Lưu trữ | 3:15 Chiều

Chiến Thắng Tất Yếu Khi Dân Hong Kong Kiên Trì – BS

4 Th12

 

Posted by adminbasam on 04/12/2014

Tác giả: Ngụy Kinh Sinh

Người dịch: Lê Minh Nguyên

03-12-2014

Hôm nay, ngày 25 Tháng 11 năm 2014, những người đấu tranh cho quyền bầu cử phổ thông ở Hồng Kông bị giải tán. Cảnh sát dùng bình xịt hơi tiêu cay (gồm cả lựu đạn cay) để buộc mọi người phải rút lui. Ông Lưu Chấn Anh, Trưởng quan điều hành đặc khu hành chính Hồng Kông, được Tập Cận Bình hỗ trợ, tuyên bố rằng đây là pháp trị, khi cảnh sát được triển khai để thực thi pháp luật với phán quyết của tòa án.

Hệ thống pháp lý hiện đại là gì? Đầu tiên, nó là một hệ thống pháp lý của sự phân chia quyền lực. Vì có sự phân chia quyền lực, các tòa án không thể can thiệp vào việc làm luật và việc thực thi pháp luật; đó là chính trị. Bởi vì cả hai cơ quan làm luật và thực thi pháp luật được dân bầu ra, là những định chế trực tiếp có chính đáng tính, trong khi các thẩm phán được bổ nhiệm theo những thủ tục nhất định bởi những định chế chính đáng này. Toà án chỉ là định chế chính đáng gián tiếp và là một cơ quan trọng tài hạn chế. Sẽ bất hợp pháp nếu tòa can thiệp trực tiếp vào chính trị.

Thứ hai, mặc dù các cuộc bầu cử ở Hồng Kông có tốt hơn một chút so với các cuộc bầu cử ở Trung Quốc đại lục, nó vẫn không thực sự đại diện cho nhân dân. So sánh với việc Tập Cận Bình “cai trị đất nước theo pháp luật (của Cộng Sản)”, đó là một sự khác biệt giữa 50 bước lùi và 100 bước lùi (như trong chuyện truyền thuyết Trung Quốc) mà thực chất là không có những khác biệt quan trọng. Khi người dân Hồng Kông đòi phổ thông đầu phiếu thực sự, để khẳng định các quyền cơ bản của họ, thì toà án bán chính đáng tính lại đứng ra can thiệp, để ngăn chặn nhân dân hành xử các quyền chính đáng của mình. Đây là hành vi phạm pháp nghiêm trọng; một sự cố ý vi phạm pháp luật.

Thứ ba, có phải những người phấn đấu cho quyền phổ thông đầu phiếu chiếm đóng đường phố là vi phạm pháp luật? Không. Cho dù là ở thời cổ đại hay hiện đại, nó được coi là chính đáng cho người dân bày tỏ uớc muốn của họ. Nhất là trong thời kỳ hiện đại, chúng ta công nhận rằng bản chất luật pháp phải do dân mà ra. Bên cạnh việc người dân có quyền bầu người đại diện để phản ảnh ý muốn của mình, họ cũng có quyền trực tiếp bày tỏ ý chí của họ. Hơn nữa, họ đơn giản chỉ đòi hỏi sự tôn trọng quyền bầu cử, là điều không phải bất hợp pháp. Ngược lại, việc dùng lực luợng thực thi pháp luật là bất hợp pháp. Cảnh sát và tòa án ở Hồng Kông sử dụng bạo lực để giải tán những người biểu tình là bất hợp pháp.

Trong thời kỳ nuớc Anh cai trị, người dân Hồng Kông đã phát triển một thói quen tốt trong việc tuân thủ pháp luật, có thể nói là đến tột cùng. Vì thế, khi tòa án tuyên bố là bất hợp pháp, họ (nguời dân) nghĩ rằng nó là bất hợp pháp, đến mức độ mà một số người lớn tuổi của phong trào “Chiếm Trung Tâm” rơi lệ tự thừa nhận mình bất hợp pháp, thậm chí bi thảm tuyên bố rằng sẽ đi đầu hàng. Phản ứng này là trạng thái mờ mịt quá sức của não trạng (muddle minded) – họ quên rằng hành động nguyên thuỷ của họ chính là để đòi lại các quyền của họ đã bị vi phạm, các quyền hết sức căn bản mà ngay cả tòa án cũng không có quyền tước đoạt.

Theo thông lệ từ xưa đến nay của nhân loại, khi các quyền cơ bản của người dân bị vi phạm, người dân có quyền lấy lại các quyền này của mình bằng bất kỳ phương tiện nào. Kiến nghị bằng cách chiếm các con đường là sự hành xử nhẹ nhàng nhất của họ trong việc đòi quyền. Quyền có súng được đặt định trong Hiến pháp Hoa Kỳ là một dạng của các quyền tập thể để tự vệ. Các điều khoản này của hiến pháp được làm ra trên nền tảng của những nhân quyền hết sức căn bản. Nó được gọi là luật tự nhiên, không ai ban phát, và không ai thay đổi được.

Bây giờ, một số người chủ xuớng cái gọi là “cơ chế rút lui” ở Hồng Kông. Cuộc biểu tình này đã rất lịch sự và chổ nào là chổ để rút lui? Chính Đảng Cộng sản vi phạm Luật Cơ bản của Hồng Kông cần phải rút lui, trong khi những người Hồng Kông không có cách nào để rút lui. Một bước rút lui tuơng tự đã dẫn đến vực thẳm mà người dân Trung Quốc đại lục phải chịu đựng trong 65 năm qua. Dưới cái tên gọi chiến lược, để đề nghị người dân Hồng Kông rút lui trong lúc này là giăng bẫy (to frame) với một nụ cười nham hiểm.

Người ta thường hay dễ có tầm nhìn ngắn hạn, và đôi khi rất bối rối, đến độ mà họ có thể bị đánh lừa bởi các chính trị gia xảo quyệt nên quên đi lợi ích thực sự của họ. Đảng Cộng sản Trung Quốc là loại chính trị gia gian khôn này. Họ cứ tiếp tục lặp đi lặp lại rằng các cuộc thăm dò của cái gọi là có bao nhiêu phần trăm người đang chống lại phong trào “Chiếm Trung Tâm”, nhưng không tiết lộ tỷ lệ phần trăm những người chống lại phổ thông đầu phiếu thực sự. Tại sao? Chế độ cộng sản không dám nói điều đó ra. Đó là bởi vì hầu hết mọi người ở Hồng Kông đều hỗ trợ các cuộc bầu cử thực sự và phản đối các cuộc bầu cử giả dối, vì như vậy thực ra là độc tài. Lợi dụng tầm nhìn gần và tâm trí bối rối của quần chúng, Đảng Cộng sản đánh lừa người dân qua cái cớ của chiến lược.

Như vậy thì chiến luợc nào mà người dân nên có trong hoàn cảnh không thể rút lui này? Nguời dân nên cuơng quyết trong lập truờng, không nên rút lui – chỉ cần một bước rút lui thì hậu quả sẽ bị rơi vào vực sâu thăm thẳm. Đây là bài học mà chúng ta nên học từ sự thất bại của người dân Trung Quốc đại lục vào năm 1989. Nguời dân Hồng Kông không nên đi vào con đường của Triệu Tử Dương và các sinh viên năm 1989. Nó sẽ đẫm máu bất kể là rút lui hay không. Con sói sẽ luôn luôn ăn thịt con cừu. Cho nên, cách duy nhất cho con cừu là chỉa sừng của nó ra để chiến đấu mãnh liệt với con sói. Có như vậy, nó mới có cơ hội chiến thắng để sống còn.

Người dân Hồng Kông không nên nghĩ rằng sau khi dọn dẹp, Đảng Cộng sản sẽ chỉ trừng phạt những nguời lãnh đạo và để yên những người phía dưới. Hãy nhìn những gì đã xảy ra sau vụ thảm sát ngày 4 tháng 6 năm 1989. Sau khi dọn dẹp những sinh viên ở quảng trường Thiên An Môn, sau đó là một cuộc săn lùng trên toàn quốc, hậu quả là tất cả mọi người đều bị giám sát một cách chặc chẽ, và một sự khựng lại (setback) lớn lao của cả nước cho đến bây giờ, nó đi từng bước lùi về huớng của thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Nguời dân đã không có cách nào để rút lui.

Những nguời lãnh đạo phong trào thậm chí còn khó có thể để rút lui hơn. Họ không nên tỏ ra hèn nhát và trở thành ma cà rồng để giúp cái ác. Đừng sợ các nhà tù cộng sản. Các bạn sẽ chịu trách nhiệm cho những gì các bạn đã làm, như những nguời anh hùng phải làm. Nếu bây giờ các bạn hối tiếc, thì tại sao các bạn đã bận tâm để hành động như vậy trước đây? Cuối cùng là, không có cách nào để rút lui và không nên mơ mộng về lòng nhân từ của chế độ Cộng sản sẽ cư xử đặc biệt cho những kẻ phản bội bây giờ đầu hàng. Chỉ cần nhìn vào những gì đã xảy ra với các lãnh đạo sinh viên năm 1989, và không nên để ảo tưởng làm bận tâm.

Tại sao ta phải sợ bị ngồi tù? Trước khi tôi bị đưa ra xét xử vào năm 1979, cả hai nguời Diệp Kiếm Anh và Hồ Diệu Bang đã cảnh báo rằng Đảng Cộng sản không nên tạo ra anh hùng và thần tượng cho sự phản đối của người dân. Khi có thần tượng để theo, thì sẽ có một sự liên tục của những anh hùng và những nhà lãnh đạo phát xuất từ quần chúng, hết lớp này đến lớp khác. Trong suốt những năm 1980s, chân lý này đã được chứng minh là đúng.

Mặc dù bạn có thể bị cầm tù về thể chất, sự nghiệp của bạn có thể tiếp tục lan rộng ra bên ngoài nhà tù. Trong thời gian mười tám năm tôi bị giam giữ, tôi không nghĩ rằng đó là một nỗi đau. Tôi tự tin trong sự vui vẽ. Thế thì cái gì làm cho bạn phải sợ? Sợ trở nên những nguời anh hùng? Tâm lý (sợ) này sẽ thành khủng khiếp. Phải chăng nó là một sa mạc văn hóa? Khi tất cả mọi người không dám làm những cánh chim vuơn đầu ra phía trước, họ trở thành một nhóm những con gà mái đẻ trứng mà thôi. Ngay cả những con gà mái cũng biết rằng để bảo vệ đàn gà con của nó, nó phải chiến đấu chống lại những con diều hâu. Nếu bạn không dám chiến đấu mãnh liệt cho hạnh phúc của các thế hệ tương lai của bạn, thì bạn cũng không tốt hơn những con gà.

Thay vào đó, bây giờ là lúc để bạn có thể học hỏi từ những cư dân Bắc Kinh, những người đã chiến đấu mãnh liệt với quân đội Cộng sản, sau khi sinh viên rút lui trong vụ thảm sát ngày 4 tháng 6 năm 1989. Họ là xương sống của quốc gia Trung Quốc, dù nhiều người đã chết vinh quang. Họ giành được lý lẽ và niềm tin của dân chúng, bằng mạng sống và máu của họ. Thật không may, phong trào dân chủ năm 1989 đã không tiếp tục được khi tất cả các nhà lãnh đạo rút lui hoàn toàn khỏi cuộc tranh đấu. Cái điều mà những người Hồng Kông nên làm bây giờ là chấm dứt sự rút lui của những nhà lãnh đạo yếu kém – hỗ trợ một thế đứng vững chắc, không rút lui.

Cho dù Tập Cận Bình có sự can đảm của Đặng Tiểu Bình, ông ta cũng không có được sức mạnh của Đặng Tiểu Bình. Nếu Tập học từ Đặng Tiểu Bình là sử dụng bạo lực để đàn áp, rồi sau đó từ chức bằng một lời xin lỗi, ông ta sẽ không có một lối thoát dễ dàng. Có rất nhiều con sói ở phía sau đang chờ đợi để ăn thịt ông ta. Chúng ta sẽ thấy để tin.

Nguồn: Wei Jingsheng

Mời xem lại: Ngụy Kinh Sinh: Sự Cao Thượng Và Thấp Hèn Của Chính Trị (Ba Sàm).

Văn học và đạo đức xã hội – VHNA

4 Th12

 

  •   Phong Lê

 

Văn học và đạo đức xã hội

 

Đương nhiên văn học có quan hệ với đạo đức ít ra là trên hai phương diện. Thứ nhất, đạo đức là đối tượng phản ánh rộng lớn của văn học. Bởi đạo đức là một phương diện sống cơ bản của con người. Là những quy ước, thành văn hoặc không thành văn mà con người phải tuân thủ, từ đó kiến tạo nên xã hội người. Thứ hai, văn học từng có chức năng giáo dục đạo đức, hoặc ít ra phải có hiệu quả đạo đức, xét theo lịch sử tồn tại của nó, cho đến thời hiện tại.

Nhân loại đi từ dã man lên văn minh; nhưng xem ra về đạo đức thì gần như chưa một cải thiện, một bước tiến nào trong quan hệ giữa con người với con người.

 

x

x    x

Thời hồng hoang, khi mới thoát khỏi kiếp vượn người, con người chưa có khái niệm đạo đức. Chỉ có luật cạnh tranh sinh tồn của tự nhiên, của muôn loài. Đó là cái về sau ta quen gọi là luật rừng. Luật kẻ mạnh hiếp kẻ yếu. Luật giống đực hiếp giống cái. Kéo dài hàng vạn năm trong trạng thái mông muội, chuyển sang xã hội nô lệ, là một bước tiến, trong đó chỉ chủ nô mới có quyền sinh sát hàng vạn nô lệ. Từ đây mới có khái niệm về quyền lực. Và quyền lực được trao cho một bộ phận cực nhỏ; nhưng nhờ vào quyền lực tuyệt đối đó, nhờ vào lực lượng nô lệ đông đảo đó mà nhân loại tạo được một nền văn minh huy hoàng mà chứng tích còn lại là các kim tự tháp ở Ai Cập, các thành lũy ở Hy Lạp – La Mã, nó là biểu trưng của một nền văn minh cổ đại, như được ghi trong các anh hùng ca, sử thi của Hy Lạp, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Ấn Độ…

Sau chế độ nô lệ, chế độ phong kiến là một bước phát triển cao hơn. Ở phương Tây nó có độ dài 1000 năm, từ thế kỷ V đến thế kỷ XV – được gọi là “đêm trường Trung cổ”. Đó là thời thống trị của các lãnh chúa phong kiến cấu kết với nhà thờ Thiên Chúa giáo, tức là hai quyền uy tối thượng – thế quyền và thần quyền. Con người vừa thoát ra khỏi thân phận nô lệ, lại chuyển sang thân phận nông nô – nô lệ vào đất đai tuyệt đại đa số do các chủ phong kiến chiếm đoạt. Hợp sức với chủ đất là nhà thờ. Phải cùng lúc giải phóng ra khỏi hai thế lực đó mới có thể nói đến một thời đại mới mà phương Tây gọi là thời Phục hưng, tức là thời giai cấp tư sản, từ trong lòng xã hội phong kiến lần đầu tiên bước lên vũ đài, như một đối lập, đối cực với 1000 năm trung cổ. Từ thời Phục hưng, với các cuộc phát kiến địa lý, các phát minh mới về công nghệ, với cuộc cải cách tôn giáo, với sự xuất hiện những thành tựu huy hoàng trong văn học- nghệ thuật, giai cấp tư sản dần dần chiếm lĩnh vũ đài, để đến thế kỳ XVIII, tức thế kỷ Ánh sáng, là thế kỷ của các cuộc cách mạng tư sản đưa nhân loại vào thời đại của văn minh Tư bản chủ nghĩa.

Với giai cấp tư sản, đó là một cuộc phủ định triệt để giai cấp phong kiến, và kiến tạo một nền văn minh mới, đưa nhân loại vào thời hiện đại bằng tuyên ngôn: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Con người phải được tự do. Con người cần có bình đẳng. Và con người phải yêu thương nhau. Nhưng đó mới chỉ là tuyên ngôn, là khẩu hiệu. Trong đấu tranh với tự nhiên và xã hội để giành quyền sinh tồn, ba mục tiêu vẫn còn là hư ảo, chưa bao giờ vào được vòng tay ôm của con người. Dẫu sao, chủ nghĩa tư bản vẫn là một bước tiến cao hơn, cả về đạo đức, đối với các xã hội trước đó. Từ người nông nô, chuyển sang người tự do, sức sản xuất được giải phóng, giai cấp tư sản sẽ tạo ra một nền sản xuất vượt trội, đem lại nhiều của cải hơn cho xã hội. Nhưng cùng với sự giàu có của một lớp người sẽ là sự bần cùng, phá sản của nhiều lớp người khác. Nguyên tắc tự do cạnh tranh là tiến bộ hơn độc quyền, đặc quyền trung cổ; nhưng với nó, sẽ là sự thấp thua và tiêu diệt của kẻ yếu. Tôn trọng quyền tư hữu là đòn bẩy cho con người vươn lên làm giàu, nhưng sẽ đi kèm với những bất công mới đối với số đông quần chúng cần lao… Tất cả những nghịch lý đó đã diễn ra trong nhiều thế kỷ phát triển chủ nghĩa tư bản cho đến hôm nay. Và bức tranh về những bất công xã hội, dưới nhiều dạng vẻ khác nhau vẫn diễn ra trên khắp thế giới.

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chứng kiến sự thắng lợi của giai cấp vô sản, với đỉnh cao là Cách mạng tháng Mười Nga – 1917, có khởi động từ phong trào Công xã Paris; và được chỉ dẫn bởi sự ra đời của chủ nghĩa Mác và tiếp đó là Lênin. Đây là thời của cách mạng vô sản và giải phóng thế giới thuộc địa. Cũng là thời hình thành một hệ đạo đức mới của giai cấp vô sản mà về sau ta quen gọi là đạo đức cách mạng thay cho toàn bộ thế giới đạo đức cũ, gồm cả phong kiến và tư sản trên phạm vi toàn nhân loại.

x

x    x

Trở về với vấn đề đạo đức đặt ra trong xã hội Việt Nam ta và trong nền văn chương – học thuật ta, điều đáng quan tâm đầu tiên là sự kéo dài phương thức sản xuất và chế độ chính trị phong kiến trong hàng nghìn năm. Đây là một xã hội căn bản dựa theo mô hình phong kiến Trung Hoa, lấy kinh điển Nho gia làm nền tảng. Văn chương – học thuật Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử cũng dựa trên nền tảng ấy để tồn tại và phát triển trong những khuôn mẫu và những ước thúc đã được quy định.

Không nghi ngờ gì cả, văn học trung đại gắn rất chặt với đạo đức trên tất cả các phương diện: đặc trưng, chức năng và mục tiêu. Văn chở đạo. Thơ nói chí. “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”… “Trai thời trung hiếu làm đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Những câu thơ rất được thuộc, và luôn được trích dẫn, của nhà Nho, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, người có sứ mệnh kết thúc văn học trung đại.

Có lịch sử một ngàn năm, văn học trung đại được kiến tạo và mang đặc trưng nguyên hợp: Văn sử triết bất phân. Cần bổ sung thêm luân lý, đạo đức. Bình Ngô đại cáo là thế. Gia huấn ca cũng là thế. Toàn bộ truyện Nôm khuyết danh cho đến Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên… cũng là thế, đều có mục tiêu giáo hóa đạo đức. Và toàn bộ yêu cầu về đạo đức là nằm gọn và trọn vẹn trong các khuôn mẫu đã thành kinh điển Nho gia. Tam cương (quân-thần, phụ-tử, phu-phụ). Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ngũ luân (vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn). Cùng với tứ đức (trung, hiếu, tiết, nghĩa) là đạo tam tòng dành riêng cho phụ nữ. Hàng nghìn năm, mọi quy chuẩn đó, ước thúc đó đã trở thành khuôn mẫu để nhà nước quản lý xã hội, và mọi tầng lớp nhân dân noi theo. Nội dung văn học trung đại tất nhiên phải được kiến tạo theo khuôn mẫu đó.

x

x    x

Sự hình thành đạo đức tư sản trong xã hội Việt Nam diễn ra với sự ra đời xã hội thuộc địa, tức là gắn với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp vào thập niên đầu thế kỷ XX; cùng song song với sự hình thành nền văn học hiện đại đang trong chuyển động từ Hán Nôm sang Quốc ngữ. Đây là thời kỳ giao thời chứng kiến sự giao tranh cũ-mới, nó là bối cảnh cho sự ra đời thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, qua Tản Đà, Trần Tuấn Khải để đến với Thơ mới; từ văn xuôi Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, qua Hoàng Ngọc Phách mà đến với Tự lực văn đoàn và các tác gia tiêu biểu của văn học hiện thực. Với Tự lực văn đoàn và Thơ mới, đó là sự hình thành một quan niệm sống mới hướng về con người cá nhân, nhằm giúp họ thoát ra khỏi lễ giáo phong kiến và chế độ đại gia đình, để được tự do trong tình yêu và hôn nhân; và thâm nhập vào rất nhiều chỗ “trốn” khác nhau. Với văn học hiện thực, đó là sự phủ định những gương mặt mới của giai cấp tư sản trong đời sống đô thị như Nghị Hách trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng; hoặc sự hư hỏng về đạo đức, lối sống của một tầng lớp thị dân hãnh tiến như trong Răng con chó của nhà tư sản, Báo hiếu – trả nghĩa cha, Báo hiếu – trả nghĩa mẹ… của Nguyễn Công Hoan…

Như vậy là sự hình thành giai cấp tư sản trong xã hội Việt Nam đã sớm có gương mặt của nó về phương diện đạo đức, chứ không phải với tư thế một giai cấp đang lên để thay thế xã hội phong kiến, rồi làm nên một thời đại mới của nhân loại như phương Tây. Bởi trong xã hội thuộc địa, mọi quyền lực và quyền lợi là ở trong tay ông chủ thực dân, khiến cho giai cấp tư sản bản xứ không thể mọc mũi sủi tăm lên được.

Do tình hình trên nên khó hoặc không thể tìm thấy trong văn học Việt Nam một chân dung tiêu biểu của giai cấp tư sản trong cả một phổ gia hệ, như trong các bộ tiểu thuyết nhiều tập của E. Zola, Roger Martin du Gard, Thomas Mann, M. Gorki… mà chỉ là những mảnh sinh hoạt, gắn với đạo đức, lối sống, chứ không phải trong tư cách một giai cấp đang lên để phủ định chế độ phong kiến, như trong kịch của Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, tiểu thuyết, phóng sự của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan…

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên Dân chủ – Cộng hòa. Nhưng lại phải tiến hành gần như lập tức hai cuộc chiến tranh kéo dài trên 30 năm. Trong 30 năm ấy, cách mạng dân tộc dân chủ vẫn từng bước được triền khai qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm gắn với cuộc Cải cách ruộng đất ở nông thôn; rồi cuộc chiến chống Mỹ gắn với một nửa nước – miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là, những yêu cầu về tinh thần, về luân lý và đạo đức sẽ được xác định trên những tiêu chí mới. Đó là chủ nghĩa yêu nước, vốn có truyền thống hàng nghìn năm. Và chủ nghĩa xã hội, hướng đến lợi ích toàn dân và lợi ích tập thể, trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất, với chủ thể là giai cấp công nhân và khối liên minh Công – Nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một thời khá dài, kể từ 1960 đến hết thập niên 1980, nền đạo đức mới mang tên đạo đức cách mạng là gắn với vai trò và vị trí của hai tầng lớp cơ bản làm nên gương mặt chủ đạo của xã hội. Cả hai đều là nhân vật trung tâm trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, được triển khai liên tục trên miền Bắc từ 1960 đến 1975, và trên cả nước từ 1975 đến đầu thập niên 1980, trước khi đến với công cuộc Đổi mới được khởi động từ cuối 1986, và tình thế tan vỡ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ 1989 – khi bức tường Berlin đổ.

Văn học – nghệ thuật trong ba thập niên 1960 đến 1990 hướng vào việc xây dựng và củng cố một nền đạo đức mới có tên là đạo đức cách mạng, hoặc đạo đức xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là lợi ích chung của Tổ quốc và cộng đồng. “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để chiến thắng”. “Mình vì mọi người. Mọi người vì mình”. “Nâng cao đạo đức cách mạng. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đối tượng phê phán nhằm đi tới thủ tiêu là đạo đức tư sản và các tầng lớp hữu sản chưa qua cải tạo xã hội chủ nghĩa, gồm không chỉ là tầng lớp nông dân tư hữu, mà còn là tầng lớp trí thức tiểu tư sản, chủ yếu thuộc các tầng lớp trung lưu trở lên. Mục tiêu này được khẳng định rất rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng, bắt đầu từ Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ Ba năm 1960.

Trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng năm 1960, đoạn viết về Cách mạng tư tưởng, văn hóa có mục tiêu: “làm cho toàn dân, trước hết là nhân dân lao động thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gạt bỏ thế giới quan và nhân sinh quan cũ, xây dựng thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nước ta và trở thành hệ tư tưởng của toàn dân, trên cơ sở đó mà xây dựng đạo đức mới của nhân dân ta”.

Trong tham luận Công tác tư tưởng của Đảng đọc tại Đại hội, Trường Chinh, người đứng ở vị trí số 2 sau Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, người được phân công phụ trách công tác tư tưởng của Đảng, đã tập trung triển khai nội dung này. Do vị trí quan trọng của Trường Chinh (và về sau là Tố Hữu) đối với đời sống tư tưởng, văn hóa, văn nghệ trong một thời gian khá dài, cho đến hết thập niên 1980, nên xin trích dài dài một số đoạn như sau:

“Ở miền Bắc nước ta hiện nay….Cho nên cần thấy rằng xóa bỏ đến tận gốc hệ tư tưởng của giai cấp tư sản là nội dung cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa (tác giả nhấn mạnh). Đó là một vấn đề nguyên tắc, không thể có thái độ nhân nhượng, thỏa hiệp”(1).

Một dẫn chứng khác của nhận thức này: “…về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và cả về đạo đức, tác phong, ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong Đảng và trong các cơ quan Nhà nước khá nghiêm trọng. Chính thành phần xuất thân tiểu tư sản của phần đông cán bộ, đảng viên là miếng đất tốt cho ảnh hưởng của tư tưởng tư sản dễ thâm nhập và nẩy nở”(2).

Những trình bày trên cho thấy đối tượng phê phán và phủ định của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong suốt ba thập niên, không chỉ là tư tưởng, đạo đức tư sản, mà còn là đạo đức, lối sống tiểu tư sản. “Giai cấp tiểu tư sản không bao giờ có một vị trí độc lập, nó luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tư tưởng của giai cấp thống trị. Trong điều kiện bọn đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến thống trị lâu dài, giai cấp tiểu tư sản chịu ảnh hưởng tư tưởng của chúng rất sâu sắc. Đối với những người trí thức công tác trong các ngành văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật thì ảnh hưởng của tư tưởng đế quốc lại càng nặng. Cần nhìn thấy rõ điểm đó, nếu không sẽ không nhận thức được hết tính chất sâu sắc của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Chúng ta cần nhớ rằng nếu không được Đảng của giai cấp công nhân giáo dục thì giai cấp tiểu tư sản thường lấy quan điểm của giai cấp tư sản làm quan điểm của mình; giữa tư tưởng tiểu tư sản và tư tưởng tư sản vốn có một mối liên hệ rất mật thiết. Thật ra, hai loại tư tưởng đó chỉ khác nhau về mức độ và hình thái biểu hiện, chứ không khác nhau về bản chất. Đứng giữa hai mặt trận tư tưởng, giai cấp tiểu tư sản nếu không đi theo giai cấp vô sản thì nhất định đi theo giai cấp tư sản, không thể có một con đường độc lập, riêng biệt của mình”(1).

Bây giờ đọc lại các văn kiện trên, càng thấy rõ sự quy định (hoặc áp lực) của hoàn cảnh lịch sử đối với sinh hoạt tư tưởng, tinh thần một thời dài, trên dưới 30 năm trong một cuộc chiến mang tên Ai thắng ai?, có quy mô toàn thế giới, giữa hai phe, hai ý thức hệ, hai thể chế chính trị, hai giai cấp, hai con đường. Trong cuộc chiến đó chỉ được phép chọn một, hoặc bên này, hoặc bên kia, chứ không được phép chông chênh. Đời sống văn hóa, văn học nghệ thuật do vậy phải quán triệt tính Đảng và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, với các nguyên tắc cơ bản là hướng về con người mới và cuộc sống mới; đến với những nơi tiền tiến, sống với những con người tiên tiến. Trong ba chức năng giao cho văn nghệ thì chức năng giáo dục (lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thế giới quan Mác – Lênin và nhân sinh quan cộng sản), phải ở vị trí hàng đầu. Do vậy mà tính chiến đấu phải luôn luôn được mài rũa cho sắc bén, nhằm cảnh báo và uốn nắn những lệch lạc khiến văn học nghệ thuật đi chệch đường lối văn nghệ của Đảng, lớn thì như vụ Nhân văn- Giai phẩm, nhỏ là các vụ, việc gắn với các tên sách có khuynh hướng gợi nên những mặt khuất tối, bất ổn của hiện thực như Mở hầm, Sương tan, Vào đời, Những người thợ mỏ, Phá vây, Đống rác cũ, Con nai đen, Phở, Cái gốc, Tình rừng… mà tác giả dẫu là người của giai cấp công nhân, là sĩ quan quân đội, hoặc nhà văn tầm cỡ cũng không tránh được.

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đó là khẩu hiệu  bao trùm cả một thời dài. Chủ nghĩa cá nhân gắn với việc chăm lo cho lợi ích riêng, và sự phô bày cái Tôi cá nhân – tiểu tư sản là đối tượng phê phán trong tất cả các phong trào cách mạng và các sinh hoạt tư tưởng lớn như Chỉnh huấn, chống Nhân văn – Giai phẩm, chống Chủ nghĩa xét lại hiện đại, và các đợt học tập chính trị cho trí thức văn nghệ sĩ. Bối cảnh đó quy định gương mặt sáng tạo văn học – nghệ thuật một thời luôn luôn phải trụ vững trên cùng một dường ray là Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội. Cái được lớn là ở đó và những thiếu hụt hoặc bất cập lớn cũng là ở đó. Những thiếu hụt hoặc bất cập rồi được phát hiện không lâu sau 1975, qua các phát ngôn, rồi thành “vụ”, “việc” như vụ “đề dẫn” của Nguyên Ngọc, và “văn học phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến năm 1979, vụ “đọc lời ai điếu” cho “văn chương minh họa” của Nguyễn Minh Châu năm 1987… Thế nhưng, ở một phía khác mà nhìn vào đời sống miền Bắc trong suốt thập niên 1960 và 1970 thì việc ưu tiên cho lợi ích tập thể; việc kìm nén chủ nghĩa cá nhân; việc cả dân tộc có chung một bộ đồng phục, “có chung dáng hình, có chung gương mặt” (Chế Lan Viên) lại để lại trong ký ức chung của cộng đồng một thời gần như rất ít có tội ác, ít có sự xâm hại về con người. Một thời, qua tấm gương soi văn học, thì đó là Gió lộng của Tố Hữu, Riêng chung của Xuân Diệu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Bài ca cuộc đời của Huy Cận, Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông, Tơ tằmChồi biếc của Cẩm Lai và Xuân Quỳnh, Hương cây Bếp lửa của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt… Và, Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Trăng sáng của Nguyễn Ngọc Tấn, Rẻo cao  của Nguyên Ngọc, Cỏ non của Hồ Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Gánh vác của Vũ Thị Thường, Đồng tháng năm của Nguyễn Kiên, Phù sa của Đỗ Chu…

Đất nước quả có một thời như thế. Thời “Xưa phù du mà nay đã phù sa” (Chế Lan Viên). Thời “Có gì đẹp trên đời hơn thế. Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Thời “Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy. Thì xa xôi đến mấy cũng lên đường” (Bùi Minh Quốc)… Thời rất lắm gian khổ, nhiều thử thách, nhưng sinh hoạt tinh thần lại ổn định, bình yên; và quan hệ giữa con người luôn luôn là sự thân thiện, chia ngọt sẻ bùi, nhường cơm sẻ áo!

x

x    x

Từ 1986, khi đất nước chuyển sang thời Đổi mới, rồi 1995, bước vào hội nhập, thì thực trạng xã hội hoàn toàn thay đổi.

Đó là 20 năm cả dân tộc đứng trước những thử tháchcơ hội gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi năm với những thành tựu lớn và mất mát lớn. Nhìn vào cái được trên mọi lĩnh vực: ăn, ở, đi lại và các nhu cầu vui, chơi, giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Đó là biểu hiện của sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng cùng với những cái được lớn đó thì những mất mát cũng là rất lớn, mất ở khu vực văn hóa, tinh thần, trong đó có một hiện tượng gây nhức nhối trong luân lý, đạo đức – đó là nguy cơ tan rã của gia đình,  đơn vị sống cơ bản của con người. Ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà chỉ vì sự tham lợi và đạo đức hư hỏng, đến mất hết nhân tính,… Và những bất an của xã hội, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực mà Thẩm mỹ viện Cát Tường vứt xác bệnh nhân xuống sông chỉ là một ví dụ nhỏ. Còn cái giả thì trong trăm nghìn kiểu loại chỉ cần tiếp xúc với phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả, đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Rộng ra, không kể đến những chuyện vô ơn và bạc nghĩa trong tình thầy trò; những loãng nhạt của tình bạn bè; những vô duyên, vô nghĩa trong tình đồng chí (một thời rất thiêng)… Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện-ác, tốt-xấu, thực-giả. Nhưng những mặt tích cực có lúc gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Một đội ngũ đóng vai trò tiền trạm cho công cuộc Đổi mới xuất hiện từ nửa đầu thập niên 1980 và nối dài cho đến nay một sự nghiệp viết có vai trò cảnh báo cái xấu, cái ác gồm từ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp qua Xuân Đức, Chu Lai, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Quang Lập, đến Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Xuân Thủy… Thế nhưng trước thực trạng, văn học vẫn chưa thể nào theo kịp để có cái nhìn bao quát và đón trước…

Hôm nay, văn học đang đứng trước đa chức năng, trong đó chức năng giải trí đang nổi lên, có lúc gần như lấn át, thì chức năng nhân đạo hóa, nhằm gây dựng hoặc trả lại chất người cho con người, nhằm làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn vẫn nên, hoặc vẫn phải là mục tiêu cao nhất, hoặc bao trùm. Nói cách khác, mục tiêu hướng thiện vẫn cứ là cái đích chung, hoặc xa nhất, cao nhất cho cả người viết và người đọc, nhất là khi con người đứng trước nguy cơ  bị xâm hại và tha hóa; khi các cộng đồng người có nguy cơ tan vỡ. Và, nếu sự tan vỡ của cộng đồng người, sự hủy hoại của cá nhân con người đã đến mức báo động, thì sự tồn tại của văn chương- nghệ thuật còn có ý nghĩa gì!

x

x    x

Cuối cùng vấn đề đặt ra hôm nay theo tôi nghĩ là cần một tên gọi thích hợp cho đạo đức mà chúng ta đang khổ công xác lập. Sau đạo đức phong kiến vừa trong đối lập vừa trong giao thoa với đạo đức nhân dân, chủ yếu là nông dân, và đạo đức tư sản trong đối lập với đạo đức vô sản, chúng ta đã chuyển sang đạo đức cách mạng hoặc đạo đức xã hội chủ nghĩa trong hơn nửa thế kỷ qua tính từ sau 1945. Bây giờ cần giữ lại hoặc thay đổi tên gọi cho nó, để thích hợp với thực trạng mới? Gọi là đạo đức cách mạng thì đó là cách mạng gì, khi cách mạng dân tộc, dân chủ đã làm xong? Nếu xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu hoặc chỉ còn là định hướng thì xem ra những gì đang diễn ra hôm nay là trái ngược với những gì đã diễn ra trong nửa thế kỷ trước đây./.

                                                                             


(1), (2) Về văn hóa và nghệ thuật; Tập I; Nxb. Văn học; 1985; trang 357.

(1)Về văn hóa và nghệ thuật; Tập I; Nxb. Văn học; 1985; trang 355. 

 

 

 

Giá dầu giảm: ‘Chuyển rủi thành may’ – BBC

4 Th12

 

  • 3 tháng 12 2014

Giá dầu giảm đang tác động đến thu ngân sách của Việt Nam, giữa bối cảnh nợ công sắp chạm trần

Việt Nam có thể có các biện pháp để kiềm chế tác động của việc giá dầu giảm và mang lợi về cho nền kinh tế, theo ý kiến một chuyên gia trong nước.

Nhận định trên được Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh đưa ra trong cuộc phỏng vấn với BBC ngày 3/12.

Trước đó, phát biểu trong buổi họp báo chính phủ thường kỳ hôm 2/12, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam, ông Nguyễn Văn Nên cảnh báo tình trạng giá dầu giảm đang gây ra những tác động tiêu cực đối với thu ngân sách.

“Chính phủ đã báo cáo kế hoạch cân đối ngân sách với Quốc hội, đã dự tính giá dầu ở mức 100 đôla/thùng”, ông được báo trong nước dẫn lời nói.

“Hiện tại, giá dầu đã giảm khoảng 30 đôla/thùng và con số này còn có thể thay đổi”.

“Chúng ta tính rằng, mỗi thùng dầu giảm 1 đôla thì ngân sách mất 1.000 tỷ đồng và như thế chúng ta dự tính nếu năm 2015, con số trên dưới 80 đôla/thùng thì chúng ta mất 20.000 tỷ đồng”.

BBC: Tình trạng giá dầu lao dốc đang ảnh hưởng tới kinh tế và ngân sách của Việt Nam như thế nào, thưa ông?

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Giá dầu giảm làm nguồn thu ngân sách của Việt Nam bị ảnh hưởng khá rõ rệt.

Trước đây xuất khẩu dầu lửa đem lại cho Việt Nam nguồn thu ngân sách đến 20%. Có năm cũng có giảm xuống 11% hay 15% tùy theo sản lượng khai thác hoặc giá dầu trên thế giới.

Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo Bộ Tài chính tìm những nguồn thu thay thế và có các khoản tiết kiệm chi tiêu hoặc tăng cường phát hành trái phiếu.

Nhưng việc giá dầu giảm cũng có thể có lợi.

Việt Nam nhập rất nhiều sản phẩm dầu lửa như xăng dầu. Số xăng dầu nhập hàng năm cao hơn số dầu thô xuất khẩu.

Việt Nam cũng nhập khá nhiều sản phẩm dầu lửa khác như phân bón, chất dẻo, sợi tổng hợp.

Tất cả những sản phẩm này nếu giá giảm xuống thì sẽ giúp Việt Nam có điều kiện giảm giá và kiềm chế lạm phát, làm nguồn thu thực tế của người dân được lợi.

Nhưng cho đến nay cuộc họp của chính phủ cuối tháng 11 vừa rồi, tôi thấy chưa đề cập đến các khoản có lợi cho kinh tế Việt Nam từ việc giảm giá dầu.

Nếu Việt Nam biết tận dụng thì có thể giảm đáng kể thiệt hại từ việc giảm giá dầu, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, ổn định kinh tế vĩ mô.

Máy của bạn không hỗ trợ nghe âm thanh

null

BBC: Một số ý kiến từ giới chuyên gia đã quan ngại rằng giá dầu có thể chạm ngưỡng 50 đôla/thùng vào đầu năm sau. Ông đánh giá thế nào về nguy cơ này và tác động của nó đối với Việt Nam?

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Tôi cho rằng Ả Rập Saudi có thể đang sử dụng vũ khí dầu lửa để gây khó cho Mỹ.

Mỹ nhờ dùng công nghệ áp suất thủy lực cao có thể khai thác dầu từ đá phiến ở đáy đại dương.

Nhưng giá thành của công nghệ đó là khoảng 62-65 đôla một thùng.

Ả Rập Saudi với công nghệ và điều kiện khai thác thuận tiện hơn nhiều, nếu có thể giảm giá xuống 60 đôla một thùng thì việc khai thác của Hoa Kỳ có thể bị thua lỗ.

Tôi nghĩ rằng đây là một tính toán chiến lược và có lẽ Hoa Kỳ và Ả Rập Saudi sẽ phải bàn luận với nhau để làm sao không dẫn tới một cuộc chiến dầu lửa giữa OPEC và Hoa Kỳ.

BBC: Ông nghĩ gì khi tình trạng dầu giảm giá lại xảy ra ngay giữa lúc nợ công của Việt Nam đang chạm ngưỡng an toàn?

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh: Dĩ nhiên đó là một điều rất không may mắn.

Nhưng nhiều khi điều không may mắn đó có thể thúc đẩy công cuộc cải cách.

Trong trường hợp này tôi hy vọng là sẽ giúp đẩy mạnh cải cách ngân sách và dùng tiền của dân quá hiệu quả hơn.

Tin liên quan

  • Giá dầu lao dốc sau hội nghị Opec
    29 tháng 11 2014
  • Giá dầu giảm ‘do Ả rập Saudi ‘
    2 tháng 10 2014

 

Tại sao người Nga ‘phát cuồng’ vì Putin – Vnn

4 Th12

 

Khủng hoảng tiền tệ và nền kinh tế lao dốc, sự cô lập ở những hội nghị thượng đỉnh toàn cầu… từng đó đủ để xói mòn tín nhiệm của bất kỳ tổng thống nào. Nhưng hoàn toàn không phải đối với Vladimir Putin.

Putin, Nga, Crưm, Ukraina
Ảnh: AP

Một cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy, tỉ lệ tín nhiệm của lãnh đạo Nga ở mức 85%, giảm nhẹ so với con số 88% tháng trước và tương đương mức cao kỷ lục năm 2008. Tại sao Putin được đánh giá cao ở trong nước?

Hành động quyết đoán

Kết quả thăm dò do trung tâm Levada, một trong số ít cơ quan thăm dò dư luận ở Moscow tương đối độc lập, cho thấy, sự tín nhiệm của Putin bắt nguồn từ hành động quyết đoán và mạnh mẽ của ông.

Tỉ lệ tín nhiệm của ông cũng ở mức 88% tháng 9/2008, ngay sau khi Nga có cuộc chiến chớp nhoáng với Grudia. Tỉ lệ tín nhiệm cao trước đó dành cho Tổng thống Nga là vào tháng 1/2000, khi 84% người được hỏi ủng hộ khi ông quyết định điều quân đến Chechnya.

Cuối năm ngoái, con số này giảm còn 61%, nhưng lại sớm vượt qua ngưỡng 80% trong năm nay khi Nga sáp nhập Crưm.

‘Crưm là của chúng ta’

Trong ý nghĩ của người dân Nga, Crưm là niềm vinh quang và tự hào dân tộc – nơi quân đội Nga Hoàng chiến đấu chống các lực lượng Anh, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ 19, cũng là nơi những người lính Xô Viết cầm chân quân Đức trong cuộc vây hãm Sevastopol năm 1941 và 1942.

Nikita Khrushchev, Tổng bí thư Liên Xô đã tách Crưm khỏi Nga và Ukraina sáp nhập vùng này năm 1954.

 

Những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga luôn mong muốn Crưm trở về kể từ đó. Trong tháng 3, khoảnh khắc ấy đã đến. Một cuộc trưng cầu dân ý đã quyết định tách Crưm ra khỏi Ukraina và gia nhập Nga. Putin phê chuẩn việc này.

Cuộc thăm dò của Levada cho thấy, 86% người Nga ủng hộ sự tiếp quản nói trên.

Không thể thay thế

Kremlin từ lâu mô tả Nga như một pháo đài bị các thế lực nước ngoài bao vây và các biện pháp trừng phạt của phương Tây chống lại Nga xung quanh cuộc khủng hoảng Ukraina đã minh chứng cho điều này.

Tài năng của Putin là đồng nhất hóa nhà nước với bản thân ông. Tháng trước, phó chánh văn phòng của ông nói với các nhà phân tích chính trị rằng: “Không có nước Nga ngày nay nếu không có Putin” và “bất kỳ cuộc tấn công nào vào Putin chính là tấn công vào Nga”.

Nếu hỏi tại sao ủng hộ Putin, sẽ có rất nhiều người Nga trả lời: “Còn ai khác?”.

Putin chủ trương tăng cường thịnh vượng đất nước. Đói nghèo được giảm bớt, tầng lớp trung lưu phát triển, khả năng chi tiêu gia tăng.

Nhưng theo Ngân hàng Thế giới, Nga đang tiến vào một giai đoạn “gần trì trệ”. Năm nay, đồng rúp rớt giá thê thảm, các biện pháp cấm vận của phương Tây đang cản bước các ngân hàng Nga tiếp cận thị trường tài chính nước ngoài.

Thái An (theo Telegraph)

 

Thế giới 24h: Thủ lĩnh biểu tình Hong Kong đầu hang – Vnn

4 Th12

 

Những người khởi xướng biểu tình tại Hong Kong tuyên bố đầuhàng; Một loạt vụ đánh bom chết người tại Iran,Somalia; Ukraina được tiếp viện… là những tin nóng 24 giờ qua.

Nổi bật

Ba người khởi xướng phong trào biểu tình “Chiếm Trung tâm” ởĐặc khu hành chính Hong Kong (Trung Quốc) đãtới đồn cảnh sát đầu thú sau khi kêu gọi chấm dứt biểu tình trên đường phố.

Hong Kong, biểu tình, ChiếmTrung tâm, tự thú, thủ lĩnh
Những người sáng lập phongtrào “Chiếm Trung tâm” gồm phó giáo sư Đới Diệu Định, tiến sỹ Trần Kiện Dân vàông Chu Diệu Minh đi tới đồn cảnh sát trung tâm tại Hong Kong hôm 3/12. (Ảnh:Reuters)

Hãng tin AP cho biết, ba người này gồm phó giáo sư Đới DiệuĐịnh, tiến sỹ Trần Kiện Dân và ông Chu Diệu Minh.

Trong tuyên bố chung đưa ra, ba người này cho biết, họ rađầu thú vì muốn đảm bảo an toàn cho những người biểu tình và chứng tỏ việc tôntrọng pháp luật. Sau khi ra đầu thú và khai báo với cảnh sát, cả 3 người đềuđược trả tự do ngay lập tức.

Ngoài 3 người này, hàng chục người khác cũng có kế hoạch sẽra trình diện cảnh sát.

Đây là những động thái mới nhất sau khi xảy ra đụng độ giữahàng trăm người biểu tình và lực lượng an ninh ở bên ngoài trụ sở chính quyềnđặc khu hôm 30/11 khiến hàng chục người bị thương.

Các thủ lĩnh phong trào cũng kêu gọi các sinh viên biểu tìnhhãy rút khỏi đường phố trở về nhà. Tuy nhiên, Alex Chow – thủ lĩnh Liên đoànSinh viên Hong Kong – tuyên bố với các phóng viên rằng, họ sẽ không hành độngtương tự.

“Chiếm Trung tâm” (Occupy Central) – được thành lập như một phongtrào bất tuân dân sự – ban đầu dẫn dắt các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ, nhưngsau đó đã nhường vị trí tiên phong cho phong trào sinh viên.

Phong trào “Chiếm Trung tâm” bùng phát ở Hong Kongtừ ngày 28/9, gây hỗn loạn giao thông, ảnh hưởng đến ngành du lịch mũi nhọn,hoạt động kinh doanh, đặc biệt là thị trường chứng khoán.

Tin vắn

– Ngoại trưởng 60 quốc gia trong liên minh quốc tế chống lạitổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng họp tại Brussels, theo lời mời của Ngoạitrưởng Mỹ John Kerry.

– Một quan chức Iraq cho biết, người phụ nữ bị LiBăng bắt giữ không phải là vợ của thủ lĩnh lực lượng cực đoan “Nhà nước Hồigiáo” (IS).

– Thủ tướng Ukraina Arseny Yatsenyu vừa tuyên bố có một sựcố đã xảy ra tại nhà máy hạt nhân ở đông nam nước này, nơi đang xảy ra chiến sựác liệt trong phiên họp đầu tiên của nội các mới của ông. Tuy nhiên, Bộ trưởngNăng lượng Ukraina cho biết sự cố này không gây nguy hiểm nào.

– Ủy ban châu Âu (EC) đã giải ngân cho Ukraina khoản thứ haivà cũng là khoản cuối cùng trong năm 2014 trị giá 500 triệu euro, nâng số tiền Kiev được nhận trong nămlên 1 tỷ euro.

– Tại Bắc Kinh, Ủy ban Hữu nghị Nhật-Trung thế kỷ 21 gồm cácchuyên gia hai nước đã tiến hành cuộc họp chính thức đầu tiên trong 3 năm qua,trong bối cảnh căng thẳng chính trị giữa hai nước có một số dấu hiệu giảm bớt.

– Ngoại trưởng Mỹ trong tuần này sẽ thảo luận với các nướcđồng minh châu Âu về vấn đề áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt đối với Nga,nếu lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraina không ngừng các cuộc giao tranh tạikhu vực này.

– Theo “Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2014” của Tổ chứcMinh bạch quốc tế công bố, các quốc gia gồm Đan Mạch, New Zealand, Phần Lan vàThụy Điển được xếp hạng là những nước ít tham nhũng nhất thế giới.

 

– Ít nhất 3 người đã thiệt mạng và 17 người bị thương trongmột vụ đánh bom xe bên ngoài tư dinh của Đại sứ Irantại Yemen.Đại sứ Iran Hassan Sayed Nam không có mặt tại tư dinh khi vụ việc xảy ra.

– Quân đội Ukraina lên tiếng cáo buộc phe ly khai ở nước nàyvi phạm lệnh ngừng bắn tại khu vực sân bay Donetsk. Còn Bộ phận báo chí Cộnghòa Nhân dân Donetsk tự xưng (DPR) lại nói lực lượng an ninh Ukraina liên tiếpvi phạm lệnh ngừng bắn ở sân bay Donetsk.

– Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cho biết liên minh do Mỹ dẫnđầu đã thực hiện khoảng 1.000 cuộc không kích ở Iraq,Syriakhiến Nhà nước Hồi giáo (IS) tổn thất đáng kể.

– Bộ Quốc phòng Nga phủ nhận thông tin cho rằng, họ vừa tiếnhành một cuộc diễn tập huấn luyện đối với lực lượng cá heo chiến đấu thuộc Hạmđội biển Đen tại bán đảo Crưm.

– Bộ trưởng Tư pháp và Cảnh sát Thụy Sĩ, bà SimonettaSommaruga, 54 tuổi, đã được hai viện của cơ quan lập pháp Thụy Sĩ bầu làm tổngthống nhiệm kỳ 2015 trong cuộc bỏ phiếu luân phiên hàng năm.

– Ít nhất 4 người đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom liềuchết nhằm vào một đoàn xe Liên hợp quốc tại thủ đô Mogadishu, Somalia.

– Bộ Kinh tế Nga lên tiếng cảnh báo về nguy cơ nước này rơivào suy thoái kinh tế và đồng Rúp sẽ tiếp tục yếu trong năm tới. Đây được xemlà sự thừa nhận thẳng thắn nhất từ trước đến nay của Chính phủ Nga về mức độảnh hưởng nghiêm trọng của lệnh trừng phạt và giá dầu giảm đối với nền kinh tếnước này.

Tin ảnh

Hong Kong, biểu tình, ChiếmTrung tâm, tự thú, thủ lĩnh
Hàng trăm người đã tới đưa tangmột phụ nữ trẻ qua đời, vì bị thương nặng sau khi tìm cách cứu hai bé gái bịmột nhóm đàn ông quấy rối ở Đức. (Ảnh AP).

Phát ngôn

 Tại Hội nghị Ngoại trưởng 28 quốc gia thành viên NATO diễnra tại Brussels,Bỉ ngày 2/12, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg tuyên bố: “NATO không tìm kiếmsự đối đầu với Nga và NATO cũng không muốn Chiến tranh Lạnh với Nga. Tuy nhiên,những gì mà chúng ta đang chứng kiến tại châu Âu hiện nay sẽ không như xưanữa”.

 Sự kiện

 4/12/1872 – Thương thuyền Mary Celeste của Hoa Kỳ được pháthiện trong tình trạng bị bỏ rơi, trở thành một bí ẩn lớn trong ngành hàng hải.

 4/12/1939 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Thiết giáp hạm AnhQuốc HMS Nelson trúng thủy lôi ở ngoài khơi bờ biển Scotland, phải vào ụ tàu để sửachữa cho đến tháng 8 năm sau.

 4/12/1977 – Tổng thống Jean-Bédel Bokassa của Cộng hòa TrungPhi tự đăng cơ làm Hoàng đế Bokassa I của Đế quốc Trung Phi.

 Lê Thu

 

%d bloggers like this: