Lưu trữ | 3:07 Sáng

Nobel Văn học 2014 : Patrick Modiano, ký ức của nhân loại – RFI

11 Th12

 

Phát ngày Thứ tư, ngày 10 tháng mười hai năm 2014
Nobel Văn học 2014 : Patrick Modiano, ký ức của nhân loại
 

Patrick Modiano họp báo tại Viện Hàn lâm Thụy Điển. Ngày 08/12/2014 – © Reuters

Patrick Modiano là nhà văn thứ 15 của Pháp được Ủy ban Nobel vinh danh. Nước Pháp trong thời kỳ bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, thân phận của những người Do Thái bị gắn ngôi sao sáu cánh màu vàng trên ngực áo, là những chủ đề nhà văn Patrick Modiano liên tục khai thác.

Thế nhưng, nước Pháp trong dòng văn của Modiano có thể là bất kỳ một quốc gia nào từng bị xâm lược và mất tự do. Nghịch cảnh của những người Do Thái trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng là hình ảnh và thân phận của bất kỳ một ai từng trải qua những mất mát, đau thương, trước những cái chết của người thân và đồng loại.

Sau những tên tuổi như Mistral, Bergson, Gide, Mauriac, Camus … hay Cao Hành Kiện, Le Clézio, đến lượt Patrick Modiano và người đồng hương là giáo sư kinh tế Jean Tirole đến Stockholm nhận giải thưởng từ tay nhà vua Thụy Điển Carl Gustaf XVI. Theo thông lệ, tất cả các giải Nobel đều được trao tặng cho các khôi nguyên đúng vào ngày 10 tháng 12 hàng năm, tức vào ngày giỗ của nhà phát minh ra thuốc nổ Alfred Nobel. 

Sáng tác giỏi nhưng lại kém tài ăn nói 

Trước hết đây là một sự bất ngờ, là điều tôi không chờ đợi. Tôi hoàn toàn không nghĩ là mình sẽ được nhận vinh dự đó …”. Phát biểu hôm 09/10/2014 ngay sau khi được Hàn lâm viện Thụy Điển liên lạc và thông báo kết quả bình chọn của Ủy ban Nobel, tác giả Patrick Modiano với phong cách quen thuộc, đã cho biết cảm nghĩ của ông như trên. 

Sau gần một nửa thế kỷ đứng vững trên văn đàn Pháp và đã rất nhiều lần trả lời phỏng vấn báo chí, Modiano luôn là một người kém tài ăn nói. Với sự xúc động, và khi các ống kính của các đài truyền hình trên thế giới đều hướng cả về ông, nhược điểm đó lại càng tăng lên gấp bội. 

Trong cuộc họp báo ở nhà xuất bản Gallimard, quận 7 Paris, vài giờ sau khi nhận được tin vui, Patrick Modiano bình tĩnh lại hơn và cho biết cảm nghĩ của mình :

“Thật là xúc động khi ban giám khảo trao cho tôi giải Nobel. Nhưng điều tôi muốn biết – vì tôi chưa có thời gian để tìm hiểu- là động cơ nào đã khiến Hàn lâm viện Thụy Điển quan tâm đến sách của tôi. Bởi vì khi viết ra một cuốn sách, tôi không thể biết được tác động của nó đối với người đọc. Tôi muốn biết về nhữnglý do đã khiến Ủy ban Nobel dành cho tôi vinh dự này”. 

Thể nào tác giả của những quyển sách Dora Bruder, Rue des boutiques obscures – Phố những cửa hiệu u tối, L’Horizon – Chân trời, L’Herbe de nuit – Cỏ đêm, Voyage de noce – Tuần trăng mật … và gần đây nhất là Pour que tu ne te perdes pas dans le quartier – Để bạn không lạc lối trong phố – cũng sẽ tìm ra câu trả lời. 

Thông thường, ban giám khảo của Hàn lâm viện Thụy Điển luôn dành nhiều ưu ái cho các nhà văn dấn thân, những người cầm bút để bảo vệ công lý. Đó là trường hợp của nữ văn sĩ người Mỹ Toni Morrison, Nobel Văn học năm 1993 ; của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, Orhan Pamuk (2006) hay của tác giả người Pháp, Jean Marie Gustave Le Clézio (2008). 

Ủy ban Nobel đôi khi cũng dùng giải thưởng cao quý này như một lá bùa hộ mạng để bảo vệ một số nhà văn bị đe dọa trên chính quê hương họ, như là điều từng xảy tới với tác giả của Bác sĩ Jivago, Boris Pasternak năm 1958. 

Khi công bố bảng vàng hôm 09/10/2014 Ủy ban Nobel đã giải thích : vinh danh tác giả người Pháp Patrick Modiano vì “nghệ thuật viết ký ức qua đó ông đã gợi lại số phận khó nắm bắt nhất của con người và bộc lộ được thế giới của thời nước Pháp bị Đức quốc xã chiếm đóng“. Viện Hàn lâm Thụy Điển đã không ngần ngại mệnh danh Modiano là “Marcel Proust trong thời đại của chúng ta”

REUTERS/Charles Platiau

Kinh nghiệm bản thân, chất liệu sáng tác  

Patrick Modiano sinh năm 1945 tại Boulogne- Billancourt, ngoại thành Paris, chỉ ba tháng sau khi Đệ Nhị Thế Chiến vừa kết thúc. Dấu ấn của chiến tranh và thời kỳ bị Đức quốc xã chiếm đóng còn đậm nét. Năm 1968 khi đó mới 23 tuổi, Modiano cho ra mắt công chúng tiểu thuyết đầu tay La Place de L’Étoile – Quảng trường Ngôi sao, một địa danh nổi tiếng của thủ đô Paris, nhưng đó cũng là ngôi sao màu vàng trên ngực áo những người Do Thái. 

La Place de l’Étoile là viên gạch đầu tiên của một sự nghiệp cầm bút bền bỉ với rất nhiều giải thưởng quan trọng, như là giải Fénéon cho cuốn tiểu thuyết đầu tay; Giải thưởng lớn của Hàn lâm viện Pháp; Giải thưởng Goncourt năm 1978 cho cuốn Rue des Boutiques obscures – Phố những cửa hiệu u tối ; Giải thưởng văn học Jean Monnet và gần đây nhất là giải Nobel Văn học 2014. 

Khoảng 30 cuốn tiểu thuyết cùng tác giả đã nối đuôi nhau ra đời. Mỗi tác phẩm là một chương trong bản trường ca, về ký ức, về sự lãng quên, về tâm trạng mặc cảm tội lỗi, về một thành phố Paris thời kỳ bị chiếm đóng, về những thân phận trong thời chiến, về những cái chết của đồng loại, về những mất mát mà không gì bù đắp nổi, về tuổi thơ bị đánh mất. 

Patrick Modiano đã lấy những kinh nghiệm trong cuộc đời mình làm nguồn sáng tác bất tận. Sinh ra trong một gia đình, bố là người Do Thái, mẹ là một nghệ sĩ người Bỉ luôn bận rộn với các vòng lưu diễn. Patrick gần như một đứa con trẻ mồ côi : thi thoảng mới trông thấy bóng mẹ, một người “đàn bà xinh đẹp có trái tim khô cằn, mà ngay cả con chó kiểng của bà ta đã phải lao ra cửa sổ tự sát” – Un Pedigree (2005) . 

Còn thân phụ của giải Nobel Văn học 2014 là một người khéo xoay xở, sống bằng đủ mọi thứ nghề, từ cờ gian bạc lận, đến buôn lậu. Cuộc đời của thân phụ Patrick Modiano là một chuỗi dài bí hiểm đối với tác giả, là những “mảng tối” mà Modiano không thể giải mã hết nhưng ông đã tạo dựng nên những nhân vật lấy nguồn cảm hứng từ người cha. Tác giả từng tâm sự : ông viết để thử tìm cách giải đáp câu hỏi, vì sao người ta có thể phản bội đồng loại, cấu kết với kẻ thù. Những hành vi mờ ám của người cha, ám ảnh Patrick Modiano trong suốt sự nghiệp sáng tác của ông. 

Trong tác phẩm đầu tay, La Place de l’Étoile, Modiano đã tạo ra nhân vật chính Raphaël Schlemilovitch, một người Pháp, gốc Do Thái với nhiều bộ mặt khác nhau. Hắn đã đi đêm với kẻ thù, làm tay sai cho Đức quốc xã, làm giàu trên sự đau khổ của chính những người Do Thái. 

Về cái chết đột ngột của người em trai, Rudy, thua mình có hai tuổi, người bạn đồng hành duy nhất của tuổi thơ, Patrick Modiano cũng đã dành rất nhiều tác phẩm để nói về sự mất mát quá to lớn đó. Rudy chết đi khi Patrick Modiano vừa mới lên 10. Sau này khi đã thành danh, tác giả nhìn nhận : trong cuộc đời ông, chỉ có cậu em xấu số Rudy, người vợ và hai cô con gái của ông là thực. Cha mẹ ông là những “nhân vật chỉ có trong tiểu thuyết“. 

Duyên nợ với văn chương  

Nhưng trong cái rủi bao giờ cũng có một chút may. Từ năm 15 tuổi, Patrick Modiano đã may mắn được một nhà văn nổi tiếng của Pháp đỡ đầu : Raymond Queneau. Thuở đó, mẹ của Modano là bạn thân với vợ của nhà văn Queneau. Queneau dậy kèm thêm toán cho Patrick Modiano và thường đón cậu thanh niên mới lớn này về nhà vào những ngày cuối tuần. Queneau khi đó là một trong những cột trụ của nhà xuất bản Gallimard và đã thành danh với những tác phẩm như Pierrot mon ami, Loin de Rueil

Raymond Queneau thường xuyên đưa người bạn trẻ của mình đến trụ sở nhà xuất bản ở quận 7 Paris. Cho đến một hôm, Patrick Modiano đút bản thảo đầu tay của mình vào hộp thơ của Queneau với hàng chữ ngắn gọn nhờ ông đọc lại. Thế rồi, như chính Patrick Modiano đã kể lại : vào một buổi chiều tháng 6 năm 1967, Modiano hay tin Gallimard đồng ý xuất bản Quảng trường Ngôi sao. Trong quyển Un Pedigree, ông viết « Tối hôm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy nhẹ nhàng. Mối đe dọa đè nặng lên đôi vai trong ngần ấy năm trời (…) bỗng chốc tan biến trong không khí của Paris. Thuyền tôi ra khơi trước khi bến mục ». 

Ngày 12/09/1970 Patrick Modiano nhờ Raymond Queneau làm nhân chứng cho hôn lễ của mình. Bên nhà gái, nhân chứng của cô dâu Dominique Zehrfuss không ai khác ngoài André Malraux, tác giả của “Thân phận con người” – La Condition Humaine. Sau này đôi vợ chồng Modiano –Zehrfuss kể lại : trong ngày cưới họ đã say sưa theo dõi Malraux và Queneau cãi nhau về danh họa Jean Dubuffet. 

Nhà văn P. Modiano họp báo tại nhà xuất bản Gallimard ngày 09/10/2014REUTERS/Charles Platiau

Hành trình đi tìm bản sắc 

Phải nói là nhờ sự dẫn dắt của Raymond Queneau mà cuốn sách đầu tay của Patrick Modiano đã dễ dàng được lọt vào mắt xanh của hội đồng duyệt bản thảo. La Place de l’Étoile được ra mắt công chúng vào năm 1968.

Giới thiệu cuốn sách đầu tay của Patrick Modiano, nhà xuất bản Gallimard trích đoạn văn sau đây : « Vào tháng 6 năm 1942 một sĩ quan Đức tiến về phía một thanh niên vào hỏi : xin lỗi ông, quảng trường Ngôi sao nằm ở chỗ nào ? Anh thanh niên chỉ tay lên ngực trái ». Một cách ngắn ngủi, và khúc chiết, người kể chuyện trong La Place de l’Étoile đã đưa độc giả vào thế giới của Modiano : nơi vết thương của quá khứ không bao giờ lành. 

Không sống trong chiến tranh hay thời kỳ Paris bị Đức quốc xã chiếm đóng, nhưng đấy lại là cột sống của toàn bộ sự nghiệp văn chương của Modiano. Ký ức tập thể, nỗi ám ảnh cá nhân, những nhân chứng bất đắc dĩ, những vụ thủ tiêu, mất tích, thái độ bí hiểm của những tên mật vụ Pháp làm tay sai cho Đức quốc xã … đã được tác giả « tiểu thuyết hóa ». Modiano gần như đã biến mình thành một nhà khảo cổ, chắp nhặt từng thông tin, từng mảnh giấy khai sinh, khai tử, từ những bức ảnh đã hoen ố vì thời gian để hiểu được những gì mình đang sống hôm nay. 

Nhưng điều thú vị là nhà văn Patrick Modiano đưa độc giả của mình đi từ khám phá này tới khám phá khác. Trong Rue des boutiques obscures, người dẫn chuyện tên là Guy Roland, một nhà thám tử mất trí nhớ. Khi có cơ hội Guy mở cuộc điều tra về chính thân thế mình với hy vọng trả lời được câu hỏi : Tôi là ai ?

Lần ngược thời gian để trở về với quá khứ, Guy khám phá anh là một người Hy Lạp gốc Do Thái, từng là một nhân viên ngoại giao của được Cộng hòa Dominica, sống tại Paris. Khi Pháp bị Đức quốc xã chiếm đóng, anh từng tìm đường trốn sang Thụy Sĩ … Trong hành trình đi chính mình đó, những bóng ma trong quá khứ đã hiện về. Modiano đưa độc giả đến tận vùng Polynésie xa xôi, trước khi trở về với Megève hay Roma nhưng đó là thành phố Roma của năm 1930, đúng ngay căn hộ số 2, Phố những cửa hiệu u tối – nơi tập trung của người Do Thái giữa lòng thủ đô La Mã. 

Patrick Modiano không chỉ là một nhà văn, ông còn soạn lời cho khoảng 20 bản nhạc và đã từng tham gia vào khoảng một chục bộ phim. Năm 1974, ông cộng tác với đạo diễn Louis Malle, viết kịch bản cho bộ phim Lacombe Lucien, kể lại câu chuyện của một anh nông dân do tình cờ đứng về phía địch.

Trong một chương trình truyền hình năm 1970, tức là sau khi Patrick Modiano cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên, La Place de l’ÉtoileLa Ronde de Nuit, họa sĩ Patrick Masery, một người bạn của Patrick Modiano đã nhận xét về giải thưởng Nobel văn học thứ 15 của nước Pháp : 

« Tôi nghĩ mô –típ mà Modiano thích nhất là soi rọi nội tâm của các nhân vật ở vào một thời khắc quyết định, khi mà con người đang đứng trước một sự lựa chọn. Đó là một khoảnh khắc mà người ta còn do dự một chút, trước khi chọn cho mình một hướng đi để rồi họ đứng về bên “chính” hay bên “tà” …

Đó là một khoảnh khắc cũng giống như một trái chín trên cành, rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời cho đến giây phút chót, trước khi hóa thân thành quả táo thối. Chính giây phút chót đó giữa sự sống và cái chết, là điều mà Patrick Modiano quan tâm. Đó cũng chính điều mới trong văn học và là nét riêng biệt trong dòng sáng tác, là dấu ấn riêng của nhà văn Modiano ».


Cùng chủ đề

 

Giá trị phổ quát và vĩnh cửu của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền – VOA

11 Th12

 

 

Sau 3 năm chuẩn bị, ngày 10 tháng 12 năm 1948, Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (The Human Rights Declaration)  đã được Ðại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua, với 48 phiếu thuận, không có phiếu chống, duy chỉ có Liên Xô cũ, Saudia Arabia và Nam Phi từ chối bỏ phiếu. Tiến sĩ Herbert, Chủ tịch phiên họp Ðại Hội đồng LHQ lúc bấy giờ đã nhận xét, rằng “Lịch sử sẽ ghi nhận Bản Tuyên ngôn này như là một trong những thành tựu nổi bật của Liên Hiệp Quốc.”

Như vậy là đã 66 năm qua (1948-2014), Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã cho thấy một giá trị phổ quát và vĩnh cửu. Bởi vì Bản Tuyên ngôn ấy đã thể hiện một chân lý được khẳng định trong phần mở đầu, rằng  “Mọi thành viên trong gia đình nhân loại đều có nhân cách, có quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng. Sự công nhận nhân cách và các quyền này là nền tảng của tự do, công chính và hoà bình trên thế giới”; và rằng “mọi sự coi thường và khinh thị nhân quyền đều đưa đến những hành động dã man, xúc phạm đến lương tâm nhân loại và ước vọng về một thế giới mà mọi người đều được hưởng tự do ngôn luận, tín ngưỡng và không bị đe dọa, bởi đã được tuyên cáo đó là khát vọng cao cả nhất của loài người”.

Trong 30 điều khoản của bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đã đưa ra được những nguyên tắc và liệt kê các nhân quyền và dân quyền có giá trị như một Bản Hiến pháp Quốc tế mà các quốc gia hội viên có nghĩa vụ phải tuân thủ trong việc tôn trọng, bảo vệ và hành xử các nhân quyền căn bản.

Tuy nhiên, trên thực tế, từ quá khứ đến hiện tại, vẫn còn nhiều quốc gia vẫn không tuân thủ các điều khoản của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Ðó là các quốc gia có chế độ độc tài phản dân chủ các kiểu, điển hình như chế độ độc tài đảng trị kiểu cộng sản ở Việt Nam, hay chế độ độc tài toàn trị kiểu quân phiệt ở Miến Ðiện hiện nay (đang có dấu hiệu chuyển biến theo hướng dân chủ hóa). Cả hai kiểu chế độ độc tài tiêu biểu của thời đại này, dù là thành viên LHQ, có trách nhiệm tuân thủ Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, song thực tế các nhà cầm quyền vẫn thách thức công luận bằng những hành vi trắng trợn vi phạm nhân quyền và các dân quyền căn bản.

Ðến đây một câu hỏi được đặt ra là:vì sao chính quyền trong các chế độ độc tài tại Việt Nam và Miến Ðiện lại dám thách thức công luận như vậy?

Câu trả lời tổng quát, theo thiển ý chúng tôi, là vì 30 điều khoản của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ liệt kê các nhân quyền mà không dự trù các biện pháp chế tài hữu hiệu. Trên thực tế, các biện pháp chế tài đối với các chính quyền vi phạm nhân quyền thường chỉ xuất phát từ các cường quốc có ảnh hưởng hay LHQ vốn là tổ chức mà các cường quốc chiếm ưu thế tuyệt đối. Sự chế tài này thường là các áp lực mạnh hay yếu lại tùy thuộc vào mục đích vụ lợi của các cường quốc.

Tỷ như những áp lực của Hoa Kỳ đối với các hành động vi phạm nhân quyền bao lâu nay của chế độc độc tài toàn trị tại Việt Nam, thường chỉ là biện pháp được xử dụng như một phương cách để thành đạt một lợi ích kinh tế, chính trị ngoại giao nào đó cho Hoa Kỳ. Cộng sản Việt nam chỉ cần đáp ứng phần nào hay tất cả lợi ích này cho Hoa Kỳ là họ có thể an tâm tiếp tục đàn áp nhân dân, chà đạp nhân quyền, nhân danh cái gọi là “vấn đề nội bộ của Việt nam”. Vì vậy, sự kết án của Hoa Kỳ hay quốc tế nếu không đi kèm biện pháp chế tài triệt để và hiệu quả, thì vẫn chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ, không có mấy hiệu quả thực tế.

Thực tế là tại Việt Nam, từ lâu nay nhà cầm quyền vẫn ngang nhiên xâm phạm các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền, dù Hoa Kỳ và quốc tế đã nhiều lần lên tiếng phàn nàn, kết án, cảnh cáo, kèm theo những biện pháp pháp lý, hành chánh, kinh tế… cũng chỉ có tác dụng nhẹ nhàng, đủ xoa dịu sự phẫn nộ của công luận và nếu có hiệu quả thì nhiều lắm cũng chỉ buộc được nhà cầm quyền Việt Nam lùi một bước  để đối lấy một lợi ích giai đoạn nào đó , hơn là vì lợi ích tự do dân chủ lâu dài cho nhân dân Việt Nam.

Thực tế là tại Việt Nam, nhà cầm quyền cộng sản vẫn thẳng tay bắt bớ, giam cầm và đầy ải các nhà đấu tranh cho các quyền tự do chính trị và tôn giáo trong các nhà tù và các trại giam trá hình gọi là “Trại Cải tạo” được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam.

Trước thực tế này, người Việt Nam ở hải ngoại cũng không biết làm gì hơn là đẩy mạnh các cuộc đấu tranh hổ trợ cho các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước, bằng cách lên tiếng tố cáo và báo động trước công luận quốc tế về các hành động vi phạm tự do, dân chủ và nhân quyền của nhà cầm quyền Việt Nam.

Đồng thời, người Việt Nam ở hải ngoại cũng bằng mọi cách chia sẻ những khó khăn vật chất trong điều kiện và khả năng có thể và khích lệ tinh thần các nhà dân chủ trong nước. Cụ thể như tổ chức các hình thức gây quỹ yểm trợ tài chánh cho các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước, điển hình như những bữa ăn gây quỹ hàng năm trong nhiều năm qua tại Houston do Ủy ban Yểm trợ các Nhà Đấu tranh Dân chủ trong nước thực hiện; hoặc Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam  từ nhiều năm nay đã tổ chức các buổi lễ vinh danh và trao giải Nhân quyền Việt Nam hàng năm cho một số nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước và đã bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt cầm tù; mới đây nhất, là quyết định trao Giải Nhân quyền Việt Nam năm 2014 cho Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, người bất đồng chính kiến vừa được nhà cầm quyền Việt Nam “cho tạm ngưng thi hành” bản án tù 12 năm về tội tuyên truyền chống chế độ và trục xuất thẳng từ nhà tù ra khỏi nước.

Nhớ lại 37 năm trước đây (1977-2014), sau khi Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm Hiệp định Paris ngày 27-1- 1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, chúng tôi và một số anh em khác cùng chung lý tưởng, đã sớm thành lập Mặt trận Nhân quyền Việt Nam (MTNQVN) trong ý hướng trường kỳ đấu tranh bằng vũ khí nhân quyền, cho mục tiêu chống độc tài, dân chủ hoá đất nước, phù hợp với chiều hướng chiến lược quốc tế mới, hậu “Chiến Tranh Lạnh”, của các cường quốc.

Đúng vào ngày này của 37 năm về trước, MTNQVN đã công bố Tuyên ngôn Nhân quyền Việt Nam năm 1977 đúng vào ngày 10-12-1977 là ngày bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền  được Đại Hội đồng LHQ thông qua. Phần mở đầu của bản tuyên ngôn này đã viết như sau

“Khẳng định rằng, con người sinh ra có quyền sống và phải được sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của một con người.

Sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của một con người, là con người không phải chỉ sinh ra để được sống như một con vật mà còn có nhu cầu khẩn thiết hơn là phải được sống và sống tự do.

Sống tự do là mọi người, không phân biệt sắc tộc, giai tầng xã hội, phải được tôn trọng, bảo vệ và hành xử những nhân quyền căn bản đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Hiến chương Liên Hiệp Quốc: Quyền tự do chính trị, tự do kinh tế, tự do cư trú và vãng lai, tự do tư tưởng bao gồm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn luận v.v….

“Bởi vì tự do và con người là một thực thể bất khả phân, có con người là phải có tự do, thiếu nó con người sẽ sống trong lo âu, sầu tủi và nhân phẩm bị hạ thấp ngang tầm loài vật.

Tiếc thay, một dân tộc đã và đang phải sống ngang tầm loài vật: Đó là dân tộc Việt Nam. Bởi vì dân tộc này đã và đang phải sống dưới chế độ độc tài toàn trị của những người Cộng sản Việt Nam, dưới chế độ này mọi nhân quyền và dân quyền căn bản đã bị chà đạp và tước đoạt.

Vì vậy, Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam khẩn thiết tố cáo trước công luận thế giới và bầy tỏ quyết tâm đấu tranh đến cùng cho các nhân quyền và dân quyền căn bản sau đây phải được tôn trọng, bảo vệ và  thực thi tại Việt Nam:…”

Những dòng cuối cùng của Bản Tuyên ngôn viết:

“…Như một quy luật, ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh; và rằng một chế độ thiết lập bằng bạo lực, duy trì bằng bạo lực, như chế độ độc tài đảng trị đương thời tại Việt Nam, thì sớm muộn cũng sẽ bị hủy diệt do tự bản chất và do sức mạnh vùng lên của những con người bị áp bức, bóc lột.”

Tựu chung, dù thực tế có thế nào chăng nữa, thì Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền vẫn  mang giá trị vĩnh cửu. Vì đó là chân lý muôn thuở của loài người, có giá trị qua mọi thời đại, vượt không gian và thời gian. Tuy nhiên, ngày nào LHQ và các cường quốc không có những biện pháp chế tài hữu hiệu, vẫn sẽ không ngăn chặn được các chế độ độc tài vi phạm tự do, dân chủ và nhân quyền trên thực tế, là vi phạm Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền vậy.

Điển hình là Cộng sản Việt Nam, sở dĩ vẫn ngang nhiên tiếp tục các hành vi đàn áp tôn giáo, tiêu diệt đối lập chính trị và các nhân quyền căn bản như từ bao lâu nay, chính là vì thực tế Hoa Kỳ nói riêng, và cộng đồng quốc tế nói chung, có thể vì những lợi ích và toan tính khác, nên chưa có những biện pháp chế tài triệt để, hữu hiệu và chưa thể hiện quyết tâm thực hiện các nguyên tắc và các điều khoản của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, vì lợi ích của nhân loại nói chung, nhân dân các nước sống dưới ách các chế độ độc tài nói riêng.

Thiện Ý

Ngày 10 tháng 12 năm 2014.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

 

Thế giới 24h: Tàu ngầm bí ẩn làm NATO phát sốt

11 Th12

 

– Một loạt nước tham gia cuộc săn lùng tàu ngầm bí ẩn xuất hiện ở gần Anh; Nhà cung cấp vũ khí số 1 của Mỹ tiết lộ một cơ sở sản xuất mật… là các tin đáng chú ý trong 24 giờ qua.

Nổi bật

Các máy bay tuần tra của NATO đã giúp Anh lùng sục vùng biển ngoài khơi bờ biển phía tây Scotland, sau khi kính viễn vọng của một tàu ngầm được phát hiện. Giới truyền thông cho hay, cuộc truy lùng này gợi nhớ thời Chiến tranh Lạnh.

tàu ngầm, bí ẩn, nước Anh, truy lùng, NATO

Bộ Quốc phòng Anh cho biết đã nhận được sự giúp đỡ của NATO trong một chiến dịch, song từ chối nêu chi tiết, Reuters đưa tin.

Thông tin về chiến dịch truy lùng này được Tạp chí Hàng không đưa tin đầu tiên. Chiến dịch tìm tàu ngầm bí ẩn diễn ra trong lúc căng thẳng giữa các cường quốc phương Tây và Nga tăng cao do cuộc khủng hoảng Ukraina.

Theo Tạp chí Hàng không, một chiếc kính viễn vọng đã xuất hiện ở vùng biển, nơi các tàu ngầm của hải quân hoàng gia Anh thường nổi lên, khi họ ra hoặc vào một căn cứ ở Faslane, nơi đặt lá chắn hạt nhân của Anh.

Tạp chí này cho biết, máy bay của Pháp, Mỹ, Canada đã tham gia cuộc tìm kiếm hồi cuối tháng trước và đầu tháng này.

Anh không có máy bay chuyên về tuần tra trên biển, kể từ khi hủy chương trình Nimrod như một phần của việc xét lại vấn đề phòng thủ vào năm 2010.

Tin vắn

– Các nhà thương thuyết tại Quốc hội Mỹ đã công bố dự luật kế hoạch chi tiêu 1,1 nghìn tỷ USD nhằm tránh cho chính phủ phải đóng cửa và chuyển cuộc đối đầu về vấn đề di cư giữa đảng Cộng hòa và Tổng thống Obama tới tháng 2.

– Nga đã bày tỏ lo ngại về hành vi của các nhà lãnh đạo Đức, đồng thời cảnh báo châu Âu sẽ bị ảnh hưởng, nếu Berlin chấm dứt vai trò xây dựng trong mối quan hệ giữa Moscow và phương Tây.

– Quân đội Pakistan vừa tiêu diệt 11 chiến binh trong một cuộc không kích tại khu vực bộ lạc gần biên giới Afghanistan.

– Một tòa án của Các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất (UAE) đã kết tội 11 nam giới, trong đó có công dân của UAE, Syria và Comoros, vì giúp thành lập một chi nhánh của al-Qaeda và phái chiến binh tham gia các nhóm nổi loạn tại Syria.

 

– Con tin bị bắt cóc cuối cùng ở nước ngoài của Pháp đã trở về quê hương sau 3 năm bị giam cầm. Tổng thống Pháp Francois Hollande đã chào đón người này, đồng thời cảnh báo công dân không đi tới những khu vực có nguy cơ cao.

– Người đàn ông giàu nhất nước Nga Alisher Usmanov đã mua chiếc huy chương Nobel được bán đấu giá của nhà khoa học Mỹ bị công chúng xa lánh James Watson. Usmanov cho biết, ông dự định trao lại chiếc huy chương cho chủ nhân của nó.

– Lockheed Martin – nhà cung cấp vũ khí số 1 của Lầu Năm Góc, đã buộc phải dỡ bỏ tấm màn che về một đơn vị chế tạo vũ khí bí mật của hãng, dưới sức ép khốc liệt phải dành những đơn hàng mới và bảo vệ nhãn hiệu trong bối cảnh ngân sách quân sự sụt giảm.

– Malala Yousafzai, một thiếu niên người Pakistan bị Taliban bắn vì không chịu bỏ học và nhà hoạt động Ấn Độ Kailash Satyarthi đã nhận giải Nobel hòa bình.

– Một bộ trưởng nội các Palestine đã bỏ mạng ngay lập tức, sau khi bị cảnh sát Israel bắn hơi cay vào người tại một cuộc biểu tình ở Bờ Tây hôm 10/12.

Tin ảnh

tàu ngầm, bí ẩn, nước Anh, truy lùng, NATO
Nga trưng bày hệ thống phòng không trong bối cảnh căng thẳng với phương Tây về Ukraina. (Ảnh: Reuters)

Phát ngôn

Khi chúng ta gây ra lỗi, chúng ta thừa nhận điều đó“, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói, quyết định công bố bản báo cáo về việc CIA tra tấn các nghi phạm al-Qaeda là một bước quan trọng trong tiến trình đảm bảo rằng, những hành động như vậy sẽ không bao giờ tái diễn, và Mỹ sẵn sàng nhận lỗi.

Sự kiện

11/12/1946: Sau Thế chiến 2, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bỏ phiếu thành lập Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF). Đây là một tổ chức cứu tế và hỗ trợ trẻ em ở những nước bị chiến tranh tàn phá.

11/12/1941: Adolf Hitler tuyên chiến với Mỹ, đưa Mỹ – một quốc gia trung lập, vào cuộc xung đột châu Âu.

Hoài Linh

 

%d bloggers like this: