Lưu trữ | Tháng Một, 2015

Chạy chức quyền và những tin nhắn mùi… tiền – BS

31 Th1

 

Posted by adminbasam on 31/01/2015

TVN

Kỳ Duyên

31-01-2015

H1Có câu Bệnh từ miệng bệnh vào, vạ từ miệng vạ ra. Đôi khi, vạ chả cần từ miệng mà ra như trường hợp ông “Luật chạy chức quyền”, mà vạ cũng có thể từ điện thoại di động… vạ ra!

Hiếm có tuần nào như tuần này, quan trí và quan đức bỗng nhiên được dư luận xã hội quan tâm và bàn tán rôm rả. Là bởi có hai vụ việc với những phát ngôn, những thông tin khá ấn tượng, để lại dư âm vừa khá hài vừa khá … thất vọng.

Vạ từ miệng vạ ra

Đó là bởi cách đây ít lâu, các cán bộ, đảng viên vừa thảo luận góp ý cho dự thảo các văn kiện ĐH Đảng XI về việc cần thay đổi cơ chế bầu chọn cán bộ một cách dân chủ, trước dư luận chạy chức chạy quyền, đến mức bị gọi là “đấu thầu” cán bộ. Ý kiến chưa ngã ngũ, thì xã hội bỗng xới xáo lên phát ngôn ấn tượng của ông PGS.Ts N. H.T, nguyên Viện trưởng Viện KH hành chính (Học viện HCQG), khi ông điềm nhiên cho rằng, cần luật hóa cho phép chạy chức, chạy quyền.

Ở góc độ truyền thông, tờ báo phỏng vấn ông đã thành công khi gây tranh cãi ồn ào, cuốn hút bạn đọc.

Ở góc độ phát ngôn ấn tượng, ông N.H.T cũng đã thành công khi khiến cả XH phải tốn bút mực bàn luận về những phát ngôn của ông.

Nhưng ở góc độ tư duy, ông cũng là người “thành công” nốt khi khiến cả XH thêm ấn tượng sâu sắc … xấu về quan trí. Dù đọc toàn bộ bài trả lời phỏng vấn, thấy ở ông là sự chân thành.

Để dẫn chứng cho luận điểm của mình, ông đưa ra rất nhiều cách nhìn trong thời kinh tế thị trường, tựu trung lại, có hai phép so sánh sinh động nhưng là so sánh… chết người. Bởi đó là sự khập khiễng, sự lầm lẫn những giá trị, thậm chí như là đánh tráo khái niệm.

Khập khiễng, khi ông ám chỉ việc chạy chức chạy quyền ở Mỹ, ngay cả ông Obama cũng phải “chạy”.

Giá Obama biết tiếng Việt, hẳn sẽ kiện ông tội vu khống.

Bởi ông quên rằng, thiết chế chính trị tam quyền phân lập của Mỹ khác hẳn với thiết chế chính trị của nhiều nước. Ở đó, việc ứng viên tranh cử để được đảng (của họ) tiến cử phải thông qua một chương trình, một cương lĩnh phát triển nghiêm túc. Đồng tiền họ cần để “chạy” chính là khi vận động, tranh thủ các cử tri bỏ phiếu, và đồng tiền này là của các doanh nghiệp làm Mạnh thường quân tài trợ cho các đảng phái. Nhưng tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc- minh bạch.

Trong khi đó, cái chữ “chạy” của  không ít kẻ trong XH nước Việt, thực chất là mua quan bán tước, mua ghế, thực chất là anh rút chân giò tôi thò chai rượu. Ở đó, chỉ có giao dịch đen giữa cá nhân với cá nhân, mà cương lĩnh của kẻ “chạy”, dù không tuyên bố nhưng ai cũng hiểu, là làm sao vơ vét được thật nhiều, để bù vào cái khoản đã “chạy”. Tham nhũng nối tiếp hối lộ. Đó là vòng đời được … minh bạch của “chạy”.

Người dân còn chưa quên những chữ ký gấp của nhiều quan chức trước khi hạ cánh cho không ít các thuộc cấp của họ có chức có quyền. Cho dù các vị này cuối cùng hạ cánh có an toàn đi chăng nữa, thì trăm năm bia miệng hãy còn trơ trơ.

Nay cái chữ “chạy” đó bỗng nhiên được đề nghị luật hóa, được thừa nhận, có nghĩa là sự thừa nhận công cuộc phòng chống tham nhũng đó không thành công, thừa nhận nước Việt lại tiếp tục… cô đơn với một quy định luật pháp mà chả quốc gia nào văn minh, tiến bộ đi trước lại ứng dụng. Vì nó không chỉ gây rối ren trong đạo lý văn hóa một xã hội, mà nó còn nhầm lẫn và đánh tráo khái niệm, thực sự đi ngược lại những giá trị của nhân cách người. Vì sao?

Nhầm lẫn và đánh tráo khái niệm, là bởi, ông N.H.T nhắc đi nhắc lại về cơ chế thị trường: Như vậy, trong tổ chức, trong cán bộ cũng phải theo cơ chế thị trường bởi nó không có gì xấu vì vẫn là quan hệ cung- cầu. Thế nhưng, chúng ta không quan niệm cơ chế thị trường trong công tác tổ chức cán bộ nên mới dẫn đến tình trạng để cho nó phát triển ngầm quy luật này, mới sinh ra chạy chức, chạy quyền.

Cơ chế kinh tế thị trường với nước Việt còn quá mới mẻ, nhất là lý luận còn mỏng, chưa đủ sức thuyết phục. Nhưng sản phẩm chủ thể của cơ chế thị trường là hàng hóa. Còn chủ thể của quyền lực- quyền uy, dù muốn hay không là trí tuệ, và phẩm cách con người. Một khi nén bạc đã đâm toạc phẩm cách, thì cái phẩm cách đó có đủ sức hướng đạo cho cả một nền tảng văn hóa- đạo lý XH hay không? Nếu thực chất đồng tiền luôn đứng sau… chỉ đạo?

Xin được hỏi, nếu “Luật chạy chức, chạy quyền” được thừa nhận, liệu ông có bảo đảm những người “đấu thầu” trúng chức quyền, đều là những người tài giỏi, có năng lực? Bởi tiếc thay trong XH ta, không phải lúc nào sự tài giỏi và có tiền bạc cũng là cặp đôi hoàn hảo.

Và hãy thử tưởng tượng thực tế này. Nếu “Luật chạy chức, chạy quyền” thành hiện thực, tất sẽ kéo theo rất nhiều hiện tượng cung- cầu khác. Vì quy luật phát triển bao giờ cũng đòi hỏi tính đồng bộ, tương đồng, tương thích của một XH.

Việc mua bằng- bán điểm sẽ phải được hợp pháp, thay cho sinh viên, học trò phải khổ công học hành.

Việc mua chỗ làm cũng sẽ phải được công nhận, thay cho tuyển dụng nhiêu khê.

Việc mua bằng giả các ngành học từ phổ thông đến Ts cũng sẽ được công nhận hợp pháp vv.và… v.v..

Bởi tất cả những hiện tượng đó đều có thể là quy luật cung – cầu, theo lý luận của ông.

Chả trách trong một bài viết trên VietNamNet, ngày 26/01, tác giả Đinh Duy Hòa  đã dự báo: Bộ máy nhà nước chắc sẽ bao gồm những người nhiều tiền kinh khủng, từ các bộ toàn những người tiền trên thiên hạ mới đấu thầu trúng được, rồi chủ tịch các tỉnh, huyện. Hệ thống hành chính chắc phải đổi lại là hệ thống hành chính tiền tệ cho chính xác.

Chưa biết, “Luật chạy chức, chạy quyền” có biến thành hiện thực hay không, nhưng với tư duy khác đời như thế, đã có những câu hỏi hoài nghi ngay chính về bằng cấp của ông.

Tiền nhân xưa có câu ngạn ngữ thâm thúy: Phải uốn lưỡi 07 lần trước khi nói, để khuyên nhủ người đương thời và hậu thế nên biết cẩn trọng khi phát ngôn, kẻo vạ từ miệng vạ ra.

Mà với câu răn dạy đó, hẳn ông N.H.T là học trò… kém?

Mùi gì?

Dư luận XH về “Luật chạy chức, chạy quyền” chưa lắng xuống, XH lại “sốc” tiếp bởi một vụ việc chả lấy gì làm tốt đẹp, hay ho, xung quanh những mẩu tin ngắn được nhắn qua lại giữa hai người, một quan chức, một doanh nhân, bất ngờ bị (hay được) công khai trên báo chí. Một người là ông N. H. T, Thứ trưởng Bộ GTVT. Người kia là một nữ doanh nhân có tên H.

Đọc toàn bộ tin nhắn đã công khai, người ta dễ suy luận ra là bà H đòi lại ông này số tiền mà theo tin nhắn nguyên văn: Tổng em đưa cho anh bảy lần, 4 lần nhớ chính xzacs là 200 triệu và 10 ngàn đô, còn 3 lần nữa em không nhớ vì sáng nay em không cầm sổ, để em hỏi lại cậu thư ký hay đi cùng, anh thích trả cho em bao nhiêu thì trả, em phải vay lãi 1 triệu/10 nghìn ngày đó anh ạ (Bảo vệ pháp luật, ngày 23/01).

Hóa ra cái tin nhắn đó liên quan đến việc xin tham gia gói thầu RAI/CP1 thuộc dự án quản lý tài sản đường bộ Việt Nam VRAMP, mà bà H, Chủ tịch HĐQT Công ty cố phần TH, là một trong những đơn vị doanh nghiệp có nhu cầu.

Đặt cái tin nhắn đầy mùi tiền bạc đó, trong bối cảnh ông Thứ trưởng GTVT là người có thẩm quyền bút phê dự án này, trong bối cảnh xã hội nạn tham nhũng phổ biến, hẳn người có trí tuệ trung bình trở lên cũng phải nghĩ, đó là tin nhắn đòi lại tiền đã đưa. Tiến sĩ Tô Văn Trường trong một bài viết trên mạng truyền thông XH đã gọi đích danh “Đã bốc mùi hối lộ chạy dự án”.

Còn những người quá hiểu “luật đời” trong mối quan hệ làm ăn với các dự án cho rằng, một trong hai người đã phạm “luật giang hồ”- tức là không thực hiện được đúng cam kết, thì phải trả lại tiền. Thực hư ra sao, bản chất những tin nhắn đó là gì, chắc chắn chỉ hai người trong cuộc biết với nhau. Còn tại buổi họp báo Chính phủ chiều qua, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã nói rõ, Thứ trưởng có báo cáo với ban cán sự Đảng là tin nhắn không có, là sai sự thật.

“Căn cứ vào báo cáo của Thứ trưởng Trường, chúng tôi cũng đã có báo cáo về Ban Bí thư, Chính phủ đồng thời đề nghị Tổng cục Cảnh sát –  Bộ Công an điều tra, làm rõ, xử lý theo đúng quy định của pháp luật”, ông Thăng giải thích.

Cũng ngay trong tuần, trước những thông tin, những bình luận ồn ào trên báo chí, mạng truyền thông, lãnh đạo Bộ GTVT đã có ngay một hành động nhanh chóng, như mọi lần xảy ra các vụ việc, liên quan đến thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ. Đó là ra quyết định thanh tra đột xuất công tác đấu thầu gói thầu RAI/CP1 thuộc dự án quản lý tài sản đường bộ VN (VRAMP), nhằm làm rõ các thông tin đăng tải trên báo chí trước đó cho rằng, bút phê của Thứ trưởng Bộ GTVT N. H.T vào đơn xin tham gia thực hiện các gói thầu thuộc dự án VRAMP do bà H.T.D.H. – Chủ tịch HÐQT Công ty CP đầu tư TH – gửi ông này.

Tuy nhiên, cho dù nhanh chóng có động thái để xử lý vấn đề, dư luận xung quanh vụ việc này lại bỗng hoài nghi, trước cung cách và quan niệm xử lý vụ việc.

Vì sao, việc thanh tra đột xuất công tác đấu thầu gói thầu RAI/CP1 thuộc dự án quản lý tài sản đường bộ VN (VRAMP) đang có nhiều tai tiếng, lại do chính thanh tra của Bộ GTVT tiến hành. Điều đó được ví như Bộ GTVT vừa đá bóng vừa thổi còi. Vì nếu có tiêu cực thật, sớm muộn gì Bộ GTVT và những người quản lý, có trách nhiệm cũng có liên quan. Vậy việc thanh tra liệu có bảo đảm kết quả khách quan?

H1Trong khi mối quan hệ này rõ ràng không thể chỉ là mối quan hệ cá nhân, nó liên quan đến lợi ích của một doanh nghiệp, liên quan đến việc đấu thầu một gói thầu mà Bộ GTVT là chủ đầu tư dự án, liên quan đến cả tư cách của một quan chức cấp bộ.

Chỉ xin mượn ý câu trong ca khúc Phượng hồng: Ai cũng hiểu chỉ một người không chịu hiểu/ Nên có một gã không khờ ngọng ngịu ngó làm lơ.

Và thêm điều này mới đáng chú ý, ngay sau vụ việc tin nhắn tai tiếng, ngay sau những quyết định của Bộ GTVT còn khiến dư luận XH ồn ào bàn tán, theo báo Đất Việt, ngày 27/01, Bộ GTVT liên tiếp đưa những thông tin mang tính cảnh báo, răn đe những người gọi điện thoại đến các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ GTVT, để liên hệ công tác, làm việc, xưng danh là người thân quen của đồng chí Bộ trưởng GTVT.  Theo đó, việc xưng danh là người thân quen của Bộ trưởng là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Bộ trưởng cũng như công việc chung của Bộ GTVT, đồng thời gây phiền hà cho các cơ quan, đơn vị.

Văn bản này cũng do chính ông Thứ trưởng N. H. T ký tên.

Việc làm này, đặt trong bối cảnh “tin nhắn hai chiều” vừa diễn ra với những nghi vấn tiền bạc không sòng phẳng, phải chăng, nó là một thứ thủ pháp, mẹo mực khôn mà không ngoan của ai đó tham mưu cho Bộ GTVT nhằm xóa nhòa đi nghi vấn vụ việc mới đây. Tuy nhiên, trong thời đại của IT, của thế giới phẳng, sự trí trá có thể giúp cho những ai đó thoát tội, nhưng không dễ đánh lừa được dư luận XH.

Mọi vụ việc của “tin nhắn hai chiều” nói trên, của cuộc thanh tra gói thầu dự án vẫn còn đang bỏ ngỏ… Dư luận XH vẫn đang chờ đợi và đòi hỏi cách giải quyết minh bạch, sòng phẳng của Bộ GTVT, đặc biệt sau phần chia sẻ của người đứng đầu bộ này tại cuộc họp báo Chính phủ.

Chợt nhớ một câu ngạn ngữ rất sâu sắc: Người ta có thể đánh lừa được một người, đánh lừa được một tập thể, thậm chí đánh lừa một cộng đồng, nhưng không thể đánh lừa được cuộc đời.

Lại có câu Bệnh từ miệng bệnh vào, vạ từ miệng vạ ra. Đôi khi, vạ chả cần từ miệng mà ra như trường hợp ông “Luật chạy chức, chạy quyền”, mà vạ cũng có thể từ điện thoai di động… vạ ra!

Thế giới 24h: Lỗi chết người của phi công QZ8501

31 Th1

 

Người điều khiển máy bay QZ8501 đã phạm phải sai lầm chết người, Nga tuyên bố không cho phép nước nào qua mặt về quân sự… nằm trong số những tin tức nổi bật trên thế giới trong vòng 24 giờ qua.

Tin nổi bật

Thế giới, 24h, Nga, EU

Chiếc máy bay AirAsia số hiệu QZ8510 đã mất tích sau khi phi công lái trực tiếp vào khu vực nguy hiểm trên bầu trời Biển Java.

Chuyên gia hàng không Australia Neil Hansford nói rằng cơ trưởng người Indonesia hoặc phi công phụ người Pháp của chuyến bay QZ8501 đã đề ra một lộ trình bay nguy hiểm. Theo Hansford, các phi công lão luyện luôn tránh khu vực nào mà máy bay phải hạ độ cao và sẽ không bay qua vùng đó.

“’Họ gọi đó là ‘nhà máy sấm sét’. Người ta thường lên kế hoạch đi vòng qua đó chứ không bay xuyên qua nó’, ông Hansford nói và bình luận thêm bất kỳ ai đề ra lộ trình này cũng đã gây ra lỗi nguy hiểm chết người.

Trong khi đó báo Bloomberg dẫn thông tin từ hai nguồn nắm rõ quá trình điều tra vụ việc cho biết, phi công QZ8501 được cho là đã tắt nguồn điện hệ thống máy tính quan trọng vốn dùng để ngăn phi cơ mất kiểm soát, ngay trước khi máy bay lao xuống biển. Hành động này dường như là yếu tố tạo nên thảm kịch ngày 28/12/2014, khi chiếc Airbus A320 đột ngột vọt lên cao rồi sau đó rơi xuống biển giữa những tiếng cảnh báo réo liên hồi trên khoang máy bay.

Tin vắn  

– Ngày 30/1, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu tuyên bố không cho phép bất kỳ nước nào qua mặt Nga về mặt quân sự, đồng thời khẳng định sẽ hoàn thành kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang trước năm 2020. Ông cho biết Nga sẽ thành lập một lực lượng không quân mới trong nỗ lực duy trì sức mạnh của quân đội nước này.  

– Chiều ngày 30/1 đã xảy ra một vụ đánh bom đẫm máu nhằm vào một nhà thờ Hồi giáo Shiite ở miền nam Pakistan. Ít nhất 20 người thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương. Bom phát nổ khi các tín đồ Shiite đang làm lễ cầu nguyện thứ Sáu hàng tuần tại một nhà thờ ở thị trấn Shikarpur, cách thành phố Karachi 470km về phía bắc.  

– Tổng thống Ai Cập Abdul Fattah al-Sisi đã phải cắt ngắn chuyến đi tới dự một hội nghị của Liên minh châu Phi để giải quyết loạt vụ tấn công đẫm máu trên bán đảo Sinai. Những kẻ tấn công đã nhắm tới các mục tiêu của cảnh sát và quân đội ở miền bắc Sinai làm ít nhất 30 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương.  

– Philippines tổ chức quốc tang 1 ngày để tưởng niệm 44 cảnh sát thiệt mạng trong vụ đụng độ với phiến quân Hồi giáo. Tất cả các văn phòng của chính phủ và cơ sở quân sự tại Philippines đều treo cờ rủ.

– Thời hạn chót 24h mà tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) đưa ra với các con tin Nhật và Jordan đã trôi qua song tình hình vẫn “im ắng”. Cả Nhật và Jordan đều nóng lòng chờ tin của cả hai nạn nhân và đang hợp tác chặt chẽ với nhau để điều tra vụ việc.  

– Theo đạo luật an ninh mới vừa được công bố, Cơ quan Tình báo Canada sẽ được trao thêm quyền hạn nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố tiềm tàng.   

– IS sáng 30/1 tổ chức tấn công lực lượng người Kurd ở Kirkuk nhằm buộc họ phải phân tán lực lượng khỏi thành phố chiến lược Mosul, vốn hiện là một thành trì của IS ở Iraq.  

 
 

– Bộ Ngoại giao Hàn Quốc ra thông cáo báo chí cho biết quan chức nước này và Mỹ đã thảo luận về chương trình hạt nhân của Triều Tiên cũng như các vấn đề an ninh toàn cầu khác.   

– Xe bồn chở gas phát nổ ngay bên ngoài một bệnh viện phụ sản Cuajimalpa tại Mexico City khiến một phụ nữ và một trẻ nhỏ thiệt mạng. 73 người bị vùi lấp, trong đó có 22 trẻ sơ sinh.  

– Trong bài phát biểu trước các nghị sĩ Dân chủ tại thành phố Philadelphia, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho biết sẽ đề xuất tăng trần chi tiêu ngân sách chính phủ trong năm tài khóa 2015.  

– Bộ trưởng Giáo dục Trung Quốc yêu cầu các trường đại học không dùng sách giáo khoa cổ vũ giá trị phương Tây. Theo truyền thông nhà nước, ông Viên Quý Nhân nói cần loại bỏ khỏi phòng học sự chỉ trích lãnh đạo và hệ thống chính trị Trung Quốc. Tân Hoa xã dẫn lời ông Viên nói các trường đại học “không bao giờ nên để sách giáo khoa cổ vũ giá trị phương Tây xuất hiện trong lớp học”.  

Ảnh nổi bật

Thế giới, 24h, Nga, EU

Người dân Donetsk xếp hàng dài để nhận lương thực. Chiến sự ở miền đông Ukraina leo thang trở lại với giao tranh gay gắt diễn ra gần thị trấn Debaltseve, địa bàn chiến lược có một ga đường sắt đầu mối nằm giữa Donetsk và Luhansk. (Ảnh: Reuters).

Phát ngôn

Nhà chức trách Malaysia tuyên bố sẽ tiếp tục tìm kiếm chiếc máy bay mất tích số hiệu MH370 của hãng Malaysia Airlines như đã cam kết.

Ông Badrishah Mohamad, một quan chức của Cục hàng không dân dụng Malaysia khẳng định việc tìm kiếm chiếc máy bay MH370 vẫn là ưu tiên của nước này. Theo đó, phía Malaysia hy vọng sẽ hoàn thành tìm kiếm một diện tích 60 nghìn km2 (23 nghìn dặm vuông) dưới đáy biển vào tháng 5 tới.

“Nếu không thể tìm thấy máy bay mang mã hiệu MH370 trong khu vực này, thì chúng ta cần phải ngồi xuống để bàn bạc. Tất cả các chuyên gia và chính phủ cần thảo luận xem cần phải làm những gì tiếp theo dựa trên những số liệu hiện có”.

Sự kiện

Ngày 31/1/1966, Liên Xô đã phóng thành công tàu Luna 9. Đây là con tàu vũ trụ đầu tiên đổ bộ thành công xuống mặt trăng.

Thanh Hảo

Triều Tiên – ‘bạn’ mới của ông Putin? – Vnn

30 Th1

 

Nga và Triều Tiên đang xích lại gần nhau hơn khi chuẩn bị thiết lập một hội đồng kinh doanh song phương nhằm “cải thiện sự tương tác giữa các cộng đồng kinh doanh Triều Tiên và Nga”. 

Nga, Putin, Triều Tiên, TQ
Tổng thống Nga Vladimir Putin và Đại sứ Triều Tiên Kim Hyun-joon. Ảnh: Reuters

Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Nga Vladimir Strashko nói trong một cuộc họp báo gần đây về điều trên.

RIA Novosti dẫn lời ông này cho biết, hai nước sẽ “xây dựng Hội đồng Kinh doanh để tạo điều kiện hợp tác thoải mái nhất cho giới kinh doanh hai nước”. 

Hãng tin tức này cũng cho hay Nga và Triều Tiên đã “đạt được nhiều tiến triển trong các vấn đề song phương phức tạp” như Triều Tiên bắt đầu cung cấp visa ra vào nhiều lần cho công dân Nga. Trong khi đó các cuộc thương thảo về một ủy ban đặc biệt phụ trách giám sát các dự án chung giữa Nga và Triều Tiên đang diễn ra.

Trước đó, Bộ Phát triển vùng Viễn Đông của Nga đã thông báo rằng, các doanh nghiệp Nga làm ăn thông qua Ngân hàng Ngoại thương của Triều Tiên có thể thanh toán bằng đồng rúp. Hồi tháng 10/2014, bộ này cho biết, Nga đang tìm cách mở rộng trao đổi kinh tế với Bình Nhưỡng.

Trước đó, hai bên đã duy trì một mối quan hệ đặc biệt. Triều Tiên cho thuê lực lượng lao động làm việc ở Siberia với nỗ lực kiếm ngoại tệ, quân đội nước này cũng sử dụng nhiều hàng hóa và thiết bị từ thời Liên Xô. Moscow và Bình Nhưỡng gần đây đang không ngừng thúc đẩy quan hệ quân sự. 

Giới quan sát nhận định, với động thái thành lập “Hội đồng kinh doanh song phương”, cả Nga và Triều Tiên đều đang lặng lẽ thực hiện chiến lược đa dạng hóa, giảm phụ thuộc phương Tây.

 
 

Chuyến công du nước ngoài đầu tiên

Hãng tin Yonhap của Hàn Quốc hôm 28/1 dẫn lời người phát ngôn Kremlin cho biết, lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un đã xác nhận sẽ tham dự  lễ kỷ niệm 70 năm ngày Hồng quân Liên Xô chiến thắng phát xít Đức (9/5/1945 – 9/5/2015) trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, diễn ra tại Moscow vào tháng 5.

Đây là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Kim từ khi ông nắm quyền lực năm 2011. “Khoảng 20 nguyên thủ các nước xác nhận tham dự, trong đó có Triều Tiên”, Yonhap dẫn lời người phát ngôn như vậy.

Trong khi quan hệ giữa Moscow và Bình Nhưỡng ấm dần thì ngược lại, quan hệ của Triều Tiên với TQ có phần “nguội đi” nhất là từ năm 2013, khi Bình Nhưỡng bất chấp cảnh báo quốc tế và các biện pháp trừng phạt của LHQ mà tiến hành vụ thử hạt nhân lần ba.

“Không có quy tắc nào nói rằng Kim Jong Un phải tới TQ trước”, Cheong Seong-chang nhà nghiên cứu tại Viện Sejong, Hàn Quốc nói. “Theo phía TQ, Bình Nhưỡng cần cam kết phi hạt nhân hóa trước khả năng diễn ra một cuộc gặp thượng đỉnh. Điều này là khó với Kim Jong Un”.

Về phần mình, Nga vẫn đang thúc đẩy các dự án cung cấp khí đốt và vận tải với Triều Tiên trong hy vọng mở rộng xuất khẩu năng lượng sang châu Á. 

Hồi đầu tháng 1, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói, Bình Nhưỡng có tín hiệu tích cực sau khi ông Putin mời lãnh đạo của họ tham dự lễ kỷ niệm nói trên. Cha ông Kim từng được mời tham dự sự kiện này vào năm 2005 nhưng không có mặt.

Thái An(theo businessinsider, csmonitor)

Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/chinh-tri

 
  • Từ khóa:

‘Đã quyết dàn ủy viên trung ương ̣Đảng’ – BBC

29 Th1

 

  • 28 tháng 1 2015

Trưởng ban Tổ chức Trung ương Tô Huy Rứa cho hay Bộ Chính trị Đảng CSVN đã quyết định danh sách 290 trung ương ủy viên cho các khóa tới.

Bên cạnh đó, danh sách nhân sự 22 người quy hoạch cho Bộ Chính trị và Ban Bí thư cũng đã được chốt lại.

Như vậy, công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng XII đã vào giai đoạn chót.

Đại hội XII sẽ diễn ra vào đầu năm 2016.

Ông Rứa được báo Tuổi Trẻ dẫn lời nói tới đây “sẽ tiếp tục giới thiệu, bổ sung theo đúng quy định, quy trình”.

Ông cũng khẳng định quá trình chọn nhân sự “rất chặt chẽ, lựa chọn chính xác, qua nhiều bộ lọc, đặc biệt là chống tiêu cực”.

“Mặc dù có đồn thổi nhưng chắc chắn là không có ‘chạy'”.

Ông Tô Huy Rứa nhấn mạnh “không có tiếp xúc trực tiếp, không gặp riêng” đối với các nhân sự dự kiến và cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương.

” Nếu anh tiếp xúc ở cơ quan, ở nhà hay quán xá là anh vi phạm.”

Tổ chức cán bộ

Lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương cũng được khuyến cáo nếu gặp các nhân sự “cũng phải qua đăng ký trước, không gặp riêng mà gặp nhiều người và được công bố công khai”.

Theo Ban Tổ chức Trung ương, trong năm 2014, ban này đã tham mưu cho Bộ Chính trị Đảng CSVN về công tác nhân sự đối với 12 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; sáu bí thư tỉnh ủy, thành ủy; 21 thứ trưởng và tương đương.

Bên cạnh đó, Ban Tổ chức Trung ương cũng cố vấn về phong, thăng quân hàm cấp tướng đối với 146 sỹ quan quân đội và công an.

Thời gian từ tháng 12 năm 2014 đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 2016 cũng là lúc có nhiều bình luận về bố trí nhân sự của tổ chức này.

Bình luận về sự kiện này, nhà báo Huy Đức từ Tp HCM viết trên facebook cá nhân:

“Những người “được quy hoạch” là “đồng chí” chứ có phải “thế lực thù địch” của Đảng đâu mà “cấm tiếp xúc” với Ban Tổ chức.

“Con người chứ đâu có phải kiến mà hy vọng có thể ngăn chặn bằng cách lấy phấn vẽ vòng. Chỉ khi áp dụng cơ chế “tranh cử trong Đảng” (tôi đang nói đến công tác nhân sự nội bộ của Đảng) thay cho cơ chế “quy hoạch cán bộ” thì mới tránh được nạn “mua quan, bán chức”; mới tránh được bệnh “thoái hóa do sinh sản cận huyết” (cha, chú chọn con, cháu, hoặc những kẻ kém hơn mình và chỉ biết ngoan ngoãn vâng lời) mà chúng ta đang chứng kiến.”

Từ bên ngoài, Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát hàng đầu tại Úc nói với BBC rằng tin rằng dù đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ở vị trí mạnh, việc quyết định ai là thủ tướng nhiệm kỳ tới sẽ vẫn phải đợi tới Đại hội 12 năm 2016.

“Tôi nghĩ rằng điều gì xảy ra tại chính hội trường Đại hội (floor of the Congress) tới sẽ mang tính quyết định về chuyện ai là thủ tướng mới,” ông nói với BBC Tiếng Việt hôm 14/1/2015.

GS Thayer cũng tin rằng cả vị trí thủ tướng, bộ máy điều hành đã trở nên rất mạnh thời gian qua, mạnh hơn bộ máy Đảng hiện nay.

Điều này hiện đã và đang có tác động đến chuyển biến nhân sự của bộ máy cầm quyền tại Việt Nam, theo nhà quan sát từ Úc.

Tin liên quan

  • Đảng tiếp tục không chấp nhận báo tư nhân
    14 tháng 1 2015
  • Kết quả lấy phiếu tín nhiệm vẫn giữ kín
    13 tháng 1 2015
  • Thực chất của Hội nghị Trung ương 10?
    6 tháng 1 2015
  • Đảng bắt đầu Hội nghị Trung ương 10
    5 tháng 1 2015

Bàn luận xung quanh Hiệp định Paris – BS

29 Th1

 

Posted by adminbasam on 28/01/2015

Trọng Đạt

28-01-2015

H1Sau bốn năm đàm phán, Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973 tại Paris giữa Hoa Kỳ, Cộng Sản Hà Nội, Việt Nam Cộng Hòa và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời (tức Việt Cộng). Hiệp định dài khoảng 10 trang gồm:

Chương I- Chủ quyền, thống nhất; II- Chấm dứt chiến sự, rút quân; III -Trao trả tù binh; IV- Hội đồng đồng hòa giải dân tộc; V- Thống nhất đất nước hai miền, không bên nào được thôn tính bên nào; VI- Ủy ban liên hợp quân sự; VII- Đối với Miên, Lào; VIII- Quan hệ VNDCCH và Mỹ, IX Những điều khoản khác (Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập từ trang 944 tới 954)

Trên thực tế chỉ có một số điểm chính hai bên đã thương thuyết như sau.

– Mỹ rút quân

– Trao trả tù binh

– Lật đổ chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

– Việc thành lập chính phủ Liên hiệp.

– Lập Hội đồng hòa giải dân tộc.

-Bắc Việt rút khỏi miền nam VN

Hiệp định ký kết ngày 27/1 cho thấy Mỹ rút quân khỏi Đông Dương hoàn toàn, Hà Nội trả tù binh cho Mỹ và chịu nhượng bộ ba điểm chính mà họ đã đòi hỏi suốt gần 4 năm: không đòi loại bỏ chính phủ Nguyễn văn Thiệu, không lập chính phủ Liên hiệp, Hội đồng hòa giải dân tộc chỉ có hình thức, trên thực tế không được thiết lập. Hoa Kỳ và miền nam phải nhượng bộ để quân đội BV được ở lại. Cuối cùng các phe tham gia hòa đàm đều có phần như tác giả Marvin Kalb, Bernard Kalb nhận xét trong cuốn Kissinger, trang 421

“Nixon lấy lại được tù binh, Thọ đòi được Mỹ rút, Thiệu vẫn cầm quyền, Chính phủ cách mạng lâm thời (tức VC) có tư cách chính trị hợp pháp tại miền nam, mỗi người được một chút, nhưng không có ai đòi được hết tất cả“

(Nixon got the prisoners back, Tho got the Americans out, Thieu got to keep his hold on power and the PRG got a degree of political legitimacy in South Vietnam. Everybody got something, but nobody got everything)

Đã có nhiều bàn luận, tranh cãi quanh Hiệp định ngưng bắn của truyền thông báo chí, các nhà học giả, các chính trị gia, phe phái. Trước hết tôi xin nói tới những sự đánh giá cao thành quả của hành pháp.

Ca tụng

Tác giả Larry Berman (1) có nói dư luận truyền thông báo chí ca ngợi Hiệp định Paris của TT Nixon vừa được ký kết như.

Tờ Portland Press Herald viết “hòa bình danh dự” qua một “hòa bình thích nghi”.

Holmes Alexander trên tờ Fort Worth Star-Telegram viết “Chiến tranh của Nixon thành Hòa bình của Nixon”.

Tờ Milwaukee Sentinel viết “Lòng can đảm, mưu trí, kiên nhẫn và lòng cương quyết của Nixon đã được đền bù với Hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam nhìn chung có vẻ tốt đẹp mà mọi bên đều mong đợi một cách hợp lý (all things considered, appears to be about as good as all sides could reasonably expect)

Tờ Washington Post nói: “Ông đã vinh danh lời cam kết chấm dứt chiến tranh trong bốn năm một cách phong phú, chúng ta biết ơn ông sâu xa”.

Tờ Boston Herald-Traveler viết: “Điều chắc chắc nó hơn hẳn sự đầu hàng hèn hạ mà một số người Mỹ đã đòi hỏi hoặc muốn đám phán để ký kết…Người dân Mỹ thọ ơn Ông Nixon vì ông đã từ chối bỏ rơi đồng minh hoặc thất hứa hay bỏ rơi tù binh và đã thực hiện một Thỏa ước hứa hẹn một nền hòa bình lâu dài thực sự”.

Tờ Wall Street Journal nói: “Người ta có thể tranh cãi về đường lối của ông nhưng không thể chối cãi sự kiện ông đã đem 550,000 người ra khỏi VN và tù binh về nước mà không làm sụp đổ Chế độ Sài Gòn…Kẻ địch phải hiểu rõ rằng xương sống của con người trong tòa Bạch Ốc này làm bằng thép đã mang lại Hiệp định trong khi những con lang, sói kêu, hú…

Tờ Cleveland Plain Dealer nói: “Cuối cùng ngưng bắn được cống hiến cho Ông Nixon. Ván bài quốc tế của ông đã thanh toán hết mọi áp lực từ trong nước ra ngoại quốc. Đây là giờ phút tươi đẹp nhất dành cho ông Tổng thống thứ ba mươi bẩy của chúng ta”.

Haldeman, phu tá Tổng thống ghi trong nhật ký, ngày 27/1/1973, Tổng thống cho biết các báo thiếu một chi tiết: Nixon là con người cứng rắn, Kissinger khi ra Quốc hội đã không nói tới một điểm liên hệ cá tính của con người cứng rắn tới cùng ấy. Kissinger đã không nói rằng nếu không có lòng can đảm của Tổng thống chúng ta không có hòa bình. Căn bản của vấn đề ở chỗ ông là người cô đơn trong tòa Bạch Ốc, ít được chính phủ ủng hộ, bị Thượng viện và một số Dân biểu chống đối mạnh, bị phản ứng dữ dội của truyền thông và ý kiến các nhà lãnh đạo tinh thần, tôn giáo, thương mại, giáo dục… nhưng được giới lao động ủng hộ, một mình ông đã vượt qua hết. Sự khác biệt giữa thành quả của Tổng thống đã đạt được và những người đối lập muốn đó là khác biệt giữa hòa bình danh dự và hòa bình giả tạo bằng sự đầu hàng của Mỹ

Trong một bản tường trình về VN của Tòa Bạch Ốc gửi các Dân biểu Quốc hội đã đưa ra những viễn tượng, xin sơ lược dưới đây (2)

Trong bốn năm liền, Richard Nixon đã một mình đứng tại Thủ đô trong khi những lớp trẻ đả đảo chính sách can thiệp vào Đông Dương của ông. Trong bốn năm liền ông đã là nạn nhân của những kẻ xấu tấn công. Truyền thông cấp tiến đánh phá ông Nixon, tấn công, cắt, đập ông tứ phía suốt ngày đêm. Cơ sở giới trí thức xử dụng sức mạnh vô song của họ để gây ảnh hưởng tới ý thức của người dân. Quốc hội tấn công không ngừng suốt những năm tháng ấy.

Không có ông Tổng thống nào bị quấy phá liên tục bới những kẻ mà đúng lý ra phải quì gối mỗi đêm để cám ơn ông Trời rằng họ không phải làm cùng cái quyết định mà Nixon đã làm.

Cùng đứng với Tổng thống trong những năm ấy chỉ có một nhúm ký giả và một số tờ báo, hầu như họ ở ngoài Hoa Thịnh Đốn. Nhưng cũng có những người can đảm ở Quôc hội đứng bên Tổng thống. Nhưng quan trọng nhất là hằng triệu, hằng triệu những người thường dân Mỹ, Đám đông công dân thầm lặng, những người này nhận định đất nước trải qua thời kỳ mà những tư tưởng khuynh tả hằng ngày tuyên truyền chống Tổng thống Hoa Kỳ. Họ là những người sắt đá có cá tính.

Chỉ trích

Truyền thông báo chí ca ngợi thành tích của TT Nixon trong việc ký được Hiệp định cho thấy sự mong mỏi hòa bình của người dân Mỹ, phần nhiều do những người ủng hộ Nixon. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến đối lập như dưới đây, những lời chỉ trích Hành pháp đã ký Hiệp định không thuận lợi, thiệt hại cho miền nam hoặc đã kéo dài chiến tranh thiệt hại cho Hoa Kỳ. Tác giả Walter Isaacson nói (3)

“Một số vị phụ tá trong bộ tham mưu của Kissinger như Negroponte và (Tướng) Haig tưởng là cuộc oanh tạc (cuối 1972) phải ký được một Hiệp định thuận lợi về cơ bản để tống cổ Quân đội BV ra khỏi miền nam. Negroponte mỉa mai nói “Chúng ta oanh tạc BV để bắt họ phải chấp nhận nhượng bộ của ta” (We bombed the North Vietnamese into accepting our concessions). Richard Holbrook, cựu trợ lý của Harriman sau thành phụ tá Bộ trưởng ngoại giao đặc trách Á châu sự vụ lại coi Hiệp định chung cục như sự đầu hàng. Ông nói “Cho quân đội BV ở lại miền Nam chỉ là sự bỏ chạy trá hình, chúng ta có thể ký Hiệp định y như vậy bất cứ lúc nào sau khi ném bom năm 1968 (tức 31/10/1968)”

Walter Isaacson trích ý kiến một số vị phụ tá của Kissinger rồi chính ông đã cho thêm nhiều lời bàn như phải chăng Hiệp định đạt được tháng 1/1973 không hơn gì Hiệp định có thể ký từ đầu năm 1969. Ông nói nếu vậy có đáng cho ta phải trả cái giá cao hơn không? Hà Nội cho rằng Hiệp định 1973 về cơ bản người Mỹ đã chấp nhận những điều khoản đã được BV đưa ra từ tháng 5/1969 mà họ gọi là chương trình mười điểm.

Tác giả này cho rằng nếu so sánh chương trình mười điểm của Hà nội (1969) với Hiệp định 1973 từng điểm một ta sẽ thấy nó giống nhau từng chữ một. Nhưng chỉ có một điểm khác là Hiệp định 1973 thiều điểm thứ năm trong chương trình 1969 của Hà Nội: CS đòi Chính phủ NV Thiệu phải bị thay thế bằng chính phủ Liên hiệp do họ chấp nhận. Hà nội vẫn đòi điều này cho tới tháng mười 1972 mới chịu nhượng bộ, một phần vì thua nặng và đã ăn đòn B-52 trong trận tổng tấn công 1972.

Nhưng có đáng cho ta phải tiếp tục chiến tranh thêm bốn năm nữa mới ký được Hiệp định để ông Thiệu giữ được quyền lực tại Sài Gòn ?

(But was it worth four more years of war in odrder to get a cease-fire that allowed Thieu to retain authority in Saigon?)

(4)

Walter chỉ trích Nixon đã làm chết thêm 20,552 lính Mỹ, xã hội bị xáo trộn, chính quyền không còn được coi trọng, tai tiếng xấu cho Hoa kỳ tại ngoại quốc, chiến tranh lan ra Miên, Lào. Cuối cùng Hiệp định chỉ kéo dài được hai năm, sau đó CS chiếm hết và Thiệu bỏ chạy. Như thế mọi nỗ lực trở nên vô nghĩa mặc dù với lý do vì danh dự. Nixon và Kissinger đều tin sắp có hòa bình và cùng thỏa thuận không loại bỏ Thiệu (He agreed with Nixon that it should not involve abandoning the Thieu regime) (5)

Walter cho rằng để theo đuổi mục đích trên thì có cách tốt hơn. Thảo luận với quốc hội Kissinger và Nixon có thể phác họa vị trí đàm phán yếu thế của Hoa kỳ để lấy ủng hộ của người dân trong nước. Nhưng vì không lấy ủng hộ của Quốc hội và người dân cho một chương trình rõ ràng, hai ông lại bị vướng vào chỗ cần bí mật, đe dọa BV, áp lực họ…Rút quân thực ra chỉ để câu giờ trước sự sốt ruột của người dân. Những trận oanh tạc càng gây xáo trộn trong nước hơn là đạt thắng lợi chiến trường. Chính sách Kissinger và Nixon dựa trên lừa gạt và bí mật hơn là tìm sự ủng hộ một cách dân chủ để sống còn.

Hai tác giả Marvin Kalb, Bernard Kalb (6) cũng chỉ trích Nixon, Kissinger nhiều điểm về Hiệp định ngưng bắn. Ngày 11/9/1972 Kisinger tới Moscow đàm luận với Tổng bí thư Brezhnev trước khi tới Paris. Kissinger ở Moscow bốn ngày để thảo luận thương thuyết giữa việc Nga cần mua lúa mì, Mỹ cần chấm dứt chiến tranh VN. Kissinger tới Moscow đúng lúc Brezhnev đang cần cứu trợ vì nạn mất mùa, thiếu hụt lúa mì trầm trọng, may cho Nga sô TT Nixon lại không khai thác tình trạng này của Nga. Nixon hy vọng Sô viết sẽ áp lực Hà Nội ký kết Hiệp định ngưng bắn tại Paris, Kissinger đồng ý về điểm này, ông luôn nghĩ Hà nội chỉ là khách hàng của Nga hơn là đồng minh xung kích độc lập.

Trong nội bộ tham mưu của Kissinger, các phụ tá của ông như Tướng Haig, Negroponte lại cho rằng BV thay đổi chính sách, chịu nhượng bộ ngày 9/10/1972 (không đòi lật đổ Thiệu, lập Chính phủ liên hiệp) không phải vì áp lực của Sô viết mà do hậu quả liên tục của việc Mỹ ném bom và phong tỏa hải cảng (năm 1972). Kissinger thì luôn tin vào sự phân tích quyền lực siêu cường, tin lời hứa của Brezhnev rằng trong vài tuần nữa BV sẽ linh động. Đánh giá Brezhnev dựa trên việc Lê Đức Thọ mới đây trước khi tới Paris đã dừng tại Moscow. Chỉ ít ngày sau chính phủ đã chấp thuận một thỏa ước thương mại lớn khác thường để Nga mua ít nhất là 750 triệu đô la lúa mì của Mỹ do các công ty tư xuất cảng trong ba năm.

Marvin Kalb và Bernard Kalb cho rằng Kissinger nhiệt tình với sự thương thuyết mà không biết, không để ý tới tin tình báo về sứ mất mùa to tát của Nga. Ngoài ra ông ta cũng không để ý đến việc các nhà buôn lúa mì tư nhân Mỹ đã bán cho Nga khối lượng lúa mì là bao nhiêu để hậu quả là người Nga được lúa, bánh mì còn người Mỹ phải chịu thiệt nặng. Cộng sản đã tỏ ra khôn ngoan trong việc buôn bán với Tư bản, họ đã mua được một khối lượng lúa mì khổng lồ với giá rẻ mạt, thấp hơn giá thị trường khi ấy rất nhiều. Cuối cùng tiền thuế của người dân Mỹ đóng cho chính phủ đã được đem trợ cấp cho việc mua lúa của Nga.

Ngoài ra việc xuất cảng lúa mì này đã khiến cho lúa mì trở nên khan hiếm ngoài thị trường Mỹ, giá bánh mì, thực phẩm tăng vọt, sữa thịt cũng hối hả lên nhanh. Người tiêu thụ và cả nên kinh tế Mỹ phải chịu hậu quả nặng vì Kissinger, Nixon đã không quan tâm tới hậu quả kinh tế của việc thượng lượng. Họ chỉ nghĩ đến cái lợi chính trị mà không chịu nhìn xa hơn thế. Trên đây là những ý kiến của Marvin Kalb, Bernard Kalb chỉ trích Kissinger, Nixon “khôn nhà dại chợ” đã bán lúa mì cho Nga với giá rẻ mạt chỉ vì quá sốt ruột trong việc ký kết Hiệp định Paris.

Kalb cũng nói về khuyết điểm của việc ký kết (7): Hiệp định ký kết 23-1-1973 (Kissinger ký tắt với Thọ ngày 23) xem ra không hơn gì bản dự thảo hai bên định ký ngày 26-10-1972 trước đó đó đúng ba tháng mặc dù đã oanh tạc BV ồ ạt tháng 12.

Kissinger đã cố xác nhận ba tháng này có giá trị, cần thiết, có lần ông nói với Marvin Kalb và Bernard Kalb như nó đã loại bỏ ý nghĩa mơ hồ về chính phủ Liên hiệp, sau đó đặc tính Quốc gia của miền nam đã được thể hiện rõ ràng qua xác định của khu phi quân sự (DMZ), cuối cùng lực lượng giám sát quốc tế được củng cố, thủ tục , khi nào ký Hiệp định đã được giải quyết, vấn đề ngôn ngữ đã được làm sáng tỏ. Bản liệt kê những lợi ích đòi được sau ba tháng chiến tranh (từ tháng 10/72 tới tháng1/73) của Kissinger đã bị vài chuyên viên theo dõi hòa đàm nghi ngờ.

Một viên chức nói “Cuộc oanh tạc vĩ đại không đạt tiến bộ gì mấy. Cái mà B-52 làm được một chút tháng 1/73 thực ra chỉ là bản Dự thảo có từ tháng Mười và đó là tất cả những gì chúng ta muốn”. Chỉ có một chút thay đổi ở Hiệp định sau cùng đã ký, sự khai thông thật ra đã có từ tháng Mười. Một viên chức cho rằng khoảng thời gian này ta rất bối rối, phải chăng ta đã ký Hiệp định tháng Giêng (1973) mà đáng lý ta đã ký từ tháng Mười (1972). Hành pháp cho rằng trận oanh tạc (cuối 1972) đã khiến BV phải bò lại bàn hội nghị ký kết những khoản do Mỹ yêu cầu. Nhưng viên chức trên cho rằng trận oanh tạc dữ dội ấy chỉ để yểm trợ tâm lý và quân sự cho miền nam VN, có mục đích tàn phá bộ máy chiến tranh BV cũng như răn đe Nga, Trung Cộng hơn là đòi hỏi BV nhượng bộ tại bàn hội nghị.

Nhận xét

Để vấn đề được dễ hiểu hơn, tôi xin nhắc sơ tiến trình hòa đàm như sau.

Từ 1969 BV đưa ra những điều khoản cứng rắn như mệnh lệnh cho Mỹ.

-Mỹ phải rút quân đơn phương

-Loại bỏ Nguyễn văn Thiệu.

-Lập chính phủ Liên hiệp.

-Cắt hết viện trợ cho VNCH.

Mãi cho tới tháng 10-1972 Hà Nội mới chịu nhượng bộ (có thể do Nga áp lực, do ị thua nặng trận mùa hè 1972, biết Nixon sẽ tái đắc cử tháng 11-1972).

Trong giai đoạn này có hai chủ trương hòa đàm:

-Nixon và Kissinger không nhượng bộ Hà nội, cương quyết không đầu hàng CS, hòa bình trong danh dự, không loại bỏ chính phủ Thiệu .

-Thành phần đối lập (opponents) như Quốc hội thù nghịch, phản chiến, đảng Dân chủ… có chính sách trái ngược. Đối lập chiếm đa số trong giai đoạn này, họ muốn ký Hiệp định sớm, nhượng bộ BV, cắt viện trợ VNCH để đánh đổi hòa bình và tù binh Mỹ, sẵn sàng bỏ Đông dương từ 1969 để rút khỏi cuộc chiến sa lầy.

Bốn điểm mà Hà nội đưa ra trên đây thực ra chỉ là đòi Mỹ và VNCH đầu hàng không điều kiện, giao miền nam cho họ. Sở dĩ CS ngoan cố như vậy vì biết Nixon đang bị Quốc hội, phong trào phản chiến chống đối, thúc ép ký sớm. TT Nixon cho biết (8) chính đám biểu tình đã nối giáo cho giặc kéo dài chiến tranh. Nhìn chung Hành pháp đang ở thế yếu trong đàm phán với CS.

Tháng 10-1972 Hà nội nhượng bộ gần hết những yêu sách cũ, không đòi lật đổ chính phủ Thiệu, không Liên hiệp, lập Hội đồng hòa giải dân tộc hữu danh vô thực, không đòi Mỹ cắt viện trợ miền Nam nhưng nhất quyết không rút quân về Bắc. Mỹ và BV ký Dự thảo hiệp định ngày 9-10-1972, hai bên dự định sẽ ký chính thức ngày 26-10. Ngày 19 Tiến sĩ Kissinger sang Sài Gòn để tường trình về Dự thảo Hiệp định tin tưởng TT Thiệu sẽ chấp nhận nhưng bị Thiệu và ban tham mưu chống đối dữ dội. Kissinger mới đầu dỗ ngon dỗ ngọt rồi hăm dọa nhưng ông Thiệu vẫn bác bỏ Dự thảo. Ở Sài gòn được bốn hôm, Kissinger điện tín về tòa Bạch Ốc đề nghị ký riêng với BV nhưng Nixon từ chối, ông không muốn ký trước bầu cử Tổng thống 7-11-1972 vì biết trước sẽ tái đắc cử. Nixon khuyên Kissinger dừng ép Thiệu, hãy để cho ông ta thoải mái.

Hiệp định đáng lý ký từ 26-10-1972 bị trở ngại vì bị VNCH bác bỏ và Nixon cũng không muốn ký riêng với BV. Phái đoàn CS ngoan cố khiến Nixon phải cho oanh tạc miền Bắc dữ dội cuối năm 1972, Hiệp định đã được ký kết đúng ba tháng sau vào ngày 27-1-1973.

Những lời khen, ca tụng Nixon như trên cho thấy người dân đã khao khát hòa bình từ lâu, dù là người ủng hộ cũng như chống Nixon đều đã quá chán cuộc chiến sa lầy. Truyền thông ca ngợi TT Nixon vì ông đem lại hòa bình, lấy tù binh, đem quân về nước mà không bỏ rơi đồng minh, không lật đổ chính phủ Thiệu theo yêu cầu của Hà Nội mà Nixon cho đó là sự đầu hàng hèn hạ (abject capitulation). Trái với đường lối của Nixon, đảng Dân chủ, Quôc hội thù nghịch, phong trào phản chiến…chủ trương cắt viện trợ VNCH, lật đổ chính phủ Thiệu theo đòi hỏi của Hà nội để sớm có hòa bình lấy tù binh về nước. Người ta ca ngợi Nixon can đảm, một mình chống chọi biết bao mũi dùi tấn công của đối lập, của Quốc hội thù nghịch, của phản chiến.. họ muốn chấm dứt chiến tranh ngay.

Nixon thắng lớn trong cuộc bầu cử Tổng thống ngày 7-11-1972, đạt 60.7% số phiếu phổ thông, hơn đối thủ McGovern 18 triệu phiếu, đạt 520 phiếu cử tri đoàn (hơn 90%) vì người ta thấy ông sắp mang lại hòa bình, đó là hòa bình trong danh dự. Nhiệm kỳ 1969-1972 của Nixon diễn sự giằng co giữa Nixon, Kissinger và những người Đối lập nhất là phong trào Phản chiến, Quốc hội thù nghịch, người Mỹ gọi đây là cuộc chiến tại đất nhà.

Nixon nói (9)

“Những kẻ chống đối muốn chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Tôi cũng làm thế. Nhưng họ không thấy sai trái ở chỗ bỏ rơi người dân miền nam VN để chấm dứt cuộc chiến ngay Tôi thấy thật là bất nhân khi ta để cho bọn độc tài Hà nội dựng cơ sở tại Sài Gòn. Là Tổng thống, tôi có trách nhiệm phải làm cái gì đúng cho đất nước”.

Các sử gia kề trên chỉ trích Nixon, Kissinger sau ba tháng chiến tranh, sau khi dội 20 ngàn tấn bom xuống Hà Nội, Hải phòng cuối 1972 đã không đòi thêm được gì cả, bản Hiệp định đúng ra phải ký từ tháng mười.

Sự thực trận oanh tạc từ 18 tới cuối tháng 12-1972 trước hết để kéo BV lại bàn hội nghị, phái đoàn BV bỏ hòa đàm từ 13-12 không trở lại. Họ đánh hơi thấy phiên họp Quốc hội thượng tuần tháng 1-1973 có thể sẽ ban hành luật chấm dứt chiến tranh Đông Dương, cắt viện trợ VNCH để đổi lấy hòa bình và tù binh Mỹ khi ấy chẳng cần họp hành vì Hòa đàm Paris sẽ đương nhiên bị dẹp. Trận oanh tạc cuối 1972 cũng là để đánh phá hạ tầng cơ sở BV khiến họ suy yếu.

Nixon nhanh tay xử dụng sức mạnh của B-52 mà Hà nội phải trở lại bàn hội nghị nếu không có thể thảm kịch sẽ sẩy ra: Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, rút quân, cắt viện trợ VNCH… để đánh đổi lấy 580 người tù binh Mỹ. Hà nội đã chịu thua trong canh bạc này, trận oanh tạc long trời lở đất đã cứu được Đông Dương sụp đổ ít ra là trong lúc này.

“Trận ném bom đã đạt mục đích quân sự, chúng ta đã đánh phá tan nát bộ máy chiến tranh của Bắc Việt” (10)

Kissinger sang Sài Gòn từ 19 tới 23 tháng Mười 1972 để thuyết phục ông Thiệu ký Hiệp định nhưng như ta đã nói VNCH bác bỏ. Kissinger đánh điện về cho Nixon đề nghị ký riêng với BV dự trù ngày 26-10 nhưng Nixon từ chối vì không muốn có Hiệp định trước bầu cử, người ta sẽ cho là ông dùng Hiệp định để lấy phiếu, thực ra theo thăm dò ông đã vượt rất xa McGovern.

Walter Isaacson không đồng ý với đường lối đàm phán bí mật của Kissinger, Nixon như trên nhưng thực ra nếu công khai lại dễ bị Quốc hội, người dân chống đối hơn nữa.

Theo Marvin Kalb, Bernard Kalb(11) Nixon không muốn ký Hiệp định mà không có Thiệu, người bạn đồng minh, cũng không muốn vội ký riêng với Thọ, kẻ địch. Như thế việc ký kết không thành tháng Mười có lý do riêng, trận oanh tạc tháng 12-1972 cũng đã đạt kết quả mong muốn ngoài việc khiến Hà Nội phải trở lại bàn hội nghị, đánh phá bộ máy chiến tranh của BV và cảnh cáo cho Moscow, Bắc Kinh biết Mỹ sẽ hành động mạnh khi quyền lợi bị đe dọa.

Như trên các phụ tá của Kissinger đã chỉ trích cuộc oanh tạc BV dữ dội cuối năm 1972 nhưng vẫn không trục xuất được quân đội BV ra khỏi miền nam, VNCH cũng đã cực lực phản đối thất bại này của Hiệp định. Về điểm này Nixon đã có câu trả lời rõ ràng trong (12)

“Nhưng có một vấn đề then chốt mà chúng ta không thể nào lay chuyển BV thay đổi lập trường: Họ từ chối rút quân khỏi miền nam VN. Từ đầu chí cuối họ xác nhận đây là nội chiến và từ chối nhìn nhận đóng quân ở miền nam. Hà Nội vì thế bác bỏ yêu cầu của ta đòi họ rút quân lấy cớ họ không can thiệp vào cuộc chiến.

Chúng tôi biết không thể nào buộc họ phải nhượng bộ điều này. Có một châm ngôn ngoại giao là ta không thể thắng tại bàn hội nghị nếu cái mà ta không thắng ở trận địa. Mặc dù VNCH đã đẩy lui địch trước mùa mưa. BV

Vẫn còn chiếm một diện tích rộng dọc theo khu phi quân sự và tại cao nguyên. Chúng tôi biết nếu đạt thỏa hiệp đòi BV trả lại đất cho VNCH thì họ sẽ không ký Hiệp định. Nếu ta đòi BV rút quân bằng được sẽ không có Hiệp định”

Sau trận mùa hè đỏ lửa 1972, mặc dù BVbị thảm bại, tàn quân của họ vẫn còn đóng tại vùng I và II. Sở dĩ Hà Nội không chịu rút quân về Bắc phần vì họ đã nướng một triệu người, nay chẳng lẽ không được gì, vả lại họ biết rõ Nixon đang bị Quốc hội và phản chiến chống đối thúc ép kỳ Thỏa ước ngưng bắn để sớm có hòa bình, người Mỹ đã quá sốt ruột.

Nixon nói (13)

“Quốc hội sẵn sang bỏ phiếu chấm dứt chiến tranh nếu ta không ký được Hiệp định…..

….Ngày 2/1/1973 Hạ viện Dân chủ bầu nội bộ với lệ 154 thuận và 75 chống để cắt hết viện trợ mọi hoạt động quân sự ở Đông dương vừa khi đã rút quân về nước và lấy lại tù binh…. Hai ngày sau, bầu cử nội bộ Dân chủ Thượng viện cũng thông qua dự luật tương tự với số phiếu 36 thuận-12 chống.

Chúng ta bị bó buộc phải kết thúc thỏa hiệp chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình ở Việt Nam, nó không hoàn toàn, có nhiều khuyết điểm. Tôi muốn thương thuyết một Hiệp định tốt đẹp hơn nhưng chúng ta không thể chần chờ thêm để được những khoản tốt hơn khi Quốc hội sắp ra luật chấm dứt chiến tranh có lợi cho Hà Nội.

Đó không phải là giờ phút tốt đẹp nhất của ta, mà là giờ phút cuối cùng.

(It was not our finest hour- but it was the final hour)”

Larry Berman cũng nói như vậy(14) , đầu tháng 1-1973 Quốc hội dọa cắt viện trợ Đông Dương để lấy tù binh, và rút quân. Quốc hội khóa 93 dự định họp ngày 3-1-1973. Dự luật chấm dứt chiến tranh đang tiến hành. Cuối tháng 11-1972, Nixon đã bị các vị chức sắc Quốc hội gồm John Stennis, Barry Goldwater và Gerald Ford … lưu ý nếu miền nam VN gây trở ngại hòa đàm, Quốc hội sẽ ra luật đổi lấy tù binh bằng rút hết quân, cắt viện trợ VNCH với tỷ lệ phiếu 2-1 tại Hạ Viện (15)

Thời điểm này, theo Nixon, Quốc hội Dân chủ tỏ ra rất khó chịu khi hòa đàm bị trở ngại từ phía miền nam VN, họ đang đe dọa thỏa mãn yêu cầu của Hà Nội: Cắt viện trợ VNCH, rút quân để đổi tù binh và ngưng bắn.

Nixon nói (16)

Tôi biết rằng Hiệp định có nhiều khuyết điểm. Nhưng tôi nghĩ nhìn chung cũng tốt đẹp. Và tôi biết rằng trong khi Quốc Hội đang phản đối ầm ĩ, chúng ta không thể làm gì khác hơn thế”.

TT Nixon nói với Kissinger nếu không ký được Hiệp định Quốc hội ra luật chấm dứt chiến tranh, đó là thảm kịch. khi ấy Hành pháp sẽ không thể giúp đồng minh VN được. Nếu chần chờ để đòi thêm những khoản tốt hơn chỉ là già néo đứt dây, có thể sẽ mất cả chì lẫn chài.

Nixon thuyết phục Thiệu việc BV rút quân không quan trọng, đó chỉ là đám tàn quân CS tại những vủng dân cư thưa thớt mà thực ra viện trợ tiếp tục của Quốc Hội cho miền nam VN và sự cho phép cưỡng bách thi hành Hiệp định bằng B-52 mới là quan trọng. TT Nixon cho rằng giấy mực cũa Hiệp định không quan trọng bằng bom đạn của B-52.

Nếu BV rút hết quân trong khi Quốc hội cắt viện trợ, không cho oanh tạc trừng phạt vi phạm thì cũng vô ích, miền Nam sẽ sụp đổ vì không được cung cấp tiếp liệu đạn dược.

Nixon nói (17)

“Sự tồn tại của miền nam Việt Nam không phụ thuộc vào việc quân địch còn đóng tại một số vùng dân cư thưa thớt. Nó phụ thuộc vào việc Nước Mỹ cưỡng bách thi hành Hiệp định cùng với việc tiếp tục viện trợ và với sự đe doạ trừng trị bằng vũ lực. Điều đó chỉ có được nếu Sài Gòn được Quốc Hội ủng hộ. Nếu chúng ta không giải quyết cuộc chiến nhanh chóng, Quốc Hội có thể biểu quyết đạo luật chấm dứt chiến tranh vào tháng Một (1973). Nếu Quốc hội kết luận rằng miền Nam Việt nam gây trở ngại việc ký kết, việc này có thể khiến ta (Hành pháp) không giúp được đồng minh (túc VNCH) nếu cần. Tuy nhiên tôi cũng để cho Thiệu có thời gian suy nghĩ”.

Tháng 11 và 12 năm 1972 ông Thiệu mở chiến dịch lên án Kissinger và Hành pháp Mỹ đã bắt ép VNCH ký Hiệp ước bất bình đẳng khi để cho BV còn đóng quân ở miền nam. Sự chống đối này chỉ là vô ích, đòi hỏi những cái mà người ta không thể thỏa mãn được như đã nói trên. TT Nixon không thể đòi Hà Nội rút quân vì Hành pháp đang ở thế yếu bị Phản chiến, Quốc hội thúc ép ký gấp. Nếu hòa bình trở ngại Quốc hội sẽ ra tay, khi ấy sẽ là một thảm kịch cho cả Đông Dương

Trả lời phỏng vấn của tờ báo Tây Đức Der Spiegel vào năm 1979 tại hải ngoại, ông Thiệu cũng đã xác nhận sự thất bại không phải do CSBV còn đóng quân tại miền nam mà vì không được Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ quân sự cũng như sự yểm trợ hoả lực, có nghĩa là miền nam sụp đổ không phải do Hiệp định Paris

Sau bốn năm đàm phán Nixon và Kissinger chỉ có thể giúp chính quyền Nguyễn văn Thiệu còn tồn tại không bị lật đổ và miền nam không bị liên hiệp, nhưng không thể đòi BV rút quân như đã nói.

Cuối cùng mỗi bên được một tí, nhưng riêng Chính Phủ Cách mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tục gọi là Việt Cộng thì chẳng được tí gì cả ngoài cái bánh vẽ Hội đồng hòa giải dân tộc. Sự thực Việt cộng cũng không có thực lực, họ bị nướng gần hết quân trong trận Mậu Thân đầu năm 1968, sau này chỉ còn khoảng 20,000 người trang bị vũ khí nhẹ. Từ những năm 1966, 1967 trở đi Mặt trận Giải Phóng đã bị CSBV sỏ mũi khi họ xâm nhập ồ ạt miền Nam. Sau này người Mỹ mới biết việc đòi lật đổ Thiệu và lập chính phủ Liên Hiệp là do Chính phủ cách mạng lâm thời (MTGP) yêu cầu BV đưa ra bàn hội nghị. Sau khi bị nếm những trận oanh tạc long trời lở đất cuối 1972, BV phải loại bỏ những yêu sách này.

CSBV chiếm được miền nam VN ngày 30-4-1975, Chính phủ cách mạng lâm thời vội in truyền đơn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc Trung Lập nhưng bị Hà Nội khiển trách và dẹp bỏ ngay để thống nhất đất nước. Mặt trận giải phóng hay Chính phủ cách mạng lâm thời chẳng là cái thá gì, chỉ là công cụ của BV.

Ngoài ra trong theo nhận định riêng của Henry Kissinger trong hồi ký White House Years (18): Mỹ đã hai lần sai lầm lớn:

-Sau khi Hòa đàm tiến hành được 5 tháng, Tổng thống Johnson đã nhượng bộ Hà Nội cho ngưng oanh tạc toàn diện BV cuối tháng 10-1968.

-Từ 1969 tân Tổng thống Nixon cho rút quân đơn phương để xoa dịu chống đối tại Mỹ và hy vọng Hà Nội đàm phán nghiêm chỉnh.

Nhưng cuối cùng Hà Nội vẫn ngoan cố không chịu đàm phán và hai nhượng bộ lớn kể trên chỉ là vô ích, đúng lý ra phải oanh tạc, đánh mạnh BV từ 1970, chúng là bọn thân lừa ưa nặng

Theo nhận định của Kissinger, Hà nội không muốn hòa đàm, Hiệp định, hòa bình mà chỉ muốn dùng bạo lực tiếp tục xâm lăng. Ông ta nói đúng, năm 1954 họ vờ lên án chính phủ Ngô Đình Diệm không thi hành Hiệp định Genève thực hiện Tổng tuyển cử để có cớ xâm lược miền nam và bây giờ tháng 1-1973 họ ký Hiệp định chỉ để chờ Mỹ rút hết, nghỉ ngơi rồi tiếp tục cuộc chiến xâm lược.

Như trên tôi nói về hình thức của Hiệp định còn thực chất của nó thì khác hẳn, Hiệp định Paris chỉ là một hình thức cho vui, thực chất của vấn đề nằm ở chỗ:

-Đối với Mỹ đây là cách để rút ra khỏi Đông dương sao cho êm đẹp, cho khỏi bị mất mặt.

-Đối với Hà Nội Hiệp định chỉ là nghỉ giải lao để đánh tiếp, ngay sau khi ký Hiệp định, BV cho mở đường xa lộ Đông Trường Sơn ngày đêm chuyển vận vũ khí vào Nam chờ ngày tổng tấn công dứt điểm.

Trọng Đạt

Cước chú

(1) No Peace No Honor… các trang 235, 236, 238

(2) Trang 238, sách kể trên

(3) Trong Kissinger A Biography, trang 483.

(4) Sách nói trên trang 484.

(5) Sách nói trên trang 485

(6) Trong cuốn Kissinger (trang 345, 346, 347)

(7) Trang 421 sách kể trên: (What did those three extra months of war accomplish – the three months between October 26 and January 23, including the massive raids against the north in December?)

(8) Trong No More Vietnams trang 127

(9) Sách kể trên trang 127

(10) No More Vietnams trang 158.

(11) Trong Kissinger trang 422 (He did not want to sign an agreement without Thieu, an ally. He did not want to be stampeded into an agreement by Tho, an enemy).

(12) No More Vietnams trang 152 (But one major issue we could not budge the North Vietnamese from their positions: They refused to withdraw their forces from South Vietnam)

(13) Trang 1969-1970 sách kể trên

(14) No Peace No Honor… trang 221,

(15) Sách nói trên, trang 200.

(16) No More Vietnams trang 167 (But I believed that on balance it was sound. And I knew that, in light of the growing stridency of our opposition in Congress, we had no alternative to signing it)

(17) Sách nói trên trang 155

(18) Chương 8, The Agony of Vietnam trang 276-311

Mặc dù có đồn thổi nhưng chắc chắn là không có “chạy”! – BS

29 Th1

 

Posted by adminbasam on 29/01/2015

Dân Trí

Bùi Hoàng Tám

29-01-2015

H1(Dân trí) – Đó là khẳng định của ông Tô Huy Rứa – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương tại Hội nghị cán bộ, công chức của Ban Tổ chức Trung ương ngày 27-1 vừa qua.

Về việc tổ chức luân chuyển cán bộ trong quy hoạch, ông Rứa cho biết quy trình được thực hiện rất chặt chẽ với sự tham gia của 6 cơ quan nên sẽ có tác dụng ngăn chặn tiêu cực, chống lại “chạy”. “Làm sao mà có thể “chạy” được, 5, 6 cơ quan trên này với cả địa phương nữa. “Chạy” làm sao được. Mặc dù có đồn thổi nhưng chắc chắn là không có “chạy” – ông Rứa khẳng định.

Ông Rứa còn cho biết để góp phần làm cho quy trình liên quan đến công tác nhân sự chặt chẽ hơn, qua lắng nghe ý kiến góp ý của các cấp lãnh đạo, lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương đề xuất quy định đối với các nhân sự được đưa hồ sơ đến Ban Tổ chức Trung ương để thực hiện quy trình luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm cấp tướng… thì cán bộ của ban có liên quan không được quyền tiếp xúc với nhân sự đó cả ở nhà, cơ quan hay quán xá.

Ngược lại, nếu cán bộ thuộc diện xem xét mà cứ tìm cách gặp gỡ cán bộ phụ trách nhân sự ở Ban Tổ chức T.W thì cũng là vi phạm.

Có thể nói trong qui hoạch cán bộ cấp cao, cho đến nay chưa thấy có trường hợp nào bị phát hiện là “chạy”. Có lẽ bởi những qui định chặt chẽ của Ban Tổ chức Trung ương trong khâu nhân sự như luôn thể hiện rõ ràng, công khai, minh bạch và thận trọng đã ngăn chặn từ xa hiện tượng “chạy” này.

Song, những qui định mới đây là sự thận trọng cần thiết vì trong tất cả các khâu, thì “cán bộ là khâu then chốt” như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai kết luận của Bộ Chính trị về đổi mới công tác cán bộ tại TP.HCM tháng 8/2012: “Công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là mặt trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng ta, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng”.

Đặc biệt là đối với Việt Nam, khi Đảng Cộng sản là tổ chức duy nhất lãnh đạo xã hội thì khâu tổ chức của Đảng càng cực kỳ quan trọng và có tính quyết định đến sự phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận khách quan, gần đây đã có sự lo ngại đối với việc chạy chức, chạy quyền, tranh thủ “mua” phiếu.

Vì vậy, qui định những người của cơ quan có liên quan không được tiếp xúc với cá nhân đó cả ở nhà, cơ quan hay quán xá tuy có phần khắt khe nhưng là cần thiết trong tình hình hiện nay.

Một trong những điều cũng rất được dư luận quan tâm hiện nay, đó là độ tuổi của cán bộ qui hoạch. Theo ông Trần Lưu Hải, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương cho biết, trong số 22 trường hợp vào quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư có cả trường hợp dưới 40 tuổi.

Đây là một thông tin đáng phấn khởi cho lớp trẻ bởi không biết từ bao giờ, việc qui hoạch cán bộ vào Bộ Chính trị, thậm chí cả Trung ương dưới 40 tuổi thường được cho là quá trẻ. Trong khi trước đó, thế hệ “vàng” của thời giành độc lập dân tộc những năm 1945 như các vị Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng… khi đó đều còn rất trẻ.

Chặt chẽ trong qui trình, quan tâm đến thế hệ trẻ, hi vọng nhiệm kỳ tới chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ đầy đủ phẩm chất đạo đức, tài năng và trẻ tuổi.

Đặc biệt, quần chúng nhân dân hi vọng sự nghiêm minh trong khâu qui hoạch cán bộ để không có ai trúng cử nhờ “chạy” bởi nếu điều đó xảy ra, sẽ là bi kịch không nhỏ, phải không các bạn?

Ai lên danh sách “10 tố chất cơ bản của người Việt”?

29 Th1

 

Vài ngày nay, trên các trang mạng xã hội chia sẻ nhiều một bản danh sách liệt kê “10 tố chất cơ bản của người Việt”. Theo nguồn ghi trên văn bản này, thì đây là kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu xã hội học Hoa Kỳ (American Institute of Social Research).

Từ chuyện Nhật tố thói xấu Việt, xem lại “Tự phán”

thói xấu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh, Vương Trí Nhànthói xấu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh, Vương Trí Nhàn

Ai lên danh sách?

Thử tìm trên mạng, không thấy có website hay thông tin nào về Viện nghiên cứu xã hội học Hoa Kỳ. Kết quả tìm kiếm chỉ ra trang web của Viện Nghiên cứu Mỹ http://www.air.org. Ngoài ra, còn có Viện Nghiên cứu xã hội của ĐH Michigan.

Vào trong website của Viện Nghiên cứu Mỹ, tìm với từ khóa “Vietnamese” cũng không ra kết quả gì.

Theo suy đoán chủ quan của một giảng viên tiếng Anh, bản danh sách này do người Việt hoặc có yếu tố Việt viết ra, vì văn phong bản tiếng Anh của danh sách này “không được Mỹ lắm”.

Tìm hiểu tới các nguồn thông tin chính thức, phản hồi từ Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết những thông tin kiểu này khó kiểm chứng, không xác nhận về tính xác thực của thông tin, cũng như sự tồn tại của một viện có tên như vậy. Bởi vì ở Hoa Kỳ, các cơ quan nhà nước chỉ đề ra luật, nguyên tắc, quy định. Họ không thành lập và quản lý theo danh sách các viện như của VN. Kể cả gọi sang Bộ Giáo dục Mỹ cũng không xác định được. Ngay cả các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục cũng là các đơn vị độc lập, không chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước nào.

“Bản danh sách” này thực tế đã tồn tại hơn 10 năm nay, thậm chí có ý kiến cho rằng  là có thể do ai đó bịa ra… cho vui.

Người ngoài nhìn người Việt

Mặc dù là “hàng cũ”, nhưng khi được các facebooker “khai quật” lại, bản danh sách trên vẫn được lan ra với một tốc độ chóng mặt.  

Những nhận xét của người nước ngoài về tố chất, và đặc biệt là thói xấu của người Việt, luôn nhận được sự quan tâm của chính người Việt Nam.

 thói xấu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Văn Vĩnh, Vương Trí Nhàn
Hình ảnh vụ “hôi bia” đình đám tại Biên Hòa cách đây hơn một năm

Trong bài viết “Tổng thuật thói hư tật xấu của người Việt” đăng trên Tạp chí Nghiên Cứu và Phát Triển, số 3-4 (110-111).2014, tác giả Trần Văn Chánh cho biết: Theo ghi nhận khá rời rạc của một số nhà truyền giáo tiên phong tiếp xúc với xã hội Việt Nam, như Christoforo Borri (1583-1632), Alexandre De Rhodes (1591-1660)…, thì đặc điểm xấu chung phổ biến của người Việt thời kỳ này là thói mê tín dị đoan, ưa tin vào phép thuật của các thầy phù thủy… Baldinotti ghi vắn tắt về con người Việt Nam khi ông tới Đàng Ngoài năm 1626 như sau: “Về diện mạo thì họ khá cao ráo, vạm vỡ và can đảm… Binh sĩ thì đeo gươm mang kiếm, đó là những người bệ vệ dễ giao thiệp, trung thành, vui vẻ… Dân thường thì hay trộm cắp, vì thế người ta phạt kẻ ăn trộm ăn cắp cũng như ngoại tình bằng án tử hình”.

Phải đợi đến giữa thế kỷ XVIII trở đi, tài liệu ghi chép về Việt Nam nói chung và về người Việt nói riêng mới được phong phú hơn.

Về tính cách/ lối sống cá nhân thì mê tín dị đoan, nát rượu và cờ bạc là ba thói xấu thường thấy. Trong quan hệ với công quyền và xã hội, người Việt có thói ganh tị với người giàu, ham thích quan tước, tham nhũng hối lộ, vu cáo nói xấu người khác, ưa kiện tụng, và không biết tôn trọng luật pháp.

 
 

Những tác phẩm mô tả người Việt trong giai đoạn tiếp xúc đầu tiên của người Pháp khi mới đến xứ ta (1860) đã được Malleret tập hợp giới thiệu khá đầy đủ trong quyển Exotisme indochinois dans la littérature francais depuis 1860, qua đó chúng ta ngày nay còn đọc được một vài nhận xét của họ về tính cách người Việt cách nay trên dưới 150 năm.

Một cố đạo nghĩ về tính nhẹ dạ, hời hợt của người Việt: “Tính nết họ hay thay đổi, nhẹ dạ lạ lùng. Tôi tin rằng họ không thể theo dõi một cách chăm chỉ một ý tưởng gì…”.

Hoặc của nhà văn Jean Hougron cho rằng người Việt “nhu nhược không có cá tính, biển lận, thích tố giác”.

Hoặc của Palazzoli, cho người Việt là “nửa kín nửa hở, dè dặt, dò xét…, một thiên hướng đa nghi, mưu mẹo, một thói quen lúc nào cũng thích chống đối, rồi lại nhanh chóng buông trôi chấp nhận”.

Người Việt tự nhìn mình

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) từ năm 1913 đã triển khai một loạt bài chuyên đề gọi là “Xét tật mình” trên tờ Đông Dương Tạp Chí (1913 – 1919) với một số bài như “Học để làm quan”, “Gì cũng cười”…

Phan Chu Trinh cũng từng liệt kê mười điều bi ai của dân tộc Việt Nam, trong đó có “Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám”, “Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc; thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con”…

Phan Bội Châu nhận xét về không khí xô bồ nhếch nhác thường thấy phổ biến ở lễ hội của người Việt: Miếng ăn quá to, người ta chỉ nghĩ đến ăn, tranh giành ngôi thứ cũng chỉ vì ăn…

Hoài Thanh trong bài “Có một nền văn hóa Việt Nam” (1946): “Người Việt chúng ta sống ở trong nhịp điệu trong thanh âm nhiều hơn trong tư tưởng. Tâm lý ấy có giống với tâm lý trẻ con. Trẻ con thường vẫn ca hát luôn miệng mà chẳng mấy khi quan tâm đến ý nghĩa lời ca”.

Chế Lan Viên có câu thơ “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp – Giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.

Cố GS Trần Quốc Vượng, GS Cao Xuân Hạo cũng từng bày tỏ ý định làm sách về thói xấu người Việt Nam nhưng chưa thành.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã tổng hợp, hệ thống lại ý kiến của các bậc tiền bối trong chuyên mục “Người xưa cảnh tỉnh” in trên báo Thể Thao và Văn Hóa giai đoạn 2005 – 2007, sau công bố lại trên Blog Vương Trí Nhàn, với những chủ đề: Người Việt và ý thức công dân ý thức xã hội, Người Việt qua cách nói năng cười cợt, Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán, Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người Việt, Thị hiếu nhỏ mọn và chất bi thương sầu cảm trong văn chương, Quan hệ giữa người với người, Bẻ queo những chuẩn mực đạo lý nhân bản, Giả dối, lừa lọc, kiêu ngạo, hiếu danh, Nếp tư duy đơn sơ tùy tiện.

Nhiều tờ báo đã tổ chức diễn đàn để chỉ tên thói xấu của người Việt thời nay, thu hút được rất đông độc giả tham gia.

Tại sao người Việt, từ gìa đến trẻ, vẫn miệt mài nghe, đọc và viết về những thói xấu của chính mình?

Có thể lấy ý kiến của Vương Trí Nhàn, trong một bài phỏng vấn trên báo Tiền phong, để trả lời cho câu hỏi trên: “Tôi cho rằng khi tôi nói về những thói xấu của anh, anh sẽ tiếp cận tôi hơn, và điều đó chứng tỏ sự trưởng thành… Tôi rất thích câu của nhà văn Nga Sêkhôp: Một con người sẽ tốt hơn nếu ta nói cho anh ta biết anh ta là người thế nào...”.

Ngân Anh – Nguyễn Thảotổng hợp

%d bloggers like this: