Lưu trữ | THƠ RSS feed for this section

BÓNG DÁNG ĐẤNG NAM NHI TRONG BÀI THƠ ĐẠI NGÔN “TỔ QUỐC GỌI TÊN” – BS

14 Th10

Posted by adminbasam on 13/10/2015

Phạm Đình Trọng

13-10-2015

Bài thơ đại ngôn, sáo ngữ tầm thường Tổ Quốc Gọi Tên bỗng trở nên nổi lềnh bềnh như phao bởi đề tài biển đảo của bài thơ là đề tài đang được bộ máy tuyên truyền tập trung khai thác.

Không dám làm phật lòng nước cộng sản đàn anh Tàu Công nên “dân chài bám biển, quân đội bám bờ”. Đẩy dân thuyền gỗ, tay không ra bám biển, đương đầu với pháo hạm của kẻ cướp Tàu Cộng hung hãn. Giặc Tàu Cộng cứ mặc sức bắn giết, bắt bớ, đánh đập, cướp bóc tài sản, đòi tiền chuộc mạng sống của người dân Việt khốn khổ. Còn quân đội cứ án binh bất động trong bờ. Sợ làm phật lòng nước cộng sản đàn anh đến mức kẻ đã bắn giết người dân Việt Nam làm ăn trên biển của ông cha, của lịch sử Việt Nam, kẻ đã bắn giết người lính Việt Nam , cướp biển, cướp đảo Việt Nam nhưng cả hệ thống truyền thông Việt Nam không dám chỉ mặt vạch tên kẻ cướp mà chỉ gọi một cách dửng dưng, mơ hồ, vô cảm: Nước lạ! Tàu lạ! Kẻ lạ!

Nhưng để yên lòng dân thì phải tỏ ý chí quyết bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ và chỉ bảo vệ bằng ngôn từ, bằng tuyên truyền. Ngôn từ hùng hồn, đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên rất phù hợp, rất cần thiết với tuyên truyền lúc này. Tổ Quốc Gọi Tên in sách. Tổ Quốc Gọi Tên phổ nhạc tấu lên rộn rã, thống thiết trong các chương trình ca nhạc.

Tổ Quốc Gọi Tên càng ồn ào, om sòm hơn khi có cuộc tranh chấp bản quyền giữa một cựu chiến binh dân thường, tỉnh lẻ, thấp cổ bé họng với một người đàn bà có danh có phận, có thế có lực, có vây có cánh, lại có cả bộ máy tuyên truyền chính thống, khổng lồ hỗ trợ, hậu thuẫn. Một cuộc tranh chấp quá bất cân xứng mà phần hơn, phần ưu thế, phần áp đảo nghiêng hẳn về phía người đàn bà nhiều thần thế, đa ngôn, mạnh miệng.

Cuộc tranh chấp chủ quyền bài thơ đang nghiêng hẳn về phía người đàn bà, nghiêng hẳn về phần âm tính. Nhưng tôi lại thấy bài thơ đầy dương khí, đầy cốt cách đàn ông.

Xin hãy đọc lại bài thơ

TỔ QUỐC GỌI TÊN

Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình

Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá

Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả

Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi

Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ

Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã

Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông

Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình

Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc

Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau

Sóng chẳng còn bình yên dẫn lối những con tàu

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc

Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”

Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc

linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe

Tổ quốc

gọi tên mình

1. CẢM HỨNG NAM NHI

“Tổ quốc gọi tên” là tâm thế, là cảm hứng của đấng nam nhi, không thể là tâm thế, là cảm hứng của nữ nhi thường tình.

Tâm thế, cảm hứng, sĩ khí của kẻ làm trai là:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng. (Ca dao)

Và:

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống Đông, Đông tĩnh. Lên Đoài, Đoài yên. (Ca dao)

Tâm thế, cảm hứng của kẻ làm trai là hướng ngoại, hướng tới lí tưởng lớn lao, cao cả: Tổ quốc, Nhân dân. Kẻ làm trai có lí tưởng nào cũng cần thể hiện mình, xác định sự có mặt trong cuộc đời bằng trách nhiệm. Trách nhiệm với cuộc đời, với non sông đất nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” là vậy.

Còn tâm thế, cảm hứng của người đàn bà là:

Có con chăm chút cho con

Có chồng gánh vác giang san nhà chồng. (Ca dao)

Tâm tính trời phú cho người đàn bà là hướng nội, hướng vào thân phận cá thể bé mọn, hướng vào gia đình riêng tư. Nếu người đàn ông có lí tưởng luôn ý thức về trách nhiệm với đất nước, với nhân dân thì người đàn bà thảo hiền luôn canh cánh với bổn phận trong gia đình. Bổn phận con ngoan. Bổn phận vợ đảm. Bổn phận dâu thảo. Bổn phận mẹ hiền.

Giặc cướp nước rình rập ở biên cương, ở cửa biển, vận mệnh đất nước bị đe dọa thì người đàn bà trước tiên nghĩ đến sự an nguy của gia đình, sự li tán của vợ chồng, sự sống chết của người đàn ông trong gia đình phải ra trận tiền.

Tâm thế, cảm hứng đó ở người đàn bà dân dã được ca dao ghi nhận:

Trời ơi sinh giặc làm chi

Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường

Còn người đàn bà quyền quí, có học, có chữ thì tự họ ghi lại tâm thế đó thành văn chương và trở thành áng văn bất hủ của văn chương Việt Nam:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiền nỗi truân chuyên.

(Đoàn Thị Điểm. Chinh Phụ Ngâm)

Phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang” được phát động và hưởng ứng rộng rãi, có hiệu quả trong suốt thời chiến tranh kéo dài vừa qua chính là từ tâm thế giới tính này. Đất nước đang cơn binh lửa, thanh niên sẵn sàng lên đường ra mặt trận theo tiếng gọi của Tổ quốc, để lại việc của người đàn ông trong gia đình cho người đàn bà ở phía sau đảm đang gánh vác.

Trong khi người đàn ông có lí tưởng luôn có ý thức về trách nhiệm với cái chung, hướng ra xã hội thì người đàn bà có giáo dục cứ thường trực lo lắng về bổn phận với gia đình riêng. Tâm thế của họ, vui buồn của họ là soi vào lòng mình và soi vào gia đình mình. Vì thế, “Tổ quốc gọi tên” là tư thế, là tâm thức, là cảm hứng chỉ có ở đàn ông. Đàn bà không thể có cảm hứng “Tổ quốc gọi tên”.

2. NGÔN TỪ SÁO RỖNG, KHOA TRƯƠNG

Ngôn ngữ Tổ Quốc Gọi Tên chỉ là thứ ngôn ngữ chính trị, tuyên huấn, là vốn từ, cách tư duy của một người lính, một thanh niên sống trong hệ thống tuyên truyền giáo dục cộng sản, không phải là ngôn ngữ văn chương, càng không phải ngôn ngữ nghệ thuật.

Từ ngữ đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên quá dễ dãi, hời hợt, và trống rỗng, đọc lên cứ thấy loảng xoảng của chiếc thùng rỗng đang bị đập mạnh hết cỡ. Hình ảnh bão tố mòn cũ sử dụng một lần đã là sự lười biếng, dễ dãi trong tư duy sáng tạo, vậy mà Tổ Quốc Gọi Tên cứ lặp đi lặp lại thứ bão tố cải lương đó. Vừa mới mang bão tố ra làm nền cho người lớn diễn tích anh hùng “Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây”, lại mang bão tố ra để trẻ thơ cũng trở thành diễn viên cải lương ngủ trong bão tố cho thêm kịch tính, gay cấn “Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố”.

Bão tố cải lương đã thừa thãi, lại thừa thãi cả máu nhân tạo đổ tùm lum trong Tổ Quốc Gọi Tên

Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông

. . .

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Máu người không phải nước lã. Máu của những người ngã xuống cho đất nước càng linh thiêng. Nhưng không phải cứ mang dòng máu thiêng đó ra là gây được nỗi xót xa, xúc động, là tạo được không khí bi tráng lịch sử. Giữa mớ ngôn từ khoa trương, lên gân, sáo rỗng, trong cái tình cảm hời hợt, thiếu trung thực, coi kẻ cướp bắn giết đồng bào chiến sĩ Việt Nam, cướp biển cướp đảo Việt Nam đã nhẵn mặt nhẵn tên từ trong lịch sử chỉ là “kẻ lạ mặt” vu vơ thì dòng máu kia cũng chỉ là máu đạo cụ, máu giả, tạo ra bởi phẩm màu cho xuất diễn mà thôi!

Không phải là nhà thơ chuyên nghiệp, tính nghiệp dư của người viết Tổ Quốc Gọi Tên còn nhận ra ở sự thiếu tinh tế trong sử dụng ngôn từ. Nhuộm phải đi với màu sắc. Nghiệp dư, thiếu tinh tế nên mới viết “Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông”. “Mặn sóng biển đông” thì phải thay động từ “nhuộm” bằng động từ “pha”: Máu của người pha mặn sóng biển đông.

Ngôn ngữ lên gân, đại ngôn, khoa trương cũng rất đàn ông, một người đàn ông quen sống trong môi trường chính trị, môi trường tuyên huấn.

Cảm hứng của đấng nam nhi và ngôn ngữ đao to búa lớn của kẻ mày râu, hai điều lồ lộ trong Tổ Quốc Gọi Tên đã khẳng định rằng Tổ Quốc Gọi Tên không thể là sản phẩm của nữ nhi

3. CHỈ CÓ GIÁ TRỊ TUYÊN TRUYỀN CHỐC LÁT

Từ văn bản, từ hiện vật ngôn từ bài thơ chứng minh rằng Tổ Quốc Gọi Tên là sản phẩm của đấng nam nhi, nhưng là đấng nam nhi nghiệp dư văn chương. Tổ Quốc Gọi Tên chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời, hoàn toàn không có giá trị nghệ thuật.

Không có giá trị nghệ thuật thì tranh chấp làm chi hỡi đấng nam nhi!

CÓ NÊN !?

12 Th10

Tê pê pê đã thuận rồi đây
Biển lớn thuyền ơi sóng gió đầy
Một gánh cuốc cày nguyên liệu trữ
Dăm ngành tiểu thủ nợ nần vay
Luật chơi hội nhập nhiều ông lớn
Trận thế quần hùng lắm cuộc say
Trị thế “cái đuôi” còn ngúc ngoắc
Có nên cắt cụp để cùng bay!?.

NH

12074718_1665716163699387_7084655111891094101_n12107066_1665716247032712_6055662064837663279_n12111992_1665716323699371_8698806934068148668_n12079305_1665716483699355_3241301651639838957_n

Người làm thơ chấn động một thời ở phủ Thủ tướng – Kim Dung

26 Th9

Tác giả: 

KD: Bạn bè iu quí gửi cho mình bài viết này. Bài viết về nhà thơ Việt Phương.

Trong bài có chi tiết nhắc tới cuốn Cửa mở của ông. Chợt nhớ một chuyện này: Ông từng kể cho mình nghe, khi cuốn Cửa mở “ầm ĩ” dư luận, TT Phạm Văn Đồng (khi đó), có trách ông: Sao anh không cho tôi đọc cuốn đó trước khi đem in?  Ông trả lời: Tôi nghĩ đó là chuyện riêng của mình.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng im lặng. Có lẽ ông cũng quá hiểu tâm trạng của người Thư ký tận tụy, nhưng cũng là một nhà thơ nổi tiếng, luôn gắn bó với ông trong mọi thăng trầm, khổ đau, biến cố của đất nước.

Và ông có nói một câu- có lẽ đó là tâm sự rất thật của ông với mình: Mình làm việc cho Thủ tướng, nhưng thơ vẫn là nỗi lòng riêng. Mình muốn cái riêng đó vẫn là cái riêng của chính mình, không bị “kiểm soát”. Rồi ông mỉm cười, hiền hậu, đôi mắt hóm hỉnh…

Nhưng hiện ông đang bị đau bệnh- nằm chữa trị ở BV Việt- Xô, sau khi ra cuốn thơ thứ 10- mang tên Gió. Một sức làm việc, sáng tạo, bền bỉ và đầy cảm hứng.

Cầu mong ông vượt qua được thử thách của sức khỏe, an lành may mắn, để trở về với cuộc đời ông luôn thiết tha, cảm nhận hạnh phúc cùng không ít vị cay đắng, vui buồn…

————

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’ gây chấn động một thời

DƯƠNG KỲ ANH

Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: “Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình”. Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ “Cửa mở”.

Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).

Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).

Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: “Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát… Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực…”. Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở cộng đồng châu Âu (tại Bỉ). Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.

“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng. Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ “Cửa mở” bao giờ.

Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị “vạ lây”… có đúng không? Ông cười, lắc đầu “Không có chuyện đó đâu”. Ông nói, tập “Cửa mở” năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: “Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi”. Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: “Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ”. Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định “Các con chúng tôi không làm sao cả”. Rồi bà kể: “Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ “Cửa mở”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Phương có đem cho mình xem đâu”. Tôi bảo: Tập thơ “Cửa mở” hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi”. 

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

“Đời đang đón đợi để đong đầy”, tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ “Nắng” thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được  mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: “Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất”. Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: “Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu”.

Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. “Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn” – Ông bảo vậy.

Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn Sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dậy con tập nói.

Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói “mây”, con ông cũng bập bẹ “mây”. Ông chỉ tay xuống mặt nước Sông Hồng nói “nước”, thằng bé cũng bập bẹ  “nước”. Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… “Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất” – Ông nói.

Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài. Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác. Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ.

Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi”. Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập “Lan”:  “Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên”. Thế đấy!

———–

http://lethieunhoncom.blogspot.com/2015/03/nguoi-lam-tho-chan-ong-mot-thoi-o-phu.html

VẾT NGÀY

7 Th9

VẾT NGÀY

Ngày mỗi ngày mỗi mới
người chở ngày trên mái tóc làn da

Tôi sờ da tôi
tôi nếm tóc tôi
cảm nhận vị ngày, đủ vị
đắng
chát
mặn
ngọt
chua
cay

Và có cả những mùi lạ hoắc
mốc thách
thum thủm
tanh tanh
chẳng giống chi chi trên trái đất này

Ngày miệt mài đi trên da trên tóc
vết chân ngày rần rần
nghe lạnh điếng những tim khô.

Ngày chở theo mình
những đạo hạnh
những hiền lương
thật
giả

Ngày chở theo cả ma-cô súng dao lựu đạn…
tải trên miệng người học đạo đức, giảng chuyện nhân văn

Ôi ! vết ngày
từ từ, từ từ
miết mài đi qua
vừa đi vừa cứa vào thịt da những thực vật, động vật hiện sinh.
và lần nữa giết cả những hình hài đã chết.

Những vết ngày
là lời thoại của phim truyện Hư Vinh.

NH

(ngày đầu tháng chín, hai lẻ mười lăm)

   

11921711_1652736901663980_8098304979254568512_n11923235_1652736874997316_2919076739760288652_n11933454_1652736974997306_5536217478958236588_n

VÀO THU

23 Th8

Tròng trành sông núi vào thu
Nước lơ lừng chảy cây đu lá vàng
Ngày trôi nhịp phách bẽ bàng
Tấu chi khúc nhạc hoang đàng hỡi thu.!

11898515_1646513982286272_713209263591054963_n

TRĂN TRỞ

31 Th7

Một mình thui thủi giữa canh năm
Mỏi gối còm lưng chửa thể nằm
Nghiêng ngả đôi bờ đong đảnh níu
Lào xào mấy nhóm hực hầm băm
Cuộc cờ xa mã thì thầm chạy
Thế nước dân quân háo hức bằm
Trăn trở già này không ngủ được
Phải ta còn lứa tuổi mười lăm !!!

Nguyên Hải

Nhân ngày Hội thơ Rằm tháng Giêng : Nhớ NGUYỄN BẢO SINH

9 Th3

 Nguyen Bao Sinh a  anh Cao Manh Tuan

                                    nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh – ảnh Cao Mạnh Tuấn

Hôm nay, ngày rằm tháng Giêng, nhà thơ cả nước lại rầm rộ hội thơ. Không biết năm nay ông Chủ tịch Hữu Thỉnh có thả thơ lên trời. Xin mách ông một nhà thơ độc đáo : NGUYỄN  BẢO SINH .

                                 Ễnh ương phễnh bụng kêu to

                              Cũng không ngăn được đàn bò đi qua

                                Thơ ca văn nghệ nước ta

                          Phùng mang trợn mắt chỉ là ễnh ương

                                                                                           ( Nguyễn Bảo Sinh)

   Ông chơi khá thân với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhận xét về bạn một cách khá rạch ròi về tài năng và nhân cách thơ, ông Thiệp cho biết: “Nguyễn Bảo Sinh, sinh năm 1940, sống trong một gia đình đã định cư nhiều đời ở Hà Nội. Thời trẻ, ông từng đi lính, từng là võ sư Judo. Từ trẻ đến già, Nguyễn Bảo Sinh chỉ ở số 30, ngõ 167 Trương Định (ngõ Bảo Sinh). Gần như suốt đời không hề chuyển dịch đi đâu, luôn ở cùng gia đình, xung quanh có vợ con, anh em, họ hàng, bè bạn nhưng ông luôn tự nhận mình là một tay sống trong giang hồ(!), một người tu tại gia(!). Nguyễn Bảo Sinh từng có hỗn danh là Sinh chó. Việc này duyên do từ chuyện có thật: Hồi bé, vốn tính ngỗ ngược, thân phụ ông là cụ Nguyễn Hữu Mão (năm nay 95 tuổi, cũng là người rất hay thơ) có lần tức giận bảo rằng:                 

                              

                                 – Lớn lên thì chó nuôi mày!   

 Quả nhiên, Nguyễn Bảo Sinh mở khách sạn giành cho cho chó.          Nguyễn Bảo Sinh là một nhân vật khác lạ, galăng từ cách sống cho đến việc mưu sinh. Học nghề sư phạm, anh lại không hề mô phạm lấy một ngày. Học sân khấu – điện ảnh nhưng không hề đóng phim, đóng kịch, làm đạo diễn hoặc viết kịch bản gì? Sau khi từ quân đội trở về anh mở hiệu vẽ truyền thần ở phố Hàng Đào. Chán, quay về nuôi chó cảnh, lai tạo giống mèo cảnh, học nghề thú y để chữa bệnh cho chó, mèo. Chơi thì anh học đấm bốc (quyền anh) đã có đai đẳng, chọi gà và làm thơ thiền, xây tượng Phật bà Quan âm giữa ao nhà để ngày ngày mang hương hoa bơi thuyền ra cúng Phật. Tự thiết kế, tự tay xây lấy đài cửu trùng sáu tầng bằng gạch và ba tằng bằng gỗ ở giữa vườn nhà để khi có bạn thơ đến thăm chơi cùng lên tháp ngồi đọc thơ. Anh đã in 4 tập thơ mang chung một tên “Huyền Thi”. Ngoài thơ thiên anh còn làm rất nhiều thơ Bút Tre. Gần đây có một tờ báo chuyên về văn hóa – văn nghệ đã phong anh là Hậu Bút Tre. (haixuanhxh)

                 Thơ một chữ – Vỗ một tay

                   Vợ tôi nửa dại nửa khôn

               Có lúc nó bảo dí lồn vào thơ

                   Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ

               Có lúc nó bảo dí thơ vào lồn

                  Thế là tôi cứ bồn chồn

          Giữa tôi giữa vợ giữa lồn và thơ

                Thế là tôi cứ ngẩn ngơ

         Giữa tôi giữa vợ giữa thơ và lồn

                Thế là như kẻ mất hồn 

         Tôi không phân biệt giữa lồn và thơ

                Thế là nửa tỉnh nửa mơ

          Trông đâu cũng thấy nửa thơ nửa lồn

              Thế là dại quá hóa khôn

          Ngộ ra mới biết trong lồn… có thơ

             Thế là tỉnh một giấc mơ

          Ngộ ra mới biết trong thơ… có lồn

                Thế rồi vượt cả dại khôn

          Ngộ thấy tất cả từ lồn mà ra

*

                 Mỹ nhân, thiên tử, anh hùng

           Tát cả đều tự tinh trùng sinh ra.
                                                     (Nguyễn Bảo Sinh)

Bài do  hainambo40@gmail.com  gởi đến Vô Ngã

%d bloggers like this: