VIẾNG MỘ CHA – NH

19 Th12

VIẾNG MỘ CHA

Dâng hương con viếng mộ Cha
Ngậm ngùi sợi khói nhạt nhòa mi cay
Thắm dòng huyết nhục xưa nay
Chữ tâm chữ hiếu tháng ngày rong rêu

Chạnh lòng se lạnh mây chiều
Âm-dương lặng ngắt quạnh hiu nhà mồ
Thành tâm niệm giữa hư vô
Thái Sơn dưởng dục con nào vong ân

Sinh thời phụ – tử cách ngăn
Nay Cha về cõi vĩnh hằng Tổ Tông
Đời con trèo núi băng sông
Tha phương mỗi bước tím lòng hiếu trung

Con về viếng mộ Lễ không
Chỉ nhành hoa với nỗi lòng nhớ thương !
Lạy cha, khấn nguyện Tổ Đường
Mong người yên nghĩ miên trường thần tiên.

NH

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang đứng

Advertisements

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 12/12-18/12 – NCBĐ

19 Th12

Thứ ba, 13 Tháng 12 2016 02:00 dinh tuan anh

Share:

-(Laodong 13/12) Ấn Độ, Indonesia yêu cầu Trung Quốc tuân thủ UNCLOS về Biển Đông sau cuộc họp giữa Thủ tướng Ấn Độ, Narendra Modi, và Tổng thống Indonesia, Joko Widodo; (Giaoduc 13/12) Ông Duterte thăm Campuchia, sẽ bàn chuyện Biển Đông với Thủ tướng Hun Sen

-(RFI 12/12) Chuyên gia Pháp: Mỹ sắp mất quyền kiểm soát Thái Bình Dương trong khi Nga đang thể hiện ý chí lấy lại vị trí cường quốc thế giới mà Liên Xô từng có trước đây; (Nhandan 12/12) Tiếp tục khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

 

-(Laodong 12/12) Máy bay ném bom Trung Quốc lượn trên biển Đông để gửi thông điệp cho Trump? Hành động này diễn ra sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump điện đàm với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn; (Giaoduc 12/12) Trung – Mỹ đang tìm cách thỏa hiệp sau hậu trường về Biển Đông?

-(Nguoilaodong 12/12) Việt Nam phản đối Trung Quốc gây phức tạp tình hình sau khi Hải quân Trung Quốc kỉ niệm cái gọi là “70 năm thu hồi Hoàng Sa, Trường Sa”; (Laodong 11/12) Trung Quốc lại ngang nhiên đưa du thuyền đến Biển Đông

 

 

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

15 Th12

 

– Ngày 14/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump.

Thủ tướng đã chúc mừng ông Donald Trump được bầu là Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và khẳng định Việt Nam coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Hoa Kỳ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump. Ảnh: TTXVN

Tổng thống đắc cử Donald Trump đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đạt được trong thời gian qua, những tiến triển tích cực trong quan hệ hai nước và khẳng định mong muốn hợp tác với Việt Nam để cùng thúc đẩy quan hệ.

Thủ tướng điện đàm với Tổng thống đắc cử Donald Trump

Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi phương hướng và biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư Việt Nam-Hoa Kỳ thời gian tới.

Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt – nghiencuulichsu.com

14 Th12

1

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

Trần Gia Ninh

Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?(1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.

Bách Việt là ai và ở đâu?

Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa)2.

Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.

Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết3: Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú,  Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt.

Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp  Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry4.

Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên5 thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết6: Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di7. Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất.

bachviet_030916_2.jpg

Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa. (Xem bản đồ).

Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc10 là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu11 không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau12. Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆”13. Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí”14: “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt15, hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng)16, xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y17.

Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

Theo quyển “Việt sử lược”18, của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng19 “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép20 “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành21. Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam22.

Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”23. Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại24. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt25. Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia26 thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.

Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác.27 Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:

* Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.

* Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.

* Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:

* Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.

* Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:

* Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.

* Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.

* Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.

(Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.

1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.

2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.

3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng”28.

Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1
CHÚ DẪN

1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml

越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?”  http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc  người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵  âm đọc  giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.

3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑,  且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。

#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html

 The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)

6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Ðế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.

7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.

8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.

9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ  雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.

11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.

12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói  đóng khố cởi trần).

13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。”  Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ  là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.

14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).

#15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.

16 叶榆水

17岱依人

18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi,  thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.

19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.

20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.

21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo  sách cổ  nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!

22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書  thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.

23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.

24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).

25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.

#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán,  thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên

27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.

28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.

Nguồn bài đăng

 

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump “manh động” với Đài Loan – Soha

14 Th12

Ngọc Anh | 12/12/2016 19:37

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump "manh động" với Đài Loan

Báo chí chính thống của Trung Quốc phát đi thông điệp rằng nước này có thể dùng biện pháp quân sự để tiếp quản Đài Loan, thay vì “thống nhất hòa bình”.

Tiếp tục lên tiếng sau cuộc điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hôm 2/12, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump nói với Fox News rằng “không có ràng buộc” nào để phải thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, và ông “không muốn bị Trung Quốc chỉ huy”.

Phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối các phát ngôn của Trump. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói “hết sức quan ngại” và chỉ ra vấn đề Đài Loan là nền tảng chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời cảnh báo quan hệ song phương “không còn gì để nói” nếu chính sách “Một Trung Quốc” bị Mỹ làm tổn hại.

Trong khi đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã phát đi lời đe dọa vũ trang cho các lực lượng chống Mỹ và thậm chí tấn công quân sự Đài Loan.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu, thuộc chủ quản của báo đảng Trung Quốc Nhân dân Nhật báo, ngày 12/12 cảnh báo:

“Trung Quốc sẽ tiếp quản Đài Loan bằng vũ lực, thay vì ‘thống nhất hòa bình’, nếu Trump từ bỏ chính sách ‘Một Trung Quốc’. Các lãnh đạo Đài Loan sau đó sẽ phải hối tiếc khi trở thành một món đồ mặc cả của Trump, một viên gạch đệm để Mỹ tiến tới thay đổi chính sách. Một ngày nào đó, có lẽ chính bà Thái Anh Văn sẽ từ chối nghe điện đàm của Trump”.

Tờ báo “diều hâu” của Trung Quốc cũng dẫn lời một học giả uy tín trong nước có những lời lẽ gay gắt về cá nhân ông Trump.

“Ông ta là một doanh nhân thông minh nhưng lại mù mờ như một đứa trẻ và thiếu nhạy cảm trong vấn đề chính trị, đặc biệt rất ‘nông cạn’ trong vấn đề Đài Loan.

Ông ta không hiểu rằng ‘Một Trung Quốc’ không phải là một chính sách có thể đem ra thương lượng và mặc cả” – Giáo sư Học viện ngoại giao Trung Quốc, ông Lý Hải Đông nói.

 

theo Trí Thức Trẻ

 

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

13 Th12
Dân Làm Báo VNThích Trang

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng (#Danlambao) – Trong cuộc du hành để cám ơn một số tiểu bang Mỹ, hôm 9 tháng 12 năm 2016, Tổng Thống tân cử Donald Trump tuyên bố tại Michigan rằng “Mỹ không nhất thiết phải đi theo chính sách Một nước Trung Hoa”. Ông thắc mắc rằng Mỹ có nhất thiết phải đi theo lập trường từ trước là Đài Loan chỉ là một bộ phận của Trung Quốc.

Trong cuộc phỏng vấn ngày Chủ Nhật 11 tháng 12 dành cho đài truyền hình Fox, Ông Trump tuyên bố rằng “ông hiểu chính sách Một nước Trung Hoa, nhưng ông không hiểu tại sao Mỹ phải theo chính sách đó, trừ khi Mỹ có cuộc thương lượng với Trung cộng về nhiều việc khác, trong đó có vấn đề mậu dịch.”

Ông Trump cũng đã lên án nhiều chính sách của Tàu cộng, trong đó có chính sách tiền tệ, vấn đề biển Đông, Bắc Triều Tiên. Ông nói Bắc Kinh không can dự gì vào việc ông điện đàm với Tổng Thống Đài Loan cả.

Ông tiếp “tôi không muốn Trung cộng ra lệnh tôi và đây là cuộc điện đàm của tôi. Đó là cuộc nói chuyện rất lịch sự, ngắn ngủi. Tại sao nước khác lại có thể nói tôi không thể làm việc nầy? Tôi nghĩ rằng việc nầy thực sự không tôn trọng (người khác), và đừng nên làm thế.” Nhà báo Caren Bohan tường thuật.

Ông nhận cuộc điện đàm chúc mừng từ bà Tổng Thống Đài Loan, Thái Anh Văn, đó là cuộc điện đàm đầu tiên trong cương vị Tổng Thống tân cử, kể từ sau việc Tổng Thống Carter thừa nhận Đài Loan là bộ phận của một Trung Quốc từ 1979.

Ban đầu chính Ngoại trưởng Trung cộng Vương Nghị không thấy cuộc điện đàm này là một xúc phạm và coi đó là sự xã giao, không ảnh hưởng đến sự bang giao bấy lâu nay dựa trên chính sách Một nước Trung Hoa. Nhưng theo tiết lộ mới nhất từ những nhân vật thân cận với Trump thì đây là sự sắp xếp của những người vận động hành lang của Đài Loan, thông qua tổ hợp luật sư của cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Dole có văn phòng ở Đài Loan sắp đặt nhiều tháng nay. Như vậy, cuộc điện đàm được sắp xếp, cân nhắc kỹ lưỡng, cả người gọi và người nhận đều theo thuyết âm mưu riêng của họ.

Trong tuần qua tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trung cộng trên trang đầu có bài bình luận gay gắt rằng “gây khó khăn cho mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ tự tạo sự khó khăn cho chính chính phủ Trump”, đồng thời cũng “làm giảm thiểu cơ hội để Mỹ đạt mục tiêu trở thành vĩ đại” như Trump tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử.

Nhà báo Trọng Nghĩa viết: “Bài báo của thông tín viên Le Monde tại Bắc Kinh, Brice Pedroletti, trước hết ghi nhận “gáo nước lạnh” mà ông Donald Trump vừa đổ lên đầu Trung Quốc với hai hành động: Cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan ngày 02/12/2016, và sau đó là tin nhắn trên mạng Twitter cực lực đả kích Trung Quốc và nhất là đã nhắc đến việc Trung Quốc hoành hành tại Biển Đông.”

“Theo Le Monde, Bắc Kinh bắt đầu nhận ra rằng quả thực ông Trump rất bị ảnh hưởng của các học giả hay chính khách trong đảng Cộng Hòa rất có ác cảm với sự vươn lên của Trung Quốc. Một ví dụ được tờ báo Pháp nêu bật là ông Peter Navarro, cố vấn cho ông Trump về các vấn đề thương mại trong chiến dịch vận động tranh cử.

Nhân vật này là tác giả một quyển sách đả kích gay gắt chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc, xuất bản năm 2015 dưới tựa đề “Ngọa hổ: Chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc có ý nghĩa ra sao đối với thế giới – Crouching Tiger: What China’s Militarism Means for the World)”. Trong một bài biên khảo trên chuyên san The National Interest tháng Bảy vừa qua với tựa đề “Hoa Kỳ không thể bỏ rơi Đài Loan”, ông Navarro viết: “Trước các hành vi xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, đã đến lúc Hoa Kỳ phải dấn thân mạnh hơn nữa vào việc hiện đại hóa khả năng phòng thủ của Đài Loan”. (Trọng Nghĩa).

Ông Trump chú ý đến mối bang giao với cường quốc thứ 2 của thế giới, Trung cộng. Trong một tuyên bố ngày 8 tháng 12 tại Des Moines, Iowa rằng “Hoa Kỳ cần và phải cải thiện mối bang giao với Trung cộng” nhất là chính sách kinh tế mà ông cho rằng Trung cộng chưa có một nền kinh tế thị trường tự do đích thực và không kiềm chế được Bắc Hàn.

Trong chuyến đi để cám ơn những tiểu bang quan trọng, nhưng không thuộc bên nào, giúp ông thắng cử, ông Trump liên tục kết án Trung cộng về việc ăn cắp tài sản trí tuệ (intellectual property theft), đánh thuế không công bằng với những công ty Mỹ ở Tàu, làm ngơ trước mối đe dọa từ Bắc Hàn, cố ý làm giảm giá trị đồng Quan, tung hàng thừa mứa giá rẻ mạt ra nước ngoài.

Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới kết án Trung cộng lạm dụng trong việc điều hành tiền tệ. Tổ chức Thương Mại Quốc Tế cho biết Trung cộng áp đặt thuế xuất cao với những món hàng nhập khẩu từ Mỹ để chận bớt hàng Mỹ và để tiêu thụ hàng nội địa, trong khi đó Mỹ không đánh thuế hàng Trung cộng.

Trong khi vận động tranh cử, ông Trump nhiều lần lập đi, lập lại là “tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thuê mướn nhân công Mỹ, áp lực công ty Mỹ không chuyển công việc ra nước ngoài, ưu tiên cho quyền lợi nước Mỹ” và sẽ đánh thuế 35 phần trăm cho những hàng hóa do công ty Mỹ sản xuất ở nước ngoài và mang ngược trở về Mỹ bán. Nếu thực hiện những lời hứa nầy, thì hàng hóa sản xuất từ Tàu, công nhân Tàu trong những xí nghiệp của Mỹ chắc chắn bị ảnh hưởng không nhỏ. Tập “bức xúc” việc này không ít.

Tờ Le Monde ngày 8 tháng 12 có bài “Trung Quốc báo động trước ý định của Donald Trump”, bài báo nêu bật sự kiện tổng thống Mỹ vừa đắc cử đã khiến Bắc Kinh hết sức bực bội khi chỉ trích việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông.(Trọng Nghĩa).

Từ một số tín hiệu đáng ngại trên, tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 06/12, ông Thời Ân Hoằng (Shi Yin Hong) giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Mỹ tại Đại Học Nhân Dân Bắc Kinh đã kêu gọi: “Hành động của ông Trump đã nhắc nhở giới truyền thông, giới nghiên cứu và người dân chúng ta là có lẽ chúng ta đã có cái nhìn quá tích cực về chính sách Trung Quốc trong tương lai của ông Trump”.(Trọng Nghĩa).

Với những tuyên bố về chính sách Hoa Kỳ trong lúc vận động tranh cử làm cho nhiều người không biết ông Trump sẽ làm gì sau khi chính thức nhận quyền lực Tổng Thống, họ biết rằng đó không phải là những tuyên bố ngẫu hứng, bốc đồng mà là chính sách tương lai của Tổng Thống Trump. Vì vậy tháng rồi Tập Cận Bình mướn một nhà ngoại giao 94 tuổi của Mỹ, Henry Kissinger, sang để giải thích về chính sách bang giao tương lai của Hoa Kỳ mà Tập Cận Bình và cả Bộ Chính trị của Trung cộng không thể giải mã nổi.

Làm được những gì? Làm như thế nào? Chúng ta có bốn năm nữa để có câu trả lời chính xác.

Để kết thúc, tôi xin mượn lời của vị Tổng Thống thứ 40 của Hoa Kỳ, Ronald Regan tuyên bố, trong bang giao quốc tế “phải có sức mạnh mới có người bạn trung thành”. Phải chăng ông Trump đang áp dụng quan niệm nầy trong khi lãnh đạo nước Mỹ?

13.12.2016

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng
danlambaovn.blogspot.com
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/…/tap-can-binh-phat-ien-vi-…

 

Một góc nhìn khác.Trăn trở hay phẫn uất?

13 Th12
Congtrung Nguyen

22 phút ·

WordPress

·

Một góc nhìn khác.Trăn trở hay phẫn uất?

Nhớ lại lời bình của anh Đỗ Minh Tuấn trước đây : “CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU TRẤN YỂM CÁC HUYỆT ĐẠO VÀ BẮT CÓC TỔ TIÊN!

Cứ ở đâu có đền thiêng, mang hồn thiêng sông núi là Trung Quốc thò mũi vào sâu. Khu Ba la Bông đỏ là khu Kinh đô Việt cổ nhất với Ngọc phả lưu giữ bao nhiêu thông tin mới về người Việt cổ khác với sử Tầu thì sắp bị đào bới, chôn sắt và trấn yểm công khai nhân danh xây bến tàu cho 13 đoàn tàu cao tốc mua từ Trung Quốc. Ai tư vấn chọn xây tuyến đường này từ Ba la Bông đỏ? Vĩnh Phú là Kinh đô của nước Văn Lang, nơi có đền Hùng hàng năm hàng triệu người Việt khắp bốn phương trời kéo về thắp hương Quốc Tổ thì bây giờ có Đền Khổng tử 300 tỷ. Tiền ngân sách hay tiền TQ tài trợ theo các kênh nào đó? Các ông bà thằng con nào làm những dự án này có biết ngày xưa, bộ đội Trung Quốc sang Việt Nam giúp làm đường sắt thực ra là để tìm lấy các kho vàng tổ tiên chúng chôn ở Việt Nam, theo dặn dò trong Gia phả hay không? Và cái Dự án làm đường xuyên qua đáy Hồ Tây bị dừng mấy năm gần đây cũng chỉ vì Tổ tiên Việt còn chút linh thiêng nhắc nhở lũ cháu con tham lam ngu dốt rằng những cái cọc đóng xuống lòng hồ là những đạo bùa khổng lồ trấn yểm huyệt đạo của Thăng Long ngàn tuổi đấy!

Bán dân, bán đất, bán biển đảo, bán tài nguyên… dân vẫn đang chịu đựng được. Nhưng nếu tham lam ngu dại bán Tổ tiên, bán bàn thờ, bán bát hương, bán hồn dân tộc…thì dân chẳng để yên đâu! Ngay cả khi lũ bạn vàng trấn yểm linh địa Việt, đầu độc thân thể Việt, nhào nặn nhân cách Việt, xỏ mũi quyền lực Việt…làm đủ các kiểu cho dân Việt tiêu biến dần đi cả hồn và xác, mà người Việt đất Việt vẫn không tiêu vong, chỉ sống dặt dẹo như xác sống, thì việc một bầy quỷ dữ nhân danh các ông Tây râu xồm đầu hói để rước voi Tàu về dày mả tổ sẽ gây khó cho thế giới tiến bộ nhiều lắm đấy! Vì sẽ có lúc tên lửa chống khủng bố quốc tế của Mỹ và LHQ phải đắn đo không dám bắn vào nơi thờ cúng của dân tộc ta để diệt bọn khủng bố quốc tế núp trong đó, như cảnh sát không dám bắn vào kẻ bắt cóc các con tin vậy. Còn bọn cướp biển, cướp nước thì vẫn có thể từ nơi đó bắn ra.

Trời đất ơi! Sao dân tộc tôi lại khốn khổ đến mức này, ngu dại tham lam đến mức này, mong manh trôi dạt đến mức này!”

Đất nước tan hoang, văn hoá chạm đáy và nợ công ngập đầu để đổi lấy với quá nhiều đầy khắp những Vinashin, bauxit Tây Nguyên, nhà máy lọc dầu Dung quất,Formosa ..Chưa kể sông Cửu Long từng cuồn cuộn những mùa nước nổi phải trơ đáy, ngập mặn đe dọa cuộc sống gần hai mươi triệu con người, ngân khố quốc gia cạn kiệt,sự bết bát, suy sụp nền kinh tế.. Sự lưu manh hoá trỗi dậy kệch cỡm mang cờ nhảy nhót quấy rối nhân dân tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ bảo vệ Tổ quốc chống quân Trung Quốc xâm lược biến liệt sĩ thành những người ngu ngốc chết để làm gì, chết cho ai ? Sách giáo khoa không nói về chủ quyền biển đảo Hoàng sa, Gạc ma và các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân năm 1979,1988 mà lại in sách ca ngợi kẻ đứng đầu quân xâm lược Việt Nam .. Một bộ máy nhà nước hưởng thụ hàng chục năm hoà bình mà biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống,thương bệnh binh còn thiệt thòi nhan nhản, cả dân tộc phải thắt lưng buộc bụng.. Vậy mà với mấy thế hệ kế tục hàng chục năm đáng ra phải là tinh hoa của xã hội, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì sa đọa tận cùng với tham nhũng phát triển tràn lan như “ghẻ ngứa ” mà phó chủ tịch nước phải thốt lên ” Người ta ăn của dân không từ một thứ gì “,chủ tịch quốc hội còn chịu không nổi :” Thủ tục hành chính của mình cay độc lắm, độc ác lắm “,bỏ mặc cho phong trào nhân dân tha hồ tẩm ướp hoá chất giết hại lẫn nhau để kiếm một chút chênh lệch mà tồn tại .. Cuối cùng không ai chịu trách nhiệm, ai cũng hạ cánh an toàn vì họ cơ cấu người sau, người sau bảo vệ người trước theo kiểu cha truyền con nối, con ông cháu cha như thời phong kiến thối nát.
Đáng ra làm cán bộ lãnh đạo ngoài tài năng còn là đạo đức cần, kiệm, liêm chính, dám chịu hy sinh để gương mẫu dẫn dắt dân tộc chứ không phải làm quan phát tài,ích kỷ riêng mình để ăn trên ngồi trốc, vinh thân phì gia làm méo mó nhân cách giới trẻ, biến dạng nhân cách dân tộc rồi đổ thừa, đổ trút mọi tệ nạn lên đầu nhân dân. Nhiều kẻ không có liêm sĩ khi đến tuổi phải về hưu còn ngoan cố vơ vét cú chót bòn rút ngân khố quốc gia mà họ đã tham gia phá tan nát, èo ọp bằng những chuyến du hí dưới cái mác là đi học xổ số, chống ngập, có người du hí tận châu Phi xa xôi hẻo lánh không biết để làm gì? Có ai còn nhớ nổi cái tên Hiển cựu Bộ trưởng bộ giáo dục xưa kia đã về hưu còn vơ tiếp ít ngàn USD để đi nước ngoài học ngoại ngữ. Tệ vậy mà sao ngồi được ghế bộ trưởng? Sao trẻ không học, già rồi học ngoại ngữ để làm gì nữa ? Sao không bỏ tiền túi ra học mà lấy ngân sách nhà nước, tiêu chuẩn gì? Ông Nghiên cựu chủ tịch Hà Nội vi vu chiếc xe hơi đáng giá bằng 4.000 con trâu cày mà nông dân còn thiếu, đã vậy về hưu còn không chịu trả lại nhà công vụ v.v.. Bẩn tính vậy thì đạo đức cách mạng gì ? Sao ổng không nhìn hàng chục ngàn gia đình liệt sĩ , cả trăm ngàn thương,bệnh binh có mấy người được nhà nước cấp nhà, chỉ là “nhà tình thương” vài chục triệu tiền đồng Việt Nam thôi chứ không mơ căn nhà công vụ có giá vài trăm ngàn đến cả triệu USD..

Nguyễn Tiến Dân 13-12-2016 Thưa các ông/bà Đại biểu Quốc hội Khóa XIV nước CHXHCN Việt nam…
ANHBASAM.WORDPRESS.COM
%d bloggers like this: