Lưu trữ | 7:51 Sáng

NGUYỄN QUANG LẬP VIẾT VỀ PHẠM NGỌC TIẾN – BS

22 Th12

 

Posted by adminbasam on 21/12/2014

Trần Kỳ Trung

20-12-2014

H1

Ngoài viết tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản điện ảnh, truyền hình, kịch bản sân khấu… nhà văn Nguyễn Quang Lập còn viết chân dung bằng giọng văn hóm hỉnh, lạ  về những người bạn văn thân thiết với tiếng cười không lẫn vào đâu được. Hỏi một nhà văn tôi quen biết, được nhà văn Nguyễn Quang Lập “vẽ” chân dung, có đúng thế không? Người đó cười ngất, không phải thế đâu, nhưng đúng chất của tôi, đọc lên thấy mình ” đẹp” hơn ngoài đời.

Tôi nghĩ, nhà văn đó không nói dối, bởi đọc văn của Nguyễn Quang Lập, dù đó là “vẽ” chân dung của một người bạn thân ta cũng thấy đầy ắp tình người, thương nhau, hết lòng vì nhau, sống không giả dối, trong và sáng đến tận cùng trong từng con chữ…

Mời các bạn đọc lại một chân dung nhà văn mà nhà văn Nguyễn Quang Lập đã tả…

Hôm nay nhận được cái message yêu cầu accept của thằng Phạm Ngọc Tiến, nó bảo mày xếp cho tao ngồi trên đầu thằng Nguyên nhé! Mình cười phì, nó cứ tưởng mình có thể sắp xếp được friends list, nhắn lại: ngu ơi, yahoo 360 không sắp được thứ tự friends list đâu. Nó nhắn: ok chấp nhận ngu lâu. Bỗng nhiên muốn viết về nó.

Thằng này có cái mạng không nổi tiếng, văn chương phim ảnh giải nọ giải kia thế mà ít ai nhắc đến nó. Văn có Họ đã trở thành đàn ông, Tàn đen đốm đỏ, Đợi mặt trời… Phim có Chuyện làng Nhô, Đường đời…thế mà lớp trẻ ít ai chịu nhớ tên nó.

Mình giới thiệu nó với tụi học trò, toàn cử nhân, thạc sĩ văn khoa cả,thế mà nghe tên Phạm Ngọc Tiến cứ ngơ ngơ như bò đội nón. Một đứa đập tay kêu a cái chú đầu trọc phải không? Chán mớ đời.

Chẳng bù cho mình, cái mạng nổi tiếng, động cái gì là thiên hạ bàn tán ầm ầm. Ra Hà Nội mua cái Charly cho vợ cũng nổi tiếng, bị một thằng mất dạy đập cho sưng mặt cũng nổi tiếng. Nhiều khi đến nhục.

Thằng Tiến nói tao còn nhục hơn mày. Mình bảo sao, nó bảo viết văn làm phim không ai biết, đến khi bị tiểu đường phát là cả nước ai ai cũng nhắc, đàn bà con gái biến sạch, nhục thế không biết.

Triển lãm tranh thằng Lê Thiết Cương, nó ôm vai Phú Quang giới thiệu với mấy em chân dài, nói ông này là chủ tịch Hội đái đường Việt Nam, tôi là phó chủ tịch. Phú Quang ngượng, nói ông này nói gì thế. Nó nói tôi nhờ đái ra đường mà nổi tiếng, ông phải cho tôi PR chứ.

Hồi còn trẻ nó say sưa tối ngày, sà vào mâm ruợu nào không say không bỏ cuộc. Nhiều khi nghĩ mãi không ra, không biết thằng này viết láchkhi nào mà sách vở, phim trú ra ầm ầm.

Có hôm 8 giờ tối mình gọi về nhà nó, gặp vợ nó, nói cho anh gặp Tiến cái. Vợ nó nói dỗi: Nhà em sao về sớm thế anh. Mình kể cho nó nghe, nó cười hẻ hề , nói dỗi hờn là trách nhiệm và nghĩa vụ của đàn bà, mày lo cái gì.

Nói thế chứ yêu vợ con đến chết. Mình nhớ hôm đầu tiên nó đưa đến nhà nó, đến cổng nó bảo mày đứng đợi tao ở đây, tao ra chợ kiếm đồ mồi, cấm không được vào nhà nghe chưa. Mình hỏi sao, nói nói mày vào chẳng may vợ tao yêu mày phát, có phải chết tao không. Mình cười, nói nàỳ, tao kể cho vợ mày nghe chưa. Nó chắp tay vái, nói Lão Phật gia tao đó, mày nói tối nay nó vặt hết lông tao.

Buổi tối ra phố mua sữa cho con Ngọc, mua xong thì gặp bạn, uống đến say tít, vùng đứng dậy nói chết chết tao phải về cho con Ngọc uống sữa. Loạng choạng phi xe ra, ngã, tài liệu, tiền bạc rơi tứ tung không nhặt, nó cứ loạng quạng mò mẫm, nói hộp sữa con tao đâu, hộp sữa con tao đâu.

Được giải A giải thưởng Hội nhà văn cuốn Họ đã trở thành đàn ông, hồi đó được 3 triệu, mừng lắm, ôm tiền khư khư, cười khè khè, nói bố mày phải đem về cho vợ đổi cái xe, chúng mày đừng có gạ bố mày uống nghe chưa.

Nói thế nhưng vẫn kéo nhau vào quán, uống say, cái tính hễ say đem tiền ra phát chẩn, chạy hết nhà này sang nhà khác, gặp con nít cứ dúi tiền ào ào, nói bác được giải thưởng bác cho, giải Hội nhà văn to lắm, lo gì, lấy đi lấy đi. Sáng mai tỉnh dậy sờ túi chẳng còn đồng nào, mặt đực như ngỗng ỉa, nói thôi bỏ mẹ rồi, vợ mình hết đường đổi xe.

Nó đóng cửa cày một tháng, quyết làm cho được cái phim Chuyện làng Nhô, lấy tiền đổi xe cho vợ. Ai gọi nhậu thì mắng bố mày đang ân hận đây, đừng có rủ rê, yên cho bố mày tạ tội Lão phật gia.

Từ ngày bị tiểu đường nó hết uống, nhà nó thằng em chết vì tiểu đường, nó sợ là phải. Nó ngồi với bạn cứ ngơ ngơ, nói cười nhạt nhạt, tội tội làm sao a.

Trước đây ngày nào cũng gặp nó, bây giờ cả quí không thấy mặt, phần thì tiểu đường kiêng khem không nhậu nhẹt gì, phần thì mua cái xe ô tô, bận rộn đưa đón vợ con suốt ngày. Ngồi chưa nóng chỗ đã đứng dậy, nói chết chết tao đi đón vợ đây, chết chết tao đi đón con bé đây.

Thằng Việt Hà nói ngu, đã làm văn nô bây giờ còn làm gia nô, có khổ không? Nó cười, nói đúng đúng từ ngày cưới vợ, viết văn đời tao từ ngu trở lên. Ngu nhất là lỡ yêu chúng mày.

Anh Đỉnh nói thằng Tiến nói thế thôi, không có bạn nó chết bất đắc kì tử. Nó nghe nói thế lại quăng cặp ngồi thừ.

Đôi khi điên lên, cầm li bia hùng hổ nói uống phát chết thì thôi, gặp bạn bè không uống còn ra cái đéo gì. Bảo Ninh lườm, nói thôi đi ông ơi, ông chết không ai nuôi vợ con ông đâu. Nó lại đặt cái li xuống, nói ừ nhỉ. Rồi mặt đực ra, cười cái xoẹt, mắt ươn ướt nước.

Mọi người uống bia, nó uống nước suối, nói cười như không, nhưng nhìn kĩ thì biết cái vẻ đắng cay của người lâm nạn. Mọi người an ủi, nó xua tay cườì hề hề, nói nhờ tiểu đường mà tao được vợ con phong cho người cha ưu tú, người chồng nhân dân. Nghe cái giọng nó như sắp khóc.

Mọi người nhìn nó bùi ngùi, nó trợn mắt quát nhìn cái gì, tao đang ngồi nhớ thời huy hoàng say của tao.

Thời huy hoàng say của nó thì nhiều chuyện lắm. Nhớ nhất hôm buổi sáng nhận giải A Hội nhà văn Hà Nội cuốn Tàn đen đốm đỏ, buổi chiều nhận giải A Nhà xuất bản Kim Đồng cuốn Đợi mặt trời, uống say nhừ tử, loạng quạng đi về, dúi tiền cho vợ rồi vào nhà tắm. Tắm xong, quên mặc áo quần, cứ thế trần truồng đi ra.

Gặp lúc hai cô bạn vợ đến chơi đang ngồi phòng khách, vợ nó đang làm gì dưới bếp. Hai cô nhìn thấy nó thế thì mặt đỏ tía tai nhưng không dám nói. Nó cứ như không rót nước pha trà mời, hai cô nói thôi thôi anh vào nhà đi, mặc tụi em. Nó nói không được, vợ vắng thì chồng phải tiếp chứ, cứ thế nói nói cười cười đi đi lại lại.

 

Vợ nó ra, hét lên trời ơi quần áo anh đâu. Nó nhìn xuống sững người, nói sao thế này nhỉ? Xưa nay ngoài em ra, có đứa nào dám cởi quần anh…     

 

Thư ngỏ gởi bà Nguyễn Thụy Nga – BS

22 Th12

 

Posted by adminbasam on 22/12/2014

VNTB

22-12-2014

VNTB: Chúng tôi nhận được lá thư ngỏ dưới đây do một cách mạng lão thành ở Đà Lạt gửi đến, phản bác bức thư đăng tải công khai gần đây của bà Nguyễn Thụy Nga chỉ trích nặng nề đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôn trọng sự thật khách quan và bảo đảm tính công bằng về các sự kiện lịch sử, BBT VNTB xin đăng nguyên văn lá thư ngỏ của tác giả Hàn Vĩnh Diệp.

——————–

Hàn Vĩnh Diệp

Đơn kiến nghị của bà gởi các cán bộ lãnh đạo Đảng – Nhà nước – Quốc hội vêề những vấn đề lý lịch Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp; nhưng không biết từ nguồn nào mà được phát tán rộng rãi trên các trang mạng, tư liệu truyền tay v.v… Nhiều công dân là người hưu trí, dân thường, học sinh sinh viên … mà tôi đã được tiếp xúc, trao đổi đều rất bất bình, chê trách bà đã viết những nội dung ấy (dựa trên những lời thầm thì riêng tư của ông Lê Duẩn) nhằm bôi xấu thần tượng Võ Nguyên Giáp trong lòng nhân dân ta và những người có lương tri trên thế giới. Chúng tôi đã đọc vài lần bài viết của bà, xin được có mấy cảm nghĩ.

1. Trước hết, xin lỗi bà, chúng tôi đã dùng từ vợ bé vì trong dân gian gọi vợ bé, vợ lẽ là những người vợ không phải là vợ chính thất; vả lại, trong dư luận thì không biết chồng bà có bao nhiêu người vợ nữa, liệu bà đã phải là vợ hai chưa? (Trong đám tang ông Lê Duẩn, mọi người đều thấy có mấy bà đội mũ tang sau bà chính thất!). Cho nên, cách gọi như vậy chắc cũng không có gì là không phải; mong bà bỏ quá cho.

2. Những nội dung bà đề cập đến trong bài viết đều hoàn toàn không có gì mới (trừ một chi tiết sẽ nói sau). Những luận điệu này đều là của những kẻ xấu bụng, những người ganh ghét với uy danh, tài trí, đức độ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (như Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh, Trần Quỳnh, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh Bình, Đặng Đình Loan, Nguyễn Bắc Son v.v…) tung ra.

Lợi dụng diễn đàn hội nghị TWĐ 12 khóa 6, họ đã tung ra bản báo cáo tuyệt mật để vu khống trắng trợn và kết tội Đại tướng TTL (báo cáo tuyệt mật này tuy không được BCH TW phê duyệt nhưng họ vẫn cho lưu hành đến cấp Tỉnh ủy và tương đương). Đại tướng TTL và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp đã phản bác tất cả những điều vu khống trên (trong bài viết của bà đã sao chép nguyên văn bài báo cáo tuyệt mật này) và yêu cầu TWĐ điều tra, làm rõ vụ việc, công khai đưa ra trước đại hội VII để đại hội khẳng định đúng, sai; nếu Đại tướng TTL không có những điều vu khống nhơ nhớp đó thì phải truy tội những người đã cố tình đặt điều, lợi dụng quyền lực phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, Nhà nước … Bị đẩy vào thế cùng, họ bịa ra vụ án chính trị “Năm Châu – Sáu Sứ” vu khống Đại tướng TTL và mội số tướng lĩnh, cán bộ cao cấp tội âm mưu lật đổ. Vụ việc đã được Ban chuyên án, đứng đầu là tướng Võ Viết Thanh (Thứ trưởng bộ công an) làm rõ là hoàn toàn bịa đặt, vu khống hèn mạt. Đại hội VII Nguyễn Văn Linh tảng lờ không giải quyết, đùn đẩy cho các đại hội sau. Chính thái độ cố tình vô trách nhiệm của các Đại hội Đảng 7, 8 … và những người đứng đầu Đảng thời bấy giờ đã tạo cơ hội cho bọn có lòng dạ đen tối, nham hiểm trên và tay sai của chúng tiếp tục làm cái việc nhơ bẩn bôi bác thanh danh Đại tướng TTL.

Còn cái chi tiết chúng tôi coi là mới của bà đưa ra trong hàng đống vụ việc vu khống của chúng là lời nói của cậu con út của bà mà bà dùng làm căn cứ để kết tội Đại tướng TTL đã “cướp công”  của chồng bà về mệnh lệnh nổi tiếng “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa” trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Một đứa trẻ con chẳng hiểu mô tê ất giáp gì nghe được lõm bõm chuyện người lớn (cứ cho là nó đã được nghe các cụ bàn chuyện!), sau bao nhiêu năm thuật lại, người trí não bình thường ai mà tin được lời nó nói! Một khía cạnh khác, tòa biệt thự ông Lê Duẩn ở đâu nghèo nàn đến nỗi phòng tiếp khách đồng thời là phòng ngủ? Ông Lê Duẩn, một chính trị gia tầm cỡ, sao mất cảnh giác đến mức khi bàn chuyện quốc gia đại sự tuyệt mật lại để người nhà nghe?

Sự kiện này thật ra đã diễn tiến như sau: Sáng ngày 31/3/1975 Bộ chính trị họp mở rộng bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đại tướng TTL thay mặt Tổng quân ủy – bộ Tổng tư lệnh báo cáo tình hình và phương hướng, sách lược bước tiếp theo. Đại tướng nhấn mạnh: “Thời cơ lớn đã xuất hiện … Đánh một trận là giành thắng lợi. (…) Phương châm phải bám chắc là Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng.” Sau khi hội nghị thảo luận và nhất trí hoàn toàn báo cáo của Tổng quân ủy, ông Lê Duẩn đã điện cho các chiến trường quyết định của Bộ chính trị. Trong bức điện, ông đặc biệt nhấn mạnh phương châm hành động “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ.” Ngày 07/4/1975 Đại tướng TTL ra mệnh lệnh! “Thần tốc, thần tốc hơn nữa – Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.” Chỉ thị của Bộ chính trị do ông Lê Duẩn ký và mệnh lệnh chiến đấu do Tổng tư lệnh ký, đó là điều đương nhiên, sao có chuyện tranh giành?

Theo kế hoạch tiến đánh Sàigòn, các cánh quân sẽ đồng loạt nổ súng vào 5 giờ 30 sáng 30/4/1975. Nhưng do diễn biến của tình hình, tướng Lê Trọng Tấn tư lệnh cánh quân phía Đông xin được nổ súng trước, 18 giờ ngày 29/4/1975. Nửa đêm, Đại tướng TTL và cục trưởng cục tác chiến Lê Hữu Đức đến nhà ông Lê Duẩn đề nghị chuẩn y cho cánh quân phía đông nổ súng trước. Ông Lê Duẩn rất tán thành. Theo hồi ký của Đại tướng TTL (và có sự khẳng định đúng của tướng Lê Hữu Đức – Hồi ký), Đại tướng TTL hỏi: “Điện ký tên Anh chứ ?” Ông Lê Duẩn trả lời: “Không! Anh là Tổng tư lệnh, ký tên anh”. Sau đó, ông nói thêm: “ Ký thêm tên tôi cũng được, hoặc nói rõ đã trao đổi với anh Ba và anh Ba nhất trí”. Về cơ quan, Đại tướng TTL điện trả lời ngay cho tướng Lê Trọng Tấn đồng điện cho ông Văn Tiến Dũng. Trên cương vị Tổng tư lệnh chỉ huy toàn bộ cuộc chiến, Đại tướng TTL rất quyết đoán; nhưng với ý thức tôn trọng tổng bí thư, nên đã tranh thủ ý kiến trước khi ra lệnh. Việc làm như vậy là hết sức đáng kính phục, sao bà lại nghe đứa con nít để vu vạ cho Đại tướng TTL “cướp công”.

3. Đọc văn bản này của bà, chúng tôi có cảm nghĩ: hình như người ta viết rồi đưa cho bà ký tên hoặc bà viết theo gợi ý của người ta (!?) Đọc hồi ký của bà (Xuân Ba ghi – thể hiện), chúng tôi thấy cuộc đời tư của bà thật éo le, đáng thương. Thời gian bà được sống gần ông Lê Duẩn (từ 1956 về sau) không nhiều, do sự đố kỵ của các con bà lớn; ông Lê Duẩn không giải quyết được sự xô xát trong gia đình để bảo vệ bà. Vì vậy, tuy hòa bình, có điều kiện sum họp với chồng con, bà vẫn phải sống xa cách chồng con. Ông bà đâu có nhiều thì giờ để trò chuyện riêng tư, để chồng bà tiết lộ những bí mật về quan hệ trong nội bộ Đảng, Nhà nước … nói chung và đối với các cá nhân (như Bác Hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh …) nói riêng. Còn tư liệu riêng của ông Lê Duẩn thì chắc các con bà lớn giữ chứ bà làm sao có được?

Giá như, trước khi viết hoặc ký vào văn bản trên, bà đã tham khảo các hồi ký chính trị của các tướng lĩnh như Trần Văn Trà, Hoàng Minh Thảo, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Lê Hữu Đức, …, của Hoàng Tùng, Hoàng Đạo Thúy …, các bài phản bác Trần Quỳnh của Nguyễn Trần Thiết, Trần Nhật Độ, Phạm Chí Dũng… thì chắc bà không cho lưu hành văn bản trên.

4. Bản “đơn kiến nghị” của bà, một lần nữa đã làm suy giảm uy tín của ông Lê Duẩn trong công luận xã hội. Chắc bà còn nhớ, khoảng năm 1984, ông Lê Duẩn đã chỉ đạo, hướng dẫn nhà báo Thép Mới viết ký sự “Thời đánh Mỹ”, (đăng nhiều kỳ trên báo Nhân dân) nhằm tụng ca công lao vĩ đại của ông Lê Duẩn, linh hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước! Bài báo đăng được vài kỳ, gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của công luận cả nước; cho nên mới đăng được vài kỳ thì báo Nhân Dân không dám đăng tiếp! Cũng vào thời gian này, ông Lê Duẩn đã vào Sàigòn tổ chức nói chuyện trực tiếp với cán bộ cao cấp chính trị, quân sự các tỉnh phía Nam. Kết quả hoàn toàn ngược lại, nếu trước đây, nhiều người trong số cán bộ này hết sức kính phục, tôn trọng ông Lê Duẩn thì sau buổi nói chuyện ấy lòng tin yêu của họ đối với ông bị sứt mẻ, đổ vỡ.

Xưa nay, không phải chỉ ở nước ta, công luận xã hội không bao giờ chấp nhận chuyện một người đi nói xấu sau lưng người khác, nhất là người ấy đã từng là đồng chí, cộng sự của mình; và không bao giờ đánh giá tốt một người chồng (hoặc vợ) là cán bộ phụ trách hay cán bộ thường đem chuyện riêng bí mật trong nội bộ cơ quan, đơn vị nói với vợ (hoặc chồng, con cái) trong nhà. Ông Lê Duẩn, cho dù có đem chuyện mà ông cho là xấu về Đại tướng TTL và những lãnh tụ, chiến hữu khác nói với bà thì bà nên giữ kín trong lòng chứ không nên phô ra, chỉ làm tổn hại uy tín của ông Lê Duẩn và bà.

Chúng tôi không đi sâu trình bày những chi tiết trong bài viết của bà (kể cả những vấn đề xem ra khá ấu trĩ, ngây thơ về nhận thức như: Nguyên tắc cao nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ “đánh chắc thắng” do Bác Hồ và thường vụ TWĐ (tức Bộ chính trị) đề ra với việc thay đổi phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh – thắng nhanh” sang “đánh chắc – tiến chắc” và vai trò của cố vấn Trung quốc trong chiến cuộc Điện Biên Phủ; vai trò, vị trí của Bí thư Tổng quân ủy – Tổng tư lệnh trong toàn cuộc chiến Mùa xuân 1975; vai trò ông Văn Tiến Dũng trong chiến dịch ấy v.v…) bởi, đã có quá nhiều tư liệu xác đáng viết về những điều ấy.

Việc Bộ chính trị, TWĐ, Nhà nước, Quốc hội đã quyết định tổ chức quốc tang trọng thể (vượt lên trên sự quy định của Nhà nước) Đại tướng TTL là sự mặc nhiên thừa nhận công tích đặc biệt của Người và hàng vạn vạn người dân đủ cả các tầng lớp đến viếng và tiễn đưa Người; từ ngày Đại tướng TTL mất, hàng ngày có hàng trăm, ngàn người dân cả nước đến viếng mộ Người là sự đánh giá chân xác nhất của ý chí, niềm tin của tuyệt đại bộ quần chúng nhân dân cả nước; là một sự thật lịch sử đúng đắn nhất không ai có thể xuyên tạc, bóp méo.

Trân trọng kính chào bà.

   Hàn Vĩnh Diệp

  (Cán bộ hưu trí ở Đàlạt)

Mời xem lại: Đơn kiến nghị của vợ hai cố TBT Lê Duẩn gửi 16 UV BCT, về ông Võ Nguyên Giáp   —   Vài suy nghĩ về “Đơn kiến nghị” của vợ cố TBT Lê Duẩn gửi 16 UVBCT về ông Võ Nguyên Giáp   —  Người thân của cố TBT Lê Duẩn: Dựa hơi? (Ba Sàm).

 

Vì sao Bọ Lập bị tạm giam? – BS

22 Th12

 

Posted by adminbasam on 22/12/2014

Bình Luận Án

LS Trần Hồng Phong

20-12-2014

Hơn 10 ngày qua, dư luận trong và ngoài nước đưa tin và quan tâm đến việc nhà văn Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập), bị tạm giam và điều tra về hành vi liên quan đến tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – theo điều 88 Bộ luật hình sự. Việc tạm giam Bọ Lập dựa theo căn cứ nào?

H1

Nhà văn Nguyễn Quang Lập trong một lần xuống đường cùng mọi người phản đối Trung Quốc có hành vi xâm lấn lãnh thổ Việt Nam.

Bọ Lập là một nhà văn nổi tiếng và được hàng triệu người yêu mến, trong đó có tôi. Thậm chí đối với tôi, còn là sự QUÝ TRỌNG.

Bọ Lập là chủ trang blog Quechoa rất nổi tiếng, với hàng trăm ngàn lượt đọc mỗi ngày. Theo thông tin trên báo chí, được biết mấy ngày trước ông đã bị Cơ quan điều tra tống đạt quyết định khởi tố bị can để điều tra, truy tố về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – theo điều 88 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Cùng đó là quyết định phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 4 tháng của Viện kiểm sát đối với ông.

Trong bài viết ngắn này, tôi không bàn tới chuyện tình cảm, hay lòng quý trọng đối với Bọ Lập, mà muốn chia sẻ thông tin về mặt pháp luật, về thủ tục tố tụng hình sự, xung quanh việc tạm giam Bọ Lập.

Trước hết, tạm giam là một trong những “biện pháp ngăn chặn” trong tố tụng hình sự, không chỉ Việt Nam mà hầu như tất cả các nước trên thế giới đều có quy định. Tạm giam không phải là hình phạt và chỉ áp dụng trong những trường hợp thật sự cần thiết và phải đúng với quy định của pháp luật hình sự.

Theo Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) về các biện pháp và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn thì:

“Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”.

Thông thường, trước khi bị tạm giam, người có dấu hiệu phạm tội có thể bị tạm giữ. Về thời hạn tạm giữ, điều 87 BLTTHS quy định như sau:

“Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày”.  

Như vậy, có thể thấy thời hạn tạm giữ cao nhất (đã được gia hạn) là không quá 9 ngày. Chính vì vậy, mà có tin nói Bọ Lập khi bị công an dẫn đi đã dặn vợ rằng: “Nếu sau 9 ngày mà không về thì 3 năm”. Tức là ông đã “nghiên cứu” và hình dung ra phần nào tình huống của mình.

Điều 88 BLTTHS quy định về tạm giam như sau:

1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Như vậy, theo lẽ thông thường thì do đang có nhiều bệnh tật, Bọ Lập không thể bị tạm giam. Tuy nhiên, vì cơ quan điều tra cho rằng Bọ lập có hành vi “phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia” – nên họ đã đề nghị tạm giam Bọ Lập.

Thời gian vừa qua, tại Việt Nam đã có nhiều người bị truy tố và kết án về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” – theo điều 258 BLHS.

Điều đáng nói là “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” được xếp vào nhóm “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” – nhìn chung được xác định là ít nghiêm trọng, ít “nguy hiểm” hơn (đối với Nhà nước CHXHCNVN) so với nhóm tội Xâm phạm an ninh quốc gia.

Theo Điều 88 Bộ luật hình sự, tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thuộc nhóm “Các tội xâm phạm an ninh Quốc Gia” – và đây là trường hợp của Bọ Lập.

Nói tóm lại, nếu căn cứ theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, thì việc Bọ Lập bị bắt tạm giam là có căn cứ, chứ không hẳn là bắt bừa, bắt ẩu.

Tất nhiên, chúng ta cần biết là về nguyên tắc, thì hiện nay nhà văn Nguyễn Quang Lập chưa/không có tội. Chưa có bản án nào của tòa án có thẩm quyền phán quyết ông phạm  tội. Điều này được quy định trong Hiến Pháp.

Liệu Bọ Lập có phạm tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” hay không – chúng ta cần phải chờ và mong mỏi một phiên tòa xét xử công khai, khách quan và công bằng.

Ps. Xin nói thêm là trước đây khi còn là phóng viên ở báo Pháp luật TP.HCM, tôi từng có bài viết “Tạm giam đang bị lạm dụng”.

———————
 
Quy định tại Bộ luật hình sự:
 
Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 15/12-21/12 – NCBĐ

22 Th12

 

Thứ hai, 15 Tháng 12 2014 09:34 dinh tuan anh

inShare0

-(Infonet 18/12) Xung đột vũ trang sẽ nổ ra ở Biển Đông vào năm 2015?: Một cuộc xung đột vũ trang giữa Trung Quốc với một hoặc nhiều quốc gia Đông Nam Á liên quan tới tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông có khả năng xảy ra với tỷ lệ 50 – 50 vào năm 2015; (PetroTimes 18/12) Trung Quốc “bắt cá nhiều tay”

-(DT 18/12) Xa lánh Trung Quốc, Triều Tiên xích lại gần Nga?: Ngày 17/12, Triều Tiên kỷ niệm lần thứ 3 ngày mất của cố lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il. Điều đặc biệt trong lễ kỷ niệm lần này là không có một đại diện nào của Trung Quốc đến tham dự lễ kỷ niệm; (TT 17/12) Philippines mua tàu chiến và máy bay đề phòng Trung Quốc

-(TN 17/12) Trung Quốc trang bị súng gây bỏng cho tàu tuần tra biển Đông?: Trung Quốc đã phát triển một loại súng không sát thương bắn ra vi sóng như trong lò vi ba vào cơ thể, gây ra cơn đau dữ dội và có thể sẽ trang bị cho các tàu tuần tra hoặc dùng để giải tán biểu tình; Tướng Philippines: ‘Trung Quốc đang gây hại cho toàn thế giới’

-(GD 17/12) Mỹ sẽ nâng cấp 2 phiên bản tàu tuần duyên Freedom và Independence: Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã phê chuẩn kế hoạch nâng cấp đối với thiết kế tàu tuần duyên (LCS) Hải quân Mỹ dùng để tác chiến trên mặt nước; “Tham vọng Tập Cận Bình độc chiếm Biển Đông mới là thách thức chính!”

-(ANTĐ 16/12) Trung Quốc triển khai tàu tuần tra biển lớn nhất thế giới vào năm 2015: Chiếc tàu này có tên Haijing 2901, lớn hơn bất kì tuần tra biển nào của Nhật Bản và sẽ là con tàu tuần tra lớn nhất thế giới khi nó được đưa vào sử dụng; (RFI 16/12) Trung Quốc trang bị súng bắn tia vi ba cho tầu tuần tra ở Biển Đông?

-(VNN 15/12) QH Mỹ thắt chặt giám sát hành động TQ ở Biển Đông: Quốc hội Mỹ vừa thông qua một điều khoản yêu cầu Bộ Quốc phòng báo cáo thường xuyên về động thái của Trung Quốc tại Biển Đông và biển Hoa Đông; (KT 15/12) Trung Quốc khó dự đoán: Mỹ tăng cường hiện diện Biển Đông?

-(Plo 15/12) Mỹ nên công bố sách trắng về biển Đông: Mỹ cần củng cố chính sách nhấn mạnh luật pháp là nền tảng của ổn định bằng cách công bố sách trắng toàn diện về các khía cạnh luật pháp quốc tế bị TQ vi phạm ở Biển Đông; (Vnmedia 15/12) Việt Nam-Hàn Quốc nhất trí lập trường về Biển Đông

-(KT 15/12) Tổng thống Philippines “sờ tận tay” tiêm kích FA-50: Tổng thống Philippines lần đầu “tận mắt, sờ tận tay” mẫu tiêm kích phản lực đa năng FA-50 mà nước này đang mua của Hàn Quốc; (CAND 15/12) “Liều thuốc Samurai” trong quan hệ song phương Nhật – Trung

-(Vnexpress 14/12) Philippines hoan nghênh Việt Nam phản bác đường 9 đoạn: Bộ Ngoại giao Philippines hôm qua cho biết, “Theo đúng nghĩa, quan điểm của Việt Nam rất hữu ích trong việc thúc đẩy thượng tôn pháp luật và tìm ra các giải pháp hòa bình, phi bạo lực với các yêu sách ở Biển Đông”; (VNN 15/12) 2014 bất ổn và khó đoán nhất

-(Infonet 14/12) Trung Quốc đưa tàu khu trục tới gần bãi Gạc Ma: chiếc tàu chiến của Trung Quốc được xác định là tàu khu trục loại nhỏ mang theo tên lửa dẫn đường Type 053 Cangzhou; (BĐV 14/12) Mỹ dự báo trò hiểm độc của Trung Quốc ở Biển Đông

 

 

Tin cũ hơn:

 

 

Tướng Vịnh: Muốn yên biển Đông, nội bộ phải ổn

22 Th12

 

– “Chúng ta đang có những tranh chấp trên biển Đông, và chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hoà bình. Muốn giải quyết được những vấn đề đó thì nội bộ đất nước phải ổn định, Nhân dân phải tin vào Đảng, Chính phủ”, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chia sẻ với VietNamNet.

Hướng đến hoà bình, nhưng không phải hoà bình suông

Thưa Thượng tướng, để bắt đầu câu chuyện này, đầu tiên, tôi muốn được cùng ông hồi tưởng về những thế hệ đầu tiên của QĐND Việt Nam: đó là 34 người lính đã tuyên thệ trong khu rừng Trần Hưng Đạo, thành lập nên đội VNTTGPQ cách đây 70 năm, với xuất phát điểm là 3 tổ vũ trang, khí tài quân sự gần như là con số 0, thế hệ đó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Sau 70 năm khi đất nước đã hoà bình, định hướng của QĐND Việt Nam có gì thay đổi?

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ảnh: Lê Anh Dũng. 

Người VN ai cũng nhớ đến lời dạy của Bác: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Từ ngày đầu thành lập đến nay, QĐND Việt Nam luôn có nhiệm vụ xuyên suốt là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân. Ta đã trải qua những cuộc chiến tranh kéo dài qua nhiều thập kỷ, phải trả bằng máu để đạt được mục tiêu tối thượng: Độc lập, tự do.

Hôm nay, dù trong thời bình, nhưng sứ mệnh, nhiệm vụ của QĐND Việt Nam về cơ bản không đổi. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và sự nghiệp Quốc phòng – An ninh còn có những khía cạnh nặng nề hơn: vừa phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ngăn chặn sự xâm hại đến lợi ích quốc gia dân tộc, nhưng cũng phải bảo vệ cho được nền hoà bình, để nhân dân không phải đổ máu, đất nước có thời gian và có cơ hội để phát triển.

Trong thời bình, nếu không quan tâm đến quốc phòng, nếu lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, thì sẽ đến lúc đất nước bị xâm hại. Nếu không chăm lo bảo vệ hoà bình, thì sẽ đến lúc nền hoà bình của đất nước bị uy hiếp.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn này được mở rộng hơn, đó là bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ sự ổn định chính trị – an ninh xã hội và con đường đi lên CNXH, bảo vệ hoà bình, bảo vệ môi trường thuận lợi để phát triển đất nước và bảo vệ nhân dân. Nhiệm vụ đó không nằm ngoài những lời dạy của Bác Hồ 70 năm trước. Nhưng nó được cụ thể hoá trong giai đoạn thời bình.

Khi chúng ta có một nền quốc phòng mạnh, điều đó sẽ khiến mọi kẻ có ý định xâm phạm lãnh thổ buộc phải tính toán trong từng hành động. Ta phải chứng minh được là ta sẵn sàng và có khả năng đánh thắng nếu bị xâm lược.

Trong xây dựng quân đội hiện nay, chúng ta luôn nói chính sách quốc phòng của Việt Nam là hoà bình và tự vệ. Nghĩa là hướng đến hoà bình, nhưng không phải hoà bình suông. Nếu lợi ích bị xâm hại, chúng ta có quyền tự vệ và phải tự vệ, và chúng ta sẽ dồn hết sức mình để giành thắng lợi, bảo vệ hoà bình.

Suốt 70 năm qua, Quân đội VN luôn phải đối mặt với rất nhiều thế lực xâm lược, thù địch, khiến ta không một phút nào lơ là tinh thần cảnh giác. Trong hoàn cảnh đất nước hoà bình như hiện nay, có nên lo lắng về bản lĩnh của quân đội? Và các ông – những người lính, sẽ làm gì để luôn tự hoàn thiện mình, khi mà không còn những nguy cơ trực diện như trong quá khứ thường trực bên cạnh?

Ta đã từng phải đối mặt với những cường quốc lớn nhất thế giới trong lịch sử. Việc đối mặt với những kẻ thù quá mạnh như thế trong quá khứ đã khiến chúng ta phải tự vượt qua chính mình, tự vươn lên, phải nỗ lực bằng mấy trăm phần trăm sức lực.

Trong thời bình, có thể không có những kẻ thù trực diện như thế nữa, nhưng thách thức và nguy cơ thì luôn tồn tại, có thể là những nguy cơ tiềm ẩn trong một giai đoạn dài và cả những nguy cơ đã bùng phát. Quan trọng là chúng ta phải ngăn chặn sự bùng phát ấy.

Chúng ta cần nhận thức cho đúng, cho đủ những thách thức, nguy cơ đang hoặc sẽ uy hiếp đến nền Quốc phòng – An ninh hay là sự bền vững của đất nước. Chẳng hạn, thách thức về chủ quyền lãnh thổ, thách thức gặp phải trên con đường phát triển đất nước, hay những thách thức phi truyền thống, khi xã hội ngày càng phát triển, hội nhập.

Tuy nhiên, với chức năng của quân đội, thì bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ đầu tiên, và là nhiệm vụ quan trọng nhất. Người lính, dù sống trong thời bình, vẫn luôn phải cảnh giác, để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng đó, vì nếu không có chủ quyền, không có lãnh thổ thì sẽ không có gì khác mà bảo vệ.

Chủ quyền lãnh thổ không những là chủ quyền bờ cõi quốc gia mà còn phải hiểu rộng ra thêm là chủ quyền về sự độc lập và tự chủ của đất nước. Việc giữ được chủ quyền, có được sự độc lập, tự chủ và khả năng tự lựa chọn và quyết định con đường đi của mình luôn là nhiệm vụ tối cao!

Muốn được tôn trọng, trước hết ta phải mạnh

Trong hoàn cảnh hiện tại, khi mà có những quốc gia láng giềng, trở nên lớn mạnh nhanh chóng, đang tìm cách áp đặt luật chơi với Việt Nam theo ý họ, quân đội Việt Nam sẽ phải ứng phó thế nào để thực hiện được chính sách hoà bình và tự vệ mà chúng ta đã lựa chọn?

Việt Nam luôn ủng hộ sự lớn mạnh của các quốc gia, kể cả sự lớn mạnh về kinh tế, chính trị, quốc phòng hay bất cứ lĩnh vực nào. Nhưng chúng ta có hai điều kiện:

Thứ nhất, sự lớn mạnh đó không uy hiếp, không đe doạ an ninh, hoà bình, ổn định của nước khác.

Thứ hai, sự lớn mạnh đó không ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định của khu vực và trên thế giới. Cụ thể là, bất cứ quốc gia nào lớn mạnh đến đâu, cũng phải tôn trọng luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế đặt ra là để ngăn chặn cách hành xử phi lý, dùng sức mạnh uy hiếp các nước khác.

Đồng thời họ phải tôn trọng, bình đẳng trong quan hệ với nước ta. Anh là nước lớn, tôi là nước nhỏ, nhưng anh phải tôn trọng tôi. Tôi với anh bình đẳng trên tư cách quốc gia. Cũng như ta vẫn thực hiện nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng với các quốc gia nhỏ hơn mình. Chỉ khi giải quyết các lợi ích quốc gia của mỗi bên trên cơ sở luật pháp quốc tế và tôn trọng lẫn nhau, các quốc gia mới có một mối quan hệ thực chất, tốt đẹp.

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
Nước ta vẫn thực hiện nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng với các quốc gia nhỏ hơn mình- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh.

 Hiện nay, có những động thái của một số quốc gia trong khu vực khiến chúng ta e ngại. Nhận thức được một cách kịp thời những nguy cơ đó và sớm giải quyết nó, bằng những biện pháp hoà bình, là chủ trương nhất quán của Việt Nam. Chúng ta đấu tranh về ngoại giao, đấu tranh về kinh tế, đấu tranh trên cơ sở luật pháp quốc tế và cả đấu tranh bằng các mối quan hệ quốc phòng, đi đến giảm thiểu và ngăn chặn khả năng xảy ra xung đột.

Nhưng với những quốc gia không tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như không thể hiện sự tôn trọng trong mối quan hệ giữa quốc gia với quốc gia, thì chiến lược hoà bình, tự vệ của chúng ta liệu có phải điều chỉnh?

Chúng ta không thể yêu cầu một quốc gia khác “Anh phải tôn trọng tôi đi”! Khi anh muốn người khác tôn trọng anh, anh phải mạnh trước đã.

Mà mạnh trước hết chính là sự ổn định chính trị – kinh tế – xã hội. Một đất nước phải ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; một đất nước mà không có những vấn đề nghiêm trọng bên trong nó; một đất nước mà người dân được hưởng cuộc sống tốt đẹp và ngày càng giàu có thì đó sẽ là một đất nước mạnh. Đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo sức mạnh quốc phòng – an ninh.

Chúng ta đang có những tranh chấp trên biển Đông, và chúng ta kiên trì giải quyết tranh chấp này bằng phương pháp hoà bình. Muốn giải quyết được những vấn đề đó thì nội bộ đất nước phải ổn định, Nhân dân phải tin vào Đảng, vào Chính phủ. Đó là cơ sở, là điều kiện cần. Còn giải quyết thế nào lại là chuyện khác và là một câu chuyện dài, cần nhiều thời gian và công sức.

Con người còn quan trọng hơn vũ khí

Vậy nếu chỉ nói về sự ổn định trong nội bộ đất nước, theo nhìn nhận của ông, tình hình nội bộ của đất nước ta có đạt được đến sự ổn định mà ông nói tới, để đảm bảo “điều kiện cần” cho sức mạnh của đất nước trong những tranh chấp lãnh thổ?

Phải thẳng thắn với nhau rằng, đất nước ta còn nhiều vấn đề đáng lo ngại như Nghị quyết TW4 đã nêu. Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khác, mà chúng ta sẽ phải cùng nhau giải quyết, tháo gỡ. Nhưng không một quốc gia nào không có những vấn đề trong nội bộ của nó.

Nguyễn Chí Vịnh, quốc phòng, quân đội, chủ quyền, biển Đông, 22/12
“Đừng chỉ nhìn thấy một vài hiện tượng mà đã vội vàng mất lòng tin”- Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh

Chúng ta cần nhìn những vấn đề này với sự khoan dung, bình tĩnh, tỉnh táo và từng bước giải quyết. Đừng chỉ nhìn thấy một vài hiện tượng mà đã vội vàng mất lòng tin.

Tôi đã nghe nhiều ý kiến lo lắng, bức xúc về cuộc đấu tranh của chúng ta trên biển Đông. Với vấn đề biển Đông, không chỉ riêng bạn, riêng tôi, mà tất cả người VN đều lo lắng, sốt ruột. Đó là nỗi lo chính đáng của người yêu nước.

Có thể có những người còn chưa hiểu, còn băn khoăn với cách hành xử của Đảng, Chính phủ trong vấn đề biển Đông. Nhưng ở đây, tôi muốn nói đến tính mục đích và kết quả của cuộc đấu tranh này.

Mục đích tối thượng của chúng ta là giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ bằng biện pháp hoà bình, không để xảy ra xung đột và duy trì quan hệ ổn định với nước láng giềng Trung Quốc. Vậy chúng ta có giữ được thềm lục địa 200 hải lý hay không? Có! Chúng ta có kiểm soát được nó hay không? Có! Chúng ta có giữ được những điểm đảo mà hiện chúng ta đóng quân ở Trường Sa hay không? Có! Và chúng ta có từ bỏ tuyên bố chủ quyền về Trường Sa – Hoàng Sa hay không? Tuyệt đối không!

Thậm chí chúng ta đang kiểm soát tốt hơn vùng thềm lục địa VN. Khu vực Đông Nam Á này đầy cướp biển. Nhưng vùng thềm lục địa Việt Nam lại không có cướp biển. Thậm chí chúng ta còn bắt những nhóm cướp biển từ vùng biển nước ngoài xâm hại vào để giao trả lại cho nước bạn.

Ngư dân của chúng ta vẫn bám ngư trường, các giàn khoan dầu khí đang hoạt động hết sức bình thường, các hoạt động thăm dò, nghiên cứu trên biển vẫn tiếp diễn. Chúng ta được các diễn đàn quốc tế ủng hộ một cách tự nhiên.

Ngoài biển như vậy, còn trong bờ thì sao? Những xung đột trên biển không kéo lùi sự phát triển của đất nước. Vậy sao lại nói chúng ta không kiểm soát được tình hình, khi mà chúng ta vừa giữ được quan hệ ổn định với Trung Quốc mà không hề lùi bước về mặt chủ quyền. Nhưng vẫn phải nói thêm rằng, nếu xảy ra xung đột, chúng ta cũng phải chứng minh được với cả thế giới và cả người láng giềng rằng những xung đột đó không phải do lỗi của chúng ta.

Nếu nhìn vào những kết quả chúng ta đạt được trong vấn đề biển Đông, ta thấy kế sách bảo vệ tổ quốc, phương pháp giải quyết vấn đề của Đảng và Nhà nước ta hoàn toàn hợp lý. Chính sự hợp lý đó tạo cho chúng ta niềm tin là chúng ta sẽ giải quyết được lần lượt từng vấn đề của mình.

Thưa Thượng tướng, trong văn kiện Đại hội XI, lần đầu tiên chúng ta đã nhắc đến chiến lược đối ngoại quốc phòng. Trong bối cảnh địa chính trị mới như thế này, khi thế giới đang có sự phân chia quyền lực quân sự một cách rất phức tạp, Việt Nam sẽ tham gia thế nào vào quá trình phân chia này và làm thế nào để định vị mình trên bản đồ quân sự thế giới?

Những phát triển, biến động của quốc phòng trong khu vực và trên thế giới những năm qua rất đáng chú ý, thậm chí đáng ngại. Điều khiến tôi cảm thấy đáng ngại nhất là cách hành xử của một số nước đang quay về kiểu “ngoại giao pháo hạm”, là “chính trị cường quyền” của mấy chục năm về trước. Bên cạnh đó là dấu hiệu của một cuộc chạy đua vũ trang mới, khi mà có một số nước đang phát triển quốc phòng một cách bất thường. Đây là một xu thế mới xuất hiện và cần được ngăn chặn.

Những nước muốn áp đặt đang mở rộng quan hệ để can dự mạnh hơn vào các khu vực trên thế giới. Những nước còn lại, trong đó có chúng ta thì lại muốn xây dựng những luật chơi, những định chế trong can dự quân sự để đảm bảo công bằng, không xảy ra xung đột và tuân thủ luật pháp quốc tế.

Vì thế hoạt động đối ngoại quốc phòng song phương và đa phương của các quốc gia đang diễn ra hết sức nhộn nhịp. Nhiều nước quan điểm rằng muốn xây dựng đối tác chiến lược, đối tác toàn diện mà không có hợp tác quốc phòng – không có lòng tin thì không bao giờ có thể trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện.

 

Với các vấn đề đối ngoại quốc phòng của thế giới và khu vực như vậy, chúng ta phải lựa chọn – hoặc là đứng ngoài cuộc, hoặc là phải cùng tham gia để giành lấy quyền lợi, vị thế chính đáng của chúng ta phải có trong khu vực. Nhưng tham gia như thế nào cũng là một vấn đề quan trọng không kém! Và chúng ta đã lựa chọn một cách đi mà tôi cho là rất đúng đắn. Khi tham gia cuộc chơi này, chúng ta luôn xác định cái gì có lợi cho đất nước thì chúng ta làm. Và cái lợi này cũng phải đóng góp cho hoà bình ổn định của khu vực và thế giới.

Làm thế nào một nước nhỏ như VN có thể đạt được hai mục tiêu đó: quan trọng nhất là anh phải giữ cho bằng được độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ quốc tế về quốc phòng nói riêng. Độc lập tự chủ ấy quyết định việc quan hệ ấy có đem lại lợi ích cho đất nước hay không, có phương hại đến nước khác hay không.

Trong những năm qua, dù những can dự quốc phòng trong khu vực, đặc biệt là các nước lớn rất mạnh mẽ, nhưng chúng ta không hề bị cuốn vào cuộc chơi đó. Chúng ta đứng bên cạnh, tự giữ lấy lợi ích quốc gia dân tộc, đóng góp những gì có thể vào hoà bình trong khu vực và thế giới.

Có ý kiến lo ngại rằng, việc Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào – như đường lối đối ngoại quốc phòng của ta từ trước đến nay – sẽ khiến ta trở nên yếu thế và không có đồng minh nếu đất nước rơi vào hoàn cảnh có những xung đột vũ trang với quốc gia khác?

Chúng ta cần phải hiểu nội hàm của liên minh quân sự thực chất là gì? Liên minh quân sự là liên minh mà bao giờ cũng có đối tượng rất cụ thể, liên minh đó nhất định phải đối phó, phải ngăn chặn hoặc chống lại một ai đấy? Chúng ta không liên minh với bất cứ nước nào để chống lại một nước thứ ba hoặc nhóm nước thứ ba, bất luận là ai.

Chúng ta tin vào hợp tác quốc tế, tin vào việc những nỗ lực đóng góp cho sự ổn định khu vực sẽ giúp chúng ta tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận thế giới.

Nhìn vào sự ủng hộ mà chúng ta nhận được từ hai cuộc kháng chiến, rồi ngay cả trong vấn đề biển Đông gần đây, rõ ràng niềm tin đó là hoàn toàn có cơ sở, dù trong thời đại hiện nay, lợi ích quốc gia dân tộc của mỗi nước được đưa lên rất cao. Nếu anh chấp nhận cách hành xử sai trái, phi lý, anh chịu khuất phục trước sức mạnh và gây sức ép đối với một quốc gia nào đó, thì hôm nay là tôi, còn ngày mai có thể sẽ đến lượt anh. Thiện chí của chúng ta sẽ được bạn bè thế giới đồng tình ủng hộ.

Trước áp lực của việc khu vực và thế giới dường như đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới, Việt Nam sẽ đưa ra giải pháp nào để phát triển quân đội lớn mạnh, hoàn thành nhiệm vụ Quốc phòng – An ninh trong bối cảnh kinh tế đất nước đang khó khăn như hiện nay?

Một số người khi thấy chúng ta mua tàu ngầm và trang bị thêm những vũ khí hiện đại đã hỏi tôi quân đội ta đã hiện đại hay chưa? Tôi đã trả lời, so với chính chúng ta trước đây thì đó là bước tiến lớn, nhưng so với mặt bằng chung thế giới cũng như so với nhu cầu chung của chúng ta thì còn rất khiêm tốn.

Nhưng chúng ta không dựa vào vũ khí làm yếu tố căn bản để bảo vệ Tổ quốc. Yếu tố mà chúng ta đề cao nhất là con người. Chúng ta tập trung vào sức mạnh toàn dân, với nội hàm là lòng yêu nước và ý thức bảo vệ tổ quốc. Không có yếu tố đó, sẽ không có quân đội nào đánh thắng.

Chúng ta dựa vào việc xây dựng tư tưởng chính trị của CBCS trong toàn quân, bởi một người lính mà không có lý tưởng chính trị sẽ là một người lính tồi. Việc giáo dục CBCS là điều mà Bộ Quốc phòng đặc biệt quan tâm, cần để những CBCS trẻ hiểu đúng, hiểu đủ về tinh thần yêu nước, bảo vệ tổ quốc và tính tất yếu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Chúng ta cũng không thể quên việc đào tạo CBCS trong thời đại bùng nổ khoa học, CNTT, để họ có trình độ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, ngang tầm với sự phát triển của xã hội và thế giới; để nhận thức đầy đủ các vấn đề của xã hội xung quanh nhiệm vụ quốc phòng; để sử dụng nhuần nhuyễn các thành quả kỹ thuật của khoa học quân sự khi vũ khí được trang bị mỗi ngày một hiện đại.

Nhiều người vẫn cứ nghĩ rằng quân đội hiện đại là quân đội có vũ khí trang bị hiện đại. Nhưng tôi lại nghĩ con người hiện đại mới quyết định chất lượng của quân đội đó. Khi có chiến tranh, chúng ta có thể mua vũ khí, nhưng nếu lúc đó không có những con người có thể sử dụng được nó thì đó sẽ là vấn đề.

Có bao giờ ông hình dung quân đội sẽ đóng góp thế nào cho việc xây dựng nguồn lực con người cho đất nước, kể cả cho môi trường dân sự trong giai đoạn này?

Đó luôn là chủ trương của QĐND Việt Nam trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển.

Trước hết có thể khẳng định rằng, các CBCS trong quân đội vốn đã được đào tạo bồi dưỡng để trở thành người tốt. Họ được dạy về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, để khi rời quân ngũ, họ trở thành những công dân tốt và có đủ khả năng tiếp thu kiến thức mới trong đoạn đời tiếp theo của mình. Họ cũng là những người có ý thức kỷ luật rất tốt khi đã rời khỏi quân đội.

Thế nên vừa rồi khi Quốc hội thông qua Luật Sĩ quan quân đội nhân dân sửa đổi và Luật Nghĩa vụ quân sự, chúng ta cũng cân nhắc rất kỹ về thời gian tại ngũ trong quân đội từ 18 tăng lên 24 tháng, để đảm bảo được những phẩm chất của môi trường quân đội sẽ vẫn được duy trì khi họ rời khỏi quân ngũ.

Chúng ta cũng có một lực lượng dự bị động viên rất lớn, được tổ chức bồi dưỡng về kiến thức chính trị, quân sự, quốc phòng theo định kỳ. Chúng ta còn có lực lượng dân quân tự vệ, những người là nòng cốt để giữ gìn ổn định an ninh của từng địa phương, đảm bảo nền tảng của sự phát triển.

Cái vấn đề của chúng ta là chủ trương thì có, nhưng việc đầu tư vào phát triển nguồn lực thì mỗi nơi một khác. Nếu chúng ta quan tâm đúng mức, đồng bộ… thì sẽ đóng góp rất nhiều. Đó cũng là điều mà tôi trăn trở nhiều năm nay.

Quân đội không thể trở thành gánh nặng cho ngân sách

Dù nói rằng con người là yếu tố quyết định, nhưng không thể phủ nhận vũ khí, khí tài là một phần sức mạnh không thể thiếu của Quốc phòng. Dù muốn dù không, chúng ta không thể không dành những khoản chi tiêu lớn cho nó. Chỉ riêng việc mua 6 tàu ngầm kilo của Nga trong mấy năm qua đã tiêu tốn 2,1 tỷ USD, chưa kể chi phí bảo trì hàng năm và chi phí xây dựng nơi trú ẩn cho đội tàu ngầm này. Việc đầu tư cho quốc phòng liệu có trở thành gánh nặng cho ngân sách quốc gia? Bên cạnh việc mua những thứ tối thiểu cần, thì việc phát triển công nghiệp quốc phòng trong nước có phải là mục tiêu lâu dài của quân đội trong giai đoạn phát triển sắp tới không thưa Thượng tướng?

Hiện đại hoá quân đội là mục tiêu lâu dài và tất yếu, bắt buộc để đáp ứng tình hình mới.

Và như tôi đã nói từ lúc đầu, hiện đại hoá quân đội là hiện đại hoá cả con người, cả trang bị, khoa học, cả nghệ thuật quân sự. Cái mà quân đội Việt Nam đang hướng tới là một lực lượng quân đội tinh gọn, nhưng chất lượng nhân lực cao, đủ sức bảo vệ Tổ quốc.

Quân đội phải mạnh nhưng không để trở thành gánh nặng cho ngân sách đất nước. Những gì chúng ta mua là những thứ tối thiểu cần để xây dựng quân đội, đảm bảo khả năng tự vệ cần thiết.

Từ khá lâu rồi, người Mỹ đã tiến hành tư nhân hoá quốc phòng trong lĩnh vực sản xuất vũ khí, khí tài quân sự. Nó góp phần tăng đáng kể nguồn thu cho công nghiệp nội địa Mỹ nói chung và công nghiệp quốc phòng nói riêng, cũng là một cách giảm bớt gánh nặng ngân sách cho quốc phòng. Liệu chúng ta tính đến hướng đi đó?

Công nghiệp quốc phòng Việt Nam còn rất hạn chế, vì chúng ta là một nước còn nghèo, KHCN chưa phát triển. Nhưng mặt khác, mô hình ở các nước tư bản lại không phù hợp để áp dụng ở VN vì chúng ta không đi buôn vũ khí. Nếu có sản xuất, vũ khí đó cũng chỉ đảm bảo đáp ứng cho mình ta thôi. Nên việc phát triển công nghiệp quốc phòng, tư nhân hoá lĩnh vực này là việc trong tương lai gần chưa khả thi ở Việt Nam.

Nhưng QĐVN cũng có một điểm rất đặc sắc là những bộ phận kinh tế quốc phòng tham gia vào những lĩnh vực lưỡng dụng trong đời sống xã hội. Chúng ta có 23 đoàn kinh tế QP đóng ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Quân đội cũng có những tập đoàn kinh tế rất mạnh vừa có nhiệm vụ đóng góp vào phát triển kinh tế quốc dân, đồng thời thực hiện nhiệm vụ quốc phòng như Tập đoàn Viettel, Tân Cảng Tp.HCM…

Họ thực hiện nghiêm các quy định của luật pháp nhà nước, chịu chung những rủi ro của kinh tế thị trường, không có bất cứ đặc ân hay ngoại lệ nào. Tôi cho rằng tính kỷ luật của quân đội đã giúp họ làm nên thành công. Tất cả những bộ phận kinh tế quốc phòng này khi thời bình họ làm kinh tế, đóng góp cho ngân sách, nhưng vẫn không quên nhiệm vụ của một người lính, sẵn sàng bất cứ lúc nào cho nhiệm vụ thời chiến.

Mọi quốc gia đều hiểu mối liên hệ mật thiết giữa an ninh – quốc phòng với sự ổn định của kinh tế đất nước. Với điều kiện cụ thể của Việt Nam, quốc phòng đã đủ sức trở thành “bảo hiểm” cho sự ổn định, hay chưa?

Nói đúng ra, thì quân đội là đảm bảo sự bền vững của đất nước về mặt vĩ mô, bền vững về chủ quyền, bền vững về hoà bình. Chính sự bền vững ấy giúp đất nước có cơ hội đặt ra những kế hoạch về kinh tế – xã hội phù hợp với sự phát triển của đất nước, không bị động bởi những tác động từ bên ngoài.

Việc bảo vệ môi trường ổn định cho sự phát triển là nhiệm vụ của quân đội. Và nếu không làm được việc đó, nghĩa là quân đội chưa hoàn thành nhiệm vụ. Đến giờ tất cả mọi người đều nói quân đội ta hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khi xưa, chúng ta huy động toàn dân đánh giặc, toàn quốc kháng chiến. Giả định nếu bây giờ đất nước có biến cố, mà xấu nhất là tình huống chiến tranh, ông hình dung chúng ta sẽ huy động nguồn lực trong điều kiện kinh tế thị trường như thế nào?

Chắc chắn khi mà đất nước bị uy hiếp, toàn dân sẽ đóng góp cho quân đội trong khả năng của mình. Không chỉ trong thời chiến, ngay cả trong thời bình, đến bây giờ nhân dân vẫn rất chăm lo xây dựng quân đội lớn mạnh, càng ngày càng tiến lên hiện đại. Đơn cử là hầu như không có nước nào trên thế giới mà được dân ủng hộ như ở Việt Nam trong việc mua sắm vũ khí, khí tài. Người dân nước khác muốn Chính phủ mình dùng tiền đó để lo cho an sinh xã hội. Nhưng người Việt Nam thì ngược lại. Dù họ biết, tiền đó là tiền ngân sách, và nếu không dùng vào việc mua sắm vũ khí, nó sẽ dùng để chăm lo cho đời sống của chính họ.

Đã có thời, chúng ta có được lòng tin tuyệt đối của nhân dân. Những câu chuyện về tình quân dân như cá với nước là những câu chuyện đã được kể mãi cho đến giờ. Còn hiện nay, có người nói lòng tin đó đang dần bị mai một khi mà cơ chế của chúng ta đang ngày càng lộ ra nhiều bất cập. Vậy nếu đối mặt với những nguy cơ trong tương lai, người lính phải làm gì để duy trì, giữ gìn được thứ lòng tin kỳ diệu ấy của nhân dân với mình?

Tôi có niềm tin rằng lòng tin của dân với Đảng, với quân đội vẫn giữ nguyên vẹn như những ngày đầu. Nhưng nó thể hiện ở những dạng thức khác nhau, do bối cảnh lịch sử khác nhau.

Những lúc khó khăn nhất, sự gắn kết sẽ thể hiện một cách rõ rệt nhất, sâu sắc nhất. Và lúc đó, phẩm chất của con người nó phát triển mạnh mẽ nhất. Không phải vô cớ mà ta nói thời đại chống Mỹ, thời đại Hồ Chí Minh là đỉnh cao của lịch sử Việt Nam.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là không còn khó khăn thì không còn tình nghĩa. Giờ không còn là thời mà chiến sĩ và nhân dân cùng ăn, cùng ở, cùng đánh giặc, sự hiểu biết của người dân với quân đội không còn như xưa, nhưng mỗi người cán bộ chiến sĩ khi được giáo dục rồi đưa vào môi trường công tác và chiến đấu đều đảm bảo rằng tình cảm của người chiến sĩ với nhân dân vẫn không hề thay đổi. Chưa cần nói đến chiến tranh, chỉ khi khó khăn thôi, phẩm chất đó đã được thể hiện rất rõ.

Ngày hôm qua, trong vụ sập hầm thuỷ điện ở Lâm Đồng, những người đào hầm, chui vào giải cứu được công nhân là bộ đội công binh. Năm 2009, Hà Tĩnh gặp bão lũ lớn. Nước từ thượng nguồn ồ ạt đổ về, kéo theo hàng nghìn m3 gỗ khiến công trình Thuỷ điện Hố Hô gặp sự cố không thể mở được cống thoát lũ do bị tắc cống, nguy cơ vỡ đập cận kề, có thể khiến mấy huyện phía dưới sẽ bị xoá trắng. Trước nguy cơ vỡ đập, một đại đội công binh đã lao xuống đập để vớt gỗ, vớt rác, mở được cửa đập, cứu cho hàng vạn người dân không bị mất nhà mất cửa, đe doạ tính mạng.

Tôi đã được chứng kiến những người lính công binh âm thầm làm nhiệm vụ của mình, không quản ngại nguy hiểm đến tính mạng. Những điều đó và còn rất nhiều ví dụ khác nữa khiến tôi tin rằng mối quan hệ quân dân trong thời bình có thể không có nhiều cơ hội để thể hiện một cách rõ ràng. Rồi ngay cả việc tuyên truyền của chúng ta cũng chưa thực đầy đủ để tăng mối gắn kết ấy, nhưng chắc chắn rằng, khi dân cần quân đội, quân đội chưa bao giờ từ chối bất cứ một nhiệm vụ nào, dù khó khăn đến mấy. Kể cả hi sinh.

Giữ gìn lòng tin của nhân dân dành cho quân đội như trong quá khứ, như những gì mà chúng ta đã luôn nói về thế hệ Bộ đội cụ Hồ có phải là mục tiêu của tất cả những người lính QĐND Việt Nam?

Chúng ta có lòng tin mạnh mẽ về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nhưng chúng ta không được chủ quan, vì không bao giờ được phép nghĩ rằng dân đã tin thì sẽ tin mãi. Nếu không nhận thức được sự thay đổi của xã hội, yêu cầu mới của thời đại, không luôn luôn tự rèn luyện mình thì việc mất niềm tin sẽ rất dễ xảy ra. Không thoả mãn với mình là điều mà những người lính chúng tôi sẽ phải luôn tự nhắc nhở.

Nhưng tôi tin rằng tuyệt đại đa số quân nhân, ý chí chung của quân đội là bảo vệ tổ quốc, phục vụ nhân dân, giữ gìn niềm tin và tình yêu của người dân với bộ đội cụ Hồ.

Xin cảm ơn Thượng tướng.

  • Lan Hương (thực hiện)

 

Thế giới 24h: Cuba không thay đổi chế độ chính trị

22 Th12

 

– Chủ tịch Cuba tuyên bố không thay đổi chế độ chính trị; Mỹ rúng động vụ sát hại hai cảnh sát ở New York… là những tin nóng.

TIN BÀI LIÊN QUAN

Nổi bật

Chủ tịch Cuba Raul Castro lên tiếng hoan nghênh động thái gần đây của Mỹ hướng tới bình thường hóa quan hệ, nhưng nhấn mạnh Havana sẽ không thay đổi hệ thống chính trị của mình.

Phát biểu tại Quốc hội Cuba, ông Castro cho rằng tuyên bố của Tổng thống Barack Obama về việc bình thường hóa quan hệ song phương, đã gỡ bỏ một trở ngại trong quan hệ giữa hai nước.

Cuba, Mỹ, thể chế, chính trị, bình thường hóa, quan hệ
Chủ tịch Cuba Raul Castro. (Ảnh: Reuters)

Chủ tịch Cuba cho biết, ông sẵn sàng thảo luận một loạt vấn đề với Washington, đồng thời cũng nhấn mạnh rằng đất nước Cuba sẽ không từ bỏ những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa của mình.

“Tương tự như việc chúng tôi chưa bao giờ yêu cầu nước Mỹ phải thay đổi chế độ chính trị của họ, chúng tôi cũng yêu cầu sự tôn trọng đối với chế độ chính trị của chúng tôi”, ông tuyên bố.

Nhà lãnh đạo Cuba nói rằng, đất nước của ông đang phải đối mặt với “cuộc đấu tranh trường kỳ và gian nan”, trước khi Washington tiến hành dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế nhằm vào Havana.

Ông Raul Castro còn cho biết, ông sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh các nước châu Mỹ dự kiến diễn ra vào năm 2015 ở Panama. Tại đây, ông có thể sẽ gặp gỡ Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Hôm 17/12, Tổng thống Obama đã tuyên bố “một chương mới” trong quan hệ hai bên. Theo ông, các thay đổi này là quan trọng nhất trong chính sách của Mỹ với Cuba suốt nửa thế kỷ qua.

Theo hãng tin BBC, quan hệ giữa Mỹ và Cuba vẫn ở tình trạng đóng băng kể từ đầu thập niên 1960, khi Mỹ cắt đứt các quan hệ ngoại giao và áp đặt lệnh cấm vận kinh tế nhằm vào Cuba.

Tin vắn

– Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên án vụ sát hại hai cảnh sát ở New York hôm 20/12 và nói rằng, các nhân viên thực thi pháp luật này “đáng được chúng ta khâm phục và biết ơn”.

– Mỹ khẳng định chính Triều Tiên chính là thủ phạm tấn công hệ thống máy tính của hãng Sony Pictures, bất chấp việc Bình Nhưỡng đã đề nghị được phối hợp điều tra với Washington.

– Thủ tướng Australia, ông Tony Abbott, ngày 21/12 đã thông báo về việc tiến hành bổ nhiệm ông Kevin Andrews giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thay cho ông David Johnston.

– Ngày 21/12, tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tái chiếm thị trấn Baiji, nơi có nhà máy lọc dầu chiến lược lớn nhất Iraq, mới được lực lượng an ninh nước này giải phóng ba tuần trước.

– Theo đài Tiếng nói nước Nga, Thứ trưởng Bộ Năng lượng và Công nghiệp than của Ukraina, Aleksandr Svetelik, đã mô tả tình hình cung cấp điện tại nước này là “siêu khủng hoảng”.

 

– Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev ký chỉ thị về việc thành lập ủy ban chính phủ hỗ trợ nhân đạo cho các vùng lãnh thổ ở Donbass bị tác động bởi cuộc xung đột ở miền đông Ukraina.

– Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc cảnh báo, hơn 1,7 triệu trẻ em ở khu vực xung đột miền đông Ukraina đang phải đối mặt với tình hình “vô cùng nghiêm trọng” do mùa đông khắc nghiệt.

– Triều Tiên đã lên tiếng cảnh báo Hàn Quốc việc không được dựng tháp đèn mới ở gần biên giới, sau khi một tòa tháp hình cây thông Noel 43 năm tuổi bị dỡ bỏ hồi tháng 10 vừa qua.

– Lực lượng quân đội Chính phủ Iraq trong ngày 21/12 đã giành được quyền kiểm soát một căn cứ không quân nằm ở thị trấn Tal Afar, thuộc tỉnh Nineveh, khu vực miền bắc nước này.

– Trưa ngày 21/12, một trận động đất có cường độ 6,6 độ Richter đã xảy ra ở khu vực cách thị trấn Tobelo trên đảo Halmahera, thuộc tỉnh Bắc Maluku của Indonesia khoảng 141km.

– Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 20/12 cho biết rằng, trong năm 2014, nước này đã vạch trần được 230 gián điệp nước ngoài, cũng như ngăn chặn được nhiều âm mưu khủng bố.

– Bộ Tình trạng khẩn cấp Nga ngày 21/12 cho biết, hơn 90 xe tải đã tới Luhansk, miền đông Ukraina, với hàng hóa gồm thực phẩm, thuốc men, vật liệu xây dựng và quà tặng năm mới.

– Cảnh sát Afghanistan cho hay, 7 cảnh sát thiệt mạng và 5 phiến quân bị tiêu diệt sau khi các phần tử nổi dậy đêm 20/12 tấn công một chốt kiểm soát tại Jawzjan, miền bắc nước này.

– Reuters đưa tin, Bí thư Thành ủy Tế Nam Vương Mẫn, người luôn lên tiếng ủng hộ chiến dịch chống tham nhũng của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, đã bị điều tra vì tham nhũng.

Tin ảnh

Cuba, Mỹ, thể chế, chính trị, bình thường hóa, quan hệ
Hiện trường máy bay MH17 gặp nạn ở đông Ukraina là một trong những hình ảnh gây xúc động nhất năm 2014 do Getty Images bình chọn. (Ảnh: Getty)

Phát ngôn

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Alexander Lukashevich ngày 20/12 đã lên tiếng tuyên bố rằng, nước này sẽ ăn miếng trả miếng đối với lệnh trừng phạt mới từ cả Canada và Mỹ.

“Chúng tôi khuyên Washington và Ottawa suy nghĩ về hậu quả của các hành động thế này. Và chúng tôi có thể thực hiện các phương sách trả đũa tương tự”, ông Lukashevich cho hay.

Kỷ niệm

Ngày 22/12/1988: Tại diễn đàn Liên hợp quốc, Nam Phi, Cuba và Angola ký hiệp định đem lại nền độc lập cho Namibia, vốn là thuộc địa của Đức trong Thế chiến I.

Thanh Vân

 

%d bloggers like this: