Lưu trữ | 2:59 Chiều

MỘT BẢN TUYÊN NGÔN CHỐNG NỘI XÂM – trannhuong.com

1 Th12

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Thứ hai ngày 28 tháng 11 năm 2016 4:04 PM

 

 

Kết quả hình ảnh cho bẢN SỚ TẤU


Một bản tuyên ngôn chống giặc nội xâm đầu thế kỷ XVII

Trong lịch sử văn hoá-tư tưởng nước ta, có những bản tuyên ngôn nổi tiếng tới muôn đời: đó là bản tuyên ngôn lập quốc đầu tiên bằng “Thiên đô chiếu” do đức Lý Thái Tổ viết, bản tuyên ngôn chiến trận đời Trần bằng “Hịch tướng sĩ văn” tương truyền của Đại vương Trần Quốc Tuấn thảo, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Đại Việt bằng áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo thiên hạ” do vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi chấp bút, bản tuyên ngôn độc lập thời hiện đại của nước VNDCCH do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc… Nhưng, ở đầu thế kỷ XVII, có một bản khải văn cũng mang tầm vóc của một bản tuyên ngôn rất đáng đi vào lịch sử thì còn được ít người biết đến. Đó là bản khải văn có thể gọi tên: “Lấy dân làm gốc”(1).

Lần đầu tiên được đọc bài khải văn do nhà văn Hoàng Quốc Hải giới thiệu, tôi thấy sững sờ, và có cảm giác rõ rệt: dường như tác giả đã viết nó cho cả ngày hôm nay nữa! Đây là một luận văn chính trị sắc bén, chứa đựng những suy nghĩ thấu đáo về thời cuộc, tràn trề xúc cảm, chan chứa tình thương dân, hôi hổi tính thời sự, theo tôi rất đáng được chọn đưa vào SGK phổ thông trung học!

Vào thời xuất hiện bản khải văn, chính quyền Lê-Trịnh tuy đã tương đối ổn định, trong nước đã tạm yên bình, nhưng cuộc nội chiến với nhà Mạc lên miên suốt mấy chục năm đã khiến cho sản xuất nông nghiệp đình đốn, làng xóm tiêu điều, nhiều năm mất mùa liên tiếp, trong khi đó nạn nhũng nhiễu dân lành của quan lại đã trở thành hiện trạng nhức nhối có nguy cơ làm nổ tung cơ cấu xã hội, đưa cả dân tộc tới chỗ diệt vong… Trước tình hình đó, vào tháng 9 năm 1612, Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Thì (NDT) cùng Giám sát ngự Phạm Trân và các đồng liêu đã dâng lên Bình An vương (tức chúa Trịnh Tùng) bài khải bộc lộ mối quan tâm của các ông trước hiện tình triều chính, đồng thời nêu lên “những việc chính sự cấp thiết phải tu chỉnh để chuyển tai họa thành điềm lành, trên hợp với ý trời, dưới thuận với lòng người”.

Toàn bộ văn bản bài khải như sau(2):

“Dân là gốc của nước, đạo trị nước chỉ là yên dân mà thôi. Lại nghĩ rằng trời với dân cùng một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời rồi. Cho nên người giỏi trị nước, yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy họ đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân. Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy.

Nhưng kẻ thừa hành thì chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chỉ chăm làm điều hà khắc bạo ngược, đua nhau xa xỉ, coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã, mọi việc nhiễu dân, không điều gì không làm, khiến dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi.

Vì thế, cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai hoạ lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ với chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao? Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy”(3).

Danh nhân Nguyễn Duy Thì (1571-1651), tác giả chính của bài khải trên, là một trong những nhân vật nổi tiếng của vùng đất Yên Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Sau đây là vài dòng tiểu sử của cụ do một nhà nghiên cứu đúc kết: Năm 1598, khi 27 tuổi, Nguyễn Duy Thì thi đỗ Hoàng giáp. Tên tuổi của ông được khắc trên bia đá tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám… Là một trí thức có vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Duy Thì đã đem hết sức mình cống hiến cho sự ổn định tình hình chính trị đất nước ở buổi đầu thời Lê Trịnh, trong thì giữ yên chính trị, ngoài thì trấn áp phản loạn, khôi phục mối bang giao hữu hảo với phía Bắc, giữ gìn tình cảm truyền thống người Việt với nhà Nguyễn ở phía Nam; một lòng trung quân, ái quốc, thương dân. Ông được người đời nhờ cậy và tôn trọng trong suốt 30 năm; Phủ đường nơi ông làm việc khi về quê, sau khi ông mất, nhân dân sử dụng làm nơi hương đăng thờ phụng, tưởng nhớ công lao của ông suốt hơn 350 năm nay. Nhà sử học Phan Huy Chú đã xếp ông vào hàng 38 vị phù tá có công lao tài đức của nhà Lê Trung Hưng.

Xin trở lại với bài khải.

Mở đầu bài khải, bằng sự khôn khéo tỉnh táo của một chính trị gia chuyên nghiệp, cụ NDT đã đưa ra những chân lý không ai chối cãi nổi: “Dân là gốc nước, đạo trị nước là yêu quý dân mà thôi. Trời và dân theo một lẽ, lòng dân vui thích tức là được ý trời. Vì thế người giỏi trị nước phải yêu dân như cha mẹ yêu con, thấy dân đói rét thì thương, thấy họ lao khổ thì xót, cấm hà khắc bạo ngược, ngăn thuế khoá bừa bãi, để cho dân được thoả sống mà không còn tiếng sầu hận oán than. Thế mới là biết đạo trị nước, biết cách sai dân”. Những điều này-như là cái lẽ Trị quốc An dân sáng tỏ tựa mặt trăng mặt trời mà người cầm quyền của một quốc gia cần lấy làm lòng thì đã được nhiều người trước cụ Nguyễn Duy Thì nói đến, tiêu biểu là danh nhân Nguyễn Trãi… Nhưng ngay ở đoạn mở đầu có tính chất đặt nền tảng như trên, ta có thể thấy trái tim cụ NDT đã rớm máu thế nào, những lời thốt ra không chỉ là kinh điển Nho gia mà chính là đòi hỏi của Lương tri thông thường lẫn đòi hỏi của Sứ mệnh “chăn Dân” được đặt trong tình thế kêu gọi thiêng liêng!

Với cái tiền đề nặng đầy lý trí và tràn trề cảm xúc như vậy, cụ NDT đã khéo léo đưa ngưòi cầm đầu QG vào cuộc: “Nay Thánh thượng (chỉ chúa Trịnh) để ý tới dân, thi hành một chính sách cốt để nuôi dân, ban ra một mệnh lệnh, cũng nghiêm răn nhiễu dân. Lòng yêu dân đó, thực là lượng cả của trời đất, cha mẹ vậy”. Tháng 4 năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông trở về Thăng Long, đánh dấu sự phục hưng của triều Lê nhưng chỉ là trên danh nghĩa, còn thực quyền đã nằm trong tay chúa Trịnh. Còn kể từ năm 1527, khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi triều Lê, chế độ quân chủ Đại Việt lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện, những cuộc tranh giành quyền lực gây nên nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn chia cắt đất nước. Khắp nơi, nông dân nổi dậy chống lại chế độ quân chủ áp bức tàn bạo. Vài nhà nghiên cứu lịch sử đã có nhận định khá thống nhất: các vua Lê thời đó đều trẻ người non dạ trước tiền đồ của giang sơn xã tắc, và Trịnh Tùng, muốn giữ vững ngôi vị, ngoài tài năng cai trị và cầm quân, buộc phải trở thành người cứng rắn, quyết đoán và thậm chí tàn nhẫn; với tài năng sẵn có trong thời loạn, ông đã trở thành kẻ gian hùng khuynh đảo triều chính nhà hậu Lê… Những dòng văn khải trên có tác dụng một mũi tên trúng hai đích: vừa để nhấn mạnh cái phần tài năng trị quốc, khẳng định mặt tích cực trong các chính sách của Trịnh Tùng; đồng thời cũng ngầm đem cái sức mạnh nguyên thuỷ của “Thiên đạo” (khái niệm của Lão Tử) diễn đạt theo cách dân dã và Việt hoá là: “lượng cả của trời đất, cha mẹ” để răn dạy bậc cầm quyền; điều đặc biệt có ý nghĩa là cụ đã lồng vào cái “Thiên đạo” xa lạ kia bằng nội dung “Lòng yêu dân”! Là một trí thức tỉnh táo, ông thừa hiểu bản tính của con người là ham lợi, là khát khao quyền lực, là ước nguyện đè nén người khác, như triết gia Hàn Phi đời Chiến Quốc đã khái quát- nhất là chúng lại nằm ở một người đứng trên đầu cả thiên hạ như Trịnh Tùng! Nhưng, trong cái thời loạn đó, cụ NDT cũng hiểu hơn ai hết, cần phải có người có đủ bản lĩnh, tài năng và quyết đoán như Trịnh Tùng để giữ sự bình yên cho Đất nước. Nhà sử học Phan Huy Chú đã viết về Trịnh Tùng như sau: “Ông tính khoan hậu, yêu người, khéo vỗ về tướng sĩ… dùng binh như thần… Ông thực sự làm chúa cầm quyền chính, công lao sự nghiệp danh vọng lừng lẫy…”(4). Dù Phan Huy Chú là sử gia đương thời bắt buộc phải nói sao cho đẹp lòng quân vương, song rõ ràng cũng phải có ít nhiều sự thật trong những dòng sử trên! Và khác với nhà triết học chính trị người Ý N. Machiavelli, người đã khuyên bậc quân vương rằng: “Quân vương phải biết học hỏi từ bản tính của dã thú, biết kết hợp sức mạnh của sư tử với sự tinh ranh của cáo. Sư tử không thể tự bảo vệ mình tránh các cạm bẫy còn cáo thì không chống lại được sói”, cụ NDT nước ta, sống sau Machiavelli gần hai thế kỷ, đã khuyên bậc quân vương của mình điều hệ trọng bậc nhất: Cần phải yêu Dân, quý Dân thực sự, bởi lẽ Dân là gốc của nước; và yêu quý Dân chính là cái gốc của đạo trị Dân. Dân không phải là kẻ thù, nên không thể xử sự với Dân như loài dã thú đã làm! Điều này, ta có cảm tưởng cụ NDT đang nói trực tiếp với những người Việt Nam của thế kỷ XXI!

Những cuộc khởi nghĩa nông dân, những cuộc đấu đá huynh đệ tương tàn vì quyền lực và đất đai giữa các thế lực chính trị, mối đe doạ ngoại xâm thường trực từ phương Bắc…, tất cả đều nguy hiểm cho an ninh quốc gia, song đều không nguy hiểm bằng hoạ nội xâm do sự thối nát tự bên trong chính quyền, những kẻ “ăn lộc của dân” nhưng lại “đền ơn kẻ cấy cày” bằng sự cướp đoạt trắng trợn mồ hôi nước mắt của dân! Cụ NDT biết rõ điều này, và bằng mọi cách để Trịnh vương cũng phải giật mình cảnh giác. Vì thế, trong tâm trạng bức xúc đến cuồng nộ, tiếp theo, tác giả tờ khải cấp báo và lên án gay gắt tình trạng đe doạ sự tồn vong của Đất nước hiện thời, đó là chính sự hà khắc, quan lại bạo ngược, nạn tham nhũng hoành hành, kẻ “phụ mẫu chi dân” từ trên xuống dưới thì bất chấp đạo lý, luật pháp và vơ vét tận máu mủ dân lành: “Chỉ vì kẻ thừa hành chưa biết thể theo đức ý của bề trên, chăm làm sự hà khắc bạo ngược, đua đòi xa xỉ. Coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã”. Những điều đó đã dẫn tới sự bần cùng hóa của tầng lớp “dân đen con đỏ”: “khiến cho dân trong nước, con trai thì không có áo, con gái thì không có váy, tiệc hát xướng không còn, lễ cưới xin không đủ, sống nuôi chết đưa không trông cậy vào đâu, ăn uống chi dùng hàng ngày mọi bề đều thiếu, dân mọn nghèo hèn cho đến sâu bọ cỏ cây đều không sống nổi”.

Rõ ràng là, dù cụ NDT không nói ra, song người đương thời và người hôm nay đều có thể hiểu rằng, những kẻ có quyền hành mà tha hoá, tham lam, “phàm những việc nhiễu lạm, không việc gì không làm”, “ăn không chừa thứ gì của Dân” (theo cách nói của một người có chức quyền hiện nay), thì chúng chẳng khác gì giặc nội xâm hiểm độc nhất, chúng tàn phá tài nguyên đất nước, huỷ hoại lòng tin của mọi người đối với hệ thống công quyền, thiêu huỷ máu xương của bao thế hệ người đã đổ xuống cho Tổ quốc, bần cùng hoá người dân- những người đang nai lưng làm ra của cải xã hội và đóng thuế để nuôi sống bộ máy cai trị! Nhà nho giàu tâm hồn thi sĩ NDT hiểu thấu nỗi khổ ải cùng cực của người dân lành trước tai hoạ nội xâm đó và hình tượng hoá chúng một cách sinh động trong những dòng văn rung động nỗi xót xa thương cảm lạ thường, hiếm thấy trong văn chương trung đại.

Phần cuối của bài khải nói tới luật nhân quả nhỡn tiền, kể ra những thiên tai khủng khiếp mà lũ lụt là tiêu biểu, theo tác giả, đó là ông trời giáng họa xuống nhân gian, bởi trời và người vốn có mối giao cảm với nhau (“Thiên nhân tương cảm”, theo quan niệm của Nho giáo). Sử đã ghi lại chuyện “núi Tản Viên bị lở đến hơn 12 trượng”, một huyện ở Hà Bắc “trời mưa máu suốt một ngày một đêm”(5)… Những hiện tượng thiên tai này có liên quan đến nhân tai, đến chính sự hà khắc, lục đục, thối nát, dân lầm than đói khổ, oán thán ngút trời. Và trời đã gieo tai họa như để thức tỉnh người cầm quyền cần phải thay đổi đường lối chính sách kíp thời, cần hành động sao để cái ác, cái xấu buộc phải chùn tay, nếu không, Đất nước sẽ phải chịu những hậu quả nặng nề hơn nữa! Tờ khải viết tiếp: “Vì thế cảm động đến đất trời, khiến cho lòng trời ở trên không thuận, tai họa lũ lụt tràn ngập quá mức thường, chắc là có quan hệ đến chính sự hiện nay, há chẳng nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi gây nên thế sao?”. Phải chăng, đây cũng là những lời bộc trực thẳng thắn, trực tiếp khuyên nhủ, nhắc nhở chúa (ở đây là Trịnh Tùng): “hãy nên sợ hãi, tu tỉnh, nghĩ đến tội lỗi” của mình! Ai dám bạo gan như cụ NDT? Bạo gan hơn, cụ còn thay mặt đạo trời đạo người vạch ra cái đòi hỏi cấp bách của thời cuộc cho người cầm quyền tối cao: “Nếu biết thi hành chính sách bảo vệ dân thì dưới thuận lòng người, trên hợp ý trời, và chuyển tai hoạ thành điềm lành, lúa được mùa luôn, người người no đủ, trong nước thái bình, cơ nghiệp ức muôn năm của nước nhà từ nay cũng do đó mà bền vững lâu dài vậy”.

Kết quả là: “Triết vương (Trịnh Tùng) khen và nhận lời. Năm Bính Thìn (1616) ông được đổi sang Đô ngự sử, rồi lại thăng Tả thị lang bộ Lễ”(6). Điều quan trọng nhất là chúa không chỉ lắng nghe, khen ngợi, thăng chức cho cụ, mà còn từ đó có những hành động cụ thể góp phần thay đổi chính sự. May thay, chính thể của chúa Trịnh Tùng đã không trở thành “con quái vật máu lạnh”-theo cách nói của một triết gia phương Tây là Nietzsche về một nhà nước dửng dưng với mọi tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp dân chúng và chỉ lo giữ cho sự tồn tại của chính mình! Sử cũ ghi rằng, năm sau, tức khoảng cuối năm 1613, “Mùa đông tháng 11, sai triều thần chia nhau đi các xứ xét hỏi nỗi đau khổ của dân gian. Người phiêu dạt thì tha tạp dịch ba năm để về an cư phục nghiệp”(7). Sức mạnh của những lời nói chân thực và chứa đựng chân lý của kẻ sĩ đối với người cầm quyền thật màu nhiệm, tuy không phải là nhiều trong lịch sử xưa nay…

Ngày hôm nay, đọc lại và ngẫm nghĩ về bài khải văn trên, chúng ta có thể dễ dàng trực tiếp liên hệ tới thời cuộc nóng bỏng, và có thể dễ dàng chỉ ra các hoạ nội xâm là gì, những kẻ nội xâm là ai… đang tàn phá khủng khiếp Đất nước này! Còn riêng tôi thì nhớ ngay đến một bài viết còn chưa ráo mực cũng của một nhà sử học, nói về 5 điều ngụy biện của những quan chức “vì dân”- nói trắng ra đang là kẻ nội xâm nguy hiểm: “Những người phụ trách các đập thủy điện xả lũ vô trách nhiệm, coi cuộc sống, sinh mạng của người dân như cỏ rác phải bồi thường và phải bị truy cứu trách nhiệm nghiêm khắc. Những cơ quan lập ra dự án, tạo ra vô số tai ương cho đất nước cũng phải chịu trách nhiệm tương tự. Không thể có một đất nước mà mọi sai lầm đều đổ hết lên đầu dân còn quan chức cứ cò cưa ngụy biện vòng quanh, ngang nhiên ve vẩy những nụ cười thỏa mãn vô lương”(8).

Và có rất nhiều bản “khải văn” tâm huyết thời hiện đại nhiều năm qua kêu gọi việc “thi hành chính sách bảo vệ dân” một cách xứng đáng và tử tế đã được dâng lên các “chúa thượng” kiểu mới, liệu chúng đã/sẽ được lắng nghe tới đâu? Đáng mừng là những phát súng lệnh đã khai mở ròn rã để tiêu diệt giặc nội xâm. Mới đây nhất, Phó thủ tướng Chính phủ Trương Hoà Bình đã nói: tình trạng tham nhũng và lãng phí hiện nay đang đe doạ đến sự phát triển của đất nước. Tham ô, lãng phí và quan liêu là kẻ thù của nhân dân, mà đấu tranh chống tham ô, lãng phí là đấu tranh chống “kẻ địch bên trong” (cũng có nghĩa là nội xâm)(9).

Toàn dân Việt trong nước và nước ngoài đang chờ đợi, và hy vọng.

Hà Nội, đầu tháng 11. 2016

N.A.T.

__________
(1) Tâu là lời dâng lên vua, khải là lời dâng lên chúa.

(2) Hoàng Văn Lâu & Ngô Thế Long dịch từ chữ Hán.

(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Văn hoá Thông tin, HN, 2000. Tr. 335-336. Bản khải này cũng được chép lại đầy đủ trong bộ sách đồ sộ của Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007. Tr. 320-321.

(4) Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr. 251.

(5) ĐVSKTT, Sđd, Tập III, tr. 335.

(6) Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tr. 321.

(7) ĐVSKTT, Sđd, tr. 337.

(8) Ngụy biện ác tàn – Hà Văn Thịnh, dẫn theo vuongthuc.wordpress &http://chieulang.com.vn/chieu-lang/tin-trang-chu/chi-tiet/nguy-bien-ac-tan-ha-van-thinh-9891.html

(9) Báo cáo tại Hội nghị lấy ý kiến cho dự thảo Đề án tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khoá 10) về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tổ chức sáng 27.10.2016 tại Hà Nộ

 

Ảnh có tính chất minh họa

Giọt nước mắt… vì niềm kiêu hãnh – FB Dieu Le

1 Th12
Dieu Le đã chia sẻ bài viết của Hung Lee.

4 phút ·

Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Hung Lee

Giọt nước mắt… vì niềm kiêu hãnh

Khoa Học Gia DƯƠNG NGUYỆT ÁNH

Tôi là người thù dai. Thù dai có cái xấu và có cái tốt. Tôi nghĩ thù dai cũng có điểm tốt.
Thù dai để không quên những chuyện xấu người khác làm cho mình. Không thù dai thì làm sao Nguyễn Trãi nằm gai nếm mật suốt mười năm để trả thù nhà, để đền nợ xã tắc, giang sơn?

Thù từ năm 1975 đến nay thì có dai thật.

Năm 1975, với đợt tị nạn đầu tiên đến Mỹ, tờ Newsweek đăng một bài viết của Shana Alexander về những người Việt được đưa sang Mỹ tị nạn. Người đàn bà này lo ngại là những người Việt Nam tị nạn chưa biết sử dụng cái máy giặt, cái máy sấy, không biết Michael Angelo là ai, thì làm sao sống được ở Mỹ.

Ðó là những câu nhục mạ những người Việt quá nặng.

Nhưng chuyện không biết dùng cái máy giặt thì cũng dễ hiểu. Kìa, như thái tử Naruhito của hoàng gia Nhật, mãi đến khi sang học tại Merton College ở Oxford, ông hoàng tử này mới biết dùng cái máy giặt để khoe nhắng lên. Vậy thì dùng cái máy giặt không phải là chuyện đáng kiêu hãnh. Không biết dùng cái máy giặt thì cũng không phải là điều xấu xa gì như bài báo ngu xuẩn của Shana Alexander đã úp mở.

Từ đó, năm nào, cứ đến tháng Tư là tôi lại nhớ đến bài báo của Shana Alexander, và cứ nghĩ đến những câu nhục mạ ấy là lại run người lên vì giận.

Nhưng người Pháp vẫn nói là trả thù cũng như thức ăn nguội, ăn lạnh mới ngon. Shana Alexander nghỉ viết từ lâu, không biết đang ở đâu để rảnh rang kiếm nàng, mời nàng đi đến thăm vài ba đại học Mỹ, ghé lại Little Saigon chơi cho bõ những ngày cơ cực và để cho nàng thấy tận mắt những người nàng khinh bỉ ấy đã sống như thế nào.

Ðó là cách trả thù vậy. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy hả dạ được như cuối tuần qua, khi nhận được tờ Newsweek, tờ báo 32 năm trước từng đăng bài báo của Shana Alexander, tôi đọc được bài viết của George Will trong mục The Last Word ở trang 84 số báo NewsWeek đề ngày 17 tháng 12 năm 2007.

George Will dùng nguyên một trang để nói về đóng góp của một người Việt Nam , một phụ nữ Việt, một trong những người Việt lếch thếch kéo nhau sang Mỹ và bị Shaan Alexander đem ra nhục mạ trong bài báo.
Tôi có thể nói là chưa bao giờ tôi đọc được một bài báo viết về một người khác như George Will đã viết.

Nếu bài báo ấy do một cây bút Việt Nam viết thì người đọc cũng dễ dàng coi đó là chuyện hai con mèo khen nhau có những cái đuôi dài.

Nhưng bài viết này là của George Will một trong những cây bút bình luận chính trị bảo thủ, lỗi lạc nhất của báo chí Mỹ, thì nó là một bài báo giá trị. Mười lần Shana Alexander cũng không thể bác được điều đó.

Bài báo của George Will viết về Dương Nguyệt Ánh, mẹ đẻ ra một loại bom mói tên là Thermobaric. Chương trình nghiên cứu được hạn cho ba năm để hoàn thành, nhưng chỉ sau 67 ngày, bà Ánh đã thành công , chế ra được loại bom mới để dùng cho mặt trận Afghanistan. Loại bom mới này công hiệu hơn tất cả các loại bom khác của thế giới. Bom ném vào hang đá ở Afghanistan không công phá ngay như các loại bom cũ, mà sức nóng và sức nổ của bom ở lại lâu, tiến sâu vào các hang hốc khiến khả năng công phá và hủy diệt của bom hơn hẳn mọi loại võ khí khác.

Nước Mỹ đã phải cám ơn bà Dương Nguyệt Ánh về loại võ khi mới này. Tờ Washington Post mới đây có viết một bài khá dài về bà Ánh nhân dịp bà được trao tặng một huy chương về những thành quả và đóng góp của bà cho nước Mỹ.

George Will kể lại cảnh bà tiến ra trước máy vi âm, không đọc một bài viết sẵn, mà ứng khẩu trước một cử tọa rất đông đảo smoking, nơ đen trang trọng. Bà Dương Nguyệt Ánh nói rằng 32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng đế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ.

George Will kết bài viết của ông bằng mấy câu này: Cám ơn Dương Nguyệt Ánh. Xin cô hiểu là cô đã trả món nợ mà cô nói cô nợ của nước Mỹ, cô đã hoàn trả đầy đủ, không thiếu một chút nào. Cô đã trả hết món nợ đó, và luôn cả tiền lời nữa. Tiền lời, là đóng góp rất lớn của Dương Nguyệt Ánh cho tự do và an ninh của nước Mỹ, quốc gia đã mở cửa đón gia đình của bà.

Shana Alexander ở đâu, có đọc bài báo này chưa ?

Bùi Bảo Trúc

Biển Đông: Mỹ có đẩy các nước vào ‘vòng tay’ TQ?

1 Th12

Quyết định tham gia hay vắng mặt tại Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN năm 2017 của ông Trump sẽ ảnh hưởng lớn đến kiến trúc an ninh của khu vực.Tổng thống đắc cử Donald Trump vẫn đang là “dấu chấm hỏi” rất lớn đối với tương lai nước Mỹ, và rộng hơn là sự ổn định toàn cầu thông qua một trật tự thế giới mới. Các chỉ dấu trong chiến dịch tranh cử của ông Trump – “nước Mỹ trước tiên” – với hai cam kết trọng tâm: yêu cầu đồng minh gia tăng trách nhiệm và bài trừ thương mại tự do – giúp chúng ta phần nào hình dung ra khả năng thiết lập kiến trúc an ninh mới tại châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng. 

Kiến trúc an ninh “Trục và Nan hoa 2.0” thời Obama

“Xoay trục” hay “Tái cân bằng” được xem là chính sách trọng tâm của Mỹ trong suốt hai nhiệm kỳ của Tổng thống Barack Obama.  Thành quả phải kể đến của sự trở lại của Mỹ tại Đông Nam Á, sau tổng cộng 11 chuyến công du châu Á và gặp mặt các lãnh đạo ASEAN của ông Obama, nằm ở lĩnh vực an ninh.

Không chỉ ở góc độ tổng thể, Tổng thống Obama còn chăm chút đến quan hệ song phương với từng quốc gia trong khối ASEAN. Các hoạt động hợp tác tập trận và tuần tra tại Biển Đông với nhiều nước ASEAN ngày càng nhộn nhịp trong nhiệm kỳ 2 của ông. Đó là chưa kể đến các chuyến thăm chính thức đến 9 trong 10 thành viên ASEAN, với những di sản an ninh quốc phòng ấn tượng.

Những tuyên bố “thoát khỏi sự ảnh hưởng của Mỹ” đầy tranh cãi của Tổng thống Philippines Duterte đến lúc này vẫn chưa thay đổi kiến trúc an ninh tại khu vực theo mô hình “Trục và Nan hoa” (Hub-and-spoke) phiên bản 2.0, với trọng tâm là mối quan hệ trực tiếp giữa Mỹ với các đồng minh; đồng thời là sự xuất hiện các mối quan hệ qua lại giữa các đồng minh, các đối tác an ninh quốc phòng của Mỹ với nhau như các nước ASEAN, Nhật Bản, Úc, hay gần hơn là Ấn Độ.

Biển Đông: Mỹ có đẩy các nước vào ‘vòng tay’ TQ?
Lính Mỹ và Philippines tham gia cuộc tập trận Balikatan năm 2015 – Ảnh: Reuters/ Thanh niên

Kiến trúc an ninh mới “không có Chú Sam”?

Nếu tiếp tục theo đuổi cam kết “nước Mỹ trước tiên” một cách cực đoan và xem nhẹ vai trò của các đồng minh và đối tác an ninh, kiến trúc an ninh khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung thời Obama có khả năng sẽ bị vỡ vụn.  

Việc theo đuổi chính sách gia tăng đầu tư hạ tầng, cắt giảm thuế cho người giàu dự báo sẽ làm ngân sách Mỹ bốc hơi hàng nghìn tỷ USD, vô tình gây ra gánh nặng cho các hoạt động chi tiêu quốc phòng (dù ông Trump có muốn tăng chi tiêu quân sự). Việc thiếu kinh nghiệm trong hoạt động ngoại giao, quân sự của ông Trump sẽ tạo ra những thách thức trong việc phân bổ lực lượng tại khu vực, tạo ra những rủi ro lãng phí và hiệu suất thấp.

Bên cạnh đó, việc chỉ trích các nước đồng minh hưởng lợi trên sức mạnh của Mỹ và thách thức họ bằng yêu cầu “chia sẻ trách nhiệm công bằng” như một cú sốc với hình ảnh lẫn uy tín lãnh đạo của Washington. Việc thúc đẩy một hệ thống kinh tế thế giới theo hướng bảo hộ, mà điển hình là bãi bỏ Hiệp định TPP, có thể sẽ đẩy các đồng minh như Nhật Bản, Philippines lẫn các đối tác khu vực xích lại gần Trung Quốc nhiều hơn.

Hệ quả là, việc kiềm chế Trung Quốc tại khu vực, đặc biệt ở Biển Đông, càng khó khăn. Nhất là khi lãnh đạo Bắc Kinh luôn duy trì đường lối đối ngoại cứng rắn, đầy tham vọng thay đổi trật tự (do Mỹ đứng đầu) tại khu vực và trên thế giới.

Đội ngũ chuyển giao quyền lực của ông Trump thời gian tới đây sẽ phải đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng với cục diện an ninh tại Đông Nam Á nói riêng, châu Á nói chung. Đó là ông Trump có tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN vào năm tới tại Manila hay không.

Nhà nghiên cứu Kavi Chongkittavorn, thành viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Đại học Chulalongkorn, nhận định trên East Asia Forum rằng, nếu ông Trump quyết định đến Philippines vào tháng 11 năm sau, đó sẽ là dấu hiệu khẳng định Mỹ vẫn trân trọng mối quan hệ đồng minh với Manila. Tất nhiên, đó cũng là chỉ dấu quan trọng cho quan hệ an ninh với khối ASEAN nói chung, đòi hỏi ông Trump phải tính toán đến các đối sách liên quan vấn đề an ninh và tự do hàng hải – một ngọn cờ chủ lực cho sự hiện diện của Mỹ tại khu vực.

Còn nếu ngược lại, ông Trump sẽ bỏ qua chuyến đi này để tập trung vào các vấn đề đối nội, quan hệ Mỹ-ASEAN sẽ rơi vào trạng thái lung lay khi các cường quốc khác, đặc biệt là Trung Quốc, thừa cơ hội chen chân khỏa lấp các khoảng trống ảnh hưởng tại khu vực. Quan trọng nhất là ông Trump sẽ bỏ qua cơ hội gặp mặt các lãnh đạo cao cấp sẽ tham dự EAS.

Đã có những ý kiến quan ngại nếu người Mỹ vắng mặt thì một số quốc gia đang xây tham vọng sẽ nhanh chóng chớp cơ hội hòng tạo ảnh hưởng thiết lập các chương trình có lợi cho họ, nhất là các vấn đề thiết lập nên một kiến trúc an ninh mới tại các khu vực vắng bóng người Mỹ trong nhiều thập niên qua.

 

Darrell West, giám đốc Chương trình Quản trị Viện Brookings, chuyên gia về biến động chính trị, trong bài viết gần đây có đưa ra các kịch bản khi ông Trump trở thành tổng thống Mỹ. Đáng chú ý là khả năng ông Trump sẽ theo đuổi chính quyền cộng hòa truyền thống với sự tham gia của một đội ngũ giàu kinh nghiệm như Tướng James Mattis, vị chỉ huy tài ba của thủy quân lục chiến Mỹ – ứng cử viên sáng giá cho vị trí Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời ông Trump. Ngoài ra, khi chính thức nhậm chức tổng thống, ông Trump sẽ có nhiều không gian hơn để thực hiện các chính sách của mình (mà không chịu áp lực lá phiếu như giai đoạn ứng cử).

Còn theo Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, Nghiên cứu viên chính tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS – Yusof Ishak Institute), Singapore, viết trên trang Project Syndicate, Tổng thống Trump sẽ được cố vấn kỹ lưỡng nên có thể nhận ra việc duy trì tính liên tục trong chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương (từ thời ông Obama – NV), sẽ phù hợp với lợi ích của Mỹ hơn là việc đưa ra các các phương án thay thế khác. Hoặc nếu không, chí ít ông Trump cũng có thể chống lại khả năng Trung Quốc giành được vị thế chiến lược dẫn đầu tại khu vực.

Đỗ Thiện

Nghiên cứu viên cộng tác Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM

 

ĐÊM MƯA CỦ CHI

1 Th12

 

 

Nắng nung đất thép bùi ngùi
Mưa buồn hờn dỗi mặn mùi giận thương
Thành đồng một góc quê hương
Yêu em xa xứ đêm trường tăng ca
Rất gần mà cũng vời xa
Củ Chi ơi ta lại về ta nhớ hoài
Một thời bom đạn sắn khoai
Nay em còn gánh nặng vai cuộc người
Về đây thăm tuổi đôi mươi
Gặp cơn mưa nhớ tả tơi lá vàng.
——-

 NH
%d bloggers like this: