng phạm về tinh thần mà thế giới và Giáo hội không thể cho phép.    

Trọng Đạt lược dịch

 

Kha Lương Ngãi: Nhật ký thăm viếng lần thứ tư – BS

28 Th11

 

Posted by adminbasam on 27/11/2014

Kha Lương Ngãi

27-11-2014

Thực tình tôi không muốn viết “nhật ký thăm viếng“ lần thứ tư. Nhưng rồi tôi lại viết vì trân quý đôi chút điểm sáng đang lóe lên!

Cuộc thăm viếng lần thứ tư diễn ra lúc 9g và kết thúc ngắn, gọn, chỉ sau gần 60 phút của buổi sáng ngày 25/11/2014; Thành phần khách vẫn là Đảng, đoàn thể, Hội cựu chiến binh cấp phường (có 02 vị là cán bộ hưu trí trung cao cấp, không có công an khu vực và không có Thường vụ Quận ủy, Trưởng ban Tuyên văn giáo Quận ủy dự như cuộc thăm viếng lần trước).

– Khách chủ động mở đầu cuộc viếng thăm: Xin lỗi, hôm nay chúng tôi đến thăm anh lần nữa vì muốn nghe thêm ý kiến của anh về những vấn đề mình cùng quan tâm trao đổi cách nay không lâu (8/11/2014).

– Tôi ( chủ nhà ) đáp: Những gì tôi, quý anh và các cấp lãnh đạo quan tâm, âu lo mình đã nói với nhau hết ý từ ba cuộc gặp đã qua rồi mà?

– Khách : Nhưng vẫn cần gặp vì vẫn còn lo !

– Chủ nhà : Tôi được quan tâm đến vậy sao? Hay là có điều gì hệ trọng đến nỗi chúng ta phải gặp nhau liên tục như thế này ?

– Khách im lặng khá lâu, chủ nhà đành phải tiếp:

Thưa quý anh chị,

Tôi đã từng bộc bạch trong ba lần thăm viếng trước đây với quý anh chị, nay xin phép nhắc lại: Chính vì lo sợ “ mất nước, sụp đổ chế độ “, nên 61 Đảng viên cộng sản yêu nước cấp tiến mới gởi “ Thư ngỏ “ góp ý, thúc giục Đảng chuyển hóa hòa bình từ “ Đảng CSVN độc tài, toàn trị” trở thành “ Đảng CSVN dân chủ “. Vì chúng tôi hiểu rằng : Chỉ có “Đảng cộng sản dân chủ “ mới có thể đoàn kết được toàn dân, mới tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân và chính phủ các nước dân chủ, văn minh, tiến bộ trên toàn thế giới. Và chỉ có như thế thì mới ngăn chận được tham vọng bành trướng của Bắc kinh xâm lược, mới cứu được nước, cứu được Đảng . Chúng tôi hoàn toàn thành tâm , thiện chí như thế, nhưng không hiểu vì sao quý anh chị cứ phải “ làm nhiệm vụ“ gặp tôi liên tục như thế này?

– Im lặng khá lâu, một vị khách – Bí thư Đảng khu phố, nguyên là trung tá QĐND VN tiếp lời tôi : Mặc dù nhóm “thư ngỏ 61″ của quý anh đều là những đảng viên lão thành, ưu tú , trung kiên, có thiện chí xây dựng Đảng, nhưng cũng tại vì quý anh có “cái dở“ là góp ý xây dựng Đảng mà lại đòi “đa nguyên, đa Đảng“ – Tức là đòi phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng. Thử hỏi, Đảng bị phủ định thì lấy ai lãnh đạo đổi mới, chống tham nhũng và chống giặc ngoại xâm? Và đâu phải “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới có tự do, dân chủ đâu?

– Tôi (chủ nhà) đáp lời: Vấn đề này mấy lần gặp trước , tôi đã phát biểu, nay xin phép nhắc lại : Thực tiễn ở các nước XHCN như L.Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, CuBa . . . đã chứng minh quá rõ hậu quả tệ hại của căn bệnh “độc tài, toàn trị” là căn bệnh nan y đã dẫn đến Đảng CS phải bị tan rã, nhà nước bị sụp đổ; nếu chưa bị tan rã sụp đổ thì nhân dân phải sống cảnh bị áp bức, nô lệ, tủi nhục, đói khổ, lầm than. Riêng ở VN ta thì hậu quả của căn bệnh “độc tài, toàn trị“ càng rõ ràng hơn: Vì muốn duy trì “ Đảng độc tài, toàn trị“ VN ta đã phải chịu quy lụy, nhẫn nhịn kẻ thù Bắc kinh xâm lược để mong được đứng dưới cái ô bảo hộ của họ; Vì để duy trì chế độ “độc tài, toàn trị“ đương nhiên dân chủ trong Đảng bị thủ tiêu; Và  độc tài, toàn trị“ tất yếu dẫn đến tham nhũng, áp bức, bóc lột nhân dân.

Vì thấy quá rõ hậu quả nặng nề mà đất nước, nhân dân phải gánh chịu bởi cái họa “độc tài, đảng trị“ như vậy, nên nhóm “thư ngỏ 61“ đã bất chấp hiểm nguy, chân thành góp ý, thúc giục chuyển hóa hòa bình “Đảng CSVN độc tài toàn trị“ trở thành “Đảng CSVN dân chủ”. Vì chỉ khi nào Đảng trở nên dân chủ thì Đảng mới có thể tự hoàn thiện và trở nên ưu tú hơn trong “hệ thống chính trị đa nguyên” và dĩ nhiên khi ấy, Đảng sẽ tiếp tục cầm quyền và lãnh đạo thắng lợi công cuộc đấu tranh chống “thù trong giặc ngoài“.

Thật tình mà nói: Nhóm “thư ngỏ 61“ rất lo sợ Đảng và chế độ sụp đổ, nên không hề có cái chuyện nhóm “thư ngỏ 61“ muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhóm “thư ngỏ 61“ đều gắn bó gần hết cuộc đời với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đao của Đảng nên chỉ muốn Đảng tốt hơn, mạnh hơn, hoàn thiện hơn để tiếp tục cầm quyền, lãnh đạo – Mà muốn được mạnh hơn, tốt hơn, hoàn thiên hơn thì chỉ khi nào Đảng trở thành Đảng cộng sản dân chủ thực sự. Điều đáng mừng là quá trình chuyển hóa hòa bình theo xu thế Đảng sẽ dân chủ hơn đang tiệm tiến từng ngày ngay trong nội bộ Đảng. Chứng minh cho diễn biến đáng mừng này là Thông điệp 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vang lên tín hiệu Dân chủ (đáng tiếc là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch QH đáng lẽ phải cùng đồng tâm, hiệp lực biến Thông điệp đó thành đường lối của đảng, ý chí của toàn dân, nhưng lại không và tệ hơn nó còn bị trì kéo, trở thành “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược“ chỉ vì khác phe); kết quả đáng mừng về xu thế dân chủ còn thể hiện qua các hội nghị TW của Đảng và qua các kỳ họp Quốc hội; đặc biệt là kỳ họp Quốc hội với kết quả bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do QH bổ nhiệm, phê chuẩn mới đây. . . đã cho thấy xu thế dân chủ, yêu nước, cấp tiến trong BCH TW, Quốc hội, chính phủ . . . ngày càng nhích lên; âm mưu, ý đồ tăng cường, cũng cố lực lượng của phe phái “độc tài , bảo thủ , 4 kiên định” (như đã lèo lái đưa ô Nguyễn Bá Thanh, Vương Đình Huệ vào Bộ chánh trị) bị thất bại thảm hại; âm mưu, ý đồ sát phạt, triệt hạ mầm móng, xu hướng dân chủ, yêu nước , cấp tiến trong Đảng, nhà nước (như đã dùng lá phiếu ở Hội nghị BCH TW 5 để kỷ luật Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng; như bày ra việc bỏ phiếu tín nhiệm ở Quốc hội vào giửa tháng 11/2014 để hạ uy thế các thanh viên của chính phủ như Thống đốc ngân hàng Nguyễn Văn Bình, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng v.v …) cũng đều bị thất bại.

 Như vậy rõ ràng là: Dù bị phe nhóm “độc tài, bảo thủ, 4 kiên định“ đang cầm quyền cố trì kéo, sát phạt, hạ bệ . . .nhưng xu thế “dân chủ, yêu nước, cấp tiến” trong Đảng vẫn nhích lên từng bước , từng bước.

Nhân đây, xin thưa với quý anh chị: Sự thành – bại của công cuộc đấu tranh tiến đến Dân chủ của Đảng tại Đại hội 12 quyết định sự tồn vong của đất nước, dân tộc. Vì vậy, tôi mong rằng: Ai là công dân yêu nước, ai là Đảng viên cộng sản yêu nước hảy cùng chung tay, góp phần chiến thắng cho lực lượng cộng sản yêu nước , cấp tiến, dân chủ tại Đại hội 12 của Đảng CSVN.

Cuộc thăm viếng lần thứ tư kết thúc trong không khí thật sự cởi mở, thân tình và gần như đồng thuận về nỗi lo, niềm tin và sự khinh ghét phe nhóm “độc tài, bảo thủ, 4 kiên định“ đang gây ra hiểm họa cho đất nước, dân tộc.

—–

Mời xem lại: Nhật ký về những cuộc thăm viếng bất thường   —   NHẬT KÝ VỀ NHỮNG CUỘC VIẾNG THĂM BẤT THƯỜNG (tiếp theo) (BVN). – Nhật ký thăm viếng bất thường lần thứ 3 (Ba Sàm).

 

Hồi ký của cựu hoàng Bảo Đại trong giai đoạn làm cố vấn tối cao cho chính phủ Hồ Chí Minh – NCLS

27 Th11

 

Một buổi họp của chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy ngồi cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh (giữa, dãy phải)

Phong Uyên

chuyển ngữ và giới thiệu

Sau 25 năm im hơi lặng tiếng, đầu năm 1980, cựu hoàng Bảo Đại cho xuất bản cuốn hồi ký viết bằng tiếng Pháp Le Dragon d’Annam (Rồng Nam), kể lại cuộc đời mình từ khi sinh ra ở Huế cho đến năm 1956, khi bị ông Diệm truất phế. Phần đặc sắc nhất trong cuốn sách là phần kể lại thời gian ông Bảo Đại được chủ tịch Hồ Chí Minh phong làm cố vấn tối cao, sống ở Hà Nội sau khi thoái vị cho đến khi theo một phái đoàn của chủ tịch Hồ Chí Minh qua Tàu rồi đi Hồng Kông

Cuộc Cách Mạng Việt Minh

“…. Phụ tá tổng trưởng bộ Thanh niên (Phan Anh, trong chính phủ Trần Trọng Kim) Tạ Quang Bửu, là người cho tôi biết có một nhóm kháng chiến được thành lập ở miền thượng du, vùng Cao Bằng có tên là “Liên đoàn Việt Minh”. Linh hồn nhóm này là Võ Nguyên Giáp, được Tạ Quang Bửu nói đến với đầy nhiệt tình. Sau những cuộc hành quân du kích chống Nhật, “Việt Minh” bắt liên lạc được với đồng minh Trung Hoa và Mỹ đồng thời với cả Pháp và ngay cả với Khâm sai của tôi ở Bắc bộ là Phan Kế Toại. Nhưng tôi cũng không liên lạc được với Phan Kế Toại nên không có sự khẳng định cùa ông ấy (tr 113)

“… Có rất nhiều tin xấu đến tai tôi. Nguyễn Văn Sâm, người đại diện của tôi ở Sài Gòn chưa thấy tới nhiệm sở. Nghe đồn ông ấy bị ám sát sau khi rời khỏi Huế. Ai đã giết ông ấy? … Ở Hà Nội cũng đang xẩy ra những biến cố rất quan trọng. Ngay sau khi Nhật đầu hàng, có những toán xung phong dưới quyền Võ Nguyên Giáp đột nhập vào thành phố và mở cửa nhà tù dưới cặp mắt thản nhiên của Nhật Bản. Ngày 17-8, dưới sự xúi giục của những toán này, có cuộc biểu tình tụ tập 20 ngàn người trước Nhà Hát Lớn. Mọi người đều hô to “Độc lập” và trương cờ mới màu đỏ sao vàng, mà có người nói là do Kampetai (Mật vụ Nhật) đặt ra… Cờ Đế quốc Việt Nam bị giựt xuống…

” Ngày hôm sau, khâm sai của tôi, phải bỏ nhiệm sở và được thay thế bằng một Ủy Ban chỉ đạo lâm thời… vô danh. Ngày 19, toán xung phong “Việt Minh” được tăng cường bởi một đám đông vừa đi vừa la hét, chiếm đóng các công thự: tòa Thống sứ, Tòa án, Kho bạc, trường Đại học và các trường trung học… không những quân đội Nhật có phận sự duy trì kỷ luật, không có phản ứng mà còn mở kho súng phân phát cho lính vệ binh Đông Dương (Lính Khố đỏ);

“Những tin tức đó bị ít nhiều xuyên tạc khi đến tai tôi. Về tình hình Nam Kỳ thì còn thiếu chính xác hơn nữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thủ lãnh “Thanh niên Tiền phong”, hình như từ ngày 15-8 đã đứng đầu một Mặt trận Quốc gia trước khi thành lập một Ủy ban hành pháp lâm thời đặt trụ sở tại dinh Thống đốc dưới sự chủ tọa của một người tên là Trần Văn Giầu mà theo Tạ Quang Bửu, người thông tin cho tôi, là người thuộc về Việt Minh. Cũng như ở Hà Nội, Nhật cũng không có phản ứng gì ở Sài Gòn…

“Cái quan trọng hơn hết cả là ở chỗ nào cũng có những cuộc ám sát và sự mất tích, đặc biệt là những nhân vật quốc gia.

“Ngay ở Huế cũng có những truyền đơn được phân phát. Và có những nhóm không biết nghe lệnh từ đâu, tụ họp và di chuyển trong thành phố, tới tận sát Thành nội.

“Ngày 22-8, đại tá chỉ huy quân đội Nhật ở Huế tới xin triều kiến và nói với tôi là theo lệnh của Chỉ huy Đồng Minh, quân đội Nhật đã bố trí xong hệ thống bảo vệ an ninh thành nội và mọi người trong Thành. Đường từ cầu Tràng Tiền ra cũng như tất cả những lối vào Thành đã bị chắn. Tôi cực lực phản đối quyết định này và nói: “tôi tuyệt đối khước từ sự bảo vệ của ông. Tôi ra lệnh cho ông bãi bỏ hệ thống phòng vệ vì tôi không muốn một quân đội ngoại quốc làm đổ máu dân tộc tôi. (tr 117)

“Để chắc chắn là lệnh của tôi được thi hành, tôi trao cho ông ta một công hàm có dấu ấn của tôi, trút cho ông trách nhiệm phải duy trì trật tự quanh Thành nội. Tôi ghi thêm là phải mở lại tất cả mọi cửa vào Thành để mọi người tự do ra vào như thường lệ.

“Sau đó ít lâu, giám đốc Bưu điện Huế xin được gặp tôi. Ông ta đưa cho tôi một điện tín nhận được từ Hà Nội. Nội dung bức điện tín: “Trước lòng quyết tâm của toàn thể dân tộc sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền độc lập quốc gia, chúng tôi kính cẩn xin Hoàng Thượng làm một cử chỉ lịch sừ là trao quyền lại”. Điện tín này được ký bởi “Ủy ban Nhân dân Cứu quốc đại diện mọi đảng phái và mọi tầng lớp nhân dân”. Nhưng không có tên ai.

“… Sáng ngày 23 chung quanh tôi đều trống không. Từ ông Trần Trọng Kim tới mọi tổng trưởng, chả ông nào có mặt. Chỉ còn người em họ là hoàng thân Vĩnh Cẩn ở cạnh tôi.

“Những lời tâm sự của Tạ Quang Bửu trở lại trong trí tôi: Cái Mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng minh Hội” là cái gì để có thể động viên quần chúng, thực hiện những ước vọng của đám đông và bây giờ lại bảo tôi phải làm gì?

“Tôi không biết ai là những thủ lãnh. Vậy mà những người này lại có những tiếp xúc với Đồng Minh Trung Hoa, Mỹ, Pháp, khi mà những lời kêu gọi tôi gửi cho Tổng thống Truman, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Anh hoàng và tướng de Gaulle đều không được trả lời… Những lãnh tụ này có súng ống, có phương tiện, nắm được chính quyền dễ dàng trong khi tôi sống trơ trọi trong một kinh thành đã chết. Sự thành công dễ dàng của các lãnh tụ này phải chăng là đó là dấu hiệu họ đã nhận được mệnh trời? Quần chúng có một bản năng rất là chắc chắn. Bản năng này, trong những giờ phút lịch sử, luôn luôn đưa họ tới những người đã nhận được sứ mệnh phải dẫn dắt họ. Đã đến lúc tôi phải có một sự lựa chọn để dung hòa số phận của tôi với số phận của dân tộc tôi… là tôi phải ra đi.

“Nhưng ai là người tiếp nhận sự ra đi của tôi?

“Tôi bảo người em họ Vĩnh Cẩn và Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe ra ngoài thành Nội hỏi tin tức về Việt Minh. Cả hai trở về chả biết chi cả. Tôi đành đánh đại một bức điện tín gửi trống không “Ủy ban Nhân dân Cứu quốc” ở Hà Nội. Tôi viết:

“Để trả lời kêu gọi của Ủy Ban, tôi sẵn sàng tự rút lui. Trong giờ phút quyết định của lịch sử đất nước, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh hết mọi sự để có thể thực hiện được sự hợp quần. Tôi xin những người cầm đầu Ủy Ban mau vào Huế để tôi trao lại quyền hành”.

“Ngay trong đêm hôm đó, với sự giúp đỡ của Vĩnh Cẩn, tôi thảo bản chiếu Thoái vị.

“Sáng ngày 25-8, có hai đặc phái viên, đại diện “Việt Nam Độc lập Đồng minh” từ Hà Nội vào: Trần Huy Liệu, trưởng phái đoàn, là phó chủ tịch Ủy ban. Một người gầy gò trông rất thảm hại, đeo kính đen để giấu cặp mắt lé. Người đi cùng là Cù Huy Cận, trông cũng quá tầm thường. Tôi hơi thất vọng:

“Trần Huy Liệu đưa cho tôi một giấy Ủy quyền có mang chữ ký không rõ là của ai. Ông tuyên bố một cách rất long trọng:

– Nhân danh nhân dân Việt Nam, cụ Hồ Chí Minh, chủ tịch Ủy Ban Giải Phóng, cho chúng tôi cái danh dự đến Ngài để tiếp nhận quyền hành.

“Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi đưa bản chiếu thoái vị. Trần Huy Liệu đọc bản chiếu cùng với Cù Huy Cận rồi 2 người nói riêng với nhau trước khi quay lại nói:

– Thưa Ngài, nhân danh nhân dân Việt Nam chúng tôi chấp nhận hoàn toàn bản chiếu này. Nhưng chúng tôi cũng xin đề nghị với Ngài là nên tổ chức một nghi lễ vắn tắt để trong buổi lễ Ngài đọc bản chiếu trước công chúng.

– Ngay buổi chiều hôm đó, trước vài ngàn người mặc triều phục được tụ tập vội vã trước cửa Ngọ Môn, tôi đọc bản chiếu cuối cùng của triều Nguyễn đề ngày 25-8-1945.

“Bản chiếu bắt đầu bằng:

Để toàn dân Việt Nam có hạnh phúc!

Để Việt Nam có được độc lập!

Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh mọi sự…

“Và kết luận bằng:

“Trẫm thích được làm công dân một nước độc lập hơn làm vua một nước bị trị”

Hoan hô Việt Nam độc lập!

Hoan hô nước Cộng hòa Dân chủ!

“… Trong một bầu không khí ngượng ngập, tôi đưa chiếc ấn tượng trưng quyền hành cho Trần Huy Liệu.

“… Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận tiễn tôi ra khỏi cửa. Trước khi chia tay, người đại diện Ủy ban Giải phóng nói với tôi:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn mời ngài ra Hà Nội để cùng thiết lập những thể chế cộng hòa.

– Tôi trả lời: Thưa ông trưởng phái đoàn, tôi xin ông cho tôi gửi lời cám ơn Hồ chủ tịch và sẽ không quên ra Hà Nội theo lời mời của Chủ tịch.

“… Trở thành công dân Vĩnh Thụy từ khi thoái vị, tôi không có việc chi làm ở Huế. Tôi quyết định theo lời mời của Hồ Chí Minh ra Hà Nội. (tr 121)

Cố vấn Tối cao của Chính phủ

“ngày 6-9 tôi tới Hà Nội. Tôi được ở căn nhà của thị trưởng Hà Nội cũ, đường Gambetta (Hoàng Diệu?). Sau khi tắm rửa, tôi đi đến Bắc Bộ Phủ (dinh Thống sứ cũ) để dự bữa ăn buổi tối được tổ chức để đãi tôi.

“Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ đón tiếp tôi và khi ra ngồi bàn, đưa tôi tới trình diện Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mới tới. Ông bắt tay tôi một cách thân mật, cám ơn tôi đã tự rút lui và nói thêm:

– Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc cho nền độc lập của đất nước.

“Ngày hôm sau 11 giờ tôi gặp lại Hồ Chí Minh và nói chuyện riêng với nhau. Thái độ của ông khác hẳn với ngày hôm qua; Ông đối với tôi có vẻ kính trọng và xưng hô với tôi như ở trong cung điện khi dùng chữ Ngài tương đương với chữ Sire trong tiếng Pháp, gần như thiếu một điều là xin lỗi đã lên nắm quyền:

– Thưa Ngài, chúng tôi không có liên quan gì đến bức điện mà ngài nhận được ở Huế đòi ngài phải thoái vị. Riêng về phần tôi, như khi tôi đã nói ngày 22-8, tôi muốn ngài vẫn đứng đầu nước và cử tôi làm thủ tướng chính phủ mới. Tôi không tán thành những kẻ đã làm áp lực với ngài để ngài phải thoái vị.

– Tôi cũng trả lời với cùng một lễ độ khi dùng danh từ tôn kính là Cụ (Vénérable) và cam đoan là tôi chỉ muốn làm một người công dân thường để chung sức xây dựng một nước Việt Nam mới, thống nhất và độc lập.

“Hồ Chí Minh có vẻ yên tâm và đưa ra một bức tranh đầy phấn khởi, khác hẳn với sự dè dặt trong những câu nói lần trước:

– Tất cả những giấc mơ của ta đang được thực hiện cùng một lúc. Không những thống nhất và độc lập sắp được Đồng Minh chính thức công nhận mà chiến tranh kết liễu, Nhật bản đầu hàng cũng cho phép chúng ta tiến tới một chế độ được toàn dân ủng hộ muôn người như một. Trong chế độ này mỗi người chúng ta đều có một tương lai kỳ diệu. Độc Lập, trở thành một Từ ngữ biểu tượng của đất nước, mãnh liệt như làn sóng thủy triều dâng lên từ đáy biển cả, khiến không có công cuộc nào mà chúng ta không thực hiện được…

“Trong cái áo varơ cổ cao đã sờn rách, với đôi giày săng đan thô lỗ và bộ râu lơ thơ, Hồ Chí Minh giống một nhà tu khổ hạnh đồng thời cũng giống một nhà nho Việt Nam thời xưa được đào tạo trong nền văn hóa Trung Hoa, thiên về thi tứ, văn chương triết học hơn là về hoạt động chính trị.

“Có sự ngược lại là từ thân hình mảnh khảnh, yếu ớt và từ cặp mắt sáng ngời như đang lên cơn sốt, thoát ra một niềm tin truyền cảm rất khắc phục, đồng thời cũng tỏa ra một sự thanh thản rất ấn tượng. Những câu nói của ông Hồ đều có dấu ấn của một ý nghĩa sâu xa về con người, của một sự chối bỏ mọi bạo động. Ông Hồ hoàn toàn có ý thức về những thực tại và nhưng tất yếu của Việt Nam. Ông cũng biết chiều hướng biến chuyển lịch sử dựa vào sự tự học và sự hiểu biết tất nhiên về thế giới Âu Tây cũng như thế giới Trung Hoa và thế giới Nga (tr129).

“Sau hơn một giờ nói chuyện, ông Hồ kết luận:

– Tôi yêu cầu ngài tham dự những buổi họp của hội đồng các bộ trưởng và nhận chức vụ Cố vấn tối cao của chính phủ.

“Yêu cầu này làm tôi bất ngờ. Tôi thật không bao giờ nghĩ sự góp phần kiến tạo một nước Việt Nam mới của tôi dưới hình thức này. Nhưng khi nghe ông nói, không thể chối cãi được ông Hồ là người muốn độc lập và thống nhất một cách cuồng nhiệt, nên tôi nhận lời (tr 130).

“Hội đồng bộ trưởng họp mỗi tuần một lần. Ngày 8-9 tôi dự phiên họp lần đầu tiên..

“… Thật ra hội đồng gồm 3 nhóm.

Nhóm cố cựu gồm những người theo chủ tịch Hồ Chí Minh từ thuở ban đầu như Trần Huy Liệu. Những người này sống lâu năm ở Nga, ở Trung Quốc hay biết nhau trong tù. Những người này chống Pháp kịch liệt.

Nhóm thứ hai gồm những người gọi là giáo sư trường Thăng Long, một trường tư về Luật (thật ra chỉ là một trường trung học) ở Hà Nội mà những nhân vật trong ban giảng huấn đều thuộc thành phần đại trí thức rất hiểu biết về chính trị. Trong số những người này có Võ Nguyên Giáp. Cũng có những người là cựu cán bộ của đảng Cộng sản được hợp pháp hóa khi Mặt trận Bình Dân lên nắm quyền ở Pháp như Phạm Văn Đồng. Những người này đều có văn hóa Pháp, thông minh và có óc cởi mở. Tuy chống đối kịch liệt chủ nghĩa thực dân, tranh đấu hăng say cho nền độc lập, những người này không muốn đoạn tuyệt với nước Pháp.

Sau cùng là những người gọi là những người “ngả theo”, như Dương Đức Hiền, cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Hà Nội, hay Nguyễn Mạnh Hà, cầm đầu Thanh niên hoạt động Công giáo. Đa số những người này đều là kỹ thuật viên xuất thân từ những Trường Lớn của Pháp nhưng không được (Pháp) dùng đúng với bằng cấp và khả năng của mình.

“Hồ Chí Minh ngồi ở một đầu bàn và tôi được ngồi đối diện ở đầu kia.

“… Tôi cũng lần lần khám phá ra bộ mặt thật của Hồ Chí Minh:

Có một ngày, trong buổi họp Hội đồng có cuộc bàn cãi khá sôi nổi giữa Hồ chủ tịch và Vũ Trọng Khánh, bộ trưởng bộ Tư pháp ngồi bên phải cạnh tôi. Sau buổi họp Vũ Trọng Khánh đưa cho tôi một cuốn sách nhỏ và nói với tôi:

– Ngài có vẻ ngạc nhiên về phản ứng của vị chủ tịch chúng ta. Đọc cuốn sách này ngài sẽ hiểu rõ hơn.

Tôi nhìn cái tít “Cuộc đời Nguyễn Ái Quốc” do A. Marty, trùm mật thám của Phủ Toàn quyền thảo.

– Ai là Nguyễn Ái Quốc?

Khánh nhìn tôi rồi đưa đầu về phía Hồ chủ tịch đúng vào lúc ông đi gần chúng tôi để ra khỏi phòng họp. Ngạc nhiên vì điệu bộ chúng tôi, ông lướt mắt nhìn cuốn sách rồi nhún vai, nhếch mép cười một cách hóm hỉnh, bước ra khỏi phòng họp không nói một lời.

“Về đến nhà, tôi vội vã đọc cuốn sách. Nguyễn Ái Quốc chỉ là một tên trong số cả mấy chục tên khác trong cuộc đời phiêu bạt trước khi trở thành Hồ Chí Minh… Cuốn sách của Marty ngưng lại ở đoạn này. Giáp là người kể tiếp cho tôi từ khi ông Hồ trở về nước năm 1941 và thành lập Việt Minh ngày 19-5 ở Cao Bằng.

“… Sự giao thiệp của tôi với các “đồng sự” rất là tốt đẹp. Nếu tôi gọi là các anh thì họ đều gọi tôi với cái tít Ngài. Hồ Chí Minh muốn mọi người phải xưng hô như vậy. Tôi đặc biệt gắn bó với Vũ Trọng Khánh. Ông ta có vẻ trơ trọi vì không nằm trong đảng…

“… Tôi nhận được tin Phạm Quỳnh, cựu thủ tướng của tôi, bị bắt, cũng như Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm và người con là Ngô Đình Huân, thư ký riêng của đại sứ Yokoyama. Tôi can thiệp với Hồ Chí Minh:

– Thưa cụ, ai cũng muốn giúp cụ mà tôi là người đầu tiên. Xin cụ rộng lượng. Khi cụ mới cầm quyền cụ thả hết mọi người tù. Xin cụ ra lệnh thả những người bị bắt từ khi đó.

– Thưa ngài, không thể được, dân sẽ không hiểu.

– Ít ra cụ cũng thả những người cộng sự của tôi. Họ không có trách nhiệm gì cả.

– Tôi hứa với ngài tôi sẽ lo chuyện đó.

Thật ra cả hai, Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi bị giết ngay từ đầu mà ông Hồ không biết. (tr 134)

“… Giữa chúng tôi (Bảo Đại và ông Hồ) hoàn toàn có sự thông cảm. Trong những buổi đàm đạo, không bao giờ đả động gì đến những vấn đề về hệ tư tưởng. Chúng tôi cùng đi với nhau đến gặp Sainteny, người thay Messmer làm ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc bộ. Chúng tôi cũng đi gặp người Mỹ và những phái viên của họ: Lansdale và thiếu tá Patti và sau này là tướng Gallagher. Tôi thấy Hồ Chí Minh nói tiếng Anh khá được.

“… Trong những cuộc đi gặp như vậy tôi luôn luôn được đẩy đi trước, khiến tôi phải nói: thưa chủ tịch tôi chỉ là cố vấn. Trái lại trong những buổi họp và biểu tình, tôi chỉ được ngồi bên phải. Sau tôi mới hiểu đó chỉ là những thủ đoạn. Chính phủ được chấp nhận nhưng không được công nhận bởi Đồng Minh. Sự có mặt của tôi cho chính phủ có bộ mặt hợp pháp hơn và tôi chỉ là bảo lãnh. (tr 135)

Trung Quốc xâm nhập

“… Toán lính đầu tiên tới Hà Nội ngày 9-9-45. Sau đó là tràn ngập lính Tàu. Tất cả là 3 quân đoàn chừng 80 ngàn người, không kể bọn tùy tùng và bầu đoàn thê tử nhào xuống Bắc Việt như những đám cào cào châu chấu. Tới với danh nghĩa bảo vệ độc lập cho Việt Nam, tụi lính Tàu này cư xử như những kẻ xâm lược. Đối với đám quân này, gồm những lính Vân Nam và Quảng Đông, Bắc Việt là một xứ thần tiên.

” Ngay khi tới Hà Nội ngày 18-9, tướng Lư Hán, chỉ huy trưởng, đã chiếm tòa nhà Puginier làm chỗ ở, đuổi phái bộ Sainteny ra ngoài. Lư Hán đòi tôi cho tiếp kiến, chứng tỏ Trung Quốc cố ý không biết Hồ Chí Minh. Tôi trả lời là tôi sẽ tới chào nhưng cuộc viếng thăm phải theo đúng nghi thức và chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh là người tiếp kiến. Đồng thời tôi cũng báo cho ông Hồ. Một thỏa thuận được tìm thấy nhanh chóng: Hồ Chí Minh tiếp tướng Lư Hán với sự hiện diện của tôi trong một biệt thự được trưng dụng. Như vậy cuộc thăm viếng không có tính cách chính thức.

“… Cùng đi theo đoàn quân Tàu là một đám các nhà chính trị thuộc các đảng phái quốc gia trốn từ trước qua Tàu được Quốc Dân Đảng cho tị nạn. Các lãnh tụ VNQDD và Đồng Minh Hội nhất quyết lấy lại ưu thế.. Được che chở bởi các tướng lãnh và những cơ quan tình báo Trung Hoa dưới quyền tướng Tiêu Văn, những người quốc gia này vội vã tước súng ống và thay thế những ủy ban nhân dân (Việt Minh) được Hồ Chí Minh thiết lập ở các tỉnh. (tr 138)

“Tình thế mỗi ngày một trở nên khó khăn với Hồ Chí Minh.. Biết đời sống bị đe dọa, mỗi đêm ông ngủ một chỗ khác. Ông vẫn tin tôi nên chỉ mình tôi biết ông ngủ đêm nào ở đâu…

“Chủ tịch cũng có vẻ bận tâm về sức khỏe của tôi và những quan hệ bạn bè của tôi. Biết là tôi hay được các bạn bè mời ăn tối, ông khuyên tôi như một người cha là phải coi chừng khi giao thiệp với đàn bà gặp ở những bữa ăn đó

“… Tôi không dễ bị mắc lừa về thái độ (của ông Hồ) đối với tôi. Nhưng hồi đó tôi không thấy ông biểu lộ một con người cứng rắn, khắc nghiệt, như sau này.

“Đối với tôi, ông (Hồ) là người rất gắn bó với nền độc lập nước nhà; Những điều ông nói tôi đều thấy hợp với nhãn quan của tôi. Không cần biết quá khứ và phương pháp hành động của ông, với tất cả sự trung trực của tôi, tôi ủng hộ ông.

“Nói cho thật, tôi thích tư thế của ông (Hồ) hơn những lãnh tụ quốc gia, thật sự chỉ là bù nhìn của bọn Tàu. Trong sự hỗn độn tôi thấy Hồ chí Minh vẫn giữ được trầm tĩnh.

– Một buổi chiều Hồ chí Minh nói với tôi: Ngài thấy không, tôi rất thất vọng về thái độ của Đồng Minh: Tôi tưởng được Nga ưu đãi. Rút cục họ chả làm gì cho chúng ta cả. Họ cũng chả thèm gửi qua đây một quan sát viên. Họ hoàn toàn lãnh đạm với vấn đề Đông Dương. Còn người Anh thì chả cần nói, chỉ cần nhìn thái độ của họ ở miền Nam Việt Nam. Họ đã thiên về Pháp và giúp Pháp tiêu diệt đồng bào ta đang tranh đấu giành độc lập. Còn người Mỹ thì ngài đã cùng tôi gặp họ. Khi tôi rời Trung Quốc, đại diện của họ có hứa hẹn với tôi và cam đoan với tôi. Để làm vui lòng họ, tôi để trong Lời nói đầu của Hiến Pháp tuyên ngôn độc lập hệt như tuyên ngôn của Jefferson năm 1776. Chúng ta được những gì? một con số không… Họ chỉ lo thay thế người Pháp và vì vậy họ cạnh tranh với Tàu. Gallagher đã nhận lời làm trung gian giữa chúng ta và bộ Ngoại giao Mỹ và đưa ra những đòi hỏi của chúng ta. Nhưng để đổi lại, ông ta đòi được tự do tổ chức lại nền kinh tế của ta, thật ra chỉ muốn nền kinh tế của ta phụ thuộc họ. Đó là những nhà tư bản, có tư bản trong máu rồi! đối với họ chỉ có business… Bữa nọ chúng ta khám phá ra là ban điều tra của họ tới hỏi cung những tù binh Nhật, không phải để biết những tội ác chiến tranh của Kampetai mà để biết những cơ sở của cửa khẩu Hải Phòng. Về phần bọn Tàu, thì ngài thấy…cả nước Tàu là một cái bụng đói! Quốc Dân Đảng chỉ là những tên trộm bợm, những đám diều hâu. Chỉ một người mà ta có thể dùng được, đó là Tiêu Văn (Siao Wen). Đó là một đứa vô lại rất tốn tiền cho chúng ta, nhưng biết được thứ chúng ta muốn và những “combin” của hắn có thể sài được; Nhưng tôi cũng nghi ngờ hắn có thể trở mặt lúc nào không hay. Khi mới tới đây hắn chơi lá bài VNQDĐ, bây giờ hắn gật đầu mỉm cười với ta. Mai mốt biết hắn cười với ai?… Nghĩ đi nghĩ lại, chắc chỉ còn có Pháp… (tr 140)

“Tôi không thể nén được ngạc nhiên trước cái kết luận như vậy nhưng nó hoàn toàn lô gíc.

“Hồ Chí Minh cho tôi thấy một lần nữa cái tài biết che giấu của ông. Ở Việt Nam công giáo chỉ là một thiểu số nhưng là một lực lượng năng động. 2 triệu tín đồ dính chặc với linh mục của họ. Ngay từ khởi đầu, Hồ Chí Minh đã tìm cách được lòng họ. Không thể không có ẩn ý khi chọn ngày 2-9 lễ Thánh Tử đạo Annam làm ngày Quốc khánh. Ông cũng đưa vào chính phủ Nguyễn Mạnh Hà khi học ở Paris là một thủ lãnh thanh niên Công giáo hoạt động xã hội và là con rể Georges Maranne, thượng nghị sĩ cộng sản quận Seine.

“Ngày 23-9 Nguyễn Mạnh Hà tổ chức một míting lớn ở Hà Nội tụ tập nhiều ngàn giáo dân để biểu lộ tinh thần ái quốc và sự tin tưởng vào chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Cũng trong bầu không khí đó, lễ tấn phong Giám mục Lê Hữu Từ được sửa soạn ở Phát Diệm. Hồ Chí Minh yêu cầu tôi thay mặt ông dự lễ vì bị mắc kẹt ở Hà Nội ngày 28-9, tướng Lư Hán đến để chính thức tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật.

“Nhưng ngày hôm trước, chủ tịch nói với tôi:

– Thưa Ngài, quân đội Pháp đã gần như dẹp yên kháng chiến Nam bộ. Sớm muộn gì bọn chúng cũng sẽ đổ bộ ở đây. Cần phải tránh không rơi vào tay chúng. Ngài là biểu tượng của nền độc lập Việt Nam. Ngài nên lợi dụng đi Phát Diệm để lánh xa Hà Nội.

– Tôi hỏi thế cụ thì sao?

– Ồ! với tôi đường lối đã vạch sẵn.

“Bữa sau tôi đi Phát Diệm cùng với Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ. Giám mục Lê Hữu Từ thuộc dòng tu kín (trappiste) là một nhân vật rất lạ lùng. Người bé nhỏ gầy đét trong bộ áo trắng dòng tu rộng thùng thình, cặp mắt sáng ngời lại sáng hơn nữa vì 2 lưỡng quyền nhô cao. Ông nổi tiếng trong dòng tu vì tài điều động công việc và rất biết rõ những mưu mẹo thương thuyết mặc cả.. Buổi lễ dưới quyền chủ tọa của giám mục Hà Nội là Nguyễn Bá Tòng. Giáp được Hồ Chí Minh ủy thác là mời tân giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn tôn giáo cho chính phủ. Đức cha Lê Hữu Từ nhận lời ngay tức khắc. (tr 141)

“Sau buổi lễ Giáp trở lại Hà Nội còn tôi đi Sầm Sơn, một bãi biển nghỉ mát ở gần Thanh Hóa.

“… Vào khoảng giữa tháng 12, một đại biểu Ủy ban tỉnh Thanh hóa đến gặp tôi và nhân danh chính phủ mời tôi ra ứng cử đại biểu Quốc hội. Tôi nhận lời về mặt nguyên tắc và nhắc lại là tôi muốn trở về Hà Nội. Ông này hỏi tôi:

– Thưa ngài; ngài muốn ra ứng cử dưới danh hiệu nào?

– Dưới danh hiệu đảng Cộng sản. Tôi trả lời với chút châm biếm trước một câu hỏi như vậy.

– Không thể được thưa ngài, ông ta trả lời một cách rất nghiêm túc: Đảng Cộng sản Đông Dương đã được giải tán theo quyết định của Ủy ban Trung ương ngày 11-11.

Tôi làm sao biết được những gì xẩy ra ở Hà Nội từ ngày tôi đi khỏi.
– Vậy thi ghi tên tôi là một người cộng hòa.

“Trong 3 tuần tôi không nhận được tin tức gì. Đúng ngày 7-1 có một phái đoàn đến báo tin tôi đã trúng cử vào Quốc hội và cuộc bầu cử đã diễn ra ngày hôm qua. Tôi được bầu đại biểu tỉnh Thanh Hóa với 92% số phiếu. Mọi người đều chúc tụng tôi. Còn tôi thì không biết ngày bầu cử và tất nhiên là tôi cũng chưa đi bầu. (tr 145)

“Nhưng bây giờ tôi đã là đại biểu Quốc hội. Tôi nhờ phái đoàn nói với Ủy ban Thanh Hóa là tôi muốn trở về Hà Nội càng sớm càng hay và xin cung cấp săng cho xe tôi. 8 ngày sau, mọi chuyện đều xếp đặt xong xuôi và tôi rời bỏ Sầm Sơn trở về Hà Nội, lòng nhẹ nhõm.”

Đại biểu Quốc Hội Lập Hiến

“Ngay chiều hôm ấy, tôi trở về chỗ ở của tôi, đại lộ Hoàng Diệu Hà Nội. Từ khi tôi đi khỏi Hà Nội cách đây 3 thấng, tình hình biến chuyển rất nhiều. Ngày 19-11 Tiêu Văn triệu tập các đảng phái bắt phải thỏa thuận với nhau và quân đội của 3 đảng phải sáp nhập với nhau để chỉ còn 1 quân đội duy nhất.

“Trước những thủ đoạn chính trị của Tàu, Hồ Chí Minh chỉ còn mối bận tâm duy nhất là làm sao vứt bỏ được sự hiện diện của Tàu ở Bắc Việt. Ông sẵn sàng thân thiện lại với người Pháp. Ông biết đầu tháng 1 Pháp có cử đặc phái viên tới Trùng Khánh điều đình với Tưởng Giới Thạch để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa. Ông đợi đúng ngày bầu cử Quốc hội 6-1, làm một bản tuyên bố được báo chí Pháp đăng lại, trong đó ông nói: “Chúng tôi không thù hận gì với nước Pháp và dân tộc Pháp mà chúng tôi khâm phục. Chúng tôi không muốn cắt đứt những mối giây liên lạc đã gắn chặt hai dân tộc chúng ta…”

“… Tháng 11-45 Cao Ủy Pháp ở Sài Gòn đưa ra sắc lệnh rút hết những tờ giấy bạc 500 được in dưới thời Nhật Bản chiếm đóng. Nhưng quân đội Tàu ngay khi mới tới đã thâu cướp được rất nhiều giấy bạc 500 nên đã thương lượng được với Pháp là sắc lệnh này không có hiệu lực ở phía Bắc vĩ tuyến thứ 16… Khi từ Sầm Sơn trở về, tôi không có một đồng xu dính túi vì tuy được nuôi ăn cho ở nhưng không có một đồng lương nào. Tôi viết thư xin mẹ tôi chút tiền thì mẹ tôi hồi âm bằng 2 tờ giấy 500 trứ danh đó. Tôi đưa cho Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ tài chánh nhờ ông đổi giùm. Ngày hôm sau người ta đem lại cho tôi một phong bì trong đó có 2000 đồng. Tôi tưởng là đưa lộn nên đi tới bộ Tài Chính để trả lại Phạm Văn Đồng. Phạm Văn Đồng nói với tôi:

– Không có lộn đâu

– Sao! Tôi đưa một ngàn đồng mà được đưa lại tới 2000 đồng. Ông làm tài chính như vậy thì còn lâu Việt Nam mới lấy lại được thăng bằng kinh tế.

– Nét mặt không chút xao động, Phạm Văn Đồng trả lời tôi: Tôi biết rõ tình trạng tài chính của ngài. Đây là một đặc ân tôi làm cho ngài.

“Một buổi tối, Hồ Chí Minh chìa cho tôi một tờ giấy và nói với tôi:

– Thưa ngài, trong thời gian ngài vắng mặt (ở Sầm Sơn), tôi có nhân danh ngài gửi cho Pháp một thông điệp. Tôi đọc:

“Thông điệp của Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Việt Nam, gửi nước Pháp….

Ký tên: Hoàng thân Vĩnh Thụy cựu Hoàng đế Bảo Đại, cố vấn chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. (tr148)

“… Chính phủ cử Giáp đi thanh tra các tỉnh cho đến tận biên giới Nam bộ với tư cách bộ trưởng bộ Nội Vụ. Tôi xin đi cùng nhưng không được chấp thuận. Giáp nói với tôi:

– Một tuần nữa tôi trở về tôi sẽ báo cáo với ngài những gì tôi thấy được.

“Một tuần sau khi tôi đang ăn trưa thì Giáp tới và nói:

– Tôi vừa về sau cuộc tuần tra.

– Mời anh ngồi cùng ăn, tôi nói.

Giáp có vẻ tư lự cúi đầu ăn không nhìn tôi. Giáp thường ngày đã ít cởi mở nhưng bữa nay bộ mặt còn có vẻ rầu rĩ hơn. Tôi để cho ông ta ngồi ăn không nói câu gì. Sau bữa ăn tôi mới hỏi:

– Thế nào?

– Phải thực tế, mặt vẫn cúi gầm.

– Anh muốn nói gì?

– Cái tôi muốn nói, là mình phải thích nghi với thằng Pháp.

– Không lẽ nào mình lại trở về với cuộc bảo hộ.

– Có thể chứ, nếu cần thiết.

– Tôi không hiểu nổi các anh nữa. Tôi chấp nhận độc lập với thằng Nhật. Tôi thoái vị. Tôi ra đi để nhường chỗ cho các anh, nay các anh lại muốn quay trở về với quá khứ.

– Mình biết làm thế nào bây giờ? Ở miền Nam tụi Pháp nó đã phá tan bộ máy của chúng ta phải mất bao công mới xây dựng được. Nó đã lấy lại hết. Chả bao lâu nữa nó sẽ đổ bộ ở đây. Chúng ta làm thế nào để chống lại được? Chúng ta có quân đội nhưng không có đạn dược…

“Được thỏa tấm lòng, Giáp kể lại cuộc hành trình… (tr 149)

“Vài ngày sau, tôi mới hiểu sự bối rối của Hồ Chí Minh và ê kíp của ông. Tôi biết giữa Chủ tịch đi cùng với Giáp và Sainteny có một cuộc hội đàm lâu dài về vấn đề sự trở lại của người Pháp và vấn đề phân chia chủ quyền. “Độc Lập” còn có nghĩa gì nữa không? Mặc dầu còn giũ được uy quyền, sự thay đổi thái độ của ông Hồ gặp một sự chống đối mạnh mẽ. Sự chống đối này được sự hỗ trợ của Tàu và của những đảng mà Tàu thao túng: Đại Việt, VNQDD, Đồng Minh… Tất cả đều đồng thanh đòi “chính phủ Việt gian” phải ra đi vì đã bán rẻ nền độc lập. Tôi biết các đảng phái này có bàn bạc với nhau về tôi.

“Ngày 27-1, 7 giờ sáng, điện thoại reo trong căn hộ tôi đường Hoàng Diệu. Hồ Chí Minh kêu tôi:

– Tôi có thể tới thăm ngài ngay tức khắc được không?

Tôi trả lời được và ngay phút sau ông đã tới. Ông có vẻ rất xuống tinh thần và ốm yếu hơn thường lệ. Ngay khi vào, ông nói ngay:

– Thưa ngài, tôi không biết làm sao nữa. Tình hình quá nguy kịch. Tôi biết rõ người Pháp sẽ không thương thuyết với tôi. Tôi không được lòng tin cậy của Đồng Minh. Tất cả đều thấy tôi “đỏ” quá. Tôi xin ngài hi sinh lần thứ hai: lấy lại quyền hành.

– Tôi trả lời: tôi đã bỏ quyền hành và không có ý lấy lại nó. Cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị và tôi đã tự đặt mình trong cái nhiệm vụ phải phục vụ một cách trung trực chính phủ Cộng hòa.

–Tôi để lại chỗ cho ngài, ông nhấn mạnh một lần nữa, tôi sẽ là cố vấn của ngài.

– Nhưng ai sẽ trao quyền cho tôi?

– Ngài sẽ được Quốc hội tấn phong như trong mọi chế độ dân chủ.

– Tôi có được thành lập chính phủ như tôi muốn hay tôi phải lấy lại những bạn hữu của cụ?

– Ngài được tự do hoàn toàn, muốn lấy ai thì lấy.

– Nếu cụ thấy quyền lợi và độc lập của đất nước đòi hỏi như vậy thì tôi sẽ không lẩn tránh. Nhưng tôi xin cụ một chút thời gian để suy nghĩ và hỏi ý kiến các bạn bè của tôi. (tr 150)

“Ngay tức khắc tôi điện thoại cho Nguyễn Xuân Hà (Nguyễn Xuân Chữ?) và Trần Trọng Kim và tôi nói:

– Tôi có một đề nghị quan trọng muốn đưa ra bàn với các ông. Nhờ 2 ông triệu tập bạn bè, tôi sẽ đến gặp.

“Đúng 8 giờ 30, tôi tới. Tôi kể với họ về cuộc gặp gỡ với Hồ Chí Minh và đề nghị của ông Hồ. Tôi hỏi họ:

– Các ông có nghĩ đó là cái bẫy không?

“Mọi người đều không tin và Trần Trọng Kim nói rõ thêm:

– Ai cũng biết là Việt Minh có liên lạc thường xuyên với Sainteny và một thỏa ước với Pháp đang được sửa soạn. Nếu Hồ Chí Minh không thiết tha ký nó thì đề nghị của ông Hồ là thành thực. Theo tôi ngài nên nhận lời.

“Khoảng lúc 10 giờ, Hồ Chí Minh lại gọi tôi nữa và hối thúc tôi nhận lời.

– Ngài đã gặp bạn hữu của ngài chưa? Xin ngài đừng mất thì giờ và đến Quốc Hội càng sớm càng hay.

“Đúng 12 giờ trưa, tôi gọi điện thoại ông Hồ và nói tôi nhận lời.

“Trước đó tôi biết là một người thân tôi có tiếp xúc với thiếu tá Buckley, người của Tình báo Mỹ OSS. Ông này không ngạc nhiên về đề nghị của Chủ tịch và hứa hẹn người Mỹ sẽ đứng trung lập vì là chuyện nội bộ của Việt Nam.

“Điện thoại lại reo đúng 13 giờ. Hồ Chí Minh yêu cầu tôi tới gặp. Khi tới, tôi thấy rõ ràng ông đã thay đổi thái độ. Ông có vẻ đã trấn tĩnh lại, nói hơi ngượng ngùng:

– Thưa ngài, xin ngài quên đi chuyện buổi sáng nay. Tôi không có quyền từ bỏ nhiệm vụ vì tình thế khó khăn. Trao lại quyền hành cho ngài bây giờ là tôi phản bội. Tôi xin lỗi đã biểu lộ sự yếu đuối vì đã nghĩ trong những hoàn cảnh khó khăn này lại muốn trút mọi trách nhiệm lên ngài. Sở dĩ tôi nghĩ ra đi là vì các đảng quốc gia chống đối thỏa ước mà chúng tôi đang sửa soạn với người Pháp.

“Chuyện gì đã xẩy ra giữa 10 giờ và 13 giờ?

“Tôi không nghĩ sự quay ngoặt của ông Hồ là do được Moscou cam đoan hỗ trợ qua phái đoàn Ba Lan, đại diện Liên Xô ở Hà Nội. Đúng hơn là vì tướng Tiêu Văn, bị thuyết phục bởi những” lí lẽ (vàng) kêu lẻng xẻng “(dịch chữ Pháp arguments sonnants et trébuchants) được Việt Minh tung ra, nên đã nhờ chủ tướng của mình là Lư Hán làm áp lực xuống những người quốc gia – đặc biệt là VNQDD – để những người này chịu tham gia chính phủ. Như vậy nhũng người này phải chia trách nhiệm ký thỏa ước với Pháp và Việt Minh không phải chỉ một mình vác gánh trước công luận. (tr 151)

“Bắt đầu từ đó, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi cùng làm việc để thảo bản thỏa ước trứ danh đó (Hiệp định Sơ bộ 6-3). Chúng tôi gặp nhau mỗi buổi tối trong một tuần. Theo ông Hồ, nhờ thỏa thuận với Pháp, sẽ tống khứ được bọn Tàu. Đó là mục tiêu chính của ông Hồ: loại Tàu ra để Pháp vào thay thế. Nhưng đồng thời cũng thao túng Tàu để Pháp chậm đến và đòi Pháp phải đưa ra tối đa những bảo đảm.

Thời gian ở Trung Quốc và Hồng Kông năm 1946

“… Hồ Chí Minh, vừa mới được sự thỏa thuận của tất cả các đảng phái cho Pháp trở lại, không muốn để sơ sót một thứ gì nên quyết định gửi một phái đoàn đi gặp thống chế Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Ông gọi tôi đến và yêu cầu tôi, với tư cách là cố vấn tối cao của chính phủ, dẫn đầu phái đoàn này mà thành phần là đủ mọi xu hướng. Ông có cảm tưởng là những tướng lãnh Trung Hoa đã phản ông nên hi vọng với sự hiện diện của tôi, và trong phái đoàn có nhiều thành phần, sẽ làm thống chế có thiện cảm với chính phủ lâm thời hơn. Nhưng Trùng Khánh vừa mới thỏa thuận cho Pháp đổ bộ – Người báo tin này cho Hồ Chí Minh là Sainteny – Và hơn nữa, Tưởng Giới Thạch vẫn chưa công nhận chính phủ của chúng ta. Trong điều kiện này tôi thấy không nên nhận nhiệm vụ. Tôi giảng giải với Hồ Chủ tịch:

– Chuyện này hơi bất trắc. Căn cứ vào chuyện vừa mới có sự thỏa thuận giữa Trùng Khánh và Pháp, nếu Tưởng Giới Thạch không tiếp tôi thì cụ với tôi đều mất mặt.

“Hồ Chí Minh cũng thấy đúng; nhưng vẫn giữ ý định gửi một phái đoàn gặp Tưởng Giới Thạch mà không có tôi.

“Hôm sau, tôi vừa mới ra khỏi nhà thì gặp một tướng Trung Hoa ở cạnh nhà tôi cùng đường Hoàng Diệu. Ông ta có vẻ biết đề nghị của Hồ Chí Minh với tôi nên đột ngột hỏi:

– Thưa ngài, ngài không muốn qua Trung Quốc? Thật là đáng tiếc, ngài nên lợi dụng cơ hội này, dù chỉ là để đi du lịch nước tôi…

Rồi ông ta nói, nửa bỡn cợt, nửa nghiêm trang:

– Với lũ điên, không biết cái chi có thể xẩy đến!

“Cái câu cuối cùng này khiến tôi nghĩ không phải ông ta gặp tôi tình cờ mà là có ý đưa cho tôi lời mời của Tưởng Giới Thạch.

“… Hôm sau tôi đến Phủ Thủ tướng (Bắc bộ phủ) gặp Hồ Chí Minh và nói:

“Cụ không cần tôi ở đây? Đã có Giáp và Đồng. Cho tôi đi qua Trung Quốc du lịch.

– Ngài có thể đi thanh thản, ông Hồ trả lời với vẻ bằng lòng. Ngài đừng lo ngại gì cả.

“… Tôi đi cùng với phái đoàn gồm 6 người: 4 đại diện Việt Minh, 2 VNQDD. (tr 153)

“Ngày 16-3-46, tôi rời Hà Nội. Chiếc máy bay DC-3 cho chúng tôi đi theo có chừng một tá sĩ quan Tàu và chở đầy những hòm lớn, chắc là đồ ăn cắp. Tụi nhà binh này này ngồi chỗ tốt nhất trong khi phái đoàn tôi bị đẩy xuống ngồi phía dưới gần những thùng hàng. Tôi không quen biết người nào trong số những người cùng đi với tôi, trừ một người tôi trông mặt hơi quen quen. Tất cả đều đi máy bay lần đầu nên không giấu được sự lo sợ… Sau 3 giờ bay, máy bay hạ cánh xuống phi trường Côn Minh nằm ở độ cao 2000 mét. Máy bay của chúng tôi không đi xa hơn được nữa. Chúng tôi phải đợi một tuần sau mới có máy bay đi Trùng Khánh nên ngày 23 mới tới. Chúng tôi ở khách sạn “Bốn mùa” lớn nhất thành phố. Tôi được ở một phòng rộng rãi còn 6 người đồng hành phải chia nhau 3 phòng tồi tàn.

“Hai ngày hôm sau, tổng thư ký của Quốc Dân Đảng đưa cho tôi giấy mời dự bữa ăn tối. Giấy chỉ mời hoàng đế Bảo Đại mà không đả động gì đến phái đoàn. Một xe đến đón tôi ở khách sạn. Chan, thư ký QDD tới đón tôi. Ông này là cựu sinh viên trường Dòng Tên Rạng Đông Thượng Hải nên nói rất giỏi tiếng Pháp.

“… Tưởng Giới Thạch rất lịch thiệp. Suốt bữa ăn ông tỏ ra rất am tường về tình hình Việt Nam. Chan làm thông ngôn cho tôi.

” Trong suốt thời gian đó, phái đoàn phải chờ hoài mà không được tiếp. Người trưởng đoàn nhờ tôi can thiệp để được Tưởng Giới Thạch cho tiếp kiến. Tôi cố thuyết phục Chan, thư ký Quốc Dân Đảng:

– Sự đoàn kết quốc gia đã được thực hiện ở Việt Nam. Phái đoàn đi cùng với tôi gồm những người đại diện 2 đảng lớn đang nắm quyền. Tất cả đều là những người bạn của Trung Quốc.

– Thưa ngài, Chan trả lời tôi, trong phái đoàn có những người cộng sản và những người cộng sản không thể nào là bạn của Trung Quốc được…

“Rút cục, sau nhiều ngày chờ đợi phái đoàn cũng được tiếp. Nhưng để không có tính cách chính thức, phái đoàn được tiếp trong một ngôi chùa cổ ở ngoài thành phố.

“Phái đoàn trở về hoàn toàn thất vọng. Tưởng Giới Thạch chỉ để đủ thời giờ cho phái đoàn đọc thông điệp của chủ tịch Hồ Chí Minh. Rồi, sau lời cám ơn cụt ngủn, Tưởng Giới Thạch tuyên bố là Trung Quốc, nhờ góp phần vào sự chiến thắng của Đồng Minh, đã có một chỗ ngồi giữa “Tứ cường”, muốn quanh biên giới chỉ có những nước bạn.

“Vài ngày sau, tướng Marshall, thay thế tướng Hurley, muốn gặp tôi. Tôi tới gặp ông ở văn phòng. Ông rất chú ý đến Việt Nam và muốn chính tôi kể lại cuộc cách mạng đã xẩy ra như sao khiến Việt Minh nắm được quyền hành.. Tôi nhắc lại những biến cố xẩy ra hồi tháng Tám và tháng Chín năm ngoái và nhấn mạnh vào điểm là không có những xung đột và không có khó khăn gì trong sự thay đổi quyền hành ở Hà Nội. Tôi cũng nói là tôi đã tự rút lui để không có đổ máu. Tôi cũng nhấn mạnh vào sự hòa hợp trong tân chính phủ do Hồ Chí Minh thành lập và sự ông quyết tâm thực hiện độc lập và thống nhất, hai khát vọng mà cả dân tộc Việt Nam cùng chia xẻ.

“Tướng Marshall có nhiệm vụ hòa giải Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, đặt tôi câu hỏi:

– Ngài nghĩ thế nào về Quốc Dân Đảng?

– Thưa Đại tướng, tôi biết rất ít và không rõ nhiều để có thể có một phán đoán có giá trị. Nhưng tôi thấy những thủ đoạn, những mưu toan của các tướng lãnh và của những người của họ ở Bắc Việt ngay khi họ mới tới, thì tôi thấy chả có gì là sáng láng. Tôi sợ cả Trung Quốc đều như vậy.

“Chúng tôi chia tay nhau sau câu nói này.

“Nhiệm vụ thất bại, phái đoàn sửa soạn trở về Hà Nội. Tôi quyết định cùng trở về. Ngày 15-4, máy bay xuống Côn Minh. May mắn hơn khi đi, chúng tôi có ngay máy bay đi Hà Nội.

Khi chúng tôi sắp lên máy bay thì có người đưa cho tôi tin nhắn của Hồ Chí Minh:

“Thưa ngài, mọi sự ở đây đều tốt đẹp, xin ngài cứ thư thả ở lại. Vả lại, sự hiện diện của ngài ở Trung Quốc rất hữu ích cho chúng ta. Đừng ngại ngùng gì cả. Khi nào tôi thấy là ngài cần về, tôi sẽ báo. Xin ngài nghỉ ngơi cho khỏe để còn làm nhiều nhiệm vụ đang chờ đợi chúng ta. Ôm hôn thân ái. Ký: Hồ Chí Minh. (tr 156)

“Chủ tịch không muốn tôi trở về. Tôi chào từ biệt phái đoàn. Khi máy bay chỉ còn là một chấm nhỏ ở chân trời, tôi đứng một mình trong căn cứ cũ của không quân Mỹ. Ngồi trên bậc cầu thang của phi trường, tôi điểm lại tình hình: không những tôi trơ trọi một thân một mình mà còn hoàn toàn cùng quẫn, không có một đồng xu dính túi. Vali của tôi nằm trong hầm để đồ của máy bay, khiến tôi không có quần áo để thay và cũng không có giấy tờ hay hộ chiếu… Tôi đọc lại câu “Ôm hôn thân ái” của Hồ Chí Minh mà không thể không mỉm cười: Thật là một đại kịch gia! Khi thì săn sóc như một người cha, khi thì đầy trìu mến, ân cần, biết lợi dụng cái giáng điệu mảnh dẻ yếu ớt của mình, khi thì tỏ ra đầy uy quyền. Thật là không thiếu trào phúng… Tất cả ai gần ông lúc ban đầu đều bị nhầm, bị lừa… Người Mỹ, Sainteny, và chính tôi đây… Thật ra sự hiện diện của tôi làm ông vướng víu. Đó là lí do tôi phải đi Sầm Sơn và bây giờ là tôi phải lưu vong.

“Khi tôi đang trầm mình trong suy nghĩ thì có người tiến lại gần tôi. Một người Trung Hoa mặc âu phục bằng trạc tuổi tôi. Ông ta cười và hỏi tôi:

– Ông biết nói tiếng Pháp?

– Rất mừng có người nói chuyện, tôi trả lời: Biết chứ.

– Tôi tên là Yu, cựu luật sư ở Paris.

–Tôi cũng học ở Pháp, tên tôi là Vĩnh, sinh ở Việt Nam. Tôi đi du lịch qua đây bị lỡ máy bay.

– Ông ở đâu?

Thấy tôi lúng túng, ông ta hiểu tình trạng của tôi và không ngần ngừ đề nghị:

Ông đến ở nhà tôi. Tôi là con cựu thị trưởng thành phố này. Cha tôi mới mất cách đây ít lâu, vì vậy tôi phải về. Nhà tôi khá rộng, ông ở thoải mái.

“… Nhờ sự rộng lượng của chủ nhà, tôi sắm được quần áo trong một cửa hàng bán quần áo cũ của quân đội Mỹ. Tôi liền thay bộ đồ mới mua được. Tôi ngạc nhiên trên đường về thấy lính tráng Tàu chào tôi. Khi về đến nhà tôi mới hiểu là tôi mặc quân phục của đại tá không quân Mỹ. Cả nhà đều cười ran và chúc mừng tôi đã lên chức.

“Có một bữa chúng tôi vào ăn ở một quán thì thấy một thanh niên vòng tay kính cẩn chào:

– Thưa Hoàng thượng, ngài còn sống?

“Đó là một thanh niên Việt Nam thuộc Đoàn Thanh niên của Phan Anh nên có dịp thấy tôi khi đi theo Phan Anh vào thành nội. Trước sự ngạc nhiên của Yu tôi phải giảng nghĩa vì sao tôi phải giấu tên. Không những Yu không bực mình mà còn mời Bùi Minh (Bùi Tường Minh?) ăn cùng. Minh nói phải trốn khỏi Hà Nội vì hoạt động trong đảng Đại Việt…

“… Với 2 người con của tướng Long Vân, thống đốc tỉnh Vân Nam, cả 2 đều tốt nghiệp Saint Cyr, tôi cũng cho biết tung tích của tôi và chúng tôi họp thành một nhóm bạn hữu rất vui vẻ.

“… Tôi không nhận được tin tức gì ở Hà Nội mặc đầu tôi có cho Hồ Chí Minh biết chỗ tôi cư ngụ. Bây giờ tôi biết chắc chắn là ông Hồ không muốn có sự hiện diện của tôi ở Việt Nam.

“… Tháng 9 tôi nhận được lời mời của Chan, Tổng thư ký Quốc Dân Đảng tới Trùng Khánh.. Lạ thay Yu cũng nhận được lời mời tương tự. Yu không tỏ vẻ ngạc nhiên vì cùng học với Chan ở trường Rạng Đông Thượng Hải và thỉnh thoảng cũng được gọi về thủ đô. Yu xin đi cùng, tôi nhận lời và 2 ngày sau chúng tôi lấy máy bay đi Trùng Khánh.

“Chan muốn mời tôi đến nhà ở, tôi cám ơn và nói thích trở lại khách sạn “Bốn Mùa” hơn. Tôi lợi dụng sự rảnh rỗi để tiếp tục đọc về Trung Quốc và đi đánh quần vợt lại.

“Đầu tháng Tám, Quốc Dân Đảng báo cho tôi là có một người đồng hương sắp tới. Hơi ngạc nhiên tôi tơi phi trường đón. Anh ta chừng 30 tuổi, hình dạng không phải là một người Việt thuần túy.

“Khi ngồi trong xe anh ta nói:

– Tôi là đại tá tình báo của quân đội Thiên Hoàng, tôi có phận sự theo dõi những hành vi của Quốc Dân Đảng. Tôi sinh ở Nhật, cha Nhật mẹ Việt. Tôi được gửi tới ngài với danh nghĩa là thư ký của ngài;
Chuyện khá tức cười, tôi không nín được đặt câu hỏi:

– Tôi tưởng là những sĩ quan cao cấp Nhật đều tự sát theo truyền thống võ sĩ đạo. Tại sao ông không làm?

– Thưa ngài, những sĩ quan tình báo nhận được lệnh cấm làm hara-kiri. Họ phải tiếp tục sống và làm việc cho tương lai của Đế quốc Mặt trời. Khi tôi làm song phận sự, tôi sẽ trở về Sài Gòn theo ngả Manille và đầu hàng quân đội Anh.

Bắt đầu từ ngày đó, anh ta không rời tôi nửa bước.

“Chan, tôi gặp luôn luôn, nói với tôi là Tưởng Thống chế sắp rời đô xuống Nam Kinh, rất hân hạnh mời tôi tới Nam Kinh.

“Cuối tháng Tám Tưởng Giới Thạch xuống Nam kinh. Người thư ký “trung thành” của tôi cũng biến mất sau khi làm xong phận sự. Yu cũng theo chính phủ bỏ Trùng Khánh và nài nỉ tôi đi cùng. Tôi không muốn chút nào đi Nam kinh vì ngán thấu cổ cái bẩn thỉu của nước Tàu và thật sụ là sợ cô độc. Tôi kiếm một nơi ẩn trú đồng thời cũng là trung tâm. Tại sao không là Hồng Kông ? Yu đề nghị cùng đi với tôi vài ngày.

“8 ngày sau, ngày 15-9 chúng tôi bay đến Hồng Kông. (tr 161)

” .. Chúng tôi giữ 2 phòng ở một khách sạn hạng thường bên Cửu Long. Sau 2 tuần du lịch, Yu trở về Nam Kinh, hơi thất vọng vì tôi không đi cùng, nhưng cam đoan với tôi là sẽ được Tưởng Giới Thạch đón tiếp nếu tôi đổi ý.

“…Tôi lại sống cô độc với chút đô la HK trong túi Yu đưa cho tôi. Chỉ ít lâu sau tiền hết, tôi phải tìm cách sinh sống. Trong khi chờ đợi tôi đi dạo. Phần nhiều là đi bộ, hay đi xe buýt. Nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn tự do. Lần đầu tiên trong đời tôi có cảm giác như vậy. Trong một bữa đi tản bộ, tình cờ tôi thấy trước một tòa nhà có bản đề “Ngân Hàng Đông Dương”.

“Sau một chút ngần ngừ và cũng không biết tại sao tôi bước vào. Thật tôi đúng vào ngày gặp may! Khi vào đại sảnh, tôi thấy ông Gany, Tổng giám đốc Ngân hàng Đông Nam Á. Ông nhận ra tôi tức khắc, rất ngạc nhiên và nói ông mới tới Hồng Kông thanh tra và hỏi thăm tình cảnh tôi. Nói vắn tắt tôi kể cho ông trường hợp nào tôi tới Hồng Kông và tôi không có tiền. Tôi muốn ông ấy ứng ra cho tôi một chút. Ngay tức khắc ông ấy đưa cho tôi chừng 2000 đô la HK. Vài ngày sau, cũng tình cờ tôi được biết hội Truyền đạo Công giáo Pháp ở Nước ngoài. Hội này bằng lòng cho tôi vay một số tiền được bảo đảm bằng tài sản của hoàng gia. Tôi không còn phải lo thiếu tiền nữa và tôi dọn tới khách sạn Gloucester ở trên đường Queen’s Road…

“… Cũng ở khách sạn này, vào khoảng giữa tháng 11, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch tới gặp tôi. Ông là giấm đốc những đoàn thanh niên Nam bộ dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, rồi làm bộ trưởng không bộ nào của chính phủ Lâm thời tháng Tâm năm 1945 và bây giờ ông là đổng lý văn phòng của Hồ Chí Minh.

– Thưa ngài, tôi từ Quảng Châu tới. Tôi được cụ Chủ tịch sai tôi đưa tin và gửi lời chào thân ái, đồng thời cũng xin ngài nhận vật này: Từ trong cập ông lấy ra một cái tráp trong đó có nhiều nén vàng. Với số vàng này tôi có thể sống được 2 tháng.

– Nhờ ông cám ơn Hồ chủ tịch. Nhưng cho tôi biết hành trình qua Pháp của Hồ Chủ tịch.

– Hồ Chủ tịch tới Pháp ngày 21-10… Một chính phủ mới “Đoàn kết quốc gia” được thành lập. Hồ Chủ tịch vẫn kiêm nhiệm bộ trưởng bộ Ngoại giao. Giáp là bộ trưởng bộ Quốc phòng và Phạm Văn Đồng vẫn giữ bộ kinh tế… Và chủ tịch vẫn muốn ngài làm cố vấn tối cao cho chính phủ.

– Xin ông cám ơn giùm tôi về sự tin cậy của chủ tịch. Kể cho tôi những gì đã xẩy ra từ khi tôi đi Trung Quốc.

– Ngài đã biết là, để thi hành Thỏa ước 6-3, người Pháp đã trở lại… Chủ tịch đã gặp tướng Leclerc ở Hà Nội và Leclerc đã ưng thuận chính phủ chúng ta đi Paris để cụ thể hóa nền độc lập và sự thống nhất nước nhà.. Một buổi hội đàm đã diễn ra tại Đà Lạt ngày 17-4 để sửa soạn cuộc hành trình. Nguyễn Tường Tam sẽ dẫn đầu phái đoàn, chung quanh có Giáp, Vũ Trọng Khánh, Hoàng Xuân Hãn, Cù Huy Cận…Cũng có những người đại diện miền Nam. Rất mau chóng, các đại biểu ta thấy ngay là người Pháp không thành thật. Những gì là sự thật ở Hà Nội không còn như vậy ở Sài Gòn…Cuộc bàn cãi ở Đà Lạt kéo dài đến tận ngày 11-5. Mặc dầu người Pháp không thật lòng, Chủ tịch đã đi Pháp ngày 31-5, hi vọng vào sự gặp gỡ với chính phủ Pháp. Nhưng khi tới Pháp thì chính phủ đổ, Pháp không còn chính phủ nữa! Nghiêm trọng hơn hết là ngay sau ngày Chủ tịch đi Pháp, hôm 1-6, người Pháp thành lập ở Sài Gòn một chính phủ lâm thời Nam Kỳ với bác sĩ Thinh đứng đầu. Đó là chứng cớ sự gian dối của người Pháp….Sau một tháng rưỡi chờ đợi, Hồ chủ tịch quyết định trở về nước. Tuy vậy, để chứng minh lòng thành thật và sự rộng lượng của dân tộc Việt Nam, trước khi rời Pháp Chủ tịch đã ưng thuận ký với tổng trưởng Marius Moutet một bản đồng tuyên ngôn thiết lập giữa Việt Nam và Pháp, một Modus vivendi (Tạm ước).

“… Tôi cám ơn bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã thuyết trình và nói:

– Tôi thấy bản Tạm ước trù liệu có thể đến tháng 1- 47 sẽ tiếp tục lại những cuộc bàn cãi đã bị bỏ dở ở Hội nghị Fontainebleau. Bởi vậy tôi muốn ông nói lại với Hồ chủ tịch là tôi muốn trở về Hà Nội vào lúc đó.

– Thưa ngài, tôi nghĩ là Chủ tịch muốn ngài ở lại Hồng Kông trong thời gian đó, vì Hồng Kông là địa điểm quan sát tốt nhất. Dầu sao chăng nữa, Chủ tịch dặn ngài phải coi chừng bọn Pháp và những tụi Việt gian được Pháp dùng để thi hành những thủ đoạn của nó. (tr 166)

“Đối với tôi, chuyện đã rõ ràng, Hồ Chí Minh không muốn tôi: Ông đã đẩy tôi đi khi người Pháp trở lại và giữ tôi ở xa trong khi có Hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau. Ông không muốn có sự hiện diện của tôi ở Hà Nội nếu cuộc thương thuyết với người Pháp bắt đầu lại.

“Vài ngày sau, gần như cả một phái đoàn tới khách sạn Gloucester xin được tôi tiếp kiến. Từ Quảng Châu tới là 3 thủ lãnh quốc gia, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam: VNQDD. Nguyễn Hải Thần: Đồng Minh Hội. Những người này đã trốn khỏi Hà Nội từ tháng 7 để tránh bị Giáp truy hại trong lúc Hồ Chí Minh vắng mặt. Nối tiếp sau đó là Trần Trọng Kim, cũng từ Quảng Châu tới. Trần Trọng Kim hỏi tôi:

– Thưa ngài, ngài tính thế nào?

– Tôi đợi Hồ Chí Minh gọi tôi về.

– Xin ngài đừng về Hà Nội, nguy hiểm lắm. Tại sao ngài không đi Nam Kinh với Quốc Dân Đảng theo lời mời của Tưởng Giới Thạch?

– Không, tôi không đi Nam Kinh. Quốc Dân Đảng coi như là sắp tiêu tan rồi. Tưởng Giới Thạch không chống lại được áp lực của cộng sản đâu và chẳng chóng thì chày, Mao Trạch Đông sẽ toàn thắng…

“… Tôi được giấy triệu tập của An ninh Anh. Gặp Cảnh sát trưởng người Anh, tôi hỏi lí do. Ông ta nói: Từ ngày ngài tới Hồng Kông tháng Mười năm ngoái, ngài thay đổi nhiều khách sạn. Chúng tôi biết ngài là ai ngay từ đầu. Tôi nhận được lệnh phải bảo đảm an ninh cho ngài. Chúng tôi dành cho ngài một cái biệt thự ở Repulsion Bay. Hai cảnh sát Trung Hoa mặc thường phục sẽ túc trực bên ngài.

“… Từ khi tôi đến ở Repulssion Bay trên đảo Victoria, biệt thự của tôi trở thành một cục nam châm thu hút khách viếng thăm. Có những khách tới để đặt trước chỗ ngồi, có những khách tới để dò dẫm cho Pháp hay cho nước ngoài khác… Tôi không có ảo tưởng gì khi bỗng nhiên nhận được sự quan tâm của nhiều người: bác sĩ Phan Huy Đán, luật sư Đinh Xuân Quảng, cả 2 thuộc đảng Xã hội, VNQDD có Trần Văn Tuyên, rồi bác sĩ Lê Văn Hoạch, phó thủ tướng chính phủ Nam Kỳ, rồi Ngô Đình Diệm mà tôi nghi là con mắt của Mỹ…(tr 171)

“… Ngày Toàn quốc Kháng chiến 19-12 đã đẩy Việt Minh vào một cuộc chiến tranh du kích. Theo tôi đó là cái lầm lớn nhất. Nhưng ai là người chịu trách nhiệm?

“Giáp chắc chắn là có một phần khi sửa soạn cuộc Tổng tấn công. Nhưng hình như phút cuối cùng Giáp hủy lệnh đánh. Cuộc tổng tấn công đã phá hoại đường lối chính trị được ấn định từ trước và đã đưa đến một cuộc chiến tranh quá lâu dài.

“Nếu không có ngày 19-12-1946 thì gì đã có thể xẩy ra ở Việt Nam? (tr 172)

Nguồn : Dân Luận

 

Tọa đàm về người bảo vệ nhân quyền ở VN – BBC

27 Th11

 

  • 26 tháng 11 2014

Buổi tọa đàm nhân quyền ngày 26/11 có sự tham gia của nhiều đại diện từ các tòa đại sứ quán nước ngoài ở Hà Nội

Một buổi tọa đàm về chủ đề bảo vệ ‘Người bảo vệ nhân quyền’ đã được hai nhóm xã hội dân sự trong nước hợp tác tổ chức tại nhà thờ Thái Hà, Hà Nội sáng 26/11.

Trong thông cáo về nội dung chương trình, hai tổ chức Diễn đàn Xã hội Dân sự và Vietnam UPR Working Group cũng mời cả đại diện từ phía Bộ Công an Việt Nam và công an TP. Hà Nội đến tham dự.

Tuy nhiên, trả lời BBC ngày 26/11, một trong các diễn giả chính tại buổi tọa đàm, cho biết chỉ có một số an ninh được cử theo để theo dõi và gây khó khăn cho ông trên đường đến buổi tọa đàm.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A cũng nhận định tình hình nhân quyền tại Việt Nam trở nên “tồi tệ hơn” sau kỳ UPR.

Mục tiêu của buổi tọa đàm là nhằm “phổ biến và giám sát” quá trình thực thi những khuyến nghị trong kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về Nhân quyền (UPR) hồi tháng Sáu, thông cáo viết.

Trong kỳ UPR hồi giữa năm nay, phía Việt Nam đã chấp nhận các khuyến nghị từ Luxembourg, Na Uy và Tunisia về việc “công nhận, bảo vệ và bảo đảm môi trường hoạt động cho những người bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam”, thông cáo cho biết thêm.

BBC: Xin ông cho biết một số diễn biến chính trong buổi tọa đàm sáng nay?

Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Số người dự cuộc tọa đàm sáng nay là trên 70 người, trong đó có một đại diện của khối Liên hiệp châu Âu, bảy đại diện từ các đại sứ quán của Hoa Kỳ, Anh quốc, Úc và nhiều nước khác.

Khi tôi chuẩn bị lên xe buýt thì có 10 an ninh quận Long Biên xúm lại ngăn chặn. Tôi vẫy taxi thì họ đuổi taxi đi.

Tôi chỉ còn cách duy nhất là đi bộ và họ bám theo tôi suốt từ nhà đến nhà thờ Thái Hà.

Tuy nhiên diễn biến trong phòng tọa đàm rất suôn sẻ. Chương trình đã bắt đầu đúng giờ và kết thúc vào lúc 12 giờ trưa theo kế hoạch.

Máy của bạn không hỗ trợ nghe âm thanh

null

BBC: Mục tiêu trước mắt cũng như dài hạn của những buổi tọa đàm thế này là gì, thưa ông?

Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Mục tiêu cuộc tọa đàm thực chất là để giới thiệu cho công chúng Việt Nam, những người trong bộ máy công quyền hiểu rõ những người bảo vệ nhân quyền là ai, có những quyền gì và nghĩa vụ của nhà nước là ra sao.

Mục tiêu dài hạn của chúng tôi là giúp những cuộc tọa đàm ôn hòa, mang tính xây dựng và phổ biến kiến thức được tổ chức nhiều hơn nhằm củng cố sức mạnh cho xã hội dân sự tại Việt Nam.

Khi xã hội dân sự phát triển lên và có nhiều hoạt động như thế thì chính quyền sẽ hiểu rằng các hoạt động này là tốt cho đất nước, không phải do các thế lực thù địch xúi giục để làm hại đất nước.

Khi đã hiểu ra thì người ta có thể sửa đổi các quy định pháp luật để những hoạt động như vậy không còn gặp những trở ngại như ngày hôm nay.

BBC: Khi chính quyền không công nhận những tổ chức dân sự độc lập thì điều đó gây những khó khăn gì cho những ‘Người bảo vệ nhân quyền’ trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, thưa ông?

Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Có nhiều loại nhân quyền, như quyền của người khuyết tật, quyền người nhiễm HIV, quyền phụ nữ, dân tộc thiểu số, quyền làm kinh tế.

Nếu là những tổ chức bảo vệ cho các quyền đó thì họ có thể đăng ký hoạt động đàng hoàng ở Việt Nam.

Tuy nhiên những người bảo vệ quyền tự do ngôn luận, bảo vệ quyền tù nhân thì bị chính quyền coi là nhạy cảm và gây khó khăn, có muốn đăng ký cũng không được.

Họ coi những tổ chức đó là bất hợp pháp.

Trong khi đó quy định của Liên Hiệp Quốc quy định không phân biệt giữa các tổ chức đăng ký hay không đăng ký và nhà nước phải tạo thuận lợi cho bất cứ tổ chức nhân quyền nào.

Tại phiên UPR vừa rồi, chúng tôi đã gặp Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc và đại diện các nước EU, tất cả đều tôn trọng và công nhận chúng tôi, rất đáng tiếc chúng tôi lại không được công nhận ở chính nước mình.

Tuy nhiên theo đúng như tinh thần chung thì chúng tôi coi chúng tôi là những tổ chức hợp pháp, không quan trọng là có đăng ký hay không.

Chúng tôi sẽ kiên trì đấu tranh ôn hòa để thuyết phục họ rằng nếu họ để các tổ chức dân sự như chúng tôi được đăng ký thì điều đó sẽ chỉ có lợi cho đất nước và cho chính bản thân họ.

Tất nhiên là trong thời gian vẫn bị xem là bất hợp pháp thì hoạt động của chúng tôi sẽ còn nhiều khó khăn.

BBC: Ông có thấy những cải thiện đáng kể nào về nhân quyền tại Việt Nam kể từ sau kỳ UPR vừa qua hay không?

Tiến sỹ Nguyễn Quang A: Những lời nói của Thủ tướng trong đầu năm và suốt thời gian vừa qua thì có nhiều điểm nghe rất hay. Nếu làm được những gì đã nói thì rất tốt.

Nhưng tôi vẫn chưa thấy có chuyển động có ý nghĩa gì về mặt nhân quyền cả.

Trước phiên kiểm điểm họ mềm dẻo đi một chút, và sau đó thì đâu lại hoàn đấy.

Vừa qua chúng ta chứng kiến việc bắt giữ ông Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh. Ngay cả Điếu Cày và Cù Huy Hà Vũ có được thả cũng bị đẩy sang Mỹ.

Bên cạnh đó, còn các vụ mới đây như phiên xử phúc thẩm các nông dân Dương Nội và hành hung ông Dương Minh Đức và nhiều người khác.

Tôi thấy rằng lời nói hay nhưng không đi đôi với việc làm, và dường như tình hình nhân quyền sau phiên UPR lại tồi đi.

 

Đại bàng Mỹ đấu với Rồng Trung Quốc trong Thế ký 21 – VB

27 Th11

1* Mở bài

Sự phát triển kinh tế rất nhanh kèm theo thái độ hung hăng côn đồ, bành trướng bá quyền ở biển Hoa Đông và Biển Đông của Trung Cộng đã khiến cho các quốc gia trong vùng lo ngại, ngay cả siêu cường quốc như Hoa Kỳ cũng cảm thấy sự trổi dậy đó là mối đe dọa trong tương lai, cho nên Hoa Kỳ xoay trục về châu Á-TBD với mục đích bao vây kềm chế nước Cộng Sản nầy. Bao vây quân sự và kinh tế.

Về quân sự, Mỹ đã bày thiên la địa võng bằng một vành đai quân sự với những vũ khí hiện đại nhất để trấn áp chiến lược Xâu chuỗi ngọc trai (String of Pearls) của Trung Cộng.

Về kinh tế, vòng đai Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP= Trans-Pacific Partnership) bắt đầu từ 10 năm trước kia với 12 nền kinh tế, đã qua 7 vòng đàm phán và sắp thành hình trong một thời gian ngắn.

Để chống lại TPP, Trung Cộng đề xuất thành lập một vành đai kinh tế gọi là “Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21”.

Bộ mặt côn đồ bành trướng của Trung Cộng khiến cho láng giềng lo ngại vì thế Tập Cận Bình phải thay đổi từ côn đồ sang bộ mặt hiền lành để gây niềm tin, bắt đầu bằng tuyên bố Trung Cộng sẽ không xử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp về lãnh thổ. Điều nầy có thể họ không tiếp tục đặt giàn khoan và đâm bể hông tàu Việt Nam như trước kia.

Ổn định tạm thời trong khu vực Biển Đông khiến cho CSVN thở phào nhẹ nhõm, “thừa thắng xông lên” tuyên bố mạnh mẽ hơn về việc bảo vệ tổ quốc.

Tuyên bố không xử dụng vũ lực nhưng cứ xây đảo nhân tạo, phi trường và căn cứ quân sự…mà cho dù Trung Cộng có xử dụng vũ lực đi nữa thì CSVN cũng không dám đánh trả, tiếp tục đưa hông tàu cho kẻ địch đâm vào và luôn ca ngợi 4 tốt và 16 chữ vàng như đã thấy trước đây.

2* Tóm tắt việc bao vây quân sự và kinh tế của Mỹ đối với Trung Cộng

2.1. Vành đai quân sự chống chiến lược xâu chuỗi ngọc trai của Trung Cộng

1). Với chiến lược Biển Xanh (Lam sắc quốc thổ chiến lược), Trung Cộng đã tuyên bố chủ quyền trên một vùng biển 300 triệu km2, bao gồm vùng biển của các quốc gia như Nam Hàn, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Chuỗi Ngọc Trai (Nhất phiến trân châu – String of Pearls) là một vành đai trên biển bắt đầu từ đảo Hải Nam, xuống đảo Phú Lâm (Woody Island) của Hoàng Sa, tiến xuống nhóm đảo Trường Sa, qua kinh đào Kra, ôm lấy Myanmar (Miến Điện), dừng lại ở Karachi, Pakistan.

Chuỗi Ngọc Trai là một hệ thống căn cứ hải quân thuộc các quốc gia như sau:

1. Căn cứ hải quân ở cảng Gwadar, Pakistan

2. Căn cứ Marao, Maldives (Quần đảo, cách Sri Lanka 700 km. Dân số 349, 106 người)

3. Căn cứ Hambantota, Sri Lanka (Đảo ngoài khơi phía Nam, cách bờ biển Ấn Độ 31km)

4. Căn cứ ở hải cảng Chittagong, Bangladesh

5. Căn cứ ở hải cảng Ile Cocos, Myanmar

6. Căn cứ ở hải cảng Sihanoukville, Campuchia

2). Vành đai của Mỹ chống xâu chuỗi ngọc trai của Trung Cộng.

Mỹ bày thiên la địa võng để khống chế xâu chuỗi ngọc trai của Trung Cộng

Thiên la địa võng là vòng vây bủa kín tất cả các phía, không có đường ra, không có lối thoát.

Chiến lược “tái cân bằng lực lượng quân sự” của Hoa Kỳ rất lợi hại.

Những căn cứ hoả tiễn của Hoa Kỳ, từ Alaska, Hạm Đội 3 ở Bắc Thái Bình Dương, Hạm đội 7 Thái Bình Dương, Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, đảo Guam, Honolulu (Hawaii), Philippines, Úc, Thái Lan, đến Singapore. Bốn chiếc tuần duyên hạm tối tân nhất là USS Freedom LCS-1 và USS Independence LCS-2, kỹ thuật siêu tàng hình, tốc độ cao, 56km/giờ, tầm hoạt động xa, 3,500 hải lý (6,400Km), sẽ thường trực đóng đồn ở cửa ra vào của eo biển Malacca.

Sáu hàng không mẫu hạm nằm trên vành đai bao vây, đều chỉa hoả lực vào một mục tiêu cố định là Bắc Kinh, cho thấy TC chạy trời không khỏi nắng.

Ngoài vũ trụ, tàu con thoi không người lái X-37B, đang làm chủ không gian, làm tê liệt hệ thống định vị toàn cầu (GPS) của Trung Cộng thì hoả tiễn “sát thủ HKMH” DF-21 hoàn toàn vô dụng. Thêm vào đó, X-37B cũng có khả năng phóng hỏa tiễn xuống Bắc Kinh, đồng thời 3 siêu vũ khí tàng hình phá hủy chiến thuật “vùng cấm tiếp cận” của TC và nhất là từ 12 vị trí trên vòng đai bao vây, cùng khai hỏa một lúc nhắm vào Hoa Lục thì TC có ba đầu 6 tay cũng đành chịu, vì không thể phản công cùng một lúc đến 12 vị trí ở nhiều phương hướng khác nhau được.

Lợi hại nhất là căn cứ Mỹ ở Darwin của Úc. Darwin nằm ngoài tầm đạn của Trung Cộng và từ đó lực lượng Mỹ có thể triển khai hình nan quạt, xòe ra từ đông sang tây yểm trợ và đánh trả từ Đài Loan, Philippines, Nhật, Nam Hàn, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam. Với 2,500 người không phải ít mà quá đủ trong thời đại chiến tranh bấm nút kỹ thuật hiện đại nhất ngày nay.

Bộ Tư Lệnh Không Gian Ảo (United States Cyber Command-USCYBERCOM) đã được thành lập để tiến hành cuộc chiến tranh mạng (Cyberwar) chống lại TC.

2.2. Vành đai kinh tế: Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương

Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Chiến Lược Xuyên Thái Bình Dương được gọi tắt là “Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương” (Trans-Pacific Partnership-TPP) có mục đích thiết lập một khu vực thương mại tự do giữa các thành viên thuộc châu Á-TBD, chủ yếu là miễn thuế và xoá bỏ những rào cản.

Hiện nay, 12 quốc gia là Singapore, Chile, New Zealand, Brunei, Hoa Kỳ, Úc, Peru, Malaysia và Việt Nam đã qua 7 vòng đàm phán. Nhật Bản, Canada và Philippines cũng đang xin đàm phán gia nhập TPP.

Đó là nền kinh tế tư bản, dựa trên sự canh tranh công bằng giữa tư nhân với tư nhân. Trái lại, kinh tế quốc doanh, với vốn khổng lồ của ngân sách nhà nước, thì không được cho vào sân chơi, vì nó tạo ra sự cạnh tranh không công bằng, cụ thể là cạnh tranh giữa nhà nước với tư nhân.

3* Con đường tơ lụa

3.1. Lịch sử hình thành con đường

Con đường tơ lụa (Silk Road) là một tuyến đường thông thương quan trọng của nhân loại trong suốt một thời gian dài của lịch sử.

Nhờ có con đường tơ lụa mà những vùng đất mới, những nền văn hóa mới được tìm ra, tạo ra sự phát triển của châu Á và châu Âu trong nhiều lãnh vực.

Con đường do người Trung Hoa thực hiện, bắt đầu từ Phúc Châu, Hàng Châu, Bắc Kinh (TQ) qua Mông Cổ, qua Ấn Độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhỉ Kỳ, Hy Lạp qua Địa Trung Hải và đến châu Âu.

Con đường đi đến Hàn Quốc, Nhật Bản, nó có chiều dài khoảng 4,000 dặm (6,437km)

Con đường bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ 2 Trước Công Nguyên, khi ấy một viên quan triều đình tên Trương Khiên nhận lịnh của vua Trung Hoa là Hán Vũ Đế đi về phía Tây tìm liên minh với người Nguyệt Chi để chống Hung Nô phía Bắc.

3.2. Cuộc hành trình của Trương Khiên

Trung Quốc là nước đầu tiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén ươm tơ, dệt lụa sớm nhất trên thế giới, ở thế kỷ 3 TCN. Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc, sau này lụa tơ tằm được đưa đi các vùng. Con đường tơ lụa dần dần được hình thành từ đó. Thế kỷ 2 TCN, Trương Khiên nhận lệnh từ Hán Vũ Đế đi về phía Tây tìm người Nguyệt Chi nhằm kết đồng minh chống lại quân Hung Nô. Trải qua nhiều gian khổ, Trương Khiên đã tìm được người Nguyệt Chi ở miền Bắc Ấn Độ ngày nay. Trên đường về ông cùng tùy tùng đã mang theo nhiều sản vật mà triều đình rất quan tâm. Nhờ đó những tuyến đường nhỏ trước đây đã được kết nối lại với nhau, nhiều tuyến mới được khai phá và an toàn hơn do được sự bảo vệ của triều đình. Tuyến đường mà Trương Khiên đã khai phá được người đời sau gọi là Con đường tơ lụa.

Cuộc hành trình của Trương Khiên không mang lại liên minh với người Nguyệt Chi nhưng giúp ông có nhiều kiến thức về văn hóa phương Tây.

Tuyến đường nầy đặt nền móng cho con đường tơ lụa sau đó. Trong lịch sử, người Trung Hoa mang vải lụa, gấm vóc đến Ba Tư và La Mã, đồng thời những thương gia của những vùng khác cũng tìm đường đến Trung Hoa. Từ đó, con đường tơ lụa cũng phát triển nhanh chóng đến chóng mặt.

3.3. Những hành trình của Trịnh Hòa

1). Tiểu sử Trịnh Hòa

Trịnh Hòa (1371-1433) là nhà hàng hải, nhà thám hiểm Trung Hoa đã chỉ huy các chuyến thám hiểm đường biển được gọi là “Thái giám Tam Bảo hạ tây dương”, hay “Trịnh Hòa đến đại dương phía Tây, từ năm 1406 đến 1433.

Ông là thái giám gốc Hồi có tên là Mã Tam Bảo. Khi nhà Minh chiếm Vân Nam, ông bị bắt giữ lúc còn là một cậu bé, bị hoạn (thiến) rồi sung vào bọn thái giám phục vụ cho vua Minh Đại Đế.

2). Các hành trình thám hiểm của Trịnh Hòa

Vào thế kỷ 15, Trịnh Hòa và đoàn thám hiểm đã đến eo biển Malacca, Sumatra, Java (Indonesia), Sri Lanka, Ấn Độ, Iraq, Ai Cập, Đài Loan và đảo Darwin (Úc).

Trịnh Hoà cho biết: “Tôi đã vượt qua hơn 50,000km…” Ông mang về Trung Hoa những “chiến lợi phẩm” thu được trên hành trình.

3). Tổ chức hạm đội của Trịnh Hòa.

Theo sử Trung Hoa thì hạm đội của Trịnh Hòa gồm 30,000 người và hơn 300 thuyên buồm trong đó có các loại thuyền như sau:

– Thuyền châu báu. (Bảo thuyền) Để chứa châu báu và dành cho chỉ huy và phó chỉ huy hạm đội. Thuyền có 9 cột buồm, dài 120m, rộng 50m.

– Các thuyền chở ngựa. Chở cống phẩm và chiến lợi phẩm thu được. Thuyền có 8 cột buồm, dài 103m, rộng 42m.

– Thuyền hậu cần. Chở lương thực. Có 7 cột buồm. Dài 78m, rộng 35m.

– Thuyền chở binh lính. 6 cột buồm, dài 67m, rộng 25m.

– Thuyền Phú Xuyên. 5 cột buồm, dài 50m.

– Thuyền tuần tra. 8 mái chèo, dài 37m.

– Thuyền chở nước ngọt. Chứa nước ngọt đủ cho binh lính uống trong vòng một tháng.

Một chiếc thuyền có thể chứa 1,000 người trong đó 600 người là thủy thủ, 400 người là binh lính được trang bị vũ khí đánh giặc trên biển, bao gồm các cung thủ mang mộc che phủ, và cung nỏ bắn tên có lửa.

Thuyền có 4 tầng, mỗi tầng có nhiều cabin trong đó có nhà vệ sinh đóng, mở cửa.

3.4. Trung Hoa hủy bỏ thám hiểm đường biển

Sau thời Trịnh Hòa, người Trung Hoa dùng đường biển để buôn lậu, buôn bán chợ đen nên triều đình thất thu về thuế vụ, đồng thời hải tặc gia tăng nên triều đình cấm dân chúng buôn bán trên biển.

Thời đó, Trung Hoa bị đe dọa của Mông Cổ ở biên giới phía Bắc rất nặng. Kỵ binh Mông Cổ phục kích đánh tan cuộc hành quân của hoàng đế Minh Anh Tông. Nhà vua bị bắt sống. Trung Hoa phải dời kinh đô về phía Nam.

Nổ lực của Trung Hoa lúc đó là xây dựng Vạn Lý Trường Thành cho nên chương trình hàng hải bị hủy bỏ.

4* Con đường tơ lụa thế kỷ 21

Con đường tơ lụa trên biển mới của Trung Quốc.

Từ thế kỷ thứ VII con đường tơ lụa trên biển ra đời bởi những thương gia người Á Rập. Sau đó các quốc gia như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan lần lượt kéo đến Trung Hoa buôn bán qua đường biển với tốc độ nhanh và an toàn hơn đi bộ với lạc đà.

Gọi là tơ lụa vì mặt hàng chính và đầu tiên là vải lụa. Người Trung Hoa đã biết trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa sớm nhất thế giới, vào thế kỷ thứ 3 TCN. Tơ lụa thời đó chỉ dành cho vua chúa và giới quý tộc.

Vải lụa thời đó cũng được dùng làm tiền bạc trong việc trao dổi hàng hóa.

4.1. Trung Cộng đề xuất lập khối thương mại riêng

Một nhà kinh tế Trung Hoa nêu nhận định: “Nếu Mỹ không muốn cho Trung Quốc vào Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) thì Trung Quốc sẽ thành lập một khối thương mại riêng cho mình”.

Tại Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC ở Bắc Kinh hồi tháng 11 vừa qua, Tập Cận Bình tuyên bố thành lập “Quỹ Con Đường Tơ Lụa” và đóng góp số tiền 40 tỷ USD để thúc đẩy hợp tác kinh tế châu Á.

Hồi đầu năm 2014, Trung Cộng đã khai trương Ngân hàng Phát triển Khu vực với sự tham gia của 20 quốc gia châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời Tập Cận Bình kêu gọi xây dựng một cấu trúc an ninh mới với sự tham gia của Nga và Iran, nhưng không có Mỹ.

Các nhà phân tích cho biết đề xướng nầy của Tập Cận Bình có mục đích lập ra một đối trọng với TPP. Đối trọng là một trọng lượng tương đương được lập ra để chống lại hoặc làm thăng bằng giữa hai bên. Tập Cận Bình tuyên bố: “Đây là một bước tiến lịch sử theo chiều hướng mở ra một khu vực tự do thương mại tại châu Á-TBD.

4.2. Mục đích của con đường tơ lụa thế kỷ 21

Trong diễn văn đọc tại Đại học Nazarbayev của Kazakhstan, Tập Cận Bình kêu gọi hợp tác và phát triển khu vực Á-Âu thông qua sáng kiến Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21 với 5 mục đích cụ thể là:

1.Tăng cường hợp tác kinh tế

2.Cải thiện kết nối đường bộ

3.Xúc tiến thương mại và đầu tư

4.Tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi tiền tệ

5.Ủng hộ và trao đổi giữa người dân với nhau.

Đó chỉ là những lời quảng cáo kêu gọi sự tham gia, cần phải tìm ra thực chất của ý đồ nầy.

5* Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21

Để thực hiện giấc mơ Trung Hoa, Tập Cận Bình kích động dân tộc chủ nghĩa, khôi phục lại thời kỳ huy hoàng của Đại Hán là làm chúa tể khu vực với danh nghĩa con trời, làm trung tâm vũ trụ. Trung Quốc.

Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21 là khái niệm căn bản do Tập Cận Bình đề xướng để thực hiện “Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á-Thái Bình Dương” FTAAP (Free Trade Area of the Asia-Pacific). Có hai tuyến đường là đường bộ và đường biển.

1). Con đường trên bộ

Là hệ thống đường xe cao tốc và đường sắt nối liền các quốc gia từ Trung Cộng đi qua Trung Á tiến vào Iran, Iraq, Syria, Thổ Nhỉ Kỳ và chấm dứt tại thành phố Venice (Ý) của châu Âu.

2). Con đường trên biển

Bắt đầu từ Tuyền Châu (Phúc Kiến) qua Quảng Đông chạy xuống eo biển Malacca qua Ấn Độ Dương sang Kenya, Somalia (châu Phi) qua Biển Đỏ (Hồng Hải) vào Địa Trung Hải (Mediterranean Sea) và cuối cùng cũng đến thành phố Venice của Ý (châu Âu).

Tham vọng của con đường tơ lụa là nối ba châu lục: Á, Âu và châu Phi.

5.1. Các bước thực hiện

1). Nổ lực ngoại giao để quảng bá và thuyết phục dự án mà Tập Cận Bình đã trình bày tại hội nghị Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Trước đó Tập Cận Bình cũng có những chuyến viếng thăm Indonesia, Kazakhstan, Tajikistan, Maldives, Sri Lanka…vận dộng sự ủng hộ của các nước.

Trong ba ngày từ 31-10-2014 đến 2-11-2014, Trung Cộng tổ chức Hội Chợ Triển Lãm Quốc Tế tại Quảng Đông có 42 quốc gia tham dự, trong đó 25 quốc gia có quan hệ trực tiếp đến dự án Con Đường Tơ Lụa Thế Kỷ 21. Trung Cộng đề ra mục tiêu gia tăng gấp đôi về trao đổi mậu dịch vào năm 2020.

2). Trang điểm lại bộ mặt bá quyền.

Trong chương trình quảng cáo, thuyết phục và mời gọi các nước tham gia vào FTAAP, Trung Cộng điểm phấn tô son trang điểm lại bộ mặt bá quyền bằng những lời tuyên bố không dùng vũ lực và nhờ giúp đỡ chống tham nhũng.

Không dùng vũ lực.

Ngày 17-11-2014, tại Nghị Viện (Quốc hội) Australia, Tập Cận Bình nhấn mạnh, Trung Quốc luôn luôn tìm kiếm hòa bình chớ không phải tìm kiếm xung đột, và Trung Quốc kiên quyết ôn hòa trong tranh chấp trên biển. Các nước tìm cách phát triển vũ lực luôn luôn bị thất bại, cho nên Trung Quốc quyết giữ hòa bình. Ông nói tiếp, thế giới ngày nay chỉ có một xu hướng duy nhất là hòa bình phát triển, hợp tác cùng có lợi.

Ông xếp sòng Cộng Sản nầy nói mà không biết mắc cở miệng vì nhân chứng, vật chứng trên Biển Đông còn sờ sờ ra đó. 25 chiếc tàu chấp pháp của Việt Cộng bị đâm bể sườn, gần cả chục nhân viên thi hành luật pháp bị chấn thương có tên có tuổi vẫn còn đó. Tàu cá của ngư dân bị bắn cháy, người chết mồ mả vẫn còn.

Dù sao ông Tập nầy cũng tiết lộ một giải pháp mới sẽ được áp dụng, đó là hãy tạm gác vấn đề chủ quyền qua một bên. Ai chủ ai tớ hiểu ngầm với nhau đủ rồi. Hai bên hợp tác hòa bình cùng nhau khai thác để phân chia lợi ích.

Giải pháp nầy vừa qua đã có mấy vị đại trí thức cò mồi chuyên bợ đít, nâng bi, dọn đường cho những đứa con hoang đàng thực hiện giải pháp của quan thầy Trung Cộng mà Trúc Giang gọi là giải pháp đầu hàng cho Biển Đông.

Nhờ giúp đỡ chống tham nhũng

Một sự việc rất lạ tại hội nghị APEC vừa qua ở Bắc Kinh là Tập Cận Bình nhờ các lãnh đạo giúp đỡ chống tham nhũng. Tham nhũng là vấn đề nội bộ của Trung Cộng, nhưng nhờ giúp đỡ là muốn ám chỉ rằng bộ mặt của Bắc Kinh đã trở nên trong sạch, sáng sủa sau khi cả lô tham nhũng từ ruồi đến cọp đã bị thanh trừng. Cứ an tâm tham gia con đường tơ lụa.

3).Thành lập ngân hàng

Cũng tại hội nghị APEC, Tập Cân Bình tuyên bố thành lập Quỹ Con Đường Tơ Lụa và đóng góp 40 tỷ USD. Hồi đầu năm 2014, Trung Cộng cũng thành lập Ngân Hàng Phát Triển Khu Vực để thúc đẩy hợp tác thương mại.

3). Tiến hành đầu tư

– Sri Lanka vừa mới ký với Trung Cộng nhiều hợp đồng lớn trong lãnh vực xây dựng hạ tầng cơ sở, sân bay, cầu cảng…

Một chuyên gia của Sri Lanka nói với tờ La Croix (Pháp), sự quan hệ của Trung Quốc đối với các nước trong vùng châu Á như thế, tạo ra cảm giác đó là hình thức thực dân hóa. Ngày 31-10-2014 tàu ngầm Changzheng-2 và tàu chiến Chang Xing Dao đã cập bến Colombo của Sri Lanka, và neo đậu ở đó 5 ngày. Điều nầy làm cho Ấn Độ lo ngại.

-Trung Cộng đầu tư 7.8 tỷ USD vào Miến Điện.

Ngày 15-11-2014, tại thủ đô Naypyidaw của Miến Điện, thủ tướng Lý Khắc Cường và tổng thống Thein Sein đã ký một loạt các hợp đồng trị giá 7.8 tỷ USD.

– Trung Cộng đầu tư vào Indonesia

Ngày 9-11-2014, Tập Cận Bình và tổng thống Indonesia Joko Vidodo đã chứng kiến lễ ký kết 12 bản ghi nhớ đầu tư trị giá 20 tỷ USD ưu tiên cho hàng hải, xây dựng hạ tầng, khai thác mỏ, đóng tàu, tài chánh…đặc biệt đầu tư 17.8 tỷ USD vào điện lực.

5.2. Sự thật mà Tập Cận Bình cố ý che giấu

Con đường tơ lụa thời cổ đại thực chất là một hạm đội viễn chinh với 30,000 người và 300 chiếc thuyền đi xâm lược các dân tộc mà họ đi qua. Sử liệu Trung Hoa cho biết hạm đội Trịnh Hòa mang về nước những “chiến lợi phẩm” và “cống phẩm” cùng với những tù nhân.

Phí tổn cho 30,000 người trong hạm đội rất lớn cho nên cần phải “thu hoạch” để bù đấp vào. Không phải chỉ đi một chuyến mà Trịnh Hòa đã thực hiện 7 chuyến như thế.

Bản chất Đại Hán là bành trướng bá quyền, lịch sử Trung Hoa đã chứng minh như thế. Vì thế Tập Cận Bình cố ý che giấu cái bản chất muôn thuở nầy.

6* Một vụ đầu tư điển hình của Trung Cộng

6.1. Trung Cộng đầu tư vào Campuchia

Từ năm 2006, quan hệ giữa Campuchia (CPC) và Trung Cộng trở nên chặt chẽ hơn.

Chính quyền CPC đã phê chuẩn 10 dự án trị giá 6 tỷ USD và Trung Cộng cũng đã viện trợ những khoản tiền không hoàn trả. Đó là số tiền rất lớn so với một đất nước mà tổng sản lượng quốc gia (GDP) chỉ có 10 tỷ USD/năm.

Năm 2011, Trung Cộng (TC) đầu tư vào CPC 1.92 tỷ USD, cao gấp 10 lần so với đầu tư của Mỹ.

Trung Cộng đầu tư vào các lãnh vực như năng lượng, xây dựng hạ tầng cơ sở bao gồm nhà máy thủy điện, nhà máy nhiệt điện, nhà máy thép, đường sá, cầu cống, bến cảng, trường học, bịnh viện, khu cờ bạc, du lịch, mở kênh truyền hình hiện đại…Đó là những yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế, xã hội.

6.2. Những ý đồ bất chánh đàng sau đầu tư

Ý đồ chiếm đoạt tài nguyên và khống chế quân sự.

Ngày 13-2-2012, hãng Reuters cho biết, Trung Cộng đã bỏ tiền ra mua quyền khai thác 7,631km2 đất, chủ yếu là rừng.

Trung Cộng khôn ngoan chọn những vị trí chiến lược quân sự, đồng thời những nơi có mỏ vàng và các khoáng sản khác, song song với việc khai thác gỗ rừng. Cũng giống như Bauxit ở Việt Nam vậy.

6.3. Xây dựng Angkor Wat trên biển

Angkor Wat và Angkor Thom là hai ngôi đền có kiến trúc tinh vi và vĩ đại, là khu du lịch của CPC.

Dự án Angkor Wat trên biển là khu du lịch mà TC mở ra sẽ chạy đến gần sát với Vịnh Thái Lan, nối kết với dự án kinh đào Kra, nằm trong mắc xích của Chuỗi Ngọc Trai.

Công ty Union Group Thiên Tân đã thuê 45,000 hecta đất ở Botum Saker trong thời hạn 99 năm để mở một thành phố du lịch xem như một Angkor Wat trên biển. Khu giải trí nầy có diện tích bằng phân nửa nước Singapore, bao gồm một hệ thống xa lộ, phi trường quốc tế, hải cảng cho du thuyền cở lớn, các khách sạn, các chung cư hiện đại nhất. Một đường cao tốc 4 làn xe xuyên qua rừng già được xây dựng với chi phí 1.1 triệu USD cho mỗi dặm.

Dự án 3.8 tỷ USD nầy dành cho người Hoa di dân đến khai thác và điều hành việc kinh doanh, cũng giống như khu Đông Đô Phố ở Bình Dương Việt Nam vậy. Ngay cả những nghĩa trang cũng là phần đất bất khả xâm phạm, gọi là lãnh sự quán cõi âm của Trung Cộng.

6.4. Campuchia là tiền đồn của Trung Cộng ở Đông Nam Á

Hàng chục công ty người Hoa mọc lên như nấm, rõ rệt nhất là ngành dệt may. Ở đất nước 14 triệu dân nầy, dệt may cung cấp 300,000 công nhân giá rẻ. Luật đầu tư đơn giản, người Tàu làm chủ, quản lý 80% nhà máy dệt may.

Sáu con đập thủy điện, hàng chục khu mỏ do người Hoa nắm giữ. Quân đội Trung Cộng canh giữ các khu khai thác mỏ, “Cấm người lạ vào. Đây là Trung Quốc”.

Về mặt văn hóa, Trung Cộng có 50 kênh truyền hình tiếng Hoa trên tổng số 70 kênh của CPC.

Theo tờ Le Figaro (Pháp), Trung Cộng đã chi 11 tỷ đô la cho nên CPC là sân sau của Trung Quốc”.

7* Đặc điểm của hai khu vực kinh tế, TPP và FTAAP

7.1. Đặc điểm của Đối Tác Kinh Tế Xuyên Châu Á-Thái Bình Dương (TPP)

An ninh. Thịnh vượng. Dân chủ và nhân quyền.

Tổng thống Obama tuyên bố: “Hoa Kỳ sẽ mang lại cho châu Á ba vấn đề, đó là: Anh ninh, thịnh vượng, dân chủ và nhân quyền”. “Sự thịnh vượng mà không có tự do là một hình thức khác của sự nghèo đói” (Prosperity without freedom is just another form of poverty)

Nội dung trên phù hợp với ước vọng chính đáng của xã hội văn minh ngày nay.

Đối Tác Kinh Tế Xuyên Châu Á-Thái Bình Dương (TPP) bảo đảm những quyền căn bản của loài người. Quyền sở hữu trí tuệ, quyền tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh, quyền lập công đoàn độc lập của công nhân, quyền lao động, đình công…tất cả đều có những bộ luật quy định rõ ràng.

TPP sắp hoàn thành. Sau hơn 10 năm qua 7 vòng đàm phán của 12 nền kinh tế trong khu vực châu Á Thái Bình Dương gồm: Singapore, Chile, New Zealand, Brunei, Hoa Kỳ, Úc, Peru, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản, Canada, Mexico,

Hoa Kỳ quyết tâm trở lại châu Á và khẳng định:”Chúng tôi trở lại để ở lại” (We are back to stay)

Như vậy, sự trở lại của HK là mong ước của người dân yêu chuộng dân chủ, tự do và nhân quyền trước chế độ độc tài Cộng Sản trong khu vực.

Theo ước tính của Viện Kinh Tế Quốc Tế Peterson (Mỹ) thì nếu TPP được ký kết thì Trung Quốc bị thiệt hại khoảng 100 tỷ USD/năm. Lý do là các thành viên của TPP sẽ giao dịch với nhau vì thuế quan và mọi rào cản bị bãi bỏ. Do đó họ bớt làm ăn với Trung Quốc.

7.2. Đặc điểm của Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP

Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP) của Trung Cộng còn đang ở trong giai đoạn “quảng cáo”, thuyết phục mời tham gia trước mối lo ngại của các quốc gia, bởi vì nó chưa có những chi tiết nào cụ thể, rõ ràng cả. Hơn nữa bản chất bành trướng bá quyền của Hán Tộc cũng khó thuyết phục được những nước tự ý đâm đầu vào chịu sự lãnh đạo của chế độ độc tài Cộng Sản.

Tân Hoa Xã cho rằng từ mối quan hệ kinh tế Trung Quốc hy vọng gần gũi hơn về chính trị và văn hóa với các quốc gia trên con đường tơ lụa. Tạo ra một cộng đồng kinh tế và chính trị phụ thuộc nhau từ Đông Á đến Tây Âu. Kinh tế và chính trị đi liền với nhau. Tập Cận Bình tuyên bố “công việc của châu Á do người châu Á tự giải quyết với nhau, bảo vệ an ninh châu Á”.

Tờ The Diplomat nêu nhận định, mặc dù mục tiêu của Trung Quốc rất lớn nhưng không rõ ràng. Đó là các nước trên vòng đai của Trung Quốc liên kết với nhau như thế nào, trên cơ sở chính trị nào?

8* Kết luận

Để chế ngự sự trổi dây của Trung Cộng, tại châu Á-Thái Bình Dương đã nổ ra hai mặt trận, quân sự và kinh tế giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ.

Về quân sự, với sức mạnh vượt trội về hải quân, không quân, vũ khí hạt nhân, không gian và khoa học kỹ thuật chiến tranh, Hoa Kỳ đã lập thiên la địa võng có khả năng kềm chế Trung Cộng về mặt nầy.

Về kinh tế, Đối tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Mỹ sắp hoàn thành sau hơn 10 năm đàm phán.

Trung Cộng vừa phát động Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP) làm đối trọng chống lại TPP.

Việc tranh chấp Mỹ Trung làm ảnh hưởng tới Việt Nam ở Biển Đông. Đó là mục đích tạo ra bộ mặt mới yêu chuộng hòa bình, từ bỏ bản chất bá quyền bành trướng để thuyết phục, mời gọi các nước tham gia vào FTAAP, do đó tình hình Biển Đông tạm ổn. Thế nhưng chưa phải là chấm dứt vì mục đích chiếm đoạt tài nguyên Biển Đông chưa đạt được.

Một giải pháp trước kia đã được nói tới là hãy tạm gác vấn đề chủ quyền qua một bên, (ai chủ ai tớ hiểu ngầm với là đủ). hai bên hợp tác khai thác hòa bình để cùng chia nhau lợi ích.

Giải pháp nầy Trúc Giang gọi là “xoá bài làm lại”. Việt Nam công khai gọi thầu. Công ty dầu khí Xì Nốc (CNOOC) của Trung Cộng nạp đơn và đương nhiên trúng thầu. Thế là Trung Cộng chiếm tài nguyên trong vùng biển của VN một cách công khai và hợp pháp.

Giải pháp nầy cũng đã được quý vị đại trí thức trong và ngoài nước làm cò mồi dọn đường dư luận mà Trúc Giang gọi là “Giải pháp đầu hàng cho Biển Đông”.

Trúc Giang

Minnesota ngày 25-11-2014

 

Mỹ có vì đồng minh mà gây chiến với Trung Quốc? – ĐV

27 Th11

 

(Quan hệ quốc tế) – “Tái cân bằng”, “xoay trục”…, những thuật ngữ này có thể hiện quyết tâm của Mỹ bảo vệ đồng minh tới cùng trước hoạt động quân sự của Trung Quốc?

Trung Quốc muốn hất cẳng Mỹ khỏi châu Á-Thái Bình Dương

Một Trung Quốc ngày một quyết đoán, độc lập hơn trong vấn đề quốc tế và một nước Mỹ đang thực hiện chiến lược xoay trục sang Châu Á-Thái Bình Dương, liệu hai yếu tố này có dẫn đến một cuộc xung đột giữa hai cường quốc này hay không?

Đề cập đến vấn đề này trong cuộc họp báo tại Moscow vào đầu tuần trước, ông Aleksey Pushkov cho biết: Về mặt chính sách ngoại giao, Trung Quốc ngày một đưa ra yêu cầu mang tính độc lập cao hơn, ngạo mạn hơn và phớt lờ mọi lợi ích của Mỹ.

Rất nhiều người cho rằng, với những chính sách này của Bắc Kinh, sau một thời gian nữa, giữa hai ông lớn này sẽ không thể tránh khỏi một trường đối kháng về mặt chính trị hay những xung đột tiềm năng xuất phát từ những va chạm không đáng có.

Sự thật về “Thoả thuận phòng ngừa xung đột quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc” diễn ra tại Bắc Kinh vừa qua cho thấy, quan hệ giữa hai nước cũng đang có những bất đồng và căng thẳng, chính vì thế hai bên buộc phải ngồi lại để tìm kiếm biện pháp nhằm giảm bớt sự căng thẳng này.

Theo ông Pushkov xung đột là điều có thể xảy ra, hay nói một cách chính xác hơn là rất dễ xảy ra, vì máy bay trinh sát của Mỹ luôn bay gần không phận của Trung Quốc, mà Bắc Kinh lại không hề nhượng bộ trong vấn đề này. Họ sẵn sàng tung chiến đấu cơ lên xua đuổi mỗi khi máy bay Mỹ bay sát không phận.

Ngoài P-8A, EP-3E bị máy bay Trung Quốc uy hiếp, tuần dương hạm CG-63 USS Cowpens của Mỹ cũng đã từng bị chiến hạm Trung Quốc dọa đâm

Ngoài P-8A, EP-3E bị máy bay Trung Quốc uy hiếp, tuần dương hạm CG-63 USS Cowpens của Mỹ cũng đã từng bị chiến hạm Trung Quốc dọa đâm

Điển hình là cách đây không lâu, vào tháng 8-2014 vừa qua, một chiếc chiến đấu cơ Trung Quốc đã áp sát, uy hiếp máy bay chống ngầm P-8A Poseidon của hải quân Mỹ trên không phận khu vực biển Hoa Đông gây ra một cơn “sóng gió ngoại giao” giữa 2 nước.

Khi chiếc máy bay trinh sát chống ngầm P-8A Poseidon, được cho là đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do thám nội tình Trung Quốc ở khu vực biển Hoa Đông, một chiến đấu cơ J-11BH của không quân PLA đã có những động thái “dằn mặt” chiếc máy bay trinh sát của Mỹ.

Các quan chức quốc phòng Mỹ cáo buộc, chiếc máy bay Trung Quốc đã áp sát chiếc P-8 của hải quân Mỹ ở khoảng cách hết sức nguy hiểm, chỉ khoảng 15 mét và sau đó thực hiện một cú nhào lộn ngay trên đầu chiếc máy bay của Mỹ, động thái được xem như đe dọa đối phương.

Xa hơn nữa, vào tháng 4-2001, một vụ việc tương tự cũng đã xảy ra giữa chiến đấu cơ của hai nước. Máy bay chiến đấu J-8 của Trung Quốc cũng đã áp sát một chiếc máy bay trinh sát EP-3E của Mỹ ở khu vực biển gần đảo Hải Nam trên Biển Đông.

Một vụ va chạm đáng tiếc đã xảy ra, Thiếu tá phi công Vương Vĩ phía Trung Quốc – người điều khiển chiếc J-8 đã thiệt mạng, rất may là phi công máy bay trinh sát Mỹ đã xử lý tình huống tốt, nhưng sau đó đã bị ép phải hạ cánh khẩn cấp xuống một căn cứ không quân Trung Quốc trên đảo Hải Nam.

Trong vụ việc này, 24 thành viên phi hành đoàn của máy bay EP-3E đã bị giữ lại suốt 11 ngày trên đất Trung Quốc cho đến khi chính quyền Washington dưới thời Tổng thống George W. Bush lên tiếng xin lỗi về vụ việc, phía Bắc Kinh mới hạ nhiệt và giải quyết ổn thoả sự cố này.

Chiếc EP-3E của Mỹ bị bắt ép hạ cánh xuống đảo Hải Nam

Chiếc EP-3E của Mỹ bị bắt ép hạ cánh xuống đảo Hải Nam

Hiện nay, Trung Quốc đang ráo riết xây dựng hình tượng một “cường quốc có trách nhiệm”, ra rả tuyên bố về một sự “trỗi dậy hòa bình”. Tham vọng của Trung Quốc là hất cẳng Mỹ ra khỏi khu vực này, trở thành “thủ lĩnh” của châu Á, có khả năng buộc các nước phải đi theo quỹ đạo của mình.

Không có quyền lực mềm để các nước nể phục, không có đủ kiên nhẫn gây uy tín để nước khác tin tưởng nên để đạt được mục đích này, Trung Quốc buộc phải sử dụng đến quyền lực cứng quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh nhằm trấn áp các quốc gia trong khu vực, trong đó có nhiều đồng minh của Mỹ.

Mục tiêu nỗ lực phấn đấu của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc là có khả năng đối chọi được với lực lượng Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương. Vì vậy, trong thời gian qua, nước này đã phát triển năng lực tác chiến xuyên phá qua “Chuỗi đảo thứ nhất”, mở rộng hoạt động trong phạm vi “Chuỗi đảo thứ 2”.

Theo đánh giá của một số chuyên gia quân sự, hiện Bắc Kinh đã có thể tiêu diệt lực lượng đồn trú của Washington ở khu vực này, trong đòn tấn công phủ đầu mãnh liệt. Tất cả các căn cứ Mỹ ở Hàn Quốc, Nhật Bản và thậm chí là đảo Guam nằm giữa Thái Bình Dương đều nằm trong phạm vi tấn công của các trang bị, vũ khí Trung Quốc.

Vì vậy, Mỹ buộc phải điều chỉnh chiến lược quân sự, triển khai chiến lược “Tái cân bằng ở châu Á-Thái Bình Dương” với sự điều chuyển 60% chiến hạm của lực lượng hải quân và 60% lực lượng không quân ở hải ngoại về tây Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc, biến khu vực này thành “điểm nóng” của thế giới trong tương lai.

Máy bay P-8A Poseidon của Mỹ bị J-11BH Trung Quốc đe dọ

Máy bay P-8A Poseidon của Mỹ bị J-11BH Trung Quốc đe dọa

Mỹ có vì đồng minh mà gây chiến với Trung Quốc?

Trong thời gian qua, Washington và Bắc Kinh lại có những căng thẳng về vấn đề Trung Quốc đang cố thay đổi hiện trạng ở biển Đông, vi phạm nghiêm trọng “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông” (DOC) ký với ASEAN năm 2002 và các quy định quốc tế khác.

Ngay từ đầu năm nay, các tàu vận tải Trung Quốc âm thầm chở sắt, thép, cát, xi măng ra vùng biển quần đảo Trường Sa của Việt Nam, ráo riết xây dựng trái phép đảo nhân tạo ở Gạc Ma và cải tạo địa chất ở đảo Chữ Thập, xây dựng các căn cứ có cả sân bay, cảng biển cho tàu quân sự và dân sự, khu vực dân cư và du lịch.

Trung Quốc đang tiến hành hút cát, cải tạo đất nhằm xây dựng trái phép đảo nhân tạo khổng lồ ở Gạc Ma. Đây sẽ là khu căn cứ quân sự tổng hợp quy mô lớn trên biển Đông với diện tích 30 ha và có thể đón các tàu tải trọng lên tới trên 5.000 tấn và đường băng dài 1,6 km, đủ cất, hạ cánh các máy bay chiến đấu có tầm hoạt động hàng ngàn km.

Ngoài ra, một nguồn tin cho rằng, chính quyền trung ương Trung Quốc đã phê duyệt bản đề xuất xây dựng một đảo nhân tạo tại bãi đá ngầm Chữ thập, có diện tích lớn gấp đôi căn cứ quân sự Mỹ trên đảo Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương, bao gồm đường băng và cảng biển, với ý đồ áp đặt hiệu quả hơn sức mạnh quân sự ở Biển Đông.

Một khi được hoàn thành, đây sẽ là bàn đạp để Bắc Kinh lập “Vùng nhận dạng phòng không”, phô diễn sức mạnh quân sự nhằm uy hiếp các quốc gia đông nam Á có tranh chấp chủ quyền trên biển như Việt Nam, Philippines, Indonessia, Malayssia, Brunei…, độc chiếm biển Đông, khống chế eo Malacca, mở đường sang Ấn Độ Dương.

Mô hình căn cứ tác chiến không-hải nhất thể Trung Quôc sẽ xây dựng trên đảo Gạc Ma và Chữ Thập

Mô hình căn cứ tác chiến không-hải nhất thể Trung Quôc sẽ xây dựng trên đảo Gạc Ma và Chữ Thập

Là đồng minh lâu năm của Philippines, Mỹ đã nhiều lần kêu gọi Trung Quốc nên tiến hành các biện pháp hòa bình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực với các nước trong khu vực, đồng thời kêu gọi Bắc Kinh tiến tới xây dựng “Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông” (COC) làm nguyên tắc giải quyết tranh chấp.

Vài ngày sau khi IHS Jane’s công bố thông tin về hành động thay đổi hiện trạng mới của Trung Quốc trên biển Đông, trung tá Jeffrey Pool, người phát ngôn của quân đội Mỹ hôm 21-11 cho biết, Hoa Kỳ đã đề nghị Trung Quốc ngừng những hoạt động cải tạo đất, xây dựng ở biển Đông.

Mỹ và cộng đồng quốc tế coi việc Trung Quốc mở rộng diện tích để xây dựng đảo nhân tạo trên các đảo, bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam – bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép – làm căn cứ quân sự là trái với luật lệ quốc tế, đe dọa đến hòa bình và an ninh trong khu vực.

Đáp trả lại tuyên bố của Mỹ, vào ngày 24-11, cựu thiếu trướng La Viện của Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) cảnh báo Mỹ “tránh xa” việc nước này xây đảo nhân tạo này và tuyên bố “Trung Quốc sẽ chống lại áp lực quốc tế và tiếp tục xây dựng, bởi vì điều này hoàn toàn hợp pháp”.

Những bình luận của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng phát tín hiệu Bắc Kinh sẽ gạt tất cả những đề xuất của Mỹ. Bà Hoa Xuân Oánh nói hôm 24-11: “Tôi nghĩ bất kỳ ai thuộc thế giới bên ngoài đều không có quyền có những bình luận vô trách nhiệm về những hoạt động của Trung Quốc”.

Bản đồ các đảo bị Trung Quốc chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa

Bản đồ các đảo bị Trung Quốc chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa

Trong chiến lược bành trướng biển xa, từ năm 2015-2020, Trung Quốc sẽ xây dựng được một lực lượng chấp pháp biển khổng lồ và một lực lượng không-hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới. Đây sẽ là giai đoạn quyết định để Bắc Kinh độc chiếm vùng trời/vùng biển Hoa Đông và Biển Đông.

Trong thời gian tới, lực lượng quân sự Mỹ sẽ ồ ạt đổ về châu Á-Thái Bình Dương, còn lực lượng tác chiến không-hải của Trung Quốc cũng mở rộng phạm vi hoạt động. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cho các phương tiện trinh sát, do thám hoạt động của quân đội Trung Quốc và PLA cũng sẽ không ngần ngại hành xử cứng rắn.

Quyền lợi của đồng minh, sự cạnh tranh về vị thế lãnh đạo và cái “tôi” của những ông lớn sẽ khiến những va chạm trên không, trên biển ngày càng nhiều. Nếu tình hình cứ tiếp diễn như thời gian qua, những va chạm thường xuyên sẽ rất dễ phát sinh các xung đột không đáng có.

Tuy nhiên, cần khẳng định là Bắc Kinh sẽ không nhân nhượng Washington và Hoa Kỳ cũng không muốn đối đầu quân sự với Trung Quốc. Vì vậy, trong tình huống này, Mỹ sẽ chọn cách cư xử nhún nhường. Đây sẽ là bài toán khó đối với lực lượng quân đội của họ đang đồn trú ở châu Á – Thái Bình Dương.

Khi đó, thách thức lớn nhất mà cường quốc số 1 thế giới phải giải quyết là làm thế nào để thực hiện đúng cam kết bảo vệ an ninh cho các đồng minh của mình mà vẫn không làm tổn hại đến quan hệ Mỹ – Trung, khi nhúng tay can dự vào các vấn đề tranh chấp trên biển Đông và biển Hoa Đông. 

Có thể khẳng định là Washington sẽ không vì đồng minh mà chủ động gây chiến với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp chủ quyền, trừ khi Trung Quốc chủ động tấn công Mỹ. Vì vậy, các nước đang có tranh chấp chủ quyền lãnh hải phải chủ động dựa vào khả năng của mình để đối phó với Trung Quốc.

Thiên Nam

 

Thế giới 24h: Hong Kong ‘căng như dây đàn’ – Vnn

27 Th11

 

Bạo lực gia tăng tại Hong Kong, NATO lo ngại việc Nga triển khai quân ở Crưm, cảnh sát bị thiệt mạng trong bối cảnh bạo loạn ở Mỹ… là những tin nóng 24 giờ qua.

Tin nổi bật

Tình trạng bạo lực gia tăng giữa người biểu tình và cảnh sát chống bạo động, các thủ lĩnh của phong trào biểu tình bị bắt, và lời kêu gọi ‘Chiếm trung tâm’ trở lại khiến cho tình hình tại Hong Kong trở nên đặc biệt căng thẳng.

thế giới, 24h, bạo lực, Hong Kong, gia tăng,
Tình hình Hong Kong đang gia tăng bạo lực.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng cho biết, chiều 26/11, giao thông trên đường Nathan – trục đường chính ở Mong Kok thuộc Đặc khu hành chính Hong bắt đầu khai thông toàn tuyến, trong khi một số diễn đàn trên mạng Internet đã xuất hiện lời kêu gọi trở lại chiếm giữ khu vực này.

Trước đó, cảnh sát cơ bản đã hoàn thành việc dỡ bỏ chướng ngại vật trên đường Nathan và đường Argyle thuộc khu Mong Kok. Các lãnh đạo chủ chốt của phong trào biểu tình đòi cải cách bầu cử tại Hong Kong đã bị cảnh sát bắt giữ.

Tối cùng ngày, một nhóm người đã tụ tập ở bên ngoài tòa nhà Trung tâm Ngân hàng tại Mong Kok và không ngừng hô lớn. Xung đột đã nổ ra giữa người biểu tình tại Mong Kok với lực lượng cảnh sát.

Hiện trường rất hỗn loạn nhưng cuối cùng, cảnh sát đã kiểm soát được tình hình, khống chế và áp giải một nam thanh niên không chịu rời hiện trường theo lệnh của cảnh sát.

Xung đột giữa người biểu tình và cảnh sát cũng đã xảy ra ở đường Sai Yeung Choi. Cảnh sát sau đó sử dụng khiên và gậy cao su để giải tán người dân, đồng thời bắt giữ thêm một người biểu tình nữa.

Trong khi đó, 7 cảnh sát Hồng Kông bị bắt và đình chỉ công tác vì liên quan đến cáo buộc đánh một người tham gia biểu tình.

Có nhiều ý kiến cảnh báo rằng việc giải tán biểu tình ở Mong Kok khó có thể giải quyết được dứt điểm ngay lập tức. Sau khi bị giải tán, người biểu tình có thể sẽ trở lại chiếm đường phố.

Tin vắn

Đại diện Cơ quan Liên bang Nga về hợp tác kỹ thuật-quân sự (FSMTC) khẳng định nước này chưa ký kết hợp đồng với Trung Quốc về cung cấp các hệ thống tên lửa phòng không S-400.

Nga đã cung cấp bổ sung 14 máy bay chiến đấu Sukhoi cho trung đoàn không quân số 62 đóng tại sân bay Belbek, gần thành phố Sevastopol trên bán đảo Crưm – sáp nhập từ Ukraina hồi tháng Ba vừa qua. Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương NATO đã tỏ ra quan ngại trước thông tin Nga triển khai quân sự này.

Giao tranh giữa quân đội Syria và lực lượng thánh chiến tự xưng Nhà nước Hồi giáo (IS) tại thành phố Raqqa ở miền Đông Bắc nước này đã khiến ít nhất 63 người thiệt mạng.

Hai nhân viên Cục Điều tra Liên bang (FBI) Mỹ đã bị bắn tại một ngôi nhà ở phía Bắc hạt St. Louis thuộc bang Missouri trong bối cảnh khu vực trong và xung quanh thành phố Ferguson gần đó bất ổn do căng thẳng về chủng tộc.

Lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraina kêu gọi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc triệu tập một phiên họp khẩn cấp, qua đó có thể cho phép triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế ở vùng chiến sự này.

 

Chính quyền Ai Cập đã cho mở lại cửa khẩu biên giới Rafah để hàng ngàn người Palestine trở về quê nhà ở dải Gaza.

Nguyên Phó Chủ tịch quân ủy trung ương khóa 18 của Trung Quốc là Từ Tài Hậu vốn đang bị điều tra tham nhũng, được cho là đã cố tìm cách gặp cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân để cầu cứu trước khi chính thức bị điều tra.

Hai vụ đánh bom kép tại Nigeria hôm thứ Ba được xác định là do hai nghi phạm nữ tiến hành, khiến 44 người thiệt mạng. Vụ việc xảy ra tại Maiduguri – trung tâm của lực lượng phiến quân Hồi giáo.

Thông tin trong ảnh

Các tình nguyện viên ở Mexico đã phát hiện ít nhất 4 ngôi mộ tập thể nữa trong chiến dịch tìm kiếm thi hài 43 sinh viên bị mất tích tại La Lagune, phía Tây thị trấn Iguala, nơi cảnh sát đã đụng độ với các sinh viên biểu tình hồi tháng Chín vừa qua. Trong vòng 2 tháng qua, ít nhất 15 ngôi mộ tập thể đã được tìm thấy. Bảy trong số đó có chứa xương người. Các mộ khác chứa quần áo dính máu.

Hồi tháng Chín, cảnh sát đã nổ súng vào vài chiếc xe buýt chở theo người biểu tình, làm 3 sinh viên và 3 dân thường thiệt mạng. Những người sống sót tiếp tục được cảnh sát giao lại cho băng tội phạm Guerreros Unidos “xử lý” và họ đã mất tích từ đó tới nay. Trong ảnh là một ngôi mộ tập thể mới được khai quật tại Mexico trong chiến dịch tìm kiếm 43 sinh viên mất tích.

thế giới, 24h, bạo lực, Hong Kong, gia tăng,
(Ảnh: RT)

Phát ngôn ấn tượng

Thủ tướng Đức Angela Merkel cảnh báo rằng các phần tử thánh chiến thuộc nhóm Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng tại Iraq và Syria là một trong những mối đe dọa lớn chưa từng có đối với khu vực.

Phát biểu trước Quốc hội Đức, bà Merkel nêu rõ các phần tử cực đoan này “là một trong những mối đe dọa tàn bạo nhất đối với sinh mạng của người dân trong khu vực. IS cũng thu hút hàng nghìn tay súng nước ngoài đến từ tất cả các quốc gia thuộc Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20), cho dù ở phía bên kia bán cầu hay tại châu Âu… Việc IS hoàn toàn thiếu kiềm chế và sẵn sàng giết người cũng sẽ đe dọa đến an ninh của chúng ta.”

Sự kiện

27/11/1895 – Tại Paris, Alfred Nobel ký di chúc cuối cùng của mình, trong đó dành tài sản của bản thân để lập ra giải Nobel sau khi qua đời.

27/11/1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Trận Peleliu tại Palau kết thúc với thắng lợi của quân đội Hoa Kỳ trước quân đội Nhật Bản.

Lê Thu

 

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – Bài 4 – BS

27 Th11

 

 

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Bài 4: Cái Nhìn Tổng Quát Về Tám Đặc Trưng

Trần Quí Cao

20-11-2014

Trong ba bài trước, chúng ta đã cùng xem xét các thành quả đã đạt được theo các tiêu chí của đặc trưng thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư (1). Và chúng ta cũng đã thấy nước Việt Nam không đạt được một tiêu chí nào của các đặc trưng nói trên. Nếu phân tích từng tiêu chí cho 4 đặc trưng còn lại, chúng ta cũng sẽ thấy thành quả đạt được rất kém.

Mục tiêu của bài này là phân tích nhanh về đặc trưng thứ 5 và đặc trưng thứ 7, để từ mở đầu đó, trình bày một cái nhìn tổng quát về tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà đảng Cộng Sản đang ép dân chúng phải xây dựng theo ý muốn riêng của đảng.

Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

Ấm No: Dân không giàu sao cuộc sống có thể ấm no? Và càng không thể ấm no khi sự phân phối của cải trong xã hội quá thiếu công bằng như đã thấy trong đánh giá về đặc trưng thứ nhất.

Hãy về nông thôn nhìn hàng vạn gia đình cha mẹ nắng mưa, con cái nheo nhóc, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 1,5 triệu/gia đình, hãy nhìn hàng trăm lượt người hằng ngày vượt sông bằng dây đu đánh cuộc với tính mạng; hãy quay lại thành phố ngồi ở một quán cà-phê vĩa hè để thấy hàng trăm lượt người tới van vỉ mua một tấm vé số, một cái bánh tráng nướng; hãy đến các khu nhà trọ không xa trung tâm Tp HCM, trong đó mỗi gia đình 3-4 người chen chúc trên 6-8 mét vuông, hàng chục gia đình dùng chung một nhà vệ sinh; hãy nhìn cảnh nhếch nhác đói nghèo ngay trung tâm hay rất gần trung tâm thành phố…

Tự Do: Nước Việt Nam bị đặt dưới một chính thể độc tài, không có tự do. Và số rất đông dân chúng thì nghèo khổ. Chính thể đã không có tự do, cuộc sống cá nhân lại bị trói trong vòng nghèo đói, làm sao cuộc sống có tự do?

Có Điều Kiện Phát Triển: Kinh nghiệm thế giới chỉ rằng chỉ có xã hội dân chủ tự do mới có tính khai phóng, do đó mới tạo điều kiện phát triển toàn diện cho người dân. Không ai có thể phát triển toàn diện trong điều kiện mất tự do. Hơn nữa, mất cả tự do tìm tòi học hỏi và suy nghĩ vì bị bịt mắt bởi dãy khăn đen dầy của chủ nghĩa xã hội.

Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Hai mươi bốn chữ diễn tả đặc trưng thứ bảy này chứa các mâu thuẫn không thể dung hòa nhau được.

Mâu thuẫn nội tại của cụm từ: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền: là nhà nước ít nhất phải có hai đặc trưng: các cá nhân, các pháp nhân bình đẳng trước pháp luật, và Tam Quyền Phân Lập (2).

xã hội chủ nghĩa: khi có tính từ này, có nghĩa là: a) Chỉ có một đảng chuyên chính, nghĩa là độc tài, và kèm theo nó là toàn trị. Từ đó không hề có bình đẳng trước pháp luật. Người đảng viên, trên thực tế, khi chưa bị đảng khai trừ thì không thể bị đưa ra xét xử, và b) Không có Tam Quyền Phân Lập.

Có nghĩa là một đảng cai trị trên tất cả các mặt của chính quyền, cả Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp. Và quốc gia cũng cũng chỉ có một đảng này chớ không có một đảng đối lập hay cạnh tranh nào hết.

Vậy thì hai tính từ Pháp Quyền và Xã Hội Chủ Nghĩa, khi dùng chung để bổ nghĩa cho danh từ Nhà Nước, là hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Không khác gì mâu thuẫn giữa Dân Chủ với Không Có Tự Do.

Và như vậy thì rõ ràng không thể có một Nhà Nước vừa có tính cách Pháp Quyền vừa có tính cách Xã Hội Chủ Nghĩa, hay không thể có một Nhà Nước Pháp Quyền có tính cách Xã Hội Chủ Nghĩa.

Mâu thuẫn nội tại của cụm từ: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Đã nói Nhà Nước của Nhân Dân thì Nhân Dân có quyền tối thượng. Khi Nhân Dân không muốn nhà nước của mình bị đảng Cộng Sản lãnh đạo thì giải quyết như thế nào? Muốn biết rõ ý dân, phải Trưng Cầu Dân Ý. Các chủ trương, chính sách lớn như sửa đổi Hiến Pháp, sở hữu đất đai toàn dân, định hướng xây dựng và phát triển tổ quốc… được soạn thảo rồi thực thi vội vã, khuất tất, áp đặt mà không qua trưng cầu dân ý, bất chấp ý kiến phản đối của các thành phần khác nhau trong dân chúng, cho thấy rõ thực chất nhà nước này là nhà nước của đảng, không phải của dân.

Đã nói Nhà Nước do Nhân Dân thì Nhân Dân phải có quyền chọn người mình tin yêu, tín nhiệm làm thành viên nắm các vị trí chủ chốt của nhà nước. Việc ứng cử và bầu cử được tổ chức theo cách đảng cử là hoàn toàn tước đi của Nhân Dân quyền chọn người lãnh đạo. Nhà nước này thực chất là nhà nước do đảng Cộng Sản sắp đặt, không phải do dân bầu chọn ra.

Nhà nước của đảng, do đảng thì nhà nước đó vì dân hay vì đảng? Hiện nay lòng dân và ý đảng đã rất xa nhau. Dân muốn xây dựng chính thể theo hướng Dân Chủ Tự Do và Pháp Trị, đảng Cộng Sản Việt Nam kiên quyết bảo vệ chính thể Độc Đảng Độc Tài và Toàn Trị. Dân muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp, đảng kiên quyết giữ lại. Dân muốn Đa Nguyên, đảng muốn Nhất Nguyên, áp đặt chủ nghĩa Cộng sản trên toàn dân tộc. Dân muốn quốc gia tự chủ, không bị lệ thuộc vào Trung Cộng, đảng muốn trói buộc Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của Trung Cộng. Dân uất ức nhìn Trung Cộng xâm lấn đất liền biển đảo, xây dựng căn cứ quân sự trên mảnh đất, mà nó mới giết dân chiếm lấy hôm qua, để làm đà uy hiếp toàn bộ nước Việt Nam, đảng xun xoe xem giặc dữ là bạn, rước giặc dữ vào nhà, nhượng thêm chủ quyền cho giặc và đàn áp tàn nhẫn những thành phần dân chúng muốn Việt Nam tự chủ…

Những gì đã xảy ra từ năm 1975 liên tục tới hôm nay cho thấy khi lòng dân và ý đảng khác nhau, Nhà nước chỉ chọn giải pháp vì quyền lợi đảng. Việc sửa đổi Hiến Pháp trong năm 2013 là một thí dụ rõ ràng cho thấy nhà nước này không vì dân, chỉ vì đảng. Do đó không thể có Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo mà lại của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Cái Nhìn Tổng Quát Về Tám Đặc Trưng

Như vậy, qua các từng tiêu chí của 6 đặc trưng đã phân tích, có thể tóm tắt rằng nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 6 đặc trưng 1, 2, 3, 4, 5 và 7. Thật ra thì cả 8 đặc trưng đều không đạt được cả. Tại sao vậy?

Bởi vì các tiêu chí đó chỉ là khẩu hiện sáo rỗng, rất xa cách với thực tế. Chắc chắn rằng ngoại trừ một con số rất rất ít, đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả các đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam, không ai tin rằng xã hội Việt Nam hiện nay là Dân Chủ, Công Bằng, Văn Minh (đặc trưng thứ nhất) hay Do Nhân Dân Làm Chủ (đặc trưng thứ hai), trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện (đặc trưng thứ 5). Cũng không ai tin rằng quốc gia của mình có Nhà Nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Nhưng, hơn cả sáo rỗng, các đặc trưng trên mâu thuẫn nhau, hay các tiêu chí trong một đặc trưng mâu thuẫn nhau. Và đây là mâu thuẫn loại trừ, nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia. Nói một cách khác, cái này diệt cái kia.

Các bài trước và phần trên của bài này đã đề cập tới một số mâu thuẫn loại trừ trong tám đặc trưng này. Nếu đi tới tận cội nguồn, ta sẽ thấy cái mâu thuẫn chung nhất, cái mâu thuẫn là nguồn gốc của các mâu thuẫn loại trừ khác chính là mâu thuẫn giữa:

Dân Chủ, Tự Do và Pháp Trị với Độc Đảng, Độc Tài và Toàn Trị

Trong tám đặc trưng trên, có những tiêu chí mà nhiều nước theo thể chế Dân Chủ, Tự Do và Pháp Trị đã đạt, dân chúng các nước đó từ lâu đã được hưởng như một quyền tự nhiên của con người sinh ra là có. Các quốc gia đó có nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dân chúng thực sự là Chủ Đất Nước sống trong xã hội Dân Chủ, Công Bằng, Văn Minh, trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Tại sao sau 39 năm kêu gọi toàn dân góp sức, trong vận hội hòa bình với các thời cơ phát triển rộng mở, nước Việt Nam không đặt được tiêu chí nào trong các tiêu chí đó?

Bởi vì chính thể Độc Đảng, Độc Tài và Toàn Trị đã loại trừ, tiêu diệt các nguồn lực quan trọng của dân tộc để xây dựng và phát triển. Không chỉ tiêu diệt nguồn lực hữu hình và vô hình thông thường, nó còn tiêu diệt cả ước mơ sống và phát triển của một phần lớn dân chúng.

Sau năm 1975, các chính sách bỏ tù công chức và quân nhân chế độ Sài Gòn, triệt hạ tư sản miền Nam, triệt hạ giới công thương nghiệp, đẩy dân thành phố về vùng kinh tế mới, chế độ lí lịch nghiệt ngã trong tuyển sinh đại học… là những thí dụ cho thấy tính loại trừ, tiêu diệt đó.

Các cuộc di tản của hàng triệu người Việt Nam đánh đổi sinh mạng cả gia đình mình nhắm đào thoát khỏi chế độ này những năm 1979-1983 là một thí dụ khác.

Những cơ hội cực kì lớn lao cho sự phát triển đất nước những năm 1978 (tái lập bang giao với Hoa Kì), 1990 (đưa đất nước vào hội những quốc gia tự do dân chủ văn minh giàu mạnh)… bị bỏ lỡ không hối tiếc là thí dụ khác.

Sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Cộng, cực kì nguy hiểm cho sự tồn vong của tổ quốc, là một thí dụ khác nữa.

Trong 40 năm, đã tận diệt bao nhiêu nguyên khí tổ quốc, bao nhiêu cơ hội phát triển? đã tròng lên đầu dân tộc này bao nhiêu nguy cơ?

Đó chính là nguồn gốc của vô vàn thất bại đắng cay của dân tộc!

————————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Hữu Nghĩa. “Những Đặc Trưng Thể Hiện Tính Ưu Việt Của Chủ Nghĩa Xã Hội Mà Nhân Dân Ta Đang Xây Dựng”, Tham Luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.
  2. Pháp Quyền. http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C%Áp_quy%É%BB%81n

Wikipedia. Rule Of Law – http://en.wikipedia.org/wiki/Rule_of_Law

—–

Mời xem lại: ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – Bài 1 và Bài 2   —   ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – Bài 3 (Ba Sàm).

 

Điểm sách: “Điện Biên Phủ, Kế Hoạch Cứu Nguy, Nguyên Nhân Thất Thủ” của Trọng Đạt – BS

27 Th11

 

Posted by adminbasam on 26/11/2014

26-11-2014

Lời nói đầu  

H1Trận Điện Biên Phủ 1954 nay tròn sáu mươi năm, đã được nhiều nhà sử gia, chính khách Tây phương xếp trong số những trận đánh quan trọng và lớn nhất trên thế giới về ý nghĩa lịch sử như Stalingrad 1942, trận hải chiến Midway 1942…

Nó đã đưa tới một khúc quành lịch sử, đã kết thúc chế độ thực dân Pháp và kéo Hoa Kỳ vào một cuộc chiến dài như vô tận. Cũng như tại Stalingrad năm 1942 Đức quốc xã mất Lộ quân số 6, gió đã đổi chiều với Hitler và tại Midway 1942, chỉ trong một ngày quân Nhật đã mất 4 hàng không mẫu, vài trăm máy bay, hơn ba ngàn thủy thủ rồi thua luôn cuộc chiến Thái bình dương.

Hai tiền đồn phía bắc Điện Biên Phủ bị sụp đổ ngay sau trận tấn công đầu tiên ngày 13, 14-3-1954, địch quá mạnh, trận mưa pháo thật dữ dội. Tướng Henri Navarre, Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương vì thiếu tin tình báo, chủ quan khinh địch đã đưa hơn mười tiểu đoàn Liên hiệp Pháp vào mạt lộ. Tình hình quân sự tai mặt trận ngày một xấu, sau ngày 26-3, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế, tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược. Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay và không có đường bộ. Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3-1954 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Vì không quân Pháp yếu, toàn bộ chiến trường Đông dương chỉ có khoảng 200 máy bay, hỏa lực pháo binh, cao xạ VM rất mạnh, lực lượng địch lên tới năm sư đoàn chính qui đông gấp bốn lần quân Pháp nên người Mỹ đã nghĩ tới một kế hoạch cứu nguy Điện Biên Phủ từ cuối tháng 3. Đầu tháng 4-1954 Tổng thống Eisenhower và các phụ tá, cố vấn đã nghiên cứu chiến dịch oanh tạc ồ ạt khu lòng chảo với khoảng từ 60 tới 90 oanh tạc cơ khổng lồ B-29 cùng với trên bốn trăm máy bay chiến thuật hộ tống. Chỉ có không lực Mỹ mới có thể cứu vãn tình thế.

Kế hoạch được thảo luận với đại diện của Lập pháp, sau gần một tháng vận động, nghiên cứu cuối cùng chết lịm. Cuối tháng 4-1954, một tuần trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, kế hoạch đã được Hội đồng an ninh quốc gia bàn thảo lần cuối. Trong khi chính phủ còn bàn cãi, Tướng Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4. Ông ta vẫn chuẩn bị cho oanh tạc một khi có lệnh. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, nhưng lệnh tiến hành không bao giờ có, kế hoạch lần này chết hẳn.

Sự thất bại không thực hiện được kế hoạch cứu Điện Biên Phủ vào giờ chót đã ám ảnh chính phủ Tổng thống Eisenhower suốt một thập niên. Từ đó mà trận đánh trở thành một chiến thắng lớn của VM và phe CS. Rồi người ta cho đó là sự sai lầm.

Thất thủ Điện Biên Phủ đã đưa tới Hiệp định Genève 20-7-1954 nhường một nửa Việt Nam cho CS, người Mỹ cho là thất bại vì bị mất đất, họ tiếc đã không làm mạnh để rồi mười năm sau 1964, 1965 địch lại mở cuộc chiến lớn hơn tại miền nam VN.

Mười hai năm sau trận đánh quyết định này, Bernard Fall đã làm sống lại kế hoạch bất thành và gần đây, năm 2012 và 2010 Fredrik Logevall, Ted Morgan cũng đã diễn tả lại kế hoạch này với nhiều chi tiết trong hai cuốn sách về Điện Biên Phủ và chiến tranh Đông Dương 1946-1954.

Bernard Fall nói nếu năm 1954 người Mỹ đã cho oanh tạc Điện Biên Phủ thì tình hình Đông Dương đã có thể đổi khác. Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói chúng ta có sức mạnh để phá hủy bộ máy chiến tranh của địch, chỉ có một vấn đề duy nhất là ta muốn xử dụng sức mạnh đó hay không.

Năm 1954 nước Mỹ có sức mạnh nhưng không muốn xử dụng sức mạnh đó, đã để lỡ cơ hội vào giờ chót.

Kế hoạch cứu Điện Biên Phủ như đã trình bầy ở trên là mục đích chính của cuốn sách này, sẽ lần lượt được đề cập trong các chương mục dưới đây.

Trước hết chương đầu nói sơ lược về cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất từ Toàn quốc kháng chiến tới trận Điện Biên Phủ, tiếp theo là Kế hoạch cứu nguy theo nhận xét người Pháp và người Mỹ, Nguyên nhân thất thủ Điện Biên Phủ.

Phần phụ Lục để quí độc giả tham khảo thêm gồm Trận Điện Biên Phủ, nói về diễn tiến trận đánh trích dịch trong cuốn Đông Dương Hấp Hối của Tướng Navarre và bài lược dịch Kế hoạch của Navarre.

Trọng Đạt

Sách “Điện Biên Phủ, Kế Hoạch Cứu Nguy, Nguyên Nhân Thất Thủ” của tác giả Trọng Đạt, do Người Việt Dallas xuất bản, đã phát hành tại hải ngoại. Sách dầy 250 trang, giá 18 Mỹ kim.

 

Biển Đông dậy sóng vì đảo nhân tạo Trung Quốc – RFI

26 Th11

 

mediaĐá Chữ Thập mà Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử Tiều ( Yongshu Reef ) là đảo đầu tiên có đường băng cho máy bay cất cánh và hạ cánh – DR
 

Việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo với sân bay tại quần đảo Trường Sa khiến sóng gió lại nổi lên ở Biển Đông, nhất là kể từ khi bộ Quốc phòng Mỹ lên tiếng về hành động này của Bắc Kinh.

Theo một báo cáo do tuần báo quốc phòng của Mỹ IHS Jane’s Defence công bố ngày 21/11/2014, với các hình ảnh chụp từ vệ tinh, công trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc đã bắt đầu từ cách đây ba tháng trên Đá Chữ Thập, mà Trung Quốc gọi là Vĩnh Thử ( Yongshu Reef ). Đảo nhân tạo này có chiều dài 3 km và chiều ngang từ 200 đến 300 mét. Đây là đảo nhân tạo đầu tiên của Trung Quốc có một sân bay nhỏ ở Trường Sa và đảo này cũng có một hải cảng có thể tiếp nhận các chiến hạm.

Theo đánh giá của tạp chí IHS Jane’s Defence, dự án mới trên Đá Chữ Thập « dường như là được thiết kế để buộc các bên khác phải từ bỏ những đòi hỏi chủ quyền của họ, hay ít ra giúp cho Trung Quốc có một vị thế mạnh hơn nếu sau này có đàm phán về những tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa ».

Thật ra thì ngay từ ngày 06/11, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình đã phản đối « các hoạt động cải tạo phi pháp» của Trung Quốc trên bãi Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa mà Hà Nội khẳng định là của Việt Nam. Ông Lê Hải Bình cho biết là ngày hôm đó, đại diện bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối về công trình này. 

Về phía Philippines, ngày 25/11/2014, Ngoại truởng Albert Del Rosario thông báo là bộ Ngoại giao nước này từ ngày 10/10 cũng đã gởi một công hàm đến Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh xây đảo nhân tạo trên Đá Chữ Thập, mà Philippines gọi là Kagitingan Reef.

Ngay cả Đài Loan lên tiếng phản đối công trình xây đảo nhân tạo của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền « lịch sử » của Đài Bắc trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phát ngôn của bộ Ngoại giao Đài Loan Cao An kêu gọi các nước tranh chấp chủ quyền Biển Đông không nên có bất cứ hành động đơn phương nào có thể gây phương hại đến hòa bình và ổn định trong vùng.

Công trình xây đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa cũng đã khiến sóng gió lại nổi lên trong quan hệ Mỹ – Trung. Vào cuối tuần trước, phát ngôn viên Lầu Năm Góc đã yêu cầu Bắc Kinh đình chỉ dự án xây đảo nhân tạo nói trên. Hôm qua, 24/11/2014 phát ngôn viên bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã nhắc lại lập trường của Washington rằng các công trình xây dựng quy mô như vậy có thể « khiến tình hình thêm phức tạp hoặc leo thang ».

Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ngay lập tức lên án những chỉ trích nói trên của Mỹ là « vô trách nhiệm ». Phát ngôn viên bộ Ngoại giao nước này, bà Hoa Xuân Oánh khẳng định rẳng các hoạt động xây dựng chỉ là nhằm « cải thiện điều kiện sống và làm việc của nhân viên trên đảo, để họ có thể thực hiện tốt hơn các nghĩa vụ và trách nhiệm quốc tế về tìm kiếm, cứu hộ ».

Giới quân sự Trung Quốc cũng đã lên tiếng bảo vệ dự án đảo nhân tạo ở Trường Sa. Trên tờ Hoàn cầu Thời báo số ra ngày 24/11/2014 tướng La Viên ( Lou Yuan ) cho rằng đây là một dự án « hoàn toàn chính đáng và xác đáng ». Theo viên tướng này, « Hoa Kỳ đã tỏ rõ sự thiên vị, bởi vì Philippines, Malaysia, Việt Nam đã xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự » trong vùng quần đảo Trường Sa. Tướng La Viên tuyên bố rằng Trung Quốc chắc chắn sẽ chống lại mọi áp lực quốc tế để tiếp tục dự án này.

 

 

Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền – BS

26 Th11

 

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền

Nguyễn Tiến Dân

26-11-2014

MINH TRUYỀN

Thiên này, lấy giác độ sống – còn của 1 quốc gia, mà thảo luận phép trị Nước.

Nhà Chu, nghiên cứu rất kĩ, về vấn đề này. Cha truyền – con nối, đều dạy nhau, Nước mất – Nhà tan, bởi:

Khinh thường quần chúng. Nên, chẳng được họ, ủng hộ

Dốt nát và nhu nhược. Nên, dễ bị kẻ khác, đè đầu

Bản thân xấu xa và hủ bại. Nên, nói chẳng ai nghe.

Họ, không đổ lỗi cho người khác. Họ, dạy nhau, phải tu dưỡng Đạo đức. Họ, dặn nhau, không bao giờ, được sống buông thả. Chính vì vậy, họ giữ vững được chính quyền. Trong suốt 800 năm ròng, không một “thế lực thù địch và phản động” nào, có thể lật đổ được họ. Không biết, trên Trái đất. có triều đại nào, tồn tại được lâu như vậy không?

                                                  明传:

文王寝疾,召太公望,太子发在侧. Văn vương tẩm tật, chiêu Thái công Vọng, Thái tử Phát tại trắc.

Văn vương, bệnh nặng. Ngài cho vời, Khương Thái công và Thái tử Cơ Phát, tới bên giường bệnh.

曰:“呜呼!天将弃予,周之社稷,将以属汝. 今予欲师至道之言,以明传之子孙”.

ViếtÔ hô! Thiên tương khí dư, Chu chi xã tắc, tương dĩ thuộc nhữ. Kim dư dục sư chí đạo chi ngôn, dĩ minh truyền chi tử tôn .

Vương, nắm tay 2 người, mà dặn dò: “Ô hô! Trời sắp bỏ ta. Xã tắc nhà Chu, nay mai, sẽ giao cho con quản lí. Nay, mời Quốc sư đến. Xin Người, hãy vì Ta, mà cởi lòng, nói ra những điều, nung nấu nhất trong tâm can, về phép trị Nước – an Dân. Cơ Phát con, đó cũng chính là di chúc, mà Cha sẽ để lại, cho con và cho cháu chắt, muôn đời sau”.   

Ôi, nhân tình – thế thái. Cùng là cách, ký thác con côi. Thế gian, mỗi người mỗi kiểu. Lưu Bị, vụng về đóng kịch, vờ muốn trao lại quyền hành, cho Khổng Minh. Sau khi bị từ chối, mới dặn con, coi Khổng Minh như cha. Chu Văn vương, giỏi – khéo và thâm thúy hơn nhiều. Ông chân tình, dặn con: Thiêng liêng, như Di chúc, Ta cũng để Khương Thái công, nói thay. Bởi, Khương Thái công, thấu hiểu ruột gan Ta. Ta với Khương Thái công, tuy 2 mà là 1. Lời của Thái công, chính là lời của Ta. Sau này, phải nghe lời chỉ bảo của Thái công. Hai Thày – Trò, phải kết hợp với nhau, để giữ vững đại nghiệp.

太公曰:王何所问?Thái công viết: “Vương hà sở vấn?

Thái công nói: “Đại vương, muốn hỏi điều gì?”

文王曰:先圣之道,其所止,其所起,可得闻乎?Văn vương viết: Tiên Thánh chi đạo, kì sở chỉ, kì sở khởi, khả đắc văn hồ?

Văn vương nói: “Thánh – Hiền thủa trước, khi luận về đạo trị Nước – an Dân, họ đã đúc kết: Nguyên nhân nào, khiến Nước mất – Nhà tan. Nguyên nhân nào, khiến Nước mạnh – Dân giàu. Quốc sư, có thể nói, cho Cơ Phát nghe, được không?”

Cùng là cách, chăm lo cho con. Đại bàng, khác hẳn chim sẻ.

Đại bàng, để lại Đất nước cho con. Nhưng, không dạy con, cách ăn cướp – cách bóp nặn Thiên hạ, để ăn trên – ngồi trốc họ. Đại bàng, dạy con cách giữ chế độ lâu dài và chọn cho con, một ông thày tuyệt vời. Để, chỉ bảo cho con, cách làm việc đó.

Chim sẻ, dạy con cách liều lĩnh, lao vút vào thinh không, để thể hiện mình. Trong khi, con nó, đâu có bộ lông dày – đâu có “6 đốt xương trụ vững chắc”. Không kiệt sức, cũng phải chết rét. Đó là tương lai, của chú sẻ non.

Khi con còn trẻ – dốt nát và không có bản lĩnh. Cố tình, đẩy nó ra chính trường. Đó là, cách nhanh nhất, để giết chết nó.

太公曰:见善而怠.  Thái công viết: Kiến thiện nhi đãi”.

Thái công trả lời: “Coi khinh quần chúng bần hàn – lương thiện”. Đó là nguyên nhân số 1, để mất chế độ.

Một chế độ, ra rả kêu rằng, họ “lấy Dân làm gốc”. Nhưng, thực chất, chúng coi Nhân dân, chỉ như 1 bầy nô lệ. Chúng, không chăm lo cho Dân, đã đành. Ngược lại, thông qua, sưu cao – thuế nặng, chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy Chúng, lăng nhục – mạt sát họ thậm tệ. Ai cũng có thể, là thằng – là con – là “các thế lực thù địch và phản động”. Chúng, thẳng tay đàn áp, khi người Dân, không nói và làm theo chúng. Thích bắt – là bắt. Thích thả – là thả. Luật – lệ, do chính chúng ban ra, có cũng như không. Bởi, chúng chỉ thích, dùng luật rừng. Có tai như điếc – Bởi, chúng đâu có thèm nghe, tiếng ai oán, vang động khắp trời của dân chúng. Có mắt như mù – Bởi, chúng đâu có thèm nhìn, cuộc sống cơ hàn của quần chúng. Dối trá và bịp bợm. Bởi, chúng luôn cho rằng, quần chúng bần hàn, chỉ là 1 lũ ngốc.

时至而疑,Thời chí nhi nghi.

Vua – Chúa ngu dốt, cho nên nhu nhược – đớn hèn. Thời cơ đến, không bao giờ dám quyết. Đó, đâu phải, là phẩm Đức của bậc Đế vương. Không có phẩm Đức của bậc Đế vương, nhưng vẫn an nhiên, ngồi trên ngai báu. Ắt sẽ bị, Dân chúng coi thường – Thuộc hạ khinh bỉ. Không có nhiều người, tự nguyện “làm đầy tớ cho thằng dại”. Họ, sẽ hành động. Đó là, nguyên nhân thứ 2, để mất ngôi báu.

Lãnh thổ – lãnh hải, bị ngoại bang công khai mò đến. Chúng ngang nhiên khoanh vùng – đóng cọc, để đào bới. Trong nhà – ngoài ngõ, đều sôi lên sùng sục. Ai cũng muốn, làm cho “ra ngô – ra khoai”, với lũ kẻ cướp. Có mấy cách, để lựa chọn:

-Ngồi lại với nhau, để nói chuyện “phải – trái”.

-Không được, thì lôi nhau ra Tòa.

-Cuối cùng, là dùng nắm đấm, để nói chuyện với nhau.

Nhưng, cả cung Vua – phủ Chúa, đều im thin thít. Nghị viện, cũng câm như hến. So vai – rụt cổ, thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Nhân dân xuống đường, thì đàn áp người ta. Trong khi, lại muốn Quốc tế biểu tình, để ủng hộ mình. Rõ là lũ khôn vặt. Tài – trí, chỉ sánh ngang, với tầng lớp tiểu nông. Đâu có, khí phách của bậc Đế vương. Uy tín và ngôi báu, không mất mới là sự lạ.

知非而处,Tri phi nhi xử.

Biết điều sai trái – xấu xa, vẫn thản nhiên làm. Lúc đó, hủ bại, đã trở thành bản chất của giới cầm quyền. Khi mình hủ bại, “há miệng – mắc quai”. Nói – chẳng ai nghe. Đe – chẳng ai sợ. Không điều hành được Đất nước, tất phải mất nước. Đó là, nguyên nhân thứ 3, để mất chính quyền.

Biết kẻ bất nhân – vẫn dùng. Cổ nhân dạy, khi “sâu bọ lên làm người”, lúc ấy, thế nước đã mạt. Nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đã công khai thú nhận : Cán bộ của ông, đầy 1 lũ sâu bọ. Dĩ nhiên, là vô tài và thất đức. Nhưng, chúng vẫn được giao cho quyền hành. Thậm chí, chúng phá hoại, cũng không bị phế bỏ. Vì sợ: “bầu không kịp”. Thế gian, chỉ có CS, mới dám làm việc này. Còn các nước Dân chủ, họ kinh hãi loài sâu bọ. Sợ chúng, làm “hỏng nồi canh”. Nên không bao giờ, để chúng mon men, tới chốn quan trường.

Biết của bất nghĩa – vẫn nhận. “Ăn uống ở nhà hàng này, nhà hàng nọ, tiền ấy chẳng phải từ tham nhũng, thì từ đâu mà ra? Không tham nhũng, lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này – chức vụ kia…”. (Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam). Có lẽ, ông Chủ tịch Quốc hội, nên bố xung thêm: “Không bóp nặn của Dân lành – không bóp nặn của thuộc cấp, lấy đâu tiền, để xây biệt thự. Lấy đâu tiền, để gửi Ngân hàng nước ngoài. Lấy đâu tiền, để ăn chơi văng mạng…” . Và, ông hãy thử, sờ tay lên gáy của mình. Ông, hãy công khai tài sản và giải trình, nguồn gốc của chúng, cho Thiên hạ biết. Có dám làm không, mà nói hăng thế.

Biết việc thất đức – vẫn làm. Như Hitler đó: Sẵn sàng, tuyệt diệt dân Do Thái. Sẵn sàng, đặt ách nô dịch lên toàn châu Âu và thế giới. Đốt nhà Quốc hội Đức, để vu oan – giáng họa, cho những người Cộng sản. Giết lính biên phòng Đức, rồi vu cáo cho Ba lan, mà phát động Đệ nhị thế chiến. Chung cuộc của Hitler, chắc chẳng cần phải nhắc lại.

Suy cho cùng, vẫn không bằng, có nhà nước, cho xe tăng – xe bọc thép, chà nát học sinh – sinh viên của mình. Khi, các cháu, chỉ có khát vọng Dân chủ – Tự do. Và, trong tay, không có nổi, một mẩu thép.

Biết việc trái đạo – vẫn đem ra thi hành.

Xưa, An Dương vương, tự dẫn sói vào nhà, khiến Nước mất – Nhà tan. 

Nay, nhà nước CS, phớt lờ lời cảnh báo của tướng Giáp, để dẫn Trung cộng vào Tây nguyên – Tử huyệt của Đất nước. Nào có phải, họ đến, là để làm giàu cho Đất Việt. Họ đến, để khai thác Bô xít. Về kinh tế, thì lỗ. Về môi trường, thì độc hại và tiềm ẩn, thảm họa cho Đất nước. Về văn hóa, làm nhạt nhòa, bản sắc văn hóa của các dân tộcTây nguyên. Tai hại như thế, nhưng đã là “chủ trương lớn của đảng”, nên cứ phải, nhắm mắt – nhắm mũi mà thi hành.

此三者道之所止也。Thử tam giả, đạo chi sở chỉ dã

Chế độ nào, hội đủ 3 yếu tố này, chế độ đó, chắc chắn sẽ bị diệt vong .

柔而静.  Nhu nhi tĩnh

Ôn hòa và mềm dẻo – Bình tĩnh và công bằng, để giải quyết công việc.

Là nước lớn, nhưng ai cũng nhận thấy, Hoa kì, hành xử rất thân thiện và có trách nhiệm. Họ không hung hăng, bắt nạt các nước nhỏ. Không sợ xun vòi, trong quan hệ với các nước lớn. Họ nguyện bảo vệ, các giá trị của Tự do – Dân chủ. Bởi vậy, đi đến đâu, Tổng thống Hoa kì, cũng được dân chúng yêu mến và chào đón nồng nhiệt. Một trời – một vực, khác với thái độ của họ, dành cho lãnh đạo CS.

恭而敬,Cung nhi kính.

Tôn trọng dân chúng và cẩn thận từng li – từng tí, trong công viêc hàng ngày. Người như thế, đâu dễ mắc, những sai lầm ngớ ngẩn.

Hãy thử 1 lần, ngắm nhìn bức ảnh, ông Obama, cho 1 cháu bé 5 tuổi, sờ lên đầu của mình. Ta biết, ông tôn trọng dân chúng, đến mức nào. Hãy nhìn, những bức ảnh, cán bộ CS, đứng ưỡn bụng và dạng háng, trước công chúng. Hãy nhìn, những cái vỗ tay hững hờ của họ. Ta sẽ biết, trình độ văn hóa của họ, cao đến mức nào.

强而弱.  Cường nhi nhược

Cành cây già, tất cứng. Cứng, thì dễ gãy. Những nhành cây to, mới nhú, nó còn mềm. Nó, có thể phát triển được. Đó là, lí tự nhiên.

Con người ta, dù mạnh đến đâu, cũng cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn, giúp người ta, vươn lên mãi. Ương ngạnh cho rằng, chỉ có mình mới đúng và phủ nhận, tất cả những quan điểm khác mình. Như thế: khác gì. cành cây già – khác gì, cỗ xe đã lên đến đỉnh dốc và chuẩn bị đổ đèo. Chỉ có xuống và chẳng còn lên được nữa.

忍而刚.  Nhẫn nhi cương.

Thời cơ chưa đến – nhẫn nhịn đợi thời . Thời cơ chin muồi – kiên quyết nắm chắc, để đoạt thủ thiên hạ. Nhịn những cái nhỏ. Nhưng, không bao giờ được nhượng bộ, những vấn đề, có tính nguyên tắc.

Khi đàm phán, để hoạch định Biên giới trên bộ: Nguyên tắc chung, là phải tôn trọng Hiệp ước Pháp – Thanh. Tôn trọng những cột mốc, đã được cắm, theo qui định của  Hiệp ước này. Khi, bổ xung cột mốc mới, có thể nhượng bộ, xê xích tí chút. Không hiểu sao, Việt cộng, dễ chấp nhận nguyên tắc, do Trung cộng đưa ra: “Trên các dòng sông chung, Biên giới Quốc gia, được tính theo trung tuyến của dòng nước chảy”. Kết quả, Việt nam, mất đứt đi, ít nhất là nửa bãi Tục Lâm – nửa thác Bản Giốc.

Tại sao họ bị lừa? Chỉ có Trời, mới biết.

此四者,道之所起也.  Thử tứ giả, đạo chi sở khởi dã.

Quân chủ, có 4 đức tính này, mà lãnh đạo xã hội. Xã hội ấy, nhất định: Dân thì giàu – Nước thì mạnh.

故义胜欲则昌,欲胜义则亡. Cố, nghĩa thắng dục tắc xương, dục thắng nghĩa tắc vong.  

Ở 1 Quốc gia, khi quyền lợi của Đất nước, được đặt trên quyền lợi của đảng phái – được đặt trên quyền lợi của gia đình. Đất nước, sẽ hưng thịnh. Bởi, nó thuận Đạo: Quân – Sư – Phụ. Ngược lại, khi “Hiến pháp của Đất nước, đứng đằng sau Cương lĩnh của đảng”. Khi đó, dục vọng của đảng CS, đã chiến thẳng công lí. Kết quả:  “đất nước Việt Nam, mãi mãi là đất nước vô pháp luật” (Đại tá Phạm Đình Trọng). Và, không thể phát triển được.

Trong con người của bậc Vua – Chúa , khi chính nghĩa, chiến thắng dục vọng thấp hèn của bản thân, Quốc gia sẽ hưng thịnh và ngược lại. Đổng Trác và Lã Bố, cùng tranh nhau nàng Điêu Thuyền. Đó là, khởi đầu cho quá trình: Đổng Trác chết – Lã Bố vong. Dân Việt, khinh cái sự ấy lắm. Họ, gọi cái sự ấy, là: “cha – con, ăn chung 1 máng”. Không biết, ở Việt nam, có lãnh đạo nào, mà cha – con, đã từng ăn chung 1 máng chưa?

敬胜怠则吉, 怠胜敬则灭。Kính thắng đãi tắc cát, đãi thắng kính tắc diệt.

Từ việc lớn, cho đến việc nhỏ – Từ viêc quan trọng, cho đến chuyện bình thường. Khi đã bắt tay vào làm, người Nhật, đều làm với niềm đam mê. Họ, làm cho bằng tốt, mới thôi. Chính vì vậy, sản phẩm, mang nhãn hiệu Made in Japan, được người tiêu dùng, rất ưa chuộng. Ngược lại, người Trung quốc, coi thường khách hàng. Sản phẩm của họ làm ra, có chất lượng tồi và thường được khuyến mại thêm, sự độc hại. Chính vì vậy, khách hàng, chỉ tìm đến họ, khi không còn sự lựa chọn nào khác.

Chăm chỉ làm việc, để tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thì tốt. Chăm ăn – chăm chơi, mà không chăm làm, mấy chốc mà bị diệt vong. “Rừng vàng – Biển bạc”, đâu có tác dụng gì, với lũ lười biếng.

Lời bàn

Vi trùng, hiện diện, ở khắp mọi nơi. Mầm bệnh, trong người, ai mà không có. Người ta ốm, bởi vì người ta yếu. Họ, khỏe mạnh, bởi có cơ thể tráng cường. Đó là, lí tự nhiên.

Các thế lực thù địch và phản động” với chính quyền, nơi nào mà không có. Đảng CS Mĩ, chẳng hạn. Họ, công khai hoạt động và hoạt động có tổ chức. Họ ra rả, nói vào tai dân Mĩ: Chủ nghĩa Tư bản, là xấu xa và tồi tệ. Hãy ủng hộ, để họ lên nắm quyền. Họ, sẽ lo cho dân Mĩ, một Thiên đường, vạn lần tốt hơn hiện nay. Nhưng, dân Mĩ thông minh. Qua lá phiếu của mình, họ phủ nhận nó. Chính quyền hiện nay của họ, thực sự đã là của Dân – do Dân và vì Dân. Nên, nó cực kì vững mạnh. “Các thế lực thù địch và phản động”, nói thế, chứ nói nữa, nó cũng chẳng thể đổ được.

Ngược lại, “Các thế lực thù địch và phản động” của chính quyền CS: Qui mô – nhỏ lẻ. Hoạt động – phân tán. Hành động – không thống nhất. Tài chính – chẳng có gì. Nhưng, sao chính quyền CS, luôn sợ nó, đến mức phát cuồng lên? Đơn giản, vì chính quyền CS, không dựa vào Dân. Nên, nó rất yếu. Chỉ hắt hơi – xổ mũi sơ sơ, cũng có thể lăn đùng ra, mà đi đến, Đài hóa thân Hoàn vũ. Nga xô và khối CS Đông Âu, là những ví dụ.

Yếu, thì phải chết. Đó là Chân lý. “Tháo dạ, đừng đổ vạ cho cơm”. Đừng đổ lỗi, cho “Các thế lực thù địch và phản động”. Đó chỉ là, ngụy biện. Là cái cớ, để đốt tiền, cho các lực lượng vũ trang – cho bộ máy tuyên truyền. Mà thực chất, chúng chỉ là, lũ ăn hại.

Luận, về sự sụp đổ của 1 thể chế, nhà Chu cho rằng, có 2 nguyên nhân cơ bản và họ đưa ra, 2 đối sách tương ứng, để đối phó:

Thứ nhất, do người trong nước, vùng lên lật đổ. Có thể, do khởi nghĩa vũ trang. Tỉ như, cách mà Nga xô, đã làm với chính quyền Nga hoàng. Có thể, thông qua hình thức ôn hòa. Tỉ như, nhà Trần, giành chính quyền từ tay nhà Lý. Tỉ như, Nhân dân Ba lan, giành chính quyền, từ tay thể chế CS.

Thứ 2, do ngoại bang, mang quân đến phế bỏ. Tỉ như, người Việt nam, đã làm ở Campuchia.

Lịch sử, đã chỉ rõ: Vô luận, trong bất cứ trường hợp nào. Chính quyền bị lật đổ, cũng đang, ở trong trạng thái mục ruỗng – thối nát , đến tận xương – tận tủy. Vì vậy, nhà Chu, đề ra biện pháp đối phó, hết sức chủ động. Họ không mong, đối lập yếu đi. Họ chỉ mong, xây dựng chính quyền của họ, vững mạnh. Tất nhiên: Không phải, bằng bạo lực – Không phải, bằng tuyên truyền dối trá. Xây dựng chính quyền vững mạnh, phải dựa trên cơ sở: Tự sửa mình và Chăm lo cho “gốc – rễ”. Đó là, Nhân dân.

Riêng, trong trường hợp “mang quân, đến phế bỏ người”. Nhà Chu, không dạy con cháu, cách “ăn sống – nuốt tươi”, cách “lấy thịt – đè người”. Như người Mĩ, đã từng làm ở Iraq.  Họ dạy con cháu, cách khôn khéo hơn nhiều. Cách đó, mới là, “Âm mưu diễn biến hòa bình” chính hiệu. Đề tài này, xin được trình bày ở bài sau: Văn phạt.

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ : 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại : 0168-50-56-430

—–

Mời xem lại: Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó: Bài mở đầu  –   Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 1: Văn sư   –   Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 2: Doanh hư  –  Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 3: Quốc vụ (Ba Sàm).

 

Người Việt ưa nịnh, thích ‘dìm’: Tác hại đến đâu?

26 Th11

 

“Với một truyền thống văn hóa “ưa được nịnh”, “thích được khen”, nhưng lại sợ phê bình và tự phê bình đến như thế, nếu không tự thay đổi từ gốc rễ mà cứ đòi hỏi tiến bộ, đòi hỏi “văn hóa từ chức”…, thì vẫn chỉ là mơ mộng mà thôi!” – GS-TSKH Trần Ngọc Thêm.

>>Đại tướng quân Hai Lúa và người Việt khởi nghiệp

>> Sẽ ra sao nếu Đại tướng quân Hai Lúa vẫn ở VN?

>> Con đường đưa Việt Nam tới thịnh vượng

>> Người Việt: Chỉ trích “lạnh xương” và “khen cho chết”

LTS: Vừa qua, “Đại tướng quân Hai lúa” trở thành đề tài được bàn luận sôi nổi. Mặc dù đây chỉ là một câu chuyện nhỏ, nhưng từ đó đã gợi ra rất nhiều điều khiến chúng ta suy ngẫm, liên quan đến việc vì sao những sáng tạo, thay đổi, cải cách của VN vẫn còn gặp nhiều rào cản và chậm bước so với đòi hỏi của thời đại.

Chẳng hạn, so với các quốc gia láng giềng trong khối ASEAN, như Myanmar, Campuchia, Lào, thì Việt Nam đổi mới sớm nhất. Nhưng sau cú đột phá ngoạn mục vào năm 1986, chúng ta lại rơi vào trì trệ, hiện nay nhiều người đã cảnh báo về nguy cơ tụt hậu…

Nguyên nhân văn hóa căn cốt ẩn sau những vấn đề ấy chính là chủ đề của cuộc trò chuyện của Tuần Việt Nam với GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học tự nhiên Nga, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQG-HCM. Những câu trả lời của ông xoay quanh một lý giải được ông khái niệm hóa là “Văn hóa âm tính”.

Trần Ngọc Thêm, Đại tướng quân, văn hóa, Trần Quốc Hải, xe tăng, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc, Vạn lý Trường thành,

GS-TSKH Trần Ngọc Thêm. Ảnh: Lao Động

“Biến đổi từ từ”

Thưa Giáo sư, là người có nhiều năm nghiên cứu văn hóa VN, xin ông đưa ra một nhận định tương đối khái quát vì sao những thay đổi của chúng ta thường diễn ra khó khăn và chậm hơn so với đòi hỏi bức thiết của thực tế?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Tôi đã có quá trình nghiên cứu khá lâu về câu hỏi nhức nhối này và đi đến kết luận rằng: “Văn hóa VN có đặc điểm là biến đổi từ từ, không có đột biến, trừ trường hợp có ảnh hưởng hay tác động có yếu tố bên ngoài như cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 hay công cuộc Đổi mới năm 1986”. Giờ tôi xin nhắc lại để trả lời cho câu hỏi của anh.

Xuất phát từ đâu VN lại có đặc điểm văn hóa như vậy, thưa ông?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Năng lực hành động và năng lực tư duy bắt đầu từ văn hóa. Nói cách khác, văn hóa là cái gốc rễ của dân tộc. Phải hiểu sâu hơn về cội nguồn gốc rễ đó thì mới lý giải được mọi chuyện, mọi vấn đề đặt ra, mọi vấn nạn mà chúng ta đang thấy.

Theo phân loại của tôi, nền văn hóa Việt Nam của chúng ta thuộc loại âm tính, mang những đặc trưng khác hẳn những nền văn hóa dương tính. Văn hóa âm tính giống như tính cách của người đàn bà, thích sự ổn định và luôn hướng tới sự ổn định, rất ngại mọi sự thay đổi. Văn hóa dương tính thì ngược lại, giống tính cách người đàn ông, mạnh mẽ, quyết liệt, hay thay đổi, ghét sự trì trệ, nhàm chán, v.v.

Khi nghiên cứu chúng ta tách ra chứ kỳ thực trong mỗi sự vật, hiện tượng, con người… đều có phần âm và phần dương, cái khác nhau là ở chỗ mặt nào trội hơn mà thôi.

Điều kiện tự nhiên là nguồn gốc của văn hóa. Thiên nhiên khác nhau thì kinh tế cũng sẽ khác nhau, từ đó văn hóa ắt cũng sẽ khác nhau. Các dân tộc có truyền thống mưu sinh bằng nông nghiệp trồng trọt là âm tính; trong đó nông nghiệp lúa nước thuộc loại âm tính nhất. Các dân tộc sống bằng chăn nuôi, du mục thuộc loại dương tính.

Trên thế giới mênh mông này chỉ có Đông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp lúa nước. Trồng trọt phụ thuộc vào thiên nhiên nhiều hơn chăn nuôi, trồng lúa nước thì mức độ phụ thuộc cao nhất. Sự phụ thuộc khiến người ta trở nên thụ động. Và cũng chính vì vậy mà nơi này có nền văn hóa âm tính nhất.

Đông Bắc Á và phương Tây là những vùng đồng cỏ, thảo nguyên mênh mông, con người thời cổ sống bằng kinh tế du mục, khiến con người phải luôn phải rong ruổi, di chuyển. Điều này tác động đến lối suy nghĩ, dần dần hình thành kiểu văn hóa dương tính, đối lập với văn hóa âm tính của chúng ta.

Văn hóa Việt – Trung: Giống nhau chỉ trên bề mặt

Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước khẳng định văn hóa VN chịu ảnh hưởng rất sâu rộng bởi nền văn minh Trung Hoa, yếu tố cùng thể chế cũng chi phối sự ảnh hưởng này. Quan điểm của ông ra sao?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Nhìn bề ngoài thì đúng là như thế, nhưng nếu chỉ dừng ở cảm nhận bề ngoài thì ta sẽ chỉ có được những nhận xét cảm tính, phiến diện rất đáng tiếc vì không đi vào bản chất gốc của sự việc! Văn hóa luôn là “mục tiêu, động lực và nền tảng của sự phát triển” cho nên dù có sự tương đồng về thể chế thì VN và TQ vẫn khác nhau rất nhiều.

Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, cũng như qua quan sát thực địa tại nhiều địa phương khác nhau của TQ, tôi thấy rất rõ rằng những sự giống nhau tuy nhiều nhưng thuộc về tầng mặt, trong khi những sự khác nhau thì nằm ở tầng sâu, rất căn bản.

Một bên là văn hóa âm tính điển hình như VN, một bên là loại hình văn hóa trung gian “vừa có âm vừa có dương” và có những giai đoạn mặt dương có phần trội hơn như TQ thì làm sao giống nhau hoàn toàn được. Chỉ có thể có những ảnh hưởng do tiếp xúc giao thoa, còn do có cái gốc nền rất khác nhau nên bản chất cũng khác nhau.

 

Tính trung gian này của văn hóa TQ thể hiện rất rõ trong lĩnh vực tổ chức xã hội. Trong khi xã hội phương Tây luôn biến động nên coi trọng cá nhân, Đông Nam Á ưa ổn định, ít biến động nên coi trọng làng xã thì Đông Bắc Á ở giữa, coi trọng gia đình.

Cụ thể là thế nào, thưa giáo sư?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Văn hóa âm tính xuất phát từ nông nghiệp lúa nước nên có sức mạnh tập thể rất cao. Chính nhu cầu thu hoạch mùa màng, bảo vệ cuộc sống đã buộc mọi người phải chung tay, phải có mối liên kết ràng buộc chặt chẽ.

Tương tự như vậy, khi có ngoại xâm là bị đẩy vào thế cùng, sức mạnh tập thể của văn hóa âm tính, sức mạnh làng xã sẽ trỗi lên chống lại. Lúc ấy cả nước như một.

Đặc trưng rõ nhất của văn hóa VN là vai trò cao của cộng đồng làng xã – đơn vị tế bào của xã hội Việt Nam. Từ làng ra đến nước, tạo nên mô hình Làng – Nước. Trong suốt chiều dài của lịch sử, TQ đô hộ ta cả ngàn năm, đánh chiếm ta bao nhiêu lần mà ta không mất nước là nhờ việc cái gốc văn hóa Việt nằm ở làng chứ không phải ở đô thị.

Quan quân TQ cai trị chỉ có thể đưa đến ở các đô thị chứ không thể kiểm soát hết nông thôn, nên không thể tiêu diệt hay đồng hóa được văn hóa Việt. Và do văn hóa làng quá mạnh nên cứ mỗi khi quân xâm lược rút đi thì văn hóa làng lại tấn công trở lại đô thị, kéo đô thị trở về với văn hóa làng. Đây là đặc trưng rất Việt, khác biệt với nhiều quốc gia khác có nền văn hóa thiên về dương tính mà tại đó, đô thị luôn có lực hút kéo nông thôn biến đổi theo thành thị.

Trong những cuộc đối đầu với các cuộc xâm lăng, chất âm tính mạnh của văn hóa làng xã ấy đã phát huy tác dụng, giúp cho VN dù có trải qua hàng ngàn năm lệ thuộc cũng không bị ảnh hưởng của đô thị lôi kéo, kết quả là không bị văn hóa ngoại bang đồng hóa.

Trong khi đó,trong văn hóa TQ và các nước Đông Bắc Á, do làm nông nghiệp lúa cạn, trồng kê mạch, không cần liên kết lớn ở quy mô làng xã nên đơn vị cơ bản của xã hội là gia đình. Từ gia đình (nhà) ra đến nước, tạo nên mô hình Quốc gia – Nhà nước.

Đặc trưng của gia đình là tôn ti trật tự, có trên có dưới. Ra xã hội cũng vậy, “trên bảo thì dưới phải nghe” là nguyên tắc tối thượng. Nó khác với VN ta ngày xưa là “phép vua thua lệ làng”, hay ngày nay là hiện tượng “trên bảo dưới không nghe”, “thủ kho to hơn thủ trưởng”, v.v…

Bởi vậy mà trong văn hóa TQ, ý chí luận rất mạnh. Họ có thể làm được những việc “kinh thiên động địa” như xây Vạn lý Trường thành thời Tần Thủy Hoàng, hay “chiến dịch diệt chim sẻ” vào những năm 1958-1962 khiến cho sau đó châu chấu tràn ngập phá nát mùa màng và kéo theo nạn đói lớn làm cho nhiều người chết đói.

Văn hóa TQ hướng đến cái tuyệt đối, cực đoan kiểu “đội đá vá trời”, “Ngu Công dời núi”, “Tinh Vệ lấp biển”, “toàn dân làm gang thép”, “toàn dân diệt chim sẻ”. Trong khi văn hóa VN do thiên về âm tính nên hướng đến sự dung hòa theo triết lý âm dương. Theo đó, làm cái gì cũng hướng tới mục tiêu “vừa phải”, không thấp quá nhưng cũng đừng cao quá, “trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình”.

Trần Ngọc Thêm, Đại tướng quân, văn hóa, Trần Quốc Hải, xe tăng, Campuchia, Myanmar, Trung Quốc, Vạn lý Trường thành,

Xe bọc thép mới do cha con ông Trần Quốc Hải chế tạo. Ảnh: TTO

Tư duy “vừa phải”, ưa khen ngợi

Đứng từ góc độ này thì có thể thấy hai nền văn hóa rất khác nhau về bản chất. Vậy tư duy “vừa phải” mà ông vừa nói tác động đến ta thế nào – trong tính cách cá nhân, cộng đồng, xã hội…?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm: Tư duy “vừa phải” là đặc điểm cố hữu của người nông dân Việt. Thấy ai khó khăn thì mọi người xung quanh xúm lại giúp cho vươn lên, đó là mặt tốt đẹp. Nhưng ngược lại, nếu thấy có ai vươn lên cao hơn thì mọi người cũng thường xúm lại, cùng nhau kéo xuống, để về sau không ai còn dám nghĩ đến chuyện nổi trội lên nữa!

Ở VN ta, những người tài giỏi xuất sắc trong một cơ hay bị dèm pha, đố kỵ. Mà ở đời thì anh nào giỏi, làm nhiều thì hay có sai nhiều. Do “ghen ăn tức ở” (hiện nay lớp trẻ gọi tắt là thói GATO) và tâm lý muốn giữ lấy cái sự ổn định, bình yên cho mình mà người ta sẽ săm soi, bới móc thổi phồng, biến cái lỗi nhỏ thành to, thậm chí đặt điều nói không thành có.

Khi cả tập thể đã xúm vào “trị” anh giỏi mà lãnh đạo lại non tay thì ông ta sẽ không bảo vệ người giỏi nữa và ngả theo số đông. Đó là một lý do lớn khiến nhiều người phải từ bỏ môi trường nhà nước, hoặc thậm chí ra nước ngoài tìm đất phát triển khả năng.

Với tư duy “vừa phải” như thế, ở VN không thể có những công trình vĩ đại như Vạn lý Trường thành, Kim tự tháp hay Angkor. Những cái kỳ vĩ đó chỉ có thể là sản phẩm của lối tư duy tuyệt đối theo kiểu văn hóa dương tính, đối lập với tư duy “vừa phải” của ta.

Mặt khác, văn hóa âm tính giống như người phụ nữ, thường chỉ thích nghe và tin là thật những lời khen nịnh. Vì vậy mà người VN ta thường không thích bị chê, kiểu “Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”, “Đừng vạch áo cho người xem lưng”. Có ai đụng đến khuyết tật gì của mình là lập tức thanh minh thanh nga, tìm cách trốn tội, “đá quả bóng sang chân người khác”.

Cả hệ thống quản lý nếu không tỉnh táo, sáng suốt, thì cũng bị nền văn hóa âm tính này chi phối và phạm phải những quyết định sai lầm.

Chẳng hạn, mấy năm qua có một tổ chức quốc tế thường khảo sát các giá trị ở các quốc gia qua thăm dò dư luận. Khi họ công bố kết quả rằng VN là đất nước có chỉ số hạnh phúc cao vào loại gần nhất thế giới thì chỗ nào cũng phấn khởi đưa tin, lên tiếng phụ họa. Nhưng khi cũng chính tổ chức này công bố kết quả rằng ngành nọ ngành kia của Việt Nam do tham nhũng, đút lót nhiều mà có chỉ số hài lòng thấp thì ngay lập tức, tổ chức đó bị phản ứng.

Với một truyền thống văn hóa “ưa được nịnh”, “thích được khen”, nhưng lại sợ phê bình và tự phê bình đến như thế, nếu không tự thay đổi từ gốc rễ mà cứ đòi hỏi tiến bộ, đòi hỏi “văn hóa từ chức”…, thì vẫn chỉ là mơ mộng mà thôi!

(Còn nữa)

Duy Chiến (thực hiện)

 

Ngân sách Nhà nước VN: Xài cho kỳ hết? – BBC

26 Th11

 

  • 3 giờ trước

Nếu phá vỡ thói quen “xài cho kỳ hết” ngân sách nhà nước, Việt Nam có thể tiết kiệm được rất nhiều, theo ý kiến của một đại biểu quốc hội trong phiên họp hôm 25/11.

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa được VNExpress dẫn lời nói, tâm lý xin ngân sách năm sau cao hơn năm trước có ở hầu hết các ngành, địa phương.

“Sự thật có nơi năm nay chỉ cần chi 80 đồng là đủ, nhưng đã xin được 100 đồng rồi nên phải cố tiêu hết. Vì lo rằng tiêu không hết thì năm sau sẽ bị cắt,” luật sư Trương Trọng Nghĩa nói.

Ông cũng đề nghị đưa ra quy định nếu địa phương có nhu cầu cấp thiết thì dù không tiêu hết ngân sách năm nay năm sau vẫn có thể được cấp nhiều hơn.

Một số đại biểu khác cũng nêu ra các vấn đề về kỷ luật chi tiêu ngân sách nhà nước, nợ công và các khoản vay của nhà nước.

Tiêu xài ‘tùy tiện’

Việt Nam sẽ tiết kiệm được nhiều nếu có kỷ luật và chính sách chi tiêu hợp lý?

Trong phiên họp hôm 29/10, đại biểu Trần Du Lịch gọi cách sử dụng ngân sách ở Việt Nam là “tùy tiện” và “ăn nhậu vô tội vạ rồi vẫn quyết toán được”, trang VTC trích lời.

Một chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, World Bank, gần đây viết cho Vietnamnet về năm khuyến nghị nhằm giúp Việt Nam kiểm soát chi tiêu và vay nợ quốc gia được tốt hơn.

Trong đó, khuyến nghị đầu tiên mà ông Habib Rab đưa ra là nâng cao minh bạch ngân sách nhà nước, nâng cao trách nhiệm giải trình để người dân có thể tham gia đóng góp ý kiến.

Khuyến nghị thứ hai của ông Rab liên quan tới vấn đề kỷ luật trong việc thực hiện kế hoạch chi tiêu; thứ ba là lập ngân sách trung hạn, được cập nhật hàng năm, “phù hợp với các Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và gắn kết với Kế hoạch đầu tư trung hạn”, do hiện nay các kế hoạch chi tiêu ngân sách nhà nước được đặt ra cho 5 năm.

Ông Rab cho rằng toàn bộ báo cáo các hoạt động của khu vực công cần được tổng hợp để cả chính phủ và người dân có được cái nhìn toàn cảnh về chính sách tài khóa.

Ngoài ra, khuyến nghị thứ năm là hình thành cơ chế tổng thể về vay nợ của chính quyền đại phương do theo chính sách hiện nay, “ngân sách địa phương không được phép bội chi, và “toàn bộ nợ của địa phương được xử lý ngoài ngân sách nhà nước”, chuyên gia của World Bank viết.

Báo Thanh Niên hôm 25/11 đưa tin về một khảo sát gần đây của Oxfam và một số cơ quan của Quốc hội về kỳ sửa đổi luật ngân sách nhà nước cho thấy không có nhiều người dân biết và hiểu về vấn đề này.

Cuộc khảo sát kết luận rằng, đa phần người dân, dù ở nông thôn hay thành thị đều muốn biết ngân sách nhà nước được chi, thu như thế nào, và việc công khai ngân sách nhà nước cần được thực hiện sao cho dễ hiểu nhất, dễ tiếp cận được nhất.

Các vấn đề về ngân sách nhà nước đang được Quốc hội Việt Nam thảo luận trong tuần từ 24/11/2014.

Tin liên quan

  • ‘Kiểm điểm cá nhân liên quan vụ ông Truyền’
    24 tháng 11 2014
  • Ông Trần Văn Truyền ‘cần bị xử lý’
    22 tháng 11 2014
  • Kiểm phiếu tín nhiệm Quốc hội ‘có vấn đề’?
    20 tháng 11 2014
  • Bộ Chính trị nên ‘tăng quyền’ Quốc hội
    20 tháng 11 2014
  • Việt – Trung ‘vừa hợp tác, vừa đấu tranh’
    19 tháng 11 2014

 

Từ việc xử lý quan chức tham nhũng ở VN: “Nhà tù sẽ phóng thích trộm cướp”? – BS

26 Th11

 

 

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Blog RFA

Võ Thị Hảo

25-11-2014

H1“Ông ấy bán chức bao nhiêu tiền”?

Mấy hôm nay đám trộm cướp ở Việt Nam vui mừng khác thường. Người đang trộm cướp chưa bị phát hiện mừng rỡ đã đành, mà.  Mà ngay cả đám đang bị nhốt trong tù và những người có ý định trộm cướp nhưng chưa có dịp thực hiện cũng thấy tương lai rạng rỡ.

Đám này kháo nhau:  cần thì cứ trộm cắp cướp giật thôi. Mau mở hội ăn mừng. Không ăn mừng lúc này thì còn lúc nào. Cứ tha hồ trộm cướp đi. Nếu người ta không bắt được thì trót lọt. Nhưng nếu người ta có bắt được, thì chỉ cần trả lại một phần của đã trộm cướp là xong, chẳng bị kết án tù đày gì đâu. Xem tòa án và các ông to xử lý các ông quan trộm cướp của công thì biết. Quan trộm cướp hay dân trộm cướp thì cũng chỉ là trộm cướp. Họ được tha thì ta cũng phải được tha. Chúng ta được phóng thích đến nơi. Nhà tù sắp ế  rồi. Chuẩn bị về với vợ con thôi.

Có người tỉnh táo trong đám trộm cướp ấy hồ nghi : làm gì có chuyện ấy bình đẳng giữa quan với dân. Ngay cả cái tên cũng còn phân biệt. Dân trộm cướp thì gọi đúng tên, còn quan trộm cướp của dân, tội nặng hơn chúng mình nhiều, mà lại tránh đi, gọi là tham nhũng.

Đám đồng bọn của anh ta rộ lên phản đối: đây không lý lẽ cao xa. Chỉ cần xem người ta kết luận vụ ông cựu Tổng Thanh tra chính phủ thì biết là bây giờ pháp luật Việt Nam cũng chẳng coi tội trộm cướp là cái đinh gì.

Đám người trộm cướp ấy nói cũng có thể hồ đồ? Nhưng thực sự, dư luận bàn về việc ông cựu Tổng thanh tra CP có trộm cắp bằng phương thức nào đó hay lợi dụng vị trí để tham nhũng hay không, có những ý kiến trái chiều.

Có người nói: ông ấy có trộm cướp đâu. Theo kết luận của UB kiểm  tra T.Ư, ông ấy chỉ có 6 tài sản bất động sản cỡ bự , có “vấn đề” và trong 5 tháng trước khi về hưu ông ấy đã hối hả bổ nhiệm khoảng 60 cán bộ cấp vụ phó và tương đương…không biết ông ấy có bán chức không? bao nhiêu tiền, để dân phải còng lưng  ra nuôi…

Nhưng có nhiều ý kiến phẫn nộ khác. Ngay cả báo Pháp luật cũng phải nhiều lần lên tiếng về vấn đề này. “ Hàng loạt sai phạm “lộ thiên” mà theo điều tra của cơ quan UB kiểm tra trung ương là ít nhất 6 tài sản bất động sản thuốc “cỡ bự” của ông Truyền đều có vấn đề”. Một vài sai phạm của ông Truyền được kể ra như thiếu trung thực, thiếu gương mẫu, gây dư luận không tốt, thiếu tự giác…Hình thức xử lý đặt ra cho cựu Tổng Thanh tra chính phủ là kiểm điểm trách nhiệm về các khuyết điểm, vi phạm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bến Tre và UB KTTW. Hai bất động sản bị thu hồi là căn nhà số 105 Nguyễn Trọng Tuyển, F15, Phú Nhuận, TP.HCM và thửa đất 598B5 Nguyễn Thị Định, F. Phú Khương, TX Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

So sánh giữa siêu lợi ích mà ông Truyền thu được dựa trên các tài sản không hợp lệ trên với mức đề xuất xử lý chỉ mang tính rút kinh nghiệm là chính, bạn đọc PLO đặt ra nhiều câu hỏi, trong đó nhức nhối nhất là “chẳng lẽ chỉ xử có thế?”(theo Phapluat- 25/11/2014).

Nhiều người nói rằng, vụ ông cựu Tổng Thanh tra gây sốc thật. Chỉ một ông quan chức thôi mà có được từng ấy tài sản bất minh, lại chỉ 5 tháng mà bổ nhiệm được khoảng 60 quan chức dưới quyền, vậy thì thử hỏi vô số những quan chức khác, trong bộ máy độc tài thiếu kiểm soát này mà “ĐB Trần Du Lịch nhấn mạnh: “nếu cứ duy trì bộ máy chính quyền địa phương 3 cấp với tất cả ban bệ hệ thống như hiện nay thì không dân nào đóng thuế nuôi nổi bộ máy này”(theo Vietnamnet – 21/10/2014), sẽ còn lạm dụng được đến cỡ nào? Liệu còn có bao nhiêu ông Truyền nữa? Và trong vô số ông Truyền đó, chỉ xử lý một ông, thì thật vô lý hết sức.

Khi hành vi trộm cướp được mỹ từ hóa

Trong các chế độ xã hội loài người từ xưa đến nay, trộm cắp, cướp giật là một trong những hành vi khiến cho mọi người phẫn nộ, khinh bỉ nhất. Để bảo vệ con người khỏi bị xâm hại bởi trộm cướp dù dưới bất kỳ hình thức nào, xã hội nào cũng đặt ra những hình phạt nghiêm khắc để răn đe và đảm bảo công bằng xã hội.  VN cũng vậy, nhưng qua nhiều ý kiến có trọng lượng vẻ việc xử lý chủ yếu chỉ tới dân đen, còn với quan chức thì vô cùng nương nhẹ.

Cùng là trộm cắp cướp giật – gọi chung là trộm cướp, nhưng do hoàn cảnh và tính chất hành vi nên thật khác nhau, khác nhau ngay cả tên gọi.

H1Có người thất nghiệp, sa cơ lỡ vận không còn miếng ăn, do đói khát mà sinh trộm cắp giật dọc lấy vài đồng bạc cơ hồ cứu mạng sống. Đó là cách trộm cắp của đám cùng dân khốn khổ, mặc dù đáng lên án, nhưng cũng không thể không xét đến hoàn cảnh cùng quẫn của họ, và tác hại xã hội họ gây ra không lớn, giỏi lắm cũng chỉ làm được vài vụ đơn lẻ, lại rất dễ bị bắt quả tang và dễ ngăn chặn. Họ là thường dân, không quyền lực, nên hành vi của họ được gọi đúng tên là trộm cướp.

Khác một trời một vực, ngay cả tên gọi hành vi cũng được mỹ từ hóa,  đối với đám trộm cướp bằng quyền lực, cấu kết với nhau thành một giai tầng còn nguy hại hơn bất kỳ băng đảng mafia nào trên thế giới.

Bởi vô số cuộc trộm cướp kiểu này xẩy ra cùng một lúc, hành vi trộm cướp của từng cá nhân và dàn giai tầng ấy chỉ chấm dứt khi cá nhân ấy chết hoặc hết nhiệm kỳ hoặc bị buộc phải ra khỏi hệ thống và không có điều kiện  tiếp tục trộm cướp nữa. Mặc dù vậy, cái giai tầng –  siêu băng đảng ấy vẫn tiếp tục trộm cướp thậm chí hàng thế kỷ theo sự tồn tại của thể chế độc tài.

Siêu giai tầng trộm cướp ấy được vận hành nhịp nhàng hiệu quả, tận dụng được nguồn nhân tài vật lực khổng lồ, rất ít  bị giám sát chi tiêu và hiệu quả đầu tư từ nguồn mà nhân dân cả nước đã đóng góp để nuôi hệ thống. Kinh hoàng hơn, siêu băng đảng trộm cướp này còn thu vét siêu lợi nhuận từ việc xẻo từng mảnh chủ quyền đất nước, từng miếng thị trường mậu dịch, từng miếng tài nguyên và nhân công lao động và bao thứ có thể bán được cho ngoại bang bành trướng để vơ vét siêu lợi nhuận cho quyền lợi riêng và quyền lợi nhóm.

Siêu băng đảng này có chân rết đến tận ngõ ngách sơn cùng thủy tận, vận dụng được mọi nguồn lực tuyên truyền và cấm cản sự minh bạch, tự do hóa thông tin, lợi dụng vị thế “Bao công” để bóp méo xuyên tạc sự thật cũng như buộc những kẻ trộm cướp khác phải cống nạp để được bảo kê  bằng cách vô hiệu hóa hệ thống pháp luật.

Siêu băng đảng ấy vận hành đồng bộ để lạm dụng được những  bánh răng và mắt xích của bộ máy hành chính, cơ quan đoàn thể và lực lượng an ninh , quân đội, lực lượng đàn áp của hệ thống độc tài. Lương trích ra từ tiền thuế của dân để vận hành cho bộ máy thì cũng vận hành luôn bộ máy trộm cướp. Chúng được thiết kế sao cho tiền của mỗi một khoản chi, mỗi sản phẩm tạo ra , mỗi khi người dân cần đến cơ quan công quyền đều phải trích ra và tự động chảy một phần vào cái hầu bao tối tăm của riêng chúng. Chúng lợi dụng đủ loại hệ thống bộ máy chính quyền đoàn thể, được trả lương để trộm cướp công khai, trộm cướp ngày ngày phút phút, rành rành trước mắt người dân ai cũng biết nhưng không thể làm gì trước quyền lực của chúng.

Siêu băng đảng trộm cướp ấy chính là bộ máy bị lũng đoạn bởi tham nhũng và tham ô.  Sản phẩm mà chúng trộm cướp là không thể tính đếm, không  chỉ tiền rừng bạc biển mà điều còn lớn hơn là chúng trộm cướp cơ hội của người dân, đất nước và khiến cho quốc gia bị mỏi mòn dần dà cạn kiệt hy vọng và  danh dự.

Theo định nghĩa của Tổ chức Minh bạch quốc tế, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.

Như vậy, hành vi trộm cắp trong tham nhũng và tham ô, trong nhiều trường hợp phải gọi là cướp đoạt, vì không phải là lén lút nữa, mà là cưỡng đoạt công nhiên, nhiều lần trước cơ quan, đơn vị. Cán bộ cấp dưới, đồng nghiệp cũng như người dân biết nhưng nếu động đến  sẽ bị trù úm, đuổi việc, thậm chí trả thù bằng việc mượn tay côn đồ, xã hội đen đe dọa tính mạng.

Các “đồng chí” bảo kê cho nhau là khuyến khích trộm cướp

Điều 138 Bộ luật Hình sự quy định về tội trộm cắp tài sản là rất nghiêm khắc: Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm…

Nhưng cũng tại VN, những người trộm cắp có chức quyền, gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho xã hội thì lại được ưu tiên đặc biệt. Đó là những người phạm tội tham nhũng và tham ô.

Không phải vô cớ mà người dân nhìn những kẻ trộm cắp cướp đoạt của công ấy bằng con mắt khinh miệt, dù họ không thể không sợ hãi và tránh né bởi các quan trộm cướp ấy có cả một giai tầng cùng vị trí, cũng hành xử như họ, cũng được hưởng lợi từ sự trộm cướp của họ, bao che và bảo kê từ quá trình bắt đầu trộm cướp tới khâu cuối cùng là hạ cánh an toàn và nếu chẳng may phải ra trước vành móng ngựa thì được xử nhẹ nhất có thể, thường là được hưởng án treo hoặc chạy được bệnh án tâm thần để được đình chỉ điều tra, trì hoãn xử, trì hoãn việc thu hồi tài sản công đã bị trộm cắp cướp đoạt và kẻ tội phạm  kiểu này quan cứ ung dung hưởng thụ ngoài vòng hưprng thụ.

Báo Thanhtra.com đã đưa ra một phần thực tế về hiện trạng bất công này:

“Trình bày tham luận về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng theo khuôn khổ công ước liên hợp quốc về chống tham nhũng, một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, thu hồi tài sản tham nhũng là vấn đề phức tạp, kỹ thuật đặc biệt từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước, bởi quy định về tội phạm tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành vẫn còn khoảng trống so với phạm vi điều chỉnh của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), đặc biệt là chưa hình sự hóa được các tội phạm tham nhũng trong khu vực tư nhân, chưa ưu tiên cao yêu cầu thu hồi tài sản.

Hiện nay, Việt Nam đã đưa ra bảo lưu đối với quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân, hành vi làm giàu bất hợp pháp trong UNCAC. Tuy nhiên, trên thực tế, những nội dung này nếu không được quy định trong pháp luật Việt Nam sẽ khó có thể tạo thành một khuôn khổ pháp lý toàn diện, đồng bộ và hiệu quả cho công tác PCTN và thu hồi tài sản.(theo Thanhtra.com– 29/10/2014).

Gần đây nhất, khi “đánh giá về báo cáo phòng chống tham nhũng của Chính phủ, ông Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội cho rằng, báo cáo nói tình hình tham nhũng “tương đối ổn định”, trong khi dư luận rất bức xúc. Ông cũng cho rằng việc phân tích khó khăn, vướng mắc trong phát hiện tham nhũng thiếu cụ thể nên dẫn đến những kiến nghị rất nhạt.  Ông Đương cũng lưu ý rằng rất nhiều vụ án tham nhũng sau khi khởi tố điều tra thì bị can bị cáo bị bệnh tâm thần, phải chờ để giám định, hoặc bị đình chỉ khiến vụ án kéo dài. “Tôi cho rằng loại tội phạm này thì không cần phải đi giám định tâm thần nữa”, ông Đương nói.

Xác nhận điều này, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện lưu ý, kể cả các vụ án tham nhũng lớn, các bị cáo khi bị truy tố thường bị bệnh tâm thần và không phải chịu trách nhiệm hình sự, hoãn thời gian chịu trách nhiệm hình sự. “Tình hình này có vấn đề gì không, tâm thần thật hay là đối phó, nhiều vụ chúng tôi thấy các bị can bị cáo tỉnh táo, hoành tráng lắm”,..

Trang luatsungaynay đưa ra một hiện trạng khác. Theo con số mà Viện trưởng VKSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình đưa ra khi trả lời chất vấn của Quốc hội hồi tháng 6-2013, tính đến năm 2013, tỉ lệ án treo đối với án liên quan đến tham nhũng là 30,8%, cao hơn các loại án khác (bình quân chỉ 21%). Còn theo Chánh án TAND Tối cao Trương Hòa Bình, con số cụ thể qua các năm là 36,5% (năm 2010), 37,1% (năm 2011), 30,2% (năm 2012).

Ông Nguyễn Mạnh Cường (Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp) nói: “Trong số án treo này, có trường hợp hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nhưng tòa vẫn vận dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, kéo mức án tuyên thấp dưới khung hình phạt, làm cơ sở để cho treo. Như vậy phải giải thích như thế nào?”.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền khẳng định tòa các cấp đang  áp dụng có lợi cho tội phạm tham nhũng: Báo cáo của TAND Tối cao khẳng định các bản án treo đều đúng luật. Xin thưa, luật có bắt buộc tòa phải xử treo đâu? Cả nước phải coi chống tham nhũng như chống giặc nội xâm cơ mà.

Khi những “đồng chí cùng một giai tầng” nương nhẹ, bảo kê cho nhau, lại càng dẫn tới nguy hiểm là cách hành xử của đám quan chức này không những gây bất công xã hội mà còn vô hình trung nêu gương và cổ vũ cho một lối sống gian xảo, tàn nhẫn, lưu manh hóa, côn đồ hóa, khiến cho những người lương thiện mất cơ hội lao động, dần dà cũng bị buộc phải đi vào con đường lưu manh hóa để sống còn hoặc tuyệt vọng quay ra chém giết lẫn nhau, trong đó tiện lợi nhất là giết người thân, như vô số vụ gần đây tại VN.

Dù có mỹ từ hóa, bản chất  tham nhũng vẫn là trộm cướp. Hãy thôi mỹ từ hóa hành vi này của những kẻ trộm cướp đang nắm giữ quyền chức để chúng ta không còn mơ hồ về nhận diện và để vận dụng mọi nguồn lực chặt đứt nguồn dinh dưỡng của tham nhũng để cứu dân cứu nước.

VTH

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA

 

Thế giới 24h: Nga đe kiện Pháp vụ tàu chiến

26 Th11

 

 – Nga dọa kiện Pháp vì không chuyển giao tàu chiến đúng hợp đồng, bạo lực ngày càng tồi tệ ở thành phố Ferguson của Mỹ… là những tin tức quan trọng trên thế giới trong 24 giờ qua.

Nổi bật

Thứ trưởng Quốc phòng Nga Yuri Borisov tuyên bố nước này sẽ kiện Pháp ra tòa, nếu Paris không bàn giao tàu chiến lớp Mistral theo đúng hợp đồng mà hai bên đã ký kết.

Ông Borisov khẳng định, Moscow sẽ hành động theo đúng các điều khoản trong hợp đồng. Theo đó, nếu Pháp vi phạm thời hạn giao tàu thì Nga sẽ kiện nước này ra tòa đòi nộp phạt.

Thế giới, 24h, Nga, Pháp, tàu chiến, bàn giao, hợp đồng
Ảnh chụp từ trên cao tàu chở trực thăng lớp Mistral Vladivostok đóng cho Nga tại xưởng đóng tàu STX Les Chantiers de l”Atlantique ở cảng Montoir-de-Bretagn, gần Saint Nazaire, miền tây nước Pháp. (Ảnh: Reuters)

Khuyến cáo của Ngoại trưởng Nga được đưa ra, sau khi Ngoại trưởng Pháp Laurent Fabius nói rằng chưa có đủ điều kiện giao tàu chiến lớp Mistral cho Nga. Lý do mà Pháp đưa ra là Moscow “chưa có hành động cụ thể” trong nỗ lực giải quyết khủng hoảng tại Ukraina.

Trong ngày 25/11, Tổng thống Pháp Francois Hollande đã ra lệnh hoãn giao tàu vô thời hạn.

Năm 2011, Pháp và Nga đã ký kết hợp đồng trị giá 1,2 tỷ Euro (1,6 tỷ USD), theo đó Pháp sẽ đóng 2 tàu chở trực thăng hiện đại lớp Mistral cho Nga. Chiếc đầu tiên sẽ được chuyển giao cho Moscow chậm nhất trong tháng 11/2014, chiếc còn lại chuyển giao vào năm 2015.

Đến tháng 9 vừa qua, Paris tuyên bố chỉ giao tàu cho Nga, khi Ukraina đạt một thỏa thuận ngừng bắn lâu dài và một thỏa thuận chính trị.

Theo nhận định của các chuyên gia, Pháp có thể sẽ mất khoảng 1 tỷ Euro do vi phạm hợp đồng đã ký với Nga.

Tin vắn

– Thành phố Ferguson thuộc bang Missouri của Mỹ đang hứng chịu biểu tình bạo lực tồi tệ, sau khi bồi thẩm đoàn bang này quyết định không truy tố cảnh sát Darren Wilson trong vụ nổ súng bắn chết thiếu niên da màu Michael Brown cách đây 3 tháng.

– Theo thông báo ngày 25/11 của phòng báo chí Trung tâm Chỉ huy Chiến dịch Chống khủng bố tại đông Ukraina, số quân Nga tham chiến trong cuộc xung đột ở vùng Donbass đã giảm xuống còn 1.000 người. Trong khi đó, lực lượng li khai địa phương đang nỗ lực tự xây dựng quân đội riêng.

– Một quả đạn pháo nã trúng chiếc xe chở khách ở Donetsk đã cướp mạng sống của 2 dân thường và làm 8 người khác bị thương.

– Nói trên Đài Phát thanh France Inter hôm 25/11, Ngoại trưởng Pháp Laurent Fabius bình luận rằng, những tuyên bố gần đây của Kiev về việc muốn gia nhập NATO và từ chối trả lương hưu cho công dân ở miền đông nước này đã làm nảy sinh nhiều quan ngại.

– Tân Hoa xã dẫn lời Tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc, Tướng Curtis Scaparrotti, ngày 25/11 nói rằng Triều Tiên đã đạt được tiến bộ về các khả năng quân sự bất cân xứng, trong đó có vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

 

– Trong quá trình bị điều tra về tội xúc phạm chế độ quân chủ, rửa tiền, 7 quan chức cảnh sát Thái Lan hôm 25/11 đã bị tịch thu tiền mặt, xe sang và bộ sưu tập các tượng Phật cổ. Chi tiết cuộc điều tra hiện vẫn chưa được tiết lộ.

– Nhật báo Hurriyet ngày 25/11 cho biết, lực lượng vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ đã huấn luyện 230 tay súng người Kurd ở khu tự trị miền bắc Iraq để ngăn chặn đà tiến của các chiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS).

– Theo hãng thông tấn Itar-Tass của Nga, các tin tặc Ukraina tuyên bố đã truy cập được tài liệu mật của một quan chức Mỹ, khi người này tháp tùng Phó Tổng thống Joe Biden thăm Kiev trong các ngày 20 và 21/11.

– Ít nhất 10 người chết và 15 người bị chôn vùi khi một tòa nhà ở thủ đô Cairo của Ai Cập bị sập.

– Ngày 25/11 đã xảy ra vụ đánh bom kép rung chuyển thành phố Maiduguri thuộc đông bắc Nigeria. Các nhân chứng cho rằng, ít nhất 45 người thiệt mạng song Cơ quan Tình trạng Khẩn cấp quốc gia nước này chỉ xác nhận “rất nhiều người tử vong” mà không nêu con số cụ thể.

– Theo kết quả kiểm phiếu sơ bộ bầu cử tổng thống Tunisia công bố ngày 25/11, cựu Thủ tướng Beji Caid Essebsi đang tạm dẫn đầu với 39,46% số phiếu ủng hộ.

Tin ảnh

Thế giới, 24h, Nga, Pháp, tàu chiến, bàn giao, hợp đồng
Biểu tình biến thành bạo lực tồi tệ ở thành phố Ferguson, sau khi tòa án bang Missouri tuyên viên cảnh sát Darren Wilson vô tội trong vụ bắn chết Michael Brown. (Ảnh: Getty)

Phát ngôn

Trước tình hình biểu tình bạo lực ở Ferguson và làn sóng biểu tình ở một số thành phố lớn khác liên quan đến vụ Michael Brown, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã kêu gọi người dân bình tĩnh và kiềm chế.

“Chúng ta là một quốc gia được xây dựng trên cơ sở của các quy định pháp luật, vì vậy chúng ta cần chấp nhận quy định mà bồi thẩm đoàn đưa ra. Sẽ có những người đồng ý và cũng có những người thất vọng hoặc thậm chí là giận dữ. Đây cũng là một phản ứng dễ hiểu. Song cá nhân tôi cũng đồng ý với quan điểm của gia đình thanh niên Michael Brown, kêu gọi mọi người, những ai phản đối quyết định này hãy thực hiện điều đó một cách hòa bình”, ông Obama nói.

Kỷ niệm

Cầu Thăng Long bắc qua sông Hồng của Hà Nội, biểu tượng của tình hữu nghị Việt-Xô, được khởi công xây dựng vào ngày 26/11/1974 và tới ngày 19/5/1985 mới khánh thành.
Thanh Hảo
 

 

Tin NÓNG: DÂN OAN CẢ NƯỚC PHẢN ĐỐI PHIÊN TÒA BẤT CÔNG – Tễu

25 Th11

 

 
 
11h05: Tin từ trong tòa cho biết:

Tòa đã tuyên: Y án với Bà Cấn Thị Thêu 15 tháng tù giam, Ông Trịnh Bá Khiêm giảm 3 tháng còn 15 tháng tù giam và Ông Lê Văn Thanh giảm 5 tháng còn 07 tháng tù giam, theo điều 257 BLHS về tội Chống người thi hành công vụ. 

Chưa có tin về Ông Trần Văn Sang. (trước đó, tòa sơ thẩm tuyên án ông Sang 20 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng).

Nóng: BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI PHIÊN TÒA BẤT CÔNG
09h00: Uất ức, đau khổ dồn nén, dân oan cả nước đang có mặt tại Hà Nội bắt đầu xuống đường diễu hành biểu tình lớn, kéo vào trung tâm TP Hà Nội với sự tham gia của gần 1000 người.

09h40: Xe cảnh sát ép sát đoàn người, càn trở không để tuần hành ra trung tâm TP.
Vừa đi, mọi người vừa hát Dậy mà đi!’
.
 

 
Nhân viên An ninh mải miết quay phim để về nộp cho lãnh đạo Công an TP
 Bà con vừa đi vừa hát Dậy Mà Đi! Dậy Mà Đi!
.

Sáng nay,  25-11-2014 chính quyền Hà Nội sẽ đưa nông dân Dương Nội ra xử phúc thẩm là chị Cấn Thị Thêu, anh Trịnh Bá Khiêm chồng chị cùng với các anh Lê Văn Thanh và Trần Văn Sang. Địa điểm: Tòa án Quận Hà Đông.

Cuộc đấu tranh chống cướp đất của 256 hộ nông dân Dương Nội diễn ra đã 7 năm nay. Trong cuộc đấu tranh ấy, đã có 7 người bị bắt và kết án tù giam.

Tất cả 7 người nói trên đều bị truy tố bởi tội danh chống người thi hành công vụ hoặc gây rối trật tự công cộng. Những người này bị bắt vì đã ngăn cản chính quyền cưỡng chế thu hồi đất nhưng bồi thường không thỏa đáng vào tháng 4/2014.

Trong phiên toà sơ thẩm ngày 19/9/2014 toà án nhân dân TpHN đã tuyên: Cấn Thị Thêu 15 tháng tù giam, Trịnh Bá Khiêm 18 tháng tù giam và Lê Văn Thanh 12 tháng tù giam, theo điều 257 BLHS về tội Chống người thi hành công vụ. Tiếp đó ngày 23/9/2014 toà sơ thẩm cũng tuyên ông Trần Văn Sang 20 tháng tù giam về tội Gây rối trật tự công cộng.

Bà con biểu tình trước tòa:
.
 

 

 
.

Hình ảnh lúc 09h00: Bắt đầu biểu tình lớn và diễu hành trên phố Hà Nội, vạch trời kêu oan khuất ngút trời! Phản đối Chính quyền các cấp, các địa phương tàn ác cướp nhà cướp đất, đánh đập dân lành.

Hình ảnh lúc 8h40:
Các Blogger và nhà hoạt động đã có mặt từ sớm sát cánh cùng dân oan Dương Nội

 

 

Hình ảnh lúc 08h30:

 
 
Từ sáng sớm, bà con dân oan khắp các tỉnh đang ăn dầm ở dề tại Hà Nội để kêu kiện và đòi trả ruộng đất, tài sản đã bị chính quyền đia phương cướp đoạt đã kéo về khu vực ngã tư Bưu điện Hà Đông để ủng hộ tinh thần của Dương Nội.
.
 

 

 
Ngay từ 6h00, công an thành phố HN đã bố trí chặn con đường vào tòa án và triển khai các lực lượng để bắt bớ, đàn áp người dân vô tội kéo đến xem tòa, trong số họ có người thân là con, cháu, bố mẹ, anh chị em của người ra công đường hôm nay.
 
 

 

6 nhận xét :

  1. Cảm động thật.
    Xem mà ứa nước mắt.
    Thương đồng bào mình oan ức
    lại thương cho mình hèn nhát.

    Trả lờiXóa

     
     
  2. Ơ, nhà nước ta nói báo chí phải đưa tin kịp thời, trung thực. Tìm mãi chẳng thấy báo giấy, báo nói, báo hình, báo mạng của nhà nước đăng. Đành phải đọc trang của thế lực thù địch để biết tin về vụ này.

    Trả lờiXóa

     
     
  3. Bỗng dưng quá buồn. Một Đảng CS lãnh đạo chủ trương liên minh công nông mà giờ đây nông dân biểu tình đòi ruộng đất, công nhân đình công đòi tăng lương đòi cải thiện điều kiện lao động. Những đảng viên lảo thành lên tiếng góp ý cho Đảng thì bị cho là Việt Tân.
    Khi tính chính danh không còn thì chỉ còn là thoái trào.

    Trả lờiXóa

     
     
  4. Người dân Vn vẫn có câu: công lý ở VN chỉ là tên của một diễn viên hài..
    Thủ phạm là nó, kẻ khởi tố điều tra lại là nó, tòa án là nó, và tuyên án lại vẫn là nó-thế thì chỉ có công lý cuả bọn cướp.

    Trả lờiXóa

     
     
  5. Hình như từ trước đến nay chưa có cuộc biểu tình phản đối phiên tòa nào lại đông người tham gia thế này. Không phải ngẫu nhiên! Có lẽ cũng tương đương với vụ “Quan tài diễu phố” ở Vĩnh Yên mà đến giờ lòng dân vẫn chưa yên đâu. Nếu có bùng nổ lớn thì cũng đúng thôi.
    Lấy đất của người ta xong rồi thì thả người ra. Bà Thêu cũng chỉ chụp ảnh chứ có hành động chống đối quyết liệt gì đâu mà bỏ tù người ta đến 15 tháng. Người ta phản ứng để giữ đất chứ đâu có động cơ chống đối, thù địch gì.Bây giờ gia đình nào cũng có chuyện bị chính quyền cướp đất. Nếu coi việc bỏ tù bà Thêu để “làm gương” thì phản tác dụng rồi, vì người dân thông cảm với bức bối của bà Thêu như… chính họ!

    Trả lờiXóa

     
     
  6. Đúng đó bạn, ứa nước mắt. Cám ơn những người tranh đấu đã đi bên cạnh dân oan.

 

%d bloggers like this: