Lưu trữ | LÝ LUẬN & BÌNH VĂN RSS feed for this section

Đọc “Thơ Mới nhìn từ quan hệ văn hóa văn học” của Hoàng Thị Huế – VHNA

12 Th12

 

  •   Đỗ Lai Thuý
 

Đọc "Thơ Mới nhìn từ quan hệ văn hóa văn học" của Hoàng Thị Huế

 

1. Chuyên luận Thơ mới nhìn từ quan hệ văn hoá văn học của tác giả Hoàng Thị Huế, khoa Ngữ Văn trường ĐHSP Huế, vừa được NXB Hội nhà văn cho ra mắt độc giả vào tháng 9/2014. Đây là một công trình lý thú, đặt ra và gợi mở nhiều vấn đề mới.

Như đã biết, Thơ mới là một hiện tượng văn học lớn của thế kỷ XX. Từ khi ra đời đến nay, nó đã được nhiều người nghiên cứu, tìm hiểu, nhiều công trình đã xuất bản. Bởi thế, nếu không tìm được hướng tiếp cận mới thì sẽ dẫm lên bước chân người đi trước.  Tác giả Hoàng Thị Huế đã tìm cho mình một đường đi có ý nghĩa: tiếp cận văn học từ văn hoá. Đây là một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng và ngày càng được nhiều người quan tâm. Tuy đã có vài công trình đi trước như của bản thân tôi (Từ cái nhìn văn hoá, 1999, Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực, 1999), hoặc của Trần Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá, 2003). Nhưng ở công trình của Hoàng Thị Huế, tác giả đã cụ thể hoá nó ở việc nghiên cứu để làm rõ mối quan hệ văn hoá, văn học thông qua hiện tượng Thơ mới. Bởi thế, chuyên luận đã khẳng định thêm hướng tiếp cận khả quan này.

2. Nội dung chuyên luận được tác giả triển khai ở những vấn đề như Thơ mới một hiện tượng văn hoá lớn, Thơ mới từ văn hóa đến văn học Thơ mới từ ngôn ngữ nghệ thuật đến các biểu trưng văn hóa .Từ những vấn đề có tính chất lý thuyết chung như quan hệ văn hoá và văn học, nghiên cứu văn học từ mối quan hệ văn hoá, văn học. Thơ mới như là con đẻ của sự giao thoa văn hoá Đông Tây, sự thay đổi văn hoá từ cổ truyền sang hiện đại, Thơ mới trong cuộc đấu tranh với thơ cũ… Từ đó, tác giả Hoàng Thị Huế giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá, văn học ở Thơ mới trên bình diện cụ thể. Văn hoá ở đây là văn cảnh, còn thi pháp là văn bản. Chính vì vậy, Hoàng Thị Huế đã xem xét văn bản từ văn cảnh, trong văn cảnh và bằng văn cảnh. Đó là các vấn đề kiểu nhà thơ, đối tượng thẩm mỹ mới, quan niệm sáng tạo mới. Thơ mới kết tinh nhu cầu văn hoá và thời đại. Bên cạnh đó, khi tìm hiểu Thơ mới từ nhãn quan thi pháp, Hoàng Thị Huế đã đi theo con đường ngược lại, từ văn bản đến văn cảnh. Ở đây, vấn đề được triển khai nghiên cứu là mô hình tư duy nghệ thuật mới và cuộc cách mạng thể loại thơ trữ tình. Khi xem xét Thơ mới từ ngôn ngữ nghệ thuật đến các biêủ tượng văn hoá, tác giả đã giải quyết hợp lý và thuyết phục mối quan hệ giữa văn hoá và văn học ở Thơ mới trên những bình diện cụ thể. Đó là vai trò của ngôn ngữ Thơ mới trong việc lưu giữ, đổi mới, sáng tại và phát triển văn hoá dân tộc, cũng như giá trị văn hoá của các biểu tượng văn hoá trong Thơ mới.

3.Chuyên luận đề cập đến mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, nên đã bao hàm một dung lượng kiến thức rất lớn: kiến thức về văn hoá, văn học nói chung, kiến thức về văn hoá giai đoạn 1932-1945 và Thơ mới nói riêng, về sự tương tác, chi phối giữa văn học và văn hoá, giữa văn hoá giai đoạn 1932- 1945 và Thơ mới. Bởi thế, chuyên luận hấp dẫn người đọc ở chỗ đã hệ thống hoá được nhiều các lý thuyết, luận điểm làm cơ sở cho chuyên luận như sau:

3.1.Văn hoá là một tổng thể, văn học là một bộ phận, mà tổng thể thì bao giờ cũng chi phối bộ phận nên văn hoá chi phối văn học..

3.2.Mỗi thời đại sinh ra một kiểu văn hoá, kiểu văn hoá đó lại tạo nên các hiện tượng văn học của thời đại. Bởi thế, khi kiểu văn hoá thay đổi thì kiểu văn học cũng thay đổi theo.

3.3.Thơ mới là sản phẩm của giai đoạn văn hoá 1932-1945, của sự tiếp biến văn hoá Đông Tây, khác hẳn với các giai đoạn văn hoá trước đó, nên Thơ mới cũng khác hẳn thơ cũ, thơ trung đại.

3.4.Những cái khác đó được thể hiện ở kiểu nhà thơ, đổi tượng thẩm mỹ, quan niệm sáng tạo, cảm thức về con người và cuộc sống, mô hình tư duy nghệ thuật, thể loại thơ trữ tình, ngôn ngữ…

3.5.Với tư cách là một sản phẩm của một thời đại văn hoá, một kiểu văn hoá, Thơ mới một mặt phản ánh những đặc trưng văn hoá mới mẻ của  thời đại 1932- 1945, mặt khác ở tầng sâu của nó, còn lưu giữ và luân chuyển những giá trị văn hoá nghìn  năm của dân tộc. Tính lưỡng trị này cuả Thơ mới có thể tìm thấy ở các biểu tượng như non nước, con người văn hoá…

Nói  gọn lại, tác giả Hoàng Thị Huế đã xử lý khá nhiều kiến thức lý luận, văn hóc, văn học, tiêu hoá nó và trình bày một cách hệ thống, chặt chẽ như sơ đồ logic mà tôi vừa nên trên.

4.Một đối tượng, dù quen thuộc, nhưng nếu được tiếp cận bằng một phương pháp mới sẽ được làm mới, do phương pháp đẻ ra đối tượng. Thơ mới nhìn từ quan hệ văn hoá, văn học của tác giả Hoàng Thị Huế đã đem lại những cách nhìn mới, khác so với cái nhìn vào Thơ mới theo kiểu ấn tượng chủ nghĩa, xã hội học, thậm chí thi pháp học trước đó. Điều này được tác giả viết “ Nếu tiếp cận Thơ mới bằng cảm quan văn hoá, chúng ta sẽ thấy được tính lịch sử của nó, cho phep giải thích phong trào Thơ mới như một hiện tượng có tính quy luật nằm trong sự vận hành chung của thơ ca dân tộc. Bên cạnh đó, tiếp cận Thơ mới từ chính bản thân Thơ mới sẽ phần nào hiểu được giá trị nghệ thuật to lớn của Thơ mới” ( Trang 76, sđd ). Tôi nghĩ đây là một nhận định xác đáng, đã cụ thể hoá, đã làm rõ được mối quan hệ giữa văn hoá văn học, và, do đó nó có ý nghĩa về phương pháp. Bản thân những vấn đề của Thơ mới đã được làm mới một lần nữa nhờ đặt vào phương pháp nghiên cứu hai chiều ngược nhau: từ văn bản đến văn cảnh, tức từ trong ra ngoài, tức nghiên cứu nội quan. Và hai là từ văn cảnh đến văn bản, tức từ ngoài vào trong, tức nghiên cứu ngoại quan. Độc giả có thể bắt gặptừ chuyên luận rất nhiều những nhận xét, những phát hiện mới mẻ, thú vị của tác giả Hoàng Thị Huế.

Với tất cả những đóng góp về mặt phương pháp (đã cụ thể hoá được mối quan hệ giữa văn hoá văn học vốn dễ chung chung, trừu tượng thông qua hiện tượng Thơ mới), lẫn nới rộng không gian thẩm mỹ, làm mới đối tượng nghiên cứu như trên, chuyên luận nghiên cứu, lý luận phê bình :Thơ mới nhìn từ quan hệ văn hoá văn học của tác giả Hoàng Thị Huế, NXB Hội Nhà Văn, 2014, là một cuốn sách hay, có nhiều đóng góp.

 

                                                Hà nội, 11/2014. 

 

 

 

Trần Đức Thảo với nền Giáo dục Đại học Việt Nam VHNA

8 Th12

 

 

    •   Cù Huy Chử & Cù Huy Song Hà [1]

 

Kể từ ngày 4/9/1949, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Giáo sư Trần Đức Thảo tham gia Hội đồng quốc gia giáo dục (khi Giáo sư còn ở Pháp) cho đến năm 1956, khi Giáo sư tạm thời ngừng giảng dạy đại học để tập trung nghiên cứu khoa học, ông đã để lại những ấn tượng hết sức sâu đậm trong lòng nhiều đồng nghiệp (cũng là những nhà khoa học-giáo dục lớn của đất nước).

Hơn nữa, trí tuệ uyên bác của ông đã hấp dẫn nhiều thế hệ sinh viên đại học trong những năm tháng đầu tiên của nền Sư phạm đại học miền Bắc thời kỳ hòa bình mới lập lại.
Trên cương vị là thành viên của Hội đồng quốc gia giáo dục, Giáo sư Trần Đức Thảo đã tham dự nhiều cuộc họp quan trọng do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên chủ trì, nhằm xây dựng và phát triển nền Đại học Việt Nam theo tinh thần Dân tộc-Khoa học-Đại chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ý kiến đóng góp của Giáo sư Trần Đức Thảo tập trung vào năm vấn đề chủ yếu sau:
1. Mối quan hệ giữa giáo dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp
2. Mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu khoa học ứng dụng
3. Mối quan hệ giữa đào tạo các nhà khoa học với đào tạo cán bộ
4. Mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
5. Vai trò của khoa học xã hội-nhân văn
Đặc biệt, trong các cuộc họp với lãnh đạo Bộ Giáo dục vào các ngày 24-11-1954, 1-12-1954, 8-12-1954, Giáo sư Trần Đức Thảo đã đóng góp những ý kiến cụ thể như sau[2]:
Một là, chuyên nghiệp và nghiên cứu không thể tách rời nhau, mà còn cần phải đi đôi với nhau, vì nghiên cứu là khoa học thuần túy, mà chuyên nghiệp là thực tế. Muốn phát triển chuyên nghiệp, cần phải đi sâu vào nghiên cứu. Ở trình độ Đại học, nghiên cứu lại là một việc rất cần. Các giáo sư không nghiên cứu thì bài giảng không được chu đáo. Thêm nữa, cần phải hiện đại hóa nội dung giảng dạy, phải áp dụng vào việc giảng dạy những kiến thức mới của các nước Liên Xô, Trung Quốc, v.v… Nói ngay đến lịch sử Việt Nam cũng cần phải khai thác những tài liệu bị mai một.
Về vấn đề chuyên nghiệp, Giáo sư Trần Đức Thảo đã cho rằng, nên đặt trọng tâm vào hai ngành: Y Dược và Sư phạm. Nhưng ông nhận xét cần phải đào tạo một số cán bộ đối ngoại, có một trình độ văn hóa khá, để có thể tiếp xúc với các quan khách ngoại quốc. Vì vậy, ngoài Y Dược và Sư phạm, cũng cần có một ngành chuyên môn phiên dịch.
Bên cạh đó, phương hướng nghiên cứu là văn hóa dân tộc, văn hóa của các nước dân chủ và cả các nước tư sản, vì mục đích là phục vụ nền giáo dục cho được rộng rãi. Còn về vấn đề tổ chức đại học thì nên lập một Hội đồng Đại học do Bộ Giáo dục triệu tập, gồm hai Ban thương trực để theo dõi thường xuyên hoạt động của các ngành.
Hai là, trong thời kỳ kháng chiến, vì thiếu tài liệu, nên các giáo sư ít được dịp nghiên cứu, học hỏi thêm. Bây giờ cần phải kéo lại chỗ thời giờ bỏ phí, và được tích cực học hỏi tìm tòi, để đối với nền văn hóa mới của các nước dân chủ, không bị quá lạc hậu. Do vậy, cần thiết phải ra đời một tổ chức nghiên cứu có hệ thống. Còn một lý do xa xôi nữa, thì nghiên cứu còn có tác dụng là bảo đảm uy tín cho văn hóa nước nhà, vì hiện nay, muốn nghiên cứu về sử, địa Việt Nam, vẫn phải dùng tài liệu bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh.
Ba là, nói về khả năng phát triển của ngành Văn khoa, do những nhu cầu thực tế của giai đoạn hiện tại (nhu cầu sư phạm, về nghiên cứu viên, nhu cầu về cán bộ phục vụ các ngành…), do những nhu cầu ấy, cần phải có một trường Đại học Văn khoa, trong đó sẽ chia ra từng bộ môn chuyên nghiệp. Muốn phát triển Văn khoa Đại học cần phải có một bộ phận nghiên cứu. Bộ phận nghiên cứu đi đôi với bộ phận giảng dạy để giúp đỡ giáo sư đề tài giảng dạy. Bộ phận nghiên cứu đó còn góp một phần vào việc đấu tranh văn hóa, nhất là riêng về các vấn đề Việt Nam: nghiên cứu để có một cái vốn về văn hóa dân tộc, về văn hóa Á Đông, để trau dồi cái truyền thống tư tưởng Á đông, và đồng thời cũng có một cái vốn về văn hóa các nước khác.
Bốn là, Giáo sư Trần Đức Thảo cho rằng, có ba lý do cần phải mở một trường Đại học Văn khoa:
+ Thứ nhất, đại học nên hướng về chuyên nghiệp, để đáp ứng nhu cầu quốc gia. Nhưng ngoài hai trọng tâm Y, Sư phạm, nên đặt thêm trọng tâm vào một khối chuyên môn văn khoa, gồm các ngành báo chí, văn nghệ, đối ngoại.
+ Thứ hai: để thỏa mãn yêu cầu của thanh niên xin học Văn khoa ngày một đông. Nếu chỉ tập trung sinh viên vào Sư phạm Văn khoa thì có vẻ như cưỡng bách sinh viên. Hiện tượng cho ta thấy rằng số sinh viên ghi tên vào học hai ban tương đương nhau. Nếu bỏ hẳn ban Đại học văn khoa, ta không thỏa mãn được đòi hỏi của một số đông học sinh, ta không chiếu cố được học sinh miền Nam, ta không đào tạo được cán bộ văn hóa hiện nay rất cần.
+ Thứ ba: tuy có nhiều khó khăn, nhưng ta cũng có đủ khả năng về giáo sư để mở ngay một một Đại học Văn khoa. Năm thứ nhất, chương trình giống với chương trình Sư phạm Văn khoa, giáo sư sẽ dạy chung hai trường. Do đó, không ngại thiếu giáo sư để mở Đại học Văn khoa, vì chính những giáo sư dạy ở Đại học Văn khoa cũng là những giáo sư dạy ở Sư phạm Văn khoa. Vả lại chương trình năm đầu của 2 ban là chương trình chung, chỉ khác vài môn. Giáo sư Trần Đức Thảo nhấn mạnh, mở một trường Đại học Văn khoa đồng thời với trường Sư phạm Văn khoa chỉ có lợi, chứ không có trở ngại gì.
Năm là, nói chung, nền giáo dục Đại học Việt Nam cần được nâng cao về số lượng và chất lượng, trước hết nhằm đảm bảo sự phát triển của đất nước về mọi mặt, từ kinh tế đến chính trị, đến văn hóa, từ đối nội đến đối ngoại. Nhưng điều quan trọng và rất căn bản là, nền giáo dục Đại học có nhiệm vụ rất nặng nề là: phải nâng tầm trí tuệ, tầm nghiên cứu khoa học của Việt Nam lên ngang tầm thế giới. Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này, vì về nhiều mặt, văn hóa Việt Nam mang tính độc đáo, có bản sắc riêng, chẳng những so với các nước trên thế giới nói chung, mà ngay cả so với các nước trong khu vực nói riêng. Điều đó thể hiện rõ trong sự phát triển ngôn ngữ, các loại hình nghệ thuật, đặc biệt là lịch sử và khoa học nghiên cứu lịch sử đã tạo ra các tác gia, tác phẩm lịch sử lớn ở nhiều thời kỳ. Chúng ta một mặt phải tận dụng những vốn liếng, tư liệu, tài liệu của ta đã có, một mặt khác phải khai thác những tài liệu khoa học của thế giới, nhất là các ngành sử học, khảo cổ, triết học, nhân học để bổ sung vào vốn liếng của ta, nhằm làm rõ con người Việt Nam về mọi mặt. Đó là con đường tốt nhất tạo ra khả năng tự giải phóng để vươn tới tự do.
Trần Đức Thảo đã thực hiện những tư tưởng ấy trong hoạt động giảng dạy triết học, lịch sử khi ông là Giáo sư đại học, là Trưởng khoa Lịch sử và đồng thời là Phó Giám đốc Trường Đại học Hà Nội.
Trần Đức Thảo cũng rất quan tâm rằng đại học Việt Nam phải đào tạo ra những nhà ngoại giao có tài năng, các nghệ sĩ, các nhà văn hóa nhiều năng lực sáng tạo mang tầm quốc tế. 
Suy ngẫm về sự phát triển của nền giáo dục trong gần 70 năm qua, có nhiều thành công nhưng cũng có nhiều nhược điểm, chúng ta thấy những ý kiến trên đây của Trần Đức Thảo là rất đúng. Nhưng có lẽ cái đúng nhất là Trần Đức Thảo đã đặt con người, đội ngũ thầy giáo và sinh viên vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Bản thân Trần Đức Thảo là sự chứng minh cho những ý kiến mà ông đề xuất. Trần Đức Thảo đã vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để giữ vững là nhà khoa học có vị trí cao ở tầm quốc tế.
                                                                                                                           TP. Hồ Chí Minh, 19/9/2011

[1] Tác giả gửi tặng bài này cho tạp chí Văn hóa Nghệ An.
[2] Nguồn: Nguyễn Văn Huyên toàn tập, Tập 3. NXB Giáo dục, 2005, tr. 1142-1165.
 
 

 

 

 

 

Văn học và đạo đức xã hội – VHNA

4 Th12

 

  •   Phong Lê

 

Văn học và đạo đức xã hội

 

Đương nhiên văn học có quan hệ với đạo đức ít ra là trên hai phương diện. Thứ nhất, đạo đức là đối tượng phản ánh rộng lớn của văn học. Bởi đạo đức là một phương diện sống cơ bản của con người. Là những quy ước, thành văn hoặc không thành văn mà con người phải tuân thủ, từ đó kiến tạo nên xã hội người. Thứ hai, văn học từng có chức năng giáo dục đạo đức, hoặc ít ra phải có hiệu quả đạo đức, xét theo lịch sử tồn tại của nó, cho đến thời hiện tại.

Nhân loại đi từ dã man lên văn minh; nhưng xem ra về đạo đức thì gần như chưa một cải thiện, một bước tiến nào trong quan hệ giữa con người với con người.

 

x

x    x

Thời hồng hoang, khi mới thoát khỏi kiếp vượn người, con người chưa có khái niệm đạo đức. Chỉ có luật cạnh tranh sinh tồn của tự nhiên, của muôn loài. Đó là cái về sau ta quen gọi là luật rừng. Luật kẻ mạnh hiếp kẻ yếu. Luật giống đực hiếp giống cái. Kéo dài hàng vạn năm trong trạng thái mông muội, chuyển sang xã hội nô lệ, là một bước tiến, trong đó chỉ chủ nô mới có quyền sinh sát hàng vạn nô lệ. Từ đây mới có khái niệm về quyền lực. Và quyền lực được trao cho một bộ phận cực nhỏ; nhưng nhờ vào quyền lực tuyệt đối đó, nhờ vào lực lượng nô lệ đông đảo đó mà nhân loại tạo được một nền văn minh huy hoàng mà chứng tích còn lại là các kim tự tháp ở Ai Cập, các thành lũy ở Hy Lạp – La Mã, nó là biểu trưng của một nền văn minh cổ đại, như được ghi trong các anh hùng ca, sử thi của Hy Lạp, Lưỡng Hà, Trung Hoa, Ấn Độ…

Sau chế độ nô lệ, chế độ phong kiến là một bước phát triển cao hơn. Ở phương Tây nó có độ dài 1000 năm, từ thế kỷ V đến thế kỷ XV – được gọi là “đêm trường Trung cổ”. Đó là thời thống trị của các lãnh chúa phong kiến cấu kết với nhà thờ Thiên Chúa giáo, tức là hai quyền uy tối thượng – thế quyền và thần quyền. Con người vừa thoát ra khỏi thân phận nô lệ, lại chuyển sang thân phận nông nô – nô lệ vào đất đai tuyệt đại đa số do các chủ phong kiến chiếm đoạt. Hợp sức với chủ đất là nhà thờ. Phải cùng lúc giải phóng ra khỏi hai thế lực đó mới có thể nói đến một thời đại mới mà phương Tây gọi là thời Phục hưng, tức là thời giai cấp tư sản, từ trong lòng xã hội phong kiến lần đầu tiên bước lên vũ đài, như một đối lập, đối cực với 1000 năm trung cổ. Từ thời Phục hưng, với các cuộc phát kiến địa lý, các phát minh mới về công nghệ, với cuộc cải cách tôn giáo, với sự xuất hiện những thành tựu huy hoàng trong văn học- nghệ thuật, giai cấp tư sản dần dần chiếm lĩnh vũ đài, để đến thế kỳ XVIII, tức thế kỷ Ánh sáng, là thế kỷ của các cuộc cách mạng tư sản đưa nhân loại vào thời đại của văn minh Tư bản chủ nghĩa.

Với giai cấp tư sản, đó là một cuộc phủ định triệt để giai cấp phong kiến, và kiến tạo một nền văn minh mới, đưa nhân loại vào thời hiện đại bằng tuyên ngôn: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Con người phải được tự do. Con người cần có bình đẳng. Và con người phải yêu thương nhau. Nhưng đó mới chỉ là tuyên ngôn, là khẩu hiệu. Trong đấu tranh với tự nhiên và xã hội để giành quyền sinh tồn, ba mục tiêu vẫn còn là hư ảo, chưa bao giờ vào được vòng tay ôm của con người. Dẫu sao, chủ nghĩa tư bản vẫn là một bước tiến cao hơn, cả về đạo đức, đối với các xã hội trước đó. Từ người nông nô, chuyển sang người tự do, sức sản xuất được giải phóng, giai cấp tư sản sẽ tạo ra một nền sản xuất vượt trội, đem lại nhiều của cải hơn cho xã hội. Nhưng cùng với sự giàu có của một lớp người sẽ là sự bần cùng, phá sản của nhiều lớp người khác. Nguyên tắc tự do cạnh tranh là tiến bộ hơn độc quyền, đặc quyền trung cổ; nhưng với nó, sẽ là sự thấp thua và tiêu diệt của kẻ yếu. Tôn trọng quyền tư hữu là đòn bẩy cho con người vươn lên làm giàu, nhưng sẽ đi kèm với những bất công mới đối với số đông quần chúng cần lao… Tất cả những nghịch lý đó đã diễn ra trong nhiều thế kỷ phát triển chủ nghĩa tư bản cho đến hôm nay. Và bức tranh về những bất công xã hội, dưới nhiều dạng vẻ khác nhau vẫn diễn ra trên khắp thế giới.

Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chứng kiến sự thắng lợi của giai cấp vô sản, với đỉnh cao là Cách mạng tháng Mười Nga – 1917, có khởi động từ phong trào Công xã Paris; và được chỉ dẫn bởi sự ra đời của chủ nghĩa Mác và tiếp đó là Lênin. Đây là thời của cách mạng vô sản và giải phóng thế giới thuộc địa. Cũng là thời hình thành một hệ đạo đức mới của giai cấp vô sản mà về sau ta quen gọi là đạo đức cách mạng thay cho toàn bộ thế giới đạo đức cũ, gồm cả phong kiến và tư sản trên phạm vi toàn nhân loại.

x

x    x

Trở về với vấn đề đạo đức đặt ra trong xã hội Việt Nam ta và trong nền văn chương – học thuật ta, điều đáng quan tâm đầu tiên là sự kéo dài phương thức sản xuất và chế độ chính trị phong kiến trong hàng nghìn năm. Đây là một xã hội căn bản dựa theo mô hình phong kiến Trung Hoa, lấy kinh điển Nho gia làm nền tảng. Văn chương – học thuật Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử cũng dựa trên nền tảng ấy để tồn tại và phát triển trong những khuôn mẫu và những ước thúc đã được quy định.

Không nghi ngờ gì cả, văn học trung đại gắn rất chặt với đạo đức trên tất cả các phương diện: đặc trưng, chức năng và mục tiêu. Văn chở đạo. Thơ nói chí. “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”… “Trai thời trung hiếu làm đầu. Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Những câu thơ rất được thuộc, và luôn được trích dẫn, của nhà Nho, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, người có sứ mệnh kết thúc văn học trung đại.

Có lịch sử một ngàn năm, văn học trung đại được kiến tạo và mang đặc trưng nguyên hợp: Văn sử triết bất phân. Cần bổ sung thêm luân lý, đạo đức. Bình Ngô đại cáo là thế. Gia huấn ca cũng là thế. Toàn bộ truyện Nôm khuyết danh cho đến Nhị độ mai, Phan Trần, Hoa tiên… cũng là thế, đều có mục tiêu giáo hóa đạo đức. Và toàn bộ yêu cầu về đạo đức là nằm gọn và trọn vẹn trong các khuôn mẫu đã thành kinh điển Nho gia. Tam cương (quân-thần, phụ-tử, phu-phụ). Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ngũ luân (vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn). Cùng với tứ đức (trung, hiếu, tiết, nghĩa) là đạo tam tòng dành riêng cho phụ nữ. Hàng nghìn năm, mọi quy chuẩn đó, ước thúc đó đã trở thành khuôn mẫu để nhà nước quản lý xã hội, và mọi tầng lớp nhân dân noi theo. Nội dung văn học trung đại tất nhiên phải được kiến tạo theo khuôn mẫu đó.

x

x    x

Sự hình thành đạo đức tư sản trong xã hội Việt Nam diễn ra với sự ra đời xã hội thuộc địa, tức là gắn với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp vào thập niên đầu thế kỷ XX; cùng song song với sự hình thành nền văn học hiện đại đang trong chuyển động từ Hán Nôm sang Quốc ngữ. Đây là thời kỳ giao thời chứng kiến sự giao tranh cũ-mới, nó là bối cảnh cho sự ra đời thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, qua Tản Đà, Trần Tuấn Khải để đến với Thơ mới; từ văn xuôi Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, qua Hoàng Ngọc Phách mà đến với Tự lực văn đoàn và các tác gia tiêu biểu của văn học hiện thực. Với Tự lực văn đoàn và Thơ mới, đó là sự hình thành một quan niệm sống mới hướng về con người cá nhân, nhằm giúp họ thoát ra khỏi lễ giáo phong kiến và chế độ đại gia đình, để được tự do trong tình yêu và hôn nhân; và thâm nhập vào rất nhiều chỗ “trốn” khác nhau. Với văn học hiện thực, đó là sự phủ định những gương mặt mới của giai cấp tư sản trong đời sống đô thị như Nghị Hách trong Giông tố của Vũ Trọng Phụng; hoặc sự hư hỏng về đạo đức, lối sống của một tầng lớp thị dân hãnh tiến như trong Răng con chó của nhà tư sản, Báo hiếu – trả nghĩa cha, Báo hiếu – trả nghĩa mẹ… của Nguyễn Công Hoan…

Như vậy là sự hình thành giai cấp tư sản trong xã hội Việt Nam đã sớm có gương mặt của nó về phương diện đạo đức, chứ không phải với tư thế một giai cấp đang lên để thay thế xã hội phong kiến, rồi làm nên một thời đại mới của nhân loại như phương Tây. Bởi trong xã hội thuộc địa, mọi quyền lực và quyền lợi là ở trong tay ông chủ thực dân, khiến cho giai cấp tư sản bản xứ không thể mọc mũi sủi tăm lên được.

Do tình hình trên nên khó hoặc không thể tìm thấy trong văn học Việt Nam một chân dung tiêu biểu của giai cấp tư sản trong cả một phổ gia hệ, như trong các bộ tiểu thuyết nhiều tập của E. Zola, Roger Martin du Gard, Thomas Mann, M. Gorki… mà chỉ là những mảnh sinh hoạt, gắn với đạo đức, lối sống, chứ không phải trong tư cách một giai cấp đang lên để phủ định chế độ phong kiến, như trong kịch của Vũ Đình Long, Vi Huyền Đắc, tiểu thuyết, phóng sự của Vũ Trọng Phụng, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan…

Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên Dân chủ – Cộng hòa. Nhưng lại phải tiến hành gần như lập tức hai cuộc chiến tranh kéo dài trên 30 năm. Trong 30 năm ấy, cách mạng dân tộc dân chủ vẫn từng bước được triền khai qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm gắn với cuộc Cải cách ruộng đất ở nông thôn; rồi cuộc chiến chống Mỹ gắn với một nửa nước – miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có nghĩa là, những yêu cầu về tinh thần, về luân lý và đạo đức sẽ được xác định trên những tiêu chí mới. Đó là chủ nghĩa yêu nước, vốn có truyền thống hàng nghìn năm. Và chủ nghĩa xã hội, hướng đến lợi ích toàn dân và lợi ích tập thể, trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất, với chủ thể là giai cấp công nhân và khối liên minh Công – Nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một thời khá dài, kể từ 1960 đến hết thập niên 1980, nền đạo đức mới mang tên đạo đức cách mạng là gắn với vai trò và vị trí của hai tầng lớp cơ bản làm nên gương mặt chủ đạo của xã hội. Cả hai đều là nhân vật trung tâm trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, được triển khai liên tục trên miền Bắc từ 1960 đến 1975, và trên cả nước từ 1975 đến đầu thập niên 1980, trước khi đến với công cuộc Đổi mới được khởi động từ cuối 1986, và tình thế tan vỡ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ 1989 – khi bức tường Berlin đổ.

Văn học – nghệ thuật trong ba thập niên 1960 đến 1990 hướng vào việc xây dựng và củng cố một nền đạo đức mới có tên là đạo đức cách mạng, hoặc đạo đức xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là lợi ích chung của Tổ quốc và cộng đồng. “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả để chiến thắng”. “Mình vì mọi người. Mọi người vì mình”. “Nâng cao đạo đức cách mạng. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đối tượng phê phán nhằm đi tới thủ tiêu là đạo đức tư sản và các tầng lớp hữu sản chưa qua cải tạo xã hội chủ nghĩa, gồm không chỉ là tầng lớp nông dân tư hữu, mà còn là tầng lớp trí thức tiểu tư sản, chủ yếu thuộc các tầng lớp trung lưu trở lên. Mục tiêu này được khẳng định rất rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng, bắt đầu từ Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ Ba năm 1960.

Trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng năm 1960, đoạn viết về Cách mạng tư tưởng, văn hóa có mục tiêu: “làm cho toàn dân, trước hết là nhân dân lao động thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, gạt bỏ thế giới quan và nhân sinh quan cũ, xây dựng thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần của nước ta và trở thành hệ tư tưởng của toàn dân, trên cơ sở đó mà xây dựng đạo đức mới của nhân dân ta”.

Trong tham luận Công tác tư tưởng của Đảng đọc tại Đại hội, Trường Chinh, người đứng ở vị trí số 2 sau Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, người được phân công phụ trách công tác tư tưởng của Đảng, đã tập trung triển khai nội dung này. Do vị trí quan trọng của Trường Chinh (và về sau là Tố Hữu) đối với đời sống tư tưởng, văn hóa, văn nghệ trong một thời gian khá dài, cho đến hết thập niên 1980, nên xin trích dài dài một số đoạn như sau:

“Ở miền Bắc nước ta hiện nay….Cho nên cần thấy rằng xóa bỏ đến tận gốc hệ tư tưởng của giai cấp tư sản là nội dung cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa (tác giả nhấn mạnh). Đó là một vấn đề nguyên tắc, không thể có thái độ nhân nhượng, thỏa hiệp”(1).

Một dẫn chứng khác của nhận thức này: “…về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và cả về đạo đức, tác phong, ảnh hưởng của tư tưởng tư sản trong Đảng và trong các cơ quan Nhà nước khá nghiêm trọng. Chính thành phần xuất thân tiểu tư sản của phần đông cán bộ, đảng viên là miếng đất tốt cho ảnh hưởng của tư tưởng tư sản dễ thâm nhập và nẩy nở”(2).

Những trình bày trên cho thấy đối tượng phê phán và phủ định của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong suốt ba thập niên, không chỉ là tư tưởng, đạo đức tư sản, mà còn là đạo đức, lối sống tiểu tư sản. “Giai cấp tiểu tư sản không bao giờ có một vị trí độc lập, nó luôn luôn chịu ảnh hưởng sâu sắc của những tư tưởng của giai cấp thống trị. Trong điều kiện bọn đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến thống trị lâu dài, giai cấp tiểu tư sản chịu ảnh hưởng tư tưởng của chúng rất sâu sắc. Đối với những người trí thức công tác trong các ngành văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật thì ảnh hưởng của tư tưởng đế quốc lại càng nặng. Cần nhìn thấy rõ điểm đó, nếu không sẽ không nhận thức được hết tính chất sâu sắc của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng. Chúng ta cần nhớ rằng nếu không được Đảng của giai cấp công nhân giáo dục thì giai cấp tiểu tư sản thường lấy quan điểm của giai cấp tư sản làm quan điểm của mình; giữa tư tưởng tiểu tư sản và tư tưởng tư sản vốn có một mối liên hệ rất mật thiết. Thật ra, hai loại tư tưởng đó chỉ khác nhau về mức độ và hình thái biểu hiện, chứ không khác nhau về bản chất. Đứng giữa hai mặt trận tư tưởng, giai cấp tiểu tư sản nếu không đi theo giai cấp vô sản thì nhất định đi theo giai cấp tư sản, không thể có một con đường độc lập, riêng biệt của mình”(1).

Bây giờ đọc lại các văn kiện trên, càng thấy rõ sự quy định (hoặc áp lực) của hoàn cảnh lịch sử đối với sinh hoạt tư tưởng, tinh thần một thời dài, trên dưới 30 năm trong một cuộc chiến mang tên Ai thắng ai?, có quy mô toàn thế giới, giữa hai phe, hai ý thức hệ, hai thể chế chính trị, hai giai cấp, hai con đường. Trong cuộc chiến đó chỉ được phép chọn một, hoặc bên này, hoặc bên kia, chứ không được phép chông chênh. Đời sống văn hóa, văn học nghệ thuật do vậy phải quán triệt tính Đảng và phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, với các nguyên tắc cơ bản là hướng về con người mới và cuộc sống mới; đến với những nơi tiền tiến, sống với những con người tiên tiến. Trong ba chức năng giao cho văn nghệ thì chức năng giáo dục (lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thế giới quan Mác – Lênin và nhân sinh quan cộng sản), phải ở vị trí hàng đầu. Do vậy mà tính chiến đấu phải luôn luôn được mài rũa cho sắc bén, nhằm cảnh báo và uốn nắn những lệch lạc khiến văn học nghệ thuật đi chệch đường lối văn nghệ của Đảng, lớn thì như vụ Nhân văn- Giai phẩm, nhỏ là các vụ, việc gắn với các tên sách có khuynh hướng gợi nên những mặt khuất tối, bất ổn của hiện thực như Mở hầm, Sương tan, Vào đời, Những người thợ mỏ, Phá vây, Đống rác cũ, Con nai đen, Phở, Cái gốc, Tình rừng… mà tác giả dẫu là người của giai cấp công nhân, là sĩ quan quân đội, hoặc nhà văn tầm cỡ cũng không tránh được.

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đó là khẩu hiệu  bao trùm cả một thời dài. Chủ nghĩa cá nhân gắn với việc chăm lo cho lợi ích riêng, và sự phô bày cái Tôi cá nhân – tiểu tư sản là đối tượng phê phán trong tất cả các phong trào cách mạng và các sinh hoạt tư tưởng lớn như Chỉnh huấn, chống Nhân văn – Giai phẩm, chống Chủ nghĩa xét lại hiện đại, và các đợt học tập chính trị cho trí thức văn nghệ sĩ. Bối cảnh đó quy định gương mặt sáng tạo văn học – nghệ thuật một thời luôn luôn phải trụ vững trên cùng một dường ray là Tổ quốc và Chủ nghĩa xã hội. Cái được lớn là ở đó và những thiếu hụt hoặc bất cập lớn cũng là ở đó. Những thiếu hụt hoặc bất cập rồi được phát hiện không lâu sau 1975, qua các phát ngôn, rồi thành “vụ”, “việc” như vụ “đề dẫn” của Nguyên Ngọc, và “văn học phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến năm 1979, vụ “đọc lời ai điếu” cho “văn chương minh họa” của Nguyễn Minh Châu năm 1987… Thế nhưng, ở một phía khác mà nhìn vào đời sống miền Bắc trong suốt thập niên 1960 và 1970 thì việc ưu tiên cho lợi ích tập thể; việc kìm nén chủ nghĩa cá nhân; việc cả dân tộc có chung một bộ đồng phục, “có chung dáng hình, có chung gương mặt” (Chế Lan Viên) lại để lại trong ký ức chung của cộng đồng một thời gần như rất ít có tội ác, ít có sự xâm hại về con người. Một thời, qua tấm gương soi văn học, thì đó là Gió lộng của Tố Hữu, Riêng chung của Xuân Diệu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Bài ca cuộc đời của Huy Cận, Những cánh buồm của Hoàng Trung Thông, Tơ tằmChồi biếc của Cẩm Lai và Xuân Quỳnh, Hương cây Bếp lửa của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt… Và, Bốn năm sau của Nguyễn Huy Tưởng, Sông Đà của Nguyễn Tuân, Trăng sáng của Nguyễn Ngọc Tấn, Rẻo cao  của Nguyên Ngọc, Cỏ non của Hồ Phương, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Gánh vác của Vũ Thị Thường, Đồng tháng năm của Nguyễn Kiên, Phù sa của Đỗ Chu…

Đất nước quả có một thời như thế. Thời “Xưa phù du mà nay đã phù sa” (Chế Lan Viên). Thời “Có gì đẹp trên đời hơn thế. Người yêu người sống để yêu nhau” (Tố Hữu). Thời “Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy. Thì xa xôi đến mấy cũng lên đường” (Bùi Minh Quốc)… Thời rất lắm gian khổ, nhiều thử thách, nhưng sinh hoạt tinh thần lại ổn định, bình yên; và quan hệ giữa con người luôn luôn là sự thân thiện, chia ngọt sẻ bùi, nhường cơm sẻ áo!

x

x    x

Từ 1986, khi đất nước chuyển sang thời Đổi mới, rồi 1995, bước vào hội nhập, thì thực trạng xã hội hoàn toàn thay đổi.

Đó là 20 năm cả dân tộc đứng trước những thử tháchcơ hội gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Hai mươi năm với những thành tựu lớn và mất mát lớn. Nhìn vào cái được trên mọi lĩnh vực: ăn, ở, đi lại và các nhu cầu vui, chơi, giải trí thì chưa có lúc nào bằng lúc này. Đó là biểu hiện của sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng cùng với những cái được lớn đó thì những mất mát cũng là rất lớn, mất ở khu vực văn hóa, tinh thần, trong đó có một hiện tượng gây nhức nhối trong luân lý, đạo đức – đó là nguy cơ tan rã của gia đình,  đơn vị sống cơ bản của con người. Ở đó, chữ hiếu bị một đòn tử thương, trong những vụ con cháu giết cha mẹ, ông bà chỉ vì sự tham lợi và đạo đức hư hỏng, đến mất hết nhân tính,… Và những bất an của xã hội, do sự tràn lấn của cái ác, và cái giả. Cái ác thì thiên hình vạn trạng, trên mọi lĩnh vực mà Thẩm mỹ viện Cát Tường vứt xác bệnh nhân xuống sông chỉ là một ví dụ nhỏ. Còn cái giả thì trong trăm nghìn kiểu loại chỉ cần tiếp xúc với phân bón giả, thuốc giả và bằng cấp giả, đủ thấy sự sống con người đang bị dồn đến chân tường như thế nào. Rộng ra, không kể đến những chuyện vô ơn và bạc nghĩa trong tình thầy trò; những loãng nhạt của tình bạn bè; những vô duyên, vô nghĩa trong tình đồng chí (một thời rất thiêng)… Đó là những hiện tượng gắn trực tiếp với sự suy thoái đạo đức trong xã hội, đưa đến sự bất an, thậm chí làm rã rời các cộng đồng người trong dân tộc.

Tất nhiên, thực trạng vẫn là sự xen cài giữa thiện-ác, tốt-xấu, thực-giả. Nhưng những mặt tích cực có lúc gần như bị chèn lấn, khuất lấp, bên cái tiêu cực gần như lộ diện ở khắp nơi, gồm cả đời sống công quyền, từ thấp lên cao; kể cả những khu vực lẽ ra là rất thiêng liêng, rất cao quý.

Một đội ngũ đóng vai trò tiền trạm cho công cuộc Đổi mới xuất hiện từ nửa đầu thập niên 1980 và nối dài cho đến nay một sự nghiệp viết có vai trò cảnh báo cái xấu, cái ác gồm từ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp qua Xuân Đức, Chu Lai, Đào Thắng, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Quang Lập, đến Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Phấn, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Xuân Thủy… Thế nhưng trước thực trạng, văn học vẫn chưa thể nào theo kịp để có cái nhìn bao quát và đón trước…

Hôm nay, văn học đang đứng trước đa chức năng, trong đó chức năng giải trí đang nổi lên, có lúc gần như lấn át, thì chức năng nhân đạo hóa, nhằm gây dựng hoặc trả lại chất người cho con người, nhằm làm cho hoàn cảnh trở nên nhân đạo hơn vẫn nên, hoặc vẫn phải là mục tiêu cao nhất, hoặc bao trùm. Nói cách khác, mục tiêu hướng thiện vẫn cứ là cái đích chung, hoặc xa nhất, cao nhất cho cả người viết và người đọc, nhất là khi con người đứng trước nguy cơ  bị xâm hại và tha hóa; khi các cộng đồng người có nguy cơ tan vỡ. Và, nếu sự tan vỡ của cộng đồng người, sự hủy hoại của cá nhân con người đã đến mức báo động, thì sự tồn tại của văn chương- nghệ thuật còn có ý nghĩa gì!

x

x    x

Cuối cùng vấn đề đặt ra hôm nay theo tôi nghĩ là cần một tên gọi thích hợp cho đạo đức mà chúng ta đang khổ công xác lập. Sau đạo đức phong kiến vừa trong đối lập vừa trong giao thoa với đạo đức nhân dân, chủ yếu là nông dân, và đạo đức tư sản trong đối lập với đạo đức vô sản, chúng ta đã chuyển sang đạo đức cách mạng hoặc đạo đức xã hội chủ nghĩa trong hơn nửa thế kỷ qua tính từ sau 1945. Bây giờ cần giữ lại hoặc thay đổi tên gọi cho nó, để thích hợp với thực trạng mới? Gọi là đạo đức cách mạng thì đó là cách mạng gì, khi cách mạng dân tộc, dân chủ đã làm xong? Nếu xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu hoặc chỉ còn là định hướng thì xem ra những gì đang diễn ra hôm nay là trái ngược với những gì đã diễn ra trong nửa thế kỷ trước đây./.

                                                                             


(1), (2) Về văn hóa và nghệ thuật; Tập I; Nxb. Văn học; 1985; trang 357.

(1)Về văn hóa và nghệ thuật; Tập I; Nxb. Văn học; 1985; trang 355. 

 

 

 

Một gam kinh nghiệm hơn một tấn lý thuyết – VHNA

1 Th12

 

  •   Bùi Văn Nam Sơn
 

John Dewey [1859 - 1952] John Dewey [1859 – 1952]

 

Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân chủ và giáo dục” (bản tiếng Việt của Phạm Anh Tuấn, NXB Tri Thức, 2008, 2010, 2012), John Dewey có câu viết nổi tiếng không kém: “Một gam kinh nghiệm tốt hơn một tấn lý thuyết, đơn giản chỉ vì lý thuyết chỉ có ý nghĩa sống động và kiểm tra được ở trong kinh nghiệm. Kinh nghiệm, dù khiêm tốn nhất, cũng có thể sản sinh và chống đỡ cho lý thuyết, còn lý thuyết mà không liên hệ với kinh nghiệm thì không thể xác định và nắm bắt như là lý thuyết. Nó dễ trở thành công thức, thành khẩu hiệu đầu môi, khiến tư duy và “lý thuyết” đích thực trở nên không cần thiết và không thể có được”.

Việc nhấn mạnh đến “kinh nghiệm”, và cùng với nó, là “hành động” không phải là điều mới mẻ. Đông hay Tây đều thấy mối quan hệ giữa “tri” và “hành”. Từ thời cổ đại, triết học Tây phương chẳng từng quan tâm đến “hành động” (vita activa) đó sao? Vậy, quan niệm của Dewey, nhà triết học giáo dục hàng đầu của nước Mỹ, có gì thật sự mới mẻ để ta không hiểu nhầm “triết thuyết dụng hành” (pragmatism) của ông là một thuyết “thực dụng” thô thiển, nông cạn? Trong khuôn khổ giới hạn vốn có, ta sẽ thử tìm hiểu triết thuyết giáo dục của Dewey qua một số câu hỏi: Dewey là ai? Giáo dục là gì? Trường học là gì? Nội dung của giáo dục là gì? Đâu là bản chất của phương pháp giáo dục? và sau cùng, nhà trường đóng góp gì cho sự tiến bộ xã hội?

DEWEY: MỘT CUỘC ĐỜI RẤT DÀI…

Với tuổi thọ đến 93, Dewey (1859-1952) quả thật có một cuộc đời đầy kinh lịch. Và còn đầy sinh lực nữa: vợ mất sớm (từ năm 1927), ông lấy bà vợ thứ hai khi mới… 87 xuân xanh! Sức viết còn khủng khiếp hơn nữa: toàn tập gồm 37 tập! Đời ông trải qua hầu như toàn bộ lịch sử đầy biến cố của Hoa kỳ và thế giới hiện đại: cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-64), cuộc đại suy thoái những năm 20 của thế kỷ 20, hai cuộc thế chiến, sự bùng nổ của kinh tế sau 1945, đưa nước Mỹ lên hàng cường quốc thế giới, chứng kiến những tiến bộ vượt bậc về khoa học, công nghệ: xe hơi, máy bay, bom hạt nhân, sản xuất hàng loạt trên băng chuyền… Tất cả củng cố lòng tin vào kho kinh nghiệm phong phú và đa dạng của thế giới, nhất là về khả năng kiểm soát và thao túng thế giới và xã hội.

Từ năm 1844, sau khi tốt nghiệp đại học Johns Hopkins với luận văn về triết học Kant, ông bắt đầu giảng dạy tại đại học Michigan, rồi 10 năm sau, về đại học Chicago. Chính thời kỳ ở Chicago, ông thay đổi nhiều về nhận thức triết học, thiên về phái duy nghiệm, từ đó phát triển lý thuyết dụng hành và công cụ luận về việc truy tìm nhận thức và chân lý. Ông có cơ hội biến lý thuyết giáo dục thành thực hành: lãnh đạo “Viện Giáo dục” và “Trường thực nghiệm giáo dục” nổi tiếng thuộc đại học Chicago trong thời gian dài. Năm 1904, ông chuyển về đại học Columbia ở New York, tiếp tục giảng dạy triết học cho đến khi về hưu vào năm 1931.

Là một trong những nhà triết học giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20, ông còn là người đại diện chính danh nhất cho trào lưu khai phóng và dân chủ hóa nền giáo dục trường ốc. Có lẽ chính cuộc đời giàu trải nghiệm về những sự đổi thay nhanh chóng, sôi động, không chút trì trệ của thế giới chung quanh, nhất là ở nước Mỹ quê hương ông, đã giúp ông hoài nghi và phê phán những cao vọng đi tìm “những chân lý vĩnh cửu và bất biến” của triết học truyền thống. Nhan đề vài tác phẩm của ông: “Đi tìm sự xác tín (1919)”, “Đổi mới triết học (1920)” phần nào nói lên điều ấy. Theo ông, nhiệm vụ của triết học là phải mang lại phương pháp để suy nghĩ và giải quyết những “vấn đề” (thực sự) của con người. Tức phải làm rõ, phê phán và xác định lại những giá trị và niềm tin của xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề và xung đột nảy sinh trong những thời kỳ có sự biến động văn hóa. Ông triệt để đề cao “thực học”, chống lại “hư học”! Từ triết học giáo dục sang triết học chính trị một cách nhất quán: đi tìm những “giải pháp” cho những vấn đề nội tại của nền dân chủ-tự do đương đại, cũng như tái tạo lý thuyết dân chủ cho phù hợp với những biến chuyển của thời đại.

GIÁO DỤC LÀ GÌ ?

Giáo dục – độc lập với mọi ý định – là “một sự không ngừng mở rộng kinh nghiệm”. Nơi để thực hành và mở rộng kinh nghiệm, theo Dewey, là:

– thực tiễn hàng ngày trong từng hoàn cảnh,

– thực tiễn nghiên cứu khoa học, và

– thực tiễn giáo dục (sư phạm-văn hóa-chính trị…).

Theo nghĩa đó, “giáo dục” không khác với “văn hóa”, vì “văn hóa là khả thể thay đổi ý nghĩa, là mở rộng và cải thiện phạm vi của việc nắm bắt ý nghĩa”. Ở đây, không hề có điểm kết thúc hay mục đích sau cùng, mà chỉ có sự không ngừng mở rộng, dị biệt hóa, rồi tiếp tục mở rộng và dị biệt hóa, nói khác đi, chỉ có sự “tăng trưởng”. “Vì trong thực tế không có cái gì để sự tăng trưởng bấu víu cả, ngoại trừ việc tiếp tục tăng trưởng, nên khái niệm giáo dục cũng không phục tùng một khái niệm nào khác, ngoại trừ việc tiếp tục giáo duc”. Tại sao thế? Ông trả lời giản dị: vì đó là “sự kiện nhân học hiển nhiên của việc tiếp nối và đan xen các thế hệ: “người này mất đi, người kia sinh ra, tạo nên sự đổi mới liên tục những tế bào xã hội, với sự trao truyền tập quán và ý tưởng”.

Từ đó, dễ dàng nhận thấy trẻ em là một sinh thể năng động, thu thập kiến thức, kỹ năng, cách ứng xử để sử dụng trong tương lai, nhờ sự tương tác với môi trường sống chung quanh. Vậy, trẻ em và môi trường sống là hai cực mà giáo dục phải tìm cách nối liền. Ông gọi đó là “cực tâm lý” và “cực xã hội”. Cực tâm lý là “bản năng” (nhu cầu, lợi ích, năng lực do bản tính tự nhiên mang lại), là nền tảng của giáo dục; cực kia là trình độ “văn hóa” đương thời (thành tựu và di sản văn minh, cung cách ứng xử tích lũy từ bao đời) như là thành trì ngăn ngừa việc “rơi trở lại sự dã man”.

Hai cực ấy quan hệ với nhau như thế nào? Đóng góp nổi bật của Dewey ở đây là tránh cả hai lập trường cực đoan. Theo ông, giáo dục “truyền thống” đặt văn hóa lên trên đứa trẻ, xem đứa trẻ là kẻ thụ nhận, chứ không phải người cùng tham dự. Cực kia cũng “sai lầm” không kém. Nhân danh giáo dục “mới”, “tiến bộ”, đặt đứa trẻ lên trên văn hóa, chú tâm vào những kinh nghiệm giới hạn của đứa bé, thay vì hướng vào hậu cảnh và chân trời rông rãi của văn hóa, vốn cần thiết để hiểu thế giới và hoạt động hiệu quả. Sau khi phê bình cả hai chủ trương cực đoan, Dewey đề xướng giải pháp tổng hợp: hãy từ bỏ việc “đặt trên” và “đặt dưới”, thay vào bằng hình ảnh của sự “liên tục”, trong đó đứa bé là khởi điểm và văn hóa là đích đến của giáo dục. Việc “diễn giải” các nhu cầu của trẻ em và hoán chuyển chúng thành những yêu cầu xã hội là nhiệm vụ cao quý nhất, đồng thời cũng là khó khăn nhất mà thầy cô giáo và phụ huynh phải thực hiện.

Dewey không bao giờ tự nhận mình là “tiến bộ” theo nghĩa “lấy trẻ em làm trung tâm”, vì ông có quan niệm khác về nhà trường! Ông muốn vượt qua sự “nhị nguyên” giữa “cũ” và “mới”, giữa “truyền thống” và “tiến bộ”, như ta sẽ thấy./.

Bài đã đăng Người Đô Thị, Bộ mới, số 31, 27.11.2014. Bản tác giả gửi VHNA

  

 

 

 

GS Trần Đình Hượu: Người vạch rõ nguồn gốc chủ nghĩa Đại Hán

25 Th11

 

 

GS Trần Đình Hượu đã tạ thế gần 20 năm nhưng không ít các luận điểm khoa học của ông đáng để cho người đời sau tiếp tục suy ngẫm, đặc biệt là trong việc xây dựng xã hội hiện đại và quan hệ với nước láng giềng Trung Hoa.LTS: Nhân dịp 20/11, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết về GS Trần Đình Hượu – một người thầy ghi dấu ấn sâu đậm trong nhiều thế hệ học trò khoa Ngữ văn – Đại học Tổng hợp (nay là ĐHQGHN).

>> Trần Đình Hượu, người đi ngược đám đông

Trần Đình Hượu, Ngữ văn, giáo sư, Phương Đông, Trung Quốc, Đại Hán, văn học, 20/11, Ngày nhà giáo
Chân dung GS Trần Đình Hượu. Ảnh tư liệu

Đến hiện đại từ truyền thống

Trong cuộc đời mình, GS Trần Đình Hượu (1926- 1995) đã có rất nhiều đóng góp khoa học cho đất nước trên hai lĩnh vực: Triết học và Văn học.

Trong lĩnh vực Văn học, với tư duy của một người làm triết học, ông chọn cho mình hướng xem xét, soi chiếu đối tượng dưới góc nhìn văn hoá. Chính ông là người định danh giai đoạn văn học 1900- 1930 là “Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời” (tên một cuốn giáo trình của ông). Cách gọi này đã tạo được sự đồng thuận của giới nghiên cứu.

Trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng và triết học phương Đông, GS Trần Đình Hượu cũng đạt được những thành tựu nổi bật. Ở mảng đề tài này, ông có những công trình “để đời” như “Các bài giảng về tư tưởng phương Đông”, “Đến hiện đại từ truyền thống” và các bài tham luận tại các hội thảo khoa học. Qua đó, người đọc dễ dàng nhận thấy sự uyên thâm, quảng bác về tư tưởng phương Đông, đặc biệt là Nho giáo của “ông đồ Nghệ” Trần Đình Hượu.

Trong các học thuyết phương Đông cổ đại, Trần Đình Hượu dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu Nho giáo. Tài năng của ông thể hiện ở chỗ, thông qua việc nghiên cứu, Trần Đình Hượu đề xuất chủ trương gạn đục khơi trong, vận dụng những khía canh hợp lý để xây dựng xã hội hiện đại.

Đề xuất phương châm “Đến hiện đại từ truyền thống”, GS Trần Đình Hượu dành nhiều tâm sức tìm hiểu, xem xét các yếu tố cấu thành xã hội và đặt chúng trong dòng chảy nhất quán từ quá khứ- hiện tại- tương lai. Rất nhiều điều ông đặt ra vẫn đầy tính thời sự khi soi vào cuộc sống hiện đại.

Chẳng hạn trong bài viết “Làng- họ: Những vấn đề của quá khứ và hiện tại”, Trần Đình Hượu đã chỉ ra quá trình vận động của hai tổ chức mang tính cộng đồng của cư dân Việt, để rồi đưa ra ý kiến về cách ứng xử trong quá trình hiện đại hoá đất nước.

“Vấn đề làng xã không chỉ đóng khung trong làng xã. Tổ chức kiểu làng xã, cách làm việc làng… đã ảnh hưởng đến tư tưởng, văn hoá chung. Cho nên, giải quyết vấn đề làng xã không chỉ là tổ chức lại làng xã, tổ chức lại nông thôn mà còn phải nghĩ đến hậu quả “làng xã” rộng hơn, ngoài làng xã nữa”, ông chỉ ra.

Trần Đình Hượu, Ngữ văn, giáo sư, Phương Đông, Trung Quốc, Đại Hán, văn học, 20/11, Ngày nhà giáo

GS Trần Đình Hượu (hàng thứ 2, đứng thứ 5 từ trái qua) và học trò tại Văn miếu Quốc tử giám. Ảnh tư liệu

Trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng mô hình nhân cách cho con người giữ một vai trò quan trọng. Với tinh thần trách nhiệm của một trí thức, “ông đồ Nghệ” đã phân tích các mô hình nhân cách trong quá khứ và khẳng định mô hình nào cũng nhằm đạt đến chân- thiện- mỹ, dù những giá trị này có thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử.

Từ đó ông khẳng định: “Để xây dựng mô hình nhân cách mới, phải tính đến trình độ phát triển của thế giới hiện đại, đến tương lai nước ta, đồng thời cũng phải quan tâm đến những giá trị nhân bản, những giá trị phương Đông, những giá trị dân tộc. Để làm việc đó, không thể không phân tích thấu đáo những mô hình nhân cách tồn tại trong lịch sử…” và “Cũng không thể không chú ý đến những khuynh hướng đang hình thành trong thanh niên ngày nay”.

Cùng với đó, qua các công trình nghiên cứu, GS Trần Đình Hượu còn đặt ra những vấn đề có ý nghĩa thiết thực đối với xã hội và đất nước. Đó là vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, vấn đề “dân trí” và “dân khí”, xây dựng chuẩn mực đạo đức xã hội…

Tìm nguồn gốc, bản chất chủ nghĩa Đại Hán

Ngay từ nhỏ, Trần Đình Hượu đã tiếp nhận nền giáo dục Nho học. Khi trở thành nghiên cứu sinh, ông được giao đề tài về Triết học cổ đại Trung Quốc. Là người am hiểu văn hóa và tư tưởng phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc, Cùng với sự trải nghiệm thực tế qua một nhãn quan hết sức tinh tường, ông đã có sự nhìn nhận chính xác và khách quan về truyền thống lịch sử văn hóa- tư tưởng của đất nước này.

 

Thời gian qua, đặc biệt là khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên thềm lục địa của chúng ta, các cơ quan truyền thông trong nước và quốc tế không ít lần nhắc đến Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán (còn gọi là chủ nghĩa Đại Hán) với những biểu hiện cụ thể, sinh động.

Ngay từ năm 1979, tức là cách đây 35 năm, khi cuộc Chiến tranh biên giới phía Bắc vừa kết thúc, Trần Đình Hượu đã có bài viết “Nho- Pháp tỉnh dụng và con đường bành trướng của thiên triều”. Trong đó, ông đi sâu bàn bạc các vấn đề cơ bản: Chế độ chuyên chế của Hoàng đế- Thiên tử, đường lối bành trướng của thiên triều, quan hệ giữa đối nội chuyên chế và đối ngoại bành trướng.

Theo ông, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã có sự kết hợp giữa hai hệ tư tưởng Nho gia và Pháp gia để phục vụ cho chính sách bành trướng. Sự kết hợp này đã dựng nên một ông vua chuyên chế, hà khắc với thần dân và luôn lăm le xâm lược các nước láng giềng.

Trần Đình Hượu, Ngữ văn, giáo sư, Phương Đông, Trung Quốc, Đại Hán, văn học, 20/11, Ngày nhà giáo
GS Trần Đình Hượu và các thế hệ học trò. Ảnh tư liệu

Ông nhận định: “Pháp gia và Nho gia đều ra đời trên cơ sở kinh tế- xã hội của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Cả hai học thuyết bổ sung cho nhau, kết hợp với nhau và tạo cho chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc- chủ ngĩa bành trướng thiên triều- những đặc trung mang dấu ấn của chế đọ chuyên chế đó”.

GS Trần Đình Hượu viết: “Xâm lược nước láng giềng là cách kiếm lợi nhưng chủ yếu là để tăng thêm uy thế. Đánh là cướp bóc mà cũng để đòi thêm cống nạp. Nhưng đánh cũng còn để ra oai, tỏ ra còn đủ sức trừng phạt những ai lăm le chống đối… Đó là con đường lấy ngoài yên trong của hoàng đế”.

Rõ ràng, kết luận này không chỉ đúng với bản chất các triều đại phong kiến Trung Quốc xưa. Khi đang phải đối mặt với không ít vấn đề nảy sinh từ trong nước, nền kinh tế có những dấu hiệu bất ổn, sức ép về dân số… lập tức nhà cầm quyền tìm cách đẩy mâu thuẫn ra ngoài. Điều này thể hiện ở chỗ gây hấn với các nước làng giềng như tranh chấp biên giới với Ấn Độ, tranh chấp lãnh hải với Nhật Bản và các nước Asean.

Cũng trong bài viết trên, “Ông đồ Nghệ” Trần Đình Hượu đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán: Hiếu chiến, hống hách và ảo tưởng. Đó là vừa tưởng mình lớn mạnh, có lẽ phải, lại được Trời phù hộ làm cha anh người khác nên xử sự hống hách, ít có tính toán lợi hại thực tế, dễ hành động một cách phiêu lưu cầu may.

Đặc điểm thứ 2 là ngụy thiện, sự tàn bạo của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán bao giờ cũng được ngụy trang bằng những lời lẽ nhân nghĩa, đạo lý. Chế độ chuyên chế vốn yếu, sự tồn tại của nó về bản chất là dựa vào sự lừa dối với những thủ đoạn tinh vi.

Đặc điểm thứ 3 của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán là trọng danh hơn trọng thực. Theo GS Trần Đình Hượu, chế độ chuyên chế Trung Quốc sống bằng uy tín chính trị. Nó xâm lược để bảo vệ danh hơn là giành lợi thực. Thói quen muốn làm bề trên cũng dẫn đến sự quan tâm, suy tính về danh nghĩa hơn là tính toán về thực tế. Điều này cũng thường thành nguyên nhân gây ra hành động phiêu lưu.

Có thể nhận thấy, GS Trần Đình Hượu đã tạ thế gần 20 năm nhưng không ít các luận điểm khoa học của ông đáng để cho người đời sau tiếp tục suy ngẫm, đặc biệt là trong việc xây dựng xã hội hiện đại và quan hệ với nước láng giềng Trung Hoa.

Công Kiên

Giáo sư Trần Đình Hượu (1926- 1995) sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho ở làng Võ Liệt (Thanh Chương). Thân phụ mất lúc ông mới 14 tuổi, thân mẫu của phải bán đi những thửa ruộng cuối cùng của gia đình để ông có điều kiện theo học bậc thành chung.Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Trần Đình Hượu về quê tham gia hoạt động của tổ chức Việt Minh từ cấp xã, cấp huyện đến cấp tỉnh, cấp khu và trở thành người lãnh đạo phân hội “Những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác” ở Nghệ An. Sau đó, ông được cử đi học tại Trường Đào Duy Từ (Thanh Hoá), rồi học hệ dự bị của Đại học Kháng chiến.

Học xong đại học, Trần Đình Hượu được cử về giảng dạy tại Trường Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An). Năm 1959 ông được cử sang Matxcơva (Liên Xô), chính thức trở thành nghiên cứu sinh triết học. Tại Trường đại học Tổng hợp Matxcơva (MGU)- ngôi trường đại học danh tiếng, Trần Đình Hượu được hướng dẫn nghiên cứu về đề tài triết học cổ đại Trung Quốc.

Sau mấy năm nghiên cứu, xuất phát từ những định kiến lúc trong thời điểm đó, ông phải trở về nước khi công việc còn dang dở. Về nước, Trần Đình Hượu xin về công tác tại khoa Ngữ Văn- Đại học Tổng hợp Hà Nội cho đến ngày nghỉ hưu (từ 1963-1993).

 

HÀNG GIẢ ĐƯỢC BẢO KÊ TRONG CÁC HỘI VĂN NGHỆ HIỆN NAY

15 Th11

 

Xin lỗi quý chú bác, câu nhận định của NPB Lại Nguyên Ân chữa lại trong bản này mới chính xác:

HÀNG GIẢ ĐƯỢC BẢO KÊ TRONG CÁC HỘI VĂN NGHỆ HIỆN NAY

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân phân tích khá sắc sảo và thấu đáo về cơ chế văn nghệ hiện nay:”“Chúng ta duy trì quá lâu các hệ thống hội đoàn văn nghệ có từ thời bao cấp, vốn nặng tính hành chính, không khuyến khích sự sáng tạo và người sáng tạo; cho đến nay, những ảnh hưởng tiêu cực của hệ thống hội đoàn bao cấp mang nặng tính chất nhà nước hóa và tính độc quyền, thậm chí vẫn còn chưa được nhận rõ để vượt qua. Sau những năm dài bao cấp, một thị trường nghệ thuật chỉ mới vừa hình thành ở một vài ngành, trong từng công đoạn lại bị méo mó do những ảnh hưởng kiểu nhóm lợi ích, đan chéo với những hệ lụy bao cấp chưa được khắc phục. Theo tôi, đó là những rào cản cho sự phát triển nghệ thuật, cho sáng tạo văn nghệ hiện nay. Còn về sự đầu tư, tôi nghĩ cũng có vấn đề liên quan đến hệ thống hội đoàn văn nghệ mang nặng tính chất nhà nước hóa và tính độc quyền kể trên. Trong khi đó, sự đầu tư lớn nhất, đáng mong muốn nhất, theo tôi là ở việc tạo ra môi trường xã hội cho tự do sáng tác.” Nhiều trang mạng đã viết:” Không phải nước Việt Nam thiếu tài năng, nhưng những tài năng le lói đã bị trộn chung trong cái máng lợn bao cấp ấy thì các báo tạp chí văn nghệ địa phương không sinh ra những tiếng ụt ịt mới là lạ…” (Cái máng lợn văn học bao cấp sinh ra những báo chí văn nghệ ụt ịt). Cư dân mạng than van:”bà con bão lụt vừa qua chết cả dăm chục, còn lại màn trời chiếu đất, mì tôm không có mà ăn. Sao các Hội hè văn nghệ lấy tiền thuế nhân dân đi nuôi bọn rẻ rách múa may quay cuồng với thơ nước đái chó !” (thày trò Thanh Thảo vẫy đuôi liếm láp giải thưởng). Họ nghĩ rất sâu sắc: “Giữa lúc các Hội VHNT xin tài trợ tiền tỷ hằng năm để tổ chức đàn đúm vui chơi từ Nam chí Bắc, làm đêm thơ rầm rộ Nguyên Tiêu tụ tập bè phái cánh hẫu đọc thơ nhạt hoét, mỗi năm in hàng ngàn tập thơ chỉ để tự sướng. Tệ hại hơn nữa, các vị thi nhau chạy, chạy xét kết nạp Hội Nhà văn, chạy in thơ lên báo, chạy giải HCM, giải Nhà nước, giải Hội Nhà văn, chạy hội thảo bỏ tiền thuê GSTS, NGND viết bài ca tụng. Ông nọ nhờ ông kia viết bài lăng xê, thứ chỉ giành cho bọn giá áo túi cơm như Thanh Thảo nhờ Phạm Đương rồi “kèm trẻ em” suất giải thưởng đạo văn ô nhục, Hoàng Quang Thuận nhờ DKA chứng minh thánh thần nhập hồn đêm làm trăm bài tứ tuyệt, sau đem thuê Hội thảo, đề cử dự giải Nobel! Mã Giang Lân viết phê bình không ai đọc chuyển hướng chạy giải thơ như kiểu buôn trầm thất bại chuyển sang chơi hê rô in cho nổi đình nổi đám, Từ Quốc Hoài thơ lảm nhảm tả khu vườn mùa hè người đọc tưởng tả bãi rác”thua xa văn học sinh lớp 6″, GS Nguyễn Lân “thiên tài chính tả” viết từ điển sờ đâu sai đấy, GS Vũ Khiêu “hô phong hoán vũ” chuyển khẩu Lạc Long Quân về Bình Đà, làm văn tế dán đè lên bia đá không cho thơ Hồ Chủ Tịch ca ngợi Quang Trung xuất hiện. Bọn theo đóm ăn tàn hiện đại láo và dốt đến thế là cùng! Hằng tháng, mỗi Hội in 500 bản Tạp chí VHNT cho không ai đọc, đề ra bán ép cho doanh nghiệp rồi viết bài ca ngợi doanh nghiệp, không biết họ làm ăn ra sao, môi trường thối viết thành môi trường thơm, gian dối viết thành thật thà, miễn họ bao tiêu các Tạp chí ế!” (Nghệ sĩ không muốn- Mong muốn và hành động). Trên báo Lề Dân còn có nhiều bài như:”THANH THẢO NGOÀI CHẠY GIẢI CÓ CHẠY ĐỂ VÀO SÁCH GIÁO KHOA, CÓ CHẠY ĐỀ THI?”; “nhà thơ Thanh Thảo đại bịp hay chú hề lô tô trong sách giáo khoa”; “Một năm nhìn lại giải thưởng thơ, Hội thảo thơ của Hội Nhà văn”; “Thật đáng xấu hổ cho Hội Văn học Nghệ thuật Bình Phước”; “Cơ chế đông tàn làm sao thấy giải mùa xuân”v.v… tập trung phân tích chí lý cái cơ chế Hội hà văn học nghệ thuật bao cấp lấy tiền thuế của dân nuôi báo cô hàng loạt những vĩ cuồng, thực chất các hội là bộ máy sản xuất hàng láo, hàng giả vhnt.Trên trang Bọ Lập Quê Choa có những dòng phát biểu thấm thía: “NQL: Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã viết trong FB của ông:“Tai họa lớn nhất đối với một quốc gia không phải là ngoại xâm. Tai họa lớn nhất là thái độ xem nguy cơ ngoại xâm không dính líu gì đến mình và việc chống ngoại xâm là bổn phận của người khác. Thái độ ấy, nếu đến từ sự ngu dốt, là một cái lỗi của dân trí, nghĩa là của cả một dân tộc; nếu là kết quả của một chính sách nào đó, là một cái tội, đúng hơn, trọng tội, của nhà cầm quyền: Một cái tội ngang hàng với tội bán nước.” Tóm lại, ai đó đã nói cái cơ chế này đẩy những tài năng như các nhà thơ nhà văn nhà lý luận phê bình  Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quang Lập, Nhật Tuấn, Nguyễn Hoàng Đức, Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng v.v…ra ngoài cuộc. Và biết bao tài năng mà thống kê chưa hết, họ có lòng tự trọng không hòa hợp ngậm miệng ăn tiền với các nhà văn mậu dịch bất tài (hoặc cũng có người có tài nhưng bị tha hóa). Điều này thật quá chính xác. Ngược lại, nó lại thu nạp ngày càng nhiều những quái thai văn chương dị dạng thơ nước ốc, nước hến, nước cống, nước đái chó, thi pháp gãi háng ghẻ lở hắc lào, thơ đạo văn vào cái máng lợn văn học bao cấp. Nhà văn Nhật Tuấn nhận định quá chính xác: “Được Nhà nước bảo kê mỗi năm hàng tỉ đồng, các nhà văn Việt Nam năm này qua năm khác cho ra đời toàn một thứ văn chương nhạt thếch, vô thưởng vô phạt, phải đạo và giả dối. Đó đích thực là một thứ “hàng giả” mà người tiêu dùng từ lâu đã quay lưng lại với nó”.Kính mời quý độc giả tham khảo thêm bài viết của nhà văn Nhật Tuấn:

CHUYỆN XƯA – NAY MỚI NÓI – KỲ 127 – Văn chương lai láng… vỉa hè…

NHẬT TUẤN

 

 Việt Nam vào WTO , doanh nhân cả nước mừng khấp khởi, các đại gia làm sách cũng xắn tay áo tìm đường hội nhập .

Một trong những người nhanh chân nhất phải kể đến ông Nguyễn Văn Phước, Giám đốc công ty First News ký hợp đồng với tập đoàn xuất bản Anova Books tại Luân Đôn, ông Nguyễn Cảnh Bình – Giám đốc Alpha Book mặc dầu than thở :

 “Ngành xuất bản Việt Nam giờ đây chỉ mới hội nhập vào dòng chảy tri thức toàn cầu…Chúng ta chỉ mới bắt đầu và chỉ như anh học trò mới cắp sách đến trường mà thôi.”

nhưng vẫn tin tưởng :

với một thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng bản quyền cũng như sở hữu trí tuệ, các đơn vị làm sách Việt Nam sẽ có một chỗ đứng tương xứng trên khu vực. Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu…”

Các “đại gia ở nước ngoài” cũng đang tìm cách nhảy vào Việt Nam. Nhiều đại diện của NXB Cambridge (thành lập từ năm 1534 tại Anh) đã có cuộc gặp các chóp bu ngành giáo dục và các đại học tại TP HCM. Ông Stephen Bourne, tổng giám đốc điều hành  đã trao tặng 175.000 USD tiền sách, học bổng cho các trường, thư viện và trung tâm ngoại ngữ ở thành phố, bày tỏ ý muốn tìm hiểu nhu cầu sử dụng sách ngoại văn của độc giả Việt Nam, đánh giá thị trường VN tuy nhỏ nhưng có tiềm năng rất lớn. Sắp tới, NXB Cambridge lập văn phòng đại diện tại Sàigòn và lần đầu tiên tổ chức Hội nghị thương mại cao cấp thường niên khu vực châu Á tại đây với sự có mặt của các lãnh đạo cao cấp NXB Cambridge và 74 đại diện đến từ khắp nơi trên thế giới.

Các đại gia làm sách “tổng hợp” thì như vậy, thế còn sách văn học trong nước thì sao ? Khi được hỏi kế hoạch làm sách 2006-2007 , ông Nguyễn văn Thơ, Giám đốc trung tâm Đông Nam kêu to :

Sách văn học hả ? Quên đi nhé.  Tôi chỉ “làm” các loại gây tò mò kiểu “ Hồi ký Đặng Thuỳ Trâm”, “Hồi ký Lê Vân” , các loại “sách dậy làm người “ như của Krisnan Murti , của Datlai Lama hoặc các loại sách bói toán, phong thuỷ ….In sách văn học có mà…lỗ vốn. …”

 “In sách văn học có mà lỗ vốn”, nhưng tại sao “sáng tác phẩm” của các nhà văn vẫn nối đuôi nhau xuất hiện dài dài . Những cuốn được coi là ngoại lệ bán có lãi như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn thị Ngọc Tư  được bà Thuý Nga báo Tuổi Trẻ mở hẳn một chiến dịch quảng cáo rầm rộ vì theo tin vỉa hè chính chồng bà ta bỏ vốn in cuốn này, cuốn “ Hồi ký Lê Vân”, cuốn “ Vết sẹo và cái cái đầu hói “ của Võ Văn Trực… đều là sách bán chạy nhưng chủ yếu vì kích thích tò mò chứ chẳng phải do giá trị văn chương nghệ thuật.

 Còn lại những cuốn cầm chắc in ra chỉ để …xếp kho, chuyển khoản cho  thư viện hoặc ra nằm chiếu ngoài vỉa hè. Những ngày cuối năm này, đi dọc các con phố Pasteur, Minh Khai, Trương Định…ở Sàigòn, người ta thấy bày trên chiếu ngoài vỉa hè nhan nhản những cuốn mới xuất bản như  “Đất Làng”, tiểu thuyết của Nguyễn thị Ngọc Tú, “ Người bán tuổi”, tập truyện ngắn của dịch giả Thái Bá Tân, “Thổ địa”  tiểu thuyết của Dương Kỳ Anh – Tổng biên tập báo Tiền Phong, “ Trên đỉnh đèo dông bão”, tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam, “Trở về”, tiểu thuyết của Nguyễn Tri Nha, “ Mường đông”, tiểu thuyết của Nguyễn Hải, “ Gieo hạt tình yêu” của Từ Hoàng Trung …Những sách văn học thời hội nhập này hoặc in bằng tiền túi của tác giả , hoặc bằng tiền Nhà nước thông qua các dự án tài trợ hoặc có sự nể nang, móc ngoặc giữa tác giả và Nhà xuất bản khiến ông Phạm Sỹ Sáu, Trưởng phòng khai thác bản quyền NXB Trẻ phải phàn nàn :

” Quan niệm “xin – cho” trong việc in sách ở VN vẫn chưa hoàn toàn được xoá bỏ. Và điều này là nguyên nhân khiến cho sách chất lượng thấp vẫn còn nhiều. “

Sách văn học trong nước mới ra lò đã phải ra nằm chiếu vỉa hè như vậy, liệu có phải do người đọc đã chán văn chương ? Không phải, tiểu thuyết vẫn bán chạy và cuốn bán chạy nhất lại là của…người Nhật được dịch ra tiếng Việt dưới cái tựa “Biên niên ký chim vặn dây cót “của Haruki Murakami.

Truyện kể một người đàn ông ở ngoại ô Tokyo tên là Toru Okada tìm kiếm con mèo mất tích. Rồi chẳng mấy chốc người vợ của anh cũng biến mất theo. Trong cuộc tìm kiếm đó,  xuất hiện bao sự kiện xoay quanh những nhân vật bí hiểm : một thiếu nữ mười sáu có vấn đề về tâm lý, một bà đồng, một cô điếm tinh thần, một chính trị gia suy đồi được đại chúng yêu thích, một cựu chiến binh mãi mãi bị khủng hoảng bởi những gì đã chứng kiến được trong đại chiến II….

Thực tại và phi thực tại đan cài nhau trong bức tranh ám ảnh về xã hội và tâm linh Nhật Bản những năm cuối thế kỷ XX. Trải nghiệm nỗi trống rỗng bởi hư vô, từ trong một cái giếng cạn, Toru Okada đã vươn dậy để dành lại cuộc sống của mình.

Một tiểu thuyết cũng đang gây chú ý là “Chuyện dài bất tận “ nhưng lại là của… người Đức, Michael Ende. Cuốn sách mang tính hiện thực kỳ ảo có tính ngụ ngôn này đã bán được 8 triệu bản, được dịch ra 36 thứ tiếng và được mệnh danh là “Tây du ký của Đức” đang quyến rũ bạn đọc VN.

“Rừng thẳm”, tiểu thuyết đang bán chạy lại cũng là của người Pháp, Julien Gracq kể về những người lính đang cầm chân những chuyến xe bọc thép Đức trên con đường xuyên rừng Ardenne (nước Pháp). Trong bối cảnh đó, chuẩn uý Grange tình cờ làm quen với cô nàng Nona xinh đẹp. Hay nói chính xác hơn, chính Nona đã “theo dõi” sát nút anh chàng mơ mộng Grange. “Em đã quyến rũ được anh” – Nona nói như vậy với một tình yêu tự nhiên. Cuốn sách làm  người đọc vừa muốn lướt nhanh vừa muốn đọc chậm; vừa nôn nóng muốn biết xem cuối cùng Grange có chết.

Những tựa sách ăn khách còn lại cũng không phải của VN mà là của… Tàu : “Những người đàn bà tắm” của Thiết Ngưng, “Hoa vàng cố hương”, “Điện thoại di động” của Lưu Chấn Vân, “Đảo hoa vàng” của An Ni Bảo Bối,”Vương quốc ảo” của Quách Kính Minh, “ Không độ yêu”, 26 truyện ngắn đặc sắc của Khâu Hoa Đông…

Sách văn học nước ngoài vẫn bán ào ào, vậy tại sao sách văn học Việt Nam lại ế ẩm ? Phải chăng trình độ độc giả đã xuống thấp đến mức không chia sẻ được  với những điều nhà văn bày tỏ. Không phải, những cuốn sách được coi là “khó đọc” vẫn bán chạy. Dù rất kén độc giả nhưng các tựa sách nghiên cứu vẫn có chỗ đứng trên thị trường.

Trước hết là cuốn “ Thế giới phẳng” của Thomas Friedman  chỉ riêng trong hai tháng 8 và 9 vừa qua đã bán hết 10.000, một con số mà tiểu thuyết Việt Nam nằm mơ cũng không có được. Tiếp theo là cuốn “ Thần, người và đất Việt” của Tạ Chí Đại Trường cũng đang đang bán rất chạy. Tương tự là Kinh Dịch – cấu hình tư tưởng Trung Quốc của hai tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh. Rồi đến hai bộ sách triết học phương Tây nổi tiếng “Phê phán lý tính thuần tuý” của Kant  và “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel thật đồ sộ, giá 300.000 đồng/bộ vẫn có người mua.

Vậy vì sao sách văn học Việt Nam xuống giá và sớm bị đẩy ra chiếu sách vỉa hè ?

Ngay trong  Giải thưởng “Sách hay , sách đẹp”  năm 2006 của Hội xuất bản Việt Nam, sách văn học trong nước cũng bị gạt ra rìa, không xét  với lý do …”tế nhị”.

Đặc biệt, hai cuốn “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” và “Mãi mãi tuổi 20” vẫn  được trao giải đặc biệt vì Hội xuất bản cho rằng nó không phải … “văn học” và vì tác dụng đặc biệt của nó.  Tuy nhiên, theo lời ông Phan Khắc Hải, Chủ tịch Hội xuất bản, sách văn học tuy không được xét chọn trong diện “sách hay” nhưng nếu nó được …in đẹp thì vẫn được tặng thưởng trong diện…”sách đẹp”. Ong này cũng thừa  nhận có nhiều lúng túng khi xét  chọn vì sách văn học không chỉ bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, lý luận phê bình văn học… mà còn có cả bút ký, tản văn, nhật ký…

Vậy là cho dù Hội nhà văn Việt Nam ra sức bưng bít và tô vẽ, bộ máy phê bình lý luận của Nhà nước ra rả “khẳng định những thành tựu to lớn”, người ta vẫn cứ thấy rõ một tình trạng là từ lâu “thương hiệu sách văn học Việt Nam” đã mất giá?

Được Nhà nước bảo kê mỗi năm hàng tỉ đồng, các nhà văn Việt Nam năm này qua năm khác cho ra đời toàn một thứ văn chương nhạt thếch, vô thưởng vô phạt, phải đạo và giả dối. Đó đích thực là một thứ “hàng giả” mà người tiêu dùng từ lâu đã quay lưng lại với nó. Chỉ chừng nào Nhà nước loại bỏ sự “bảo kê’ bằng tiền bạc và công danh đó,  tình trạng làm “hàng giả” trong văn học mới chấm dứt, các nhà văn mới từ bỏ lối viết “phải đạo”, mạnh dạn viết sự thực thì may ra mới lấy lại chỗ đứng trong lòng người đọc, sách văn học Việt Nam mới có cơ hội giã từ “chiếu vỉa hè” để trở lại vị trí trang trọng trên các kệ sách. Và lại, chẳng lẽ đã vào WTO rồi , Nhà nước Việt Nam vẫn cứ khăng khăng bảo kê cho việc sản xuất hàng giả chăng ?  Cho dù đó là hàng giả trong văn học nghệ thuật…

19-12-06

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân phân tích khá sắc sảo và thấu đáo về cơ chế văn nghệ hiện nay:”Không phải nước Việt Nam thiếu tài năng, nhưng những tài năng le lói đã bị trộn chung trong cái máng lợn bao cấp ấy thì các báo tạp chí văn nghệ địa phương không sinh ra những tiếng ụt ịt mới là lạ…” (Cái máng lợn văn học bao cấp sinh ra những báo chí văn nghệ ụt ịt). Cư dân mạng than van:”bà con bão lụt vừa qua chết cả dăm chục, còn lại màn trời chiếu đất, mì tôm không có mà ăn. Sao các Hội hè văn nghệ lấy tiền thuế nhân dân đi nuôi bọn rẻ rách múa may quay cuồng với thơ nước đái chó !” (thày trò Thanh Thảo vẫy đuôi liếm láp giải thưởng). Họ nghĩ rất sâu sắc: “Giữa lúc các Hội VHNT xin tài trợ tiền tỷ hằng năm để tổ chức đàn đúm vui chơi từ Nam chí Bắc, làm đêm thơ rầm rộ Nguyên Tiêu tụ tập bè phái cánh hẫu đọc thơ nhạt hoét, mỗi năm in hàng ngàn tập thơ chỉ để tự sướng. Tệ hại hơn nữa, các vị thi nhau chạy, chạy xét kết nạp Hội Nhà văn, chạy in thơ lên báo, chạy giải HCM, giải Nhà nước, giải Hội Nhà văn, chạy hội thảo bỏ tiền thuê GSTS, NGND viết bài ca tụng. Ông nọ nhờ ông kia viết bài lăng xê, thứ chỉ giành cho bọn giá áo túi cơm như Thanh Thảo nhờ Phạm Đương rồi “kèm trẻ em” suất giải thưởng đạo văn ô nhục, Hoàng Quang Thuận nhờ DKA chứng minh thánh thần nhập hồn đêm làm trăm bài tứ tuyệt, sau đem thuê Hội thảo, đề cử dự giải Nobel! Mã Giang Lân viết phê bình không ai đọc chuyển hướng chạy giải thơ như kiểu buôn trầm thất bại chuyển sang chơi hê rô in cho nổi đình nổi đám, Từ Quốc Hoài thơ lảm nhảm tả khu vườn mùa hè người đọc tưởng tả bãi rác”thua xa văn học sinh lớp 6″, GS Nguyễn Lân “thiên tài chính tả” viết từ điển sờ đâu sai đấy, GS Vũ Khiêu “hô phong hoán vũ” chuyển khẩu Lạc Long Quân về Bình Đà, làm văn tế dán đè lên bia đá không cho thơ Hồ Chủ Tịch ca ngợi Quang Trung xuất hiện. Bọn theo đóm ăn tàn hiện đại láo và dốt đến thế là cùng! Hằng tháng, mỗi Hội in 500 bản Tạp chí VHNT cho không ai đọc, đề ra bán ép cho doanh nghiệp rồi viết bài ca ngợi doanh nghiệp, không biết họ làm ăn ra sao, môi trường thối viết thành môi trường thơm, gian dối viết thành thật thà, miễn họ bao tiêu các Tạp chí ế!” (Nghệ sĩ không muốn- Mong muốn và hành động). Trên báo Lề Dân còn có nhiều bài như:”THANH THẢO NGOÀI CHẠY GIẢI CÓ CHẠY ĐỂ VÀO SÁCH GIÁO KHOA, CÓ CHẠY ĐỀ THI?”; “nhà thơ Thanh Thảo đại bịp hay chú hề lô tô trong sách giáo khoa”; “Một năm nhìn lại giải thưởng thơ, Hội thảo thơ của Hội Nhà văn”; “Thật đáng xấu hổ cho Hội Văn học Nghệ thuật Bình Phước”; “Cơ chế đông tàn làm sao thấy giải mùa xuân”v.v… tập trung phân tích chí lý cái cơ chế Hội hà văn học nghệ thuật bao cấp lấy tiền thuế của dân nuôi báo cô hàng loạt những vĩ cuồng, thực chất các hội là bộ máy sản xuất hàng láo, hàng giả vhnt.Trên trang Bọ Lập Quê Choa có những dòng phát biểu thấm thía: “NQL: Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc đã viết trong FB của ông:“Tai họa lớn nhất đối với một quốc gia không phải là ngoại xâm. Tai họa lớn nhất là thái độ xem nguy cơ ngoại xâm không dính líu gì đến mình và việc chống ngoại xâm là bổn phận của người khác. Thái độ ấy, nếu đến từ sự ngu dốt, là một cái lỗi của dân trí, nghĩa là của cả một dân tộc; nếu là kết quả của một chính sách nào đó, là một cái tội, đúng hơn, trọng tội, của nhà cầm quyền: Một cái tội ngang hàng với tội bán nước.” Tóm lại, ai đó đã nói cái cơ chế này đẩy những tài năng như các nhà thơ nhà văn nhà lý luận phê bình  Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Quang Lập, Nhật Tuấn, Nguyễn Hoàng Đức, Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng v.v…ra ngoài cuộc. Và biết bao tài năng mà thống kê chưa hết, họ có lòng tự trọng không hòa hợp ngậm miệng ăn tiền với các nhà văn mậu dịch bất tài (hoặc cũng có người có tài nhưng bị tha hóa). Điều này thật quá chính xác. Ngược lại, nó lại thu nạp ngày càng nhiều những quái thai văn chương dị dạng thơ nước ốc, nước hến, nước cống, nước đái chó, thi pháp gãi háng ghẻ lở hắc lào, thơ đạo văn vào cái máng lợn văn học bao cấp. Nhà văn Nhật Tuấn nhận định quá chính xác: “Được Nhà nước bảo kê mỗi năm hàng tỉ đồng, các nhà văn Việt Nam năm này qua năm khác cho ra đời toàn một thứ văn chương nhạt thếch, vô thưởng vô phạt, phải đạo và giả dối. Đó đích thực là một thứ “hàng giả” mà người tiêu dùng từ lâu đã quay lưng lại với nó”.Kính mời quý độc giả tham khảo thêm bài viết của nhà văn Nhật Tuấn:

CHUYỆN XƯA – NAY MỚI NÓI – KỲ 127 – Văn chương lai láng… vỉa hè…

NHẬT TUẤN

 

 Việt Nam vào WTO , doanh nhân cả nước mừng khấp khởi, các đại gia làm sách cũng xắn tay áo tìm đường hội nhập .

Một trong những người nhanh chân nhất phải kể đến ông Nguyễn Văn Phước, Giám đốc công ty First News ký hợp đồng với tập đoàn xuất bản Anova Books tại Luân Đôn, ông Nguyễn Cảnh Bình – Giám đốc Alpha Book mặc dầu than thở :

 “Ngành xuất bản Việt Nam giờ đây chỉ mới hội nhập vào dòng chảy tri thức toàn cầu…Chúng ta chỉ mới bắt đầu và chỉ như anh học trò mới cắp sách đến trường mà thôi.”

nhưng vẫn tin tưởng :

với một thái độ làm việc nghiêm túc, tôn trọng bản quyền cũng như sở hữu trí tuệ, các đơn vị làm sách Việt Nam sẽ có một chỗ đứng tương xứng trên khu vực. Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu…”

Các “đại gia ở nước ngoài” cũng đang tìm cách nhảy vào Việt Nam. Nhiều đại diện của NXB Cambridge (thành lập từ năm 1534 tại Anh) đã có cuộc gặp các chóp bu ngành giáo dục và các đại học tại TP HCM. Ông Stephen Bourne, tổng giám đốc điều hành  đã trao tặng 175.000 USD tiền sách, học bổng cho các trường, thư viện và trung tâm ngoại ngữ ở thành phố, bày tỏ ý muốn tìm hiểu nhu cầu sử dụng sách ngoại văn của độc giả Việt Nam, đánh giá thị trường VN tuy nhỏ nhưng có tiềm năng rất lớn. Sắp tới, NXB Cambridge lập văn phòng đại diện tại Sàigòn và lần đầu tiên tổ chức Hội nghị thương mại cao cấp thường niên khu vực châu Á tại đây với sự có mặt của các lãnh đạo cao cấp NXB Cambridge và 74 đại diện đến từ khắp nơi trên thế giới.

Các đại gia làm sách “tổng hợp” thì như vậy, thế còn sách văn học trong nước thì sao ? Khi được hỏi kế hoạch làm sách 2006-2007 , ông Nguyễn văn Thơ, Giám đốc trung tâm Đông Nam kêu to :

Sách văn học hả ? Quên đi nhé.  Tôi chỉ “làm” các loại gây tò mò kiểu “ Hồi ký Đặng Thuỳ Trâm”, “Hồi ký Lê Vân” , các loại “sách dậy làm người “ như của Krisnan Murti , của Datlai Lama hoặc các loại sách bói toán, phong thuỷ ….In sách văn học có mà…lỗ vốn. …”

 “In sách văn học có mà lỗ vốn”, nhưng tại sao “sáng tác phẩm” của các nhà văn vẫn nối đuôi nhau xuất hiện dài dài . Những cuốn được coi là ngoại lệ bán có lãi như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn thị Ngọc Tư  được bà Thuý Nga báo Tuổi Trẻ mở hẳn một chiến dịch quảng cáo rầm rộ vì theo tin vỉa hè chính chồng bà ta bỏ vốn in cuốn này, cuốn “ Hồi ký Lê Vân”, cuốn “ Vết sẹo và cái cái đầu hói “ của Võ Văn Trực… đều là sách bán chạy nhưng chủ yếu vì kích thích tò mò chứ chẳng phải do giá trị văn chương nghệ thuật.

 Còn lại những cuốn cầm chắc in ra chỉ để …xếp kho, chuyển khoản cho  thư viện hoặc ra nằm chiếu ngoài vỉa hè. Những ngày cuối năm này, đi dọc các con phố Pasteur, Minh Khai, Trương Định…ở Sàigòn, người ta thấy bày trên chiếu ngoài vỉa hè nhan nhản những cuốn mới xuất bản như  “Đất Làng”, tiểu thuyết của Nguyễn thị Ngọc Tú, “ Người bán tuổi”, tập truyện ngắn của dịch giả Thái Bá Tân, “Thổ địa”  tiểu thuyết của Dương Kỳ Anh – Tổng biên tập báo Tiền Phong, “ Trên đỉnh đèo dông bão”, tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam, “Trở về”, tiểu thuyết của Nguyễn Tri Nha, “ Mường đông”, tiểu thuyết của Nguyễn Hải, “ Gieo hạt tình yêu” của Từ Hoàng Trung …Những sách văn học thời hội nhập này hoặc in bằng tiền túi của tác giả , hoặc bằng tiền Nhà nước thông qua các dự án tài trợ hoặc có sự nể nang, móc ngoặc giữa tác giả và Nhà xuất bản khiến ông Phạm Sỹ Sáu, Trưởng phòng khai thác bản quyền NXB Trẻ phải phàn nàn :

” Quan niệm “xin – cho” trong việc in sách ở VN vẫn chưa hoàn toàn được xoá bỏ. Và điều này là nguyên nhân khiến cho sách chất lượng thấp vẫn còn nhiều. “

Sách văn học trong nước mới ra lò đã phải ra nằm chiếu vỉa hè như vậy, liệu có phải do người đọc đã chán văn chương ? Không phải, tiểu thuyết vẫn bán chạy và cuốn bán chạy nhất lại là của…người Nhật được dịch ra tiếng Việt dưới cái tựa “Biên niên ký chim vặn dây cót “của Haruki Murakami.

Truyện kể một người đàn ông ở ngoại ô Tokyo tên là Toru Okada tìm kiếm con mèo mất tích. Rồi chẳng mấy chốc người vợ của anh cũng biến mất theo. Trong cuộc tìm kiếm đó,  xuất hiện bao sự kiện xoay quanh những nhân vật bí hiểm : một thiếu nữ mười sáu có vấn đề về tâm lý, một bà đồng, một cô điếm tinh thần, một chính trị gia suy đồi được đại chúng yêu thích, một cựu chiến binh mãi mãi bị khủng hoảng bởi những gì đã chứng kiến được trong đại chiến II….

Thực tại và phi thực tại đan cài nhau trong bức tranh ám ảnh về xã hội và tâm linh Nhật Bản những năm cuối thế kỷ XX. Trải nghiệm nỗi trống rỗng bởi hư vô, từ trong một cái giếng cạn, Toru Okada đã vươn dậy để dành lại cuộc sống của mình.

Một tiểu thuyết cũng đang gây chú ý là “Chuyện dài bất tận “ nhưng lại là của… người Đức, Michael Ende. Cuốn sách mang tính hiện thực kỳ ảo có tính ngụ ngôn này đã bán được 8 triệu bản, được dịch ra 36 thứ tiếng và được mệnh danh là “Tây du ký của Đức” đang quyến rũ bạn đọc VN.

“Rừng thẳm”, tiểu thuyết đang bán chạy lại cũng là của người Pháp, Julien Gracq kể về những người lính đang cầm chân những chuyến xe bọc thép Đức trên con đường xuyên rừng Ardenne (nước Pháp). Trong bối cảnh đó, chuẩn uý Grange tình cờ làm quen với cô nàng Nona xinh đẹp. Hay nói chính xác hơn, chính Nona đã “theo dõi” sát nút anh chàng mơ mộng Grange. “Em đã quyến rũ được anh” – Nona nói như vậy với một tình yêu tự nhiên. Cuốn sách làm  người đọc vừa muốn lướt nhanh vừa muốn đọc chậm; vừa nôn nóng muốn biết xem cuối cùng Grange có chết.

Những tựa sách ăn khách còn lại cũng không phải của VN mà là của… Tàu : “Những người đàn bà tắm” của Thiết Ngưng, “Hoa vàng cố hương”, “Điện thoại di động” của Lưu Chấn Vân, “Đảo hoa vàng” của An Ni Bảo Bối,”Vương quốc ảo” của Quách Kính Minh, “ Không độ yêu”, 26 truyện ngắn đặc sắc của Khâu Hoa Đông…

Sách văn học nước ngoài vẫn bán ào ào, vậy tại sao sách văn học Việt Nam lại ế ẩm ? Phải chăng trình độ độc giả đã xuống thấp đến mức không chia sẻ được  với những điều nhà văn bày tỏ. Không phải, những cuốn sách được coi là “khó đọc” vẫn bán chạy. Dù rất kén độc giả nhưng các tựa sách nghiên cứu vẫn có chỗ đứng trên thị trường.

Trước hết là cuốn “ Thế giới phẳng” của Thomas Friedman  chỉ riêng trong hai tháng 8 và 9 vừa qua đã bán hết 10.000, một con số mà tiểu thuyết Việt Nam nằm mơ cũng không có được. Tiếp theo là cuốn “ Thần, người và đất Việt” của Tạ Chí Đại Trường cũng đang đang bán rất chạy. Tương tự là Kinh Dịch – cấu hình tư tưởng Trung Quốc của hai tác giả Dương Ngọc Dũng và Lê Anh Minh. Rồi đến hai bộ sách triết học phương Tây nổi tiếng “Phê phán lý tính thuần tuý” của Kant  và “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel thật đồ sộ, giá 300.000 đồng/bộ vẫn có người mua.

Vậy vì sao sách văn học Việt Nam xuống giá và sớm bị đẩy ra chiếu sách vỉa hè ?

Ngay trong  Giải thưởng “Sách hay , sách đẹp”  năm 2006 của Hội xuất bản Việt Nam, sách văn học trong nước cũng bị gạt ra rìa, không xét  với lý do …”tế nhị”.

Đặc biệt, hai cuốn “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” và “Mãi mãi tuổi 20” vẫn  được trao giải đặc biệt vì Hội xuất bản cho rằng nó không phải … “văn học” và vì tác dụng đặc biệt của nó.  Tuy nhiên, theo lời ông Phan Khắc Hải, Chủ tịch Hội xuất bản, sách văn học tuy không được xét chọn trong diện “sách hay” nhưng nếu nó được …in đẹp thì vẫn được tặng thưởng trong diện…”sách đẹp”. Ong này cũng thừa  nhận có nhiều lúng túng khi xét  chọn vì sách văn học không chỉ bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, lý luận phê bình văn học… mà còn có cả bút ký, tản văn, nhật ký…

Vậy là cho dù Hội nhà văn Việt Nam ra sức bưng bít và tô vẽ, bộ máy phê bình lý luận của Nhà nước ra rả “khẳng định những thành tựu to lớn”, người ta vẫn cứ thấy rõ một tình trạng là từ lâu “thương hiệu sách văn học Việt Nam” đã mất giá?

Được Nhà nước bảo kê mỗi năm hàng tỉ đồng, các nhà văn Việt Nam năm này qua năm khác cho ra đời toàn một thứ văn chương nhạt thếch, vô thưởng vô phạt, phải đạo và giả dối. Đó đích thực là một thứ “hàng giả” mà người tiêu dùng từ lâu đã quay lưng lại với nó. Chỉ chừng nào Nhà nước loại bỏ sự “bảo kê’ bằng tiền bạc và công danh đó,  tình trạng làm “hàng giả” trong văn học mới chấm dứt, các nhà văn mới từ bỏ lối viết “phải đạo”, mạnh dạn viết sự thực thì may ra mới lấy lại chỗ đứng trong lòng người đọc, sách văn học Việt Nam mới có cơ hội giã từ “chiếu vỉa hè” để trở lại vị trí trang trọng trên các kệ sách. Và lại, chẳng lẽ đã vào WTO rồi , Nhà nước Việt Nam vẫn cứ khăng khăng bảo kê cho việc sản xuất hàng giả chăng ?  Cho dù đó là hàng giả trong văn học nghệ thuật…

19-12-06

 

Bài do việt trinh mai <viettrinh75@gmail.com> gởi đên Vô Ngã

 

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa – VHNA

9 Th11

 

  •   Đỗ Lai Thúy
 

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa

 

Trong thế kỷ XX, nếu lấy chính trị và văn hóa như là hai chiều kích đối lập nhau trong một khung lịch sử, thì con đường của người trí thức Việt Nam diễn ra theo các chuyển động rất phức tạp. Tuy vậy, có thể khái quát thành những xu hướng cơ bản sau: 1) từ chính trị sang văn hóa; 2) từ văn hóa sang chính trị; 3) từ văn hóa đến văn hóa; 4) vừa chính trị vừa văn hóa. Trong các xu hướng này, con đường từ chính trị sang văn hóa, tuy không được số đông hành cước, nhưng lại là con đường phát lộ nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện đại, và có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành tầng lớp trí thức độc lập. Bởi vậy, suốt thế kỷ trước, người ta thường thấy một hiện tượng rất đáng lưu ý: một nhân vật đang mải mê hoạt động, sau một sự cố nào đó, liền từ giã sự nghiệp chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa. Phan Khôi là một trường hợp đầu tiên và tiêu biểu.

Phan Khôi (1887 – 1959) sinh ra trong một gia đình khoa bảng và chống Pháp. Thân sinh ông là Phan Trân, đỗ phó bảng năm 1891 dưới triều vua Thành Thái, làm quan đến tri phủ Diên Khánh, rồi vì bất hòa với viên công sứ Pháp ở Nha Trang, nên bỏ về hưu, khi chưa đầy 40 tuổi. Thân mẫu là Hoàng Thị Diệm, con gái Hoàng Diệu. Bà mất sớm, chỉ để lại hai con là Phan Khôi và cô Ba, vợ học giả Lê Dư, mẹ Hằng Phương nữ sĩ. Làng Bảo An quê ông thuộc Gò Nổi, một dải đất giữa hai nhánh, một của sông Thu Bồn và một của sông Vu Gia. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, nổi tiếng với các mặt hàng lụa, tuýt-xi. Nghề buôn bán, do vậy, cũng rất phát đạt. Vải, lụa, đường cát từ Gò Nổi vươn xa đến tận Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội. Bảo An, cũng như toàn tỉnh Quảng Nam, là quê hương của nhiều người hiển đạt. Nhưng, đây là một vùng đất mở với sự phát triển của thương mại và/qua các cừa sông, cảng biển, con đường duy nhất bấy giờ nối liền với thế giới Đông Á đang chuyển mình. Các thầy đồ Quảng, do vậy, sớm tiếp xúc với Tân thư, trở thành các nhà nho duy tân chống Pháp, như Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…

Phan Khôi, con của đất ấy, con của người ấy, tự nhiên phải đi theo truyền thống ấy. Ông học chữ Hán với Trần Quý Cáp, rồi trường Huấn, trường Đốc. Kỳ sát hạch nào cũng đỗ đầu. Ông nổi tiếng là một sĩ tử thông minh đất Gò Nổi. Nhưng, năm 1906, khi vác lều chõng ra Huế thi Hương, Phan Khôi chỉ đỗ tú tài. Ông uất ức cho rằng quan trường chấm thi hồ đồ, thậm chí còn làm thơ đả kích. Xem lại bản nháp các bài thi, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đều đánh giá cao, và đoán rằng khoa sau ông sẽ đỗ cử nhân, tiến sĩ. Nhưng Phan Khôi đã quyết tâm từ bỏ con đường khoa cử. Đây là lần thứ nhất, trên hành trình tìm đường của mình, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống lâu đời của gia đình, quê hương, xứ sở.

Quyết bỏ thi chữ Hán, Phan Khôi quay sang học tiếng Pháp với Phan Thành Tài, một người bà con trong họ tộc. Đồng thời, ông tranh thủ dạy quốc ngữ và chữ Hán cho trường Diên Phong, do Hội buôn Diên Phong mở để làm trụ sở hợp pháp cho phong trào Duy tân Quảng Nam. Cuối 1906, Phan Khôi làm một việc “động trời” bấy giờ là cắt bỏ búi tóc, biểu tượng thiêng liêng của các nhà cựu học, và làm bài “Vè cúp tóc” để vận động người khác. Ban đầu thì trong nhà phản ứng, ngoài đường chế giễu, nhưng chẳng bao lâu đã thành một phong trào: “Bỏ cái ngu này/ Bỏ cái dại này/ Cho khôn cho mạnh/ Học theo người Tây”. Năm 1907, Phan Khôi được phong trào Duy tân Quảng Nam gửi ra Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, vừa để tìm cách phát triển các hoạt động duy tân ở quê hương, vừa tranh thủ học thêm tiếng Pháp do Nguyễn Bá Học dạy. Ông còn sửa bài, viết bài cho Đăng cổ tùng báo, một tờ chữ Hán của trường. Công việc đang thuận lợi thì nhà cầm quyền Pháp đóng cửa Đông Kinh nghĩa thục và cấm Đăng cổ tùng báo. Phan Khôi chưa kịp quay về Quảng Nam thì bị bắt giải về quê. Lúc này, vụ “xin xâu” (chống sưu thuế) ở Quảng Nam bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện bị đi đày Côn Đảo. Phan Khôi cũng bị kết án 3 năm tù. Công cuộc vận động Duy tân bán công khai theo đường lối Phan Chu Trinh thế là bị dập tắt.

Ra tù, một mặt Phan Khôi lấy vợ, đẻ con để hoàn thành nghĩa vụ gia đình, mặt khác vẫn tham gia các vận động bí mật của Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Nhưng đến 1914, ông chấm dứt hẳn hoạt động này để đến năm 1916 ra Hà Nội lần hai, tìm con đường làm báo. Đầu tiên ông làm thư ký cho Công ty Vận tải Đường thủy của Bạch Thái Bưởi. Rồi nhận thấy đây không phải là đường đi của mình, Phan Khôi kiên quyết từ chối sự níu kéo của nhà tư sản dân tộc này, rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ở đây, ông gặp Nguyễn Bá Trác, người cùng quê và/ là bạn học cũ. Ông này đang chuẩn bị vào Huế nhậm chức, nên giới thiệu Phan Khôi vào thế chân mình ở báo Nam Phong. Thấy đây là cơ hội để mình có điều kiện phát triển một hướng đi, Phan Khôi nhận lời. Ngoài việc viết bài, biên tập cho phần Hán văn do Nguyễn Bá Trác để lại, Phan Khôi còn phụ trách chuyên mục “Nam âm thi thoại” chuyên giới thiệu, bình luận thơ. Thế là từ đây, Phan Khôi đi hẳn vào con đường làm báo chuyên nghiệp. Như vậy, đây là lần thứ hai, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống nữa của gia đình, quê hương, xứ sở, để đi theo một truyền thống khác, mà có thể lúc này mới chỉ là một phản/ phi truyền thống. Đó là sự từ bỏ con đường hoạt động chính trị, cả phong trào Duy tân bán công khai của Phan Chu Trinh, lẫn sự vận động bí mật cho đường hướng đấu tranh vũ trang của Phan Bội Châu, để chuyển sang hoạt động văn hóa một cách công khai, hợp pháp. Với con đường cứu nước phi truyền thống này, Phan Khôi hẳn còn bị gia đình, bạn bè phản ứng dữ dội hơn lần trước, thậm chí còn bị các đồng chí cũ nghi là phản bội, nhất là tờ báo khởi nghiệp của ông lại là Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Nhưng, chính đây lại là bước quyết định của/ với Phan Khôi trong việc biến ông từ một nhà nho cổ điển, một nhà nho duy tân thành một nhà nho Tây học, một nhà văn hiện đại, đồng thời tạo ra một dấu mốc trên hành trình xây dựng văn hóa dân tộc, cũng như hình thành tầng lớp trí thức độc lập.

Con đường cứu nước phi truyền thống này có tiền đề từ Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871). Khi thực dân Pháp rập rình xâm chiếm Việt Nam, trước sức mạnh quân sự vượt trội của nó, triều đình Huế chia làm 2 phe: chủ chiến và chủ hòa. Tư tưởng chủ chiến dựa trên truyền thống ngàn đời “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”, “sát thân thành nhân”. Tư tưởng chủ hòa mang tâm lý thất bại chủ nghĩa, sợ trách nhiệm, sợ mất quyền lợi, thực chất là đầu hàng. Chủ chiến và chủ hòa, tuy đối đầu với nhau quyết liệt như vậy, nhưng, xét cho cùng, chỉ là hai mặt đối lập của cùng một kiểu tư duy nhị nguyên, biện biệt: hoặc là đánh, hoặc là hòa, theo nguyên lý loại trừ. Nguyễn Trường Tộ, với cái nhìn nhất nguyên, đưa ra một tư duy khác. Một kiểu chủ hòa khác. Đó là hòa để chiến, trong hòa có chiến, trong chiến có hòa. Ông cho rằng muốn thắng được người Pháp ở trận cuối, thì trước mắt phải hòa với nó, thậm chí phải dựa vào nó, liên kết với nó, để tranh thủ thời gian xây dựng kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nhân lực, phát triển thương mại, trang bị lại cho quân đội, xây dựng quan hệ ngoại giao đa phương với các tổ chức và các nước phương Tây khác. Nhưng, tư tưởng này quá mới, nên đình thần hoài nghi, phân vân, hoảng sợ: những kiến nghị của ông bị bỏ qua. Rồi khi chiến sự đến thì các cơ hội để thực thi chiến lược hòa để chiến không còn nữa, chỉ còn hoặc chiến hoặc hòa. Trong hoàn cảnh này, phe chủ chiến ban đầu thắng/ đa số tuyệt đối để rồi sau đó thua/ thiểu số tuyệt đối.

Sáu tỉnh Nam bộ, rồi toàn bộ đất nước bị mất, các phong trào Cần vương lần lượt bị thất bại, con đường cứu nước bằng bạo lực bị chìm xuống. Trong hoàn cảnh đó, Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) chủ trương con đường cứu nước bằng văn hóa. Tạo ra cuộc đối thoại Đông Tây, Trương Vĩnh Ký muốn làm cho, một mặt, người Nam hiểu được người Pháp, văn hóa Pháp, mặt khác, người Pháp hiểu được nền văn hóa cổ truyền thâm sâu của Việt Nam. Đồng thời tranh thủ xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại bằng sự kết hợp Đông Tây, Nam Pháp theo nguyên tắc “Đông học vi thể, Tây học vi dụng”. Ở Nguyễn Trường Tộ, trong hoàn cảnh một xã hội không có xã hội, mà chỉ có nhà nước, thì đối tượng “cải cách” chính của ông là vua (dĩ nhiên phải qua một đám quan lại chóp bu), phương thức duy nhất của ông là điều trần. Còn ở Trương Vĩnh Ký thì ông đã có một công cụ mới là báo chí, để bước đầu xây dựng một xã hội dân sự. Đối tượng “cải cách” của ông, bởi vậy, là dân chúng, bao gồm các nhà nho duy tân, các điền chủ, nhà buôn, viên chức trong bộ máy chính quyền mới ở Nam bộ. Lấy báo chí làm phương tiện, Trương Vĩnh Ký xây dựng và phổ biến chữ quốc ngữ. Từ đó xây dựng văn xuôi báo chí, rồi văn xuôi nghệ thuật, cũng như nền học thuật của đất nước.

Từ đây, ở Việt Nam, tồn tại hai con đường cứu nước: 1) con đường bạo lực chính trị và 2) con đường phát triển văn hóa, một con đường chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Trong hai con đường này, thì bạo lực chính trị bao giờ cũng là một nét đậm, một nhịp mạnh. Cả hai tồn tại song song với nhau, vừa hỗ trợ nhau vừa đấu tranh với nhau, đôi khi thành những cặp đối lập nổi tiếng trong lịch sử như Phan Bội Châu – Phan Chu Trinh, dẫu rằng văn hóa của cụ Phan thứ hai, xét cho cùng, cũng nhắm đến mục đích chính trị. Bởi thế, đáng chú ý là, thỉnh thoảng lại có những người chuyển từ hoạt động chính trị sang hoạt động văn hóa, sau một “sự cố” nào đó khiến họ có một nhận thức mới. Phan Khôi không phải là một hiện tượng duy nhất, mà là một trường hợp đầu tiên tiêu biểu nhất. Sau này còn có những trường hợp khác nữa. Như Đào Duy Anh (1904 – 1988), bí thư Tân Việt cách mạng đảng, sau khi bị Pháp bắt giam vào cuối năm 1929, cũng từ bỏ hoạt động chính trị chuyển sang làm sử học, làm văn hóa. Hoặc gần đây hơn, Nguyễn Kiến Giang (1930  – 2013), sau vụ “nghị quyết 9” cũng trở thành một dịch giả, một nhà nghiên cứu văn hóa có nhiều đóng góp. Có điều đáng nói là bước chuyển của Đào Duy Anh, Nguyễn Kiến Giang đều do một “cú hích của Thượng đế”, tức ít nhiều bị động, còn của Phan Khôi thì hoàn toàn chủ động.

Phan Khôi chủ động thực hiện bước chuyển này vì ông nhận thức được tầm quan trọng của dân trí cũng như vai trò của báo chí trong việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Bởi thế, làm báo, Phan Khôi chủ trương công khai, độc lập và kiên quyết không dính líu đến chính trị. Hẳn cũng vì thế mà ông sớm rời khỏi tờ Nam phong của Phạm Quỳnh, dù tạp chí này bấy giờ làm rất tốt nhiệm vụ xây dựng một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học. Ông vào Sài Gòn để viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, rồi lại trở ra Hà Nội viết cho Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh. Rồi lại vào Sài Gòn cộng tác với Thần chung, Đông Pháp thời báo đồng thời gửi bài cho Đông Tây tuần báo, Văn học tạp chí ở Hà Nội. Lúc này Phan Khôi đã trở thành một nhà báo nổi tiếng trong giới trí thức Sài Gòn. Bởi thế, ông được bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) mời ra làm chủ bút tờ Phụ nữ tân văn do bà đứng tên sáng lập. Trang bìa tờ báo có in hình ba cô gái Bắc, Trung, Nam, biểu tượng cho nước Việt Nam thống nhất, dưới bức hình là hai câu thơ: “Phấn son tô điểm sơn hà/ Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam”. Nhưng Phụ nữ tân văn là tiếng nói không chỉ của/ về phụ nữ, mà còn của các tầng lớp xã hội khác. Năm 1934, tờ Phụ nữ tân văn bị cấm, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết Phụ nữ thời đàm, rồi lại vào Huế làm chủ bút báo Tràng An. Rồi tờ báo này cũng bị đóng cửa nốt. Năm 1936, Phan Khôi xin được giấy phép ra tờ Sông Hương. Suốt đời làm báo thuê, đây là lần đầu tiên ông có một tờ báo của mình. Nghĩa là ông có thể hoàn toàn chủ động từ việc đề ra cương lĩnh đến sắp xếp các mục trên trang báo, các bài viết. Ông huy động toàn bộ vốn liếng, vợ con vào làm việc cho tờ báo. Sông Hương nhanh chóng chinh phục được đông đảo bạn đọc thuộc các thành phần xã hội. Nhưng nó chỉ tồn tại được đến 1939 thì phải tự đóng cửa vì không đủ tài chính.

Phan Khôi làm báo trước hết để tiếp tục theo đuổi một cách công khai chủ trương khai dân trí thuở Duy tân. Dĩ nhiên, dân ở đây, trước hết là người có học, như tiêu ngữ trên tờ báo của ông “Ai có học phải đọc Sông Hương“. Bằng ngòi bút của mình, Phan Khôi đã đấu tranh bền bỉ cho các quyền của người dân, nhất là quyền tự do, dân chủ. Quan trọng là các quyền này với Phan Khôi phải minh bạch, chính đáng. Có lẽ vì thế mà có dạo trên Sông Hương, Phan Khôi phản đối một số tờ báo khác làm đơn xin được tự do ngôn luận. Ông cho rằng đã xin thì không còn tự do nữa. Tự do ngôn luận phải là một quyền, nghĩa là được thừa nhận công khai, bằng luật pháp. Phan Khôi đề cao luật pháp, như một thành tựu của văn hóa phương Tây. Đề cao văn hóa phương Tây, Phan Khôi chống lại các thành kiến cổ hủ của văn hóa Đông Á trong đó có Nho giáo, đặc biệt là Tống nho. Ông phê phán kịch liệt quan niệm trinh tiết, lật ngược lại cái nhìn về Võ hậu, kêu gọi giải phóng phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến. Để xây dựng một văn hóa mới, hiện đại, Phan Khôi còn viết nhiều về lịch sử, văn học, Việt ngữ… Ở lĩnh vực nào hầu như ông cũng là người đi tiên phong, như mở đầu cho Thơ Mới bằng bài “Tình già”, đặt viên gạch đầu tiên cho nghiên cứu Việt ngữ, đi trước Tự lực Văn đoàn về giải phóng phụ nữ… Có lẽ, vì tồn tại chủ yếu với tư cách là một nhà báo, nên Phan Khôi chỉ là người đặt gạch chứ chưa phải là người xây nhà. Nhưng, cũng với tư cách một nhà báo, Phan Khôi đã để lại một sự nghiệp viết đồ sộ, không chỉ ở nội dung viết, mà còn ở cách viết. Không giống các nhà báo khác, ông không chạy theo việc mô tả sự kiện, mà chỉ chú ý đến những vấn đề xã hội hoặc văn hóa đằng sau sự kiện đó. Các bài báo của ông, bởi thế, đều có tính chất khám phá, tranh luận, phê phán ở chiều sâu học thuật. Mỗi bài báo của ông là một Essai thực sự. Một thể loại mở, giàu tính lý thuyết và tinh thần phê phán.

Như vậy, Sông Hương là đỉnh cao sự nghiệp văn học của Phan Khôi, đỉnh cao của sự độc đáo Phan Khôi cả ở tư duy, ngôn ngữ, lẫn cách thế: trình độ Hán ngữ, Pháp ngữ, Việt ngữ rất cao, sự sùng bái tư duy logic, lối ứng xử minh bạch và bộc trực. Một sự cuội kết lạ lùng, có một không hai, Đông Tây kim cổ. Có được như vậy, theo tôi, Phan Khôi đã phát huy đến tột cùng loại hình/ người văn hóa ở/ của ông: nhà nho Tây học. Xã hội Việt Nam cho đến bấy giờ, do sự phát triển gối tiếp chứ không phải nối tiếp, đồng tồn nhiều loại hình/ người văn hóa như nhà nho , nhà nho duy tân, nhà nho Tây học, trí thức Tây học nho hóa, trí thức Tây học. Nhà nho cũ thì đã hết thời. Nhà nho duy tân cũng chỉ tồn tại một vài tượng đài như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Trí thức Tây học nho hóa, mà tiêu biểu là Phạm Quỳnh thì từ 1932 đã bỏ Nam phong vào Huế làm thượng thư bộ Học. Trí thức Tây học thì còn đang trên đà phát triển. Chỉ còn nhà nho Tây học là đã đạt đến độ viên mãn. Nhất là Phan Khôi.

Nhà nho Tây học là một từ tổ gồm một danh từ nhà nho và một hình dung từ Tây học, trong đó nhà nho là chủ, còn Tây học là khách, mà khách là để nhận biết chủ. Thông thường hai yếu tố trái ngược nhau này sẽ tạo ra sự khắc chế, kìm hãm lẫn nhau, nhưng ở Phan Khôi, ngược lại, nhà nho và Tây học lại gắn kết với nhau và thúc đẩy nhau phát triển đến đỉnh điểm. Nhà nho đề cao tính, đề cao phận vị, nên chỉ phát triển nhân cách,mặt xã hội của con người. Người có nhân cách là người làm tròn bổn phận xã hội của mình, người có đóng góp cho xã hội. Nhân cách, đặc biệt là nhân cách Nho giáo bịt kín mọi lối phát triển cá nhân, chỉ cho phép nhà nho tự thể hiện mình ở hai ngả là đạo đức và học vấn. Nhờ đó, nhiều người chẳng những đạt đến một trình độ đạo đức, hoặc học thức rất cao, mà còn thể hiện một cá tính hết sức đặc biệt. Về đạo đức và học vấn, Phan Khôi đã phấn đấu quyết liệt để từ nhà nho cổ điển (đi thi Hương) thành nhà nho duy tân (theo Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu), rồi thành một nhà nho Tây học đầy cá tính. Người trí thức Tây học thì ưu tiên phát triển cá nhân, coi cá nhân là một giá trị tự thân. Con người cá nhân không chống lại xã hội, mà chỉ chống lại đám đông, cộng đồng, tập thể. Nó đấu tranh để có một xã hội dân chủ, pháp quyền để cá nhân tự do phát triển hết năng lực của mình. Bước vào thời hiện đại, cái tôi của người trí thức Tây học thì nghiêng về chủ nghĩa lãng mạn, còn cái tôi duy lý của nhà nho Phan Khôi thì nghiêng về chủ nghĩa duy lý. Tuy chưa trở thành một cá nhân hiện đại, nhưng ý thức cá nhân rất cao ở nhà Tây học gặp gỡ với nhân cách cũng rất cao của một nhà nho đã làm cho Phan Khôi trở thành một con người mạnh mẽ, xuất chúng, điển hình của một thời.

Tuy nhiên, khi thời của loại hình nhà nho Tây học đã qua, thì ở Phan Khôi nhà nhoTây học, hay xét từ phương diện tâm lý – văn hóa là nhân cáchcá nhân, không còn hòa hợp với nhau như trước đây để tạo thành thể nhất quán nữa, mà rã ra thành hai yếu tố, nhiều khi khuynh loát lẫn nhau, tranh chấp nhau. Phan Khôi như bị mất đi cái sức mạnh nguyên ủy của mình, ông trở nên phân vân, hoài nghi và hay nói đến tuổi tác, nghỉ ngơi, dưỡng già. Đây chính là tâm trạng của Phan Khôi sauSông-Hương lúc ông phải về sống ở Bảo An quê nhà. Tuy thế, ở ông, vẫn còn một nhất quán khác là giữ vững một thái độ độc lập kiên quyết không tham gia vào các hoạt động chính trị. Khi Nguyễn Bá Trác, bạn học cũ, vận động ông ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, khi Phan Bá Lân, cháu gọi ông bằng chú, thuyết phục ông tham gia Quốc dân đảng, kể cả khi Phan Thao, người con trai trưởng của ông, đề nghị ông vào Việt Minh, Phan Khôi đều kiên quyết từ chối. Nhưng rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Trong hoàn cảnh không thể làm kẻ ngoài cuộc được nữa, Phan Khôi thấy theo Việt Minh là hơn cả, vì ít ra Việt Minh, theo ông nghĩ, cũng là một mặt trận chứ không phải là một đảng phái. Ông bèn theo bạn bè văn nghệ “đi về phía Việt Bắc”.

Những năm đầu kháng chiến, mặc dù gian khổ, nhưng vẫn hào hứng, vui vẻ trong bầu khí dân chủ. Bản thân Phan Khôi làm việc ở Đoàn Văn hóa Kháng chiến, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn hăng hái tham gia chiến dịch. Nhưng từ 1949 trở đi, nhất là sau “chỉnh huấn chỉnh phong”, tinh thần dân chủ ấy không còn. Người ta bắt đầu phân biệt người của “Đoàn thể” với người ngoài “Đoàn thể”, Đảng viên với quần chúng, cấp trên với cấp dưới. Những người đã từng quen biết nhau, thậm chí bạn bè nhau, mấy chục năm qua, bỗng trở nên xa lạ. Có một khoảng cách nào đó giữa người với người. Phan Khôi, hơn ai hết, cảm thấy điều ấy một cách rõ rệt. Là người suốt đời muốn độc lập với chính trị, cuối cùng Phan Khôi vẫn bị chính trị vây khốn. Ông biết mình chỉ là một con ốc nhỏ trong một cỗ máy lớn. Trong hai yếu tố làm nên con người ông, thì cá nhân bị thủ tiêu, hay đúng hơn bị đẩy lui vào bên trong và bị giam giữ ở nơi yên lặng, không có tiếng nói. Nhưng nhân cách thì vẫn còn, vì con người nhà nho ở ông không mất đi đâu cả, trong khi ở một số trí thức Tây học khác thì mất cả hai: cá nhân lẫn nhân cách. Hẳn để bảo vệ nhân cách, nên dù trong bất cứ trường hợp nào ông đều làm tròn bổn phận và nghĩa vụ của mình, nhất là “nghĩa vụ” im lặng, không nói. Phan Khôi lao vào nghiên cứu Việt ngữ và dịch Lỗ Tấn. Một công việc dường như chẳng ăn nhập gì với thời cuộc, nhưng lại giúp ông giữ vững được tiết tháo và, quan trọng hơn lý do tồn tại. Vì thế, khi lấy cớ lý do sức khỏe, người ta muốn “ưu tiên” ông không phải làm gì cả, thì ông nhất định không chịu. Hơn nữa với ông, ăn lương mà không làm việc là bất lương. Một kỳ quặc nữa là khi không được/ bị gọi đi học chỉnh huấn, cũng vì lý do bệnh tật, Phan Khôi vẫn tình nguyện đi, một mặt để trải nghiệm thêm, mặt khác hoàn thành nghĩa vụ của người đi kháng chiến. Nhưng, càng ngày ông càng cảm thấy cô đơn và buồn: “Tuổi già thêm bệnh hoạn,/ Kháng chiến thấy thừa ta./ Mối sầu như tóc bạc,/ Cứ cắt lại dài ra.” (Hớt tóc trong bệnh viện quân y). Tuy nhiên, Phan Khôi, như ông vẫn tự nhận, là một thứ Hồng gai vừa có hoa vừa có gai, chứ không phải loại hoặc chỉ có hoa, nhạt loét, hoặc chỉ có gai… Bởi thế, khi hòa bình trở lại, Phan Khôi cùng một số văn nghệ sĩ và các giáo sư đại học tham gia vào phong trào Nhân văn Giai phẩm.

Nếu nhìn Nhân văn Giai phẩm như một trào lưu văn nghệ do các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu từ kháng chiến trở về đấu tranh để có một không gian tự do hơn cho sáng tạo, thì việc Phan Khôi tham gia vào phong trào này là một điều tự nhiên, tất yếu. Một con người có nhân cách của một sĩ phu có khí tiết/ tiết tháo, một cá nhân tự dochính trực lại có đầu óc logic, biết xét đoán, chống công thức, thích đặt lại vấn đề, thích cái mới, hơn nữa chính mình chứng kiến những điều khuất tất của vụ giải thưởng văn học 1954 – 1955, như Phan Khôi thì không thể làm khác được. Ông tìm ra cái gốc của vấn đề văn nghệ là ở lãnh đạo, bởi thế ông đã viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, cũng bởi thế ông không trách những người lập ra Giai phẩm, bởi theo logic có nhân ấy thì mới có quả ấy. Thậm chí ông còn tham gia viết bài cho họ. Từ việc tham gia viết bài đến việc nhận làm chủ nhiệm tờ Nhân văn, tôi nghĩ, là một việc làm có ý thức, tuy Phan Khôi còn ít nhiều băn khoăn về cách làm báo không theo quy củ của Lê Đạt, Trần Dần cũng như những cách tân thơ của họ, hoặc xu hướng thiên về các vấn đề chính trị của Nguyễn Hữu Đang. Bởi thế, tôi không đồng với ý kiến Lê Đạt cho rằng hành động nhận lãnh chủ nhiệm Nhân văn của Phan Khôi chỉ như một nghĩa cử, một đứng ra gánh vác việc chung của người quân tử, hoặc đa số ý kiến của những người trong gia đình, hoặc những người yêu mến Phan Khôi (hẳn vì muốn minh “oan” giúp ông), cho rằng ông đã ngây thơ về chính trị, thậm chí ông bị lừa. Phan Khôi là một người trách nhiệm, trước với bản thân sau với xã hội. Đừng hạ thấp ông dù vì một lý do “chính đáng” nào.

Con-người-trách-nhiệm-Phan-Khôi này được bộc rất rõ trong bài thơ “Nắng chiều”:

Nắng chiều đẹp có đẹp.

Tiếc tài gần chạng vạng,

Mặc dù gần chạng vạng,

Nắng được thì cứ nắng.

Và Phan Khôi đã nắng lên được bằng thứ nắng quái chiều hôm. Một lần nữa, nhất quán với bản thân mình, Phan Khôi lại chuyển từ chính trị sang văn hóa, nhưng lần này không phải vì ông làm chính trị, mà nhằm thoát khỏi chính trị, để trở thành một nhà văn hóa thực sự. Sống trong một đất nước chính trị, cuộc sống của Phan Khôi, vì thế, không thể không tránh khỏi hệ lụy, kể cả cái chết và những cái sau-chết. Tuy vậy, cái bước chuyển từ chính trị sang văn hóa mà ông thực hiện luôn sống lại ở những thế hệ kế tiếp để trở thành một con đường, thậm chí đường lớn./.

 

%d bloggers like this: