Lưu trữ | THƠ RSS feed for this section

SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG – Ngã Du Tử

1 Th1

 

 

Lối thực dụng bỏ quên lời châu ngọc

Bếp trần gian còn ấm chút lửa hồng

Ta nhuốm lại cho đời thêm ấm áp

Để không buồn mai mốt với non sông

 

Ơi, sự thực vắt ngang hồn dân tộc

Hồn quan san chau mặt suốt đêm ngày

Em có trách cũng đành thôi thế sự

Con sông nào không nhận những tầng mây

 

Trăng với nước một thời như ảo mộng

Nên loanh quanh sương khói nhuộm ngang đời

Thương nhật nguyệt cứ bình yên lên xuống

Chân lý lẽ nào là ánh sao rơi

 

Đời sống mãi triền miên theo dòng chảy

Nợ áo cơm siết cổ mộng bình thường

Đâu có hiểu hồn quan san rưng rức

Mơ cả đời sống để yêu thương./.

TRẦM TÍCH XUÂN

 

Bao nhiêu năm trăng mọc một phương

Những ngôi sao thần dân không đổi ngôi

Mặt trời chẳng bình yên soi rọi

Lòng người mang mang như tơ trời

 

Chỉ có Em

Mùa đông đến lại đong đầy nổi nhớ

Khi xuân giục giã tận phương ngoài

Ai ngữa mặt nở cái cười nửa nụ

Ải quan đầy những xa hoa

 

Ta đứng lại nhìn xa tám hướng

Hướng nào cũng mờ bến sông xưa

Nghe lỡ lói bao nổi buồn trầm tích

Mắt môi xưa hong lại tháng năm vừa

 

Khoác vội mùa xuân qua lớp áo

Vàng xanh sặc sỡ khắp làng quê

Có bà mẹ áo nâu, cánh bạc

Ngóng con xa mùa xuân vẫn chưa về

 

Khi mùa đông cáo chung

Ngày xuân nẩy mầm

 

NGÃ DU TỬ

SÀI GÒN

VIẾNG MỘ CHA – NH

19 Th12

VIẾNG MỘ CHA

Dâng hương con viếng mộ Cha
Ngậm ngùi sợi khói nhạt nhòa mi cay
Thắm dòng huyết nhục xưa nay
Chữ tâm chữ hiếu tháng ngày rong rêu

Chạnh lòng se lạnh mây chiều
Âm-dương lặng ngắt quạnh hiu nhà mồ
Thành tâm niệm giữa hư vô
Thái Sơn dưởng dục con nào vong ân

Sinh thời phụ – tử cách ngăn
Nay Cha về cõi vĩnh hằng Tổ Tông
Đời con trèo núi băng sông
Tha phương mỗi bước tím lòng hiếu trung

Con về viếng mộ Lễ không
Chỉ nhành hoa với nỗi lòng nhớ thương !
Lạy cha, khấn nguyện Tổ Đường
Mong người yên nghĩ miên trường thần tiên.

NH

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng

NẾU ĐẤT VIỆT ĐAU THƯƠNG KHÔNG THẤY BIỂN ? – Nguyễn Việt Chiến

3 Th12

 

 

Nếu đất Việt đau thương không thấy biển?
Nếu đất mẹ xót xa không thấy biển?
Biển yêu thương che chở suốt ngàn đời
Hồn dân Việt lắng trong hồn sóng biển
Tiếng dân ca còn mặn muối trùng khơi
Nếu đất Việt rồi đây xa cách biển?
Biển đau thương sẽ dựng sóng ngàn đời
Lời ông cha dặn cháu con muôn thuở
Đem máu xương gắng giữ lấy biển trời

Nếu sông núi ngày mai không gặp biển?
Hồn Vọng phu trên sóng mãi hướng về
Hoàng Sa cát còn trầm vang máu đỏ
Máu Việt mình Trường Sa vẫn lắng nghe

Nếu quê hương nghẹn ngào mồ côi biển?
Đi về đâu những con sóng lạc loài
Đêm mất biển bơ vơ hồn đảo thức
Gọi đất liền cháy bỏng những ban mai

Nếu đất Việt đau thương bị mất biển?
Mây Trường Sơn u uất sẽ thôi bay
Sóng sông Hồng quặn sôi mùa lũ đỏ
Đồng Cửu Long bóng lúa mãi hao gầy

Nếu quê mẹ thân yêu xa vắng biển?
Ta về đâu trên sóng nước quê mình
Khi Tổ quốc như con tàu nhớ biển
Suốt đêm dài thao thức đợi bình minh

Nếu đất nước đau lòng không thấy biển?
Nước trăm sông không còn chảy yên bình
Mẹ Việt Nam ngàn đời không chịu nhục
Con lẽ nào lại từ chối hy sinh

Nếu quê hương yên lành bị mất biển?
Mắt trẻ thơ không thấy sóng dâng trào
Không thấy cát trên ban mai biển biếc
Nắng tự do trên biển ấm khát khao

Nếu sông núi thân thương mồ côi biển?
Tiếng mẹ ru không còn bóng hàng dừa
Không thấy cánh chim chiều về rợp đất
Đêm trăng lên không tiếng gió biển đùa

Nếu đất Việt quặn lòng thương nhớ biển?
Sóng Trường Sa mong đội đá vá trời
Mưa Hoàng Sa bóng thuyền miền lưu lạc
Vẫn ngóng về đất mẹ Việt Nam tôi

Nếu quê mẹ mùa xuân xa vắng biển?
Muối đời cha còn mặn chát sóng lừng
Muối đời mẹ thấm vào từng mất mát
Con lẽ nào sống quay mặt dửng dung

Nếu quê hương mùa hè xa cách biển?
Con cá đau mùa sinh nở tìm về
Con cá giận phận mình sao bèo bọt
Biển ngàn đời không còn chỗ chở che

Nếu đất mẹ mùa thu xa vắng biển?
Mưa Sài Gòn thôi ướt tóc em bay
Thu Hà Nội không thơm màu cốm mới
Phố cô đơn đội một mảnh trăng gầy

Nếu đất nước mùa đông không sóng biển?
Đỉnh Hoàng Liên cô độc giữa sương mù
Hải Vân núi bơ vơ bên đèo tối
Vó ngựa khua thấp thỏm dưới sao mờ

Nếu xứ sở dân ca không thấy biển?
Mái đình quê lưu dáng mũi thuyền cong
Nàng yếm đũi chân trần thèm khỏa sóng
Biển nơi đâu, ta khát biển cháy lòng

Nếu đất Việt ngậm ngùi mồ côi biển?
Núi sông kia không lẽ ngủ quên rồi
Tiếng Nguyễn Trãi bình Ngô trong máu khóc
Gặp Nguyễn Du tiếng Việt chẳng mồ côi

Nếu đất mẹ trắng tay không còn biển?
Triệu ngư dân phải mưu sống cách nào
Khi giặc biển lùa ta vào cõi chết
Ta ngực trần đối mặt với gian lao

Nếu sông núi uất hờn thương nhớ biển?
Đất quê hương đâu phải chốn lưu đày
Mẹ sinh ta trong tên bay, đạn lạc
Đất phù sa nuôi ta lớn mỗi ngày

Nếu Tổ quốc xót xa bị mất biển?
Dân Việt ta quyết giữ lấy biển này
Hồn sông núi ngàn năm mong rửa hận
Tiếng trống đồng mùa chim Lạc còn bay

Nếu đất nước yêu thương mồ côi biển?
Có lẽ nào con cháu chịu khoanh tay
Chín chục triệu trái tim nghe biển gọi
Thề giữ gìn đất mẹ Việt Nam đây

Nguyễn Việt Chiến

ĐÊM MƯA CỦ CHI

1 Th12

 

 

Nắng nung đất thép bùi ngùi
Mưa buồn hờn dỗi mặn mùi giận thương
Thành đồng một góc quê hương
Yêu em xa xứ đêm trường tăng ca
Rất gần mà cũng vời xa
Củ Chi ơi ta lại về ta nhớ hoài
Một thời bom đạn sắn khoai
Nay em còn gánh nặng vai cuộc người
Về đây thăm tuổi đôi mươi
Gặp cơn mưa nhớ tả tơi lá vàng.
——-

 NH

NHIP LỠ… – NH

29 Th11

NHIP LỠ…

Phách Thời gian !
Ngắt dùm thanh nhịp lỡ
Cho nụ hồng thôi đắng cánh dưới sương tan

Mùa yêu gãy
Tháng năm hờn
Ngâm nga vần thơ gãy
Một nốt trầm
Âm vọng mấy nỗi niềm riêng

Thu trôi đi – trôi đi
Dùng dằng thêm chi
Những tháng ngày đau vàng vọt
Đôi mắt chiều lặng lờ
Thăm thẳm phía xa xa

Tia nắng sớm
Vừa ửng lên
Dường như đang vội tắt
Mặt trời buồn
Mây hiu hắt
Gió lang thang….!!!

NH281016

ĐỨNG ĐỢI… Nguyên Hải

28 Th11

ĐỨNG ĐỢI…

Ngày và nắng chẳng ai đứng đợi
Để dấu mòn rêu nỗi nhớ lên xanh
Tinh của gió đã đọng thành trầm tích
Ngọn cỏ nào đùa sương sớm
Ngọn cỏ nào lơi lả ghẹo quỳnh hương

Ngờ chi sợi nhớ
Ngợ chi sợi thương
Bổ mười cau sáu cho đường dài thêm

Trăng trôi gương nước in hình
Dấu xưa bến cũ ta mình còn trông
Mỗi mùa mỗi sắc nhớ mong
Mà trời thắc mắc
Có không !
Hay là…?

Hương thầm thoáng tuổi mười ba
Gió reo tơ liễu duyên xa mắt mòn.!

NH291016

THANKSGIVING DAY

27 Th11

 

THANKSGIVING DAY

Ngày trôi
Dấu ấn đời đọng lại
Vết cặn trong lòng
Ray rức nỗi nhớ thương

Người là đức cha
là nghĩa mẹ
Là tình em
Là biển trời dập dềnh con sóng bạc
Bồng bềnh reo ru ngọt khúc yêu nồng

Làm dấu Thánh
Lạy chúa ba ngôi

Chắp tay niệm ngàn phương
Đất trời
Thánh Thần Tiên Phật

Tạ ơn đời
Tạ ơn người
Tạ ơn cả những yêu ma.

NH
Thanksgiving day 2016

BÓNG DÁNG ĐẤNG NAM NHI TRONG BÀI THƠ ĐẠI NGÔN “TỔ QUỐC GỌI TÊN” – BS

14 Th10

Posted by adminbasam on 13/10/2015

Phạm Đình Trọng

13-10-2015

Bài thơ đại ngôn, sáo ngữ tầm thường Tổ Quốc Gọi Tên bỗng trở nên nổi lềnh bềnh như phao bởi đề tài biển đảo của bài thơ là đề tài đang được bộ máy tuyên truyền tập trung khai thác.

Không dám làm phật lòng nước cộng sản đàn anh Tàu Công nên “dân chài bám biển, quân đội bám bờ”. Đẩy dân thuyền gỗ, tay không ra bám biển, đương đầu với pháo hạm của kẻ cướp Tàu Cộng hung hãn. Giặc Tàu Cộng cứ mặc sức bắn giết, bắt bớ, đánh đập, cướp bóc tài sản, đòi tiền chuộc mạng sống của người dân Việt khốn khổ. Còn quân đội cứ án binh bất động trong bờ. Sợ làm phật lòng nước cộng sản đàn anh đến mức kẻ đã bắn giết người dân Việt Nam làm ăn trên biển của ông cha, của lịch sử Việt Nam, kẻ đã bắn giết người lính Việt Nam , cướp biển, cướp đảo Việt Nam nhưng cả hệ thống truyền thông Việt Nam không dám chỉ mặt vạch tên kẻ cướp mà chỉ gọi một cách dửng dưng, mơ hồ, vô cảm: Nước lạ! Tàu lạ! Kẻ lạ!

Nhưng để yên lòng dân thì phải tỏ ý chí quyết bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ và chỉ bảo vệ bằng ngôn từ, bằng tuyên truyền. Ngôn từ hùng hồn, đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên rất phù hợp, rất cần thiết với tuyên truyền lúc này. Tổ Quốc Gọi Tên in sách. Tổ Quốc Gọi Tên phổ nhạc tấu lên rộn rã, thống thiết trong các chương trình ca nhạc.

Tổ Quốc Gọi Tên càng ồn ào, om sòm hơn khi có cuộc tranh chấp bản quyền giữa một cựu chiến binh dân thường, tỉnh lẻ, thấp cổ bé họng với một người đàn bà có danh có phận, có thế có lực, có vây có cánh, lại có cả bộ máy tuyên truyền chính thống, khổng lồ hỗ trợ, hậu thuẫn. Một cuộc tranh chấp quá bất cân xứng mà phần hơn, phần ưu thế, phần áp đảo nghiêng hẳn về phía người đàn bà nhiều thần thế, đa ngôn, mạnh miệng.

Cuộc tranh chấp chủ quyền bài thơ đang nghiêng hẳn về phía người đàn bà, nghiêng hẳn về phần âm tính. Nhưng tôi lại thấy bài thơ đầy dương khí, đầy cốt cách đàn ông.

Xin hãy đọc lại bài thơ

TỔ QUỐC GỌI TÊN

Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình

Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá

Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả

Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi

Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ

Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã

Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông

Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình

Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc

Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau

Sóng chẳng còn bình yên dẫn lối những con tàu

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc

Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”

Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc

linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe

Tổ quốc

gọi tên mình

1. CẢM HỨNG NAM NHI

“Tổ quốc gọi tên” là tâm thế, là cảm hứng của đấng nam nhi, không thể là tâm thế, là cảm hứng của nữ nhi thường tình.

Tâm thế, cảm hứng, sĩ khí của kẻ làm trai là:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng. (Ca dao)

Và:

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống Đông, Đông tĩnh. Lên Đoài, Đoài yên. (Ca dao)

Tâm thế, cảm hứng của kẻ làm trai là hướng ngoại, hướng tới lí tưởng lớn lao, cao cả: Tổ quốc, Nhân dân. Kẻ làm trai có lí tưởng nào cũng cần thể hiện mình, xác định sự có mặt trong cuộc đời bằng trách nhiệm. Trách nhiệm với cuộc đời, với non sông đất nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” là vậy.

Còn tâm thế, cảm hứng của người đàn bà là:

Có con chăm chút cho con

Có chồng gánh vác giang san nhà chồng. (Ca dao)

Tâm tính trời phú cho người đàn bà là hướng nội, hướng vào thân phận cá thể bé mọn, hướng vào gia đình riêng tư. Nếu người đàn ông có lí tưởng luôn ý thức về trách nhiệm với đất nước, với nhân dân thì người đàn bà thảo hiền luôn canh cánh với bổn phận trong gia đình. Bổn phận con ngoan. Bổn phận vợ đảm. Bổn phận dâu thảo. Bổn phận mẹ hiền.

Giặc cướp nước rình rập ở biên cương, ở cửa biển, vận mệnh đất nước bị đe dọa thì người đàn bà trước tiên nghĩ đến sự an nguy của gia đình, sự li tán của vợ chồng, sự sống chết của người đàn ông trong gia đình phải ra trận tiền.

Tâm thế, cảm hứng đó ở người đàn bà dân dã được ca dao ghi nhận:

Trời ơi sinh giặc làm chi

Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường

Còn người đàn bà quyền quí, có học, có chữ thì tự họ ghi lại tâm thế đó thành văn chương và trở thành áng văn bất hủ của văn chương Việt Nam:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiền nỗi truân chuyên.

(Đoàn Thị Điểm. Chinh Phụ Ngâm)

Phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang” được phát động và hưởng ứng rộng rãi, có hiệu quả trong suốt thời chiến tranh kéo dài vừa qua chính là từ tâm thế giới tính này. Đất nước đang cơn binh lửa, thanh niên sẵn sàng lên đường ra mặt trận theo tiếng gọi của Tổ quốc, để lại việc của người đàn ông trong gia đình cho người đàn bà ở phía sau đảm đang gánh vác.

Trong khi người đàn ông có lí tưởng luôn có ý thức về trách nhiệm với cái chung, hướng ra xã hội thì người đàn bà có giáo dục cứ thường trực lo lắng về bổn phận với gia đình riêng. Tâm thế của họ, vui buồn của họ là soi vào lòng mình và soi vào gia đình mình. Vì thế, “Tổ quốc gọi tên” là tư thế, là tâm thức, là cảm hứng chỉ có ở đàn ông. Đàn bà không thể có cảm hứng “Tổ quốc gọi tên”.

2. NGÔN TỪ SÁO RỖNG, KHOA TRƯƠNG

Ngôn ngữ Tổ Quốc Gọi Tên chỉ là thứ ngôn ngữ chính trị, tuyên huấn, là vốn từ, cách tư duy của một người lính, một thanh niên sống trong hệ thống tuyên truyền giáo dục cộng sản, không phải là ngôn ngữ văn chương, càng không phải ngôn ngữ nghệ thuật.

Từ ngữ đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên quá dễ dãi, hời hợt, và trống rỗng, đọc lên cứ thấy loảng xoảng của chiếc thùng rỗng đang bị đập mạnh hết cỡ. Hình ảnh bão tố mòn cũ sử dụng một lần đã là sự lười biếng, dễ dãi trong tư duy sáng tạo, vậy mà Tổ Quốc Gọi Tên cứ lặp đi lặp lại thứ bão tố cải lương đó. Vừa mới mang bão tố ra làm nền cho người lớn diễn tích anh hùng “Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây”, lại mang bão tố ra để trẻ thơ cũng trở thành diễn viên cải lương ngủ trong bão tố cho thêm kịch tính, gay cấn “Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố”.

Bão tố cải lương đã thừa thãi, lại thừa thãi cả máu nhân tạo đổ tùm lum trong Tổ Quốc Gọi Tên

Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông

. . .

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Máu người không phải nước lã. Máu của những người ngã xuống cho đất nước càng linh thiêng. Nhưng không phải cứ mang dòng máu thiêng đó ra là gây được nỗi xót xa, xúc động, là tạo được không khí bi tráng lịch sử. Giữa mớ ngôn từ khoa trương, lên gân, sáo rỗng, trong cái tình cảm hời hợt, thiếu trung thực, coi kẻ cướp bắn giết đồng bào chiến sĩ Việt Nam, cướp biển cướp đảo Việt Nam đã nhẵn mặt nhẵn tên từ trong lịch sử chỉ là “kẻ lạ mặt” vu vơ thì dòng máu kia cũng chỉ là máu đạo cụ, máu giả, tạo ra bởi phẩm màu cho xuất diễn mà thôi!

Không phải là nhà thơ chuyên nghiệp, tính nghiệp dư của người viết Tổ Quốc Gọi Tên còn nhận ra ở sự thiếu tinh tế trong sử dụng ngôn từ. Nhuộm phải đi với màu sắc. Nghiệp dư, thiếu tinh tế nên mới viết “Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông”. “Mặn sóng biển đông” thì phải thay động từ “nhuộm” bằng động từ “pha”: Máu của người pha mặn sóng biển đông.

Ngôn ngữ lên gân, đại ngôn, khoa trương cũng rất đàn ông, một người đàn ông quen sống trong môi trường chính trị, môi trường tuyên huấn.

Cảm hứng của đấng nam nhi và ngôn ngữ đao to búa lớn của kẻ mày râu, hai điều lồ lộ trong Tổ Quốc Gọi Tên đã khẳng định rằng Tổ Quốc Gọi Tên không thể là sản phẩm của nữ nhi

3. CHỈ CÓ GIÁ TRỊ TUYÊN TRUYỀN CHỐC LÁT

Từ văn bản, từ hiện vật ngôn từ bài thơ chứng minh rằng Tổ Quốc Gọi Tên là sản phẩm của đấng nam nhi, nhưng là đấng nam nhi nghiệp dư văn chương. Tổ Quốc Gọi Tên chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời, hoàn toàn không có giá trị nghệ thuật.

Không có giá trị nghệ thuật thì tranh chấp làm chi hỡi đấng nam nhi!

CÓ NÊN !?

12 Th10

Tê pê pê đã thuận rồi đây
Biển lớn thuyền ơi sóng gió đầy
Một gánh cuốc cày nguyên liệu trữ
Dăm ngành tiểu thủ nợ nần vay
Luật chơi hội nhập nhiều ông lớn
Trận thế quần hùng lắm cuộc say
Trị thế “cái đuôi” còn ngúc ngoắc
Có nên cắt cụp để cùng bay!?.

NH

12074718_1665716163699387_7084655111891094101_n12107066_1665716247032712_6055662064837663279_n12111992_1665716323699371_8698806934068148668_n12079305_1665716483699355_3241301651639838957_n

Người làm thơ chấn động một thời ở phủ Thủ tướng – Kim Dung

26 Th9

Tác giả: 

KD: Bạn bè iu quí gửi cho mình bài viết này. Bài viết về nhà thơ Việt Phương.

Trong bài có chi tiết nhắc tới cuốn Cửa mở của ông. Chợt nhớ một chuyện này: Ông từng kể cho mình nghe, khi cuốn Cửa mở “ầm ĩ” dư luận, TT Phạm Văn Đồng (khi đó), có trách ông: Sao anh không cho tôi đọc cuốn đó trước khi đem in?  Ông trả lời: Tôi nghĩ đó là chuyện riêng của mình.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng im lặng. Có lẽ ông cũng quá hiểu tâm trạng của người Thư ký tận tụy, nhưng cũng là một nhà thơ nổi tiếng, luôn gắn bó với ông trong mọi thăng trầm, khổ đau, biến cố của đất nước.

Và ông có nói một câu- có lẽ đó là tâm sự rất thật của ông với mình: Mình làm việc cho Thủ tướng, nhưng thơ vẫn là nỗi lòng riêng. Mình muốn cái riêng đó vẫn là cái riêng của chính mình, không bị “kiểm soát”. Rồi ông mỉm cười, hiền hậu, đôi mắt hóm hỉnh…

Nhưng hiện ông đang bị đau bệnh- nằm chữa trị ở BV Việt- Xô, sau khi ra cuốn thơ thứ 10- mang tên Gió. Một sức làm việc, sáng tạo, bền bỉ và đầy cảm hứng.

Cầu mong ông vượt qua được thử thách của sức khỏe, an lành may mắn, để trở về với cuộc đời ông luôn thiết tha, cảm nhận hạnh phúc cùng không ít vị cay đắng, vui buồn…

————

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’ gây chấn động một thời

DƯƠNG KỲ ANH

Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: “Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình”. Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ “Cửa mở”.

Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).

Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).

Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: “Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát… Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực…”. Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở cộng đồng châu Âu (tại Bỉ). Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.

“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng. Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ “Cửa mở” bao giờ.

Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị “vạ lây”… có đúng không? Ông cười, lắc đầu “Không có chuyện đó đâu”. Ông nói, tập “Cửa mở” năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: “Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi”. Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: “Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ”. Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định “Các con chúng tôi không làm sao cả”. Rồi bà kể: “Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ “Cửa mở”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Phương có đem cho mình xem đâu”. Tôi bảo: Tập thơ “Cửa mở” hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi”. 

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

“Đời đang đón đợi để đong đầy”, tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ “Nắng” thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được  mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: “Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất”. Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: “Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu”.

Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. “Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn” – Ông bảo vậy.

Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn Sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dậy con tập nói.

Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói “mây”, con ông cũng bập bẹ “mây”. Ông chỉ tay xuống mặt nước Sông Hồng nói “nước”, thằng bé cũng bập bẹ  “nước”. Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… “Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất” – Ông nói.

Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài. Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác. Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ.

Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi”. Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập “Lan”:  “Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên”. Thế đấy!

———–

http://lethieunhoncom.blogspot.com/2015/03/nguoi-lam-tho-chan-ong-mot-thoi-o-phu.html

VẾT NGÀY

7 Th9

VẾT NGÀY

Ngày mỗi ngày mỗi mới
người chở ngày trên mái tóc làn da

Tôi sờ da tôi
tôi nếm tóc tôi
cảm nhận vị ngày, đủ vị
đắng
chát
mặn
ngọt
chua
cay

Và có cả những mùi lạ hoắc
mốc thách
thum thủm
tanh tanh
chẳng giống chi chi trên trái đất này

Ngày miệt mài đi trên da trên tóc
vết chân ngày rần rần
nghe lạnh điếng những tim khô.

Ngày chở theo mình
những đạo hạnh
những hiền lương
thật
giả

Ngày chở theo cả ma-cô súng dao lựu đạn…
tải trên miệng người học đạo đức, giảng chuyện nhân văn

Ôi ! vết ngày
từ từ, từ từ
miết mài đi qua
vừa đi vừa cứa vào thịt da những thực vật, động vật hiện sinh.
và lần nữa giết cả những hình hài đã chết.

Những vết ngày
là lời thoại của phim truyện Hư Vinh.

NH

(ngày đầu tháng chín, hai lẻ mười lăm)

   

11921711_1652736901663980_8098304979254568512_n11923235_1652736874997316_2919076739760288652_n11933454_1652736974997306_5536217478958236588_n

VÀO THU

23 Th8

Tròng trành sông núi vào thu
Nước lơ lừng chảy cây đu lá vàng
Ngày trôi nhịp phách bẽ bàng
Tấu chi khúc nhạc hoang đàng hỡi thu.!

11898515_1646513982286272_713209263591054963_n

TRĂN TRỞ

31 Th7

Một mình thui thủi giữa canh năm
Mỏi gối còm lưng chửa thể nằm
Nghiêng ngả đôi bờ đong đảnh níu
Lào xào mấy nhóm hực hầm băm
Cuộc cờ xa mã thì thầm chạy
Thế nước dân quân háo hức bằm
Trăn trở già này không ngủ được
Phải ta còn lứa tuổi mười lăm !!!

Nguyên Hải

Nhân ngày Hội thơ Rằm tháng Giêng : Nhớ NGUYỄN BẢO SINH

9 Th3

 Nguyen Bao Sinh a  anh Cao Manh Tuan

                                    nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh – ảnh Cao Mạnh Tuấn

Hôm nay, ngày rằm tháng Giêng, nhà thơ cả nước lại rầm rộ hội thơ. Không biết năm nay ông Chủ tịch Hữu Thỉnh có thả thơ lên trời. Xin mách ông một nhà thơ độc đáo : NGUYỄN  BẢO SINH .

                                 Ễnh ương phễnh bụng kêu to

                              Cũng không ngăn được đàn bò đi qua

                                Thơ ca văn nghệ nước ta

                          Phùng mang trợn mắt chỉ là ễnh ương

                                                                                           ( Nguyễn Bảo Sinh)

   Ông chơi khá thân với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhận xét về bạn một cách khá rạch ròi về tài năng và nhân cách thơ, ông Thiệp cho biết: “Nguyễn Bảo Sinh, sinh năm 1940, sống trong một gia đình đã định cư nhiều đời ở Hà Nội. Thời trẻ, ông từng đi lính, từng là võ sư Judo. Từ trẻ đến già, Nguyễn Bảo Sinh chỉ ở số 30, ngõ 167 Trương Định (ngõ Bảo Sinh). Gần như suốt đời không hề chuyển dịch đi đâu, luôn ở cùng gia đình, xung quanh có vợ con, anh em, họ hàng, bè bạn nhưng ông luôn tự nhận mình là một tay sống trong giang hồ(!), một người tu tại gia(!). Nguyễn Bảo Sinh từng có hỗn danh là Sinh chó. Việc này duyên do từ chuyện có thật: Hồi bé, vốn tính ngỗ ngược, thân phụ ông là cụ Nguyễn Hữu Mão (năm nay 95 tuổi, cũng là người rất hay thơ) có lần tức giận bảo rằng:                 

                              

                                 – Lớn lên thì chó nuôi mày!   

 Quả nhiên, Nguyễn Bảo Sinh mở khách sạn giành cho cho chó.          Nguyễn Bảo Sinh là một nhân vật khác lạ, galăng từ cách sống cho đến việc mưu sinh. Học nghề sư phạm, anh lại không hề mô phạm lấy một ngày. Học sân khấu – điện ảnh nhưng không hề đóng phim, đóng kịch, làm đạo diễn hoặc viết kịch bản gì? Sau khi từ quân đội trở về anh mở hiệu vẽ truyền thần ở phố Hàng Đào. Chán, quay về nuôi chó cảnh, lai tạo giống mèo cảnh, học nghề thú y để chữa bệnh cho chó, mèo. Chơi thì anh học đấm bốc (quyền anh) đã có đai đẳng, chọi gà và làm thơ thiền, xây tượng Phật bà Quan âm giữa ao nhà để ngày ngày mang hương hoa bơi thuyền ra cúng Phật. Tự thiết kế, tự tay xây lấy đài cửu trùng sáu tầng bằng gạch và ba tằng bằng gỗ ở giữa vườn nhà để khi có bạn thơ đến thăm chơi cùng lên tháp ngồi đọc thơ. Anh đã in 4 tập thơ mang chung một tên “Huyền Thi”. Ngoài thơ thiên anh còn làm rất nhiều thơ Bút Tre. Gần đây có một tờ báo chuyên về văn hóa – văn nghệ đã phong anh là Hậu Bút Tre. (haixuanhxh)

                 Thơ một chữ – Vỗ một tay

                   Vợ tôi nửa dại nửa khôn

               Có lúc nó bảo dí lồn vào thơ

                   Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ

               Có lúc nó bảo dí thơ vào lồn

                  Thế là tôi cứ bồn chồn

          Giữa tôi giữa vợ giữa lồn và thơ

                Thế là tôi cứ ngẩn ngơ

         Giữa tôi giữa vợ giữa thơ và lồn

                Thế là như kẻ mất hồn 

         Tôi không phân biệt giữa lồn và thơ

                Thế là nửa tỉnh nửa mơ

          Trông đâu cũng thấy nửa thơ nửa lồn

              Thế là dại quá hóa khôn

          Ngộ ra mới biết trong lồn… có thơ

             Thế là tỉnh một giấc mơ

          Ngộ ra mới biết trong thơ… có lồn

                Thế rồi vượt cả dại khôn

          Ngộ thấy tất cả từ lồn mà ra

*

                 Mỹ nhân, thiên tử, anh hùng

           Tát cả đều tự tinh trùng sinh ra.
                                                     (Nguyễn Bảo Sinh)

Bài do  hainambo40@gmail.com  gởi đến Vô Ngã

XUÂN KHÔNG ĐỀ

9 Th3

Xuân tràn hồng môi em
Giêng mòn hoen mắt mẹ
Ngày trôi ngày lặng lẽ
Người dày cuộc nắng mưa

Ai tìm ai trong gió
Ai tìm ai trong mây
Qua những ngày giông tố
Ngày vui lên nắng đầy

Trải bao ngàn năm tuổi
Má xuân hồng hây hây
Người bến bờ hờn tủi
Người bên đời loay hoay

Chuông chiều buông thăm thẳm
Xuân có giật mình ! hay !?
Thời gian hồi hộp thở
Khắc khoải tình yêu say.

Nguyên Hải

SAM_2738

KHA TIỆM LY: KHI MÀ…

25 Th2

Khi việc thiện mãi đầu hàng cái ác
Nhìn bốn bên ai cũng phải giật mình
Phật đã dạy, khi đến thời mạt pháp
Thì thiền môn quỷ sứ vọc chân kinh

Khi thơ con cóc lên ngôi ngự trị
Văn ba xu khua lưỡi mối miệng lằn
Trét trấu bôi vôi không hề ê mặt
Bút điếm đàng làm nát bét văn chương

Khi cân công lý còn bên cao bên thấp
Thì pháp đình sẽ đầy rẫy oan khiên
Khi dương quang bị mây mù che khuất
Thì ban ngày đâu có khác đêm đen

Kẻ hám lợi danh tự lấy tro bôi mặt
Kẻ bởi áo cơm nên cam phận thằng hèn
Khi bút Đồ Chiểu chịu thua phường gian ác
Thị đạo tặc bầy đâu ngán gậy Vân Tiên

Kha tiệm Ly

ĐINH THỊ THU VÂN: ANH CÓ HẠNH PHÚC KHÔNG ?

8 Th2

nửa phần đời muối mặn của em ơi
trong tình yêu dành cho em, anh có bao giờ ân hận
có bao giờ em khiến anh thất vọng
khiến cho anh thêm khoảnh khắc xước lòng, và đôi lần cô quạnh ?

có giây phút nào không anh, em như là gánh nặng
là nỗi buồn không chứa nổi trong tim
là đốm lửa tàn phai, là cơn mưa không đủ lạnh
là nhọc nhằn anh ước lãng quên…

anh có hạnh phúc không, trước thương yêu chẳng cách chi toàn vẹn
chẳng cách chi sương nắng cận kề
ở một góc nào xa – một góc nào không cách chi vun quén
thượng đế cũng đành vô dụng trước đời ta !

anh sẽ hạnh phúc hay khổ đau, nếu mai này sau tháng ngày lãng mạn
em nói : tình yêu em chưa có thật bao giờ
và tất cả những dốc lòng trao tặng
ngay từ lúc bắt đầu, em rất biết, chỉ là mơ…

ngay từ lúc bắt đầu, em đã chẳng nguyên sơ
chẳng trong trẻo vẹn xanh hồn thiếu nữ
ngay từ lúc bắt đầu, lòng đã ngổn ngang, sợ thêm lần tan vỡ
hạnh phúc trao anh bao bận chẳng nguyên lành !

hạnh phúc muộn màng mong bù đắp cho anh
em rất biết, nếu chỉ kiếp này thôi, sẽ là không thể đủ…

THƠ ĐẠT GIẢI THƯỞNG CỦA NGUYỄN THỤY KHA QUÁ DỞ, QUÁ CŨ, QUÁ LỖI THỜI, HÔ KHẨU HIỆU SUÔNG!

3 Th2

http://dohoang.vnweblogs.com/post/3360/470821

Thơ Nguyễn Thụy Kha đạt giải thưởng Hội Nhà văn quá cũ, quá dỡ, quá lỗi thời

Đăng bởi dohoang vào lúc 12:39 ngày 28/01/2015

Đỗ Hoàng  
 
  Thơ Nguyễn Thụy Kha đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2014 đáng ra không nên động bút vì mất thì vừa giờ vừa mất tâm sức, vừa mất lòng anh em! Nhưng không nóí không đựợc vì thơ Kha quá dở, quá cũ, quá lỗi thời –  hô khẩu hiệu muộn mà quá sượng sùng không đem đến cho độc giả một thẩm mỹ nào hết!
   Trong trường ca ngắn viết nhớ về Quàng Trị mùa hè năm 1972 có ba đoạn Cát trắng, Đất đỏ , Cây xanh, đoạn nào cũng lê thê, kể lể, nhạt nhẽo gần như vô cảm, không có một câu hay, một ý hay, toàn là những vấn đề, những việc cũ rich mà cách đây 40, 50  năm những người lính miền Bắc đã nói, đã kể hết mà lại hay hơn thơ Nguyền Thụy Kha viết sau 50 năm (!)
 Có một mùa hè
Mùa hè 1972
Cát trắng Quảng Trị in bóng những người lính trẻ măng trinh trắng
Những người lính đôi mươi, mười tám
Từ những miền quê phương Bắc tụ quần
Họ nói cười họ hát vang vang
Những hành khúc ra trận
Cát trắng nơi đây ngàn năm xưa cũng đã từng in bóng
Những người lính thời Lý vàng son
(Cát trắng – Nguyễn Thụy Kha)

   alt
 (Chân dung Nguyễn Thụy Kha, người mà triết gia Nguyễn Hoàng Đức gọi là “con quạ của những xác chết)
  Sau 50 người ta đã đủ ,bình tĩnh để nhìn lại cuộc chiến của hai miền Nam, Bắc, Việt Nam biết được cái bi kịch của dân tộc Việt trong cuộc huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, bị các thế lực nước lớn giật dây thao túng, chi phối. Thế mà  Nguyễn Thụy Kha còn viết cũ, dở, lỗi như một anh lính bị đạn vào sọ não:
 Họ nói cười, họ hát vang vang
Những hành khúc ra trận
Thật thua cả Hoàng Nhuận Cầm viết năm 1971 trên núi non:

“Mùa thu này ta hát khát khắp Trường Sơn”
Thua cả Gia Dũng viết cách đây 50 năm đang giữa cuộc chiến::

“Trên đỉnh Trường Sơn ta hát”
Có chú nai vài giương đôi tai ngơ ngác
Rừng ở lưng đèo mà nghe suối hát…”
Càng thua xa nghìn dặm Nguyễn Duy viết ngay trước mùa hè đỏ lửa năm 1972:

 
Thắng rồi – trận đánh thọc sâu
Lại về với mái tăng – bầu trời vuông
Sục sôi bom lửa chiến trường
Tâm tư yên tĩnh vẫn vuông một vùng

Khoái nào bằng phút ngả lưng
Mở trang thư dưới bóng rừng đung đưa
Trời tròn còn lúc rơi mưa
Trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh 

(Bầu trời vuông – Nguyễn Duy)
Nhan nhản những câu văn xuôi xơ cứng sáo mòn, lỗi thời, hô khẩu hiệu muộn màng:
 
Cát trắng nơi đây bắt đầu chứng kiến cuộc hòa huyết
Đại Việt với Chăm Pa
Cát trắng phau muối trắng mặn hạnh phúc lẫn xót xa
Đã tạc nên gương mặt tổ tiên kiêu hãnh
Cát trắng vun lên những huyền thoại bi tráng
Hay:

Ôi cát trắng Quảng Trị có một ngày ai hay
Hai bờ ôm một Hiền Lương giới tuyến
Giới tuyến ấy chảy một dòng oán hận
Khi cát trắng bờ Nam hóa một vành đai trắng
Một hàng rào điện tử Mắc Na Ma Ra
(Thơ đã dẫn)

 
Kể lể một cách nhạt nhẽo:
Họ như những cánh chim của rừng núi biên cương
Của Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc
Của đất Tổ, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Bắc
Họ là những cánh cò trắng châu thổ sông Hồng
Của Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình
Của đất Cảng Hải Phòng trắng những làn khói trắng
Của Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Nam
Của xứ Nghệ sông Lam Hà Tĩnh
Của Quảng Bình địa đạo Vĩnh Linh
Những cánh cò từ những cây sao đen
Phố Lò Đúc một ngày Hà Nội
Họ là cháu con những người lính Trung đoàn Thủ đô thuở ấy
Ba mươi sáu phố phường dâng chiến lũy hôm nay
Họ bay về phương Nam theo đội hình mùa hè 1972
(Thơ đã dẫn)

Hay:
Họ vào trận mang theo bao khát vọng
Khát vọng trong trắng tâm hồn trong trắng và máu họ cũng trắng phải không
Họ thảnh thơi không hề biết sợ giữa trùng điệp đoàn quân
***
Đấy là Nguyễn Thế Thường, Phạm Hải Triều,
Hoàng Nhuận Cầm, Phùng Huy Thịnh khoa ngữ văn
Đào Chí Thành, Trần Quốc Hoàng khoa toán Đại học Sư phạm
Lê Việt đại học Kinh tế Quốc dân
Lê Trí Dũng, Phạm Mai Châu, Lê Duy Ứng Đại học Mỹ thuật
Nguyễn Văn Bằng Đại học Bách Khoa
Hoàng Trần Cương Đại học Tài Chính
Đấy là … đấy là … đấy là
Tất cả đều gọi chung là lính sinh viên
(Thơ đã dẫn)

 
Nhà thơ Phạm Tiến Duật ngay “ở chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ” tuy phải viết theo trách nhiệm công dân, tuyên truyền nhưng cũng chan chứa tình đồng đội, không kể lể cũ kỷ, nhạt thếch vô cảm như Nguyễn Thụy Kha.
Phạm Tiến Duật viết:
“Cả sư doàn bộ binh
Đi dài trong rừng khộp
Anh nhìn mà đột ngột
Rừng gìa khi thu sang

Ao ước gặp bộ binh
Thì bây giờ đã gặp
Anh rưng rưng nước mắt
Muốn ôm lấy từng người

Thằng Khánh ở đâu rồi?
Tìm thằng Cường chẳng thấy
Thằng Triều con anh Hoan (*)
Có trong đoàn quân ấy!
(Những vùng rừng không dân – Trường ca Phạm Tiến Duật)

(Phan HảiTriều con nhà thơ Chế Lan Viên)
 
Tiếp theo là Biến tấu Souliko viết tặng chị Thùy cũng dở hơn cả trường ca Quảng Trị (!)
  Cũng sáo mòn, cũ kỷ, kể lể dong dài, nhat nhẽo, lê thê, chưa nói một cô gái Việt có cả một nguồn cội dân ca, ca dao, Quan Họ, Hát Dặm, Hò Huế, Cải Lương, Chèo Bắc… không nhớ bài nào mà chỉ có nhớ độc nhất dân ca Grudia (!)
  Nhớ dân ca Grudia thì quá tốt, nhưng người Việt thì cũng phải nhớ dân ca Việt và bài hát Việt nữa chứ?
hỡi các thuỷ thủ tàu không số ít lời
những anh hùng đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
chắc các anh không ngờ giữa tuyệt vọng tử sinh đã có một phép màu chợt hiện
đưa các anh tới bệnh xá này

để lại được an lành để được phục sinh
điều thần kỳ của chiến tranh nhân dân
ta đã biết không bao giờ biết hết
ta đã hiểu để sẵn sàng dám chết
(Thơ đã dẫn – Biến tấu Souliko )

  Thơ Nguyễn Thụy Kha không tắc tỵ, vô lối hủ nút như các cây viết được giải thưởng khác, nhưng thơ Nguyễn Thụy Kha quá cũ ríc, quá lạc hậu, quá lõi thời,quá thiển cận ở tầm nhìn, tầm nghĩ!
  Cha ông ta có nói: “Dốt hay nói chữ”. Điều này rất đúng với Nguyễn Thụy Kha. Đã trường ca là thơ dài rồi mà còn viết thêm trường ca ngắn như thuốc tân dươc (!) – nửa nôm, nửa Hán – Việt, không hiểu ra làm sao (!)
   Ai cũng bết trường ca theo cha ông là bài thơ, bài ca dài; theo định nghĩa chung là một thuật ngữ văn học chỉ các tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình. Sang thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ttrường ca phát triển theo hướng trữ tình, tâm lý, triết lý, yếu tố cốt truyện được giảm xuống…
   Đã trường ca lại còn trường ca ngắn thì lố bịch quá mức!
  Rồi còn Biến tấu Souliko. Công chúng không học lý thuyết âm nhạc, không là nhạc sỹ thì làm sao hiểu nổi biến tấu Souliko?
 Nếu các nhà thơ viết toàn thuật ngữ chuyên ngành không có ai hiểu được:
Ta love you bằng ngấp nghé góc anpha
Mắt madam Eva long story tích phân định hạn chuỗi hàm Phurie
Nếu viết nguyên tiếng Nga mọi người đa số có hiểu không? –  Cylico? (Chữ I Nga thay bằng chữ I – la tinh)

 Và viết nguyên câu tếng Anh không dịch thì ai hiểu (Nếu không học tiếng Anh, tiếng Pháp?)
 Colder thy kiss
Truly that hour foretod
Sorrow to this!
(Byron – Wen we two parted – Poet  Englan)
 
Hay:
 

BALLADE DES DAMES DU TEMPS JADIS

Dites-moi où, n’en quel pays
Est Flora la belle Romaine,
Archipiadès, ne Thaïs
Qui fut sa cousine germaine,
Echo parlant quant bruit on mène

(Francois Villon  1431 – Fance)
 
 Xin lỗi độc giả tôi đã làm mất thì giờ của mọi người vì cái thơ quá dở, quá lỗi thời này!
 
                                            Hà Nội, ngày 28-1-2015
                                                       Đ -H             

KHA TIỆM LY: HÀN SĨ NGHINH XUÂN PHÚ

1 Th2

 

Tiền viết mướn chỉ đủ mua gạo lẻ lưng nồi,
Nhà ở thuê kiếm đâu ra mai vàng trước ngõ!

Nghĩ thân ta,

Te tua mái lá, mặc tình gió bấc mưa nam,
Quạnh quẽ bàn thờ tủi thân ông sơ bà cố!
Mua xôn giày dõm, lê mấy bước thì hả miệng hả mồm
Ráng sức xe cùi, đạp vài vòng cứ trật sênh trật chó!
Không hoa không quả, không nhang đèn, Trời Phật, Chư Thiên dù chẳng sân si,
Chẳng chuối chẳng chè, chẳng hương khói, Ông Địa Thần Tài đếch thèm gia hộ!
Tiền nhà tiền điện, chạy sút quần mệt bở hơi tai,
Nợ mẹ nợ con, há tét miệng chửi banh ngoài ngõ!
Thế nhưng,

Cơm lưng bụng, quân tử cần chi hải vị sơn hào,
Quần sờn mông, hảo hán chẳng màng chi tơ tằm vải bố!
Dẫu nghèo tiền nghèo bạc, mà ba miền tao nhân mặc khách dẫy đầy,
Lại giàu bạn giàu bè, cùng bốn biển, khí phách đệ huynh vô số!
Từ người cửa rộng nhà cao,
Đến kẻ đầu đường xó chợ!
Luôn xa lánh phường chém chú đâm cha,
Lại xót xa bọn trộm trâu trộm chó!
Lòng như nước trong leo lẻo, mặc bấy người đổi trắng thay đen,
Mặt tợ trăng sáng ngần ngần, dễ cho ai trét vôi trét lọ!

Ô hô!

Dù răn con khuyên cháu, chớ theo văn hóa bọn rợ Tàu.
Mà ngứa bút khua nghiên, lại xổ văn … gừng vài câu đối.

Đối rằng:

Trong nhà năm xe sách vở mối mọt lăm nhăm,
Ngàn dặm bốn hướng sông hồ anh em lố nhố.

Cho nên,

Đầy bè đầy bạn, lo chi chén tạc chén thù,
Không vợ không con, sợ gì tiếng chày tiếng cối !
Dăm lít rượu rừng rượu đế, sớm chiều mặc tình tỉnh tỉnh say say,
Ba bữa cơm nguội cơm ôi, sáng tối chẳng sợ no no đói đói.
Gạo rau phun thuốc, dại gì mà dộng cành hông,
Rượu đế pha cồn ai nói chẳng say tới bến?

Mắt nhìn hí hí, xem cuộc cờ, ung dung nâng chén uống râm ri,
Lời thốt tràn tràn, luận anh kiệt, hào sảng vỗ bụng cười hô. hố.
Đất cằn cây lớn, nơi hàn môn xuất hào kiệt tàng tàng,
Chùa rách Phật vàng, trong áo vá tỏa phong nghi lồ lộ.

Xét mình:

Dù chữ Dũng nào dám sánh Tăng Sâm,
Còn chữ Hiếu vẫn thua xa Tử Lộ.
Đức mỏng, đâu dám đo cùng bậc thánh, bậc hiền.
Tài hèn, chẳng đủ bàn chuyện kim, chuyện cổ!

Chẳng qua:

“Phú quý do thiên”
Quan trường tại số.
Cam La má tròn phinh phính đã đạt công khanh
Bá Lý tóc trắng phơ phơ mới ngồi trướng hổ!
Trên cao chót vót mà dòng suối rộng được mấy tầm?
Dưới thấp lè tè nhưng biển khơi sâu hơn nghìn bộ!
Nơi quyền môn có khi thừa kẻ vô lại tham tàn.
Chốn thảo lư lại chẳng thiếu bậc tài hoa đức độ!
Chớ gặp khi thất thời mà dấm dứ dấm da,
Đừng cậy lúc thượng phong mà xí xa xí xố!

Chỉ tiếc cho:

Núi cao nghìn trượng mà chẳng còn đá cứng gươm mài,
Trời rộng thênh thênh lại chẳng dung đại bằng cánh vỗ!
Chua xót lắm! Bụng kinh luân mà giống túi đựng cháo đựng cơm,
Cay cú thay! Vai thao lược lại thành giá máng quần máng áo! *
Thả cần sông Vị. mà vắng người Văn, Vũ; chỉ hoài công chờ vận đợi thời,
Đốt lửa non Lương, lại bặt tăm Tiều, Tống; đành phí sức đốn cây cưa gỗ!
Cái lợi cái danh, từ xưa kèo cựa một mớ ba đồng,
Cái đức, cái tài, ngày nay xa cạ một đồng ba mớ!
Nghênh ngang ngọn bút, mà hùng tâm chưa vọt thấu chín tầng,
Sang sảng lời thơ mà khẩu khí còn nằm im mấy độ !

Tâm đắc quá:

“Bần tiện bất năng di
Uy vũ bất năng khuất”

Thì sá chi câu:

“Tiểu nhơn đắc thế tợ điểu phi thiên,
Quân tử thất thời như ngư vô thủy”

Hôm nay,

Ngà ngà men rượu, hứng chí viết dăm chữ lăng nhăng,
Thân thiết bạn hiền, vui miệng nói vài câu nhí nhố.
Chúc mọi người an lạc bốn hướng đông tây,
Hưởng mùa xuân hạnh phúc nhất nhì kim cổ!

Kha Tiệm Ly

Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng – VHNA

17 Th1

 

  •   Tâm Nhiên

 

 

Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng

 

Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia, văn nghệ sĩ cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.

Tạp chí Tư Tưởng do viện trưởng Thích Minh Châu làm chủ nhiệm là cơ quan luận thuyết là tiếng nói của viện Đại học Vạn Hạnh, thường xuyên đăng tải bài viết của các bậc cao thủ này. Những tác phẩm thi ca, tư tưởng, triết lý, đạo lý của họ vô cùng thâm thúy, có giá trị mãi cho đến ngày hôm nay.

Lúc bấy giờ có nhà xuất bản An Tiêm do Thanh Tuệ làm giám đốc, vì một cơ duyên hy hữu nào đó đã dốc toàn tâm toàn lực ra để lo cho công việc in ấn riêng biệt những tác phẩm thơ văn, biên khảo, dịch thuật của Bùi Giáng. Sức sáng tạo của thi sĩ vào thời gian này, từ năm 1960 đến năm 1975 rất mãnh liệt, như ngọn lửa thiêng sáng bừng rực rỡ khắp trời đất u huyền, khiến cho nhà xuất bản An Tiêm in ấn không kịp :

Tưng bừng xuất bản An Tiêm

Ấn hành cổ lục chung niềm cảo thơm

Mưa nguồn tuôn ngát xanh rờn

Ngàn thu rớt hột cô đơn cuối bờ

Đó là một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng lang thang rong chơi, nhảy múa ngoài đường. Thường ngâm thơ uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy ngay ngoài vỉa hè xó chợ, góc quán hiên chùa, rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say như Tản Đà, Lý Bạch nhưng vẫn thung dung :

Uống xong ly rượu cuối cùng

Bỗng nhiên chợt nhớ  đã từng đầu tiên

Uống như uống nước ngọc tuyền

Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau

Uống  xong ly rượu cùng nhau

Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời

Em còn ở lại vui chơi

Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn

Riêng anh về suốt suối vàng

Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà

Thi sĩ sống không nhà cửa, không vợ con, không tài sản, không sự nghiệp, không danh lợi, không là gì cả ngoài một bầu rượu túi thơ và một bộ quần áo xốc xếch cũ mèm, rách nát tả tơi, trông giống như một Tế Điên, một Hàn San, Thập Đắc, một gã ăn mày quái dị lạ lùng. Thế mà sức sáng tạo, sáng tác quá đỗi rạt rào như thác đổ trào tuôn, thật là vô tiền khoáng hậu. Nhà thơ viết như thần nhập, như nhảy tung vào cõi mật ngôn ẩn ngữ, làm khơi mở mối giềng xiết bao rực cháy, gây nên một nguồn cảm hứng tưng bừng, dậy sóng phiêu bồng cho biết bao kẻ đồng điệu, đồng cảm vút hồn bay chuếnh choáng, ngất ngây trong cơn say sưa túy lúy.

Thi sĩ Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, quả nhiên là một hiện tượng kỳ lạ mà cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu thấu đáo về thế giới tâm hồn hoằng đại, cõi tư tưởng hoằng viễn thâm hậu và cõi thi ca  bát ngát vô song  đó. Có người hỏi tiểu sử thì Bùi Giáng cười đáp : “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây gay cấn ly kỳ và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn… Thuở nhỏ bỏ học về nhà quê, làm thơ tặng chuồn chuồn và châu chấu.”  Hỏi về sự sáng tác phi thường thì lai  rai nói : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”

Tuyệt mù những ngày quá mộng thời còn thanh xuân lang thang ở Huế, Quế Sơn, Hội An, Vĩnh Điện, Đà Nẵng… Đến năm 1952, lúc mới 24 tuổi, thi sĩ lên đường phiêu lưu vào Sài Gòn, bắt đầu cuộc lữ phiêu bồng khốc liệt. Từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trời viễn du biền biệt, chưa một lần quy hồi cố quận nhưng lòng thì vẫn nhung nhớ triền miên :

Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên

Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu

Vĩnh Trinh Lệ Trạch Thanh Châu

Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người

Người đầu tiên đã mỉm cười

Nhìn tôi tưởng thấy niềm vui vô cùng

Tôi ngồi tưởng nhớ mông lung

Tưởng từ chín suối tới bao dung Bầu Trời

Thi sĩ khơi vơi ngồi nhớ quê như thế. Quê hương cố xứ bên dòng sông Thu Bồn ở Duy Xuyên Quảng Nam. Về sở học của nhà thơ, quả thật là thông đạt quảng bác vô cùng, làu thông nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Hán. Không biết thi nhân tự học từ lúc nào mà trở thành một bậc thượng trí, hầu như vô sư tự ngộ, chỉ do đọc sách  mà phát minh tâm địa như trường hợp thiền sư Huyền Giác đọc kinh Duy Ma Cật mà hoát nhiên triệt ngộ chân lý diệu thường. Từ đó, trọn suốt cuộc đời thi sĩ cứ phiêu nhiên trên con đường thênh thang sáng tạo, bước đi thi ca tỏa rợp trời thơ đất mộng bồng bềnh, bát ngát phiêu diêu.

Nhiều người cho rằng Bùi Giáng là một gã cuồng sĩ điên rồ hay một đại thi hào, một Bồ tát nghệ sĩ gì gì đó cũng được, chỉ là những danh từ, khái niệm mà thôi. Điều cần thiết phải làm là chúng ta hãy đi vào bên trong tâm hồn phong phú, thể hiện qua tác phẩm, may ra có khám phá được điều gì mới mẻ trong cõi tư tưởng của nhà thơ tài hoa này hay không ?

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng là gì ? Nhưng tư tưởng là chi ? Theo Tuệ Sỹ thì : “Tư tưởng là Con Đường, là Đạo, là Tiếng Gọi mời ta lên đường. Chính bằng và trên Con Đường ấy, chúng ta mới có thể bắt gặp được bóng dáng của con người.”*

Vâng, tư tưởng là con đường mời gọi chúng ta hành động và do vậy, do bởi hành vi tư tưởng cho nên hành động mới mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ mới lạ. Tư tưởng thi ca Bùi Giáng khởi phát rạt rào từ suối nguồn sâu thẳm tâm linh, từ cõi ban sơ tịch mịch khôn dò. Đó là cõi bờ âm thanh vi diệu ngữ của trời trăng mây nước, chim bướm cỏ hoa và ánh sáng rạng rỡ huyền hòa, là bước đi đã đạt tới cảnh giới thượng thừa thi sĩ, chỉ có thể cảm nhận chứ không thể suy nghĩ luận bàn.

Đi vào cõi thơ Bùi Giáng, chúng ta cần phải buông xuống cái biên kiến, chấp thủ và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình được chuyển hóa thì lúc ấy chúng ta mới lãnh hội, tương ứng với ngôn ngữ chân thực nghĩa tân kỳ của thi ca, của một cái gì vốn dĩ vô ngôn mà phải nói đột xuất bất ngờ :

Ấy là nhạc ? Ấy là thơ ?

Ấy là rượu đế một giờ bỗng dưng ?

Ấy điên đảo ? Ấy điệp trùng ?

Ấy từ vô tận lừng khừng mà ra

Thưa em ngôn ngữ thật là

Cái gì như thể ngọc ngà thiên hương

Thưởng thức thơ Bùi Giáng, nên thưởng thức như Phạm Công Thiện nói : Đọc thơ cũng giống như đọc kinh. Phải thọ, trì, đọc, tụng. Đọc không phải để hiểu mà để biết. Biết cái thâm mật của một giây phút thoáng qua nhanh chóng hơn ánh sáng và biết cái thâm mật của tam thiên đại thiên thế giới, của vô số hằng hà tỉ tỉ thiên hà trong lòng ta và ngoài kia không gian phiêu dật, mà lòng ta là tất cà không gian phiêu dật.

Tại sao Nguyễn Du thường sử dụng chữ biết trong thơ và ít khi dùng chữ hiểu ? Đây là một sự việc quảng mật cần nên biết trong tương lai của văn hóa Việt Nam. Thơ là cái gì mà chỉ nên biết chứ không thể hiểu, may ra thì chúng ta có thể biết được cái thâm mật, cái quảng mật và cái thâm quảng mật, có thể biết được sơ sơ qua loa, chứ không thể nào hiểu được. Đó là diệu nghĩa vô lượng của tam mật, tam muội trong thơ văn của những thiên tài vĩ đại trên thế giới.”**

Bùi Giáng đương nhiên là một thi sĩ thiên tài, siêu quần bạt tụy rồi. Tư tưởng nhà thơ bao trùm khắp thiên hạ và thấu đạt hết ý nghĩa sâu xa thâm trầm của đạo học Đông phương cũng như triết lý Tây phương. Hầu hết các bậc đạo sư, thiền sư, văn nghệ sĩ phương Đông như Đức Phật, Duy Ma Cật, Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân,  Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Huyền Giác, Lâm Tế, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Lý Bạch, Tô Đông Pha, Tô Mạn Thù, Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Tản Đà  đến các triết gia, văn hào, thi sĩ vĩ đại của phương Tây như Martin Heidegger, Nietzsche, Holderlin, Wart Whitman, Shakespeare, Gerard Nerval, Kierkegaard, Malraux, Karl Jaspers, Albert Camus, Saint Exepery, Andre Gide, Apollinaire, Emily Dickinson, Paul Eluard, Dylan Thomas, Saint John Perse, Rimbaud, Rainer Maria Rilke… đều được thi nhân nói đến một cách rốt ráo cặn kẽ, tận sâu vào mạch ngầm tư tưởng uyên nguyên, uyên áo vô cùng.

Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng phát biểu về thi ca : “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa bằng lời thơ, thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào hoặc một cơn gió thu, mà muốn thực hiện điều đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể phải làm một bài thơ khác.

Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chớ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ có mạch lạc, luận lý, không được bốc đồng vịnh lăng nhăng. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy.”Cho nên, ở đây người viết không dám luận bàn về thơ Bùi Giáng mà giản dị chỉ là cảm nhận một phần nào hương vị suối nguồn thi ca lai láng dạt dào, quá sức dữ dội của thi nhân mà thôi.

Vào miền cõi thơ Bùi Giáng là tha hồ tự do lang thang tang bồng, rong rêu phiêu lãng ngàn phương mọi chốn, trên rừng dưới biển đầy kỳ hoa dị thảo, dạo chơi giữa ngã ba, ngã bốn những con đường sương mù, mây trắng rồi bất ngờ mở ra một phương trời xanh biếc Nguyên Xuân, đồng thanh tương ứng, tương giao theo điệu chào sơ ngộ xưa sau :

Hỏi rằng : Người ở quê đâu

Thưa rằng : Tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng : Từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng : Nói nữa là sai

Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng : Đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng : Ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Nguyên Xuân là mùa xuân rực rỡ sơ nguyên trong lòng người, là Diệu Tâm trầm ẩn nhiệm mầu của chúng ta. Từ cõi quê lòng thanh tịnh đó, thi sĩ bước ra hòa điệu cùng cát bụi phù hoa phố thị, ngao du ngày tháng ta bà qua biết bao heo hút dặm dài, giáp mặt với sơn cùng thủy tận của mộng đời hư huyễn phù du. Nhà thơ chứng kiến cõi người ta cứ lo tranh đấu, tranh cãi đúng sai, phải trái, hơn thua giành giật nhau mãi, ai ai cũng phát huy cái bản ngã to bự của mình bằng cách chạy theo danh lợi, địa vị, dấy khởi hoài tham lam, sân hận, si mê…  để vô tình quên đi mất cái bản tâm thực tánh, cái mặt mũi xưa nay, cái cõi miền Tâm Xuân thuần nhiên huyền diệu giữa lòng mình, cho nên thi nhân chạnh lòng trắc ẩn, thương xót cho những cảnh đời quá nhiều thống khổ điêu linh, bởi con người cứ mãi đắm chìm trong vọng tưởng, vô minh, hiểu lầm ngộ nhận :

Trần gian thơ mộng xiết bao

Mà buồn vô tận ai nào biết ai

Chưa yêu dấu đã lạc loài

Chát chua ngộ nhận tự ngoài vào trong

 

Tháng giêng đau khổ mặt trời

Đông sầu lạnh giá đêm dài nửa năm

Về Bắc ngất tạnh mù tăm

Về Nam chỉ thấy thẳm thăm mịt mù

 

Đau thương từ bấy đến giờ

Ai người đã tỉnh đã mơ một lần

Ấy đau thương ấy tử phần

Không cho phép cánh đại bàng viễn du

Kể từ vô tận mùa thu

Vô biên khốn khổ tội tù một thân

Kể xa xôi kể gũi gần

Không từ đâu có dặm phần chia ly

Ôi từ vô thủy ra đi

Đến vô biên xứ từ quy xa vời

Trần gian đáng lẽ tuyệt vời

Về sau chẳng rõ muôn đời đảo điên

Niềm đau nỗi khổ ưu phiền

Nối đuôi tiếp tới triền miên từng giờ

Khi biết rõ từng giờ từng phút buồn thảm, u sầu cứ triền miên vây khổn chốn phù sinh đầy trầm mê, phiền não, khổ lụy như thế, thi sĩ phát đại bi tâm, nguyện yêu thương hết cả trần gian, yêu muôn loài vạn vật, cả thập loại chúng sinh giữa ba đời sáu cõi luân hồi, qua lại đến đi :

Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy

Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên

Thân xương máu đã đành là ủy mị

Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh

 

Em đứng mũi anh chịu sào có vững

Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng

Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

Hết tâm hồn và hết cả da xương

 

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi

Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn

Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

 

Còn ở lại một ngày còn yêu mãi

Còn một đêm còn thở dưới trăng sao

Thì cánh mộng còn tung lên không ngại

Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao

‘‘Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn’’huống chi là con người phải không ? Tình yêu tình thương ấy tràn ngập khắp các tác phẩm thơ văn Bùi Giáng, dòng dòng long lanh lấp lánh như  mưa nguồn tuôn đổ, như thác lũ trường giang chảy hoài miên man ngàn trùng đại hải :

Anh đã định chẳng bao giờ sẽ nói

Rằng tình yêu là chóp đỉnh phượng thờ

Vì anh biết gào kêu thân thiết gọi

Khó lọt vào tim máu của em thơ

 

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp

Suốt thiên thu từ vạn thuở phiêu bồng

Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp

Nửa điên cuồng nửa rồ dại lông bông

 

Và từng phút từng giây chồng chất ngất

Một trăm năm đứt ruột nát gan vàng

Một vĩnh viễn đoạn trường chìm ngây ngất

Dưới trầm luân từ thực thể muôn vàn

Từ thực thể muôn vàn trầm luân kiếp nhân sinh đó, cũng như  Nguyễn Du, nhà thơ tự nguyện gánh vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường của Thúy Kiều hay như sư cô Tam Hợp âm thầm nhiếp dẫn từ bi cứu nhân độ thế. Chính vì dâu bể vô thường trong cõi đời máu lệ điêu linh mà Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đi về thể hiện tinh thần ‘‘khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến’’ chỉ ra Phật nhãn, cái thấy biết tuyệt vời tối thượng :

Từ bi ? Vô tận đoạn trường

Đạo cô Tam Hợp ? Hoa Hương Bốn Mùa

Trăm năm dâu bể thiệt thua

Cũng là Diệu Pháp thượng thừa Liên Hoa

Từ cõi Diệu Pháp vô vi bất khả tư nghì ấy bước ra, nên hành động của thi sĩ không giống như cõi hệ lụy ta bà đầy đa đoan chấp ngã của chúng ta, thành thử nhà thơ tự nhận mình là thằng điên, thằng khùng, ngây ngô khờ dại cho khỏe nhẹ để khỏi còn ai thắc mắc phân vân :

Thần Tiên Thánh Phật uy quyền

Giúp đời vô tận thằng điên quý gì ?

Điên từ muôn một liên miên

Mà ra vạn thuở nối liền Liên Hoa

Ấy từ Diệu Pháp mà ra

Đất đồng mộc mạc nở hoa lẫy lừng

Đó là thể điệu cuồng điên uyên mặc thượng thừa của thần tiên du hý, dậy lừng cung bậc Lăng Nghiêm trầm hùng cùng tuyệt :

Tam bành tứ trướng cuồng điên

Thần thông du hý thiên tiên dự phần

Lăng Nghiêm tam muội dậy lừng

Vượt non băng núi qua trùng điệp truông

 

Ấy từ bất khả nghị bàn

Từ vô tận xứ mà Nghiêm Hoa rằng

Hoặc từ vô tận hằng hằng 

Từ đâu tới một Nghiêm Lăng khôn lường ?

Lăng Nghiêm Kinh khai thị cái tâm chơn, tâm vọng của con người vốn bất nhị viên dung. Một khi thấu thị kỳ cùng điều đó, thi sĩ bất thần nhập diệu vào cảnh giới huy hoàng hoan hỷ địa, hồn phách bay bổng một niềm vui sướng lâng lâng :

Thượng thừa thể lệ trăm năm

Thần tiên du hý đánh chìm tài hoa

Cái tài hoa trác việt, độc đáo của mình, đáng lẽ nên tự hào, hãnh diện nhưng thi sĩ tự mình làm cho chìm khuất, tiềm ẩn đi, chứ không huênh hoang phách lối, khoe khoang, kiêu ngạo phô bày ra như kẻ phàm phu tục tử thường tình. Đó là nhân cách cao thượng của bậc đại trượng phu, của những tâm hồn thượng đẳng hoằng đại. Tự mình vượt lên trên vòng đối đãi thị phi phải trái, thoát ra ngoài mọi sinh hoạt quy ước của xã hội, để sống tự do tự tại theo ý mình, thay vì làm một bậc thượng sĩ cao nhân xuất chúng thì ngược lại, thi nhân thực hiện một bước nhảy trọng đại, ngoạn mục phi thường lả tự nguyện làm người điên khùng, khờ dại lãng trí, tự mình trách móc, mắng nhiếc mình theo cách điệu thể thái tùy nghi :

Bỏ đi dẹp mặt mày đi

Làm thằng thi sĩ như mi dơ tuồng

Mi say rượu mi điên cuồng

Mi không ý thức vui buồn thế gian

 

Lão già say rượu nói nhăng

Làm thơ lẩm cẩm gia tăng tâm tình

Máu tim chia sẻ tâm tình

Nửa dâng Thần Rượu nửa trình Nàng Thơ

 

Suốt ngày suốt tháng suốt năm

Nó be bét rượu muôn năm đế nồng

Thượng thừa kỳ vĩ vân mông

Sịch mành tỉnh mộng đêm mồng một giêng

 

Đền bù xiết kể bao lăm

Đáp đền muôn một trăm năm dại khờ

Khờ như dại dại như thơ

Dại không biết thẹn trơ trơ điên cuồng

Nói thì nói khề khà theo kiểu tự chế giễu, bỡn cợt khôi hài như thế, nhưng trái tim thi sĩ luôn luôn rực hồng ngọn lửa tình yêu thương vô lượng vô biên đối với cuộc đời đang sống trong túy sinh mộng tử này. Nhà thơ đau nỗi đau của con người, sầu nỗi sầu thiên cổ của kiếp nhân sinh tàn úa phai nhàu :

Nỗi buồn khôn tả từ đâu

Đi về phảng phất nỗi sầu thiên thu

Giữa đêm chén tạc chén thù

Một mình độc ẩm sương mù dưới trăng

Nỗi thương nỗi nhớ hằng hằng

Nhớ thương vô cớ cầm bằng như không

Ừ thì như không như có, như mộng như thực, như tỉnh như say… hết thảy đều là một chứ chẳng khác gì nhau như Tâm Kinh đã nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc” đó mà :

Giật mình tôi chợt nhớ ra

Rằng đây đất của chúng ta chúng người

Mở môi em mỉm miệng cười

Tình yêu từ đó vẹn mười muôn năm

 

Yêu em yêu mãi tấm lòng

Yêu em quá độ long đong suốt đời

Nhớ em nhớ suốt mây trời

Suốt trăng vĩnh viễn suốt nơi nào là

Tình yêu đó lai láng như trường giang đại hải mênh mông, cứ tự nhiên trôi chảy, thường hướng đến những tầng lớp nghèo khổ trong xã hội như anh đạp xích lô, cô quét rác hay cô mua bán ve chai. Niềm thương cảm của thi sĩ có cái gì đó thật khác thường kỳ lạ :

Kính thưa đồng chí đại ca

Xích lô vô lượng kể đà bao phen

Từng phen lay lất ưu phiền

Niềm vui vô tận thường hằng đeo đai

 

Các em quét rác mỗi ngày

Mỗi năm mỗi tháng kéo dài muôn năm

 

Dzeee chai bán ! Bán dzeee chai

Tiếng rao mộng ảo dẻo dai dị thường

Tiếng rao huyền diệu phố phường

Tôi đi khắp chốn tình trường nhớ nhung

Tiếng rao lanh lảnh nghìn trùng

Nghìn nhung nhớ một tao phùng nết na

Người đi tôi ở lại nhà

Chiêm bao mộng tưởng vẫn là dzeee chaiii

 

Ve chai giày dép cũ càng

Em mua giúp hết dịu dàng em mua

Tơ trời thêu dệt bốn mùa

Đổi thay thời tiết nắng mưa luống từng

Dạn dày cho rõ phong sương

Âm thầm ý nghĩa muôn phương mây vàng

Từ cô thôn nữ ở đồng quê chân lấm tay bùn đến cô em mọi nhỏ ở trên rừng truông rú thẳm hoang lương, thi nhân cũng chia sẻ tỏ bày rất đỗi ân cần trìu mến :

Cày sâu cuốc bẫm cấy bền

Tháng ngày thanh thản êm đềm buồn vui

Thương em ngày tháng ngậm ngùi

Nhớ em ngày tháng sụt sùi giữa đêm

 

Thương em như thương một nường

Thiên thu là gái bình thường nhà quê

Em từ thôn nữ năm kia

Về đây phút chốc sẻ chia tấm lòng

 

Kể từ vô tận tiêu tao

Yêu em mọi nhỏ chốn nào đầu non

Thấy em như thấy vuông tròn

Thành thân thiên hạ biển non dịu dàng

Yêu em như nước lan tràn

Nhớ em như nhớ những tràng giang xa

Nguồn thơ xanh ngát lại mênh mang chảy tràn qua cổng chùa tu viện, vào thăm viếng thùy mị ni cô. Trước những vẻ đẹp hiền lành thanh thản đoan trang, chàng thi sĩ lóng cóng theo cách điệu bông đùa cà rỡn quý ni cô thuần hậu, thuần phác thảnh thơi, nhẹ nhõm trong tâm hồn :

Ngoài trời trận gió trở cơn

Rượu trong đáy cốc đầu hôm đi đời

Trở cơn trận gió ngoài trời

Tôn tiền hoàn xướng tuyệt vời ni cô

 

Than dài trận trận mù sương

Mười ra em mọi một nường ni cô

Gọi tôi bằng bác xô bồ

Bảo tôi đừng gọi ni cô là nuồng

 

Đi tu em nhớ một lời

Đừng bao giờ trở lại đời làm giai nhân

Đừng đẹp đẽ đến vô ngần

Chỉ cần chút đỉnh đẹp tần ngần tu ( đi )

Còn gì đẹp hơn là buông bỏ hết những phiền não, vọng mê để lên đường xuất gia, đi tu một trận ly kỳ, hy hữu giữa ảo mộng tồn sinh ? ‘Tu là cội phúc tình là dây oan’’ Nguyễn Du đã nói như thế, còn Bùi Giáng thì :

Tu là cội phúc phôi pha

Tình là oan nghiệt chiết ma đoạn trường

Đó là thứ tình dính mắc ràng buộc, chiếm hữu nên luôn luôn giận hờn ghen ghét, gây nên bao tan nát đoạn trường. Vượt qua thứ tình yêu nô lệ đó là tự do cất bước thong dong với chiếc áo nâu sồng mộc mạc, thoát khỏi mọi nỗi khổ niềm đau :

Nâu sồng đã bén muối dưa

Còn tình đâu nữa dây dưa tâm tình ?

Sự đời tắt lửa tồn sinh

Hồng quần quên mất rằng mình đã quên

 

Chép tờ địa lý đầy vai

Hùng tâm thánh nữ thiên tài ni cô

Định thần mừng rỡ bước vô

Song trùng chúc phúc hai cô một lần

 

Ni cô ? Thánh mẫu nhu mì

Thành thân vô tận thuận tùy đầu tiên

Ni cô ? Thục nữ thuyền quyên

Tìm đâu thấy được Nguyên Tuyền Ni Cô ?

Đặc biệt Bùi Giáng dành một tình yêu thương thanh thoát đối với sư cô Trí Hải ở Đại học Vạn Hạnh, người đã dịch Câu chuyện dòng sông của Herman Hesse. Thi sĩ cũng thường gọi sư cô là mẫu thân Phùng Khánh một cách tân kỳ sáng tạo :

Lúc về thờ phượng ni cô

Mẫu thân Phùng Khánh điểm tô đạo trời

Thần lên tiếng thánh đổi lời

Niềm riêng Vạn Hạnh mọc mời cô đơn

 

Con về giũ áo đười ươi

Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân

Đẻ con một trận vô ngần

Mẹ còn đẻ nữa một lần nửa thôi

Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời

Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi

 

Kể từ con lạc ra khơi

Mẫu thân Phùng Khánh vội dời chân đi

Một vùng cỏ mọc xanh rì

Hai vùng sóng lục nhu mì mở ra

Con về trong cõi người ta

Nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu

 

U hoài đầu mộng hôm qua

Mẫu thân Phùng Khánh thật là u u

Chân đi từng bước hư phù

Mộng đi từng bước tuyệt trù ống chân

Mẹ về đứng giữa đầu sân

Cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi

 

Mẹ còn nhớ nữa con chăng

Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên

Tuy đòi phen chết nếp nền

Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang

Mẹ về ngõ vắng vườn hoang

Thừa Thiên sông lạnh kéo sang khu rừng

 

Mẹ về đẫm lệ trời xa

Gót đi cuối phố mưa sa đầu đường

Ôi Phùng Khánh mộng mười phương

Này mai này mốt mùi hương cuối cùng

Tà xiêm dấu trải mông lung

Một trường mê hoặc đóng khung cung hành

Con về vội vã chép nhanh

Mù sương nhị bội vây quanh thân hình

Nâu sồng kết tụ kệ kinh

Mai vàng trầm thống nín thinh đêm nào

Có người thắc mắc hỏi : ‘‘Cớ sao Phùng Khánh nhỏ tuổi hơn mà đại ca gọi là mẫu thân ?’’ Thi sĩ trả lời : ‘‘Bởi vì Phùng Khánh là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ thì hóa ra tôi là người Lào, người Cao Miên hay con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa Phùng Khánh là bà mẹ loài người, vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi rồi. Nếu tôi không phải con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi chẳng phải con người mà là con vật hay sao ?’’

Ngoài Phùng Khánh ra, kỳ nữ Kim Cương cũng là một nàng thơ được thi sĩ đem lòng chiếu cố quý mến vô lường :

Kính thưa công chúa Kim Cương

Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây

Tờ thư rất mực mỏng dày

Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau ?

 

Em vui nước ngọt tuôn dòng

Em buồn toàn diện đèo bòng buồn theo

Em vui tinh thể bọt bèo

Em buồn toàn diện thu vèo sang đông

Ngổn ngang gò đống chất chồng

Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng

Em đi thanh thản ngọc tuyền

Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu

Kim Cương nương tử tuyệt trù

Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên

Với một suối nguồn thương yêu vô điều kiện, yêu thương vô phân biệt, nhà thơ  cũng rộn ràng trang trải cùng các cô gái đứng đường, xem các cô kỹ nữ như là tiên nương, thánh nữ giáng trần và tâm sự cùng các cô chan chứa nỗi niềm :

Bất ngờ tôi bắt gặp em

Vu vơ đi đứng một đêm giữa đường

Đến gần bất chợt tình thương

Bất ngờ tâm sự phi thường gần xa

Em từ viễn ngạn tuôn ra

Mười hằng hồng lệ chín sa dòng dòng

Tôi từ lịch kiếp long đong

Em từ lận đận tấm lòng bao lâu

Chúng ta từ cõi lao đao

Quen nhau từ những kiếp nào xưa xa

 

Tâm hồn của gái giang hồ

Các em vô tận kể từ đâu ra ?

Anh nay tuổi quá cỡ già

Thương em như nhớ gian nhà lưu ly

Các em dù tuổi tên gì

Cũng từng đã thốt lời gì anh nghe

Ngày nay đứng phố ngồi hè

Nhớ em mộng tưởng muôn bề rã tan

Cậy em lời cậy muôn vàn

Mình em riêng một đá vàng thiên thu

 

Tình yêu vô tận tự lòng

Tình không yêu cũng tùy tòng vô biên

Lỡ làng chút phận thuyền quyên

Chưa là thánh nữ cũng tiên nương rồi

Chỉ có cái nhìn vô phân biệt trí mới thấy được như thế. Dễ có mấy ai trên đời này xem các kỹ nữ lầu xanh là tiên nương thánh nữ ? Chỉ duy nhất thi sĩ Bùi Giáng mới có cái nhãn quan đại từ đại bi, đại hỷ đại xả như thế và từ cái nhìn thấu thị nhân sinh đó, thi sĩ ngợi ca, tán thán hết lời và gọi chung tất cả thục nữ mười phương là nàng thơ, nàng tiên diễm tuyệt vô ngần. Các nàng thơ, tiên nữ cứ đi về kề cận gần gũi, thân thiết miên man, bàng bạc ở khắp mọi nơi khắp chốn, từ phồn hoa đô hội đến lâm tuyền huyễn ngạn, ngoài bến gió bờ sương ngút ngàn quyến rũ mộng mị chiêm bao, dạt dào xao xuyến, xiết bao tâm tình du dương tha thiết :

Các em vô tận thuyền quyên

Từ thiên cổ tới đầu tiên bây giờ

Các em không thể nào ngờ

Rằng đầu tiên đã bài thơ luống từng

 

Em từ trái đất tuôn ra

Em đi xinh đẹp tiên nga dậy thì

Gặp em toàn thể nhu mì

Non sông đất nước thuộc tùy tình em

 

Thương em hơn cả phượng thờ

Ông trời ông Phật mút mùa thần tiên

Yêu em từ cái diện tiền

Của em số dzách thuyền quyên ấy là

Em từ một thuở tuôn ra

Một hơi hô hấp thiết tha dịu dàng

Từ đầu truông tới cuối ngàn

Cỏ cây nhớ mãi muôn vàn tình yêu

Thương em mỗi lúc mỗi nhiều

Yêu em mỗi lúc mỗi trìu mến em

Đường đi lát đá êm đềm

Cậy em thủng thẳng dịu mềm em đi

Mai sau còn một tí gì

Ấy là khu vực nhu mì của em

Cái gì vô tận của em

Ấy là cái ấy của em lạ lùng

Dị thường vô tận hoành tung

Tình yêu tim máu thủy chung tót vời

Anh từ vô tận viễn khơi

Gặp em như gặp đất trời vô biên

 

Chợt nhìn ta thấy em xinh

Buột mồm ta viết bình minh đờn bà

Bài thơ từ đó tuôn ra

Khôn lường vô tận ấy là em ôi

 

Riêng em có lẽ thật là

Thiên thu một thuở muôn nhà một nơi

Cùng em vô tận rong chơi

Khắp trùng dương dội sóng đời đời dâng

Ngân nga vang vọng sóng đời từ cuộc lữ đến cuộc chơi, từ cuộc tình đến cuộc mộng rồi từ cuộc mộng đến cuộc thơ, mở ra tưng bừng những làn gió hương màu phất phới, những phảng phất rung động trầm sâu mầu nhiệm bồi hồi :

Lối đi bình lặng nhiệm mầu

Lối về phấp phới hương màu đầu tiên

Lối đi nhìn ngửa ngó nghiêng

Lối về phảng phất nợ duyên khôn bì

Chập chùng những cuộc đi cuộc về trên con đường mây trắng phiêu du, lãng đãng phiêu bồng. Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu nên thi nhân dấn mình nhập cuộc vào tồn lưu trôi chảy và đột ngột, thốt nhiên bỗng thấy trần gian đẹp đẽ vô cùng. Đẹp kinh hồn đến độ choáng váng mặt mày, ngập tràn cơn say chuếnh choáng, ngây ngất yêu đời vô tận nên nghêu ngao dạo khúc hát xênh xang.

Trạng thái xuất thần nhập diệu ấy càng ngày càng đến thường xuyên hơn trong cuộc sống thường nhật, nên thi sĩ phiêu hốt, phiêu diêu trong cảnh giới tiêu dao vô ngại đó nhiều đến nỗi phải khiêu vũ nhảy múa như một hoàng đế tự vất bỏ ngai vàng điện ngọc, đi vi hành làm kẻ vô danh tiểu tốt, tha hồ đùa chơi tiếu ngạo, ngâm nga la hét giữa phố thị ồn ào, tấp nập người qua kẻ lại, khiến thiên hạ cứ tưởng là nhà thơ điên. Kỳ thực đó là những phút giây bay bổng, khinh an, hoan lạc, nhập vào hoan hỷ địa xuất cốt diệu thường, cực lạc vô song :

Ông vua kỳ vĩ thập thành

Vì vui quá độ nên thành ra điên

Bây giờ tôi dại tôi điên

Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian

Chao ơi ! Thái độ ‘‘Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian’’ đó, chẳng khác chi hạnh nguyện của  Bồ tát Thường Bất Khinh, luôn luôn kính trọng hết thảy mọi người dù ngu trí, lớn nhỏ, giàu nghèo một cách trân quý lạ thường. Dường như nhờ đọc sách, kinh điển Phật giáo Đại thừa mà thi nhân bất ngờ trực ngộ, thấy ra tận tường cái bản tâm thanh tịnh chói sáng vạn hữu an lành :

Thượng thừa hồi phục tâm thanh

Thốt nhiên đốn ngộ ngọn ngành cảo thơm

 

Bước vào nào thấy chút chi

Bước ra bỗng thấy cái mì nhu em

Toàn nhiên đại ngộ hoát nhiên

Hoát nhiên đốn ngộ thần tiên thượng thừa

Giữa đỉnh cao và hố thẳm, giữa vô hình và hữu hình, giữa phù du và vĩnh cửu với điệu cười sinh tử như không, thi sĩ thấy ra cảnh giới Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi nên hòa chung cung bậc đất trời rộng mở, thở cùng không khí phóng khoáng, hý lộng giữa đôi bờ mộng thực, tỉnh điên một cách khoan thai thoải mái :

Cái điên cái tỉnh ở đời

Nào ai dám chắc thế thời ra sao ?

Kéo dài rất mực chiêm bao

Cuộc chơi kỳ vĩ tiêu tao điên cuồng

Cuồng điên là gì, thế nào là điên cuồng ? Vì sao các thiên tài trên thế giới thường hay bị điên ? Có lẽ điên là một cảnh giới dị thường mà người tỉnh táo không bao giờ hiểu được như có lần thi sĩ tự lý giải lai rai : ‘‘Nó điên ? Vâng, nhưng điên một cách dzui dzẻ, bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên, có kẻ nói rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên hoặc giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi : Sao gọi là điên ? Nhưng mà, nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có lời giải đáp dưới gầm trời suốt xưa nay vậy.’’

Vậy thì coi như bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn chi được nữa cả, chúng ta cứ tiếp tục đọc thơ chơi, phiêu hốt theo ngôn ngữ thượng thừa :

Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa

Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ

Đời nay đất đá cằn khô

Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên

Điên duỗi dọc điên ngửa nghiêng

Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời

 

Cuộc chơi kỳ vĩ thập thành

Các em kỳ bí hơn anh quá nhiều

Tử sinh giữa cuộc dấn liều

Tử sinh liều giữa diễm kiều cuộc chơi

Chuyện sinh tử đối với phần đông phàm phu tục tử chúng ta là rất đỗi trầm trọng, kinh hoàng khủng khiếp, nhưng với thi sĩ thì thấy nhẹ như lông hồng, cho nên  cứ tiếp tục cuộc rỡn đùa chơi, vì đã thấu triệt được lẽ bất sinh bất diệt, chết rồi cũng chẳng mất đi đâu mà chuyển qua hình thức khác, chuyển biến theo luân hồi giữa ba đời sáu cõi, tái sinh theo nghiệp báo của riêng mình đấy thôi :

Em về choáng váng tê mê

Em về từ tử diệt về tái sinh ?

Em về vô tận bình minh

Từ em tử diệt tái sinh mừng chào

Chào mừng cuộc sống vô lượng vô biên giữa biển đời trùng trùng sóng phong quang Bát Nhã, sóng lai láng tràn vào từng trang cổ lục cảo thơm, giúp cho người ta thấy lại vẽ đẹp huy hoàng tráng lệ của trí tuệ muôn đời tung bay phất phới :

Thình lình vô tận biển khơi

Sóng triều Bát Nhã đẩy chơi vào bờ

Thượng thừa trí tuệ thẩn thơ

Chép tờ cổ lục cho tờ cảo thơm

Trí tuệ Bát Nhã ấy chẳng ở đâu xa mà nó ở ngay giữa tâm hồn chúng ta đây thôi. Em hãy quay nhìn lại chính mình thì sẽ thấy ngay lập tức cái lòng trong trẻo nguyên sơ hiển hiện ra khắp muôn chiều diệu dụng :

Em đi vô tận trùng trùng

Em về vô lượng tự lòng mà ra

Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói  ‘‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra’’ giống như Hoa Nghiêm Kinh ‘‘Tất cả do tâm tạo.’’ Thì ra, cả sơn hà đại điạ, cả ba nghìn thế giới này cũng đều do tâm mình tạo ra mà thôi. Người thi sĩ hốt nhiên ‘‘ồ lên một tiếng’’ và mỉm cười rỗng rang sảng khoái :

Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm

Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng

Cảnh giới Hoa Nghiêm đang thị hiện diễn bày chung quanh khắp mặt đất trần gian cát bụi, từ vô lượng kiếp đến một phút giây của từng sát na vĩnh cửu. Một hôm lang thang lêu lổng, bỗng thi sĩ kỳ ngộ trùng phùng đức Thế Tôn bên vĩa hè phố chợ,  khiến chàng rúng động cả thần hồn, vội quỳ xuống đãnh lễ thành tâm :

Thập thành đãnh lễ bước chân

Như Lai hộ niệm phù vân điệu chào

Quan Âm Bồ tát chốn nào

Cũng cho nghĩ nghị lối vào Trung Niên

Ôi Bồ tát hỡi Nhu Lai

Lời thơ đãnh lễ lai rai vài hàng

Ngàn thu rớt hột xuống trang

Lá hoa cồn dậy muôn vàn bữa qua

Trung Niên thi sĩ bàng hoàng, choáng ngợp trước ánh hào quang tuệ giác siêu việt, trực kiến vô ngần Chân Không Diệu Hữu, không biết nói gì hơn là làm thơ tán thán ca hát chan hòa :

Ca về tuế nguyệt thiên thâu

Về ca khoảnh khắc sơ đầu sát na

Chân Không Diệu Hữu là ca

Không chân hữu diệu lưu sa hằng hằng

Đứng đi ngồi ngả ba đàng

Thượng thừa cung bậc muộn màng cứ ca

Chân Không mà Diệu Hữu nên mới có chuyện nói đi nói lại, nói mãi suốt từ thiên cổ xưa nay. Nói từ ngày Đức Phật chứng đạo dưới gốc cây Bồ đề đến bây giờ cũng bấy nhiêu chuyện mà thiên kinh vạn quyển, trùng trùng vô tận vẫn nói không hết lời. Cho nên thi nhân cũng hòa theo chiếu cố, ngưỡng mộ trước phong cách trầm hùng bất động vô nhiễm của Như Lai :

Phật ngồi dưới gốc Bồ đề

Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai

Thưa rằng Phật thật là tài

Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong

“Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong.”Chỉ cần một câu thơ đó thôi, Bùi Giáng đã lột tả hết được tinh túy của đạo lý Đông Phương  suốt từ mấy ngàn năm rồi, Khổng Tử, Long Thọ hay Cưu Ma La Thập thì cũng muốn nói quanh nói quẩn cái vô sở trụ, vô sở chấp ấy mà thôi :

Lời thô tục ? Ý u tồn ?

Ý nào u tục thô ngôn là lời ?

Giả danh chân đế cũng rồi

Giả danh tục đế đún đẩy lời cũng qua ?

Trăm năm trong cõi người ta

Lọ là Long Thọ lọ là Khổng Khâu ?

Vàng beo lục gấu trắng trâu

Đìu hiu trăng mọc nhịp cầu phù du

 

Bão giông hằng thể bi thanh

Liên Hoa Diệu Pháp lịch hành Thệ Đa

Thập thành sử hiện ra hoa

Thập Ma La Thập lời Hoa Nghiêm rằng

Rằng thì là…như thế. Như thế là như thế nào ? Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng khề khà đối thoại thong dong :

 “- Đọc thơ văn mày viết ra, tao thấy rằng thỉnh thoảng mày nói lên đúng cái tư tưởng ẩn mật trong kinh Hoa Nghiêm, mặc dù mày viết theo cái điệu riêng biệt của mày. Thế nên tao càng ngạc nhiên thấy rằng thường thường mày cứ luẩn quẩn đọc những sách nhảm nhí lăng nhăng. Tao muốn hỏi mày tại sao mà như thế ? Mày quên mất cõi tư tưởng lớn hay sao ?

– Tao cũng chẳng rõ tại sao, nhưng mày thử giải nghĩa tao nghe thế nào là cõi tư tưởng lớn. Lớn là lớn bằng mặt trời hay mặt trăng hoặc to bự như vũ trụ ?

– Cứ tạm cho là to bự như vũ trụ.

– Thế thì tao thử hỏi lại mày : Có khi nào mày nhìn thấy vũ trụ to bự nằm ở ngay trong một giọt sương ?

– Có

– Trong một lá cỏ ?

– Có

– Trong một lổ chân lông ?

– Có

– Thế thì bây giờ mày đã nhận thấy rằng câu hỏi của mày nêu ra ở trên kia đích thực là lệch lạc ?

– Có lẽ ”

Thế đó, cảnh giới Hoa Nghiêm là vậy, thấy tất cả vũ trụ mười phương, muôn loài vạn vật, thánh phàm, thế gian và xuất thế gian đều nằm gọn trong tâm của chúng ta đây mà thôi. Tâm như hư không, vốn là rỗng lặng thanh tịnh, chẳng có hình dáng, không sinh không diệt, nhưng vô cùng diệu dụng rất sinh động, tuy bất biến mà tùy duyên. Cái tâm sinh động ấy ứng vào lòng thi sĩ Bùi Giáng nên hồn thơ xuất thần bay bổng lồng lộng giữa trời đất phong quang bát ngát mông mênh. Bên ngoài thì nhảy múa hát ca nhưng bên trong vẫn tịch nhiên niệm Phật như thường :

Huyền hoa đứng ở giữa đường

Người đi rốt cuộc phi thường vẫn đi

Nam mô Đà Phật A Di

Lan mùa nam diện lai quy phục hồi

Con đường hân hoan sáng tạo bước đi đã quá đổi dập dìu, phiêu lãng hoan say, khiến cho thánh thần cũng lắc đầu chịu thua, chỉ có những bậc Bồ tát mới độ lượng mỉm cười tương ứng cùng thi sĩ sâu xa :

Bây giờ huyền diệu sát na

Bước về gọi mộng sơn hà Trung Niên

Là thằng thi sĩ diện tiền

Làm thơ lố bịch thánh hiền chịu thua

Chỉ duy Bồ tát vui đùa

Niêm hoa vi tiếu là vừa lòng thôi

Bồ tát là người có tâm hồn rộng mở, bao dung, chấp nhận tất cả thuận nghịch tỉnh táo hay điên rồ của thế gian, luôn ban vui cứu khổ cho con người, như Tuệ Sỹ phát biểu : ‘‘Không tận hữu vi, Bồ tát chấp nhận sự tồn tại của dị biệt giữa các loại chúng sinh mà kiến thiết quốc độ thanh tịnh. Không trụ vô vi, Bồ tát nhận thức tính bình đẳng như hư không trong tất cả các loại chúng sinh, nên mọi giá trị cá biệt đều được kính trong  như là giá trị phổ quát. Không tận hữu vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh không bằng hận thù tranh chấp. Không trụ vô vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh bằng tình yêu và sự kính trọng giữa các loại chúng sinh.’’***  Thế là, người thi sĩ tuy điên cuồng nhưng vẫn được các vị Bồ tát chiếu cố, vì thế cứ tha hồ rong chơi, tiếu ngạo giang hồ và chuếnh choáng làm thơ tình yêu, ca ngợi tình thương vô lượng như muốn nhắn gởi điều chi bí mật cho người em chí cốt diệu thường :

Gởi em chút đỉnh mùi hương

Tình yêu xa vắng như dường như không

Gởi em mật pháp phiêu bồng

Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng quy lai

Sau bao nhiêu trận trận tang bồng, phiêu dật, nhà thơ đã truyền âm nhập mật pháp môn gì đó ? Chỉ có nàng thơ mới có thể nghe và hiểu ra mật pháp đó mà thôi. Chúng ta đừng có tò mò mà luận bàn đủ thứ. Thi sĩ hẹn hò nàng thơ cùng gặp nhau ở phương trời cố quận cuối nẻo nào heo hút tận chân mây :

Mây theo gió thổi về mau

Bây giờ tiễn biệt mai sau trùng phùng

Cùng em cố quận sẽ cùng

Xiết bao tâm sự điệp trùng tái sinh

Bởi vì cũng từ nàng thơ huyền mộng, từ ngày em xuất hiện trên mặt đất sa mạc hoang vu này đã khiến cho thi sĩ bừng ngộ ra một điều chi kỳ bí lặng im :

Em từ thiếu nữ bước ra

Thành thân thục nữ tên là thuyền quyên

Mang thêm mỹ nữ chênh vênh

Em làm đắm đuối dưới trên bao người

Mỹ nhân cách điệu tuyệt vời

Giai nhân từ đó cũng vời tuyệt hơn

 

Em muôn vạn xứ êm đềm

Cho em rất mực muôn nghìn mà ra

Anh từ đó ngộ thiết tha

Em là vô tận em là em ơi !

Nàng thơ thỏ thẻ hỏi chàng thi sĩ đã ngộ điều chi ly kỳ gay cấn như rứa thì chàng nhẹ lắc đầu chỉ đáp :

Anh chỉ biết mỗi một điều là như thế

Như thế nào anh nói rõ em nghe ?

Là thế đó muôn đời là như thế

Nói làm gì em nghe nữa làm chi !

Phải chăng đó là thể lệ vô ngôn, vì ngôn từ bất lực không thể diễn tả được cái trực ngộ kia ? Thôi đành lặng lẽ lắng nghe điều huyền diệu đang dần dần lan tỏa quanh gót ngọc em về dưới nắng sớm chiều mưa :

Em đi bất chợt thượng thừa

Thoảng trong phút chốc còn lưa muôn đời

Em từ viễn tượng xa xôi

Về từ thiên thượng tuyệt vời tố nga

Tình yêu có lẽ chăng là

Tình thương vô tận tặng quà vô tâm

Té ra là như rứa, tất cả muôn sự muôn việc triền miên xảy ra từ xưa đến nay cũng chỉ là vô tâm, vô niệm như không, chẳng là gì gì hết cả :

Như không là ấy ruột rà

Như không vô tận từ ta tặng người

Tặng người em gái quê, gái phố, gái núi, gái rừng, gái biển, gái thuyền quyên thục nữ mười phương một bài thơ tình thương yêu bất tuyệt vĩnh hằng :

Tặng em thể điệu toàn thân

Kết chùm nguyệt rộng đôi vần thi ca

Tặng em thỉnh thoảng mà ra

Thiên thu tặng vật đóa hoa tình đầu

 

Chiều nay bỗng thấy tình thương

Chảy tràn ngập khắp du dương cõi bờ

Chân tình anh hỏi nàng thơ

Chẳng thà như rứa chớ bơ vơ – ồ !

 

Hình thành tinh thể bài thơ

Vô cùng kiều diễm một giờ mà ra

Muôn trùng vĩnh biệt thiết tha

Một giờ như thể muôn hoa một mùa

Một mùa chi mà lạ rứa ? Thưa rằng không biết nữa. Chỉ hay rằng, đặc biệt, nhà thơ Bùi Giáng có một niềm tương ứng đậm đà, thâm sâu đến độ tâm đắc cùng lục bát Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều. Hình ảnh thi hào Tố Như luôn luôn xuất hiện, đi về trên khắp hàng ngàn trang thơ văn dặt dìu lãng đãng :

Sáng nay chim hót thật nhiều

Tưởng nghìn tiếng nói tình yêu đất trời

Chiều nay có lẽ lá rơi

Mưa rừng đổ xuống khắp nơi ào ào

Mai kia sẽ nhớ ngày nào

Ngày nay ấy mộng rì rào máu tim

Thượng thừa tiếng hót của chim

Của gà gáy sáng từ khuya tới giờ

Làm đi làm lại bài thơ

Kể từ tao ngộ bất ngờ Nguyễn Du

 

Tôi từ muôn kiếp phôi pha

Gặp em ngàn thuở mà ra một thời

Một lần vô hạn em ơi

Gặp từ vô tận đất trời Nguyễn Du

 

Chào em thiên nữ vong hồn

Thiên thu đã tới mang dồn dập hoa

Tán hoa thiên nữ ấy là

Thúy Kiều vô tận tên là Nguyễn Du

 

Thúy Kiều một thuở mà ra

Muôn thu vạn thuở nõn nà hiện thân

Kiều ôi có lẽ một lần

Hồng Sơn thiên lý tử phần tái sinh

 

Một vùng cỏ mọc nước ngâm

Nghìn năm nhớ mãi cung cầm Nguyễn Du

Các con không gặp Nguyễn Du

Chính ông cũng chẳng gặp Du bao giờ

Nhưng bài thơ ấy còn trơ

Bên nguồn vĩnh phúc bất ngờ tỏa ra

Những là ánh sáng chói lòa

Việt Nam văn hiến băng qua dặm nghìn

Đã hơn bốn nghìn năm văn hiến trôi qua, thi sĩ đi về cố xứ và âm thầm nhập diệu vào cõi miền vĩnh cửu uyên tư :

Về bên cố quận tuyệt trù

Vượt biên giới nhập thiên thu vô lường

Thiên thu vĩnh cửu nằm ngay trong giây phút bây giờ và ở đây. Không còn biên giới phân biệt nhị nguyên đúng sai, phải trái, hết rồi những có không, mộng thực giữa chốn tồn sinh. Người thi sĩ hồn nhiên như trẻ thơ, thở nhẹ nhàng từng điệu thở hài nhi nhẹ vời với tiếng cười nhẹ nhõm reo vui :

Chưa biết nói đã biết cười

Cười như thượng thặng vẹn mười Như Lai

Hồn như Di Lặc dẻo dai

Cười không biết chán chường ai ai người

Quả nhiên nó đúng là người

Mà sao nó khác hẳn người chúng ta

Quả nhiên nó rất là già

Mà sao nó bảo nó là trẻ thơ

Trẻ thơ nào có bao giờ

Biết làm thơ để phượng thờ tình yêu ?

Bùi Giáng là thế, vẫn tà tà cách điệu tiếu lâm, riễu cợt hài hước cho “vui thôi mà” chớ có chi đâu mà trầm trọng, nặng nề phê phán đúng sai, trúng trật, dở hay phải không ? Thì ra là vậy, trên con đường miên man sáng tạo, trên ngõ về vô sở trú phong quang, thi sĩ thung dung trỗi nhịp cung đàn hoan ca, hòa âm cùng cung bậc Bất nhị như thị như nhiên. Với tinh thần vô sở cầu, vô sở chấp, vô sở đắc, lặng lẽ buông bỏ, cho và cho hết những gì mà thiên hạ đang đấu tranh, giành giật chiếm hữu lẫn nhau, thi nhân tự nguyện sống nghèo nàn hàn sĩ, làm kẻ ăn mày, một tên cuồng sĩ lang thang suốt đời hát bản độc hành ca qua ngày tháng ngao du làm rớt hột phiêu bồng giữa mênh mông thông lộ vô cùng bất tận,  ngờm ngợp gió ngàn trăng.

Văn hào Mỹ vĩ đại Henry Miller nói : “Từ chút ít sách vở tôi đã đọc, tôi nghiệm ra rằng, những người lặn lội sâu nhất trong cuộc đời, những người nhồi nặn cuộc đời, những người chính là cuộc đời đều ăn ít, ngủ ít, sở hữu ít hay không có gì cả. Họ không có bất kỳ một ảo tưởng nào về bổn phận, hoặc nối dõi tông đường hay duy trì quốc gia. Họ chỉ quan tâm tới chân lý và chân lý mà thôi. Họ chỉ chấp nhận một hình thức hoạt động là sáng tạo. Không một người nào có thể chỉ huy công việc họ, bởi vì họ tự nguyện cho tất cả. Họ cho không, bởi vì đó là cách duy nhất để cho.”****

Nhận định trên của Henry Miller rất đúng với trường hợp Bùi Giáng biết bao. Một thi nhân đã tận hiến cho cuộc sống bằng tất cả tinh thành chân thiết nhất, bằng con đường nghệ thuật thi ca.

Nhà thơ Bùi Giáng đã sống trọn vẹn một cuộc đời hạnh phúc viên mãn theo ý nghĩa đạo Phật. Suốt bình sinh cuộc sống, thi sĩ là hình ảnh quá cùng đẹp trong cái nhìn của thiên hạ mọi người, nhất là giới tăng sĩ Phật giáo và giới văn nghệ sĩ, ai ai cũng nhìn ông với niềm ưu ái, quý mến đầy ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ sự tự do tự tại, thung dung thoát tục, không dính bụi trần mà “hòa cùng ánh sáng, trộn cùng cát bụi” của thi nhân.  Bồng tênh tiêu sái, rong chơi suốt một đời thơ giữa phố thị phù hoa như một hài nhi tóc bạc thơ ngây, nhảy múa hồn nhiên hát ca vi vu vi vút.

Cuộc đời Bùi Giáng vô cùng thi vị, một cuộc đời hoàn toàn sống vì nghệ thuật, dâng hiến tất cả cho nghệ thuật thuần túy, chỉ biết sống hết mình cho thi ca và đệ nhất hy hữu nàng thơ tuyệt cùng chơn mỹ :

Em đi hồn nhớ nhung gì

Anh ngồi nhớ cái nhu mì lẻ loi

Trời cho rất mực rạch ròi

Vào trong thục nữ ra ngoài thuyền quyên

Của em toàn thể uy quyền

Của em toàn diện thần tiên dịu dàng

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng mang một ý nghĩa bùng vỡ khai phóng, đầy ắp hào quang sáng tạo. Tư tưởng nhập cuộc chịu chơi vào cõi tồn lưu mà vẫn thanh thản thong dong, không dính mắc, không ràng buộc, không chấp chặt của thi nhân thật chẳng khác gì thái độ vô tâm, vô niệm, vô sự của những bậc thiền sư. Nhà thơ thõng tay vào chợ, tung hoành ngang dọc, nhảy múa quay cuồng đủ thể điệu quàng xiên mà vẫn sáng suốt thông tuệ như như.

Tư tưởng phá chấp triệt để của Thiền tông được thi nhân thể hiện suốt bình sinh cuộc sống bằng chính bản thân mình, như ngụ ngầm khai thị một điều gì vi diệu mà mỗi một người trong chúng ta phải tự lãnh hội, tự thấu hiểu ra mà thôi.

Sở dĩ con người đau khổ là vì cố chấp, chấp ngã, chấp pháp, chấp đủ thử lu bù nên cứ mãi khổ đau trầm thống triền miên. Muốn thoát khỏi vòng trầm luân khổ não đó, chỉ còn một cách là hãy trở về lại chính mình, nhận biết cái bản tâm nguyên sơ, sống với thực tại đang là ngay trong từng hơi thở luôn luôn mới lạ và mới lạ.

Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách nhận xét về thi sĩ : “Bùi Giáng cũng như một người điên, cỡ Tế Điên. Cũng như Tế Điên, hình như ông đến cõi đời này để dạo chơi, để đùa rỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa rỡn.”***** Rỡn đùa điên khùng chơi theo thể điệu Tiếu ngạo giang hồ Kim Dung tung chưởng vô chiêu, hay khùng điên nhảy múa ca hát, tràn đầy yêu thương tuyệt mỹ như nghệ sĩ Nijinsky : “Tôi là Thượng đế trong con người. Tôi cảm những gì Christ đã cảm. Tôi giống như đức Phật, tôi là đức Như Lai Phật giáo và là tất cả mọi Thượng đế thiên hình vạn trạng. Tôi quen biết tất cả những vị đó và đã gặp gỡ tất cả những vị đó. Tôi giả vờ làm thằng điên một cách cố ý  vì những mục đích riêng tư của tôi. Tôi biết rằng, nếu mọi người nghĩ rằng tôi là một thằng điên vô tội thì họ sẽ không sợ tôi. Tôi không thích thiên hạ nghĩ rằng tôi là một thằng điên nguy hiểm. Tôi là một thằng điên yêu thương nhân loại. Cơn bệnh điên của tôi là tình thương của tôi đối với nhân loại.”**

Thật vậy, quả nhiên đúng là như thế, phải không hỡi đại thi sĩ Bùi Giáng ? Cơn bệnh điên của thi sĩ là vì quá thương yêu nhân loại đó thôi. Yêu thương quá độ mà thành ra điên, mà bày ra đủ trò khiêu vũ ngôn ngữ, hý lộng ngữ ngôn một cách thượng thừa như đùa như rỡn trào tuôn. Ừ thì như thị, như thế, như thế, cứ mở ra những cuộc rỡn đùa chơi hay đại hòa điệu chơi giữa cõi người ta, vì tất cả mọi sự trên thế gian này đều chỉ là trò chơi, trò đùa huyễn mộng. Sống là chơi, chết là chơi, điên rồ là chơi, tỉnh táo là chơi, uống rượu khề khà là chơi, mê gái là chơi, làm thơ làm thẩn là chơi, làm văn nghệ là chơi, làm cuồng sĩ túy lúy ca là chơi, làm thiền sư tự do tự tại là chơi, làm bất cứ việc gì cũng là trò chơi, trò đùa du hý tam muội mà thôi :

Mỗi người có một cách chơi

Em vui với gió tôi ngồi nhìn trăng

Em đi năm tháng thường hằng

Tôi nằm nhớ mãi hàm răng em cười

 

Mở tờ giấy mới ra chơi

Hình như giấy cũng vui cười với em

Bài thơ do đó lem nhem

Lúc vui lúc khổ như em đó mà

Còn tôi vui khổ thật là

Đảo điên rất mực tiên nga giật mình

Trăm năm khó đổi tính tình

Cũng không có thể làm thinh muôn đời

Thôi thì cứ nói cho vui

Nghìn năm chỉ có một đời muôn năm

Làm sao quên được giọng cười ‘‘vui thôi mà’’ của thi nhân ? Giọng cười ấy vẫn còn đồng vọng khắp nơi trên mặt đất. Bất cứ ở đâu, nếu ai còn cảm được thi ca và phiêu lãng đều nói về Bùi Giáng với niềm rỡn tếu, bông đùa một cách vui vẻ thân mật, gần gũi như là anh em chí cốt ruột rà vậy. Đa số mọi người đều thấy đấy là một Bồ tát nghệ sĩ đi về mặt đất trần gian chuyển hóa con người ta nên buông xả cái tâm chấp thủ, dính mắc vào danh lợi, để sống thanh thản an nhiên với niềm tự do tự tại vô ngại. Bồ tát nghệ sĩ là người không những tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi mắc dính buộc ràng mà còn khôn khéo tìm cách khơi mở tuệ giác nơi những kẻ khác bằng phương tiện nghệ thuật, ngay giữa bây giờ và chính ở đây thôi.

Ngày tháng vẫn luân lưu trôi chảy mãi, nói về Bùi Giáng thì bất tuyệt và giọng cười vô sự cũng mở ra bất tuyệt như Ma Ha Ca Diếp niêm hoa vi tiếu trên đỉnh Linh Sơn rờn mây trắng từ nghìn xưa cho mãi đến bây giờ :

Niêm hoa vi tiếu luống từng

Xuân phong bài động thơ mừng vụt dâng

Người thi sĩ thượng thừa đã về đã tới nơi chốn quê nhà, đã qui hồi cố quận, nằm ngắm trăng đón gió cùng mây về hòa điệu khúc cung cầm vô thủy vô chung :

Tâm tình mấy nẻo mông lung

Ta nằm cố quận muôn trùng người đi

Kỳ tuyệt cõi thi ca Bùi Giáng, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng sự sự vô ngại, lý sự viên dung của pháp giới Hoa Nghiêm. Tư tưởng đó được thi sĩ tiêu dung, tiêu hóa và sáng tạo thành một nguồn thơ độc đáo vô song. Hồn thơ như ngọn lửa thiêng ngời tỏa ánh hào quang, cháy bừng lên rực rỡ huy hoàng làm ấm áp khắp mặt đất trần gian, chan chứa nồng nàn trong cõi người ta tha thiết thiên thu.

Giữa thiên thu vạn đại, ngưới viết xin kính tặng thi sĩ vài bài thơ để nhớ mãi những ngày tháng ở phố thị Sài Gòn cùng thi sĩ ngao du đủ thể điệu phiêu bồng :

 

SAY THƠ

 

Nhập cuộc chơi sớm chiều lêu lổng

Không dừng chân trú lại nơi đâu

Sinh nhằm quẻ Lữ trong Kinh Dịch

Nên rong rêu như bèo nổi qua cầu

 

Cầu sinh tử cứ trôi và chảy

Suối hồ sông biển cả mênh mông

Rạt rào vô hạn cùng Bùi Giáng

Giữa phù hoa nhảy múa phiêu bồng

 

Sài Gòn trút cơn mưa nguồn xuống

Gội cho đời bớt sa mạc khô khan

Trung Niên Thi Sĩ hề nâng cốc

Rượu thi ca tư tưởng uống tràn

 

Quán vĩa hè dăm ba cuồng sĩ

Túy lúy ca hòa cát bụi này

Ngày tháng ngao dumù lảo đảo

Phố phường say trời đất cũng say

 

THI SĨ BÙI GIÁNG

 

Không chỗ trú chẳng bến bờ

Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài

Ngút mùa cuồng sĩ lai rai

Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm

Có gì đâu phải đi tìm

Ba nghìn thế giới trong tim của mình

Tà tà giữa cuộc phiêu linh

Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa

Nên về cà rỡn bông đùa

Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười

Miền hoan hỷ địa rong chơi

Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra

…………………..

* Tạp chí Tư Tưởng số 5. Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1969

** Phạm Công Thiện. Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử, Trần Thi xuất bản, Hoa Kỳ 2009

*** Tuệ Sỹ. Huyền thoại Duy Ma Cật. Phương Đông xuất bản,  2007

**** Nguyễn Hữu Hiệu. Con đường sáng tạo. Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn 1973

***** Nguyễn Tường Bách. Mùi hương trầm. Trẻ xuất bản, 2001

 Thơ văn Bùi Giáng ( chữ nghiêng ) trích trong các tác phẩm : Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Sa mạc phát tiết, Sa mạc trường ca, Rong rêu, Như sương, Đêm ngắm trăng, Mùa màng tháng tư, Ký ức, Trúc mai, Mười hai con mắt, Rớt hột phiêu bồng, Bèo mây bờ bến. Thơ vô tận vui, Tuyết băng vô tận xứ, Thúy Vân, Mùa xuân trong thi ca, Tư tưởng hiện đại, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Ngày tháng ngao du.

 

 

Bùi Giáng “chơi” – VHNA

9 Th1

 

  •   Nhật Chiêu

 

 

Bùi Giáng "chơi"

 

Con người và thơ ca Bùi Giáng dường như ăn nằm với một chữ “Chơi”.

Một cuộc chơi lu bù, bất tận, điên đảo, “tục tĩu mà thần tiên”.

Nói theo ngữ ngôn của ông là: trùng du điệp hí, anh nhi hí, đồng tử hí, trần gian du hí, thần thông du hí, ngày tháng ngao du, đùa với tuyết rỡn với vân, tót vời cuộc chơi, mở trận đùa rỡn từng cơn cơn cuộc cuộc, chơi theo lối nghịch hành, chơi trùng khơi trí hải….

Chơi thiên nhiên, chơi đời, chơi thơ, chơi huyền thoại, chơi kinh điển, chơi giai nhân, chơi hỗn độn, chơi thiêng liêng, chơi sáng tạo. Và chơi cái chết.

Thế giới đầy sáng tạo này là Vishnu Lila, trò chơi của Vishnu theo người Ấn Độ. Lila là chơi đùa, nhảy múa. Riêng cõi thơ này là Bùi Giáng Lila.

Đừng đọc thơ Bùi Giáng. Hãy chơi đùa và nhảy múa cùng thơ ấy.

Đó là thơ của Hồn du mục, thơ của Đời vui đón hội và thơ của Ngữ ngôn cuồng dại.

HỒN DU MỤC

Tập Mưa Nguồn là thơ của du tử, mục tử hiểu theo mọi nghĩa. Trang thơ mở đầu đã ngân lên hồn du mục:

Cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng

Hồn du mục cũ xa gần hử em

Bùi Giáng từng chăn dê chăn bò vào mấy năm cuối thập niên 40 vào cuối thế kỷ trước. Có thể thấy rõ việc làm đó cũng là trò chơi, đúng cốt cách Bùi Giáng.

Và chắc chắn nhà thơ mục tử xem chuyện chăn dắt ấy có hẳn một tư cách khác. Con người là mục tử chăn giữ “Tính thể”. Ý tưởng ấy Heidegger bày tỏ trong Thư về Nhân bản luận, một tác phẩm mà Bùi Giáng rất tán tụng.

Không chỉ cánh đồng của du mục là cánh đồng mà thân thể cũng là cánh đồng theo cách nói của Chí Tôn ca (Bhagavad Gita, khúc 13).

Trong lời tựa cho cuốn L’Anti – Oedipe của Deleuze, Foucault viết: “Hãy chuộng lấy những gì lạc quan và đa dạng, chuộng khác biệt hơn là đồng dạng, lưu lãng hơn là đóng khép, biến chuyển hơn là hệ thống. Hãy tin rằng những thành tựu không đến từ ngồi yên mà từ hồn du mục” (1).

Bùi Giáng đem phong cách du mục vào thơ ca, một phong cách tràn đầy tự do, ngang tàng, táo bạo, bất chấp, phụng dâng, tận hiến, tung hê, cuồng ngạo.

Mọi thứ trong thơ Bùi Giáng đều khác thường, lưu lãng, biến chuyển, đều trôi, bay, cuộn sóng, bão giông, quay cuồng, xô đẩy, ầm ào, lên đường, tách bến, ra khơi…

Từ đó mà:

Gót chân khơi rộng bóng cành…

Trùng quan vó ngựa tế nhanh trong mù

Trời đêm tinh tú chạy vòng…

Người xuống theo giòng trôi nước lũ

Người xuống theo thu gió thổi trời

Ô vạn vật vẫn chờ nguồn nước lũ

Nghe mùa nước lũ nguồn trôi phăng đồng

Nguồn trôi nước lũ xuống đè cát xanh

Cái lưu lãng không chỉ nằm ở tứ mà còn nằm ngay trong ngữ âm:

Bờ thánh thót động giòng em đi đến

Làn lênh lang lau lách lại luân lưu…

Trong bài Tuổi Trẻ (Mưa Nguồn) nhà thơ không ngớt giục: “Chạy đi em!”, “Chạy đi em!”… Với người thương, không là ru ngủ như thường tình mà là giục chạy, có lạ không!

Không chỉ có người mới đi và chạy. Cả bản thân THƠ nữa, thơ cũng trôi:

Thơ còn có chảy dưới chân em?

Đó là thế giới của gió và nước, của phiêu du và chuyển hóa.

Nhưng cái đi đến một lúc nào đó lại trùng phục với cái về.

Nước đi ra bể lại MƯA về NGUỒN

(Tản Đà)

Hồn du mục, hồn phiêu lưu cũng là hồn của về nguồn, hồi nguyên. Hồn của Ulysse, Từ Thức. Cội nguồn, ngõ ban sơ, cố quận, nguyên xuân…

Ra đi hẹn với xuân đầu

Buổi hồi nguyên lại pha màu bình minh

Thế cho nên Mưa nguồn mở đầu với hồn du mục và kết tập với:

Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không

Ta đi còn gửi đôi giòng

Lá rơi có dội ở trong sương mù

Như vậy là đivề được nối kết, xưasau được nối kết. Cũng thế, sống chết được nối kết. Tất cả ở trong trò chơi bất tuyệt.

Cả cái chết cũng là trò chơi. Chơi cái chết. Đã chết rồi lại chết nữa. Chết thêm một trận:

Con bèn tái điệp dấn liều

Chết thêm một trận hoang liêu song trùng

Nều hồn chỉ là tâm, thể chỉ là thân thì không thể chơi đùa như thế được. Nhưng với tâm thần phân lập (schizo) thì khác. “Schizo là vũ trụ của cơ chế dục vọng, có thể sản xuất và tái sản xuất”, theo Deleuze (2).

Do vậy mà có hai câu thơ độc đáo và phân lập trong Rong rêu:

Em đi như thể thân là thể

Anh ở một mình thể mất thân

Hoặc như:

Chúng tôi người ngợm vô thường

Lúc mê man lúc chán chường thể thân

Đùa rỡn hết mực, thơ Bùi Giáng trở thành một thứ NGHỊCH THƠ. Nghịch là đùa mà cũng là ngược. Thơ ấy có thể nghịch mắt trái tai với những người xem thơ ca nghệ thuật là trịnh trọng trang nghiêm.

Nhưng phải nhận ra gương mặt thơ của Bùi Giáng như một trò hài (farce).

Nhận xét về văn chương nghệ thuật hiện đại, Ortega trong tiểu luận Giải nhân hóa nghệ thuật (The Dehumanization of Art) cho rằng: “Nghệ thuật được nhận ra như một trò hài (farce)… là trò hài chính là sứ mệnh và đạo lý của nghệ thuật… mời gọi chúng ta nhìn tác phẩm như một trò đùa (a joke) tự chế nhạo mình trong yếu tính… Nghệ thuật mới tự lố bịch hóa mình” (Art… is recognized as a farce… to be a farce may be precisely the mission and the virtue of art… invite us to look at a piece of art that is a joke and that essentially makes fun of itself… The new art ridicules art itself) (3).

Những lời ấy Ortega viết từ năm 1925 ở Tây Ban Nha trongGiải nhân hóa nghệ thuật.

Đến năm 1971, ở Việt Nam, trong Ngày tháng ngao du, có thể là tình cờ Bùi Giáng cũng nêu lên “giọng nói lố bịch” trong triết học và thơ ca:

“Nietzsche thường có giọng nói lố bịch như thế. Lố bịch một cách khệ nệ khệnh khạng như Lão Tử. Hoặc như những ông thiền sư lố bịch ‘Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư’.

Thơ văn tôi làm cũng có lố bịch, nhưng lố bịch một cách thơ dại, khiến người đọc vui vẻ trường thọ…

Lố bịch như thế khiến cõi đời thơ mộng ra. Chúng ta không còn ngạc nhiên gì nữa, nếu thấy bao nhiêu hoàng hậu trong sử xanh đều yêu mến Bùi Giáng, và xa lánh Nietzsche, xa lánh Lão Tử, xa lánh những ông thiền sư”.

Có một trò chơi văn bản (text play) mà Bùi Giáng hết sức ưa vận dụng tạm gọi theo thể cách của ông là trùng phục thu hồi. Đó là cách mà thơ ông tiếp biến với văn chương kinh điển, đặc biệt là với Nguyễn Du, Kinh Phật và Camus. Thường là ông lặp lại (trùng phục) một ít ngữ ngôn hay ý cảnh của họ, từ đó khai lộ những khả tính mới hay hồi nguyên (thu hồi) cái ẩn mật giấu mình nơi đó.

Trùng phục thu hồilà dụng ngữ ông dịch từ Heidegger (nguyên văn tiếng Đức là Wiederholung) khi triết gia này đọc lại Kant.

Ta tạm lấy cụm từ Trùng phục thu hồi để chỉ một thủ pháp thường thấy trong thơ Bùi Giáng.

Trong bài lục bát Hoàng hậu, thử nhặt ra hai câu thơ quen thuộc:

Ngõ ban sơ hạnh ngân dài

Cổng xô còn vọng điệu tài tử qua

Thơ Nguyễn Du luôn ám ảnh Bùi Giáng. Hơn một lần Bùi Giáng nhắc đến ngõ hạnh. Bắt đầu từ câu 2862 trong Truyện Kiều:

Cửa trời rộng mở đường mây

Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần

Ngõ hạnh viênlà nơi các tân khoa tiến sĩ dự yến, xem hoa, dạo chơi. Hạnh đàn là nơi dạy học, ca hát gảy đàn. Dương Qúy Phi được gọi là Hạnh hoa thần

Bản thân Bùi Giáng có dịch bài tản văn Những cây hạnh (Les Amandiers) của Camus in trong Mùa hè sa mạc, trong đó có câu: “một đêm duy nhất lạnh giá và thuần khiết tháng hai, những cây hạnh trong thung lũng Consuls sẽ đơm đầy bông trắng”. Điều này trùng hợp với những cây hạnh Á Đông, nơi tháng hai (âm lịch) là tháng hoa hạnh (Hạnh hoa phát vu lộ hàn: hoa hạnh nở trong sương lạnh).

Và chữ hạnh còn làm ta liên tưởng đến hạnh phúc, hạnh vận, hạnh ngộ…

Khi người tài tử đi qua cuộc đời thì phong tư tài mạo tuyệt vời của họ sẽ ngân dài trong khí quyển của những niềm vui hạnh ngộ, và những ngõ hạnh sẽ nở đầy hoa trắng bất tuyệt, và những mặt hạnh môi đào sẽ đón chờ đâu đó, mặc buốt giá lạnh sương.

Đó chính là đời vui đón hội.

ĐỜI VUI ĐÓN HỘI

Giọng người đổ xuống bến xanh

Đời vui đón hội sao đành sớm tan

Thơ Bùi Giáng là lời tụng ca trần thế, tụng ca cuộc sống. Trước cõi đời và mặt đất, thơ ông dâng lễ mừng, dâng lời tạ ơn. Với ông, đời là hội, như hai câu lục bát trong Mưa nguồn kể trên. Ông gọi trần gian là lễ hội. Ông gọi thi sĩ xưa nay là những người trẩy hội trần gian:

“Họ vào cuộc Lễ Hội Trần Gian cũng đơn sơ như con chim về mùa Xuân ca hót… chỉ xin vào cuộc Hội Hoa Đăng, ca một lời cho Hoa Đăng xán lạn. Cho mọi người cùng yến tiệc giữa Hoa Đăng…” (Đi vào Cõi Thơ).

Giả như Ta hỏi: Tại sao thế, thì có lẽ ông sẽ đáp rằng: “Vì đời là rất mực rất thiêng liêng” (trong bài Vì có lẽ).

Nhưng cái thiêng liêng ở Bùi Giáng không là cái gì cách biệt với cái phàm tục. Do vậy ông thản nhiên viết:

Mở hai hàng cỏ tháng ba

Lễ là Đi Tiểu hội là Vén Xiêm

(Ngày tháng ngao du)

Có ai viết hoa Đi Tiểu và Vén Xiêm như Bùi Giáng không, xin chỉ cho tôi.

Chưa hết đâu, những người con gái của ông sẽ vén xiêm đi tiểu ở trên môt cõi Phật Quốc thiêng liêng và thanh tịnh:

“Lúc bấy giờ, tại ngưỡng cửa một non nước tinh khiết Chúng Hương, ‘những người con gái sẽ vén xiêm đi tiểu’…” (Ngày tháng ngao du).

Phải yêu trần gian thế nào mới làm ra những câu thơ phàm tục ấy? Bùi Giáng không báng bổ Phật Quốc hay Thiên quốc nào. Và quan trọng hơn là ông không bao giờ báng bổ trần gian:

Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

Hết tâm hồn và hết cả da xương

(Mưa nguồn)

Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật

Quả tim mình nóng hổi những chờ mong

(Mưa nguồn)

Quả tim ấy tràn đầy lòng biết ơn đối với vạn vật, từ “kiến bé một con”… đến “cô em mọi nhỏ” và “mây nước rộng xanh trời”…

Dâng lễ mừng là dâng lời cảm tạ với nàng trần gian, với Nương tử thiên nhiên, là đáp đền thơ vì đã được sống trên đời.

Bùi Giáng xui ta nhớ đến Osho trong tác phẩm Cỗ bài Tarot trong linh hồn Thiền – Trò chơi Đời (Tarot in The Spirit of Zen – The Game of Life):

“Dâng lễ mừng là tràn đầy cảm tạ; đó là lời cầu nguyện xuất phát từ lòng biết ơn… được sống, chỉ vậy thôi đã là hội hè… để dâng lễ mừng, chỉ đời là cần – mà đời thì bạn có rồi. Để dâng lễ mừng, chỉ hiện hữu là cần – mà hiện hữu thì bạn đang có. Để dâng lễ mừng, cây lá, chóc chim và sao trời là cần, và chúng có sẵn đấy thôi. Bạn còn cần gì khác?” (4).

Chẳng những nhà thơ ca mừng đời, với tư cách mục tử, ông còn để cho đàn dê mình chăn dắt trên đường trở về ca mừng cuộc sống:

Rập ràng về bế hế rập ràng ca

Đọc thơ Bùi Giáng, khó mà quên tiếng bế hế rập ràng ấy của đàn dê hòa thanh với lời ca “thi dựng” của nhà thơ trong “Ngữ ngôn cuồng dại chập chờn”.

NGỮ NGÔN CUỒNG DẠI

Đọc Bùi Giáng như thể là đi lạc vào một thế giới hỗn độn, chập chờn. Thiên la địa võng của ngôn từ tuôn ra từng trận từng cơn, trùng trùng điệp điệp.

Câu thơ “Ngữ ngôn cuồng dại chập chờn” của chính Bùi Giáng trong Ngày tháng ngao du có thể dùng để miêu tả thế giới Bùi Giáng – đó là thế giới của người thật dắt tay người ảo. Các nhân danh địa danh nửa có nửa bịa. Các trích dẫn chương cú hư hư thực thực. Những đối thoại tưởng tượng (với Nguyễn Du, Nietzsche, Trang Tử, Simone Weil, với các “mẫu thân”, với chính mình, với cả châu chấu, chuồn chuồn) thì quá ư tiếu ngạo, trộn lẫn mọi thứ có thể và không thể…

Bùi Giáng tung ngọc vào bùn, chẳng cần quan tâm thị phi, khinh trọng.

Ông trộn nhã và tục trong nói lái, pha điên và tỉnh trong triết lý, lẫn giả và chân trong trò chơi văn bản, chen hay và dở những câu thơ.

Thế giới đó, dẫu sao đi nữa, là có một không hai.

Bùi Giáng hồn nhiên như trẻ con và tinh ranh như hồ ly, như khi con chồn nó lùi.

Còn ghì lại ân tình trong cỏ nhặt

Múa vi vu vì hẹn với truông ngàn

Hai câu thơ đẹp chứ gì. Nhưng ai đó lại đọc lái chữ “cỏ nhặt”.

Lại câu thơ khác:

Vườn hoa nụ đứng nụ đằm…

Đó là nói lái Bùi Giáng.

Và bây giờ là nói đảo:

Bây giờ riêng đối diện tôi

Còn hai con mắt khóc người một con

Câu thơ rất nổi tiếng, nhất là sau khi được phổ nhạc. “Người một con” là gì? Vẫn còn cãi nhau.

Đó có lẽ chỉ là cách nói đảo của “một con người”. Cách này Bùi Giáng vẫn hay chơi. Ví dụ:

Bây giờ em đếm đầu năm ngón

Lát nữa sương dầm tuyết sẽ pha

(Ly Tao)

“Đầu năm ngón” tức là “năm đầu ngón”.

Tay năm ngón bốn mùa em đi đếm

(Biểu tượng sơ nguyên)

Tay năm ngón – Năm ngón tay.

Kiến bé một con

Bò trên cỏ dại

(Lá thổi như bay)

“Kiến bé một con” – Một con kiến bé.

Giản dị hơn là cách nói đảo của những từ thân thể và xương xẩu:

– Chán chường thể thân

– Kiệt tận xẩu xương

(Lời người điên)

Đôi khi trích dẫn kinh văn, Bùi Giáng không buồn ghi xuất xứ. Đã thế còn tráo chữ, cưỡng từ đoạt ý. Chẳng hạn, trong Ngày tháng ngao du, ông dẫn kinh văn như sau:

“Lúc bấy giờ Trí Hải Ưu Bà Di ngồi tòa chơn kim, đội mão hải tạng chân chu võng,… rủ tóc xanh ngần…”

Ta có thể đoán biết ông đang dẫn kinh Hoa Nghiêm. Có điều trong kinh ấy không có Trí Hải Ưu Bà Di mà chỉ có Hưu Xả Ưu Bà Di.

Bùi Giáng cố tình đưa Thích Nữ Trí Hải (tức Phùng Khánh) vào kinh Hoa Nghiêm. Trong thơ văn của mình, ông liên tục nhắc đến mẫu thân Phùng Khánh, cũng như ca ngợi thần thông trí hải, trùng khơi trí hải.

Sau đoạn trích trên, ông còn điểm thêm câu “Chùa Vạn Hạnh nức nở reo mừng…”

Và sau đó, ông thản nhiên trích dẫn kinh văn tiếp tục:

“Kẻ nào có dịp nhìn thấy vị Ưu Bà Di kia, lập thời mọi mọi phiền não liền được trừ diệt, rời xa mọi nhơ bợn kiến chấp, xô nhào mọi núi non chướng ngại, mà nhập vào cảnh giới vô ngại thanh tịnh… trở thành thy sĩ thượng thừa thù thắng trung niên…”

Tất nhiên, Trung niên thy sĩ ở đây là Bùi Giáng.

Bùi Giáng ơi, Chơi như Ngài có ai đâu

Trùng khơi trí hải gieo mầu nhiệm thơ.

                                                                                

————–

Chú dẫn:

  1. Dịch theo bản tiếng Anh: Anti-Oedipus, Nxb. Continuum, 2004, tr.XV.
  2. Anti-Oedipus, như trên, tr.5.
  3. The Dehumanization of Art, Ortega, Nxb. Doubleday, 1956, tr.44.
  4. Tarot in the Spirit of Zen – The Game of Life, Osho, St. Martin’s Griffin, 2003, tr.105.

 

 

 

Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo dở – kém toàn diện

8 Th1

 

Thứ hai – 05/01/2015 14:42

 
 

                Nhà thơ Thanh Thảo

DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ CỦA THANH THẢO – DỞ, KÉM TOÀN DIỆN

 

Đỗ Hoàng

Nguyên bản:

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn như sợi chỉ giăng
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lói mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe?

Chiếc bòng con đựng những gì
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân nho nhỏ không lời không tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường

Nhà thơ Thanh Thảo tham gia cuộc chiến cuộc kháng chiến chống Mỹ  với tư cách dân sự. Ông xếp sau Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm… Ông được cưng nựng và lăng xê khá đều đặn tên văn đàn chính thống. Để có cái nhìn khách quan công bằng vannghecuocsong.com
 xin in  bài  viết của nhà thơ, nhà phê binh hậu hiện đại Đỗ Hoàng về bài thơ DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ  của nhà thơ Thanh Thảo.

    Để khỏi mất thì giờ của độc giả, tôi đi thẳng vào phân tích nhận xét luôn bài này. Đây là một bài thơ dở, yếu kém toàn diện từ nội dung cho đến nghệ thuật ngôn từ.
 Tuy viết cổ động tuyên truyền, nhưng Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân còn khắc họa phần nào người chiến sỹ Giải phóng quân:
Không cần nghỉ lái trăm cây số nữa
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Tiếu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Máu tin anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân).
Nhà thơ Thanh Thảo không được như vậy. Hai bài được lăng xê nhiều nhất Dấu chân qua trảng cỏ và Bài ca ống cống
 là hai bài thơ làm nhem nhuốc hình ảnh người lính chiến thắng của phe được cuộc!
 Viết về thảo nguyên có bào nhiêu câu thơ hay thơ đẹp truyền lại từ ngàn năm nay:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Thơ cổ Trung Quốc)
Cỏ no xanh rợn chân trời 
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Thanh Thảo có nhiều câu dở dưới mức trung bình:
Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh

 Anh dân sự, bưu tá giao liên trong thơ Thanh Thảo giữa chiến trường sao cô quanh, trơ trọi “tôi thích thất thểu” như một gã cái bang thua bạc thời nay trong các chiếu bạc ở Campuchia vậy!
Chiếc bòng con đựng những gì
 Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
 Chiếc bòng đựng nhiều nhất chỉ bộ áo quần bà ba là cùng hoặc nữa là hai bơ gạo(!)


 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên ta phải đối đầu với với đế quốc hùng mạnh, giàu nhất thế giới mà chi một anh Vệ túm như vậy làm sao mà đánh đấm, mà chiến thắng !)
  Hình ảnh người lính ra trận từ cổ chí kim, phương Đông hay phương Tây đều là những hình ảnh đẹp, kiêu hùng sang trọng, có thực trong cuộc đời. Có thế mới làm nên chiến thắng:
“Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Tiện từ khuê khốn tùng chinh chiến
Tây phong minh tiêu xuất Vị kiều”
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã từ đeo bức chiến bào
Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu
(Đoàn Thị Điểm dịch)

Trai anh hùng nấm mồ da ngựa
Coi chết chóc nhẹ tựa tơ hồng
Theo quân xa biệt khuê phòng
Vung roi Cầu Vị, bềnh bồng gió Tây
(Đỗ Hoàng dịch)

Thân dũng sỹ không thua sức vóc
Sóng đục lờ sóng đục ngày đêm
Kìa quân giặc đến bờ bên
Mài con dao sắc ở trên đá này
Như cha con dạn dày chiến trận
Suốt một đời lận đận binh đao

À ơi, con ngủ cho lâu
Mai sau khôn lớn mẹ cho diệt thù!
(Bài ca Cô dắc – Bằng Việt dịch)

Còn cái anh giao liên cái bang của Thanh Thảo:
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn có nhòe?
Đi không nổi nữa thì đòi làm được cái gì (!)

Các hình ảnh được Thanh Thảo chọn làm đặc trưng trong bài thơ là những hình ảnh hạ cấp không tiêu biểu. Anh chiến sỹ giao liên thuộc dạng cái bang (ăn mày), con chim két thuộc loài mồng két trên đồng trảng là loại hạ điểu kêu choe chóe chứ chẳng linh điểu cất lên tiếng vang chin tầng mây. Loại cỏ voi là loại cỏ ngoại lai nhập đầu thời Mỹ vào miền Nam, cũng là loại hạ thảo, bần tiện không phải linh thảo.
  Tất cả đều ở trên cái đồng không mông quạnh lạnh lẽo trơ trọi, rách nát, hèn kém!

Bài thơ lục bát chỉ 24 câu mà Thanh Thảo dùng nhiều vần thông khiên cưỡng và đầy lỗi vận, lỗi vần (10 lỗi):

Những gì gửi lại chỉ là dấu 
chân
Vùi trong trảng cỏ thời 
gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm
 mắt ta

Hay:
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh 
mang
Lối mòn như sợi chỉ 
giăng
Còn in đậm đặc vô vàn 
dấu chân

Hay:
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến 
trường
Những người sốt rét đang 
cơn

Hay:
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe
?
Chiếc bòng con đựng những 

Mà đi cuối đất mà đi cùng trời

Kết bài thơ là tai hại nhất là hỏng toàn bộ bài thơ:

Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau  biết đường ra chiến trường.


Sao nhà thơ Thanh Thảo lại xui dại con cháu vào chỗ chết như vậy? Thời chiến tranh chống Mỹ có bom nổ chậm đều có bảng cảnh báo – warning để cho người đi sau nhằm tránh hướng khác chứ không lao vào chỗ chết. Ngay em bé trong phim Chim vành khuyên biết mình hô to mình sẽ bị giặc giết nhưng em vẫn kêu lên cho mọi người tránh giặc: “Đò giặc đừng qua! Đò giặc đừng qua!”. Sao nhà thơ xui như xui trẻ con ăn cứt ca (gà) như vậy nhỉ?

Cho người sau biết đường ra chiến trường

Đáng ra phải viết:
Cho người sau biết tránh xa chiến trường
 chứ?

Bởi vì dù chính nghĩa hay phi nghĩa vào chiến trường đánh nhau là vào chỗ chết. Ngày cả ra đi cũng đã vào chốn bụi bờ, là chết một ít:
C’ est toujours le deuil d’un voeu
Le dernier vers d’un poème
Partir, c’est mourir un peu

Để tang mãi những câu cầu khẩn
Lời cuối cùng vẫn ánh tình thơ
Đi là chết chốn bụi bờ

(Rondel de L’adieu – Edmond  Harau court 1858 -1942 – France)
(Đỗ Hoàng dịch)

 Nếu biết học tiền nhân một chút thì có thể viết khổ kết bài thơ trên có sức khái quát hơn, nâng tầm thơ lên hơn:
“Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên

(Tả thiên chí Lam Quan thị diệt tôn Trương – Hàn Dũ)

Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương  ta bến Chướng này!
(Bị giáng chức bị đổi đi xa đến ải Lam viết cho cháu là Trương – Hàn Dũ – Đỗ Hoàng dịch thơ (*)

Kết –  DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ:
Vẫn còn nhắc tận sau xa
Nhớ vào gom nhặt thịt da, xương tàn
Đưa về đặt những nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

(*) Tham khảo:

Hàn Dũ

TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN THỊ DIỆT TÔN TRƯƠNG

Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên
Tịch biếm Triều Châu lộ bát thiên
Bản vị thánh triều trừ tệ chính
Khẳng trương suy hủ tích tàn iên
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại
Tuyết ủng Lam Sơn mã bất tiền
Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên.

BỊ GIÁNG CHỨC ĐÀY ĐI XA ĐẾN ẢI LAM VIẾT CHO CHÁU LÀ TRƯƠNG

Sớm gửi Cứu trùng lời thẳng ngay
Chiều Triều nghìn dặm lệnh đi đày
Thành tâm lo nước giúp vua sáng
Tận dạ vì dân sá thân gầy
Mây che Tần Lĩnh quê mờ mịt
Tuyết phủ Lam Quan ngựa khói bay
Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương ta bến Chướng này!

(Đỗ Hoàng dịch thơ)

Hà Nội, ngày 4- 1 – 2015

Đ – H

Sửa chữa nâng cao 
Dấu chân qua trảng cỏ

Đặt tựa đề:

QUA TRẢNG CỎ

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn sợi chỉ dọc ngang
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lối mòn cảnh báo đường ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn đã lì!

Chiếc bòng – trái đất đương thì
Mà đi bùng biển mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân cho đất, cho đời có tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải ngút ngàn mắt ta
Vẫn còn gửi tới sau xa
Cho người sau biết tránh xa chiến trường!

Đoạn kết có thể viết như thế này:

Vẫn còn nhắc nhở sau xa
Xin vào nhặt chút thịt da xương tàn
Đem về táng ở nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

                          Hà Nội, ngày 4 -1- 2015

Đ – H   

 
Bài do việt trinh mai  viettrinh75@gmail.com   gởi đến Vô Ngã

THÁNG GIÊNG & EM

4 Th1
THÁNG
GIÊNG
& EM
Tháng giêng đẹp như lòng em xuân dậy
Chiều trôi trôi nắng gió se hờn
Thơ úa rụng bên đời hờ hững
Một mình anh cào xé trái tim mình
Cứ im ắng cho lòng quắn nhớ
Làm con ốc vặn hồn trong vỏ đam mê
Biển cứ dội trùng trùng con sóng vỗ
Bờ yêu thương đợi mãi gió xuân về
Em hòang hôn sắc chiều đang rừng rực
Để cọc còi đồi núi cháy trơ gan
Cây cứ xanh hoa cúc vàng cứ nở
Mà lòng anh tím rịm cả chiều xuân
Em là đá anh làm rêu che nắng
Em là cây anh làm gió ru hời
Em là sông anh làm cửa biển khơi
Uống cạn tình em miên man chảy.

NGUYÊN HẢI

 

10703959_1544451532492518_8772390027952760434_n10885216_1544451475825857_2844177315982889729_n

Chùm thơ trong tù của Hà Sĩ Phu – BS

26 Th12

 

Posted by adminbasam on 26/12/2014

(1995-1996)

Lương tâm vác thánh giá

Trí tuệ vào nhà pha

Hà Sĩ Phu

 

Noel  trong tù  

Trại giam một Chúa nhật

Đêm Noel nhớ nhà

Tôi nhớ người sinh trên máng cỏ

Lại nhớ về Thích Ca

Nhớ Lão Trang, Khổng Mạnh

Các Mác và Ala …

 

Chân lý như  Đức Mẹ

Hư thực ở lòng ta

Rộng hẹp không bờ bến

Đồng trinh vẫn nguyên vẹn

Để anh vào anh ra.

 

Muôn kiếp người đi qua

Đường thế gian vẫn vậy.

Lương tâm vác thánh giá

Trí tuệ vào nhà pha.

 

Ôi con đường thế gian

Rắc tàn đuốc tuệ

Nam mô A di đà…

 

Ông Frớt ơi ông Frớt

Đêm nay tôi nhớ nhà…

(B14 Hà nội đêm Noel 1995)

——

Lời Phật

Cho con trải một lần tù

Để con tròn một kiếp tu với đời!

Kiếp người đau thế con ơi

Mỗi dòng con viết lệ rơi mấy lần?

Viết đi cho sạch nợ trần

Lâng lâng đuốc tuệ soi chân con về !

 (B14 , 7/1996)

——

Thông báo thành lập Hội mù cho người sáng mắt

Tớ lập ra đây Hội Mù…Mịt

Hội viên: xét những ai Mù…tịt

Óc lười suy nghĩ, quyết đần ngu

Tuy sống nhưng mà lòng đã chết!

Mù quáng, Mù dở thì phải xem

Hiện vẫn còn mù mới được xét!

Các bậc ranh ma giả cách mù

Diện này ưu tiên kết nạp hết!

Hội Mù mắt sáng, lòng tối om

Xin thề: Nhắm mắt giữ niêu cơm

Kẻ đã thừa cơm thì giữ ghế

Mục đích: Làm “rầu” cho nước non

Để tiếng thơm…um cho hậu thế!

Ai tán thành kíp kíp viết đơn

THẾ GIỚI TÙ MÙ VẠN VẠN TUẾ!

——-

Tự đắc

Cái thú trong tù dễ mấy ai

Thâm nghiêm cửa đóng với then cài.

Cửa nhà dân dựng tha hồ ở

Cơm nước trên ban mặc sức sài.

Cầu tiêu một hố kề bên nách

Giường đá hai bên vững tựa ngai.

“Mời ra làm việc” (*) khi nghe gọi

Tưởng tiếng non sông gọi tướng tài!

(B14  Hànội, 12/1995)

(*) Đây là lời Quản giáo gọi đi hỏi cung.

——

Nói chuyện với người trên báo (*)

Ông trước tù vì  ĐỘC LẬP

Tôi nay tù vì TỰ DO

Đến lượt tôi vào ngục

Ông lại thành ông to

Nắm tay nhau chạy miết

Chưa vượt qua… Hỏa lò!!!.

(B14 Hà nội , 8/1996)

(*) Tù nhân chỉ được đọc báo Nhân dân, một hôm thấy có ảnh

ông Đỗ Mười đăng rất lớn, bèn nảy ra ý đối thoại với ông.

H.S.P.

Kha Tiệm Ly: UỐNG RƯỢU VỚI ĐĨ. –

5 Th12

 

Em nói với ta em là con đĩ về chiều.
Ta tên bá vơ cũng trách đời mạt vận.
Cùng gặp nhau trên bước đường lận đận,
Ta chán hải hồ, em chán tiếng yêu.

Em ở lầu xanh, mà tâm hồn thánh thiện,
Kẻ ở lầu hồng chưa chắc gái thuyền quyên.
Mang áo rách vai cũng vẫn là hảo hán,
Đội mũ ô sa đâu phải chẳng thằng hèn!

Đời đá ta, em mời ta lít rượu,
Đời bỏ em, ta lại uống say mèm.
Bao son phấn em quăng vào quá khứ,
Chuyện giang hồ ta gởi lại đàn em.

Đêm qua tiếp khách, sáng em mời uống rượu
Dắt tay nhau ra quán bụi đời.
Viêm màng túi nên trả tiền không đủ,
Cầm thẻ nhà văn, chủ quán đéo thèm coi!

Ta lại vắt óc kiếm tiền mua rượu,
Em lại ra đường rước khách để mua cơm.
Cơm, rượu ngày nay sao quý như vàng ngọc,
Ta xót xa, em nhức nhối từng đêm!

Em thổn thức khóc trọn đời làm đĩ,
Ta xót thương cho một kiếp giang hồ.
Em, vợ ngàn người mà không ai tri kỉ,
Ta, mấy cuộc tình chưa đẹp một câu thơ!

KTL

 

CON TRỞ VỀ

22 Th11

CON TRỞ VỀ

Con trở về
nơi ngày xưa
anh chị em con sinh ra và khôn lớn
ngôi nhà có khác đi
trong nhà tiện nghi tạm đủ
chỉ có mùi đất nồng
là cũ rích vị đắng-ngọt thủy chung
mãi từ cái thời
nội nhóm cho mẹ cha
thắm gừng cay muối mặn.

Hương buổi mai
còn đâu đây nồng nàn ngồng hoa cải
ánh mắt trời lấp loáng giọt sương mai
có bóng mẹ má hồng
thơm mùi than khói sớm
cha hỏi yêu: “cơm chín chưa mình”
qua bữa đầu ngày
mẹ dầm mưa đội nắng mưu sinh.

Chỉ có chiếc đòn gánh
và đôi bầu nan tre trét dầu mới hiểu
đôi vai gầy mẹ gánh mấy chợ gió sương
để có được bữa ăn
khoai sắn nhiều gạo ít
chị xới cơm
cha nói: “con nhẹ tay
đừng chạm đáy nồi
con chó ngồi lặng nghe
nó ứa nước mắt đó con ơi”.

Con trở về
nay không còn mái nhà tranh xiu vẹo
bếp lửa ấm nồng chống chọi những ngày đông
không còn chiếc gáo dừa bên lu nước
không còn phiến đá mòn
cha hay đứng rửa chân mỗi bận bán buôn về
thay vào đó
giờ là giếng bơm, nước máy
sướng vô cùng
nhưng chẳng mát như xưa …!!!

Con trở về
mâm cơm nhà thịnh soạn
thương ngày xưa
thương con tép bạc luống rau vườn
mẹ chăm bón đàn con no bụng
khi ngoài đời còn nhiều cảnh đói rét lầm than

Giờ trong bữa ăn
mẹ vẫn còn thói quen ăn nhín
các con lầm bầm
“bà ăn rứa, bịnh ai lo”
đã nhiều lúc con thấy mình có lỗi
trước đây mẹ cho ta ăn chẳng nặng nhẹ bao giờ
(ngày xưa ta cắn vú mẹ đau, mẹ vẫn cười)

Con trở về
ngồi bên mẹ đã già
già lắm
nghễnh ngãng tai, nói chuyện phải như la làng
những chuyện xưa mẹ kể bảy lượt dăm lần
nhưng trong mẹ cứ như mới lần đầu cho con hiểu
biết mấy bận tụi con chê: “nội (ngoại) chiếu phim cũ rich”
Rồi bực mình: nghe hoài mệt quá mẹ ơi.

Mẹ không nói ra
nhưng dường như mẹ biết
mẹ mất hết rồi
mất hết cảnh cũ nhà xưa
và đàn con thực sự xa rời
xa đôi cánh mẹ từng đở nắng che mưa
nên hàng ngày mẹ ra vườn làm lụng
hái rau xét chuối nhổ cỏ quanh vườn
tìm vui mót chút hương đời sót lại
các con có biết đâu lòng mẹ héo gầy.

Con trở về
rồi con lại đi
chỉ còn mẹ trong khu nhà vườn cũ kỷ
lòng thủy chung đất tổ tình người
những chiều mòn
sâu mắt mẹ già mờ ảo nhớ thương con.

 

Ảnh của Nguyên Hải.
Ảnh của Nguyên Hải.
Ảnh của Nguyên Hải.
Ảnh của Nguyên Hải.
Ảnh của Nguyên Hải.

Một bài thơ lạ về thân phận Việt – VHNA

17 Th11

 

  •   Đỗ Minh Tuấn
 

Trong tư cách số đặc biệt về thơ, Việt số 1 (Australia) đã có nhiều bài sáng tác, lý luận và thẩm định gây ấn tượng, gợi mở suy nghĩ và khai mở thêm các kênh, mạch suy tư về thơ và không chỉ về thơ. Những bài viết hay dịch đều có một định hướng chung: chiêm ngưỡng, thực thi và giải minh cái mới trong thơ. Bài viết của Hoàng Ngọc-Tuấn giới thiệu bài thơ SCHEMA của Dan Graham lại nỗ lực nối kết những câu chữ vốn bị coi là phi thơ với cội nguồn nhân bản của thơ là khát vọng truy tìm những bí ẩn kỳ thú của tự nhiên trong con người, cố gắng giải mã cái cơ chế cám dỗ của bài thơ quái dị này. Những bài viết của T.S. Eliot, R.M Rilke, Richard Kostelanetz, W.J.T Mitchell là những cú đấm lý luận vào những cặp mắt đọc thơ cũ kỹ…

Bài viết này là kết quả hôn phối của những xúc động và ấn tượng khi đọc bài thơ “Đọc bài Con cò mà đi ăn đêm” của Trần Lộc Bình với những hứng khởi lý luận tìm kiếm bảo vệ và hỗ trợ cho cái mới được gợi lên bởi những bài viết của Nguyễn Hưng Quốc, Thường Quán, Ngu Yên và Hoàng Ngọc-Tuấn.

Toàn văn bài thơ như sau :

Con cò – một biểu tượng về thân phận Việt

Giáo sư Phan Ngọc cho rằng văn hoá Việt Nam được đặc trưng bởi bốn thành tố: Tổ quốc, gia đình, thân phận và diện mạo. Đây là một nhận định chính xác và sâu sắc. Bốn thành tố trên có liên quan với nhau, là điều kiện cho nhau và trong một chừng mực nào đó là bổ sung và đối trọng của nhau. Mặc cảm thân phận có thể coi là một mẫu số chung nhạy cảm. Người Việt không chỉ bị ám ảnh và suy tưởng về thân phận cá nhân liên quan đến diện mạo trong cộng đồng, mà còn xót xa với thân phận gia đình và Tổ quốc trong những diễn biến trầm luân của nó. Khảo sát văn hoá Việt Nam mà không quan tâm đúng mức đến mặc cảm thân phận thì sẽ khó giải mã được những biểu hiện tinh tế, phức tạp của tâm thức văn hoá Việt.

Mặc cảm thân phận xuyên suốt và ám ảnh trong nhiều hình tượng văn học và biểu tượng văn hoá, trong đó, bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” là một trong những biểu hiện đậm nét nhất. Đó là tiếng nói của thân phận nông dân Việt nói riêng và người Việt nói chung nhắn gửi ông Trời và con cháu. Hình tượng con cò trong ca dao Việt Nam mang tính chất một biểu tượng văn hoá, một hiện thân của thân phận người Việt và một biểu trưng của tính thơ. Trong tư cách là biểu tượng văn hoá, con cò là nhân vật đại diện chất thơ truyền thống Việt, đối trọng với con cóc là đại diện cho tính chất phi thơ. Sự đối trọng này không phải là ngẫu nhiên. Đối chiếu hai hình tượng này ta thấy rõ chúng đối trọng nhau, tương phản nhau đến từng chi tiết:

        Con cò                                                        Con cóc

Trắng, đẹp, mượt                                        Đen, xấu xí, sần sùi

Trên cánh đồng mênh mông                        Trong hang chật chội

Bay lả bay la                                               Ngồi đấy, nhảy

Yếu ớt, hiền lành dịu dàng,                          Khoẻ, nghênh ngáo, cộc lốc

Hành động khó khăn, phức tạp                     Hành động dễ dãi, giản đơn

Có mục đích nhỏ, cụ thể thiết thực             Vô mục đích/ mục đích lớn

Không bị châm biếm                                    Bị châm biếm

Qua sự đối chiếu này ta thấy con cò là biểu tượng của thân phận con người lao động bình thường, nhỏ bé, an phận, giàu tình cảm và mơ mộng; con cóc là hiện thân của lớp người mạnh mẽ, giàu lý trí và ý chí, không chấp nhận thực tạiđó là những nông dân khởi nghĩa đòi đổi thay số phận và giới trí thức, quan lại giàu ý chí và lý trí. Nếu con cò và những hình tượng nằm trong hệ thống mô típ trữ tình kiểu con cò được coi là có chất thơ, hợp với tần số trữ tình của văn hoá Việt, thì con cóc hiển nhiên phải là hiện thân của cái phi thơ. Ở đây, xét từ góc độ ý thức về thân phận thì con cò được người Việt xưa này thương cảm vì nó tỏ ra “biết thân biết phận”, dùng thơ con cò ru con có thể giáo dục cho con trẻ trở lên ngoan ngoãn, biết điều, không gây hấn mà năn nỉ van xin kẻ mạnh nới tay giữ cho mình một chút danh thơm trong sạch trong tư thế kẻ yếu, kẻ sa cơ lỡ vận, kẻ bị oan. Bài thơ con cóc không được đem ru con chắc là vì cha ông ta sợ nhồi vào trí não trẻ con những thái độ nhâng nháo, không biết thân biết phận (?!) Song, cả con cò và con cóc đều là những biểu tượng văn hoá phức tạp mang trong nó những chiều hướng khác nhau của tâm thức văn hoá Việt đầy nghịch lý, đều là những biểu hiện rõ nét của mặc cảm về thân phận bé nhỏ của người Việt với những biến tướng tự tôn và tự ti, khuất phục và phản kháng, kiêu hãnh và tủi hổ, lì lợm, bất cần và năn nỉ, cầu cạnh v.v…

Từ bao đời nay, tiếng kêu cứu của con cò trong bài ca dao “Con cò mà đi ăn đêm” là lời tự thú, thanh minh và than thở của thân phận người nông dân Việt Nam, là lời khẩn cầu được cứu vớt cả thể xác và linh hồn. Nhu cầu giải phóng linh hồn xuyên qua cả cái chết. Người Việt Nam chấp nhận trả giá, chấp nhận sự trừng phạt, chấp nhận cái chết dù đó là cái chết oan, nhưng đòi hỏi kẻ mạnh phải tôn trọng, phải đối xử với cái chết của mình bằng những hình thức tương xứng với con người lương thiện. Trong một khía cạnh nào đó, lời khẩn cầu “có xáo thì xáo nước trong” còn có ý nghĩa biện minh cho một tội lỗi con người mắc phải trong tình thế (“đi ăn đêm”,”lộn cổ xuống ao“).

Chỉ với sáu câu lục bát thôi, bài ca dao đã ghi chép tất cả cái tinh tuý của hồn Việt với ý thức về thân phận và khát vọng vượt lên thân phận nhược tiểu, lệ thuộc bằng sự tìm kiếm khôn nguôi những ý nghĩa cao cả, những giá trị đạo đức và văn hoá.

Thi pháp mới và những hiệu quả tư tưởng thẩm mỹ mới

Bài thơ “Đọc bài con cò mà đi ăn đêm” của Trần Lộc Bình thoạt nhìn có vẻ một trò đùa, nhưng càng đọc kỹ, càng ngẫm nghĩ, càng thấy bài thơ gây xúc động và gợi nhiều suy tưởng về thân phận người Việt trong thế giới hiện đại. Những dấu khoanh vòng, những đường nét nối kết tìm kiếm những liên hệ ngôn ngữ trong bài thơ gây ấn tượng trực quan về sự mổ xẻ, phanh phui, xét nét và tàn nhẫn cái biểu tượng về thân phận Việt Nam. Bài thơ bị băm ra, những đường đứt đoạn gạch chéo gợi lên hình ảnh những mũi chỉ khâu bài thơ lại, dấu vết của một sự giải phẫu.

Thế giới hôm nay lắng nghe, tiếp nhận tiếng kêu cứu truyền đời của người Việt chúng ta theo phương thức của thời hiện đại – không đón nhận bằng quả tim đôn hậu thuần phác cổ điển của ngày xưa nữa, mà tiếp nhận nó từ các chiều kích khác nhau của lý trí khoa học và lý trí quyền lực.

Tiếng kêu cứu bị giải mã, bị đưa vào hệ nhìn của tin học để lập hồ sơ, phân tích thành các yếu tố thông tin về cấu trúc và dữ liệu. Những thành tố văn hoá, những run rẩy thân phận, những khát vọng ngàn đời chỉ còn là những thông số kỹ thuật: “Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng trắc bằng” như các bảng properties trong computer. Những tiếng gọi thất thanh trong lịch sử “Ông ơi“, những lời lẽ nhún nhường “Cò con” từng mang biết bao nhiêu thông điệp về thân phận và văn hoá của người nông dân Việt Nam bé nhỏ, giờ đây chỉ được tiếp nhận như những đại từ “Ngôi thứ nhất” “Ngôi thứ hai” “Ngôi thứ ba”. Ngôn ngữ và ý thức về ngôn ngữ dường như nổi bật hơn con người với cảnh ngộ, tư thế và đức hạnh của nó. Phương tiện giao tiếp của con người được người ta quan tâm hơn bản thân số phận con người. Đó chẳng là tâm thế và bi kịch của thời đại hôm nay đó sao? Con cò xưa bị mất đối tượng để cầu cứu, gọi “ông ơi” không được nữa, phải quay sang gọi “bà ơi”. Tội nghiệp. Nhưng tiếng kêu lại không được hồn nhiên đón nhận như ngày xưa. Con người hiện đại đầy hoài nghi không tin vào những lời nói, những thông điệp mà nó nghe thấy. Nó chất vấn lại:

Vô tình đậu phải cành mềm… xuống ao?

Nếu tôi mà có lòng nào… xáo măng?

Xáo thì xin xáo nước trong?

Những lời chất vấn ấy thêm vào thật đắt, nó gợi về sự thờ ơ, sự hoài nghi, sự mỉa mai và vô cảm trong con người hiện đại trước lời kêu cứu cấp bách kia gây ấn tượng về sự mất đi khả năng giao cảm và mất đi tính cấp bách của chủ nghĩa nhân văn trong đời sống hôm nay. Mặt khác, nó gợi cảm giác về sự thận trọng của computer luôn luôn hỏi lại ta, án ngữ ta, ngăn chặn những lỡ lầm và những phiêu lưu, mạo hiểm. Cuối cùng, những chữ khoanh tròn, những ghi chú về ngôi thứ, những câu hỏi hoài nghi trước lời khẩu cầu gấp gáp còn gợi ấn tượng về thái độ lạnh lùng, hoạch hoẹ, tác phong phê chuẩn của quan lại trong một thế giới quan liêu, bất cận nhân tình. Trọn vẹn mối quan tâm của thời đại nằm gọn trong những gạch đít, khoanh vòng (ghi nhận, lưu ý, phê chuẩn, đánh dấu) ấy thôi! Người ta không để ý đến những đòi hỏi nhân đạo, cao thượng (“vớt tôi nao”“xáo nước trong”) mà người ta chỉ khoanh vòng chú ý đến hiệu quả thực dụng (“xáo”), nhấn mạnh đến ngôi thứ (“ông”, “con”) mà thực chất là tính toán về sự khác biệt về tầng lớp của con cò và kẻ mà nó cầu cứu.

Những đường kẻ dọc bài ca dao không chỉ ghi dấu sự lấn áp của kỹ thuật vào hồn người, mà còn tạo biểu tượng thập giá của Thiên Chúa giáo và thập ngoặc của chủ nghĩa phát xít. Khi được nối lại với nhau bằng những liên hệ cấu thành biểu tượng, chữ bỗng mang một hàm nghĩa khác vượt thoát khỏi trường ngữ nghĩa vốn có của bài ca dao. Hai chữ “lòng” ở hai đầu dường kẻ dọc được đối trọng với hai chữ chữ “xáo” ở hai đầu đường kẻ ngang và hai chữ “xáo” ở đầu thập ngoặc, gợi những suy tưởng về tương quan giữa cái thiện và cái ác, giữa lý tưởng và thực tế với những ý nghĩa triết học và lịch sử rất thâm trầm, sâu sắc:

1- Trong chiều dọc lý tưởng người ta vươn tới tấm “lòng”, tới tình người, tới chủ nghĩa nhân văn, nhưng trong chiều ngang thực tế người ta lại “xáo” thịt đồng loại, đối xử với con người như đối với con vật, không hơn.

2- Lương tâm, tình người, chủ nghĩa nhân văn (“lòng”) dù ở bậc cao siêu như đức từ bi, vị tha của tôn giáo, hay ở bậc dưới thông thường như tình cảm yêu thương giữa những con người cụ thể đều bị vây hãm trong những vòng chật chội. Trong khi đó những cái ác, sự giết chóc, bạo lực và thực dụng (“xáo”) thì quần tụ nhan nhản và hoạt động tự do, không hề bị nhốt trong vòng kim cô, hay trong những vành khuyên lưu ý của ngòi bút các quan.

3- Cái thân phận cò con, thân phận Việt Nam trong bài ca dao kia giờ đây phải vác trên vai cây thập giá lịch sử, bị đóng đinh vào đó nhưng đến bao giờ mới được phục sinh? Càng suy ngẫm, càng xót xa với gánh nặng của những “sứ mệnh lịch sử”, những “lương tâm nhân loại”. Con cò tội nghiệp sẩy chân xuống lãnh địa của những ông chủ độc ác, tàn nhẫn, còn cố ngoi lên vác cây thập giá đạo lý để cứu chuộc cho mình và cứu chuộc thế gian!

4- Tác giả lưu ý ta rằng, ở đầu mút của thập ngoặc, thập giá (ảo tưởng văn hoá, thân phận văn hoá) là những tên gọi thật và nguy cơ thật (thân phận thực tế). Người ta chỉ nhìn thấy trong những thông điệp đạo đức, văn hoá tâm linh của người Việt chúng ta những yếu tố sinh vật (con cò) có tính thực dụng (xáo) và những liên hệ thứ bậc (ông, con) mang tính lệ thuộc. Chúng ta không phải là Hitler tàn phá thế giới, không phải Jesus cứu chuộc thế giới mà có khi chỉ là một thứ thực phẩm lắp bắp đạo đức mà thôi! Tác giả, vô tình hay cố ý đã làm hiển thị một cái nhìn với thân phận Việt, một nguy cơ với văn hoá Việt.

Sáu câu thơ lục bát không còn là một chỉnh thể nữa, những lời chất vấn, bình luận giải mã làm cho lời kêu cứu của con cò càng trở nên bé nhỏ và yếu ớt. Những lời xen ngang “bằng, trắc, ô, a, nào, nao, ao…” những câu nhại phụ hoạ, “ăn theo” còn gây cảm giác có sự đùa giỡn của một kiểu hề chèo tếu táo chỉ biết pha trò, trêu chọc, không quan tâm đến những đau khổ hay những khát vọng của đối tượng. Nỗi đau bị châm biếm. Đám đông ào vào bài thơ cô quạnh, cười nói huyên thuyên, bình luận nhảm nhí, máy móc, nhưng không thấy có ai quan tâm vớt con cò đang chới với trong nguy khốn với nỗi đau kép của thể chất và của tinh thần.

Tất cả những ấn tượng trên, cùng một lúc đập vào trực giác và suy tưởng của ta, làm hiện lên một cảnh ngộ bi thương của thân phận Việt, văn hoá Việt trước những thờ ơ, đe doạ và tàn nhẫn của lịch sử, của khoa học, kỹ thuật, của thói quan liêu hành chính, của thói thực dụng, hư vô về văn hoá, cợt nhả quay lưng với những đau khổ và khát vọng truyền đời của tổ tiên ta. Tất cả những cảm giác, và suy tưởng đó kết đọng lại trong một ấn tượng thống nhất là ấn tượng về sự tàn nhẫn của những cách nhìn vô cảm về văn hoá và thảm trạng của văn hoá truyền thống Việt Nam trong những diễn biến lịch sử hôm nay.

Sự hình thành cơ cấu bày tỏ mới

Bài thơ được viết bằng một thi pháp nước đôi khơi gợi, pha trộn nhiều phương thức tạo thông điệp và truyền thông điệp. Bài ca dao xưa trở thành cái bệ cho những biểu tượng mới giáng sinh từ “sự chăm chú” nhìn vào “cái quen thuộc” của nhà thơ trong tư cách kẻ đọc bài ca dao đó như chữ dùng của Robert Pack[1]. Song, cái chăm chú nhìn vào một đối tượng quen thuộc để bừng ngộ một chân tướng mới của sự vật là cái chăm chú có bản chất Thiền học mà một số xu hướng hậu hiện đại ở Phương Tây khai thác nhằm thoát khỏi những nếp nghĩ, nếp cảm duy lý, tuyến tính dẫn dắt người viết và người đọc đến những ý nghĩa và ấn tượng cổ điển. Ở đây, tác giả Trần Lộc Bình tuy đã nhìn chăm chú vào vài điểm trong bài ca dao để làm được hai việc mà Robert Pack đã coi là có giá trị đó là: đào sâu vào cái quen thuộc và biến chính bài thơ thành đối tượng nghiên cứu, tạo ra những biểu tượng đa nghĩa, nhưng bài thơ vẫn là sự đào sâu, nâng cao và mở rộng những thông điệp nhân văn truyền thống, vẫn tiếp tục lần tìm ra được những đầu mối quan trọng để gỡ búi tơ rối, chưa phải là nhát dao chặt chéo búi tơ rối để giải thoát người đọc khỏi nhiệm vụ mỹ học cũ.

Nhưng cái mới, cái hay, cái lạ, cái dân tộc tính của bài thơ “Đọc bài Con cò mà đi ăn đêm“, lại nằm trong chính sự dung hợp, đong đưa giữa mới và cũ ấy. Trong bài thơ tác giả Trần Lộc Bình không chỉ kết hợp thơ với phê bình – bài thơ còn là sự pha trộn táo bạo giữa thơ, phê bình thơ, vẽ kỹ thuật, sân khấu, hội hoạ và trò chơi, tạo nên một bản giao hưởng thẩm mỹ phức hợp, tạo ấn tượng mạnh hơn và sâu hơn về số phận con cò truyền thống, số phận văn hoá Việt và thân phận Việt trong cảnh ngộ bị giải phẫu, căng xé, phanh phui, nghi hoặc và bỡn cợt. Ta thấy hình tượng con cò với những ý nghĩa tượng trưng truyền thống của nó trở nên bi thảm hơn, tội nghiệp hơn và đau đớn hơn. Đó là hiệu quả thẩm mỹ của thi pháp mới với tính chất cắt dán, trích dẫn kết hợp trong thi pháp cái biểu hình và cái chất liệu, cái bình dân và cái cao siêu, cái sáng tỏ và cái tối tăm – những đặc trưng thẩm mỹ của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Thêm một lần những quan niệm truyền thống về thơ bị thách thức. Thơ, không còn chỉ là nghệ thuật của ngôn từ thuần tuý, thơ còn là sự cắt xé ngôn từ, sự bình luận ngôn từ, sự khám phá cấu trúc bên trong của tác phẩm thơ để tạo nên tầng ý nghĩa thứ hai, thứ ba…, tức là làm cái việc bắt ngôn ngữ “phải suy nghĩ về chính bản thân”, bổ sung cho nhà thơ tư cách nhà phê bình, nghiên cứu trong bản thân tư duy sáng tác để hướng tới trả lời câu hỏi: “Cái này được làm ra như thế nào?” như Roland Barthes đã đề nghị[2]. Nói cách khác, thơ không chỉ là hồn vía của ngôn ngữ, là vỏ âm thanh hình ảnh trong ngôn ngữ, mà còn là xương cốt kỹ thuật, hành chính và ngữ pháp của ngôn ngữ như những liên hệ ở ranh giới của kỹ thuật và thẩm mỹ, giữa hình thức và cấu trúc. Bài thơ “Đọc bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm” đứng chênh vênh trong ranh giới giữa cá tính và phi cá tính, chủ thể và phi chủ thể, quan điểm và phi quan điểm. Nhà thơ, ở đây, giống như nhện giăng tơ đã giăng mắc những liên tưởng thơ và siêu thơ của mình trên những chất liệu đã định hình chủ thể và quan điểm. Sự can thiệp này vừa phá huỷ vừa không phá huỷ, nó chập chờn giữa phá huỷ và sáng tạo, giữa cũ và mới, giữa đùa giỡn và nghiêm túc, giữa định hình, sáng tỏ và khuất khúc, tối tăm.

Nhà thơ sử dụng chất liệu vốn có để tạo ra một chỉnh thể nghệ thuật mới giống như nghệ sĩ điêu khắc sử dụng gốc cây làm chất liệu tạo hình tạo nên những hình tượng chập chờn giữa biểu hình và chất liệu. Song, cái chất liệu truyền thống, khi được nhà thơ sử dụng như một cái nền để triển khai sự đọc của mình trên đó đã không còn giữ nguyên cái sắc thái thẩm mỹ quen thuộc xưa kia nữa – nó đã dược lạ hoá giống như trên sân khấu Bertolt Brecht, bởi tác giả đã sử dụng một loạt các thao tác lộn trái, căng ra và tô nhấn để xếp chồng những biểu tượng văn hoá khác lên cái biểu tượng cũ có tính nền tảng và tính chất liệu này. Cụ thể:

1Lộn trái: Những câu chất vấn, lập hồ sơ tác giả thêm vào bài ca dao không chỉ gây ấn tượng thờ ơ, máy móc, hoài nghi như đã phân tích ở trên mà còn là cách thẩm vấn những giá trị và những phương thức cơ bản trong truyền thống. Thử phân tích một câu hỏi đầu tiên, ta thấy rõ cái “mưu toan” muốn lộn trái những nếp cảm, nếp nghĩ và nếp phát ngôn trong truyền thống để lạ hoá nó, giúp ta nghĩ sâu tìm ra bản chất:

Con cò mà đi ăn sương

Con cò nhưng đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc bằng

Vô tình đậu phải cành mềm… xuống ao?

Cái ý đồ lộn trái, lật tẩy, gây hoài nghi được tiến hành kín đáo trong những vi chỉnh mang dáng vẻ tu từ vô tư, thiện chí: lặp lại cả một câu chỉ tráo đi một chữ (“ăn đêm” thành “ăn sương”), tiếp tục gợi ý gần hơn bằng chữ “nhưng”, rồi lại nguỵ trang trong những chữ đánh trống lảng nghi binh (bằng bằng trắc trắc) giống như con chim bói cá lượn xa con mồi để rồi cuối cùng bổ nhào xuống nó trong một đường bay bất ngờ, quyết liệt:

Vô tình đậu phải cành mềm… xuống ao?

Bỗng nhiên đặt ra vấn đề “vô tình” hay “cố ý” đậu cành mềm? Dù muốn hay không tác giả đã chỉa sự cật vấn vào sự lựa chọn của truyền thống, kích thích ta nhìn sâu trong vô thức cộng đồng để tìm câu trả lời cho câu hỏi bâng quơ mà hiểm hóc kia. Một chữ “ăn sương” đã lái cái nhìn của ta về phía hoài nghi, giờ đây, thêm chữ “vô tình?” đầy nghi hoặc, mỉa mai, ta không thể không băn khoăn suy ngẫm về nếp cũ.

Quả thực là, tuy ý thức được thói đời “mềm nắn rắn buông”, người Việt vẫn có truyền thống thích “đậu cành mềm”, đề cao tính hiệu quả và sự an toàn của những thái độ “mềm”: “Lạt mềm buộc chặt”, “mát nước thối đá”, “nước chảy đá mòn”, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, “nói ngọt lọt đến xương”, v.v… Trong ngoại giao, người Việt có truyền thống uốn lượn mềm mại giữa các cường quốc, nếu có lúc buộc lòng phải dùng vũ lực chống xâm lược thì sau khi chiến thắng vẫn phải tiếp tục ứng xử mềm mang tính chất đóng thuế về danh dự cho kẻ thù (rải chiếu hoa cho chúng rút về, cống nạp thường xuyên). Trong trang phục, âm nhạc, sân khấu, hội hoạ và kiến trúc người Việt cũng thường thích những đường cong uyển chuyển, những giai điệu vũ điệu uốn lượn mềm mại và êm ả, có thể dễ dàng chuyển hoá sang nhau. Rõ ràng, cái mềm là một sở thích thường trực, một lựa chọn thường xuyên, hơn thế nữa, là một lựa chọn mang tính định mệnh của dân tộc chúng ta. Lựa chọn đó, theo cái lôgic oái oăm của lịch sử, lại hay dẫn đến những trả giá vì những lấn lướt và phản trắc của kẻ mạnh, những cú “lộn cổ xuống ao” mà lịch sử dân tộc không thiếu gì dẫn chứng. Như vậy, nói “vô tình đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” sao được?

Vậy là, những câu hỏi mới được tác giả Trần Lộc Bình đan cài vào bài ca dao đã dồn những biểu tượng truyền thống vào chân tường, bắt nó phát lộ cái bản ngã văn hoá truyền kiếp bấy lâu nay vẫn an nhiên trôi trượt trong dầu nhớt của một chủ nghĩa trữ tình mùi mẫn, yếu ớt và cam phận.

2- Căng ra, cắt dán và tô nhấn: Nếu để nguyên trạng bài ca dao thì nhà thơ không thể tạo được biểu tượng thập giá với hai chữ “lòng” và bốn chữ “xáo” ở những đầu mút. Những câu hỏi, những câu nhại, những câu mang tính hệ thống hoá, lập hồ sơ được thêm vào bài ca dao không chỉ có tác dụng gây ấn tượng từ nhiều phương diện, mà còn có chức năng căng bài ca dao ra để có thể thiết lập những biểu tượng thập giá, thập ngoặc bằng những siêu liên kết vượt thoát khỏi những liên hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa thông thường. Điều thú vị là, ở đây, nhà thơ cũng đã vô tình hay cố ý tiến hành một nghi binh, một kế đà đao để bất ngờ chộp được những chữ cần thiết từ biểu tượng cũ để đưa vào biểu tượng mới y như bắt tù binh vậy.

Thoạt đầu, nhà thơ làm ra vẻ muốn đóng xiềng ngữ pháp cho bài ca dao bằng cách cột nó vào các ngôi thứ của các đại từ nhân xưng “ngôi thứ nhất”, “ngôi thứ hai”, “ngôi thứ ba”. Tiếp sau đó, nhà thơ dần dần đưa xen kẽ những “đội quân” ngôn ngữ của mình vào để khéo léo dồn đuổi cấu trúc cũ của bài ca dao xa dần các liên hệ ngữ pháp và thi pháp truyền thống, cho đến khi có thể bất ngờ úp lên nó một lưới siêu liên kết nối liền những từ ngữ “nội gián” đặc tuyển lại để tạo thành biểu tượng mới. Những chữ “lòng”, “xáo” khi được lảy ra từ những câu ca dao và được dẫn dắt đến một không gian văn bản phù hợp để “nối mạng” bởi biểu tượng thập giá bỗng trở nên những từ ngữ tự do, được giải phóng khỏi ngữ pháp của văn bản cũ, để mang nghĩa mới trong một sứ mệnh văn hoá mới gắn liền với nội dung chiều sâu của biểu tượng mới mà nó đã trở thành một nhân tố trong cấu trúc.

Ở đây, tác giả Trần Lộc Bình đã làm cái việc “gây rối các trật tự biểu tượng đã thiết lập”, trật tự mà Jacques Lacan đã mệnh danh là “Luật của người cha” như cách nói của Paul Hoover khi ông bàn về thơ hậu hiện đại[3]. Bài thơ là nhịp cầu giữa ngữ pháp và siêu ngữ pháp, vừa dùng chữ vừa dùng ký hiệu ngoài ngôn ngữ, các loại tín hiệu và biểu tượng đều nương tựa vào nhau, giao thoa và cộng sinh để tạo lập biểu tượng, khơi gợi và tô nhấn cho những thông điệp nhân văn truyền thống.

Thực ra thì việc dùng những ký hiệu ngoài ngôn ngữ trong thơ để tạo không gian thị giác cho văn bản thơ là việc làm không mới cả về lý luận và sáng tác. Người ta đã từng nói đây đó về cái quyền thoát khỏi chữ của thơ ca hôm nay. “Thơ chẳng lẽ chỉ biểu hiện bằng phương tiện duy nhất là chữ? Chữ có thật sự là đã chuyên chở được nghệ thuật?” (Khế Iêm)[4]. “Thơ hiện nay phải sống trong bối cảnh nhốn nháo của cuộc triệt thoái toàn diện của ngôn ngữ (…) Thơ phải trở về với đời sống khi mà đây đó đã bắt đầu vang tiếng hú vô ngôn thân thương của Thiền sư.” (Đỗ Kh.)[5] Song, ở đây, cái mới của bài thơ, cái tư cách hậu hiện đại của nó lại nằm ở chỗ nó đong đưa giữa ngôn ngữ và siêu ngôn ngữ, giữa ngữ pháp của ngôn ngữ văn chương bình dân với siêu liên kết của biểu tượng văn hoá bác học, nó trình bày được sự chăm chú của nhà phê bình giải mã chất liệu thơ ca truyền thống, đồng thời, bằng chính sự cộng sinh với chất liệu truyền thống nó phát lộ cái tâm thế hoài nghi với truyền thống, săn đuổi truyền thống, mổ xẻ thói quen và giải phóng những tập tính văn hoá cũ cho nó thăng hoa trong biểu tượng mới mang nội dung trí tuệ và thời đại.

Tuy nhiên, bài thơ vẫn không hoàn toàn là hậu hiện đại theo những quan niệm thông dụng vì nó đã không thực hiện triệt để “sự giải cơ cấu của bày tỏ” (Jameson)[6] như những bài thơ hậu hiện đại khác bởi lẽ khi nó “bắt cóc” một số từ để thiết lập nội dung cho biểu tượng mới, nó đồng thời tiến hành hai quá trình: giải thể cơ cấu bày tỏ cũ và thiết lập cơ cấu bày tỏ mới cao cấp hơn, nhưng vẫn chưa giải phóng triệt để chữ khỏi vai trò công cụ bày tỏ những thông điệp, dù là những thông điệp phi logic và phi tuyến tính.

Cái mới của bài thơ là ở chỗ, hình như là lần đầu tiên, nhà thơ biến sự đọc, sự nghiên cứu của mình thành thơ. Và cũng giống như trường hợp bài SCHEMA của Dan Graham (Việt số 1, trang 61), tác giả cũng tạo ra một cơ chế rubic để độc giả tuỳ ý xoay về vô tận các cấu hình, mỗi cách xoay lại làm hiện thêm những tương quan mới, những vấn nạn nghệ thuật và những thế năng văn hoá mới. Song, điều đáng nói ở đây là, nếu như bài thơ SCHEMA của Dan Graham là một bài thơ hoàn toàn phương Tây, thì bài thơ “Đọc bài Con cò mà đi ăn đêm” của Trần Lộc Bình lại mang dáng dấp thơ phương Đông với tính chất hàm súc, lửng lơ, nương theo khơi gợi mà không áp đặt. Hơn thế nữa, tính chất nước đôi, giao thoa, cộng sinh, mượn hình tướng cũ để ký thác hồn vía mới là đặc trưng của văn hoá Việt. Những chữ được khoanh vòng, đánh dấu cũng chuyển tải tâm thức Việt: Sự quan tâm đến ngôi thứ (ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai…), vai trò của tình cảm (lòng) và tính hung bạo bộc phát (xáo). Tính chất quá độ giữa tự do và xiềng xích (trong việc vừa tô đậm những ngôi thứ ngữ pháp như muốn xiềng bài ca dao vào những luật tắc nghiêm nhặt, vừa thả nổi ngôn từ thoát khỏi luật ngữ pháp để tham dự vào biểu tượng mới với những luật chơi mới phá huỷ ngữ pháp kia) rất tiêu biểu cho cốt cách lưỡng thê của người Việt và rất điển hình cho thực trạng xã hội Việt Nam hôm nay. Kết thơ bằng một loạt chữ “bằng bằng trắc trắc – bằng bằng – trắc- bằng” gợi không khí nhịp trống chèo (tùng tùng cắc cắc tùng tùng cắc tùng). Có thể nói không cường điệu rằng đây là một bài thơ đậm đà tính dân tộc, được in trên tờ Việt không phải một ngẫu nhiên.

_________________________

[1]Trong lời giới thiệu tập thơ New Poets of England and America, Pack đã viết: “Một bài thơ hay là bài thơ đào sâu được cái quen thuộc.” Và theo Paul Hoover thì trong những quan điểm của mình, Pack đã đứng về phe với chủ nghĩa hình thức của Phê Bình Mới (New Criticism) và có ý ám chỉ rằng những bài thơ có giá trị duy nhất là những bài tự biến mình thành đối tượng nghiên cứu” (Xem bài giới thiệu về thơ hậu hiện đại Hoa kỳ do Phan Tấn Hải chuyển ngữ, Tạp chí Thơ (California) số mùa Đông1997, trang 170.)

[2]Xem Roland Barthes, “Sự trở về của thơ ca”,Tạp chí Thơ số mùa Xuân 1997, trang 77.

[3]Xem Paul Hoover, bài đã dẫn, Tạp chí Thơ số mùa Đông 1997, trang 188.

[4]Xem Khế Iêm, “Thơ, chính là đời thường”, Tạp chí Thơ số mùa Xuân 1997, trang 126.

[5]Xem Đỗ Kh., “Vần vè là chuyện vớ vẩn”, Tạp chí Thơ số mùa xuân 1997, trang 42.

[6]Xem Paul Hoover, bài đã dẫn, Tạp chí Thơ số mùa Đông 1997, trang 176.

 

 

Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến!

13 Th11

 

Thơ ơi là thơ!

Ảnh TL (minh họa)

 

Ảnh TL (minh họa)

Mới đây, câu chuyện chị Vương Thị Ngọc Thu (ngụ ở thôn Thái Thịnh Văn, thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, Bình Định) khiếu nại lên Ban giám hiệu Trường mẫu giáo thị trấn Vân Canh, tỉnh Bình Định vì con mình là cháu Phan Vương Ngọc T. (4 tuổi, đang học lớp mầm tại trường trên) đã bị cô giáo nhốt vào nhà vệ sinh cùng với hai cháu bé khác, chỉ vì các cháu không… thuộc thơ đã làm nhiều người Việt, một dân tộc mà “ra ngõ gặp nhà thơ” dấy lên nhiều suy nghĩ.
Hành động phi giáo dục của cô giáo thật đáng trách, nhưng vì sao cô lại bắt những cháu bé 4 tuổi phải đọc thơ?
Ở đây liệu có hay không tâm lý thơ được xem như những bài học, dễ nhớ, dễ thuộc và cần thiết cho chương trình giáo dục tiếp theo bởi trong các chương trình học của học sinh bậc tiểu học và trung học, khối lượng thơ trong những bài học “Tiếng Việt” và “Ngữ Văn” là khá lớn?

Ngoài ra chúng ta còn nhìn nhận một điều, dù nhân loại đã bước sang kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật từ lâu, đến kỷ nguyên của máy tính thông minh nhưng rất nhiều người Việt vẫn cứ mơ màng với thơ và ao ước trở thành nhà thơ.

 Chuyện một quan chức cỡ bự khoe mình làm “thơ thần” từng bị dư luận cười cợt một thời, hay một “đại gia” siêu giàu tại Bình Dương, lập hẳn một khu du lịch lớn, trong đó đi đến bất kỳ đâu người ta cũng nhìn thấy thơ (mà toàn những câu thơ trời ơi đất hỡi) là một câu hỏi khó giải đáp vì sao người ta lại “yêu thơ” đến vậy.
Hay là chuyện một tay láu cá, tổ chức hẳn một Câu lạc bộ Sáng tác Văn học nghệ thuật Việt Nam (?), chuyên đi lừa tiền các cụ già hưu trí để dụ họ in thơ và “kết nạp hội viên” cho họ. 
Thực ra các loại câu lạc bộ này hằng hằng lớp lớp tại nước ta, từ phường xã đến quận huyện tỉnh thành, nhà văn hóa… đều có. 
Và hằng năm, có lẽ thơ là một trong những danh mục sách được in khá nhiều tại các nhà xuất bản, tất nhiên người ta in bằng tiền túi, rồi đem tặng nhau, “tự sướng” với nhau, cũng không nguy hại gì cho ai, âu cũng là một thú chơi… tao nhã!
 Ngay cả Hội nhà văn Việt Nam, mỗi năm đến rằm tháng giêng đều tổ chức Lễ Hội Thơ hoành tráng khắp cả nước, trong đó có đủ tiết mục ngâm, biểu diễn hình thể, hát thơ, thả thơ lên… thượng giới, v.v…
Cho nên thật chẳng ngạc nhiên khi một ông nhà thơ nổi tiếng từng hùng hồn phát biểu “Nước ta là một cường quốc thơ” còn công dân mạng lại tự trào “Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến”.
Ngẫm lại những phát biểu trên đều có lý. Cường quốc thơ thì hẳn rồi vì nếu tính số lượng  câu lạc bộ thơ, nhà thơ, tập thơ, bài thơ… thì chắc khó quốc gia nào địch nổi Việt Nam ta.
Còn trong thời buổi các quốc gia trên thế giới đang cạnh tranh nhau trở thành những cường quốc hùng hậu về khoa học kỹ thuật, nếu chỉ giành “chất xám” cho thơ, e là sơn hà nguy biến thật!

Nguyễn Đình Bổn

Bài do viettrinh75@gmail.com  gởi đến Vô Ngã

 

Văn tế thập loại giáo sư – trannhuong

16 Th10

 

Khuyết Danh

Thứ tư ngày 15 tháng 10 năm 2014 7:38 PM

Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột
Dân quê miềng lạnh buốt xương da
Lập đàn đèn nến hương hoa
Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

Bể học vấn hư hư thực thực
Lối quan trường bắc bực gai chông
Vênh vênh một lũ Hội đồng
Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

Không có gì mà gì cũng có
Sự học hàm ngấp ngó đua tranh
Đua tranh thì có giá thành
Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Chốn Tam đình ngong ngóng vào ra
Thanh binh chính thị nghiệp nhà
Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

Nào những kẻ miệt mài đèn sách
Đạo văn người chắp nhặt nên câu
Sách người làm mọt làm sâu
Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

Nào những kẻ tò vò nuôi nhện
Bụng nhện tròn nó quện luôn ông
Ô hô mông quạnh đồng không
Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

Nào những kẻ lập lờ đục nước
Hội Tâm linh mưu chước sắp bày
Dị nhân đuổi gió hô mây
Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

Nào những kẻ điên điên dại dại
Nay quốc ca mai lại quốc hoa
Ô hô vỏ lựu mào gà
Nước nôi man mác biết là còn không.

Nào những kẻ lưu vong thất thổ
Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu
Học đòi lí lẽ ba xu
Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

Nào những kẻ Đông Âu tu luyện
Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu
Gái xinh chẳng dám nhìn lâu
Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

Nào những kẻ cúi luồn thân phận
Tay bút gươm lòng lận bút lông
Ô hô trời đất thấu không
Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy
Hám vinh danh tháu xoáy công trình
Chưa thôi tranh luận rập rình
Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng
Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân
Cuốc Liên điện thoại Ma Lân
Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

Phận bèo bọt thia lia mặt nước
Giang sơn này độc dược tràn lan
Bán buôn sông biển non ngàn
Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn…

Cuối thu nhặt được
(Khuyết danh)  

 

NHỮNG LỜI THƠ TỪ TRÁI TIM – fb: Biên Cương

3 Th10

 

 

LỜI THẢO DÂN</p><br />
<p>Không phải ta sinh nhầm thế kỷ đâu<br /><br />
Chính thế kỷ sinh nhầm ta đấy<br /><br />
Có mắt chẳng dám nhìn, có tai không nghe thấy<br /><br />
Miệng nói lời đèm đẹp hợp lòng nhau!</p><br />
<p>Đất nước này, ông cha trao bãi bể, nương dâu<br /><br />
Xanh lúa, xanh tre, xanh bờ, xanh bãi<br /><br />
Trao trọn vẹn hình sông thế núi.<br /><br />
Trao tiếng thét Luy Lâu, ngọn sóng Lục Đầu<br /><br />
Trao cọc Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Ải Bắc<br /><br />
Trao lại cho ta Rạch Gầm Xoài Mút<br /><br />
Trao ngút ngàn rồng lửa rực Thăng Long!</p><br />
<p>Trao cho ta " Sát Thát" một tiếng gầm!<br /><br />
" Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!"<br /><br />
" Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Pháp!"<br /><br />
Trao lại cho ta Đài Nghiên Tháp Bút<br /><br />
Ký thác gì....vời vợi Tả Thanh Thiên?<br /><br />
Trao cho ta cánh hạc vàng trên mặt trống Đông Sơn<br /><br />
Bay ngược hướng mặt trời đón nắng<br /><br />
Trao lại cho ta hàng ngàn năm đêm trắng<br /><br />
Để tiếng Việt mình tròn trịa giữa vành nôi!</p><br />
<p>Ta nhận non sông....ông cha khóc, ta cười<br /><br />
Ta hồ hởi đón rừng vàng biển bạc<br /><br />
Ta hoan ca tấu ngàn khúc nhạc<br /><br />
Không biết một ngày cách hạc cứ dần xa...<br /><br />
Đất nước bao lửa đạn can qua<br /><br />
Lại hồi sinh qua mấy lần giặc giã<br /><br />
Ta nhận rồi có trả...<br /><br />
Ước vọng hùng cường trong kí thác ông cha?</p><br />
<p>Rừng của ta...biển của ta<br /><br />
Bao cánh rừng thành lưu vong một phần hai thế kỷ<br /><br />
Phần còn lại, hoá lòng hồ báo tử<br /><br />
Trong giấc ngủ em thơ, tiếng động đất gầm gừ...</p><br />
<p>Boxit loang đau dải đất hiền từ<br /><br />
Ruộng mật bờ xôi biến thành toà cao ốc<br /><br />
Mẹ ru:" con đừng khóc<br /><br />
Mai mẹ con mình tìm một vạt chiếu manh!"</p><br />
<p>Biển bạc của ta, kẻ cướp lưu manh<br /><br />
Biển mà mất...trời xanh kia cũng mất!<br /><br />
Ta chỉ sống bằng niềm tin chân thật<br /><br />
Thì hải âu kia chấp chới giữa hoang đường!</p><br />
<p>Không phải ta sinh nhầm thế kỷ đâu<br /><br />
Chính thế kỷ sinh nhầm ta đấy chứ!<br /><br />
Khi vô cảm cũng là đồng loã loài quỷ dữ<br /><br />
Thì ta lấy gì để trả lại tương lai?!

LỜI THẢO DÂN

Không phải ta sinh nhầm thế kỷ đâu
Chính thế kỷ sinh nhầm ta đấy
Có mắt chẳng dám nhìn, có tai không nghe thấy
Miệng nói lời đèm đẹp hợp lòng nhau!

Đất nước này, ông cha trao bãi bể, nương dâu
Xanh lúa, xanh tre, xanh bờ, xanh bãi
Trao trọn vẹn hình sông thế núi.
Trao tiếng thét Luy Lâu, ngọn sóng Lục Đầu
Trao cọc Bạch Đằng, Chi Lăng, Xương Giang, Ải Bắc
Trao lại cho ta Rạch Gầm Xoài Mút
Trao ngút ngàn rồng lửa rực Thăng Long!

Trao cho ta ” Sát Thát” một tiếng gầm!
” Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!”
” Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Pháp!”
Trao lại cho ta Đài Nghiên Tháp Bút
Ký thác gì….vời vợi Tả Thanh Thiên?
Trao cho ta cánh hạc vàng trên mặt trống Đông Sơn
Bay ngược hướng mặt trời đón nắng
Trao lại cho ta hàng ngàn năm đêm trắng
Để tiếng Việt mình tròn trịa giữa vành nôi!

Ta nhận non sông….ông cha khóc, ta cười
Ta hồ hởi đón rừng vàng biển bạc
Ta hoan ca tấu ngàn khúc nhạc
Không biết một ngày cách hạc cứ dần xa…
Đất nước bao lửa đạn can qua
Lại hồi sinh qua mấy lần giặc giã
Ta nhận rồi có trả…
Ước vọng hùng cường trong kí thác ông cha?

Rừng của ta…biển của ta
Bao cánh rừng thành lưu vong một phần hai thế kỷ
Phần còn lại, hoá lòng hồ báo tử
Trong giấc ngủ em thơ, tiếng động đất gầm gừ…

Boxit loang đau dải đất hiền từ
Ruộng mật bờ xôi biến thành toà cao ốc
Mẹ ru:” con đừng khóc
Mai mẹ con mình tìm một vạt chiếu manh!”

Biển bạc của ta, kẻ cướp lưu manh
Biển mà mất…trời xanh kia cũng mất!
Ta chỉ sống bằng niềm tin chân thật
Thì hải âu kia chấp chới giữa hoang đường!

Không phải ta sinh nhầm thế kỷ đâu
Chính thế kỷ sinh nhầm ta đấy chứ!
Khi vô cảm cũng là đồng loã loài quỷ dữ
Thì ta lấy gì để trả lại tương lai?!

 

%d bloggers like this: