Lưu trữ | TRUYỆN NGẮN RSS feed for this section

KẺ LANG THANG VÀ VỊ KHÁCH ĐÊM MƯA.. Đổ Anh Thư

1 Th1

Gã đích thị là một kẻ lang thang đầu đường, xó chợ. Gã cư ngụ dưới gầm cầu, nơi từ sáng tới chiều nồng nặc mùi tanh hôi xú uế.
Ngày nắng thì cơ man nào là các loại rác : bao ni lon, lá chuối, giấy gói các loại thực phẩm…v..vv..từ khu chợ gần đó theo gió bay vào.
Còn những ngày mưa, nước cống tràn lên đến chỗ gã nằm, quện theo bao nhiêu bùn, rác….Ấy thế mà nơi đây là giang sơn riêng biệt của gã đã từ rất lâu rồi, không kẻ nào dám vào đây tranh giành , chiếm cứ..!
Gã không nhớ mình có mặt trên đời từ khi nào nữa, đến như cái tên KẺ LANG THANG , cũng do dân ở chợ gọi mãi mà thành..Cuộc đời gã hầu như chẳng có gì để nói, ngoài việc lang thang quanh ngõ chợ, chân cầu kiếm ăn, gã chỉ còn mỗi việc đánh nhau để giữ gìn miếng ăn vừa kiếm được…
Những lúc ấy, gã mất hẳn cái vẻ hiền lành giả tạo.miếng mồi để ngay trước mặt, gã đứng đối diện kẻ tranh giành, xuống tấn, thủ bộ sẵn sàng tấn công..mắt gã long lên sòng sọc, lông cổ xù lên, dựng đứng…hai hàm răng trắng nhởn nhe ra dữ tợn kèm theo những tiếng gầm gừ đe dọa.Gã cứ giữ bộ dạng hung tợn như thế cho đến lúc kẻ kia chờn dạ, rút lui…
Chỉ chờ có thế, gã nằm mọp xuống, hai chân trước giữ chặt miếng mồi, gã nhai, gặm ngấu nghiến…nước dãi chảy tràn ra theo kẽ răng, khóe mép.Mắt gã lim dim ra chiều sung sướng lắm…
Gã sống một mình,lúc đói phải đi kiếm ăn thì thôi, khi đã lưng lửng dạ, trở về nằm trong xó tối, gã thường nghĩ miên man về thân phận, cám cảnh cô đơn, không biết gã có biết khóc không mà lúc ấy tự dưng mắt cứ ướt nhòe…

Một đêm trời tối như hũ nút, gã đang nằm nhâm nhi thưởng thức cái gói chân, đầu , cánh vịt quay của bà hàng trong chợ vứt cho hồi sớm..Bỗng nghe trong cơn gió lạnh ùa vào thoảng tiếng kêu rên thảm thiết…Thoạt đầu, gã chẳng mấy quan tâm. Cuộc sống giang hồ, gió bụi đường đời đã rèn cho gã một thái độ lạnh lùng, vô cảm trước mọi sự việc, gã vẫn cứ điềm nhiên đánh chén một cách khoái trá trong cái xó riêng tư của mình..

Ngoài trời, mưa càng lúc càng nặng hạt, tiếng kêu rên càng thống thiết, bi ai hơn, dường như có cả mùi nước mắt trong gió đưa vào….Bất chợt gã thấy trong lòng rung lên một cảm xúc lạ kỳ..cái cảm giác này chưa bao giờ gã có trong đời..gã tò mò, đứng lên, bước ra nhìn sang bên đường, nơi phát ra tiếng kêu ai oán đó… Một sinh vật nhỏ bé đang run lên vì lạnh, toàn thân ướt sũng nước mưa…con bé (chắc vậy,,vì hình hài yếu ớt, mỏng manh quá) đang trân mình chịu những làn mưa như quất vào thân thể yếu đuối đáng thương…

Máu trong người bỗng nóng lên, gã hành động một cách không tự chủ, hùng dũng băng ngang đường dưới cơn mưa xối xả, đến gần bên cô bé, ngoạm ngang cổ rồi chạy một mạch về tổ ấm dưới chân cầu …

Gã đặt con bé nằm vào bên trong cùng, nơi khô nhất, ấm nhất trong cái xó hôi tanh của gã.và cứ thế gã liếm từ đầu đến chân con bé, liếm cho đến khi bộ lông trở lại khô ráo, mềm mượt như nhung.Cô bé được chăm sóc, cuộn tròn người lại , rúc vào bụng gã tìm hơi ấm, chiếc miệng đỏ hồng xinh xắn đã thôi rên khóc mà chỉ gừ gừ khe khẽ, thi thoảng lại kèm vài tiếng kêu nũng nịu meo…meo…

Gã để yên cho cô bé nằm trong lòng mình, đôi mắt lim dim ngắm nhìn kẻ không cùng chủng loại bằng một thứ tình cảm lạ lùng, đầy những yêu thương, trìu mến…ngoài trời, mưa càng to thêm, bên trong cái xó dưới gầm cầu, hai trái tim đang cùng nhịp đập, hai sinh vật khác loài đang cùng tận hưởng niềm hạnh phúc của một MÁI ẤM TÌNH THƯƠNG..
ATĐ.
7/2016.

ảnh minh họa

Advertisements

Cả hai bên đều bị dối gạt.. – GNA

4 Th8

(GNA: Nhà cầm quyền thường coi phần lớn những người gốc Việt hải ngoại là thế lực thù địch, vẫn mang theo hận thù quá khứ từ 40 năm qua. Bài “tâm tư” sau đây của nhà báoĐinh Quang Anh Thái cho thấy là cái “hận thù” đó ít khi nhắm đến cá nhân nào dù họ đã chiến đấu hay lớn lên dưới chế độ XHCN của miền Bắc hay VNCH của miền Nam. Cái hận thù đó dường như chỉ dành cho những cơ chế và cá nhân có quyền lực, nhưng đã quên đi lợi ích của quốc gia hay dân tộc, chỉ khư khư kiên định với những gì mình và phe nhóm đã và đang cướp đoạt được. Đó là hận thù dành cho tính dối trá lật lọng, sự tham lam vô độ và lối sống vô văn hóa man rợ áp bức của một hệ thống hoàn toàn vô cảm trước mọi trì trệ của đất nước và đói nghèo của người dân)

Tiếc thương đại úy trại Chí Hòa’

Tác giả: Đinh Quang Anh Thái – Theo BBC – 1 Aug 2015

BBC giới thiệu: Nhà báo Đinh Quang Anh Thái bị tù từ 1977 đến 1984 vì tham gia Mặt trận Dân tộc Tiến bộ do bác sỹ Nguyễn Đan Quế sáng lập và ông phụ trách in tờ báo bí mật Toàn dân Vùng dậy. Ra tù tháng 2/1984 ông vượt biên tới Hoa Kỳ năm 1985. Hiện ông làm việc cho báo Người Việt ở Orange County, California. Cảm xúc này của ông đã được chia sẻ trên trang Facebook cá nhân.

 150801130733_dinh_quang_anh_thai_624x351__nocredit

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái hiện sống ở California, Hoa Kỳ (hình từ trang Facebook cá nhân của tác giả)

Buổi chiều cuối tháng 7 ở California, nhận được tin nhắn của người bạn ở Sài Gòn: Ông Ba Thùy, người “cấm anh không được thất bại” đã chết, tiếc quá!

Ba Thùy, vỏn vẹn tên gọi hai chữ, tên thật là gì tôi không biết, chỉ biết ông mang quân hàm đại úy và là trưởng khu BC trại giam T30 Chí Hòa giai đoạn 1982. Tôi đoán ông trên tôi khoảng trên dưới 10 tuổi.

Ba Thùy nổi tiếng khe khắt với tù nhân và sẵn sàng kỷ luật không nương tay với “những tù nhân phản động không chịu cải tạo” trong trại.

Tết Ta 1983, lần thứ ba, Ba Thùy đưa tôi ra khỏi phòng lớn để cùm trong biệt giam. Sáng 30 Tết, tù nhân phòng 10 khu BC vui sướng vì tin của trại giam cho biết sẽ được thăm nuôi đặc biệt trong ngày do “chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước.”

Tôi hồi hộp chờ đợi giỏ thăm nuôi của gia đình. Gần trưa, đích thân Ba Thùy gọi tên tôi ra khỏi phòng để đi biệt giam. Uất ức và ngỡ ngàng, tôi hỏi, tôi tội gì mà bị đi biệt giam, Ba Thùy nói, phạm kỷ luật trại giam.

Thì ra, tội cũ ba năm trước đánh ănngten trong trại. Tôi mặc vội hai quần xả lỏn và hai áo may ô trùm lên nhau và xách ca nhựa ra khỏi phòng. Ba Thùy ra lệnh cởi đồ và tước một đi một quần một áo.

Nằm trong biệt giam ở lầu ba trại T30, hai chân bị cùm, lưng dựa vách tường, đêm lạnh cóng vì đói ăn thiếu mặc, tôi xé đũng quần xà lỏn kéo lên lên che ngực. Giấc ngủ chập chờn, người đổ vào chậu đựng phân, cứt và nước tiểu vương vãi khắp phòng, dính cả vào ca nhựa đựng cơm

tu binh vc

Sau khi Sài Gòn thất thủ, nhiều người từng làm cho chế độ Việt Nam Cộng hòa đã phải đi “học tập, cải tạo” dài hạn

Sáng Mùng Một, Ba Thùy mở cửa phòng giam, tôi nói, Tết là truyền thống của dân tộc, cán bộ cho tôi thùng nước rửa phòng giam và ca đựng cơm. Ba Thùy nói, không truyền thống gì với anh và ra lệnh cho người tù phát cơm đổ vào thau nhựa của tôi chén bobo và vài cộng rau muống.

Căm thù. Uất hận. Lòng chỉ muốn cầm dao đâm chết Ba Thùy. Thậm chí giết cả nhà Ba Thùy.

Hết hận thù

Vậy mà, nỗi thù hận tan vào hương khói, chỉ vì, chiều Mùng Một, nghe giọng Ba Thùy vọng lên từ khu nhà dành cho cán bộ quản lý trại giam: “Em để con gà cho anh uống rượu với bạn.” Giọng người đàn bà chắc chắn là vợ Ba Thùy: “Cả nhà có con gà, anh ăn nhậu với bạn thì các con lấy gì ăn.”

Hóa ra họ khổ hơn cả tù nhân. Vì dù sao, người tù miền Nam, dù gì thì khi được thăm nuôi ngày Tết cũng được bữa cơm no với giỏ thức ăn do gia đình chắt chiu gửi vào.

Ba tuần biệt giam, tôi được thả về phòng giam chung, thân thể tàn tạ. Tri Hai tâm sự với ông Như Phong Lê Văn Tiến, “nhà báo của các nhà báo miền Nam” bị giam cùng phòng, tôi nói, cháu sẽ thử tay Ba Thùy này và chấp nhận hậu quả.

Một tuần sau, tôi xin gặp Ba Thùy để xin “làm việc”, nghĩa là có vấn đề khai báo. Được gọi lên văn phòng, tôi nói với Ba Thùy: “Cán bộ mắng nhiếc tôi là ‘tay sai Mỹ-Ngụy’, với tôi, cán bộ cũng chẳng qua là “tay sai “Liên Xô-Trung Quốc.”’ Ba Thùy rút cái coòng tay và đánh vào trán tôi phọt cả máu. Vết thương ba mươi năm sau đến bây giờ vẫn còn dấu.

Thật ngạc nhiên, giải tôi tôi về phòng giam, Ba Thùy mở cửa và nói với toàn phòng, “anh này nếu cải tạo tốt sẽ trở thành người tốt” và không phạt gì tôi

150428102252_vietnam_war_640x360_vietnamwar_nocredit

Cuộc chiến kết thúc cũng là lúc bắt đầu làn sóng di tản ồ ạt của thuyền nhân người Việt

Vài tuần sau, Ba Thùy đột nhiên gọi tôi ra “làm việc”. Sau khi rảo một vòng quanh khu BC để cam chắc không có ai chung quanh, Ba Thùy quay về bàn làm và bắt đầu câu chuyện với giọng trọ trẹ vùng Quảng Bình:

“Tôi nói một lần và chỉ một lần với anh: đất nước này đang bị những tay quan liêu cách mạng cai trị. Tôi và một thằng bạn rời làng quê Quảng Bình đi chống Mỹ cứu nước. Ngày ra đi, bạn tôi khóc vì không nỡ rời lũy tre làng. Vậy mà bây giờ nó đã vượt biên và sống ở nước ngoài. Vì sao hả? Vì chúng tôi đi xuống miền Nam thấy ruộng đồng bát ngát, cá lội dưới sông, vậy mà dân vẫn đói. Chỉ vì chính sách ngăn sông cách chợ. Và chính tại trại giam này đã từng giam những người không sai phạm luật pháp. Cho nên, quan liêu cách mạng còn kinh hơn quan liêu phong kiến”.

Từ buổi nói chuyện hôm đó, Ba Thùy bớt gay gắt với tù nhân, và với riêng tôi, thi thoảng ông còn cho thuốc lá hút.

Tôi muốn khóc. Chợt thương Ba Thùy, chợt thương những phận người cả đời dấn thân cho lý tưởng để rồi bẽ bàng khi nhìn ra sự thật

Một buổi chiều tháng Hai năm 1984, tôi bị gọi ra khỏi phòng. Ngồi bệt dưới đất nghe Ba Thùy hỏi, anh có biết bị gọi làm gì không? Tôi nói, đời tù chuyển bao nhiêu phòng rồi, nên không biết rồi sẽ đi về đâu. Ba Thùy nói, anh được tạm tha.

Lúc ký giấy xuất trại, tôi nói với Ba Thùy, hồ sơ trại có địa chỉ nhà tôi, tôi mời cán bộ hôm nào đến tôi uống chung rượu.

Chừng một tháng sau, Ba Thùy xuất hiện trước cửa, bố mẹ anh chị em tôi hốt hoảng vì thấy công an áo vàng mang quân hàm đại úy đến hỏi.

Tôi mời ông ra đầu ngõ. Một đĩa tiết canh vịt, một đĩa lòng, hai xị đế. Ba Thùy hỏi, anh toan tính gì cho tương lai?

Tôi nói, bây giờ không còn là tù nhân nữa, xin phép gọi bằng anh và trải lòng, không công ăn việc làm, đêm nào cũng phải trình diện công an phường, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài con đường vượt biên.

Ba Thùy đột nhiên đứng phắt dậy, nói gần như quát: “Cấm anh không được thất bại. Tôi không muốn nhìn thấy anh trở lại trại giam.”

Tôi muốn khóc. Chợt thương Ba Thùy, chợt thương những phận người cả đời dấn thân cho lý tưởng để rồi bẽ bàng khi nhìn ra sự thật.

Buổi chiều sống xa quê nhà, chợt nhớ câu nói một người thuộc thế hệ cha ông: “Trong cuộc chiến Quốc-Cộng, người Quốc Gia làm nhiều điều không chuẩn nhưng may mắn là làm trên Con Đường Đúng là mưu tìm No Ấm-Tự Do-Dân Chủ cho người dân. Còn người Cộng Sản làm nhiều điều thành công nhưng bất hạnh cho dân tộc vì họ chọn Con Đường Sai.”

Nghe tin ông Ba Thùy qua đời, thương ông, nhớ ông, một người Cộng Sản đã lỡ lầm hy sinh cống hiến cho Con Đường Sai. Dù không tin tôn giáo nào, tôi vẫn lắng lòng cầu nguyện cho ông tìm được an bình nơi cõi khác.

Đinh Quang Anh Thái

10TRUYỆN NGẮN, CỰC NGẮN, CỰC HAY – trannhuong

17 Th2

 

TVT sưu tầm

Thứ hai ngày 11 tháng 7 năm 2011 9:07 PM

LỜI CHỦ BLOG: Đạo diễn Trần Văn Thủy chuyển qua EMail cho bản BLOG 10 truyện này nhưng không ghi xuất xứ và tên tác giả. Ai biết mách dùm.
Đa tạ
THT

1.CHUYỆN CÁI VÉ

 
 
Một người cha dắt đứa con 6 tuổi đi sở thú chơi. Đến quầy bán vé, người cha dừng lại đọc bảng giá:
“Người lớn: $10.00
Trẻ em trên 5 tuổi: $5.00
Trẻ em dưới 5 tuổi: Miễn phí”
Đọc xong, ông nói với người bán vé:
– Cho tôi 1 vé người lớn và 1 vé trẻ em trên 5 tuổi.
– Con ông trên 5 tuổi à? – Người bán vé tò mò hỏi lại.
– Vâng.
– Nếu ông không nói cho tôi biết thì thằng bé được miễn phí rồi.
– Vâng, có thể không ai biết, nhưng con tôi tự nó biết.
2.Ba…
Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi.
Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba…
Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi:
– “Có dư đồng nào không con?”.
Tôi đáp:
– “Còn dư bốn ngàn ba ạ”.
Ba nói tiếp:
– “Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa”.
Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng.
3.Mẹ và con
Con lên ba, chơi bên nhà dì, bị xe đạp ngã, trúng đầu chảy máu. Mẹ đang nấu cơm, hốt hoảng bế con chạy ngay đến bệnh viện. Hú vía. Vết thương chỉ nhẹ bên ngoài thôi. Hoàn hồn, mẹ nhìn lại mình: chân không dép, quần ống cao ống thấp, áo loang lổ vết máu. Chả giống ai! Mẹ cười.
Con lớn, mẹ bỗng bị chứng nặng tai. Lần lữa mãi, mẹ mới nhờ con đưa đi khám bệnh. Bác sĩ bảo: Để quá lâu, hồi phục thính lực cũng khó. Nhìn mặt mẹ ngơ ngẩn, con khóc.
4.Anh
 
Năm 18 tuổi, anh quyết định nghỉ học đi phụ hồ. Bố mẹ giận dữ, mắng “Sanh ra… giờ cãi lời bố mẹ…phải chi nó ngoan, siêng học như bé Út…”
Anh lặng thinh không nói năng gì…Bố mẹ mắng mãi rồi cũng thôi. Anh đã quyết thế!
Ngày bé Út vào Đại học, phải xa nhà, lên thành phố ở trọ. Anh tự ý bán đi con bò sữa -gia tài duy nhất của gia đình-, gom tiền đưa cho bé Út. Biết chuyện, bố thở dài, mẹ lặng lẽ, Út khóc thút thít…Anh cười, “Út ráng học ngoan…”
Miệt mài 4 năm Đại học, Út tốt nghiệp lọa giỏi, được nhân ngay vào công ty nước ngoài, lương khá cao… Út hớn hở đón xe về quê…
Vừa bước chân vào nhà, Út sững người trước tấm ảnh của Anh trên bàn thờ nghi ngút khói…Mẹ khóc, “Tháng trước, nó bị tai nạn khi đang phụ hồ… lúc hấp hối, biết con đang thi tốt nghiệp, nó dặn đừng nói con biết…”

5.Cua rang muối
 
Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:
– Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém:
– Còn răng đâu mà ăn?!

6.Xa xứ
Em tôi học đến kiệt sức để có một suất du học.
Thư đầu viết: “ở đây, đường phố sạch đẹp, văn minh bỏ xa lắc nước mình…”
Cuối năm viết: “mùa đông bên này tĩnh lặng, tinh khiết như tranh, thích lắm…”
Mùa đông sau viết: “em thèm một chút nắng ấm quê nhà, muốn được đi giữa phố xá bụi bặm, ồn ào, nhớ chợ bến xôn xao lầy lội… Biết bao lần trên phố, em đuổi theo một người châu Á, để hỏi coi có phải người Việt không…”

7.Đi thi
Chị Hai thi đệ thất. Ba thức dậy từ tờ mờ chở chị đi trên chiếc xe đạp cũ. Chị Hai đậu thủ khoa. Má bảo: “Nhờ Ba mày mát tay”. Từ đó, lần lượt tới anh Ba rồi cô út – cấp II, cấp III, tú tài, đại học – Đứa nào cũng một tay Ba dắt đi thi. Giờ cả ba đều thành đạt.
… Buổi sáng, trời se lạnh, Ba chuẩn bị đi thi “Hội thi sức khỏe người cao tuổi”. Má nhìn Ba ái ngại: “Để tôi gọi taxi. Tụi nhỏ đều bận cả”.
Buổi tối, má hỏi: “Ông thi sao rồi?”. Ba cười xòa bảo: “Rớt!”
8.THỊT GÀ
 
Tạnh mưa, bọn trẻ bưng cơm đứng ăn trước cửa. Tý khoe:
– Nhà Tý ăn thịt gà.
Đêm đó, bà Tám chửi:
– Mả cha nó, nghèo mạt kiếp tiền đâu ăn gà, nó ăn gà bà, nó chết bất đắc.
Ông giáo buồn lắm, ngã bệnh, qua đời. Thương tình, hàng xóm lo ma chay. Tý hớn hở vì nhà nó đông vui.
Trời đổ mưa.
Thằng Tý la lớn:
– Con gà vô nhà, dậy bắt làm thịt ba ơi.
Mọi người nhìn theo. Thì ra, một con cóc dưới kẹt tủ đang giương mắt nhìn lên quan tài ông giáo.
(Đừng vội kết tội cho người khác bạn nhé. Hãy bao dung độ lượng và tha thứ)
9.Chỉ có một người thôi
 
Người đến dự đám cưới khá đông. Ông hàng xóm gọi bác làm công đến và bảo:
– Này, anh đi xem xem có bao nhiêu người đến dự đám cưới bên ấy.
Bác làm công ra đi. Bác để lên ngưỡng cửa một khúc gỗ và ngồi lên bờ tường đợi khách khứa ra khỏi nhà. Họ bắt đầu ra về. Ai đi ra cũng vấp phải khúc gỗ, văng lên chửi và lại tiếp tục đi. Chỉ có một bà lão vấp phải khúc gỗ, liền quay lại đẩy khúc gỗ sang bên.
Bác làm công trở về gặp người chủ.
Người chủ hỏi:
– Ở bên ấy có nhiều người không?
Bác làm công trả lời:
– Chỉ có mỗi một người mà lại là bà lão.
– Tại sao vậy?
– Bởi vì tôi để khúc gỗ bên thềm nhà, tất cả đều vấp phải, nhưng cũng chẳng ai buồn dẹp đi. Thế thì lũ cừu cũng làm như vậy. Nhưng một bà lão đã dẹp khúc gỗ sang bên để người khác khỏi vấp ngã. Chỉ có con người mới làm như vậy. Một mình bà lão là người.
10.Phấn Son
 
Tốt nghiệp đại học, ở lại thành phố đi làm.
Tháng rồi, mẹ vào thăm. Mừng và thương. Mẹ khen: “Bạn gái con xinh”.
Cuối tháng, lãnh lương. Dẫn người thương đi shopping.
Em bảo: “Mỹ phẩm của hãng này là tốt nhất. Những loại rẻ tiền khác đều không nên dùng vì có hại cho da, giống mẹ anh đó, mẹ bị nám hết anh thấy không…”
Chợt giật mình. Mẹ cả đời lam lũ, nắng gió với cái ăn, nào đã biết phấn son màu gì.
 

Câu chuyện giáo dục: Tôi muốn con sau này đi chăn bò

16 Th12
Tuổi TrẻBởi PHAN NGUYỄN NHƯ Ý | Tuổi Trẻ – 16 giờ trước

TT – Tôi nhớ cách đây gần mười năm, trong một bữa tiệc họp mặt đầu xuân, khi mọi người ai cũng bày tỏ nguyện vọng con mình sau này sẽ trở thành kỹ sư, bác sĩ hay ông này ông kia thì ông bác ruột tôi lại phán một câu xanh rờn làm mọi người chưng hửng:

>> Giáo viên tiếng Anh vênh chuẩn, vì sao?
>> Bộ Giáo dục siết tình trạng dạy thêm, thu quỹ phụ huynh
>> Sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa

 

 

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

 

– Tôi chỉ muốn con tôi sau này sẽ đi chăn bò!

 

Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào bác tôi. Sau khi nhấp một ngụm trà, bác tôi thong thả nói tiếp:

 

– Một xã hội mà toàn những người chỉ muốn làm thầy thì lấy ai làm thợ. Cứ đà này rồi thì năm mười năm nữa xã hội lại lạm phát cử nhân với thạc sĩ, tiến sĩ, tốn tiền cho ăn học rồi lại vắt giò lên cổ tốn hàng đống tiền để chạy xin việc. Có việc rồi thì lại ngày đêm nơm nớp lo sợ bị đuổi việc vì người xin việc quá đông. Thôi thì cứ cho nó đi chăn bò cho chắc ăn!

 

Tưởng bác tôi chỉ nói chơi cho vui nhân ngày đầu năm, ai dè bác lại làm thiệt. Sau khi ông anh họ tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, ông bác tôi không cho thi đại học mà gửi anh theo học một lớp đào tạo dài hạn do một trung tâm khuyến nông tổ chức. Ngày anh hoàn tất khóa học cũng là ngày ông bác tôi mua đất và cất lên một trang trại. Chăn bò bây giờ dĩ nhiên khác nhiều so với ngày xưa. Phải có một vốn kiến thức căn bản về chăn nuôi cũng như về các thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật. Với hơn 100 con bò và mấy chục con dê, mỗi năm ông anh họ tôi dễ dàng bỏ túi năm bảy trăm triệu và sống khá nhàn nhã. Nhìn ông anh họ tôi đi ra đường chạy xe hơi đời mới, quần áo lịch sự thì ai biết là chăn bò. Cứ mỗi lần có người quen hỏi thăm làm nghề gì, ông anh họ tôi đứng thẳng người, ngực ưỡn ra:

 

– Tôi chỉ là một cowboy!

 

Đó là câu chuyện về ông bác ruột và ông anh họ của tôi. Mới đầu nghe có vẻ hơi tưng tửng điên điên, nhưng đó lại là sự thật về những con người có đầu óc thức thời với một tư duy nhạy bén.

 

Suy cho cùng tôi thấy bao nhiêu năm qua chúng ta đã quá hám danh vọng khi hướng cho con một con đường nghề nghiệp cho tương lai, đôi lúc dẫn đến mù quáng. Ngày còn đi học, tôi có một anh bạn học rất dốt nhưng luôn bị ông bố bắt ép phải thi vào trường y. Lý do đơn giản là ông bố muốn con mình sau này phải trở thành bác sĩ để ông nở mặt nở mày với thiên hạ. Nhưng sau ba lần thi vào trường y mà vẫn rớt,trước sức ép quá lớn của bố, anh đã mấy lần tính tới chuyện tự tử. May mà gia đình phát hiện sớm nên mời chuyên gia tâm lý tới giải tỏa sức ép cho anh. Sau đó anh xin vào học ở một trường trung cấp xây dựng và trở thành một thầu khoán xây dựng. Thời gian bất động sản nóng sốt, anh kiếm được khá nhiều tiền và thành một đại gia. Mỗi lần gặp tôi, anh lại mỉm cười:

 

– Cứ theo lời ông già đi làm bác sĩ thì chưa chắc đã có nhiều tiền như hôm nay!

 

Nhiều lúc ngồi suy nghĩ lại những gì mà ông bác mình đã nói gần mười năm trước, tôi thấy có vẻ đúng. Thời buổi bây giờ hình như đang lạm phát cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… với cái lối đào tạo không theo một quy hoạch nào cả.

 

Cách đây vài tháng khi vừa xây xong ngôi nhà cho mình, tôi mới tình cờ phát hiện thì ra hai cậu phụ hồ ở nhà tôi chính là hai cử nhân ra trường đã ba năm nay nhưng vẫn chưa kiếm được việc làm. Mấy ngày sau tôi lại biết thêm cô gái hằng ngày vẫn bưng phở ở quán phở đầu đường nhà tôi cũng đã có bằng thạc sĩ mấy năm nay. Cách đây một năm, tôi xem trên tivi thấy có một anh chàng chạy xe đạp khắp thành phố, phía trước ngực có một tấm bảng to tướng ghi tốt nghiệp tới ba trường đại học gì đó nhưng mấy năm nay vẫn chưa xin được việc làm. Tôi có một người bạn cho con đi du học ở Singapore bốn năm hết mấy tỉ bạc, tìm việc mãi không được nên đành về nhà mở tiệm bán ổ khóa sống qua ngày…

 

Trên báo Tuổi Trẻ cách đây ít lâu, tôi đã nghiền ngẫm rất kỹ loạt phóng sự “Tốt nghiệp rồi thất nghiệp”. Những câu chuyện về các thạc sĩ phải đi chăn vịt, chăn trâu hay cử nhân phải đi bán nước mía bây giờ không còn là chuyện lạ. Vậy nguyên nhân nào gây nên một cuộc khủng hoảng thừa cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ như hiện nay?

 

Theo ý kiến của tôi, một trong những nguyên nhân sâu xa là những bậc phụ huynh đã quá hám danh trong khi một nghĩa vụ căn bản của những người làm cha làm mẹ là phải tìm ra cho con mình một nghề lương thiện và căn bản. Mang nặng tư tưởng một người làm quan cả họ được nhờ và cũng để nở mày nở mặt với bà con dòng họ nên những bậc phụ huynh thường hay ép con em mình phải cố gắng thi đậu vào các trường đại học. Các trường dạy nghề chỉ là giải pháp cuối cùng khi con em họ đã tung cờ trắng chào thua con đường vào đại học. Hậu quả là thầy nhiều mà thợ ít nên xã hội phải trả giá một sự lãng phí khủng khiếp khi người ta tốn không biết bao nhiêu tiền để đào tạo những trí thức nhưng cuối cùng không thể sử dụng được.

 

Sự hám danh của chúng ta ở khâu đào tạo con người còn có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Vì ai cũng muốn con mình phải tốt nghiệp đại học nên những trường đại học tư, đại học dân lập mọc ra nhan nhản như nấm sau cơn mưa. Một hậu quả nhãn tiền mà ai cũng nhìn thấy là chất lượng đào tạo của hệ thống đại học nước ta đã xuống cấp một cách nghiêm trọng. Các trường đại học ào ạt tuyển sinh cho đủ chỉ tiêu rồi sau đó cấp bằng tốt nghiệp cho các sinh viên một cách vô tội vạ để thu tiền. Người ta không thể tưởng tượng rằng nhiều nơi cơ sở vật chất của một trường đại học chỉ là một căn nhà cấp 4 dột nát ọp ẹp và miễn bàn đến chất lượng đào tạo.Sinh viên ra trường với tấm bằng đại học trên tay tốn biết bao nhiêu tiền của cha mẹ nhưng không biết phải sống bằng cách nào vì đi xin việc ở đâu cũng bị từ chối.

 

Cuối cùng theo tôi nghĩ, sự hám danh trong cách chọn nghề nghiệp cho con em chúng ta có thể cũng là một trong những nguyên nhân sâu xa cho quốc nạn hiện nay: nạn chạy chức chạy quyền và tệ tham nhũng. Khi xã hội đã quá dư thừa những ứng cử viên công chức thì muốn có được việc làm người ta phải chạy và phải mất những khoản tiền hối lộ lớn. Một thực tế không thể chối cãi là muốn xin được việc cho con em mình ở những “nơi tốt”, người ta có thể sẽ phải chi ra vài trăm triệu đồng là chuyện bình thường. Khi đã ngồi được vào một chiếc ghế hay có một chức danh gì đó thì việc đầu tiên người ta nghĩ đến là phải bằng mọi cách lấy lại số tiền đã đút lót. Và thế là nạn tham nhũng bắt đầu manh mún và hình thành, tầng tầng lớp lớp từ dưới lên trên và cuộc chiến chống tham nhũng cứ vẫn phải tiếp diễn không biết bao giờ mới chấm dứt…

 

Tôi có một con trai đang học lớp 12, năm nay chưa biết sẽ thi vào trường nào. Trong tình hình xã hội tương lai sẽ thừa mứa nhân lực theo cái kiểu “đầu đường tiến sĩ vá xe, cuối đường thạc sĩ bán chè đỗ đen” thì có lẽ tôi lại phải bắt chước ông bác ruột của mình: “Tôi chỉ muốn con tôi sau này đi chăn bò”. Hãy để cho con cháu chúng ta trước mắt phải có một nghề lương thiện và ổn định trước khi nghĩ đến những điều cao siêu…

 

PHAN NGUYỄN NHƯ Ý

Kha Tiệm Ly: LIÊN HÀ TIỂU THƯ – (Kiến Thức Ngày Nay số 840)

16 Th12

(Kiến Thức Ngày Nay số 840)

 

1. Cuồng sĩ họ Cao 

 Năm Quang Tự 23 chiến tranh Trung Nhựt bùng nổ (1894). Triều Thanh cực kì hỗn loạn. Bên trong thì quyền thần tranh quyền, thái giám hiếp vua, sơn dã giặc cướp nổi lên như ong, giang sơn bị chia năm xẻ bảy bởi liệt cường xâu xé. Mỗi địa phương thì cường hào ác bá mặc sức vơ vét của tiền. Đời sống nhân dân cực kì bi thảm.

Tại kinh đô, bọn cơ hội thì mua tước bán quyền hoặc làm tay sai cho bọn Nhật để cầu chút  vinh hoa. Lớp trí thức, văn nghệ sĩ, có kẻ hùa theo giặc để an thân, dù đa phần vẫn giữ được sĩ khí, nhưng lại bóp bụng đứng bên lề nhìn vận nước điêu linh, hoặc mượn rượu cho qua ngày tháng.

Tại Ngưu thôn- cách  kinh đô vài trăm dặm- có một người không biết từ đâu đến,  ban ngày thì ra chợ viết mướn với bầu rượu bên mình, thỉnh thoảng mở nắp uống suông. Lúc ngà say, mọi việc đều bỏ, bèn lấy giấy bút làm thơ phú thao thao bất tuyệt, ý tình cao ngất trăng sao, có khi liên tục mấy mươi bài. Ai thích thì tặng cho, còn không thì để mặc bay theo gió cuốn.  Kẻ sĩ trong thôn trầm trồ thán phục, cho là kẻ thất thời; còn bọn thất phu lại bảo là cuồng dại. Chiều về, trước khi chui rút vào cái lều tạm bợ bên miếu Thành Hoàng ở cuối ấp, gã luôn chia sẻ cho Thành Hoàng một ít rượu thịt trong ngày kiếm được; lại thường xuyên bày trước bệ thờ mà chén tạc chén thù với… pho tượng, đến khi say khướt mới thôi!

Một buổi ra chợ, nghe phía bắc bị “giặc lùn” chiếm đóng, gã liên tiếp nốc cạn mấy bầu, tức giận bừng lên mặt, bèn viết liền một mạch “Biên Cương Nộ Khí Phú”, rồi sang sảng đọc lên. Bài phú hào hùng, tràn lòng yêu nước. Hảo hán, sĩ phu đều dừng lại lắng nghe, một lòng thù giặc, tuốt gươm cổ vũ. Có một khách thương hồ, hiếu kì đến xem, bỗng chạy đến quì trước gã:

 – Ôi! Cao ân nhân! Sao ngài lại lưu lạc đến đây!

 Rồi nói cùng mọi người:

 

– Quí vị ơi! Đây là Cao huyện lệnh Thanh Mai đó! Ngài là Bao Thanh Thiên của huyện tôi!  Chỉ vì ngài hết mực yêu dân mà phải như thế nầy đây!…

 Mọi người sững sờ nhìn nhau.

Ngày đó gã say mèm. Chiều về, đến miếu Thành Hoàng, chỉ pho tượng mà mắng:

–  Ta thấy bá tánh không tệ với ngươi, ngày ngày khói hương nghi ngút, hoa quả đủ đầy. Ta cũng quý ngươi là kẻ có công với xã tắc mà xớt chia phần rượu thịt. Nay biên cương bị giặc hoành hành mà ngươi lại điềm nhiên ngồi đó mà nhìn, chẳng thẹn hay sao? Thật uổng phí nhang đèn thiên hạ và rượu thịt của ta!

Nói xong, dằn mạnh bài phú trên bệ, rồi huơ tay đùa cả hoa quả, lư hương xuống đất. Trước khi đi còn mắng:

 – Hãy xem đi! Như vậy còn nhẹ cho ngươi! Để ta xem khi giặc tràn vào đây, hình tượng của ngươi còn không cho biết!

 Hôm sau, người Ngưu thôn không thấy bóng gã nữa.

 2. Với bọn thư sinh 

Đất nước nằm trên miệng hỏa sơn mà kinh đô vẫn ngựa xe nhộn nhịp. Những chốn ăn chơi cũng chật ních người. Tửu điếm nhỏ năm xưa nay cũng sáng sủa hơn. Gã chọn một bàn cuối dãy, gọi rượu uống suông. Như thông lệ, khi rượu tàng tàng, thì chữ  trong người lại tuôn ra ào ạt, phóng bút chẳng ngừng tay. Bên kia, một nhóm thực khách ba nam một nữ – dáng dấp thư hương-  cùng nhìn gã, xì xào to nhỏ rồi kéo qua, âm thầm đứng bên gã. Một người cung kính nói:

– Đúng là Cao thám hoa tiên sinh đây rồi! Tiểu sinh nay mới thấy được Thái sơn. Vô cùng vinh hạnh!

Gã nhìn mọi người dè dặt:

– Huynh đệ chắc lầm rồi. Ta chỉ là một hàn sĩ ngông cuồng, nào phải …

– Tiên sinh chớ khiêm nhường nữa! “Biên Cương Nộ Khí Phú” của người bốn biển vang danh, trẻ con cũng thuộc làu làu, huống chi là bọn tiểu sinh thuần việc bút nghiên?

 

Một kẻ khác:

– Tiên sinh tánh tình hào phóng, vậy có thể cho phép bọn bất tài nầy được ngồi uống cùng chén rượu được không?

 Cao (từ đây gọi là Cao) cười, nhẹ gật:

– Bốn biển đều là anh em. Các huynh đệ cần gì khách khí như vậy?

Thế là thịt đầy mâm, rượu tràn vò, liên tục chén tạc chén thù. Cao ái ngại:

– Các huynh đệ hôm nay muốn gặp kẻ tầm thường nầy chắc chẳng phải để uống rượu đó chứ? Có gì xin cứ nói thẳng ra thì hơn.

 Như mở cờ trong dạ, một người vừa đưa cho Cao một xấp thủ cảo, vừa nói:

– Chẳng giấu gì tiên sinh. Bọn tiểu sinh từ còn để chỏm đã miệt mài kinh sách. Vắt ruột gan, thi phú cũng được ngàn bài, mà tiếng tăm vẫn chưa ra đầu ngõ! Bèn cùng tâng bốc lẫn nhau, chỉ mong danh thoát ra thiên lý, mà hiệu quả không như mong đợi; lại còn làm trò cười cho thiên hạ! Nay, nếu tiên sinh chịu bỏ chút thời gian viết cho lời bạt, thì bọn tiểu sinh sợ gì tên chẳng vượt chín tầng mây?

 Cao nhận thủ cảo, lật vài trang xem rồi trả lại:

– Rất tiếc ta phải phụ lòng các huynh đệ!

 Cả bọn nhìn nhau, một người nói;

– Nếu tiên sinh thuận ý, thì hằng ngày sẽ có rượu thịt ê hề, áo gấm hài da. Tội tình gì rút trong lều cỏ, uống rượu suông như thế nầy?

 Cao cả giận:

– Với ta mà các ngươi còn đem lợi mà dụ ư? Cũng vì lợi mà bao người đã đánh mất lương tri! Quân tử vì lợi mà hóa tiểu nhân, Hào hán vì lợi mà thành vô lại. Quan vì lợi mà khổ cho muôn nhà; vua vì lợi mà họa cho lê dân trăm họ. Ta đã bỏ quan trường thì thiết gì danh, ham gì lợi, mà các ngươi lại đem ra trao đổi?

Nữ nhân bây giờ mới nói:

 – Nhưng tiên sinh cũng cho biết lý do chứ?

– Hừm!..  Lý do? (chỉ vào thủ cảo). Những thứ nầy là thơ, là văn đó sao?

Thấy cả bọn không vui. Cao nhẹ giọng:

– Người bình văn có lòng tự trọng không thể viết bừa; cũng như kẻ trước tác chớ vì lợi lộc, tiếng tăm mà chẳng từ thủ đoạn! Nhưng đã mấy ai làm được? Hãy xem bọn cầm bút chốn  kinh thành, hằng ngày mặc áo gấm hài thêu, ăn sơn hào hải vị, xuống ngựa lên xe. Hỏi ngân lượng ở đâu chúng có khi “văn chương hạ giới rẻ như bèo”? Nếu chẳng phải đành bẻ cong ngòi bút để tán dương phường vô lại, hay kể cả kẻ thù chiếm lấn biên cương? Đó là phường bồi bút! Hoặc ngoan ngoãn cúi đầu viết theo vương lịnh. Đó là hạng bút nô tài! Kẻ sĩ chân chính luôn đắn đo từng ý tưởng, để khỏi muộn màng khi xuống bút, giống như tên bật khỏi dây cung, làm sao bắt lại? Văn chương cũng không thuần là thứ để kẻ sĩ gởi gấm tâm tư; càng không phải để mua vui trong buổi trà dư tửu hậu; mà phải có chủ đích hẳn hoi. Dù chẳng là hùng binh nhưng cũng phải góp phần đánh đuổi giặc thù, dù chẳng phải gươm thiêng nhưng cũng phải chung vai đập tan cường quyền, bạo lực. Kẻ cầm bút phải có sứ mạng dẫn quần sinh tới chỗ toàn chân, đưa bá tánh đến nơi toàn mỹ. “Văn dĩ tải đạo” bao giờ cũng đúng.

 Nhìn cả bọn, Cao tiếp:

– Sáng tác nhiều chưa phải là hay, đó là chưa nói làm tốn hao giấy mực! Kẻ nào phân biệt được tác phẩm nào hay, tác phẩm nào dở thì cũng đáng quí rồi; Kẻ biết mình viết tồi, thì một ngày cũng được thăng hoa. Các ngươi đã dám nhận mình là dở thì rất đáng cho Cao ta bái phục! Chẳng bằng có hàng ngàn kẻ tự xưng mình là văn nhân thi sĩ, khoe khoang là người của “Khôi Nguyên Văn Bút”,  của “Bách Tú Tao Đàn”, mà văn viết khô như đơn thuốc, thơ đọc nghe điếc tai hơn tiếng mõ thầy chùa. Thế mà chưa hề biết dốt, lại xem mình như đỉnh Thái Sơn; dưới mắt không người. Những kẻ đó so với bọn ngươi, còn thua xa lắm.

 Cao đứng dậy cáo từ:

 – Ta có tật “rượu vào lời ra”, Các huynh đệ chớ chấp. Ta đi đây!

 

 

 3. Liêu trai kì ngộ

 Trăng thượng tuần lên cao,  ánh sáng vàng vọt cũng đủ xuyên qua mái tranh rách nát của người hàn sĩ đang uống rượu một mình trên án thư bề bộn bút mực giấy tờ. Ngọn đèn hiu  hắt vận cả sức tàn để chống chọi lại làn gió nhẹ của buổi tàn thu. Cao lấy tay che gió thì phát hiện hương thơm phảng phất, rồi ngơp cả phòng làm mất hẳn mùi ẩm mốc. Bèn nhìn lên thì thấy một bóng hồng đứng trước cửa tự lúc nào! Cao sững sờ. Bóng hồng thướt tha tiến tới, nhoẻn miệng cười, chấp tay, cúi đầu thi lễ, giọng trong như suối reo:

 – Kính chào tiên sinh! Tiện thiếp đường đột xin người chớ chấp!

 Dưới ánh đèn tranh tối, nhưng Cao cũng thấy được mỹ nhân áo lụa như mây, mặt xinh như ngọc, mắt phụng mày thanh, môi thắm như hoa, dung nhan thoát tục. Cao chưa hết bàng hoàng; nữ nhân bèn tiếp:

– Nghe đại danh như sấm ngang trời, lòng hằng ước ao diện kiến, ngặt vì quan san cản lối hài hoa. Nay Bắc Đẩu chói lòa ngợp đất Trường An, lòng hối thúc không sao cầm được, đành đạp tường giáo huấn, bẻ cửa Nho phong, mong cùng được tiên sinh uống chén Mao Đài, ngâm câu chánh khí, phỏng có được chăng?

Giọng nàng như oanh hót mà nghi phong xem chừng đáng bậc anh thư. Cao kính nể đôi phần:

 – Ta chỉ sợ mái tranh nầy không đáng tiếp chân nàng!

– Chỉ có kẻ thất phu mới đánh giá trị một người bằng dáng vẻ bên ngoài. Nhìn bao cẩn ngà thì cứ cho rằng bên trong là bảo kiếm, đó là phường giá áo túi cơm; nhìn người áo vải lại cho là hạng tầm thường, đó là bọn có mắt không tròng!Tiên sinh nghĩ thiếp là hạng người nào vậy?

 Bèn lấy trong túi gấm, chất đầy mâm sơn hào, mỹ tửu. Cao chợt nói:

– Ta không thể uống rượu mà không biết người đối diện với mình là ai. Dám hỏi…

Nữ nhân nghiêm giọng:

 – Thiếp là Liên Hà, phụ thân là Trần Viết Bình…

 Cao trố mắt, đứng phắt dậy:

– Trần Án Sát đại nhân? Chứ không phải ngài cùng gia quyến đã bị đày ra biên ngoại đó sao?

Đôi mắt kiều nữ đượm buồn. Cao ngậm ngùi:

– Cây ngay bị đốn trước! Người trung can nghĩa khí lại bị  hãm hại, tù đày! Đây là thời gì vậy? Nhưng may mắn nào… tiểu thư lại thoát được về đây?

 Liên Hà cắn nhẹ môi như cố nén niềm chua xót:

– Chuyện dài dòng lắm không thể phút giây mà kể hết. Hơn nữa, thiếp không muốn tiên sinh bận lòng về chuyện của  gia quyến thiếp mà mất vui cho cuộc hạnh ngộ nầy.

Bèn rượu rót tràn tràn. Lời lời châu ngọc. Chén tạc chén thù., xem chừng tâm đầu ý hợp lắm. Liên Hà uống rất hào, rượu hâm hồng đôi má làm nàng càng đẹp não nùng. Dáng mai lả lướt mà mỗi lời bung ra đều mang tánh khí trượng phu:

 

–  “Muốn giục ngựa hồng tung thẳng vó

Gươm thù khua mà hào kiệt ở nơi đâu?

Kinh điển năm xe đành đứng ngó,

Nhìn giang san mà thẹn với Vũ Hầu!”

 

Rồi dòng châu lả chả. Cao buốt cả lòng, thương cho kẻ trâm anh mà lặn hụp chốn phong trần. Liên Hà lại rót tràn, hai người cùng uống. Rượu vào, văn chương thi phú cứ mãi tuôn ra. Cao cao hứng nói:

– Được cùng tiểu thư uống rượu hôm nay thì thế gian nầy không còn người cho ta đối ẩm nữa rồi!

Và rượu cũng cạn bầu. Hai người đều say khướt.

Không biết đến lúc nào, nhưng khi nghe bên ngoài tiếng vỗ cánh của cú ăn đêm và ngọn tàn thu lạnh lùng làm chàng chợt tỉnh. Cao choàng tay qua lấy chăn; xúc giác là lạ, vội mở mắt ra, kinh hoàng khi thấy Liên Hà nằm bên với yếm đào lệch lạc đang thiêm thiếp giấc nồng; rồi nhìn lại mình, mình trần trùi trụi. Cao bưng đầu kêu khổ:

– Ta đắc tội rồi!

Liên Hà cười khúc khích:

– Vậy thì thiếp cũng đắc tội với chàng! Vạn sự tùy duyên, có chi mà ngại?

Bèn ngồi dậy. Yếm đào rơi xuống. Cao vội nhắm mắt, quay mặt, để tránh đôi bồng đảo thanh xuân lộ lộ. Liên Hà bảo:

– Biết tháo ra mà không biết buộc vào mới là đắc tội!

Cao chần chừ. Nàng đổi giọng dỗi hờn:

– Không buộc lại giùm thì thiếp để nguyên vậy mà về đó!

Nghe những lời phóng khoáng của Liên Hà, Cao cũng bình tâm lại đôi phần. Đang run run mân mê dây yếm  thì bất ngờ bị Liên Hà tát mạnh vào tay; lại cười nghiêng ngửa:

– Lại định buộc vào thật à? Ai đời kẻ đã từng  to tiếng “mắng bọn tham quan”, thẳng tay “điểm mặt quân thù”,  mà lại khù khờ đến thế?

Rồi vật Cao xuống. Bây giờ Cao mới thực sự đắm đuối và ngây ngất bởi hương thơm từ hình hài diễm tuyệt của nàng toát ra. Hiểu được ý Cao; Liền  Hà giải thích:

 – Từ khi vừa chào đời, da thịt thiếp đã thơm ngát hương sen. Phụ thân đặt tên thiếp là Liên Hà vì lẽ đó!

Ngoài trời trăng sao trong vắt mà trong phòng lại “mưa gió” tơi bời. Gà chợt gáy canh năm, Liên Hà hốt hoảng bật ngưới ngồi dậy, choàng vội xiêm y, hối hả lược giắt trâm cài mà miệng vẫn tươi cười; ánh mắt bén ngót nhìn sang Cao, tủm tỉm:

– Tên cuồng sĩ thô bạo nầy làm tiểu thư ta quên mất cả thời gian! Ngày mai ngươi biết tay ta!

 Cao sững sờ, chưa kịp hỏi lời nào thì thoắt một cáí, Liên Hà  mất dạng!

Tối hôm sau quả nhiên Liên Hà đến, mặt hoa rạng rỡ. Cao cả mừng, vội bế nàng vào phòng. Liên Hà giẫy nẩy:

– Tên cuồng sĩ nầy nay sao hung hãn như giặc phương phương Đông vậy?

Sau cơn mưa gió, Liên Hà nghiêm nghị nói, giọng sắc như dao:

 – Từ nhỏ thiếp sống trong quan phủ, luôn buộc ràng trong khung phép lễ nghi, chưa hề biết mùi ong bướm. Thế mà nay vì quý chàng là kẻ tài hoa, trọng chàng là người trí dũng mà cột tự đến tìm trâu. Chớ cho là liễu ngõ hoa tường, e không phải lẽ!

 Cao tha thiết:

– Ta dù chưa chứng huệ nhãn, nhưng cũng tự hào nhìn được ruột gan của kẻ đứng sau tường! Ta trọng nàng là cân quắc anh thư, khác hẳn với phường hồng nhan yểu điệu, tối ngày chỉ biết trau chuốt dáng người, tô điểm phấn son. Ta kính yêu nàng không hết, nàng bất tất nói những lời khó nghe như thế mà làm tổn thương ta.

Liên Hà ôm  Cao vào lòng, vui vẻ nói:

– May mắn cho thiếp đã chọn chẳng lầm người. Được một tri kỉ như chàng rõ là không uổng một đời má hồng trang điểm, mài miệt bút nghiên.

 

4. Thành hoàng xuất hiện 

Nhưng rồi liên tục nhiều hôm Liên Hà không đến, Cao ban ngày vào ra trông ngóng, đêm về thì uống rượu đợi chờ cho tới canh hai; mà phương trời vẫn biền biệt bóng chim. Dung quang lẹ làng héo úa. Một tối đang ngồi nhắm rượu với lòng buồn vời vợi,  nghe ngoài hiên sương rơi lộp bộp như  tiếng bước chân trên xác lá khô. Lòng khấp khởi mừng thầm. Liếp cửa lay động, nhưng lại là một hảo hán râu hàm tua tủa, hắn vừa bước vào vừa nói; giọng như chuông ngân:

– Lão bằng hữu nay uống rượu không mời ta sao?

Cao định thần nhìn, hơi chột dạ khi nhận ra mặt hảo hán y trang như pho tượng Thành Hoàng quen thuộc ở thôn Ngưu dạo nọ! Cao đứng dậy vái chào; bình thản nói:

– Lâu quá không gặp! Thần nhân có muốn lấy mạng kẻ ngông cuồng nầy thì cũng đợi uống xong tuần rượu đã!

Thành Hoàng đặt mạnh hai vò rượu lớn xuống bàn; dằn thêm mấy đùi dê luộc, cười lớn:

– Từ lâu ta đã nợ lão bằng hữu khá nhiều rượu thịt. Nay không cho ta trả lại, thì ta lấy mạng thật đó! Ha ha! Hừm! “Thần nhân” cái con quái gì! Cứ gọi nhau là huynh đệ cho dễ nghe hơn: Ta là Ngưu huynh, đệ là Cao đệ. Được không? Hà hà!

Lời Ngưu phóng khoáng, Cao nghe nhẹ cả ruột gan. Tị hiếm thần- người phút chốc tan biến mà tưởng chừng như thân thiết tự lúc nào!  Ngưu chỉ vào chén rượu trước mặt Cao:

– Uống rượu bằng chén đút sữa cho hài nhi mà đòi “Uống Rượu Với Tống Giang” sao? Ha ha!

Nói xong cầm đùi dê mà xé, bưng vò mà ực. Rượu tuôn ướt cả hàm râu tua tủa, cả chiếc áo dày bụi phong trần, dơ bẩn như pho tượng tại miếu Thành Hoàng cả năm mới được một lần tắm rửa! Cao cũng chẳng vừa, tu liền một phát. Cả hai lấy tay quẹt miệng:

– Sảng khoái!

– Sảng khoái!

Lúc rượu tàng tàng, bỗng Cao bưng mặt rấm rứt. Ngưu thản nhiên nói:

“Giang sơn vô lệ khấp anh hùng”, nhưng anh hùng thừa lệ khóc giang san!

Cao lau mắt:

– Non sông đang nằm trên chào dầu sôi, mà ta ngày đêm uống rượu, đệ thấy làm nhục lắm!

– Ta thì có chí hướng của ta. Còn đệ thế nào?

– Thái hậu nắm đại quyền mà mắt mờ như cú ban ngày, lại còn thích lời ton hót. Quần thần thì đa phần thủ cựu, tham lam. Hoàng đế vì đi theo biến pháp của Khang, Lương tiên sinh mà phải bị giam cầm (1898- chính biến Mậu Tuất). Phong trào Duy Tân tan rã, nhưng đã đánh thức lòng kẻ sĩ muôn nơi. Đệ cũng phải theo con đường đó mà thôi! Bằng không…

– Bằng không khi tổ quốc nằm trong tay giặc thì chúng sẽ làm thịt tên cuồng ngông “Biên Cương Nộ Khí” mà nhắm rượu đó! Ha ha .

 Ngưu nói lớn:

– Vậy phận ai nấy lo. Giờ uống rượu đã!

Cả hai bèn nốc cạn, rồi cùng đập tan bầu. Ngưu dứt khoát:

– Ta đi đây! Hẹn tái kiến!

4. Ba sinh hương lửa 

Rồi vù như cơn lốc, mất hút. Cao còn bâng khuâng, miên man nghĩ ngợi, thì gian phòng bỗng ngợp hương sen. Liên Hà đến. Cao mừng vui ra mặt, không thốt được lời nào. Liên Hà nhìn quanh, nhăn mặt:

– Y như là bãi sa trường.! Thần nhân uống rượu có khác!

Cao nhìn nàng. Hiểu ý Cao, bèn nói:

– Thiếp đến từ đầu hôm nhưng thấy hai người uống rượu nên không tiện vào đó thôi.

Bèn tự tay quét dọn tươm tất, rồi lấy một gói thuốc bột pha vào nước, bảo Cao:

– Đây là “Giải tửu chỉ phong tán”.Phụ thân thiếp thường dùng khi quá chén đó.

Cao đón lấy, cười cười nói:

– Được thấy mặt nàng thì bao nhiêu rượu trong người ta cũng  tan biến hết!

Liên Hà điểm nhẹ ngón tay vào trán Cao:

– Tên cuồng sĩ nầy biết nói nịnh từ bao giờ vậy? Đừng lắm chuyện nữa, thời gian chẳng còn bao nhiêu. Nghỉ sớm đi thôi!

Đêm đó hương lửa càng nồng, nhưng đến canh năm nàng cũng vội vã ra đi; Cao níu áo nàng:

– Nàng ở lại luôn đây có phải hơn không. Tôi tình gì mà tự làm khổ mình như vậy?

Liên Hà cười ngất:

– Chứ không phải sợ thiếp không đến nữa à? Mới hay, tình yêu làm cho trí sĩ cũng hóa dại khờ; anh hùng hảo hán cũng hóa ngu ngơ! Chàng ở trường hợp nào vậy?

 Cao chữa thẹn:

– Còn với hồng nhan thì sao?

Liên Hà liếc dài:

– Thì dám trốn cha trốn mẹ để đến với chàng đây!

Nói xong, vụt ra cửa, để lại hương sen quyện đặc cả phòng.

Rồi đêm nào cũng đến. Có nàng nói nói cười cười, không khí gian nhà sôi động cả lên. Nhưng một lần mặt hoa lại ủ dột, vóc liễu xanh xao. Cao hỏi mãi, nàng mới cầm tay Cao đặt trên bụng mình mà rằng:

– Tại cái nghiệp chướng nầy đây!

Cao mừng rơn, nhưng Liên Hà lại châu rơi lã chã. Cao vỗ về:

– Hay là nàng sợ búa rìu dư luận, lễ giáo gia phong đổ ập xuống nàng? Ta lại để nàng thiệt thòi thế hay sao?

Liên Hà lắc đầu:

– Những thứ tầm thường ấy không làm gì thiếp được đâu! Có điều chúng ta không còn nhiều thời gian nữa!

– Sao nàng lại nói những điều không hay như vậy?

 Liên Hà lau vội mắt, nghiêm giọng nói:

– “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nay giặc đã tràn đến kinh thành. Hoàng đế anh minh đã bị mụ già Từ Hi bức tử. Đất nước đang hồi điêu đứng mà lại nằm trong tay một đứa trẻ còn bú sữa Phổ Nghi thì thế cuộc làm sao cứu vãn? Bên ngoài súng giặc ầm ầm mà triều nội quan liêu vẫn còn mê ngủ, tìm trăm phương ngàn kế để mưu cầu lợi ích riêng tư; tham vị cố quyền cho con cháu đời đời hưởng lộc! Mà chẳng hề biết “nước mất nhà tan”! Kết bè kết phái mà củng cố quân quyền, chánh vị, chẳng cần biết “hiền tài là nguyên khí quốc gia”; bỏ ngoài tai “vạn ngôn biến pháp”. “Biên Cương Nộ Khí” của chàng là lưỡi gươm đâm nhói dạ quân thù, là bó đuốc thắp sáng lòng yêu nước, thì nơi nầy chẳng phải là chỗ ở lâu dài. Thiếp đã trộm biết chí hướng của chàng, mà sao giờ nầy chim bằng vẫn chưa tung gió? Đừng vì chút quyến luyến thường tình mà đắc tội với non sông.

– Nhưng thân thư sinh trói gà không chặt này, thì ngoài việc cầm bút để viết mấy bài thơ lếu láo ra, còn làm gì được?

 

                    

Nàng nghiêm giọng:

– Chàng thử lòng thiếp đó phải không? Những lời chàng nói với Thành Hoàng, thiếp đã nghe không sót một lời. Hảo hán chẳng cần kẻ vai u thịt bắp; anh hùng nào tị hiềm người bạch diện thư sinh? Thanh gươm có thể chiếm được thành trì nhưng không thể vỗ yên trăm họ! “Biên Cương Nộ Khí” của chàng là tiếng trống thúc quân, là ngọn lửa nấu sôi lòng yêu nước, là ngọn lưỡi đao chém thẳng vào mặt quân thù, khiến chúng ngày ăn đêm ngủ không yên. Điều nầy không nói lên sự uy dũng tuyệt vời của ngòi bút hay sao?

Ngưng một lát, bèn tiếp:

– Thân của chàng không đủ cho chúng làm “mồi” một bữa rượu đâu. Hãy kíp mà lo!

Cao ngần ngừ:

– Ta đã có dự tính rồi, nhưng mà… còn nàng, còn giọt máu của chúng ta?

Nàng cau mặt:

– Nam tử anh hùng, đầu đội trời, chân đạp đất thì chớ vướng bận những chuyện thường tình như vậy! Chuyện an nguy của tổ quốc mới là trọng đại. Phần thiếp, chàng hãy an tâm, thiếp có muốn chết lần thứ hai cũng chẳng được đâu!

Cao trố mắt , kinh ngạc tột cùng:

– Nàng nói gì lạ vậy? “Chết lần thứ hai”?

Mặt hoa ủ dột nhưng thần sắc cương nghị lạ thường:

– Bây giờ thì không thể giấu chàng nữa được rồi! Thiếp chẳng phải là người!

– Nàng!

Liên Hà rấm rứt:

– Trần gia bị đày ra biên ngoại. Dọc đường gian thần cho sát thủ theo giết sạch cả nhà, mà thiếp còn sống được sao?

Chợt nhìn Cao đắm đuối, mỉm cười, miệng vẫn đẹp như hoa:

– Lại sợ con ma nầy móc ruột, moi tim à?

Cao ôm chặt nàng vào lòng:

– Dù yêu tinh quỷ quái ta cũng chẳng sờn, huống chi chỉ là con ma đáng yêu nầy!

Rồi mây mưa một trận tơi bời, giường nghiêng chiếu lệch. Tàn cuộc thì sao mai cũng vừa ló dạng. Tiếng gà trong xóm liên tục gáy vang. Nàng vội kéo Cao dậy, rồi đột nhiên cắn nhẹ vào cổ tay chàng, đoạn nói:

– Để chàng nhớ mãi đến thiếp!

Tức thì ở chỗ vết cắn hiện lên hình một đóa sen hồng, lại phảng phất hương thơm thoang thoảng. Gà lại gáy rộ. Nàng vôi vàng sửa lại xiêm y, ngậm ngùi:

– Thời gian không còn nữa. Thiếp đi đây!

Cao nắm lấy tay nàng, buồn đau hiện đầy môi mắt. Nàng xỉ ngón tay nhẹ vào trán chàng, cười cười:

– Thiếp có… chết đâu mà mặt mày như đưa đám vậy? Ngày trùng cửu năm Nhâm Tí hẹn nhau tại miếu Thành Hoàng. Chàng chớ quên!

5. Tái ngộ 

Cách nạng Tân Hợi thành công (1911), đế chế Thanh triều sụp đổ, hoàng đế Phổ Nghi thoái vị, bè lũ gian thần kẻ bị giết, kẻ bị tù đày. Qua năm sau (1912 – Nhâm Tí), nhớ lời Liên Hà, Cao trở lại Ngưu Thôn.

Miếu Thành Hoàng xem khang trang hơn, khói hương nghi ngút. Hỏi thăm, người trong làng cho biết, “Ngài” rất hiển linh, Ngưu thôn võ thuận phong điều, bá tánh an cư lạc nghiệp.

Cao nhìn pho tượng được tô son thếp vàng, uy phong ngời ngợi. Đang kính cẩn rót rượu khấn, thì giọng ồm ồm quen thuộc, tiếp theo là tiếng cười ha hả:

– Kẻ mời rượu phải uống trước để xem có độc không đã! Ha ha!

Cao giật thót người, nhìn lên. Pho tượng bằng gỗ từ từ chuyển động rồi uyển chuyển bước xuống bục, vỗ nhẹ vai Cao mà chàng cơ hồ xương cốt như vỡ vụn ra:

– Hiền đệ! Đã lâu không gặp! Nay phải uống cho thỏa. Ta đang thèm rượu đây!

Cao cả vui. Thế là thịt bày đầy, rượu rót tràn, rổn rảng nói cười sảng khoái. Nhìn bộ dạng nốc rượu của Thành Hoàng, Cao cười:

– Rượu bá tánh cúng đầy mà xem chừng Ngưu huynh đói rượu lắm vậy?

– Hừ! Uống rượu mà không tri kỉ thì có thú vị gì!

Bỗng nghe hương sen thoang thoảng. Cả hai nhìn ra cửa, rồi cùng đứng lên với một thái độ khác nhau. Thành Hoàng thi lễ:

– Trần công nương giá lâm!

Cao nghẹn ngào:

– Hiền thê!

Liên Hà tươi cười, vừa thư thả bước vào, vừa chỉ đứa bé dẫn theo:

– Hãy xem có đáng là hậu duệ của Cao gia không nào?

Nhìn đứa bé dáng thông minh đỉnh ngộ, Cao tràn hạnh phúc:

– Thật vất vả cho nàng! Ơn Thái Sơn nầy…

Thành Hoàng nôn nóng, ngắt lời:

– Chuyện ơn nghĩa không phải nói lúc nầy! Giờ uống rượu đã! Còn nhiều chuyện vui hơn mà hiền đệ chưa biết được đâu.

Theo lời Thành Hoàng, Đại nhân Trần Án Sát đã được phong hầu. Tử tôn đời đời hưởng lộc. Cao ngùi ngùi nhìn vợ:

– Dù sao, nơi dương gian nầy nhạc phụ cũng không người nói dõi. Hay là ta cho con mang họ Trần, và đặt tên là Bảo Bảo, nghĩa là vật quý nhất của vợ chồng ta. Hiền thê nghĩ thế nào?

Liên Hà rưng lệ, lặng thinh. Thành Hoàng cười lớn:

– Ha ha! Vậy mới gọi là NGHĨA chứ! Được cùng đệ kết nghĩa anh em, đời ta không phí! Ha ha! Hãy uống mừng sum họp đi nào!

Bèn dốc cả bầu, rượu tràn ra miệng, tuôn xuống ướt cả râu, cả áo. Vài mươi bận như vậy thì giọng lè nhè:

– Không có gì vui bằng vợ chồng đoàn tụ. Hiền đệ và đệ tức (em dâu) cứ xem đây là nhà của mình. Ta có tật khi say trời gầm cũng không biết. Chớ lo!…. Hề hề!

Rồi ôm Bảo Bảo Vào lòng:

– Cháu ngoan! Tối nay ngủ với bá bá nhé!

*

Trong đời lang bạc, ta thượng được nghe những chuyện li kì. Mùa xuân năm Bính Ngọ có dịp hồi kinh, ta bèn đem chuyện trên kể cho ân sư là La thượng thư. Nghe xong, người bảo: “Đây cũng là chuyện lạ, ngươi hãy viết tiếp vào “Tứ Phương Kì Truyện” cho hậu thế mua vui”./.

 Kha Tiệm Ly

 ( Kiền Thức Ngày Nay số 840)

CÂY CẢNH VÀ LÒNG NGƯỜI CHƠI CẢNH – Trần Mỹ Giống

21 Th6

CÂY CẢNH VÀ LÒNG NGƯỜI CHƠI CẢNH

Truyện ngắn Lưu Tuấn Hùng

Gà đã gáy sáng, xóm bên sông người ta đã lục tục trở dậy nhóm bếp, nổi lửa, hâm nước hãm trà và nấu một chút gì ăn sáng để yên lòng bước vào chợ cây cảnh trong thành phố. Vào những ngày mưa xuân đã ngại bay, sương xuân lãng đãng trên đường quê, đó đây người từ các xóm, họ gò lưng guồng xe đạp chở những chậu cây cảnh, hướng về phía thành phố. Trên đường xa lộ, xe máy, ô tô tải nhỏ cũng nườm nượp chở những chậu cây cảnh và hoa, tăng một chút ga, lấy sức mạnh để vượt dốc vào cầu Đò Quan. Mùa này cầu Đò Quan đẹp một như một dây phong lan đu đưa qua dòng sông Đào nối liền đôi bờ đang vào xuân. Chợ cây cảnh trong thành phố vào giờ này khách đến cũng đã đông. Các nhà cây thế, cây cảnh, các nhà trồng hoa, họ đã tề tựu một cuộc bài trí về hoa và cây cảnh trong chợ. Những dãy cây cảnh nối nhau đủ các loại cây sanh, cây si, cây lộc vừng và đa, mỗi loại cây chủ vườn đã dầy công qua bao tháng năm uốn thế theo những bài bản mà các vị tiền bối của nghề chơi cảnh ở đất này đã để lại cho con cháu một di sản phi vật thể được truyền tay, truyền khẩu mà gìn giữ, phát triển nghề chơi cây cảnh hào hoa như hôm nay. Cạnh đó là các chủ trang trại phong lan cũng căng dây thép ngang chợ, treo những giò phong lan nhìn đến sướng mắt. Nào Phi Điệp, Phượng Vũ và nhiều loại hoa Châu Âu du nhập qua con đường Đà Lạt – đất hoa nổi tiếng miền Trung và từ đấy hoa Châu Âu bắt đầu vào tới những thành phố vùng châu thổ sông Hồng. Thôi thì đủ loại: hoa “đừng quên nhé”, hoa păng-xê, hoa Lit và nhiều loại hoa của Châu Âu đã về miền quê mới ở vùng châu thổ sông Hồng.

Ở dẫy cây cảnh, các nghệ nhân đã bài trí ra một cuộc đón khách theo kiểu dân giã, vừa mộc mạc, vừa thanh lịch mà quyến rũ. Có những nghệ nhân họ bầy chõng tre hun khói trông đẹp như sừng, trên chõng bầy la liệt những ấm chén, hộp trà, hộp thuốc lào. Xung quanh chõng, tiến chủ móc những cái điếu cầy loại ống tre già có khảm hoa văn rồng phượng, có loại điếu Anh-nốc-xi-đáp sáng loáng để tỏ vẻ thuốc lào cũng đã tiến về phía hiện đại không kém gì những loại pip của các đại gia tư bản ở Châu Âu, Châu Mỹ. Cạnh đó chủ nhân đặt một bếp than tổ ong và bắt đầu hãm nước sốt, pha ấm trà đầu tiên để gọi khách. Phía trong chợ người ta lại có những dãy hàng đáp ứng những nhu cầu của các vị thực khách. Nào quán bún riêu, quán chân giò bò heo, phở bò Giao Cù, bánh cuốn chả làng Kênh, xôi lạp sườn kiểu Trung Hoa. Những hương vị ấy bốc lên lan toả trong chợ xuân, liệu có khách nào có thể kìm nổi những thèm muốn của mình khi trong lòng còn đang chưa có chút gì điểm tâm.

Chợ cây cảnh họp lúc nào cũng không hay, người ta chỉ biết khách đến, họ vây quanh những chậu cây cảnh, ngắm nhìn rồi gật gù như tán thưởng những cành mà họ đang vừa ý. Có những khách ngồi vào những chiếc ghế đẩu quanh chõng tre của nghệ nhân và họ bắt đầu mở chuyện. Tuy chẳng ai quen ai bao giờ nhưng những người đã vào tới chợ cây cảnh này họ đều là những người sẵn lòng thổ lộ những tâm tình, thậm chí những đời tư buồn vui và những nỗi chua chát như để san sẻ nỗi lòng mình cho người cùng cảnh ngộ ở đó đây. Khách bắt đầu nâng chén trà, có vị ngửa cổ rít một hơi thuốc lào dài, điếu rít lên giòn tan, cứ thế họ vui dưới trời xuân lạnh giá, lãng đãng một vài hạt mưa nhẹ như bụi xuân phủ trên mái tóc, trên vai áo. Liệu trên thế giới này có một quốc gia nào lại có được những phiên chợ xuân lãng mạn, đầy tình người, chan chứa giữa cây cảnh và quê hương như ở đất nước trên vùng châu thổ sông Hồng này không? Các vị khách đưa mắt ngắm những cây thế xung quanh, người ta thán phục tài hoa của nhà trồng vườn và khen ngợi những cái nết của cây cảnh như đã hoà với lòng người. Những cây cảnh ấy được tạo dáng từ cây si, cây sanh, cây lộc vừng, cây ruối, cây tùng, cây trắc bách diệp và những cây thân dẻo có sức chịu đựng kham khổ, chịu khô hạn, chịu đói dinh dưỡng. Cây cảnh đứng nép bên thềm kiên nhẫn chờ đợi tiến chủ đi công tác về để được hưởng một vài giọt nước tưới tắm sau những ngày khát khao. Chỉ một mảnh đất nho nhỏ bằng vài ba bàn tay đổ vào chậu cảnh và qua vài năm uốn thế đã có khách về đặt đôi ba triệu để giữ phần. Cây thế ở Nam Điền, Nam Xá, Nam Phong, Nam Vân, Nam Toàn và nhiều nơi khác đã đem về chợ xuân này, họ trưng bày những tài hoa uốn thế của các nhà trồng vườn. Chủ vườn ngồi ở ghế giữa đối diện với chõng, vẻ oai vệ. Ông mỉm cười, trình diễn một bộ hàm răng lủng củng và đã pha sắc nâu kềnh kệch. Thoáng trông thì mộc mạc như vậy, nhưng chủ vườn là người có duyên và khéo tán, có sức lôi cuốn khách ngồi nghe như không biết chán. Có lẽ đó cũng là một nghề của các nhà trồng cây cảnh ở đất này. Chủ vườn cho biết các cây thế bao gồm thế trực, thế huynh đệ, thế bạn hữu, thế trạng nguyên, thế phụ tử, thế bạt phong hồi đầu, thế huyền, và vài chục cây thế khác nhau. Ông nói rằng mỗi cây thế hợp với lòng người, lúc thăng, khi trầm, khi làm ăn khấm khá như diều gặp gió, khi lao đao như gặp bão táp mưa sa vùi dập. Có vị khách thích cây thế trực có dáng vươn thẳng lên trời cao thể hiện lòng người ngay thẳng, cương trực, sống trên đường đời không quay quắt và thể hiện lẽ sống của người Việt, có vị khách móc túi đặt một số tiền để giữ phần.

Một ông trạc tuổi lục tuần, râu tua tủa, đôi mắt quắc thước, nhìn ông cũng đủ biết cuộc đời ông phong trần như thế nào, ông chỉ vào chậu cảnh thế bạt phong hồi đầu. Ông thổ lộ tâm tình, khi ông rời quân ngũ trở về và nhập cuộc làm ăn thời mới. Ông cũng vay vốn, cũng tập hợp bạn hữu làm một đội thợ xây và cũng xông vào các cuộc đấu thầu để kiếm sống, nhưng rồi những cánh thầu cự phách vốn lớn, máy móc nhiều lại làm ăn mánh lới có dư, họ hất ông một cú ngã sõng xoài trên thương trường, vốn liếng bay sạch, máy móc cũng vứt xó, đồng đội bỏ ông mà ly tán mỗi người một phương để mưu sinh. Ông trở lại với người vợ nghèo đang ngồi trầm tĩnh lau nước mắt bên bếp lửa hồng ngày đông giá lạnh. Thế rồi ông bạn ấy gắng gượng vươn lên, bổ đi các nơi học hỏi kiếm sống. Sau mươi năm xa quê, tung hoành ở những nơi đô thị hào hoa. Đùng một cái ông trở về trên chiếc ô tô du lịch sang trọng cỡ tỷ bạc, và ông tài trợ cho quê nhà cỡ trăm triệu để xây dựng nhà trẻ cho làng mình, ông lại thăm hỏi những bà con nghèo và có chi chút trợ giúp cho mỗi người. Trong một cuộc lễ nghi đón tiếp, UBND xã giới thiệu ông là một Tổng giám đốc Công ty xây dựng nổi tiếng ở miền Trung… vị khách này cũng ơn nhờ cuộc đời đã dạy cho ông những bài học quý báu, biết kiên cường vượt khó, không chịu khuất phục những xấu xa và vươn lên ngang tầm thương trường. Nhà xây dựng ấy đã đặt tiền mua chậu cảnh bạt phong hồi đầu. Cây cảnh này vươn ngang lên trời cao rồi đột nhiên quay ngọn lại như đang bay trong gió, thể hiện sự bền gan vững chí để vươn lên đỉnh cao của cuộc sống.

Góp vào niềm vui chợ xuân lại một ông nữa cũng thổ lộ tâm tình, ông có thằng con trai út quý nó như vàng. Hàng xóm ai đụng đến thằng ấy, ông quắc mắt vung tay “xung thiên chi nộ”, đe doạ trừng trị hàng xóm để bảo vệ cậu ấm của mình. Nhưng rồi đùng một cái nó mắc nghiện, chữa chạy tứ phương cũng không khỏi. Ông lôi nó đi theo ông làm ăn ở một nơi xa lánh những tệ nạn xã hội. Sau bao năm xa quê, bố con ông trở về và làm ăn mở một xưởng nhỏ sửa chữa nông cụ ở đầu làng. Tuy cái doanh nghiệp búa đe của ông cũng chẳng to tát gì, người rửa chấu liềm, người mài lưỡi dao, sửa cái cầy, cái cuốc. Cái gốc đa ở đầu làng mà bố con ông mở xưởng rèn trở nên đông đúc. Bà con đi qua ai cũng ghé vào chào hỏi thân thiện. Bố con ông kiếm đủ sống còn dư dật chi phí và góp vào cho vợ ông chút tiền tậu đôi bò lai sing để nuôi bò sinh sản. Cái mừng nhất là thằng con ông đã trút bỏ những lỗi lầm nghiện hút, trở thành một tay búa đe thực thụ. Ông nói: “Đời tôi tưởng như đã gục xuống đất đen may mà  bố con tôi đã ngóc đầu dậy tìm đến cuộc sống mới. Tôi phải sắm cây thế huyền là cây thế giống đời tôi và con tôi để kỷ niệm và đánh dấu bước làm ăn chính trực của bố con tôi…”.

Một ông khác bốc lên bơm một chuyện không kém phần sôi nổi: Tôi thích cây huynh đệ hơn vì hai cây mọc ngang nhau, không xoè tán lấn át cuộc sống của nhau, không vươn canh đè nén lẫn nhau, thể hiện nghĩa tình huynh đệ trong sáng. Trong đời tư của ông cũng đã có lần thằng em ruột ông nó phỗng mất miếng đất của bố ông để lại cho ông. Sau bao năm kiện cáo chẳng nước gì, ông đành chịu ở túp lều và chịu khó làm ăn cấy hái, chăn nuôi. Rồi ông nghe người ta chỉ bảo nuôi nhím, nuôi rắn, nuôi cá sấu. Thế rồi ông vớ những mẻ thu hoạch cũng nặng tay và ông xây dựng được ngôi nhà hai tầng có vườn tược hẳn hoi. Còn thằng em ông, hai vợ chồng thi nhau phá tán, nó bán nhà để trả nợ mà không xong. Cuối cùng nó lại thay tôi chui vào một cái lều khốn khổ để trú ngụ qua ngày mưa gió. Thôi thì dù sao cái thằng khốn ấy cũng là em mình, tôi cho nó một mảnh đất nhỏ để dựng túp lều ở. Bà con ai cũng quý tình anh em của tôi đẹp như chậu cây cảnh huynh đệ…

Còn biết bao nhiêu cây thế nữa, cây thế phụ tử, cây thế hoành dành cho những người làm ăn rộng rãi biết nhìn rộng trông xa, cây thế trực hợp với lòng người ăn ở ngay thẳng, không quay quắt. Có nhiều vị khách thích cây long giáng, cây thế phi long và các vị khách xung quanh cái chõng tre, mỗi người thích một dáng cây hợp với cuộc đời và lòng mình. Phiên chợ xuân trong thành phố đâu phải chỉ là nơi bán cây cảnh, nó trở thành một câu lạc bộ để con người quần tụ bên nhau tâm sự nỗi niềm trầm bổng và chia sẻ cho nhau nỗi buồn vui. Và có lẽ họ còn học ở nhau những điều tốt đẹp đầy lòng nhân ái mà cuộc sống ngày nay đang đánh mất quá nhiều.

Khách đang vui chuyện, một bà vào tiếp nước vào ấm đun chè cho chủ nhân. Đó là phu nhân của nhà trồng cây cảnh đang tiếp chúng tôi ở phiên chợ xuân này. Bà góp chuyện, giọng vui vui, và pha trộn một chút đay nghiến ông chồng và cũng là một cái giọng như là nhắc nhở sự cảnh tỉnh cho những ai đã nặng lòng về hoa cây cảnh.

Phu nhân chủ vườn nói:

– Trời ơi! các ông xem từ khi nhà tôi trồng cây cảnh và hoa lá, bán được tiền tôi đã mừng nhưng các ông sinh vật cảnh lại sinh ra thói ngâm thơ ngày đêm. – Bà cho biết thêm, nhiều đêm chồng bà và các ông trồng cây cảnh rước các đào nương trong xóm về tụ họp để đờn ca tài tử và ngâm thơ vịnh cảnh. Các ông nghệ nhân cây cảnh sinh thói ăn diện, quần áo tây, cổ thắt ca vát, đội mũ phớt, giầy da bóng loáng như bôi mỡ, rủ nhau lên phố ngắm “hoa tươi sống”. Bà thay mặt chồng rót nước mời khách và nói tiếp: – Đấy các ông xem, vài ông trồng cây cảnh và hoa lá no cơm ấm cật lại dậm dật lên phố đánh đường tìm hoa. Còn mẹ con tôi chui vào bếp nấu cám lợn, ủ phân, cuốc vườn để cho các ông chơi hoa.

Phút cuối cùng ở dãy bầy các chậu cây cảnh, vị phu nhân của nghệ nhân trồng cây cảnh, đã tiết lộ thêm một ý sâu sa mà không mấy ai biết được: “Ai bảo nghề trồng hoa là sướng !”.

Lưu Tuấn Hùng

LẠI NÓI VỀ CHIẾN TRANH – Thái Bá Tân/BS

28 Th5
  • LẠI NÓI VỀ CHIẾN TRANH

    Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.

    Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!”. Vân vân.

    Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nữa.
    Chủ trì và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.

    “Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.

    “Cả chị?” tôi hỏi.

    Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức:

    “Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên.
    Mắt chị lại rưng rưng.

    Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, – một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, – lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.

    Lặng lẽ ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.
    Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?

    Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.

    Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.

    Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.

    “Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.
    “Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”

    Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.

    Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”

    “Chị khỏe chứ?”

    “Mô phật.”

    “Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”

    “Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.

    “Thế chị và mọi người đi đâu?”

    Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.

    Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.

    Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!

    Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!
    Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.

    “Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”

    14. 11. 2011

%d bloggers like this: