Lưu trữ | 9:41 Sáng

Quân đội của Đảng hay của Nhân dân? – BBC

23 Th12

 

  • 22 tháng 12 2014

Một cảnh trong vở ‘Lời thề thứ chín’ của tác giả Lưu Quang Vũ

Nhà thơ – kịch tác gia Lưu Quang Vũ đã mất do tai nạn không lâu sau khi hoàn thành vở kịch “Lời thề thứ chín”. “Lời thề thứ chín” ở đây là một trong mười lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam, có nội dung:

“Khi tiếp xúc với dân sẽ làm đúng ba điều răn: “không lấy của dân” – “không dọa nạt dân”- “không quấy nhiễu dân” và ba điều nên: “kính trọng dân” – “giúp đỡ dân” – “bảo vệ dân”, để gây lòng tin cậy đối với dân chúng, thực hiện quân dân nhất trí giết giặc cứu nước”.

Vở kịch nói về những người chiến sỹ sau khi vi phạm lời thề thứ chín (cướp đồ của người đi đường) đã trốn khỏi chiến trường. Trớ trêu là khi về quê một đồng đội, họ lại gặp cảnh quan chức cướp đất của dân và giam cầm người cha vô tội.

Không thể chịu nổi cảnh bất công này, những người chiến sỹ đã bắt giam tên quan chức địa phương để giải cứu cha của đồng đội.

Đau đớn ở chỗ, người bị những các chiến sỹ kia cướp đồ và đang cùng các sỹ quan chỉ huy đi truy lùng những kẻ bỏ trốn thì lại là quan chức địa phương đã hoàn toàn xa cách quần chúng để xảy ra những sự việc bắt bớ người dân vô tội.

Những người truy lùng hô hào những người lính bỏ trốn phải ra đầu hàng vô điều kiện và chịu hình phạt tội cướp của dân. Còn những người lính lại ra điều kiện phải xử tội tên quan chức đã ăn cướp và bỏ tù dân oan ức.

Đôi bên đều có người phạm tội và đôi bên đều đòi công lý. Những cái xấu cuối cùng cũng không thể lẩn tránh và phải đối đầu với nhau trong những việc sai trái liên quan đến nhau.

Lời thề thứ nhất

Lời thề quan trọng nhất, đứng đầu trong Mười lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam là đề tài được nhiều người nhắc đến gần đây. Nội dung nguyên bản của nó năm 1944 là: “Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít Nhật-Pháp và bọn Việt gian phản quốc, làm cho nước Việt Nam trở nên một nước độc lập và dân chủ ngang hàng với các nước dân chủ trên thế giới”.

Nhưng sau này đã được sửa thành: “Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam; dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.

Đây là cơ sở để các phương tiện truyền thông đại chúng khi nhắc đến Quân đội Nhân dân Việt Nam, thay vì “Trung với nước, hiếu với dân” thì lại nói “Trung với Đảng, hiếu với dân”.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây cũng khẳng định lại: “Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo quân đội không thể phân chia cho bất kỳ một cá nhân nào, một lực lượng chính trị nào khác.

“Phi chính trị hoá quân đội là thủ đoạn cực kỳ nham hiểm của thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta, tách rời quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho quân đội không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước”

Hình như không có ai nói cho Tổng bí thư Trọng rằng: Người dân là những người lập nên đảng phái, đảng phái chỉ thể hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân mà thôi. Nếu ý chí người dân đổi khác, họ có thể giải tán đảng hoặc lập ra một đàng mới tiến bộ hơn.

Cái ý muốn Quân đội chỉ để phục vụ một đảng phái thật nguy hiểm. Nếu một lúc nào đó nhân dân không muốn theo đảng nữa thì quân đội sẽ cầm súng bắn vào người dân chăng?

Quân đội sẽ biến mất theo Đảng Cộng sản ư? Không! Quân đội là để bảo vệ đất nước và bảo vệ nhân dân chứ không phải bảo vệ Đảng. Đến lúc đó, ý nghĩa nguyên bản của Quân đội mới thấy rõ.

Hãy thử hình dung, nếu một lúc nào đó Quân đội nhân dân được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân. Trong cuộc biểu tình do không chịu nổi sự áp bức của giai cấp thống trị đó, có cả những người cha người mẹ, người anh người chị của những người lính trong hàng ngũ Quân đội nhân dân. Điều này có thể xảy ra lắm chứ, vì những sai trái diễn ra khắp mọi nơi.

Những người quân nhân đó sẽ làm gì, nghe theo Đảng và cầm súng bắn vào người thân của mình ư? Hay giống như trong vở kịch “Lời thề thứ chín”, người lính sẽ thực thi công lý cho người dân, cầm súng bỏ tù những người đã hành hạ người thân của họ?

Nếu làm theo cách thứ hai thì vẫn còn may cho Đảng, vì Đảng còn có cơ hội ăn năn. Còn nếu quân đội vẫn còn là “công cụ bạo lực sắc bén” tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng, và nếu cả mấy chục triệu người dân Việt Nam đều đứng dậy và ngã xuống trước đầu súng của Quân đội nhân dân, đến lúc ấy sẽ chỉ còn Đảng và Quân đội sống với nhau trên dải đất hình chữ S này mà thôi.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả.

Tin liên quan

  • Việt Nam – Bao nhiêu tướng là vừa?
    21 tháng 12 2014
  • Việt Nam tiến một bước để lùi hai bước?
    4 tháng 12 2014
  • Nếu có chiến tranh trên biển với TQ?
    15 tháng 10 2014

 

Tại sao Cuba – Mỹ quyết định bình thường hóa quan hệ? – VHNA

23 Th12

 

  •   Jorge G. Castañeda
 

Tại sao Cuba – Mỹ quyết định bình thường hóa quan hệ?

 

Cuộc điện thoại giữa Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raúl Castro, theo sau là cuộc trao đổi một tù nhân Mỹ để đổi lại ba nhân viên tình báo Cuba bị giam giữ tại Mỹ, đánh dấu thời điểm quan trọng nhất trong quan hệ song phương nhiều thập kỷ qua. Không lâu sau đó, Mỹ và Cuba thông báo rằng họ sẽ bắt đầu quá trình khôi phục quan hệ ngoại giao đầy đủ.

Thoạt nhìn, thỏa thuận này có vẻ là một thắng lợi lớn của Cuba với việc Mỹ cuối cùng cũng phải từ bỏ nỗ lực cô lập hòn đảo cộng sản này. Thực tế có phần phức tạp hơn thế.

Thứ nhất, đây không phải là sự kết thúc lệnh cấm vận thương mại của Mỹ vốn chỉ Quốc hội mới có thể dỡ bỏ. Quan hệ giữa hai nước cũng không hoàn toàn bình thường hóa; sẽ có đại sứ quán, nhưng không có đại sứ.

Nhưng chắc chắn thỏa thuận này, do Vatican và Canada làm trung gian, là một bước tiến quan trọng. Người Mỹ không phải gốc Cuba sẽ có thể tới Havana dễ dàng hơn. Các giao dịch ngân hàng giữa hai nước cũng có thể được thực hiện. Một số vấn đề về thương mại sẽ được giải quyết. Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ loại Cuba khỏi danh sách các quốc gia mà nó cáo buộc là hỗ trợ cho khủng bố.

Về phần mình, đúng là Cuba có vẻ phải nhượng bộ rất ít. Ngoài thả tự do một người Mỹ, Alan Gross, Castro còn đồng ý thả 53 tù nhân chính trị, nới lỏng các hạn chế về mạng Internet, và cho phép các quan chức về nhân quyền của Liên Hợp Quốc và các quan sát viên đến từ Hội Chữ thập đỏ Quốc tế vào Cuba. Đây chắc chắn là những nhượng bộ, nhưng không phải lớn lao gì khi xem xét những thứ Cuba có thể đạt được khi nối lại quan hệ ngoại giao sau một nửa thế kỷ bị cô lập.

Thế nhưng Cuba đang gặp khó khăn do một yếu tố quan trọng vốn có lẽ đã thúc đẩy quyết định của Castro: sự sụt giảm gần đây của giá dầu. Một loạt các yếu tố – như mức tăng ngoạn mục trong sản xuất dầu lửa và khí đốt của Mỹ, suy thoái ở châu Âu và Nhật Bản, quyết định giữ công suất khai thác dầu của Ả-rập Xê-út, và suy giảm kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ – đã dẫn đến nguồn cung dư thừa. Và hai nước bị ảnh hưởng nhiều nhất chính là những quốc gia mà trong lịch sử Cuba từng phụ thuộc vào để giữ nền kinh tế của mình sống sót: Nga và Venezuela.

Trong hai nước, Venezuela và những rắc rối của nó đe dọa nhiều nhất đến sự ổn định của Cuba. Nga đã thôi viện trợ đáng kể cho Cuba kể từ khi Liên Xô sụp đổ. Nhưng Venezuela, dưới thời cố Tổng thống Hugo Chávez, từng là người bảo trợ quan trọng, gửi cho Cuba khoảng 100.000 thùng dầu mỗi ngày, cùng một khoản viện trợ 5-15 tỉ đô la mỗi năm.

Những khoản viện trợ này khó có thể tiếp tục. Quả thật, không phải ngẫu nhiên mà các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Cuba bắt đầu không lâu sau khi Chávez qua đời năm 2013. Chắc chắn rằng nếu không còn trợ cấp từ Venezuela, Cuba sẽ một lần nữa rơi vào suy thoái, như nó đã từng gặp phải sau khi viện trợ từ Nga suy giảm hồi đầu những năm 1990.

Điều này khiến Cuba rất dễ bị tổn thương. Cải cách kinh tế rõ ràng đã không đem lại những hiệu quả như mong muốn. Thu nhập giảm. Thiếu hụt (hàng hóa) trên diện rộng khiến lạm phát tràn lan, với nguy cơ siêu lạm phát ngày một tăng. Tỉ giá giao dịch ngoại tệ trên thị trường chợ đen chỉ cao hơn 3% so với tỉ giá chính thức một chút. Một biến động chính trị lớn đang ngày càng trở nên khả dĩ.

Trong cuốn Back Channel to Cuba: The Hidden History of Negotiations Between Washington and Havana , William LeoGrande và Peter Kornbluh đã mô tả việc Cuba liên tục từ chối đưa ra những nhượng bộ chính trị để đổi lại việc chấm dứt lệnh cấm vận hay bình thường hóa quan hệ ngoại giao như thế nào. Và quả thực, Castro đã không hề đưa ra bất cứ nhượng bộ chính trị nào trong thỏa thuận được công bố gần đây.

Nhưng những tính toán kinh tế gần đây cho thấy sự thay đổi như thế rất có thể sẽ sớm xảy ra. Khi không có một người bảo trợ giàu có và hào phóng, sự phục hồi của nền kinh tế Cuba sẽ phụ thuộc vào việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao với Mỹ, điều chắc chắn không thể xảy ra nếu không có những thay đổi lớn về dân chủ và quyền con người.

Khi lịch sử hiện tại được viết nên, có thể hóa ra không phải việc sử dụng vũ lực hay nỗ lực của các nhà ngoại giao, mà rốt cuộc chính sự can thiệp vô tư của những ông trùm dầu mỏ xa xôi ở Bắc Dakota và Bán đảo Ả-rập đã khiến Cuba của Castro cuối cùng phải mở cửa.

Jorge G. Castañeda là Ngoại trưởng Mexico giai đoạn 2000-2003, sau khi cùng đối thủ ý thức hệ của ông, Tổng thống Vicente Fox, tạo nên chính phủ dân chủ đầu tiên của nước này. Ông hiện là giáo sư ngành Chính trị học và ngành Nghiên cứu Mỹ Latinh và Caribe tại Đại học New York, và là tác giả của cuốn “The Latin American Left After the Cold War” và “Compañero: The Life and Death of Che Guevara.”

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp 

Nguồn:  http://nghiencuuquocte.net/2014/12/21/cuba-my-quyet-dinh-binh-thuong-hoa/#more-5037/ Jorge G. Castañeda, “Why Cuba Turned,” Project Syndicate, 19/12/2014.

 

Giải pháp nào cho “vạc dầu” ở Biển Đông? – VHNA

23 Th12

 

  •   Dương Trọng Đông
 

 

Nếu Việt Nam không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình khi Trung Quốc đưa ra quan điểm chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến tại Tòa trọng tài, thì chúng ta bỏ mất cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Vì vậy, theo các chuyên gia, Tuyên bố ngày 11/12 vừa qua của Bộ Ngoại giao Việt Nam là một bước đi pháp lý phù hợp trước các diễn biến mới nhất của tình hình trên Biển Đông.

Ngày 15/12/2014 là hạn chót để Trung Quốc đệ trình lên Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc, có trụ sở tại La Haye (Hà Lan), các lập luận pháp lý phản bác đơn kiện của Philippines, liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Trước thời điểm “hạn chót” ấy đến, cả Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ đều có những động thái quan trọng trình bày lập trường chính thức của mình về các tranh chấp hiện nay ở Biển Đông. Ngày 5/12, Mỹ ra tuyên bố bác bỏ đòi hỏi phi pháp về đường lưỡi bò của Trung Quốc. Ngày 7/12, Trung Quốc ra “phản tuyên bố” chống chế lại và ngang ngược đòi các nước phải chấp nhận cái gọi là “bằng chứng lịch sử” của Trung Quốc. Tiếp đó, ngày 11/12, trong một tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, Việt Nam xác nhận là đã yêu cầu Tòa án Trọng tài Quốc tế chú ý đến “quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam trên Biển Đông.

Động thái quân sự

Trong khi đó thì ngày 13/12/2014, một bức ảnh vừa được một trang web từ Trung Quốc tiết lộ cho thấy rõ tình hình căng thẳng tăng lên ở Biển Đông. Hai chiến hạm thuộc loại hiện đại của Việt Nam và Trung Quốc đã ở trong tư thế gờm nhau trên vùng biển gần đảo Gạc Ma (Johnson South Reef), thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo trang web Anh ngữ “Want China Times” (cũng của Đài Loan), một trang mạng từ Trung Quốc mang tên Diễn đàn Nghiên cứu Nam Hải (tên Trung Quốc gọi Biển Đông) ngày 11/12 vừa qua đã công bố bức ảnh cho thấy tình trạng đối đầu giữa hai chiến hạm của Trung Quốc và Việt Nam. Phía Trung Quốc là chiếc khu trục hạm lớp 053 có tên lửa dẫn đường, được cho là chiếc Thương Châu, còn phía Việt Nam là hộ tống hạm tên lửa tàng hình Đinh Tiên Hoàng thuộc lớp Gepard của Nga.

Theo các nguồn tin trên, chiếc Thương Châu đã được phái đến khu vực quanh bãi Gạc Ma để đối đầu với chiếc Đinh Tiên Hoàng của Việt Nam. Gạc Ma là một trong những đảo đá bị Trung Quốc cưỡng chiếm vào năm 1988 và đang được rốt ráo cải tạo, bồi đắp, mở rộng để có thể biến thành một tiền đồn quân sự của Trung Quốc tại Trường Sa, với đường băng cho phi cơ quân sự và bến cảng cho các tàu chiến. Vào tháng trước, Việt Nam đã cử hai chiến hạm hiện đại nhất của mình là Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ đi thăm hữu nghị 3 nước Brunei, Indonesia và Philippines. Hai chiến hạm này cũng đã ghé qua đảo Song Tử Tây (Southwest Cay) thuộc Trường Sa đang do Việt Nam kiểm soát để thăm hỏi các chiến sỹ Việt Nam đang làm nhiệm vụ tại đấy.

Cũng theo truyền thông Đài Loan, một số quan chức Việt Nam xác nhận rằng chuyến thăm đã không nhằm khiêu khích Trung Quốc, nhưng hình ảnh do Diễn đàn Nghiên cứu Nam Hải nói trên tiết lộ cho thấy là chiếc Đinh Tiên Hoàng đã được gửi đến khu vực đảo đá Gạc Ma để theo dõi các chương trình cải tạo địa hình của Trung Quốc trong khu vực. Chiếc Thương Châu ngay sau đó dường như đã được phái đến hiện trường để bảo vệ cái gọi là “nhân công Trung Quốc đang làm việc tại chỗ”. Tờ “Vượng Báo” nhắc lại: Một khi Trung Quốc xây dựng xong đường băng dài 2 km trên đảo đá Gạc Ma, các chiến đấu cơ Su-30, J-10 và J-11 của Trung Quốc có thể xuất phát từ đấy tấn công mọi mục tiêu trong khu vực eo biển Malacca. Còn khi Trung Quốc hoàn tất các công trình cải tạo đất tại Gạc Ma cũng như là tại các bãi đá khác như Ga Ven (Gaven Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef) Tư Nghĩa (Hughes Reef), tất cả sẽ tạo thành hệ thống cứ điểm có thể triển khai quân ra toàn khu vực. Báo chí Đài Loan nêu rõ: Các căn cứ mới của Trung Quốc chỉ cách Thành phố Hồ Chí Minh 830 km, Manila 890 km, miền Tây Malaysia 490 km, Kuala Lumpur và eo biển Malacca 1.500 km.

Chuẩn bị kiện Trung Quốc?

Trong bối cảnh nói trên, tuyên bố cô đọng ngày 11/12 vừa rồi của  Bộ Ngoại giaoViệt Nam mang ý nghĩa thời sự cấp bách. Tuyên bố xác nhận Việt Nam đã yêu cầu Tòa án trọng tài quốc tế chú ý đến “quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam ở Biển Đông. Theo ý kiến các chuyên gia, tuy đây chưa phải là quyết định khởi kiện đối với các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng quyết định của Việt Nam bác bỏ các luận điểm của Bắc Kinh về Biển Đông. Trả lời báo chí về lập trường của Việt Nam liên quan đến diễn biến mới trong vụ Philippines kiện đường lưỡi bò Trung Quốc tại Biển Đông trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình xác nhận rằng, Việt Nam đã chính thức bày tỏ quan điểm của mình, đồng thời yêu cầu Tòa Trọng tài quan tâm đến quyền lợi của Việt Nam tại Biển Đông:

“Để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện Trọng tài Biển Đông, Việt Nam đã bày tỏ với Tòa trọng tài lập trường, quan điểm của mình đối với vụ kiện và đề nghị Tòa trọng tài quan tâm đến các quyền và lợi ích pháp lý đó của Việt Nam”. Trước đó ông Lê Hải Bình đã lên tiếng cực lực phản đối việc Bắc Kinh mới đây đã tái khẳng định chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ Biển Đông trong bản Tuyên bố lập trường của Trung Quốc về vụ kiện của Philippines: “Lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng nước phụ cận cũng như yêu sách ‘các quyền lịch sử’ của Trung Quốc đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển bên trong ‘đường đứt đoạn’ do Trung Quốc đơn phương đưa ra”.

Đúng như dự đoán, ngay sau các tuyên bố của chính phủ ta, Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bác bỏ các tuyên bố của Việt Nam và yêu cầu Hà Nội thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi trên biển của Trung Quốc. Chữ “thiết thực” trong ngôn ngữ ngoại giao dùng ở đây được hiểu theo cách nhấn mạnh, bao hàm ý nghĩa phải “thực sự”, “triệt để” đáp ứng các yêu sách phi lý của Trung Quốc. Theo Tân Hoa Xã, ông Hồng Lỗi còn nhắc lại yêu cầu Việt Nam nên cùng với Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương “trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và Luật quốc tế”. Điểm cần cảnh giác trong tuyên bố này là Bộ Ngoại giao Trung Quốc dù có nói đến đàm phán về Nam Sa (tức Trường Sa), nhưng lại không đề cập gì đến đàm phán về Tây Sa (tức Hoàng Sa), mà Trung Quốc đã dùng bạo lực cưỡng chiếm từ hơn 40 năm nay, và giờ đây Trung Quốc ngang nhiên coi đó là lãnh thổ của họ, chứ không phải là đối tượng đàm phán.

Theo các nhà phân tích, dù việc Việt Nam quyết định cầu viện đến Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc trên hồ sơ Biển Đông chưa hẳn là một đơn kiện Trung Quốc, nhưng động thái này là một động thái theo chiều hướng vận động công luận quốc tế chống lại yêu sách chủ quyền quá trớn của Trung Quốc tại Biển Đông. Về ý nghĩa của văn kiện có thể gọi là Tuyên bố lập trường của Việt Nam trên vấn đề Biển Đông, lại được gửi đến Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Giáo sư Thayer nêu bật sự kiện là tuyên bố của Việt Nam tuy không phải là đơn kiện, nhưng đã phản bác toàn bộ luận điểm của Trung Quốc về các tranh chấp trên biển.

Giải pháp nào sẽ bền vững?

Ngay từ khi Manila nộp đơn kiện, Bắc Kinh cho biết sẽ không tham gia vụ này và không thừa nhận vai trò của Tòa án Trọng tài. Có nhiều lý do giải thích vì sao Trung Quốc không muốn ra tòa. Các đòi hỏi của Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý vững chắc. Mặt khác, Trung Quốc lo ngại tạo tiền lệ, bởi vì Bắc Kinh có tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia, ở trên bộ cũng như trên biển. Cuối cùng, Trung Quốc muốn khai thác thế mạnh của mình trong khuôn khổ đàm phán song phương. Mặc dù tuyên bố không tham gia kiện tụng, nhưng ngày 7/12 vừa qua, Bắc Kinh đã cho công bố tài liệu về lập trường của Trung Quốc. Đây thực chất là một cách tham gia gián tiếp vụ kiện, đồng thời về mặt chính thức, lại không thừa nhận vai trò của Tòa án Trọng tài. Trên website Opiniojuris.org, một diễn đàn trao đổi không chính thức của giới chuyên gia về luật pháp và quan hệ quốc tế, giáo sư Cổ Cử Luân (Julian Ku), đại học Hofstra, Long Island (Mỹ), đã nhận định: “Đây là giải pháp kép tối ưu cho Trung Quốc, bởi vì nếu tài liệu về lập trường (của Bắc Kinh) chi phối Tòa án thì đó là điều tốt cho Trung Quốc. Nếu Tòa án bác bỏ lập luận pháp lý về lập trường và đòi hỏi của Trung Quốc, thì Bắc Kinh có thể nói là họ chưa hề tham gia vào vụ kiện tại Tòa án”.

Các chuyên gia luật quốc tế cũng đều cho rằng, Việt Nam đã lên tiếng đúng lúc để duy trì khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trong tư cách là nước bị đường lưỡi bò Trung Quốc tác hại nặng nhất. Bộ Ngoại Giao Mỹ, có thể là để gián tiếp “chống lưng” cho vụ kiện của Philippines, ngày 5/12 vừa qua cũng đã chính thức công bố một báo cáo của Văn phòng đặc trách các vấn đề Đại dương, Khoa học và Môi trường quốc tế (Bureau Oceans and International Environmental and Scientific Affairs), trong đó phân tích rõ ràng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông là phi lý và phi pháp. Hai ngày sau đó, ngày 7/12, Trung Quốc đã đưa ra một công bố chính thức về vụ kiện của Philippines và bác bỏ một cách rất ngang ngược vụ kiện ấy. Thật ra, Việt Nam là nước bị thiệt hại nhất vì “đường lưỡi bò” (mà vụ kiện của Philippines chủ yếu là về đòi hỏi phi lý và phi pháp này của Trung Quốc). Do đó, nếu Việt Nam không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình khi Trung Quốc đưa ra công bố chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến, thì Việt Nam bỏ mất cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi của chính mình.

Trong bối cảnh phức tạp và bấp bênh nói trên, các giải pháp được coi là bền vững cho các tranh chấp giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN, mà trước tiên là với Việt Nam và Philippines phải là một tổng thể các giải pháp ngoại giao và pháp lý mang tầm khu vực. Tài liệu về lập trường của Trung Quốc (7/12) và bản nghiên cứu về “Các ranh giới trên biển” của Hoa Kỳ (5/12), cho thấy, Bắc Kinh dường như biết trước là các lập luận của họ không thể được chấp nhận, chiếu theo luật pháp quốc tế. Chính vì thế, Trung Quốc tiếp tục tránh giải quyết các tranh chấp bằng pháp lý và theo đuổi phương cách “đàm phán trực tiếp và tham khảo hữu nghị” để qua đó, Trung Quốc có thể sử dụng được sức ép chính trị của mình. Rõ ràng Trung Quốc e ngại giải quyết vấn đề Biển Đông bằng pháp lý vì thiếu hẳn tính chính danh lẫn các cơ sở của chuẩn mực luật quốc tế. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh để đi tới một cách tiếp cận khu vực vẫn chưa thể kết thúc một sớm một chiều, chừng nào mà những nền tảng của “Giấc mơ Trung Hoa” chưa được tái điều chỉnh trên căn bản của lẽ phải và lý trí./.

 

 

 

 

 

Chiếm đoạt lãnh thổ không giúp thành cường quốc

23 Th12

 

– “Chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác không phải là cách giúp cho anh trở thành cường quốc, được nhìn nhận xứng tầm cường quốc, hay giúp anh gây dựng tầm ảnh hưởng toàn cầu. Không, cách làm mang tư duy hẹp hòi như vậy chỉ khiến cho một nước lớn trở nên tầm thường đi” – Ts Anders Corr (Mỹ) bình luận.

VietNamNet giới thiệu kỳ 1 bàn tròn với ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ Ban Đối ngoại TƯ Đảng và Ts Anders Corr (Harvard), chuyên gia phân tích chính trị quốc tế.

 


Nhà báo Việt Lâm: Xin chào quý độc giả VietNamNet. Năm 2014 sắp trôi qua và một năm mới lại đến. Mời quý độc giả hôm nay cùng nhìn lại những sự kiện nổi bật ở châu Á Thái Bình Dương cũng như dự đoán những diễn biến trong những năm tới. Xin giới thiệu hai khách mời tham gia bàn tròn hôm nay: Ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ Ban Đối ngoại TƯ Đảng và Ts Anders Corr, chuyên gia phân tích chính trị quốc tế, cây bút bình luận quen thuộc của Bloomberg và Financial Times.

Giàn khoan rút đi nhưng các hố khoan vẫn nằm lại

Thưa hai vị khách mời, khi nhìn lại rất nhiều sự kiện đã xảy ra trong năm qua ở châu Á – Thái Bình Dương, theo các ông sự kiện nào là quan trọng nhất, có tầm tác động sâu sắc tới chính trị khu vực?

Ts Anders Corr: Tôi nghĩ hai sự kiện quan trọng nhất trong chính trị khu vực năm vừa qua là sự kiện Trung Quốc kéo giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của VN và việc họ tiếp tục chiếm đóng bãi cạn Scaborough của Philippines. Đó cũng là những sự kiện nổi bật trong quan hệ quốc tế trên toàn cầu, bên cạnh những gì đang diễn ra ở Ukraine.

Ông Bùi Thế Giang: Tôi muốn trả lời câu hỏi này ở góc nhìn rộng hơn. Tôi sẽ không chọn một sự kiện đơn lẻ mà tôi nghĩ đến một nhóm các sự kiện có cùng bản chất. Theo tôi, đó là nhóm các vấn đề liên quan đến các bên tranh chấp trên biển, như biển Hoa Đông và biển Đông. Xét trên khía cạnh này, tôi hoàn toàn đồng ý với Ts Corr.

Nhóm sự kiện thứ hai là các hội nghị thượng đỉnh bàn về các vấn đề kinh tế trong khu vực, đặc biệt là APEC vừa diễn ra hồi tháng 11 ở Bắc Kinh, Thượng đỉnh G20 ở Brisbane, Australia; Hội nghị của Tổ chức Hợp tác Thượng hải và ngày mai là Hội nghị Tiểu vùng Mekong mở rộng ở Bangkok. Đây là những sự kiện ít hay nhiều có cùng bản chất và ảnh hưởng sâu sắc đến các nước như VN.

Việt Lâm:Giờ chúng ta sẽ đi vào một sự kiện cụ thể mà cả hai ông đều cho rằng là sự kiện nổi bật nhất trong khu vực năm qua, sự kiện TQ kéo giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN. Đã nhiều tháng trôi qua kể từ khi Trung Quốc rút giàn khoan, các ông nhìn nhận như thế nào về tác động của sự kiện này?

Ông Bùi Thế Giang: Nói một cách chính thức thì lập trường của VN đã được tuyên bố rất rõ rang trong các cuộc họp song phương cũng như các diễn đàn đa phương. Các quan điểm này cũng rất nhất quán với chính sách lâu nay của VN khi ứng phó với những vấn đề lien quan đến chủ quyền trên biển, hay những vấn đề nổi lên trong quan hệ song phương Việt – Trung.

Tôi nhớ cách đây 10 năm, tôi có một cuộc thảo luận với Ernest Bower, lúc đó đang là Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ – ASEAN, hiện là Chủ nhiệm ban nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS). Chúng tôi bàn chuyện tổ chức các hoạt động kỷ niệm 10 năm bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ. Ernest hỏi tôi một số câu hỏi liên quan đến quan hệ Việt – Mỹ. Và rồi ông ấy hỏi tôi: “Giang, ông nghĩ gì về mối quan hệ giữa Trung Quốc và VN?”. Tôi nhớ, tôi đã trả lời ông ấy rằng “Ồ, trong những năm tiến hành đổi mới, mở cửa với thế giới, VN đã có thêm rất nhiều bạn mới, đối tác mới. Nhưng chúng tôi chưa từng có và sẽ không bao giờ có láng giềng mới”.

Đó là một thực tế. Trung Quốc không chỉ là một nước láng giềng mà còn là một nước lớn. Chúng tôi đã có một lịch sử rất dài với nước này. Nhiều người bên ngoài nghĩ rằng VN hiểu rõ họ hơn bất kỳ ai. Chúng tôi sẽ không dám nhận vinh dự này. Những gì tôi chỉ có thể nói là chúng tôi có biết về Trung Quốc, từ trải nghiệm của riêng mình trong quan hệ song phương với Trung Quốc.

Và xét từ góc nhìn đó và từ trong tiến trình đó, tôi sẽ nói là chúng tôi có một bức tranh khá phức tạp về Trung Quốc như một nước lớn với rất nhiều tham vọng, trong đó tham vọng gần đây nhất mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã công khai tuyên bố là “Giấc mơ Trung Hoa”. “Giấc mơ Trung Hoa” cần được nghiên cứu, giải mã và hiểu một cách thấu đáo, cẩn trọng. Tôi đã gặp nhiều người Trung Quốc giải thích “giấc mơ Trung Hoa” theo nhiều cách khác nhau, chưa kể đến những học giả nước ngoài.

Quay trở lại sự kiện giàn khoan 981 và tác động của nó. Tôi nhớ ngay khi họ kéo giàn khoan vào vùng EEZ của VN ngày 2/5, tôi đã nói với bạn bè tôi rằng: “Hãy chờ xem, họ sẽ rút giàn khoan thôi. Họ sẽ không ở đó lâu, ít nhất là vào thời điểm này. Họ sẽ viện rất nhiều cớ để rút giàn khoan”. Tuy nhiên, khi quốc gia của mình bị xâm phạm, khi lãnh thổ của mình bị , bạn đòi hỏi kẻ xâm phạm phải rút lui ngay tức khắc và vô điều kiện. Đó là nguyên tắc bất biến, không có gì phải nghi ngờ. Nhưng đồng thời, chúng tôi cũng biết rằng làm thế nào để ứng xử cho khéo léo mà giải quyết được vấn đề. Tôi muốn nhắc lại điểm này. Chúng ta đang ở trong mối quan hệ với một láng giềng nước lớn như vậy. Chúng ta làm mọi thứ có thể được nhưng không bao giờ kích động xung đột quân sự. Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể, ngoại trừ điều đó.

Tôi cũng muốn nhắc lại điều mà tôi đã nói 5 tháng trước, rằng họ sẽ rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của VN nhưng các hố khoan vẫn nằm lại đó. Chẳng ai bỏ ra hơn 1 tỷ USD xây dựng giàn khoan này chỉ để trình diễn cho vui cả. Vì thế, chúng tôi vẫn luôn luôn cảnh giác. Và sự thực là hãy nhìn xem họ đang làm gì ở một số bãi đá ngoài Biển Đông kia? Họ không chỉ duy trì sự hiện diện ở đó, mà còn đang tìm mọi cách nâng cấp, tôn tạo và mở rộng chúng.

giàn khoan, Biển Đông, Trung Quốc, nước lớn
Ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ, Ban Đối ngoại TƯ Đảng trao đổi với Ts Anders Corr. Ảnh: Lê Anh Dũng

Việt Lâm:Thế còn Ts Corr, ông có nghĩ rằng sự kiện giàn khoan 981 đã thay đổi phần nào nhìn nhận của giới học giả cũng như công chúng Mỹ về Trung Quốc không?

Ts Corr: Tôi tin là có. Nhưng tôi có một câu hỏi cho ông Giang. Ông có thể giải thích rõ hơn về những mũi khoan mà Trung Quốc để lại không?  Có phải là một cái hố lớn và hố khoan sẽ hữu dụng khi họ cần đến không?

Ông Bùi Thế Giang: Tôi không biết nhưng họ đã tạo ra các mũi khoan ở đó. Như ông biết đấy, họ tuyên bố rằng họ đã thu thập một số mẫu vật ở đó và kết luận rằng họ đã hiểu rõ hơn về trữ lượng dầu khí dưới đáy vùng biển này. Nhưng tôi nghĩ đến một giả định, một khả năng lớn hơn là một ngày nào đó họ sẽ nói rằng: đây này, nhìn này, đây là những bằng chứng chứng minh chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc!

Phản ứng của VN làm nổi bật hành xử của TQ

Ts Corr: Đó hoàn toàn là một khả năng có thể xảy ra nếu căn cứ vào những gì Trung Quốc đã làm. Quay trở lại câu hỏi của bạn về bình luận của tôi đối với sự kiện giàn khoan. Tôi nghĩ rằng không có gì nghiêm trọng hơn trong quan hệ quốc tế bằng việc một quốc gia xâm nhập trái ý muốn vào lãnh thổ của một quốc gia khác. Phản ứng của VN hoàn toàn đúng đắn. Thẳng thắn mà nói tôi rất ấn tượng với cách tiếp cận của VN, một cách tiếp cận phi bạo lực, ôn hòa nhưng rất kiên quyết. Các bạn đã rất kiên định phản đối hành động của Trung Quốc. Tôi tin là cộng đồng quốc tế đều đánh giá phản ứng của VN là thận trọng và hợp lý. Hầu hết mọi người đều ấn tượng với phản ứng này và tôi cho rằng đó là một quyết định khôn ngoan, mang tầm chiến lược. Phản ứng như thế của VN cũng đã làm nổi rõ hơn hết hành vi của Trung Quốc trong con mắt của thế giới. Nó cho thấy Bắc Kinh đang xâm phạm bất hợp pháp và bất công lợi ích của nước khác. Tôi nghĩ rằng sự kiện giàn khoan, theo một cách nào đó đã “mở mắt” cho nhiều người ở Mỹ, trên thế giới và có lẽ ngay cả ở VN.

Mặt khác, theo tôi, sự kiện giàn khoan 981 cũng mở đường cho hợp tác chặt chẽ hơn giữa VN và Philippines. Rõ ràng, VN và Philippines là hai nước có chung lợi ích trong việc này và tôi nghĩ sẽ không khó để hai nước đi tới một thỏa thuận nào đó giải quyết tranh chấp lãnh thổ hiện tại ở Biển Đông. VN và Philippines đều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn nhau trên Biển Đông nhưng hai bên có thể phân định rõ vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Trở lại với đường 9 đoạn, 10 đoạn, hay 11 đoạn mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Đường chữ U này liên tục thay đổi nhưng nó chỉ chứng minh một điều rằng đó là một đòi hỏi chủ quyền cực kỳ phi lý. Soi vào luật pháp quốc tế thì thấy rõ nó chẳng có một cơ sở pháp lý nào hết. Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền dựa trên cái mà họ gọi là “vùng nước lịch sử”. Nếu tuyên bố chủ quyền của họ là hợp pháp thì họ đã chẳng phải nỗ lực để tạo ra bằng cớ trên thực địa như họ đang làm, như việc họ viện trợ cho các tàu đánh cá của ngư dân ồ ạt tiến sâu xuống biển Đông. Tôi tin là theo thời gian, một loạt những biện pháp mà VN đang triển khai sẽ làm đậm hơn ứng xử khiêu khích của Trung Quốc và hy vọng rằng cuối cùng thì áp lực từ công luận quốc tế sẽ buộc họ phải cư xử ôn hòa hơn, thậm chí phải chấp nhận tham gia tranh tụng tại tòa án quốc tế.

Vụ giàn khoan chứng minh những gì VN hiểu về TQ là đúng

Ông Bùi Thế Giang: Tôi muốn nhấn mạnh và một trong hai luận điểm mà ông Corr vừa nêu ra. Một là, ông Corr cho rằng sự kiện giàn khoan 981 đã “mở mắt” cho nhiều người Mỹ cũng như VN về Trung Quốc. Về phần người VN, ít nhất là cá nhân tôi, vì tôi không thể nói thay cho mọi người VN được, thì điều khiến tôi ngạc nhiên là: Sau rất nhiều thăng trầm trong quan hệ song phương giữa hai nước VN và Trung Quốc thời hiện đại, và sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào tháng 11/1991, cả hai nước, đặc biệt là phía VN đã nỗ lực hết sức mình để biến quan hệ giữa hai bên trở nên thực sự bình thường, chẳng hạn như tăng cường trao đổi thương mại, kinh tế, giao lưu giữa nhân dân với nhân dân, chính phủ với chính phủ, giữa hai đảng với nhau. Mọi thứ đang diễn ra khá tốt đẹp và cuối năm ngoái thì Thủ tướng Lý Khắc Cường sang thăm VN. Cả hai bên đều hài lòng và khi đó nhiều người VN đã nghĩ đây là thời điểm tốt đẹp cho mối quan hệ song phương Việt – Trung. Thế nhưng ngày vui chẳng được bao lâu, họ kéo giàn khoan vào vùng biển của chúng tôi. Điều đó khiến tôi thực sự ngạc nhiên.

Nhưng tôi xin nói thẳng rằng sự kiện giàn khoan không hề “mở mắt” cho tôi. Bởi vì như tôi đã đề cập trước đó khi ông nói rằng VN hiểu Trung Quốc hơn bất kỳ ai trên thế giới này. Tôi xin nhắc lại rằng chúng tôi có biết chút ít về người Trung Quốc và đặc biệt hiểu rõ quan hệ song phương Việt – Trung. Và nếu từ khía cạnh này thì sự kiện giàn khoan không có gì mới cả. Đối với tôi, đó là một điều có thể hiểu được, nếu như chúng ta nghĩ về cả một tiến trình lịch sử dài hàng ngàn năm VN quan hệ với Trung Quốc. Sự kiện giàn khoan chỉ chứng minh những gì VN hiểu về Trung Quốc là đúng. Điều duy nhất khiến tôi ngạc nhiên là thời điểm diễn ra sự kiện.

Ý thứ hai ông nói về Philippines rất thú vị. VN có những vấn đề về lãnh thổ với Philippines ở quần đảo Trường Sa. Hai bên có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ xảy ra những vấn đề như đã xảy ra trong quan hệ với Trung Quốc. Nói cách khác, chúng tôi chưa bao giờ hành xử với Philippines và ngược lại Phillipines cũng chưa bao giờ ứng xử với chúng tôi như kiểu Trung Quốc đã làm vừa qua. Ngay cả khi hai bên có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông thì hải quân hai nước vẫn vui vẻ chơi bóng đá, bóng chuyền với nhau một cách hữu hảo. Cho nên, cách tiếp cận như thế nào đối với tranh chấp chủ quyền có ý nghĩa rất quan trọng.

giàn khoan, Biển Đông, Trung Quốc, nước lớn
Ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ, Ban Đối ngoại TƯ Đảng, là một trong hai người VN đầu tiên được cử đi học thạc sĩ QHQT tại John Hopkins khi Mỹ còn đang cấm vận VN. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ts Corr: Tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nếu các nước khác trong khu vực đều có cách tiếp cận như VN với Phillipines thì tôi tin khu vực này sẽ hòa bình hơn nhiều. Tôi hi vọng rằng chí ít trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ bày tỏ thiện chí đáp lại. Tôi đã từng đề xuất rằng Mỹ và cộng đồng quốc tế nên xem xét đến những phản ứng mạnh mẽ hơn một khi TQ đi quá xa, tiếp tục những hành vi khiêu khích của họ trên Biển Đông.

Tôi biết, người Mỹ khó mà tưởng tượng ra mình có thể cấm vận kinh tế với Trung Quốc bởi vì quy mô khổng lồ trong quan hệ kinh tế Mỹ – Trung, rồi thì Bắc Kinh đang nắm giữ hàng nghìn tỷ USD nợ của Chính phủ Mỹ, và giới kinh doanh Mỹ thì đã đổ cả trăm tỷ USD đầu tư vào Trung Quốc. Mối quan hệ kinh tế này có ảnh hưởng sâu sắc lên chính giới Mỹ, giới học giả cũng như công chúng Mỹ.

Tuy vậy, tôi vẫn tin rằng một khi người dân Mỹ hiểu rõ hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, họ sẽ bắt đầu xem xét đến những phản ứng mạnh mẽ hơn. Hi vọng rằng đó sẽ là một cách thức hòa bình để đưa Trung Quốc quay trở về cộng đồng các quốc gia với cách tiếp cận giải quyết tranh chấp trên biển một cách hòa bình. Tôi nghĩ hi vọng của tôi có cơ sở bởi vì Trung Quốc là một cường quốc khá thận trọng trong các toan tính chiến lược của mình.

Trông đợi TQ hành xử xứng tầm nước lớn

Ông Bùi Thế Giang: Tôi cũng hi vọng như vậy. Nhưng tôi có một bình luận, hay là một câu hỏi thế này.  Một thực tế gần như hiển nhiên là hầu như mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế đều đã lên tiếng phản đối Trung Quốc kéo giàn khoan vào EEZ của VN. Thậm chí cả những quốc gia trung lập như là EU chẳng hạn cũng lên tiếng yêu cầu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển 1982. Ông có nghĩ rằng Trung Quốc, nhất là giới lãnh đạo Trung Quốc đã suy nghĩ lại về những gì họ đã làm không? Khi mà mọi thứ đang rất suôn sẻ với họ, nhưng chỉ vì cái giàn khoan kia mà cả thế giới phản đối họ? Liệu đó có phải là một bài học cho họ không?

Ts Corr: Tôi nghĩ là có. Tôi hi vọng là Bắc Kinh đã rút ra được bài học cho mình. Nhưng mà cũng phải nhắc lại là họ đã chứng kiến những phản ứng mạnh mẽ tương tự khi họ chiếm bãi cạn Scaborough của Philippines hay khi họ tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ADIZ với Nhật Bản. Vậy mà họ vẫn muốn phô trương sức mạnh quân sự của mình.

Giờ đây, nếu anh là một nước lớn, một nền văn minh lớn như vậy, có rất nhiều việc anh có thể làm với sức mạnh đó, chẳng hạn theo những cách thức về mặt kinh tế, văn minh hay tri thức. Anh hoàn toàn có thể tạo dựng ảnh hưởng theo một cách thức hòa bình. Anh có thể nỗ lực để cải thiện cuộc sống của nhân dân nước anh, cải thiện cuộc sống của người dân nước khác bằng cách đóng góp tiền của cho viện trợ quốc tế. Rất nhiều thứ anh có thể làm với tư cách một cường quốc trên thế giới. Nhưng bằng việc chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác không phải là cách giúp cho anh trở thành cường quốc, được nhìn nhận xứng tầm cường quốc, hay giúp anh gây dựng tầm ảnh hưởng toàn cầu. Không, cách làm như vậy chỉ khiến cho một nước lớn trở nên nhỏ bé đi, một nước lớn chỉ quan tâm đến những điều vụn vặt. Tôi tin rằng chỉ khi một nước lớn thúc đẩy những giá trị toàn cầu, chẳng hạn như bảo vệ môi trường, mới chứng tỏ anh ta xứng tầm nước lớn, chứ không phải bằng cách lấn chiếm lãnh thổ của nước khác. Đó chỉ là những việc làm mang tầm tư duy nhỏ hẹp.

giàn khoan, Biển Đông, Trung Quốc, nước lớn
Ts Anders Corr có bằng Tiến sỹ về quan hệ quốc tế tại ĐH Harvard, từng là chuyên gia phân tích lâu năm cho Bộ Quốc phòng Mỹ. Ảnh: Lê Anh Dũng

Ông Bùi Thế Giang: Tôi rất thích từ mà ông sử dụng “những việc mang tầm tư duy hẹp hòi”, chứ không phải là nước nhỏ. Tôi nghĩ đến những nước như Singapore, hay Brunei chẳng hạn. Họ là những nước rất nhỏ trên bản đồ thế giới. Nhưng những nước nhỏ với niềm tự hào và tự tôn sẽ không bao giờ hành xử như thế.

Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ông rằng chúng ta chỉ có thể mong đợi và hi vọng rằng Trung Quốc sẽ hành xử xứng tầm một nước lớn. Nhận xét của ông làm tôi nhớ đến tầm nhìn của ông Brezinski, một cố vấn an ninh quốc gia có tầm ảnh hưởng sâu rộng ở Mỹ. Tôi nhớ đã đọc bài phát biểu của ông ấy tại ĐH Stanford tháng 4/2003, gần 12 năm trước. Ông ta phân tích về các đối thủ tiềm năng của Mỹ. Ông ấy phân tích về Nga, EU, Ấn Độ, Nhật Bản. Và sau cùng ông ấy tập trung vào Trung Quốc. Hãy nhớ rằng gần 12 năm trước, Trung Quốc mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới. Và năm 2002, Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức Đại hội Toàn quốc lần thứ 16. Tôi nhớ tại Đại hội đó, họ đã đề ra mục tiêu Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới vào năm 2020. Vậy mà chỉ 2-3 năm sau, họ trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới. Cách đây 2-3 năm, họ vượt lên thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Chưa kể đến báo cáo mới đây của Quỹ tiền tệ quốc tế rằng nếu tính GDP theo sức mua thì nền kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Mỹ.

  • VietNamNet

(còn nữa)

 

Thế giới 24h: Cảnh sát Mỹ báo động

23 Th12

 

 

 Lực lượng cảnh sát trên khắp nước Mỹ báo động sau vụ hai sĩ quan bị bắn chết; Trung Quốc điều tra tham nhũng một trợ lý cấp cao của cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào… là các tin đáng chú ý.

Nổi bật

Các sở cảnh sát ở các thành phố lớn của Mỹ vừa cảnh báo nhân viên phải mặc áo chống đạn và tránh đăng tải những thông điệp kích động trên truyền thông xã hội, sau vụ một tay súng bắn chết hai sĩ quan ở New York gây chấn động.

thế giới, 24h, Mỹ, cảnh sát, báo động
Tổng thống Barack Obama lên án mạnh mẽ vụ giết hại hai sĩ quan New York ngày 20/12. Chỉ huy cảnh sát cho biết họ bị nhắm tới vì bộ đồng phục. Trong ảnh là một lễ tưởng niệm hai nạn nhân. (Ảnh: Getty) 

Vụ sát hại nhằm vào hai sĩ quan Rafael Ramos và Wenjian Liu hôm 20/12 đã làm dấy lên lo ngại về sự an toàn của lực lượng thi hành luật trên toàn nước Mỹ.

Trước khi hành động, tay súng 28 tuổi tên là Ismaaiyl Brinsley đã tuyên bố trên Instagram là sẽ “gắn cánh cho lợn”, để trả đũa việc cảnh sát da trắng giết người da màu.  Brinsley là người da đen, còn các sĩ quan bị y bắn chết là người Tây Ban Nha và người châu Á. 

Các nhà điều tra đang cố gắng xác định liệu có phải Brinsley từng tham gia vào một cuộc biểu tình nào đó liên quan đến cái chết của Michael Brown và Eric Garner, hay đơn giản là y chỉ hành động một cách bạo lực. 

Hai cảnh sát bị Brinsley bắn chết đúng lúc căng thẳng đang dâng cao ở Mỹ, sau khi cảnh sát trên khắp nước này bị chỉ trích về cái chết của Eric Garner, do bị bóp cổ, và vụ cảnh sát bắn chết Michael Brown ở Ferguson thuộc bang Missouri. Biểu tình đã nổ ra liên tiếp nhiều ngày qua, sau khi tòa án tuyên bố không truy tố những cảnh sát liên quan. 

Tin vắn

– Tân Hoa xã đưa tin, Bắc Kinh chính thức mở cuộc điều tra nhằm vào ông Lệnh Kế Hoạch, trợ lý cấp cao dưới thời cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Trong thông báo ngắn gọn, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cho biết ông Lệnh bị điều tra về tội danh tham nhũng.  

– Kyodo News ngày 22/12 đưa tin, quân đội Trung Quốc đang xây dựng một khu căn cứ quy mô lớn trên những hòn đảo gần quần đảo Senkaku hiện do Nhật quản lý nhưng Bắc Kinh cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Điếu Ngư.

Hãng thông tấn Nhật dẫn một số nguồn tin Trung Quốc tiết lộ việc xây dựng đang được tiến hành trên quần đảo Nam Kỷ thuộc tỉnh Chiết Giang, cách Senkaku/ Điếu Ngư khoảng 300km về phía tây bắc.

Khu căn cứ được dự đoán sẽ tăng cường tính sẵn sàng của Trung Quốc trước những cuộc khủng hoảng quân sự tiềm tàng trong khu vực, đồng thời củng cố sự kiểm soát của Trung Quốc đối với khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) mà Bắc Kinh tuyên bố trên biển Hoa Đông hồi tháng 11/2013.

– Ngày 22/12, Thủ tướng Australia Tony Abbott bác bỏ thông tin cho rằng quyết định cải tổ nội các là dấu hiệu cho thấy chính phủ của ông đang lâm vào khủng hoảng.

–  Chính phủ Hàn Quốc ngày 22/12 thông báo sẽ mở rộng hỗ trợ Triều Tiên trong năm 2015, đặc biệt với phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và các bà mẹ.

 

– Báo The Hindu ngày 22/12 đưa tin Hải quân Ấn Độ dự kiến mua khoảng 6-8 máy bay do thám không người lái tầm xa và tầm cao Global Hawk của Mỹ, để tăng cường hoạt động giám sát đại dương.

– Triều Tiên từ chối tham gia cuộc họp ngày 22/12 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc – nơi tình hình nhân quyền tại nước này lần đầu tiên được đưa ra bàn bạc.

– Nhà Trắng cho biết, Tổng thống Ukraina Petro Poroshenko đã cảm ơn Mỹ vì những biện pháp hạn chế thương mại và đầu tư nhằm vào Crưm để trừng phạt việc bán đảo này sáp nhập vào Nga.

– Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị hôm 22/12 cho biết nước này sẵn sàng giúp đỡ Nga nếu cần thiết, nhưng tin rằng Moscoww đủ khả năng vượt qua những khó khăn kinh tế hiện tại. 

Tin ảnh

thế giới, 24h, Mỹ, cảnh sát, báo động
Với chiều cao 85m và được trang trí bằng hơn 3 triệu bóng điện, cây thông Noel nổi lớn nhất thế giới này tọa lạc ở vịnh Rio de Janeiro, Brazil.  (Ảnh: Getty)

Phát ngôn

Tuyên bố Trung Quốc sẵn sàng trợ giúp Nga nếu cần thiết, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đánh giá: “Nga có năng lực và sự uyên thâm để vượt qua khó khăn hiện thời về mặt kinh tế”.

“Nếu phía Nga cần giúp đỡ, thì chúng tôi sẽ cung cấp sự trợ giúp cần thiết trong khả năng của mình”, ông Vương Nghị khẳng định.

Kỷ niệm

– Ngày 23/12/1964, một trận gió xoáy ở Ceylon, Sri Lanka làm 2.000 người thiệt mạng.

– Ngày 23/12/1972, một trận động đất liên hoàn tại Nicaragua làm 7.000 người thiệt mạng.

Thanh Hảo

 

%d bloggers like this: