Lưu trữ | THƠ ĐƯỜNG&XƯỚNG HỌA RSS feed for this section

GIẶC HỮU NGHỊ !!! – NH

30 Th11

 

GIẶC HỮU NGHỊ !!!

Hữu nghị làm chi thứ viễn vông
Lòng dân oán hận tủi cha ông
Nam Quan Bản Giốc về phương Bắc
Hải đảo Hoàng-Trường mất biển đông
Bành trướng bá quyền thâm máu Hán
Tham tàn xâm lược sặc mùi ngông
Ngàn năm đô hộ gương còn bóng
Sao rước giăc về xéo Tổ tông?!


NH

ĐU CÁP

2 Th10

 

Lãng mạn hay là cười khóc đây
Qua sông người “ngựa” được đu dây
Ló khôn chịu trận qua thời khó
Kéo cáp liều thân vượt bến dài
Nước cuộn: tử thần toan bắt đấy
Người rằng: sinh mệnh chỉ cầu may
Phải chi đầy tớ thương ông chủ
Đến nỗi nào đâu có cảnh nầy !!!

Nguyên Hải

hình từ fb: Lê Nguyễn

10570297_338854776270718_442686111821333721_n

xướng – họa DIỆT NGOẠI XÂM – fb Da Na

9 Th5

DIỆT NGOẠI XÂM
(Ngũ độ Thanh)
(ntd-mltn 273)

Từng trang sử Việt đã ghi nầy
Đuổi lũ hung tàn giậm nát thây
Thuở nọ cài chông trừng cõi bắc
Năm nào dựng lửa quét trời tây
Thề dâng máu đỏ cờ tô vẽ
Nguyện xả thân vàng lũy đắp xây
Triệu khối tình riêng còn mãi gửi
Người đi giữ nước tuổi xuân đầy

ntd

HỌA Y ĐỀ

Bành trướng mưu toan chiếm biển nầy
Thế thời lo liệu dám nào thây…
Lê Chiêu sai nước vùi xương máu
Tự Đức nhầm đường rước giặc Tây
Thừa buổi tranh quyền Âu – Á chọi
Chọn cờ liên thủ đó – đây xây
Ra oai chém gió nghe mà dễ
Thử gọi tòng quân, núp cũng đầy.

NH

 

XÂY TỔ QUỐC

(Ngũ độ Thanh)

(ntd-mltn 1324)

 

Hỡi bọn sài lang cướp của nầy

Quay về mới đặng giữ toàn thây

Người Nam đảm lược trừ quân Bắc

Đất Việt oai hùng đuổi lũ Tây

Bỏ sức muôn đời thơm nghĩa dựng

Ghi lòng vạn thuở ấm tình xây

Tài trai hiến tặng nào đâu quản

Gái giỏi thuyền quyên lẫm liệt đầy

images

Kha Tiệm Ly: GỞI TỐNG GIANG

28 Th7

GỞI TỐNG GIANG

(Kính gởi DU PHONG) 

 

Ngựa hồng chưa nản bước chân bon

Chí đặt non cao  há chịu mòn

Sọt rác quăng đi trò lếu láo        

Tai  trung vứt bỏ chuyện con con      

Đã không ham chút tiền tài bẩn

Thì dễ gì cong ngọn bút son?

Kiếm báu thở dài trong hốc đá,

Đêm đêm còn mộng đỉnh Lương Sơn 

 

Kha Tiệm Ly


KHA TIỆM LY

99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang

Tel: 0987  701  952   –   01229  880  130

Email: khatiemly@gmail.com

KHÓC CỐ NHÂN (2)

4 Th5

  

KHÓC CỐ NHÂN (2)

 

Trăm nhớ ngàn thương giữ lại đây

Đong đi đong lại mấy vơi đầy?

Hương xưa vẫn thoảng trên nền gối,

Tóc rối còn vương kẽ lược cài.

Ánh lửa vội tàn khung bếp lạnh,

Hơi men thêm đậm chất tình say.

Đèn khuya vàng vọt, sầu tê tái,

Rượu cắn môi mềm, rượu vẫn cay!

 

Kha Tiệm Ly 

 

PHIẾM BÀN VỀ HOÀNG HẠC LÂU (Nguyễn Đại Hoàng) – Blog Anh Vũ

21 Th3

PHIẾM BÀN VỀ HOÀNG HẠC LÂU (Nguyễn Đại Hoàng)

 
Hôm nay, xin giới thiệu với các bạn một bài viết khác của anh NĐH, một bài mà tôi cho rằng không cần lời dẫn, dù tôi đã từng được anh NĐH khen là viết lời dẫn rất duyên dáng (!) – một lời khen mà tôi nghe xong thì rất thích! 🙂

Sở dĩ hôm nay tôi không dám viết lời dẫn là bởi vì bài viết ở dưới rất hay rồi, viết lời dẫn vào đấy thì e rằng nó không làm cho hay hơn mà sẽ làm hỏng bài viết đi. Nên thôi, cứ để các bạn tự cảm nhận, thưởng thức.

Nói thêm một câu: Blog này của tôi hình như đang dần trở thành nơi để đăng bài của anh NĐH thì phải! 🙂 Vì anh NĐH viết rất đều và rất nhiều, mà đa số toàn là bài hay cả. Còn tôi thì tùy hứng, lúc cao hứng thì viết nhiều nhưng nếu không có hứng thì đành để cho blog … “man mác muôn đời mây trắng bay” thôi! (Ai không biết câu trích dẫn là ở đâu ra xin đọc bên dưới nhé.)

Enjoy!
———————

PHIẾM BÀN VỀ HOÀNG HẠC LÂU
Thôi Hiệu là một nhà thơ thuộc vào loại nổi tiếng nhất Trung Quốc từ xưa tới nay. Và bài thơ làm nên tên tuổi của ông chính là bài Hoàng Hạc Lâu. Tương truyền rằng khi Lý Bạch đến chơi Hoàng Hạc Lâu, thấy bài thơ này của Thôi Hiệu đề trên vách, bèn vứt bút không làm thơ nữa !

Bài ấy như sau :
黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

Hoàng Hạc Lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Dịch nghĩa
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,(2)
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương (3) rõ mồn một
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ (4) mơn mởn xanh tươi
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

Ghi chú:
(1) Ở phía tây nam thành Vũ Xương
(2) Tục truyền Phí Văn Vĩ thành tiên, thường cưỡi hạc về nghỉ ở Hoàng Hạc lâu
(3) Một địa điểm bên sông Dương Tử tỉnh Hồ Bắc
(4) Khu bãi bến khúc sông thuộc Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc
Bài này người Tây cũng có dịch khá nhiều . Cụ thể là hai bản dịch sau đây :

Bản Tiếng Pháp:
Le Pavillon de la Grue Jaune
Monté sur une grue jaune, jadis, un homme s’en alla pour toujours;
Il ne resta ici que le Pavillon de la Grue Jaunẹ
La grue jaune, une fois partie, n’est jamais revenue;
Depuis mille ans les nuages blancs flottent au ciel, à perte de vuẹ
Par temps clair, sur le Fleuve, on distingue les arbres de Han Yang;
Sur l’Ile des Perroquets, les herbes parfumées forment d’épais massifs.
Voici le soir qui tombẹ Où donc est mon pays natal ?
Que la brume et les vagues sont tristes sur le Fleuve!

P. Demiéville (Anthologie de la poésie chinoise classique, Gallimard, Paris, 1962)

Bản Tiếng Anh:
Home Longings
Here a mortal once sailed up to Heaven on a crane,
And the Yellow-Crane Kiosque will for ever remain;
But the bird flew away and will come back no morẹ
Though the white clouds are there as the white clouds of yore.
Away to the east lie fair forests of trees,
From the flowers on the west comes a scent-laden breeze,
Yet my eyes daily turn to their far-away home,
Beyond the broad River, its waves, and its foam.

H. A. Giles (Chinese poetry in English verse, London, 1898)

Ở Việt Nam có khá nhiều bản dịch Hoàng Hạc Lâu, trong đó có những tên tuổi như Ngô Tất Tố, Vũ Hoàng Chương, Trần Trọng Kim … nhưng bản dịch của Trần Trọng San và Tản Đà là được nhắc đến nhiều hơn cả.

Bản dịch của Ngô Tất Tố
Người xưa cưỡi hạc đã cao bay,
Lầu hạc còn suông với chốn nàỵ
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn,
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ baỵ
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng,
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dầỵ
Trời tối quê hương đâu tá nhỉ ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.

Bản dịch của Vũ Hoàng Chương:
Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một mầu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống, đâu quê quán ?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi !

Bản dịch của Trần Trọng Kim:
Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.

Bản dịch của Trần Trọng San:
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

Và cuối cùng là bản dịch của Tản Đà:
Lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Bình & Tạm kết:
1. Tôi biết bài thơ này từ nhỏ. Quê tôi vùng sông nước, nhà sát bên một ngôi cổ tự, nên thường được nghe sư cụ ngâm nga giảng giải nào là Đề Tích Sở Kiến Xứ, Phong Kiều Dạ Bạc, Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ…và Hoàng Hạc Lâu !

Đến hồi lên trung học tôi cũng thường được nghe các thầy Nguyễn Khắc Trừng, Hạc
Thành Hoa bình luận về Thôi Hiệu và Hoàng Hạc Lâu nên càng mê lắm. Cũng đôi lần tôi vỏ vẻ dịch làm chơi nhưng đem khoe sư cụ, thấy thầy đọc xong mà cười ha hả là biết kết quả rồi ! Thầy thường chỉ đọc thơ bằng chữ Hán Việt hơn là các bài dịch ra Tiếng Việt, thí dụ :
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung

Hay :
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du

Tôi hỏi thì thầy nói các bản dịch không toát được cái thần thái ý tứ của bài thơ. Mà tôi
nghiệm ra cũng thấy có lý. Bài Hoàng Hạc Lâu này chẳng hạn, ngoại trừ bài dịch của
Tản Đà, và phần nào đó là bản dịch của Trần Trọng San, còn mấy bản dịch kia có vẻ khá gượng ép, miễn cưỡng. Thí dụ trong bản dịch của các cụ nói trên thì ngay câu đầu tiên tôi thấy đã có phần không ổn.

Bản dịch của Ngô Tất Tố: Người xưa cưỡi hạc đã cao bay – thì hai chữ cao bay dễ làm
cho ta liên tưởng tới cụm từ cao bay xa chạy – vốn không có ý nghĩa tốt đẹp lắm.

Bản dịch của Vũ Hoàng Chương : Xưa cánh hạc bay vút bóng người.Trong câu này chữ bay vút theo tôi là hỏng !

Bản dịch của Trần Trọng Kim : Người đi cưỡi hạc từ xưa. Trong câu này nếu đặt lại
thành cưỡi hạc người đi thì nghe còn được. Chứ nếu như vậy thì đã đi lại còn cưỡi nữa !

Bản dịch của cụ Trần Trọng San thì khá mẫu mực nhưng tôi đọc không thấy cảm xúc như bản dịch của Tản Đà, dù cụ này dịch ra theo thể lục bát. Thế nhưng chính bài dịch của cụ Tản Đà cũng phải chịu nhiều lời phê bình trái ngược nhau !

Điều đó có nghĩa là Hoàng Hạc Lâu vẫn còn là bài thơ chờ người dịch.

2. Mấy chục năm sau trở lại chùa xưa thăm mộ thầy, mộ thì hiu hắt còn chùa xuống cấp không còn ai tu. Chú tiểu năm xưa lên làm trụ trì. Không biết chữ Nho, cũng không ham thích thơ văn, nên tủ sách của thầy tôi mối xông gần hết. Tôi phải xin vào dọn dẹp bảo quản. Và tôi không kìm được nước mắt tìm lại được những bài tập viết, những bài dịch thơ chữ Việt, chữ Nho của tôi thuở trước. Thầy tôi để trong một cái túi vải lại có bọc nilon dày thành ra còn gần như nguyên vẹn. Thế mà thầy đã đi rồi. Không bao giờ trở lại.

3.Đêm đó tôi ở lại chùa, với rất nhiều cảm xúc và đau lòng, và thật là bất ngờ là tôi đã
dịch xong được bài Hoàng Hạc Lâu.- điều mà những năm thanh xuân tôi không bao giờ làm được. Bấy giờ là nửa đêm ngày 25 tháng 8 Âm Lịch năm 2008. Tính ra đã hơn 4 năm, hôm nay xin mạo muội giới thiệu cùng quý vị :

Lầu Hoàng Hạc
Cưỡi hạc người đi từ vạn thuở
Để lầu Hoàng Hạc đứng trơ đây
Ngàn năm mây trắng chẳng thôi bay
Muôn kiếp hạc vàng không trở lại
Anh Vũ cỏ xanh thơm ngoài bãi
Hán Dương cây trải bóng ven sông
Quê hương chiều lữ thứ mênh mông
Khói sóng trường giang buồn tịch mịch.

Nguyễn Đại Hoàng
3/2013
———-
PS1: Các bạn có thấy trong bài thơ có từ Anh Vũ, và từ này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các bản dịch không? Anh Vũ, tên của blog này, là tên và họ của tôi, và cũng là bút danh hồi còn trẻ nữa. Và một trong những lý do tôi lấy bút hiệu Anh Vũ cũng là vì bài thơ này đấy. Tôi rất mê bản dịch của Tản Đà, dù cho có ai nói gì đi nữa!

PS2: Câu nhận xét của tôi ở trên (“blog này dần thành nơi đăng bài của anh NĐH thì phải”) chỉ là một nhận xét có tính đùa vui, vì tên của blog là bloganhvu thì lẽ ra phải đăng bài của Anh Vũ. Nhưng khi đọc lại tôi mới thấy hình như nó có thể được hiểu rằng tôi đang than phiền anh NĐH đăng nhiều quá trên blog này? Nếu vậy, xin được làm rõ: tôi viết câu đó với ý “hàm ơn” vì anh NĐH đã ưu ái gửi bài cho tôi đăng, để blog không bị “buồn tịch mịch” thôi.

Mà quả đúng vậy, từ ngày có bài đều đặn – mà nhiều bài của anh NĐH – thì bloganhvu thu hút được nhiều độc giả hơn nhiều. Nên bây giờ bloganhvu sẽ được hiểu là blog để đăng bài của Anh Vũ và bạn bè của AV, các bạn nhé!

PS3: Đăng bài này lên được mấy ngày thì tôi nhận được comment của anh Xuân Lộc giới thiệu một bài viết khác cũng bàn về chính bài thơ này. Thú vị hơn là trong entry của anh có thêm mấy bản dịch khác, trong đó có cả bản dịch của GS Nguyễn Huệ Chi, tác giả của bài bình thơ ấy. Chép luôn lên đây để lưu và để mọi người cùng so sánh, thưởng thức luôn!

Nói thêm: Tôi rất thích bản dịch của Vũ Hoàng Chương, một bản dịch mà như anh XL nói, thật đầy tâm trạng. Đặc biệt, 2 câu cuối cùng của bản dịch của VHC làm tôi nhớ một câu thơ mà chính tôi đã dịch cho bài thơ Le Mirabeaux và đã đăng blog này trước đây.

Câu của VHC như thế này:

“Gần xa chiều xuống đâu quê quán/Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi”.

Còn câu của tôi – tất nhiên, tôi xách dép cho VHC cũng chẳng được, mặc dù … là bà con, cùng họ Vũ mà! – sao tôi thấy cũng có chút gì hao hao, mà hoàn toàn trùng hợp ngẫu nhiên, không đạo văn gì cả vì hôm nay tôi mới biết bản dịch này của VHC:

“Đời mệt nhoài, tình xa vời vợi/Dữ dội chi tiếng sóng lòng ơi!”ư

Thơ, đúng là một nơi trú ẩn của cho tâm hồn mệt mỏi của chúng ta, phải không các bạn. Thì, tôi đã từng nói rồi còn gì: Nơi trú ẩn của tôi/Là thơ đấy …

————

Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục 
Người tiên xưa cưỡi Hạc vàng cút,
Ở đây chỉ những lầu hạc trơ,
Hạc vàng đã cút chẳng về nữa,
Mây trắng ngàn năm còn phất phơ.
Sông bọc Hán Dương cây xát xát,
Cỏ tiên Anh Vũ bãi xa xa.
Ngày chiều làng cũ đâu chăng tá?
Mây nước trên sông khách thẫn thờ !(1)

Nguyễn KhuêCưỡi hạc người xưa đi đã lâu,
Còn đây Hoàng Hạc chỉ trơ lầu,
Hạc vàng biền biệt từ xưa ấy
Mây trắng lững lờ đứng mãi sau.
Sông lạnh Hán Dương cây lắng bóng,
Bãi thơm Anh Vũ cỏ tưoi màu.
Chiều buồn quê cũ nơi nào nhỉ?
Khói sóng trên sông giục khách sầu.
Khương Hữu Dụng
 Ai cưỡi Hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi
Hạc vàng một đi đã đi biệt
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ cỏ xanh ngời,
Hoàng hôn về đó,quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.
 
Vũ Hoàng Chương
Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Đây Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi,
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu,
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi,
Gần xa chiều xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi.

 
Và cuối cùng là …

GS Nguyễn Huệ Chi

 Hạc vàng người trước cưỡi đi rồi
Lầu trống còn tên Hoàng Hạc thôi,
Một thuở hạc vàng không trở lại,
Nghìn năm mây trắng vẫn đang trôi.
Hán Dương cây đứng soi sông sáng,
Anh Vũ cỏ non biếc bãi bồi.
Chiều tối quê hương nhìn chẳng thấy
Trên sông khói sóng dạ bồi hồi.
 

9 nhận xét:

  1. Về phần PS: “Anh Vũ” chỉ được tả một lần trong câu 5 HHL thôi (đâu có “nhắc đi nhắc lại” trong bài thơ ?).

    Bản dịch thơ của NĐH thực ra là thơ tự do, không theo thể nào cả, mặc dù số lượng từ ngữ, câu theo thể thất ngôn bát cú..

    Trả lờiXóa

  2. Chào anh GNLT:

    Trời, anh đúng là thầy giáo ngữ văn, bắt bẻ ai là trúng phóc luôn! Nhưng xin được “trình bày” lại anh nhé: tôi viết là “bài thơ có từ AV được nhắc đi nhắc lại” – ý nói trong bài thơ này có từ Anh Vũ và từ ấy được nhắc đi nhắc lại trong entry này vì bài thơ được dịch nhiều lần khác nhau thôi mà. Nói cách khác, không có bản dịch tiếng Việt nào là không dùng từ Anh Vũ, mặc dù trong bản tiếng Anh thì từ này không còn! Vậy thôi anh GNLT ạ.

    Xóa

     
     
  3.  
     
     
  4. NGUYỄN ĐẠI HOÀNG15:11 Ngày 20 tháng 3 năm 2013

    Nguyễn Đại Hoàng : Vâng – tôi chỉ nói tôi ” dịch ” xong được bài HHL thôi, chứ không nói bài dịch đó theo thể Thất Ngôn Bát Cú. Cũng như hai cụ Trần Trọng Kim và cụ Tản Đà đã dịch ra theo thể Lục Bát vây. Xin nói thêm rằng tháng 6/2010 tôi cũng có một bản dịch HHL theo thể Thất Ngôn Bát Cú – xin được giới thiệu vào dịp tới. Trân trọng.

    Trả lờiXóa

  5. Anh NĐH ơi,

    Rất mong sớm được đọc bài HHL theo thể thất ngôn bát cú của anh.

    Nói thêm: là dân ngoại đạo, tôi chẳng biết thế nào là thất ngôn bát cú đâu, chỉ biết là nó có luật lệ bằng trắc vv nghiêm chỉnh lắm. Tìm google thì có thể cũng ra, nhưng cũng có thể càng sai lầm hơn nữa và bị mắc vào lỗi đoán mò, nên tôi nghĩ tốt nhất là hỏi người có nghề, và nếu có ai chỉ cho biết thì tôi sẽ rất biết ơn, thật vậy.

    Xóa

     
     
  6.  
     
     
  7. GN.lãng tử xin bổ sung một tý: Lý Bạch có lần du ngoạn đến lầu Hoàng hạc, đọc bài thơ, và chỉ đề hai câu thơ ở dưới:

    “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
    Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”.
    (trước mắt có cảnh đẹp mà không viết ra được/Thôi Hiệu đã đề thơ trên đầu rồi).

    Lãng tử trộm hiểu rằng: Lý Bạch phác thảo cái tứ thơ xong mới đọc thấy bài thơ Thôi Hiệu và thấy trùng ý ngẫu nhiên với mình nên ông không thể viết được nữa. Nếu ý tứ LB khác hẳn với Thôi Hiệu thì ông vẫn viết ra được một bài đàng hoàng…Nhưng thú vị là ông để lại hai câu thơ coi như lời phê bình thưởng thức, cũng lưu truyền hậu thế cùng với HHL.

    Trả lờiXóa

     
     
  8. Cám ơn nữ sĩ Phương Anh về bài viết,liên quan đến bài thơ bất hủ này,Xuân Lộc tôi cũng rất thích bài viết của giáo sư Nguyễn Huệ Chi mà tôi đã đăng trên Mảnh vườn tự tình của Xuân Lộc,mời bạn ghé tham khảo thêm nhé,nó ở đây :
    http://thaianco.net/xuanloc/binhtho/hoanghaclau.htm

    Trả lờiXóa

  9. Tôi đọc bài viết của anh rồi, thấy thú vị lắm, bài thơ dịch cũng hay nữa. Mặc dù chẳng rõ là bài thơ của anh có bị/được GNLT xăm xoi về niêm luật hay không! Đối với tôi, một kẻ ngoại đạo, thì có hề gì, miễn là bài thơ dịch đã chở được tâm trạng của dịch giả trong khi dịch. Đối với tôi, đó mới là điều đáng quan tâm nhất anh XL nhỉ.

    Xóa

     
     
  10.  
     
     
  11. Ồ không,tôi mới là kẻ ngoại đạo,chưa giám động bút dịch bài thơ này đâu chị ạ,chỉ đăng lại bài viết của giáo sư Nguyễn Huệ Chi thôi.

    Trả lờiXóa

  12. Cám ơn anh XL đã nhắc; tôi đọc xớn xác, không nhìn tên tác giả bài viết, cứ đinh ninh đó là anh! Tôi đã sửa lại ở trên rồi.

Chùm thơ Đường NGÃ DU TỬ

6 Th12

Chùm thơ Đường NGÃ DU TỬ

1.THIÊN ẤN NIÊM HÀ

         lưu lạc nhiều năm khắp đất trời
         quê nhà biền biệt chẳng tăm hơi
         mây vươn đỉnh biếc chiều xuân hẹn
         trăng rụng dòng trong sóng nước khơi
         CỔ LŨY CÔ THÔN mùa lúa trĩu
         NIÊM HÀ THIÊN ẤN tứ thơ rơi
         ngày nay Du tử về quê quán
         thảo mấy bài thơ để tặng đời 
                                           

2.THIÊN BÚT PHÊ VÂN

         điểm lại chữ tâm bằng viết lông
         trăm năm soi xét gánh tang bồng
         bút trời cặm cụi mây tô rựng
         mực ngọc ung dung thảo mấy dòng
         chốn cũ rợp đường tà áo lụa
         đồng xanh lộng gió ngọn nghinh phong
         PHÊ VÂN THIÊN BÚT ta còn nợ
         đất mẹ quê cha trọn tấm lòng 
                                              

 

 3. CỔ LŨY CÔ THÔN
    
             gió lùa mây lợp phía trời biên
             cao hứng về ngang đậu cuối triền
             mặt nước lặng lờ soi dưới bến 
             dáng ai vàng võ bước qua thềm
             làng xưa thôn lạnh sầu mắt ứa…
             ngày mới Em buồn ngóng nước lên
             về lại CÔ THÔN thăm CỔ LŨY
             lòng tôi đau đáu biết bao niềm 
                                 

 4.THẠCH BÍCH TÀ DƯƠNG
  
            ngày xuân vàng rựng bóng non tà
            soi bắp ven sông rợp sắc hoa
            cố quận làng văn tìm bạn cũ
            đô thành khách đạo ngóng tình ngà
            thanh bình THẠCH BÍCH TÀ DƯƠNG nhuộm
            lãng đản Nghĩa Hành ánh nguyệt ca
            lâu lắm quê nhà ngang trước mặt
            mắt tràn giọt lệ chợt trầm sa 
                                              

5.HÀ NHAI VÃN ĐỘ 
  
             ai đứng bên song rực áo điều
             bóng dài đất mẹ đỗ liêu xiêu
             chiều yên mộng cũ lâng hồn nước
             tim nhớ quê xưa lộng sóng triều
             bến đợi tình neo sao lặng lẽ
             người về nhịp gõ bớt hoang liêu
             nghìn sau ai biết mình tâm sự
             VẢN ĐỘ HÀ NHAI nợ ít nhiều
                                      

  6.LA HÀ THẠCH TRẬN
  
             Tư Nghĩa ta về buổi nắng tinh
             cảnh xưa còn lại mấy hàng binh
             tan tành trận đá ngùi thương tích
             khô khốc đồng ngô tội tráng đinh
             mãnh đất hoang tàn sông cạn kiệt
             cả trời quan tái… dạ yên bình?
             LA HÀ THẠCH TRẬN vàng son cũ
             văng vẳng còn nghe vọng tiếng linh 
                                        

 7.AN HẢI SA BÀN
         
            ôm trọn quê nhà biển rất xanh
            trùng dương vẫy sóng nước xây thành
            một bờ AN HẢI SA BÀN chạy
            hai đỉnh Phượng hoàng mây lượn quanh
            bến mõi thuyền yên say ý vọi
            trời quang gió nhẹ đón trăng vành
            đồi dương cát trắng hồn thơ dậy
            kết ngọc là sương đọng lá cành 
                                       
  
  8.LIÊN TRÌ DỤC NGUYỆT
        
             một vùng biêng biếc mấy tầng mây
             bàng bạc trời sen mặt nước đầy
             hoa trắng lã hồn linh khóm lá
             trăng xuân giăng mộng thức tàn cây
             hồ êm cảnh gợn màu trăng lạ
             chim bạc trời xa mõi cánh gầy
             dù viếng một lần thôi cũng đã
             LIÊN TRÌ DỤC NGUYỆT khói sương vây 
                                        

 9.LONG ĐẦU HÝ THỦY
  
            chiều rọi nghiêng nghiêng sóng nước Trà
            mặt sông lấp loáng nước thành hoa
            ông câu bận rộn xâu tay lưới
            đàn cá tung tăng ngắm nắng tà
            ai thúc trống dồn trong gió lướt
            sông chờ mây gọi phía trờixa
            LONG ĐẦU HÝ THỦY rồng thôi giỡn
            Quảng Ngãi ta về muộn tháng ba 
                                        
                          

 10.THẠCH CƠ ĐIẾU TẨU 
  
            THẠCH CƠ ĐIẾU TẨU nước vờn mây
            đá dựng thành non khéo sắp dày
            đâu đó hoa rừng thơm ngát tỏa
            xung quanh con nước lượn vòng vây
            chim bay về tổ dăm chấm phá
            chiều giấu vào đêm một nét gầy
            ai đó ngồi câu thời vận lỡ
            tháng năm hồn nước nhuộm bờ vai 
                                             

    11.    VU SƠN QUẦN LỘC

      Trùng trùng điệp điệp cả màu xanh
      ồ dãy núi non nắng liếm vành
       Xối xả thác ào tung bọt nước
      Rì rào gió giỡn tắp đồi tranh
      Vài con nai nhảy lùa mây bạc
      Một tiếng lá rơi sóng nước chành
      Ai nhớ VU SƠN QUẦN LỘC nhỉ ?
      Ta còn canh cánh mộng hồn quanh.
                                 

         

 12.    VÂN SƠN TÚC VŨ

      Quê quán bao năm trắng nửa tờ
      Chạnh lòng thi sĩ tỏ vần thơ
      Địa linh anh kiệt vang hồn nước
      TÚC VŨ VÂN SƠN lộng bóng cờ
      Mai mốt ta về gieo đỉnh thực
      Trăm năm người nhớ mẫy cung tơ
      Lời thơ ý nhạc là muôn thuở
      Còn với non sông một chữ chờ.

                                

%d bloggers like this: