Lưu trữ | XÃ HỘI & THỜI SỰ RSS feed for this section

Tin Biển Đông – youtube

2 Th2

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 – TNO

19 Th1
(TNO) Thanh Niên Online xin cung cấp tới bạn đọc danh sách 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hy sinh khi chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

(TNO) Thanh Niên Online xin cung cấp tới bạn đọc danh sách 75 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh khi chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Danh sách này đang tiếp tục được hoàn thiện với sự đóng góp của bạn đọc. 

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 1

6 quân nhân trong số 74 người đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa – Ảnh tư liệu

Phần lớn những tử sĩ này thân xác đã tan vào biển cả và suốt 40 năm qua, chỉ có người thân, bạn bè và đồng đội mới biết và tưởng nhớ họ.

Vẫn còn nhiều thông tin chưa rõ ràng trong danh sách dưới đây (khuyết họ, chức vụ…), rất mong bạn đọc giúp chúng tôi bổ sung thông tin, hoàn chỉnh danh sách những người đã ngã xuống trong khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền đất nước.

Thanh Niên Online xin cảm ơn kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) và cựu Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San (Mỹ) đã cung cấp và giúp chúng tôi điều chỉnh các thông tin trong danh sách.

Sau đây là danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974:

Số TT Chức vụ Họ tên Đơn vị
1 Trung sĩ Cơ khí Trần Văn Ba HQ-10
2 Hạ sĩ Cơ khí Phạm Văn Ba HQ-10
3 Hải quân đại úy Vũ Văn Bang HQ-10
4 Hạ sĩ Cơ khí Trần Văn Bảy HQ-10
5 Thượng sĩ nhất quản nội trưởng Trọng pháo Châu HQ-10
6 Trung sĩ nhất Vô tuyến Phan Tiến Chung HQ-10
7 Hạ sĩ Giám lộ Nguyễn Xuân Cường HQ-10
8 Hạ sĩ Điện khí Trần Văn Cường HQ-10
9 Trung sĩ Bí thư Trần Văn Đảm HQ-10
10 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Nguyễn Thành Danh HQ-4
11 Hạ sĩ Vận chuyển Trương Hồng Đào HQ-10
12 Hạ sĩ nhất đoàn viên Trần Văn Định HQ-10
13 Trung úy Người nhái Lê Văn Đơn Người nhái
14 Hạ sĩ Cơ khí Nguyễn Văn Đông HQ-10
15 Hải quân trung úy Phạm Văn Đông HQ-10
16 Hải quân trung úy Nguyễn Văn Đồng HQ-5
17 Trung sĩ Trọng pháo Đức HQ-10
18 Thủy thủ nhất Trọng pháo Nguyễn Văn Đức HQ-10
19 Trung sĩ Thám xuất Lê Anh Dũng HQ-10
20 Hạ sĩ Quản kho Nguyễn Văn Duyên HQ-16
21 Thượng sĩ Ðiện tử (truy phong chuẩn úy) Nguyễn Phú Hảo HQ-5
22 Hạ sĩ Ðiện khí Nguyễn Ngọc Hòa HQ-10
23 Hạ sĩ Giám lộ Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi nhất) HQ-10
24 Hải quân trung úy Cơ khí Vũ Ðình Huân HQ-10
25 Hạ sĩ Trọng pháo Phan Văn Hùng HQ-10
26 Thượng sĩ nhất Ðiện khí  Võ Thế Kiệt HQ-10
27 Thượng sĩ Vận chuyển Hoàng Ngọc Lễ (cao tuổi nhất) HQ-10
28 Thủy thủ nhất Thám xuất Phạm Văn Lèo HQ-10
29 Thượng sĩ nhất Cơ khí  Phan Tấn Liêng HQ-10
30 Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn Lợi HQ-10
31 Thủy thủ nhất Cơ khí Dương Văn Lợi HQ-10
32 Hạ sĩ Người nhái Ðỗ Văn Long Người nhái
33 Trung sĩ Ðiện khí Lai Viết Luận HQ-10
34 Hạ sĩ nhất Cơ khí Ðinh Hoàng Mai HQ-10
35 Hạ sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Quang Mến HQ-10
36 Hạ sĩ nhất Cơ khí Trần Văn Mộng HQ-10
37 Trung sĩ Trọng pháo  Nam HQ-10
38 Thủy thủ nhất Trọng pháo Nguyễn Văn Nghĩa HQ-10
39 Trung sĩ Giám lộ Ngô Văn Ơn HQ-10
40 Hạ sĩ Phòng tai Nguyễn Văn Phương HQ-10
41 Thủy thủ nhất Phòng tai Nguyễn Hữu Phương HQ-10
42 Thượng sĩ nhất Trọng pháo Nguyễn Ðình Quang HQ-5
43 Thủy thủ nhất Trọng pháo Lý Phùng Quy HQ-10
44 Trung sĩ Cơ khí Phạm Văn Quý HQ-10
45 Trung sĩ Trọng pháo Huỳnh Kim Sang HQ-10
46 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Ngô Sáu HQ-10
47 Trung sĩ Cơ khí Nguyễn Tấn Sĩ HQ-10
48 Thủy thủ Trọng pháo Thi Văn Sinh HQ-10
49 Trung sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn HQ-10
50 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lê Văn Tây HQ-10
51 Hải quân thiếu tá – Hạm trưởng (truy phong trung tá) Ngụy Văn Thà HQ-10
52 Hải quân đại úy Hàng hải-Thương thuyền Huỳnh Duy Thạch HQ-10
53 Hạ sĩ Trọng pháo Nguyễn Văn Thân HQ-10
54 Thủy thủ Điện tử Thanh HQ-10
55 Hải quân trung úy Ngô Chí Thành HQ-10
56 Hạ sĩ Phòng tai Trần Văn Thêm HQ-10
57 Hạ sĩ Phòng tai Phan Văn Thép HQ-10
58 Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú HQ-10
59 Thượng sĩ Điện tử Thọ HQ-10
60 Thủy thủ nhất Vô tuyến Phạm Văn Thu HQ-10
61 Thủy thủ nhất Điện tử Ðinh Văn Thục HQ-10
62 Trung sĩ Giám lộ Vương Thương HQ-10
63 Thủy thủ (?) Người nhái Nguyễn Văn Tiến Người nhái
64 Hải quân thiếu tá – Hạm phó Nguyễn Thành Trí HQ-10
65 Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Thành Trọng HQ-10
66 Hạ sĩ Vận chuyển Huỳnh Công Trứ HQ-10
67 Thượng sĩ Người nhái Ðinh Hữu Từ Người nhái
68 Trung sĩ Quản kho Nguyễn Văn Tuân HQ-10
69 Thủy thủ nhất Cơ khí Châu Túy Tuấn HQ-10
70 Biệt hải Nguyễn Văn Vượng HQ-4
71 Hải quân trung úy Nguyễn Phúc Xá HQ-10
72 Trung sĩ Trọng pháo Nguyễn Vĩnh Xuân HQ-10
73 Trung sĩ Ðiện tử Nguyễn Quang Xuân HQ-10
74 Trung sĩ Điện khí Xuân HQ-16

Bổ sung:

75. Trung sĩ Phạm Ngọc Đa – HQ-10

Cập nhật:

Ngày 9.1:

– Thanh Niên Online vừa nhận được điện thoại của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (TP.HCM). Ông Phúc cho biết theo thông tin do gia đình cung cấp, ở vị trí thứ 58 là Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú (HQ-10), không phải “Lương Thanh Thi” như danh sách ban đầu. 

– Kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) vừa nhắn tin cho Thanh Niên Online, thông báo gia đình cho biết ở vị trí 21 là Thượng sĩ Điện tử Nguyễn Phú Hảo, không phải “Hào” như danh sách ban đầu. Chúng tôi xin phép điều chỉnh.

Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc và kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình.

Ngày 12.1:

– Anh Trần Đoàn Nam ở TP.HCM đề nghị điều chỉnh tên cha của mình là Trần Văn Đảm (ví trí thứ 9), không phải Trần Văn Đàm như trong danh sách ban đầu. Xin trân trọng cảm ơn anh Trần Đoàn Nam.

Danh sách trên vẫn còn cần bổ sung và điều chỉnh, Thanh Niên Online mong tiếp tục nhận được sự góp ý của bạn đọc và rất xin lỗi nếu có điểm nào đó chưa chính xác do điều kiện xác minh khó khăn.

Ngày 14.1:

Thanh Niên Online vừa nhận được thông tin từ gia đình một quân nhân hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa: “Gia đình chúng tôi có người mất trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974, nhưng không thấy có tên trong danh sách. Thân nhân là Phạm Ngọc Đa, số quân là 71703011, phục vụ trên tàu HQ-10 (Nhật Tảo) với cấp bậc là trung sĩ. Trung sĩ Phạm Ngọc Đa không trực tiếp thiệt mạng trong trận chiến mà chết trong quá trình trôi dạt trên biển ba ngày sau khi tàu HQ-10 chìm (22.1.1974)…”

Gia đình trung sĩ Phạm Ngọc Đa còn gửi tới Thanh Niên Online bản sao chụp giấy báo tử, giấy trợ cấp của chính quyền VNCH và các giấy tờ, hình ảnh liên quan. Cũng theo người thân trong gia đình, thân mẫu của trung sĩ Phạm Ngọc Đa vẫn còn sống tại địa chỉ 588/20A Đông Thịnh 3, Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, An Giang.

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 2

Giấy chứng tử quân nhân Phạm Ngọc Đa – Ảnh: Gia đình cung cấp

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 3

Trung sĩ Phạm Ngọc Đa

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974 - ảnh 4

Phong thư được trung sĩ Đa gửi đi từ tàu HQ-10

 Ngày 16.1:

– Thanh Niên Online vừa nhận được tin nhắn của bạn đọc Trần Minh Kha ở quận 4, TP.HCM với nội dung sau: “Đề nghị quí báo điều chỉnh bổ sung họ và tên đầy đủ của anh tôi là: Trần Văn Xuân, trung sĩ điện khí, HQ-16 (ở mục 74). Trân trọng cảm ơn”. Rất mong bạn Trần Minh Kha gửi số điện thoại hoặc email tới hộp thư toiviet@thanhnien.vn để chúng tôi xác minh thêm trước khi cập nhật.

Thanh Niên Online

>> Hồ sơ ngoại giao Mỹ về Hải chiến Hoàng Sa – Kỳ 2: Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an LHQ
>> Hồ sơ ngoại giao Mỹ về Hải chiến Hoàng Sa – Kỳ 1: Bàn cờ nước lớn
>> Một sự thật khác về Hải chiến Hoàng Sa (?)
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 4: Nổ súng chống giặc
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 3: Tương quan lực lượng
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại – Kỳ 2: Hành quân giữ đảo
>> Hải chiến Hoàng Sa – 40 năm nhìn lại

THÔNG TIN TỪ NHẬT BẢN PHÁT HIỆN NGÔI MỘ TẬP THỂ CỦA BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRÊN ĐỈNH 1509 ( LÃO SƠN-NÚI ĐẤT) VỊ XUYÊN-HÀ GIANG

18 Th1

https://nvphamvietdao5.blogspot.cz/2017/01/thong-tin-tu-nhat-ban-ve-ngoi-mo-tap.html?m=1

THÔNG TIN TỪ NHẬT BẢN PHÁT HIỆN NGÔI MỘ TẬP THỂ CỦA BỘ ĐỘI VIỆT NAM TRÊN ĐỈNH 1509 ( LÃO SƠN-NÚI ĐẤT) VỊ XUYÊN-HÀ GIANG

Chào anh Đào!

Em là Hà Minh Thành, ở Nhật xin gửi tặng anh Đào một số hình ảnh về Núi Đất bây giờ đã thuộc về Trung Quốc sau hiệp định hoạch định biên giới; tên mới của Trung Quốc bây giờ là Lão Sơn mà em đã chụp vào tháng 12 năm ngoái ( 2009) . 

Khu vực này hiện tại vẫn còn được xem là khu vực quân sự trọng yếu do quân đội Trung Quốc quản lý. Dĩ  nhiên ngoài những chỗ họ cho phép thì hầu như họ cấm chụp ảnh, quay phim với lý do có rất nhiều mìn. Em đã lén chụp ở khu vực chôn các liệt sĩ VN , anh xem trong các tấm hình có một hình em ngồi ở bên cạnh một cái hố , trên đó có nhiều phiến đá vuông (hình số 17).

Ông Vương Hoàn Hải – một sĩ quan Trung Quốc từng tham gia cuộc chiến đó, đã cho em biết đây là nơi chôn các binh sĩ Việt Nam bị chết trong trận đó

Ông ta vô tình kể một chi tiết là sau khi chiếm được Núi Đất thì họ thu gom hài cốt binh sĩ cả 2 bên, thi thể lính Trung Quốc thì họ đưa về phía sâu bên Trung Quốc cách đó 10 km và làm nghĩa trang liệt sĩ, còn thi thể của các liệt sĩ VN cũng như các thương binh nặng nhẹ, các tù binh bị tập trung xử bắn hàng loạt tại chỗ không phân biệt đã chết hay còn sống, họ liệng xuống cái hố đó và nhờ lực lượng hóa học đốt, sau đó thì cho xe ủi lấp.

Ông ta nói rằng không nhớ chính xác nhưng trong cái hố đó có khoảng 3700 xác binh sĩ VN. Cho đến ngày hôm nay ông ta và các đồng đội vẫn còn ám ảnh tiếng kêu gào của các thương binh VN trong biển lửa khi hỏa thiêu họ. Em đã không cầm được nước mắt và quỳ xuống cảm tạ trước ngôi mộ hoang tàn mà trong đó có thể có thi thể của anh Tạo em của anh, một người bằng tuổi của em đã Vị quốc vong thân.

Hy vọng anh Đào với tiếng nói của một nhà văn hãy kêu gọi Chính phủ VN phải bằng mọi giá quy tập hài cốt của các liệt sĩ mình cho họ trở về quê hương và gia đình. Nếu không làm được thì cũng nên vinh danh những người anh, người con đã ngã xuống để bảo vệ lãnh thổ trong cuộc chiến không cân sức, để đỡ tủi thân những người đã khuất cũng như gia đình họ…

Theo thông tin đoàn làm phim thu thập được thì trong trận chiến đó, phía Việt Nam đã thất bại do đã bị phản bội bởi một sĩ quan cao cấp Quân báo Việt Nam, tên này đã bán thông tin chi tiết về kế hoạch hành quân tái chiếm Núi Đất cho tình báo Trung Quốc. 

Rất tiếc cho đến lúc này, Chính phủ VN và Bộ Quốc phòng Việt Nam vẫn chưa hồi âm cho phép đoàn làm phim của đài TBS phỏng vấn các sĩ quan, binh sĩ và dân chúng VN để bộ phim phóng sự có một góc nhìn trung thực từ cả hai phía. Theo em đây là một cơ hội để phía VN lên tiếng cho thế giới biết Trung Quốc đã xâm chiếm lãnh thổ của mình.

Trong phạm vi khả năng của em thì em cố gắng dịch, sưu tầm các tài liệu và hướng cho Đạo diễn Bành Trung Nghĩa làm phim theo một góc nhìn trung thực, không thiên vị phía Trung Quốc, vì dù sao ông ta cũng là người gốc Hoa.

Trong khi chính quyền Lạng Sơn cho Trung Quốc vào tảo mộ liệt sĩ của họ, còn hài cốt của liệt sĩ VN còn ở Núi Đất thì lại im lặng và bị lãng quên…

MỘT VÀI THÔNG TIN VỀ HÀ MINH THÀNH:

Hà Minh Thành trao đổi thư từ qua mạng với tôi sau loạt bài tôi viết trên Website Hội Nhà văn VN NĂM 2009:tôi viết về vụ án nhận hối lộ của Huỳnh Ngọc Sĩ và vụ một phi công Việt Nam chở hàng ăn cắp từ Nhật bản về.
Thời điểm đó tôi làm biên tập cho Website của Hội nhà văn VN ( Vanvn.net)…

Hà Minh Thành đã cung cấp cho tôi một số tin quan trọng liên quan tới vụ án, anh cho biết: anh là người tham gia dịch rất nhiều tài liệu của vụ án hối lộ CPI.

Anh còn cung cấp một số thông tin về một số việc làm nhem nhuốc của một số cơ quan ngoại giao Việt Nam làm việc tại Nhật Bản. Tôi đã tham mưu cho Chủ tịch Hội Nhà văn VN chuyển các thông tin do Hà Minh Thành cung cấp cho các cơ quan chức năng (Ban phòng chống tham nhũng TƯ) của Việt Nam để giải quyết…

Công văn do Phạm Viết Đào soạn, Chủ tịch Hội nhà văn VN Hữu Thỉnh ký ngày 30/12/2008 

Từ khi tôi mở Blog riêng, Hà Minh Thành thường có nhiều comment và thư trao đổi với tôi. Tôi coi Hà Minh Thành là một trong những bạn tâm giao trên mạng, mặc dù chưa từng gặp và biết nhiều về anh.

Còn nguyên nhân Thành cung cấp thông tin trên là do: sau khi đọc bài tôi viết về em trai tôi, Ls Phạm Hữu Tạo đã hy sinh trận 12/7/1984 trong trận đánh Cao điểm 772; Thành cho biết Đạo diễn truyền hình Nhật Bản Hãng TBS là ông Bành Trung Nghĩa, người gốc Hoa muốn làm một bộ phim tài liệu về cuộc chiến tranh biên giới Việt -Trung. 

Đạo diễn Bành Trung Nghĩa cũng có một người em là lính Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến tranh này và đã tử trận. Do vậy, ông rất muốn sang Việt Nam để quay phim, lấy thêm hình ảnh, tài liệu, làm việc với các nhân chứng phía Việt Nam trong đó có tôi vì ông và tôi đều mất người thân vì cuộc chiến này. 

Tôi đã trả lời với ông Bành Trung Nghĩa qua giới thiệu của Hà Minh Thành là sẵn sàng hợp tác với Đoàn làm phim Nhật Bản để làm bộ phim này nhằm mục đích: giúp cho thế giới hiểu đúng bản chất của cuộc chiến tranh biên giới Việt Nam. Cần phải làm mọi cách để thế giới hiểu đúng đất nước và con người Việt Nam nhiều đời này luôn muốn có quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc, để được yên ổn làm ăn. Không một người dân Việt Nam yêu nước, lương thiện nào lại muốn gây sự với Trung Quốc; nhưng người Việt Nam cũng chẳng bao giờ chịu khuất phục Trung Quốc hay bất kỳ thế lực ngoại bang nào.

Hiện nay phía Việt Nam không cho phép đoàn làm phim của ông Bành Trung Nghĩa thực hiện bộ phim này, mặc dù năm 1979, một phóng viên của Nhật Bản (hình như của Hãng NHK) đã hy sinh trong khi quay phim tại chiến trường Lạng Sơn. Chi tiết này đã được Đạo diễn Đặng Nhật Minh tái hiện lại trong bộ phim truyện Thị xã trong tầm tay

Còn phía Trung Quốc  đã chấp nhận cho đoàn làm phim của ông Bành Trung Nghĩa thực hiện quay phim, lấy tài liệu trên đất Trung Quốc. Thông tin, ảnh mà Thành viết cho tôi là do khi anh tham gia đoàn làm phim này chụp được.

Sở dĩ Thành được mời theo Đoàn làm phim Nhật Bản là họ biết tại khu vực Cao điểm 1509, nay thuộc về Trung Quốc và Trung Quốc gọi là Lão Sơn-Núi Đất vẫn còn một số đồng bào người Dao sống, trước đây họ là người Việt. Hà Minh Thành đi cùng để dịch cho đoàn làm phim…

PVĐ

Một số hình ảnh do Hà Minh Thành cung cấp khi cùng Đoàn làm phim TBS bay bằng trực thăng Trung Quốc lên đỉnh Lão Sơn:

Anh Đào kính mến

Xin lỗi anh vì bận quá nên đã không chú thích các tấm hình em chụp ở Núi Đất cho anh được. Em tính chú thích trên blog của em nhưng mà không biết tại sao hình copy không vô blog được nên bây giờ em chú thích trên mail cho anh vậy. Các hình chắc anh còn và mỗi cái hình em có đánh số. Em giải thích theo số tên file của hình.

Hình số 5. jpg. Đoàn làm phim được lữ đoàn 513 biên phòng Trung Quốc không vận vào núi Lão Sơn bằng 2 máy bay trực thăng.

Hình 1.jpg, 3.jpg, 7.jpg.  Các hình ảnh Núi Đất chụp từ trực thăng, trước khi vào Núi Đất họ đã bay vòng phía trên không phận VN.

Hình  8.jpg, 9.jpg.  Người lính dẫn đường Trung Quốc giải thích trước 1984 thì lãnh thổ Trung Quốc tới chân cái bia  đá này, bây giờ họ lời được cả dãy núi.

Hình 10.jpg. Hai cha con ông Vòng A Sỉn, nghe nói trước 1984 là người VN, một trong 4 hộ dân còn sống sót ở khu vực này. Nói tiếng Việt rất giỏi. Hy vọng được trở lại làm người VN tại Núi Đất.

Hình 11.jpg.  Mẹ của ông Vòng A Sỉn, bà cụ kể cho nghe đã giấu 4 thương binh VN trốn trong hốc đá sau nhà nhưng lính Trung Quốc bắt ra bắn trước cửa nhà bà rồi khiêng xác đi.

Hình 12, 13, 18, 21.jpg.  Khu vực có mìn được phía VN gài đến nay vẫn chưa giải tỏa. Rất nguy hiểm.  Nghe ông Vòng A Sỉn kể lâu lâu cũng có vài lính biên phòng Trung Quốc chết vì mìn còn sót lại của VN.

Hình 16.jpg.  Cái bảng có đề bằng các thứ tiếng Anh – Việt – Trung:  “KHU GẦN QUÂN DỰ, CẤM TRÈO”, chắc là anh Tàu nào viết tiếng Việt sai lỗi chính tả.

Hình 19.jpg. Một bà già gốc Việt cuốc rẫy ngay khu vực nghi còn có mìn. Nghe A Sỉn kể sau khi chiếm được vùng này thì lính Trung Quốc bắt dân gốc Việt đi làm rẫy tại các khu vực nghi là còn có mìn. Nhiều người chết lắm, còn sót 4 hộ là nhờ vào trời còn thương.

Hình 20.jpg.  Bia kỷ niệm chiến trường. Từ tấm bia này chếch về bên phải 400 m là cái hố chôn tập thể các liệt sĩ VN.

Hình 17.jpg.  Người trong hình là em nhờ một người Nhật chụp bằng ống Zoom ngay trên miệng hố chôn tập tể các anh hùng liệt sĩ VN. Vương Hoàn Hải, sĩ quan Trung Quốc tại cứ điểm đó vô tình tiết lộ cái hố này chôn 3700 thi thể của Liệt sĩ VN, trong đó có cả thương binh và tù binh bị bắt và họ xử tử hết tại cái hố này. Sau đó thì công binh lên họ dùng hóa chất và xăng hỏa thiêu. Cái hố này họ cấm chụp hình nhưng mà em chạy ra nhờ tên bạn Nhật trong đoàn chụp đại, hình không rõ lắm.

Hình 25, 26.jpg. Anh trai của Vương Hoàn Hải, một người lính tham gia trận chiến Lưỡng Sơn đang kể lại cho đoàn làm phim tình hình cuộc chiến lúc đó. Trong cái bì xanh ông cầm là một cuốn sổ nhật ký của một người lính VN tên là Nguyễn Văn Nam thuộc sư đoàn 313 VN đưa cho ông trước khi bị các bạn của ông lùa vào hố để giết. Ông hy vọng có ngày sẽ tìm đến trao lại cho gia đình anh Nam đó nhưng không có cơ hội vì nghèo.

Nhân tiện xin anh vui lòng thắp giùm cho em một nén nhang trên bàn thờ anh Tạo hôm nay. Dù em là người miền Nam  và gia đình đều là người đã từng ở bên kia chiến tuyến với các anh, nhưng là một người VN em xin kính cẩn tri ân gia đình anh Đào, tri ân anh Tạo đã ngã xuống hy sinh vì Tổ quốc. Em hy vọng rằng tất cả hài cốt các anh em trong ngôi mộ khổng lồ hoang vu trên đỉnh Lão Sơn (có thể trong đó có anh Tạo) sẽ sớm được quy tập trở về với gia đình không phải bơ vơ lạnh lẽo, bị bỏ mặc bởi Chính phủ cũng như bị lịch sử cố ý lãng quên. Hy vọng có một ngày có những nhà viết sử can đảm sẽ tìm đến bên cột mốc chủ quyền xây bằng 3700 anh linh tại Núi Đất ghi lại những giờ phút oanh liệt và hào hùng của họ.

Chúc anh Đào và gia quyến vạn sự như ý.                                                                  

Hà Minh Thành

Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv

10 sự kiện quốc tế nổi bật năm 2016 – VHNA

21 Th12

.

(Baonghean.vn) – Hàng loạt sự kiện chính trị, kinh tế, an ninh quan trọng trên thế giới đã diễn ra khắp các châu lục, đánh dấu một năm 2016 đáng nhớ để thế giới bước vào năm mới 2017 với niềm hy vọng mới, xen lẫn cả sự lo âu.

Cùng Báo Nghệ An điểm lại những sự kiện nổi bật trong năm qua.

 1. Bầu cử Tổng thống Mỹ

Ngày 8/11, cả thế giới vô cùng bất ngờ khi ông Donald Trump giành được 306 phiếu đại cử tri trong khi bà Hillary Clinton chỉ có 232 phiếu để đắc cử Tổng thống thứ 45 của Mỹ.  Đây là lần đầu tiên nước Mỹ có tổng thống là một tỷ phú và chưa hề có kinh nghiệm chính trị. Mặc dù sau cuộc bầu cử đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối oong Trump sau, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng ông sẽ đem lại sự thay đổi cần thiết cho nước Mỹ. Sự kiện này cũng có tác động lớn đến bàn cờ chính trị thế giới.
Ngày 8/11, cả thế giới vô cùng bất ngờ khi ông Donald Trump giành được 306 phiếu đại cử tri trong khi bà Hillary Clinton chỉ có 232 phiếu để đắc cử Tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đây là lần đầu tiên nước Mỹ có tổng thống là một tỷ phú và chưa hề có kinh nghiệm chính trị. Mặc dù sau cuộc bầu cử đã có nhiều cuộc biểu tình phản đối oong Trump sau, nhưng cũng có những ý kiến cho rằng ông sẽ đem lại sự thay đổi cần thiết cho nước Mỹ. Sự kiện này cũng có tác động lớn đến bàn cờ chính trị thế giới.

2. Nước Anh rời EU (Brexit)

Ngày 23/6, cử tri Anh đã bỏ phiếu rút khỏi Liên minh châu Âu (EU) trong sự kiện thường được gọi là ‘Brexit’ với số phiếu 52% muốn rời đi và 48% ở lại. Sau khi kết quả được công bố, Thủ tướng Anh lúc đó, David Cameron tuyên bố từ chức. Thủ tướng mới, bà Theresa May, lên cầm quyền. Sau vụ bỏ phiếu, thị trường tài chính quốc tế lao dốc, đồng Bảng Anh giảm giá mạnh.
Ngày 23/6, cử tri Anh đã bỏ phiếu rút khỏi Liên minh châu Âu (EU) trong sự kiện thường được gọi là ‘Brexit’ với số phiếu 52% muốn rời đi và 48% ở lại. Sau khi kết quả được công bố, Thủ tướng Anh lúc đó, David Cameron tuyên bố từ chức. Thủ tướng mới, bà Theresa May, lên cầm quyền. Sau vụ bỏ phiếu, thị trường tài chính quốc tế lao dốc, đồng Bảng Anh giảm giá mạnh.

3. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro qua đời

Đêm 25/11 giờ địa phương tức trưa 26/11 (giờ HN), Chủ tịch Cuba Raul Castro tuyên bố trên truyền hình, lãnh tụ Fidel Castro đã qua đời ở tuổi 90. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro sinh ngày 13/8/1926. Ông là một nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người kiệt xuất nhất của thế kỷ XX. Ông là người đã ghi danh Cuba vào lịch sử nhân loại với cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài, dẫn dắt quốc gia Caribe này đến con đường độc lập ngày hôm nay.
Đêm 25/11 giờ địa phương tức trưa 26/11 (giờ HN), Chủ tịch Cuba Raul Castro tuyên bố trên truyền hình, lãnh tụ Fidel Castro đã qua đời ở tuổi 90. Lãnh tụ Cuba Fidel Castro sinh ngày 13/8/1926. Ông là một nhà cách mạng vĩ đại, một trong những người kiệt xuất nhất của thế kỷ XX. Ông là người đã ghi danh Cuba vào lịch sử nhân loại với cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài, dẫn dắt quốc gia Caribe này đến con đường độc lập ngày hôm nay.

4. Khủng bố ngày Quốc khánh Pháp

Tối 14/7, một kẻ khủng bố đã lái xe tải với tốc độ hơn 60km/giờ lao vào đám đông vừa xem xong màn trình diễn pháo hoa đúng ngày quốc khánh ở Pháp, khiến 84 người chết và hơn 150 người bị thương, trong đó có nhiều trẻ em. Kẻ khủng bố dường như cố tình lái chiếc xe theo hình zích zắc để cán nhiều người nhất có thể. Lái xe được xác định là người Pháp gốc Tunisia, 31 tuổi, đã bị bắn chết.
Tối 14/7, một kẻ khủng bố đã lái xe tải với tốc độ hơn 60km/giờ lao vào đám đông vừa xem xong màn trình diễn pháo hoa đúng ngày quốc khánh ở Pháp, khiến 84 người chết và hơn 150 người bị thương, trong đó có nhiều trẻ em. Kẻ khủng bố dường như cố tình lái chiếc xe theo hình zích zắc để cán nhiều người nhất có thể. Lái xe được xác định là người Pháp gốc Tunisia, 31 tuổi, đã bị bắn chết.

5. Đảo chính ở Thổ Nhĩ Kỳ

Vào ngày 15 và 16/7/2016, một nhóm trong Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành đảo chính nhằm lật đổ chính phủ đương nhiệm của Tổng thống Erdogan đã không thành công. Ít nhất 264 người đã bị giết chết trong số đó 173 thường dân, 67 nhân viên an ninh chính phủ, 24 người đảo chính và hơn 1.390 người bị thương.  Theo bộ trưởng bộ Tư pháp Bekir Bozdag cho đến nay khoảng 6.000 người đã bị bắt giữ và 2.745 thẩm phán đã bị sa thải.
Vào ngày 15 và 16/7/2016, một nhóm trong Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tiến hành đảo chính nhằm lật đổ chính phủ đương nhiệm của Tổng thống Erdogan đã không thành công. Ít nhất 264 người đã bị giết chết trong số đó 173 thường dân, 67 nhân viên an ninh chính phủ, 24 người đảo chính và hơn 1.390 người bị thương. Theo bộ trưởng bộ Tư pháp Bekir Bozdag cho đến nay khoảng 6.000 người đã bị bắt giữ và 2.745 thẩm phán đã bị sa thải.

6. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej băng hà

Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej trút hơi thở cuối cùng chiều 13/10, ở tuổi 88. Sau gần 7 thập kỷ cầm quyền, ông là người trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej là vị vua hiếm hoi trên thế giới hiện đại cùng lúc có được khối tài sản khổng lồ, quyền lực trên chính trường, sự sùng kính của người dân trong nước và trọng thị của nước ngoài. Con trai đồng thời là người thừa kế của ông, Thái tử Maha Vajiralongkorn, 63 tuổi, trở thành quốc vương mới của Thái Lan.
Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej trút hơi thở cuối cùng chiều 13/10, ở tuổi 88. Sau gần 7 thập kỷ cầm quyền, ông là người trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan. Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulyadej là vị vua hiếm hoi trên thế giới hiện đại cùng lúc có được khối tài sản khổng lồ, quyền lực trên chính trường, sự sùng kính của người dân trong nước và trọng thị của nước ngoài. Con trai đồng thời là người thừa kế của ông, Thái tử Maha Vajiralongkorn, 63 tuổi, trở thành quốc vương mới của Thái Lan.

7. Vụ bê bối của Tổng thống Hàn Quốc

Tổng thống Hàn Quốc Park Gyun Hye ngày 25/10 đã xin lỗi và thừa nhận từng “hỏi ý kiến” của bạn thân là bà Choi Soon-sil khi soạn thảo các bài diễn văn trong chiến dịch tranh cử năm 2012 lẫn giai đoạn đầu nhậm chức. Bà Park còn bị nghi ngờ có vai trò trong việc ép các tập đoàn lớn đóng góp để thành lập 2 tổ chức phi lợi nhuận được cho là của bà Choi.
Tổng thống Hàn Quốc Park Gyun Hye ngày 25/10 đã xin lỗi và thừa nhận từng “hỏi ý kiến” của bạn thân là bà Choi Soon-sil khi soạn thảo các bài diễn văn trong chiến dịch tranh cử năm 2012 lẫn giai đoạn đầu nhậm chức. Bà Park còn bị nghi ngờ có vai trò trong việc ép các tập đoàn lớn đóng góp để thành lập 2 tổ chức phi lợi nhuận được cho là của bà Choi.

8. Vụ tiết lộ tài liệu mật lớn nhất trong lịch sử

Ngày 10/5, Hiệp hội Các nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) công khai “Hồ sơ Panama”, liên quan tới việc trốn thuế của giới nhà giàu. Dữ liệu, thuộc về hãng luật Mossack Fonseca có trụ sở ở Panama, tiết lộ việc rửa tiền và trốn thuế liên quan tới 140 chính trị gia, hàng chục tỷ phú và cá nhân nổi tiếng thế giới. Tài liệu cũng đã phơi bày một hệ thống công ty “ma”, lên tới 214.000 tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài dính líu.
Ngày 10/5, Hiệp hội Các nhà báo điều tra quốc tế (ICIJ) công khai “Hồ sơ Panama”, liên quan tới việc trốn thuế của giới nhà giàu. Dữ liệu, thuộc về hãng luật Mossack Fonseca có trụ sở ở Panama, tiết lộ việc rửa tiền và trốn thuế liên quan tới 140 chính trị gia, hàng chục tỷ phú và cá nhân nổi tiếng thế giới. Tài liệu cũng đã phơi bày một hệ thống công ty “ma”, lên tới 214.000 tổ chức, doanh nghiệp tại nước ngoài dính líu.

9. Châu Âu “nghẹt thở” vì khủng hoảng nhập cư

Năm 2016, làn sóng người di cư tiếp tục tràn vào châu Âu. Câu chuyện những con tàu chở đầy người tị nạn bị đắm ở Địa Trung Hải đã trở thành nỗi ám ảnh với nhân loại. Nhiều chính sách được đưa ra, nhưng chưa hiệu quả. Việc phân bổ hạn ngạch nhập cư khiến EU chia rẽ, trong khi tư tưởng bài ngoại xuất hiện ở nhiều nơi. Châu Âu cũng rơi vào thế nguy hiểm khi khủng bố cài cắm lực lượng vào dòng người tỵ nạn.
Năm 2016, làn sóng người di cư tiếp tục tràn vào châu Âu. Câu chuyện những con tàu chở đầy người tị nạn bị đắm ở Địa Trung Hải đã trở thành nỗi ám ảnh với nhân loại. Nhiều chính sách được đưa ra, nhưng chưa hiệu quả. Việc phân bổ hạn ngạch nhập cư khiến EU chia rẽ, trong khi tư tưởng bài ngoại xuất hiện ở nhiều nơi. Châu Âu cũng rơi vào thế nguy hiểm khi khủng bố cài cắm lực lượng vào dòng người tỵ nạn.

10. Tòa trọng tài bác đường lưỡi bò

Hôm 12/7, Tòa Trọng tài thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) đã ra phán quyết về vụ kiện của Philippines, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, kết luận không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên trong đường chín đoạn. Trong phán quyết, PCA cũng kết luận không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế cho Trung Quốc.
Hôm 12/7, Tòa Trọng tài thường trực Liên Hợp Quốc (PCA) đã ra phán quyết về vụ kiện của Philippines, bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, kết luận không có căn cứ pháp lý cho việc Trung Quốc nêu quyền lịch sử với các tài nguyên trong đường chín đoạn. Trong phán quyết, PCA cũng kết luận không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế cho Trung Quốc.

Thái Bình

(Tổng hợp)

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

15 Th12

 

– Ngày 14/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump.

Thủ tướng đã chúc mừng ông Donald Trump được bầu là Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump. Ảnh: TTXVN

Tổng thống đắc cử Donald Trump đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, những tiến triển tích cực trong quan hệ hai nước và khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian tới.

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt – nghiencuulichsu.com

14 Th12

1

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Trần Gia Ninh

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

bachviet_030916_2.jpg

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1
CHÚ DẪN

1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml

越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html

 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).

13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

16 叶榆水

17岱依人

18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.

28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

Nguồn bài đăng

 

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump “manh động” với Đài Loan – Soha

14 Th12

Ngọc Anh | 12/12/2016 19:37

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump "manh động" với Đài Loan

Báo chí chính thống của Trung Quốc phát đi thông điệp rằng nước này có thể dùng biện pháp quân sự để tiếp quản Đài Loan, thay vì “thống nhất hòa bình”.

Tiếp tục lên tiếng sau cuộc điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hôm 2/12, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump nói với Fox News rằng “không có ràng buộc” nào để phải thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, và ông “không muốn bị Trung Quốc chỉ huy”.

Phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối các phát ngôn của Trump. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói “hết sức quan ngại” và chỉ ra vấn đề Đài Loan là nền tảng chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời cảnh báo quan hệ song phương “không còn gì để nói” nếu chính sách “Một Trung Quốc” bị Mỹ làm tổn hại.

Trong khi đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã phát đi lời đe dọa vũ trang cho các lực lượng chống Mỹ và thậm chí tấn công quân sự Đài Loan.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu, thuộc chủ quản của báo đảng Trung Quốc Nhân dân Nhật báo, ngày 12/12 cảnh báo:

“Trung Quốc sẽ tiếp quản Đài Loan bằng vũ lực, thay vì ‘thống nhất hòa bình’, nếu Trump từ bỏ chính sách ‘Một Trung Quốc’. Các lãnh đạo Đài Loan sau đó sẽ phải hối tiếc khi trở thành một món đồ mặc cả của Trump, một viên gạch đệm để Mỹ tiến tới thay đổi chính sách. Một ngày nào đó, có lẽ chính bà Thái Anh Văn sẽ từ chối nghe điện đàm của Trump”.

Tờ báo “diều hâu” của Trung Quốc cũng dẫn lời một học giả uy tín trong nước có những lời lẽ gay gắt về cá nhân ông Trump.

“Ông ta là một doanh nhân thông minh nhưng lại mù mờ như một đứa trẻ và thiếu nhạy cảm trong vấn đề chính trị, đặc biệt rất ‘nông cạn’ trong vấn đề Đài Loan.

Ông ta không hiểu rằng ‘Một Trung Quốc’ không phải là một chính sách có thể đem ra thương lượng và mặc cả” – Giáo sư Học viện ngoại giao Trung Quốc, ông Lý Hải Đông nói.

 

theo Trí Thức Trẻ

 

%d bloggers like this: