Tag Archives: Châu Á

Trung Quốc “lạnh sống lưng” vì tín hiệu khác thường khi BTQP Mỹ công du châu Á – Soha

9 Th12

Hải Võ | 08/12/2016 07:06

Trung Quốc "lạnh sống lưng" vì tín hiệu khác thường khi BTQP Mỹ công du châu Á

(Ảnh: CNN)

Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter hôm 5/12 đã bắt đầu chuyến công du châu Á cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình.

Trung Quốc bị “bỏ qua”

Điểm đến đầu tiên của ông Carter là Nhật Bản. Trước lúc khởi hành, người đứng đầu Lầu Năm Góc gọi quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật là nền tảng cho an ninh châu Á-Thái Bình Dương và đang vững chắc hơn bao giờ hết.

Sau Nhật, Carter sẽ thăm Ấn Độ – quốc gia đang ngày càng đối đầu rõ rệt với Bắc Kinh. Ông tuyên bố sẽ thúc đẩy quan hệ hợp tác về chiến lược và công nghệ giữa hai nước lên mức độ mật thiết hơn.

Tuy nhiên, khác với những chuyến công du châu Á trước đây, lần này ông Ashton Carter đã “bỏ qua” Trung Quốc.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu dẫn đánh giá của một số chuyên gia quốc phòng nói rằng, động thái này là “sự tỏ ý” với Bắc Kinh rằng chính quyền mới của Tổng thống đắc cử Trump rất có thể sẽ mang lập trường cứng rắn hơn nữa trong lĩnh vực quân sự, nhằm ngăn chặn các hành vi bành trướng mang tính chèn ép của Trung Quốc.

Trung Quốc lạnh sống lưng vì tín hiệu khác thường khi BTQP Mỹ công du châu Á - Ảnh 1.

Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter họp báo với người đồng cấp Nhật Tomomi Inada ngày 7/12 tại Tokyo (Ảnh: AFP-JIJI)

Tại Nhật Bản, bộ trưởng Carter cũng tạm thời “dập tắt” thông tin nói rằng chính quyền mới sẽ không cam kết hỗ trợ Tokyo trong trường hợp Nhật xung đột với Trung Quốc ở quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Hội đàm với người đồng cấp Nhật Tomomi Inada ngày 7/12, ông Carter khẳng định Mỹ-Nhật đã tái xác nhận vấn đề Senkaku/Điếu Ngư phù hợp để áp dụng Điều 5 trong Hiệp ước bảo đảm an ninh giữa hai nước, trong đó quy định nghĩ vụ hỗ trợ phòng thủ của Mỹ đối với Nhật.

Để đạt được “bước chuyển tiếp thuận lợi” khi ông Trump chính thức nắm quyền từ 20/1 tới, ông Carter và bà Inada cũng đi đến thống nhất về phương hướng mở rộng hợp tác giữa hai đồng minh tại châu Á trong giai đoạn tiếp theo.

Bộ trưởng quốc phòng của Trump sẵn sàng “theo đến cùng” nếu có xung đột

Sputnik News (Nga) bình luận, trong chính sách đối ngoại của Trump, khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn sẽ chiếm vai trò trọng yếu. Nhiều phát ngôn từ nhóm của ông Trump cho thấy ông vẫn tán đồng nền tảng cơ bản của chiến lược “xoay trục châu Á” mà Tổng thống Barack Obama đặt ra.

Dù vậy, cấp dưới của Trump, đơn cử như tướng James Mattis – người vừa được bổ nhiệm làm Bộ trưởng quốc phòng của chính quyền mới, không hài lòng với tình hình thực hiện việc “xoay trục” và chỉ trích Obama thực hiện chính sách này không triệt để.

Nhiều cố vấn của Trump cho rằng Mỹ chưa nỗ lực hết sức để củng cố quan hệ đồng minh với Philippines.

Trung Quốc lạnh sống lưng vì tín hiệu khác thường khi BTQP Mỹ công du châu Á - Ảnh 2.

Tướng James Mattis, người sẽ trở thành Bộ trưởng quốc phòng trong chính quyền Trump (Ảnh: World Bulletin)

Cũng đi ngược lại nhận định của giới quan sát Trung Quốc rằng chính quyền Trump sẽ “lơi lỏng” quan hệ với Nhật, tướng Mattis từng tuyên bố Mỹ chưa ủng hộ đồng minh một cách xứng đáng.

Trong dịp hiếm hoi đề cập trực tiếp Trung Quốc, ông Mattis nhấn mạnh Bắc Kinh “đang có ý đồ phá hoại quan hệ đồng minh của Mỹ với Nhật, Hàn Quốc và các đối tác khác”.

Ông kêu gọi Washington phát huy vai trò tích cực hơn để bảo vệ trật tự thế giới mà Mỹ đang làm chủ đạo.

Dù trong chiến lược quân sự mới được công bố, Trump nói Mỹ sẽ tránh can thiệp vào xung đột ở nước ngoài, nhưng James Mattis khẳng định không cho phép quân đội “cam kết trước” về việc không tham gia các hành động quân sự.

Ông nói: “Chúng tôi không muốn để kẻ địch biết trước rằng bọn chúng sẽ không phải ‘nhìn thấy dấu giày của lính Mỹ trên trái đất’.”

Theo tờ Hoàn Cầu, nhiều khả năng ông Mattis không ủng hộ một chính sách quân sự hoàn toàn cứng rắn đối với Trung Quốc, nhưng “nếu có xung đột, ông ta sẽ theo đến cùng”.

theo Trí Thức Trẻ

Chuyển động quốc phòng Châu Á – Thái Bình Dương (18/08/2015)

26 Th8

Nguyễn Thế Phương

Maginot là một phòng tuyến kiên cố của người Pháp được xây dựng trong những năm 1930 nhằm chống lại nguy cơ tấn công từ phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai. Công trình được mệnh danh là đỉnh cao của nghệ thuật phòng thủ thế giới thời bấy giờ. Thế nhưng Maginot đã nhanh chóng trở nên “vô dụng” khi quân Đức đi vòng qua nước Bỉ trung lập để tránh phòng tuyến của người Pháp. Kết quả là nước Pháp bị bất ngờ và thủ đô Paris bị phát xít Đức chiếm ngay sau đó. Thất bại đó, một phần xuất phát từ chính sự tự tin của người Pháp vào sức mạnh phòng thủ không gì phá nổi của Maginot.
Đánh giá về chiến lược phòng thủ của Trung Quốc, hai tác giả Robbie Gramer và Rachel Rizzo nhận định vành đai phòng thủ ven biển và ngoài khơi mà Bắc Kinh đang cố gắng xây dựng chẳng khác gì phòng tuyến Maginot năm xưa. Bài học về Maginot vẫn còn nguyên giá trị đến thế kỷ 21 và nó đang ứng nghiệm đúng với Trung Quốc. Robbie Gramer hiện là Phó giám đốc Sáng kiến An ninh Xuyên Đại Tây Dương thuộc Hội đồng Đại Tây Dương. Rachel Rizzo là trợ lý chương trình Sáng kiến Chiến lược thuộc Hội đồng Đại Tây Dương.
Chiến lược Chống xâm nhập/Chống tiếp cận (A2/AD) của Trung Quốc nhằm buộc quân đội Hoa Kỳ phải hoạt động ở khoảng cách càng xa Trung Quốc đại lục càng tốt. Trong đó, tên lửa phòng thủ bờ biển được xem là thành tố quan trọng trong tổng thế chiến lược A2/AD. Kết hợp với máy bay và radar, các hệ thống tên lửa phòng thủ bờ tạo thành một mạng lưới phòng không, chống đổ bộ, bảo vệ các căn cứ hải quân Trung Quốc. Thêm vào đó, việc Bắc Kinh xây dựng các đảo nhân tạo trên biển Đông khiến Hoa Kỳ lo ngại Trung Quốc có thể mở rộng không gian cho chiến lược A2/AD. Điều đó đồng nghĩa với việc Washington sẽ bị đẩy ra xa Trung Quốc đại lục hơn trước. Nhưng nếu như vậy, Bắc Kinh sẽ phải củng cố lực lượng, tập trung những công nghệ phòng thủ tiên tiến và lệ thuộc vào những hòn đảo cố định này. Điều này giống như cách mà người Pháp đã làm với Maginot: trang bị những vũ khí phòng thủ tốt nhất cho một phòng tuyến kiên cố và ngồi chờ.
Tất nhiên, Hoa Kỳ không muốn xảy ra chiến tranh với Trung Quốc. Và trong giai đoạn còn chưa xảy ra xung đột, các chiến lược quân sự của Washington dường như được thiết kế nhằm chọc thủng “vành đai Maginot” của Bắc Kinh. Cho đến thời điểm hiện tại, Hoa Kỳ vẫn chọn biện pháp “cứng” là đối đầu trực tiếp với các hệ thống phòng thủ của Trung Quốc. Washington không chọn cách “đi đường vòng” nhằm tránh những thế mạnh của đối phương như người Đức đã từng làm với Pháp. Ví dụ, nếu Trung Quốc sở hữu một loại tên lửa chống hạm mới, Hoa Kỳ sẽ trang bị cho các tàu chiến hệ thống tác chiến và gây nhiễu điện tử hiện đại hơn.
Câu hỏi đặt ra là, trong trường hợp xảy ra xung đột, Hoa Kỳ cần làm gì để giành được ưu thế quân sự trước phòng tuyến Maginot của Trung Quốc? Đặt trong bối cảnh hiện tại, nhiều khả năng xung đột giữa Bắc Kinh và Washington sẽ là cuộc chiến giành quyền kiểm soát mặt biển và bầu trời hơn là chiếm lãnh thổ đối phương. Có ít nhất 3 cách giúp Hoa Kỳ có được lợi thế quân sự trước Trung Quốc nếu xảy ra xung đột:
• Thứ nhất: Biến phòng tuyến Maginot của Trung Quốc trở nên vô dụng bằng cách sử dụng chiến thuật bầy đàn máy bay không người lái (UAV). Việc triển khai một số lượng lớn UAV sẽ khiến Trung Quốc gặp khó khăn trong việc xác định mục tiêu thật sự cần tấn công. Thêm vào đó, chiến thuật bầy đàn UAV lại tỏ ra hiệu quả và tiết kiệm hơn so với việc triển khai đến chiến trường một phi đội chiến đấu cơ đắt đỏ.
• Thứ hai: Đi vòng tuyến phòng thủ ven biển bằng máy bay ném bom chiến lược. Trong thời gian sắp tới, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ dự định sẽ chế tạo máy bay ném bom chiến lược tầm xa thế hệ mới (LRS-B). Cùng với lực lượng LRS-B sẵn có, các LRS-B thế hệ mới của Hoa Kỳ có thể tiến vào nội địa Trung Quốc từ phía tây sau khi xuất phát từ căn cứ không quân Diego Garcia trên Ấn Độ Dương. Lực lượng phòng thủ bờ biển Trung Quốc khi đó sẽ buộc phải dãn đội hình và rút sâu vào trong nội địa để bảo vệ những nơi trọng yếu.
• Thứ ba: Cắt đứt nguồn cung năng lượng, phòng tuyến của Trung Quốc sẽ nhanh chóng trở nên vô dụng.
Tuy nhiên, về lâu dài, Hoa Kỳ cần buộc Trung Quốc phải chạy theo để bắt kịp và đối phó với sự phát triển quân sự của mình hơn là chạy theo đối phó Trung Quốc như hiện tại.
Trước khi Trung Quốc đưa ra ý tưởng về Con đường Tơ lụa trên biển và tiến hành cải tạo đất trên biển Đông, Bắc Kinh đã xây dựng một lực lượng tàu nạo vét hùng hậu. Đội tàu này, không chỉ phục vụ cho mục đích dân sự mà có thể dùng cho quân sự.
Minh chứng hùng hồn nhất là công tác cải tạo và xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc trên biển Đông có sự đóng góp rất lớn của các tàu nạo vét. Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 48 vừa qua tại Kuala Lumpur (Malaysia) đã ra tuyên bố quan ngại sâu sắc trước các động thái cải tạo đảo của Trung Quốc trên Biển Đông. Mặc dù Bắc Kinh không phải là quốc gia duy nhất tiến hành cải tạo đất ở Trường Sa, xong tiến độ thực hiện của họ khiến các quốc gia khác lo ngại.
Trong khi Việt Nam chỉ cải tạo được diện tích khoảng 121 nghìn mét vuông tại một địa điểm trong 5 năm; Malaysia cải tạo cùng diện tích trong thời gian 30 năm; Đài Loan là khoảng 20 nghìn mét vuông trong 2 năm thì Trung Quốc cải tạo hơn 12 triệu mét vuông chỉ trong vòng 18 tháng. Con số này phần nào nói lên năng lực của đội tàu nạo vét mà Bắc Kinh đang sở hữu.
Thế nhưng, cách đây 15 năm, đội tàu nạo vét hùng hậu như vậy chưa từng tồn tại ở Trung Quốc. Năm 2001, Bắc Kinh bắt đầu nỗ lực mở rộng và cải thiện đội tàu nạo vét yếu kém xuất phát từ 2 lý do chính. Thứ nhất: yêu cầu về đường thủy và cảng biển nước sâu phục vụ cho nhu cầu nội địa ngày càng tăng. Thứ hai, Trung Quốc muốn đảm bảo một vị trí trong thị trường tàu nạo vét toàn cầu vốn đang tăng trưởng nhanh chóng. Nhờ vào nỗ lực này, số lượng và năng lực của các tàu nạo vét Trung Quốc được nâng cao. Năm 2001, đội tàu của Bắc Kinh chỉ nạo vét được 300 triệu mét khối nhưng đến năm 2009, con số này tăng lên hơn 1 tỷ mét khối mỗi năm. Trung Quốc trở thành quốc gia có năng lực nạo vét lớn nhất thế giới.
Để làm được điều đó, Bắc Kinh không phải đơn giản là tăng số lượng tàu nạo vét lên để tăng năng suất mà bằng cách chế tạo các tàu hút bùn và nạo vét có kích thước lớn hơn, phức tạp hơn. Giai đoạn 2005 – 2012, Trung Quốc chế tạo 20 tàu hút bùn, công suất mỗi tàu từ 9000 mét khối trở lên. Riêng về đội tàu cuốc, giai đoạn 2004 – 2011, Bắc Kinh chế tạo và đưa vào sử dụng 44 tàu cuốc cỡ lớn, trong đó có Thiên Kinh, tàu cuốc tự hành lớn thứ 3 thế giới.
Như vậy, chỉ trong vòng một thập kỷ, Trung Quốc đã tạo ra một hạm đội tàu có thể thay đổi cả tính chất địa lý để phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của mình. Cùng với ý tưởng về con đường tơ lụa và các chính sách ngoại giao kinh tế đi kèm, đội tàu nạo vét này có thể giúp Trung Quốc khai thông đường dẫn, mở rộng cảng biển không chỉ cho mục đích thương mại mà còn có thể sử dụng cho quân sự khi cần thiết.
Shang-su Wu tới từ Chương trình Nghiên cứu Quân sự, Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam (RSIS) của Đại học Công nghệ Nanyang đã có một so sánh khá thú vị. Ông so sánh chiến tranh rô-bốt tương lai với bộ phim hoạt hình Pokemon, khi các “huấn luyện viên” né tránh nguy hiểm bằng cách sử dụng các “Pocket Monsters” của mình trong thi đấu. Trong chiến tranh tương lai, rô-bốt hay các loại thiết bị không người lái sẽ đảm nhiệm vai trò chính yếu thay thế con người, và con người sẽ giữ vai trò điều khiển ở tuyến sau, tương tự như các trận đấu Pokemon. Điều này sẽ có tác động rất lớn tới các chiến lược và học thuyết tác chiến trong tương lai. Một yếu tố so sánh khác chính là vai trò áp đảo của rô-bốt trên chiến trường có thể khiến cho năng lực thật sự của binh lính bị xói mòn.
Theo Wu, từ quan điểm đối phương, có hai cách đối phó chính với “chiến tranh kiểu Pokemon” như đã đề cập. Cách thứ nhất là tác chiến phi đối xứng. Đối thủ sẽ sớm nhận ra rằng các chiến thuật kiểu truyền thống như phục kích sẽ không mang lại bất cứ lợi ích về chính trị nào (vì đối thủ chỉ là rô-bốt). Khi đó, đối phương sẽ chuyển sang các chiến thuật khủng bố, ám sát và các phương pháp khác nhắm vào thường dân hay các nhân viên quân sự ở tuyến sau. Cách thứ hai là đối đầu trực diện, thay dùng rô-bốt “đấu” rô-bốt, thì mục tiêu cấn công của đối thủ chính là người điều khiến ở tuyến sau thông qua các loại vũ khí tấn công chính xác tầm xa. Bên cạnh đó là trực tiếp vô hiệu hoá rô-bốt thông qua các loại vũ khí điện tử, tấn công mạng hay các loại vũ khí chống rô-bốt đặc thù.
Một số tin vắn đáng chú ý
Hoa Kỳ triển khai 3 máy bay ném bom tàng hình B-2 đến căn cứ không quân trên đảo Guam nhằm thực hiện các bài tập làm quen với môi trường Thái Bình Dương. Những máy bay này được điều từ căn cứ không quân Whiteman, Missouri sang căn cứ Andersen trên đảo Guam. Trước đó, Hoa Kỳ cũng đã triển khai các máy bay ném bom chiến lược khác ở Andersen như B-1, B-52. Đây là lần đầu tiên “con cưng” B-2 tái triển khai ở Guam kể từ năm 2010. Máy bay ném bom B-2 có thiết kế khí động học đặc biệt, tính tàng hình cao. Đặc biệt, B-2 có thể bay liên tục 6.000 hải lý mà không cần tiếp nhiên liệu. Được biết, căn cứ Adersen chỉ cách phía Đông Trung Quốc khoảng 2.900km.
Hoa Kỳ tăng tần suất hoạt động của máy bay không người lái thêm 50% mỗi ngày. Quyết định này xuất phát từ yêu cầu ngày càng tăng về sự cần thiết phải gia tăng các hoạt động giám sát và tình báo trong 4 năm tới. Một nguồn tin bí mật từ Lầu Nam Góc cho hay, cơ quan này có kế hoạch tăng tần suất bay mỗi ngày của máy bay không người lái từ 61 chuyến mỗi ngày như hiện tại lên 90 chuyến/ngày vào năm 2019. Nguồn tin này còn tiết lộ kế hoạch tăng tần suất bay có sự tham gia của Lục quân, Bộ Chỉ huy lực lượng Đặc biệt và một nhà thầu quốc phòng được chính phủ thuê. Cụ thể, Không quân Hoa Kỳ vẫn triển khai 60 lượt bay/ngày, Lục quân 16 chuyến/ngày, Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt là 4 chuyến/ngày và nhà thầu quốc phòng được thuê là 10 chuyến.
N.T.P.
Nguồn:
http://nghiencuuquocte.net/…/chuyen-dong-quoc-phong-chau-a…/

HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG CÓ THỂ GIÚP HOA KỲ CHỐNG LẠI SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA TRUNG QUỐC – BS

26 Th1

 

Posted by adminbasam on 26/01/2015

Washington Post

Người dịch: Bút Lông Kim

22-01-2015

Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và Tổng thống Barack Obama. Ảnh: AP

Chúng ta đã đổ lỗi cho Tổng thống Obama về sự hỗ trợ chưa hết sức cho các thỏa thuận thương mại tự do nhằm tận hưởng sự ủng hộ chính danh cho chính quyền của ông. Tuy nhiên không có nguyên nhân như thế cho sự phàn nàn về bài diễn văn Thông điệp Hàng năm đọc trước Quốc hội vào tối thứ ba, trong đó ông kêu gọi hai đảng hãy trao cho tôi thẩm quyền xúc tiến thương mại để bảo vệ công nhân Mỹ với những giao dịch thương mại mới mạnh mẽ từ châu Á tới châu Âu”. Theo thuật ngữ thực tiễn thì điều đó có nghĩa là ông Obama tin tưởng rằng các nhà đàm phán của ông sắp đạt được sự gắn chặt những hiệp ước mở cửa thị trường với 11 quốc gia Vành đai Thái Bình dương  – quan trọng nhất là Nhật Bản – và với Liên minh châu Âu, và rằng việc thông qua một đạo luật mà uỷ quyền việc bỏ phiếu của quốc hội lên hoặc xuống trên các thoả thuận cuối cùng thì sẽ tăng cường quyền hành của ông tại bàn thương lượng.

Điều mà ông Obama không thể nói công khai là rằng sự mất mát của đảng ông trong Thượng viện và bài phát biểu hoài nghi về thương mại của Thượng nghị sĩ Harry Reid (là nhà lãnh đạo đa số) đã khiến gia tăng đáng kể những cơ hội mà ông sẽ theo đuổi sự thỉnh cầu của mình cho dự luật này (chứ không giống như bài diễn văn nhẹ nhàng của ông năm ngoái), và rằng ông sẽ thực tình đáng được lưu ý. Với tình huống được trao thì điều không nói công khai kia là điều được phép.

Hứng thú hơn chính là sự tranh luận cho rằng ông Obama đã triển khai ủng hộ các giao dịch thương mại: Tiên liệu trường hợp thông thường chống lại thương mại tự do, nên ông đã nêu lại các hiệp ước được đề xuất như là những biện pháp để hỗ trợ việc làm ở Mỹ với sự trả giá của Trung Quốc.“Hôm nay, các doanh nghiệp của chúng ta xuất khẩu nhiều hơn bao giờ hết, và nhà xuất khẩu có xu hướng trả lương công nhân của họ mức lương cao hơn,” ông tuyên bố. “Nhưng như chúng ta phát ngôn, Trung Quốc muốn viết các quy tắc cho khu vực phát triển nhanh nhất của thế giới. Điều đó sẽ đặt những công nhân của chúng ta và các doanh nghiệp của chúng ta vào thế bất lợi”.

Điểm đầu tiên của tổng thống là vừa chính xác và vừa là một sự bác bỏ được hoan nghênh đối với kiểu suy nghĩ huề vốn mà quá thường tràn ngập những cuộc tranh luận của những đối thủ thương mại. Điểm thứ hai có thể dường như một chút mơ hồ – thậm chí bí ẩn. Có phải tổng thống thực tình hàm ý gợi ra rằng các quan chức của Bắc Kinh đang âm mưu áp đặt một bộ mới nguyên trọn về những luật lệ và những quy định lên nền kinh tế của Đông Á?

Không thực sự: Ông ấy thay vào đó đang nói bóng gió đến nền tảng chiến lược rộng lớn hơn cho Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương, mà sẽ kết gắn Bắc và Nam Mỹ, Australia và New Zealand chặt chẽ hơn, và trên bình diện hợp lí hơn, với Nhật Bản và các quốc gia chủ chốt khác ở châu Á. Trên tổng thể, những quốc gia châu Á này đang tìm cách duy trì một sự hiện diện mạnh mẽ của Hoa Kỳ trong khu vực của họ như là một đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc. Do đó một hiệp ước mà tổ chức việc thương mại trong Vành đai Thái Bình dương dựa theo những nguyên tắc thương mại tự do của Hoa Kỳ thay vì dựa trên những mục tiêu hám lợi của Trung Quốc thì chính là mối quan tâm sống còn đối với họ – và với với Hoa Kỳ.

Cả về kinh tế và địa chính trị thì Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương sẽ khiến trường tồn vai trò ổn định của Hoa Kỳ ở châu Á; nó là một trong những ý tưởng sáng chói nhất của chính quyền Obama. Tất cả những gì còn lại bây giờ là cả tổng thống và các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa trong Quốc hội hãy giữ lời hứa của họ và làm cho nó xảy ra.

Chủ nghĩa cộng sản châu Á còn gì? – BS/BBC

2 Th10

 

  • 1 tháng 10 2014

Ông Chu Ân Lai và thủ tướng cánh tả Indonesia Aly Sasto-Amdjojo ở Bandung năm 1955

Trong suốt 14 năm dưới chính quyền độc tài chống cộng của Tổng thống Suharto, cứ đến ngày 30/9 hàng năm, các kênh truyền hình Indonesia lại phát sóng “Sự phản bội của G30/PKI”, một bộ phim tài liệu về cái được cho là cuộc đảo chính bất thành năm 1965 của Đảng Cộng sản Indonesia.

“Sự phản bội” mô tả những người cộng sản như ác quỷ còn Suharto là vị cứu tinh cho Indonesia và đại diện cho cái nhìn chính thống của nhà nước về những gì đã diễn ra trong suốt 32 năm ông Suharto cầm quyền.

Người Indonesia, kể từ khi nước này chuyển sang dân chủ bắt đầu từ sự sụp đổ của Suharto hồi 5/1998, đã bắt đầu đặt câu hỏi về lịch sử chính thống.

Các sử gia, phóng viên, các nhà làm phim, các nhà hoạt động và thậm chí cả các quan chức đã bắt đầu kết nối với nhau để đưa ra một cái nhìn khác với những gì giới quân đội đưa ra hồi thập niên 1960.

Các quốc gia xã hội chủ nghĩa lớn nhất, hùng mạnh nhất ở Đông Á đã từ bỏ mô hình cộng sản chủ nghĩa từ 20 năm nay để chuyển sang mô hình tư bản chủ nghĩa, theo khuynh hướng thị trường.

‘Chính thống và trung thực’

“Sự phản bội”, được quay năm 1984, dựa trên nội dung lịch sử do một sử gia quân sự đưa ra, được tài trợ bởi chính quyền Suharto, và được sử dụng rộng rãi như một công cụ tuyên truyền chống cộng.

Các cảnh quay thì khủng khiếp, đầy bạo lực và thường là phóng đại, theo nhận xét của Arifin N. Noer, một trong những nhà làm phim, nhưng phản ánh quan điểm lịch sử được giảng dạy trong sách giáo khoa và ở các trường học.

Joshua Oppenheimer được giải cho bộ phim nhắc lại thời chính quyền cánh hữu Indonesia tàn sát các đảng viên cộng sản

Đến 2013, người Indonesia có thể tải xuống phim “Hành động Sát nhân”, một cái nhìn khác về các sự kiện của Joshua Oppenheimer, một nhà làm phim người Mỹ đã tìm hiểu về các vụ tàn sát các thành viên hoặc ủng hộ viên của đảng cộng sản ở Indonesia hồi 1965-1966.

Chính CIA từng mô tả đó là một trong những vụ thảm sát khủng khiếp nhất của thế kỷ 20.

Một năm trước đó, cơ quan nhân quyền của Indonesia, KOMNAS HAM đã tuyên bố vụ thảm sát đó là một vụ dùng bạo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng.

Các tiểu thuyết như “Trở về” của Leila Chudori từ tạp chí Tempo Magazine, đã tìm hiểu về các cuộc thảm sát dựa trên các cuộc phỏng vấn được thực hiện trong suốt sáu năm. Một loạt các tiểu thuyết, các vở kịch, và các bài báo đã ra đời sau đó.

Dưới thời cựu tướng Suharto, Indonesia đã dẫn dắt ASEAN như một trong những khối chống cộng mạnh mẽ nhất ở Á châu.

Các đảng phái cộng sản bị cấm tại Indonesia và Singapore, còn Philippines tiếp tục chống lại các nhóm du kích cộng sản.

Cộng sản theo mô hình tư bản?

Khối các nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất Đông Á đã vượt qua quá khứ cộng sản và áp dụng mô hình tư bản chủ nghĩa để phát triển.

Sự sụp đổ của Liên bang Xô-viết hồi 1991 đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ cho các nước Á châu vốn đã áp dụng mô hình trung ương tập quyền trong vấn đề phát triển kinh tế.

Quân đội Indonesia thời Suharto đã truy bắt và tàn sát những người cộng sản

“Di sản của chủ nghĩa cộng sản là nó để lại sự thất bại của một hệ thống kinh tế,” Don Greenlees nói.

Học giả chuyên về quan hệ quốc tế tại Đông Á của Đại học Quốc gia Australia ở Canberra cũng nói về thực chất của ý thức hệ:

“Họ nói miệng thôi, nhưng thực tế là đang trở thành các nền kinh tế tư bản.”

Đảng cộng sản lớn nhất Á châu ở Trung Quốc nói rằng họ gắn bó với các nguyên tắc gốc của chủ nghĩa Marx-Lenin.

Thế nhưng kể từ cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã dần đưa những chính sách thị trường áp dụng vào mô hình kinh tế kế hoạch hóa trung ương của mình, và đã trở thành một trong những quốc gia có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới.

Năm 2001, Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và đang trên đà trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2025.

Việt Nam, với việc theo đuổi đường lối Đổi Mới kể từ 1986, cũng đi vào quỹ đạo tương tự.

Trong lúc vẫn là quốc gia độc đảng và kiểm soát chặt truyền thông, Việt Nam đã theo đuổi chính sách tư bản chủ nghĩa, ủng hộ đầu tư.

Việt Nam nay là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới

Việt Nam nay dựa vào đầu tư trực tiếp nước ngoài để hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế và là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, APEC và ASEAN.

Một câu hỏi lớn mà các đảng cầm quyền ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đang phải đối diện: Thế hệ trẻ các đồng chí trong Đảng sẽ diễn giải ra sao về chủ nghĩa xã hội một khi các lãnh đạo đã vào độ tuổi 80 nghỉ hưu hoặc chết đi?

Indonesia kể từ 1998 đã phải vật lộn với bóng ma quá khứ cộng sản của chính mình.

Liệu cái chết của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Á có phải là điều đương nhiên không, khi mà các nền kinh tế nơi đây đang ngày càng trở nên toàn cầu hóa?

Tác giả Tom McCawley có 16 năm sống tại Indonesia và Đông Nam Á, theo dõi các chủ đề chính trị, kinh doanh và kinh tế cho nhiều hãng quốc tế, trong đó có báo Financial Time và Christian Science Monitor. Ông học ngành Nghiên cứu Á châu và kinh tế tại Đại học Quốc gia Australia và hiện đang từ Jakarta viết về các nguy cơ về an ninh và kinh doanh cho các công ty quốc tế tại Đông Nam Á.

Tin liên quan

  • ‘Asean không có căng thẳng trong khối’
    12 tháng 9 2014
  • Đại sứ VN ở Thái Lan phản bác TQ
    11 tháng 7 2014
  • Lý Hiển Long: ‘Không nên cứ mạnh đúng’

 

Những lãnh đạo mạnh mẽ trong một châu Á mong manh – Vnn

1 Th9

 

Không lâu trước đây, châu Á chứng kiến nhiều chính phủ yếu ớt. Nhật với hàng loạt lãnh đạo không được tín nhiệm và không giữ vững được vị trí. TQ những năm cuối thời ông Hồ Cẩm Đào đã thấy nhiều cải cách bị trì hoãn.

Nhật, TQ, Ấn Độ, Tập Cận Bình
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe

Ở Ấn Độ, sau nhiều kỳ vọng, cựu Thủ tướng Manmohan Singh kết thúc nhiệm kỳ với nhiều chỉ trích hơn là tán thành. Tổng thống sắp mãn nhiệm của Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono dường như cũng trải qua điều tương tự. Những cái giá phải trả kể cả về kinh tế và chính trị thời ấy đều ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư. Giá trị tiền tệ cũng như tỉ lệ tăng trưởng ở cả Ấn Độ và Indonesia đều sụt giảm năm ngoái.

Người dân trong khu vực mong muốn có những nhà lãnh đạo mạnh mẽ hơn, có thể đưa ra các giải pháp.

Câu trả lời hiện tại dường như đã có với sự nắm quyền của ông Tập Cận Bình ở TQ, và Thủ tướng Shinzo Abe ở Nhật Bản. Cả hai nước này đang cố gắng “lôi kéo” Thủ tướng Narendra Modi của Ấn Độ và Tổng thống đắc cử Indonesia Joko Widodo. Nhiều triển vọng đã mở ra.

Các nhà lãnh đạo mới đều hướng tới cải cách. Chủ tịch TQ Tập Cận Bình đang tiến hành những cải tổ kinh tế dù khó khăn nhưng rất cần thiết, và mạnh tay trong chống tham nhũng. Với Nhật Bản, các chính sách phi chính thống về kinh tế mang tên Abenomics đã kích thích tăng trưởng cho nền kinh tế trì trệ bấy lâu nay.

Ấn Độ và Indonesia vẫn còn đang chờ đợi. Nhưng kỳ vọng cải cách là rất cao.

Cả 4 nhà lãnh đạo đều đi xa hơn các chính sách kinh tế. Mỗi người đều đặt ra một tầm nhìn chuyển đổi cho đất nước với mong muốn vị thế vững mạnh trong thế giới. Ai cũng có được tỉ lệ tín nhiệm cao cho phép họ không gian rộng để hành động táo bạo.

Nhưng điều gì cũng có cái giá của nó.

Hãy nhìn vào sự căng thẳng gia tăng giữa TQ và Nhật Bản. Trong khi tranh chấp đảo trước thời Abe dường như lặng sóng, thì tình hình hiện tại ngày một tồi tệ. Cả ông Tập và Abe đều không có ý nhượng bộ. Trái lại, họ nhận được sự đồng thuận mang tính dân tộc chủ nghĩa ở trong nước để không từ bỏ.

Ông Abe có thêm lý do để cải tổ hiến pháp hòa bình thời hậu chiến và cân nhắc việc Nhật có thể mở rộng vai trò an ninh trong khu vực – một vấn đề gây tranh cãi thậm chí trong chính nước Nhật. Về phần mình, TQ khoét sâu thêm tranh chấp khi thiết lập vùng nhận diện phòng không chồng lấn với khu vực và Nhật và Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền.

Với các nước láng giềng Đông Nam Á, việc ông Tập củng cố quyền lực ở TQ đã không làm dịu những bất đồng. Trái lại, TQ hành xử trở nên gây hấn hơn, như kiểu đơn phương hạ đặt giàn khoan trái phép ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN ở Biển Đông.

Những nhà lãnh đạo mạnh mẽ cũng có thể gây bất ổn ở một khu vực đang ngày càng trở nên mong manh về cả kinh tế và chính trị. Mỹ từ lâu chiếm ưu thế trong khu vực, đang tìm cách thích nghi với tình hình. Tổng thống Obama đã tái khẳng định các cam kết với đồng minh và tuyên bố thực thi chiến lược tái căng bằng hướng tới khu vực.

Nhưng kể cả khi sự hiện diện của Mỹ là cần thiết và không thể tránh khỏi, thì cũng có rủi ro nếu chính quyền Obama tập trung quá mức vào vai trò hiện diện quân sự tại đây. Một số người ở Bắc Kinh tin rằng, Mỹ thậm chí có thể hoan nghênh mong muốn của Thủ tướng Abe khi biến Nhật thành đối trọng với TQ. Ý thức về sự cạnh tranh Trung – Mỹ lại càng được đẩy lên cao khi quan hệ căng thẳng Trung – Nhật không lắng dịu.

Những sự phức tạp này khiến các chính quyền mới ở Ấn Độ và Indonesia gặp khó, nhất là trong chính sách đối ngoại và an ninh.

Với New Delhi, truyền thống là duy trì trung lập. Nhưng ông Modi mới đây đã tiếp đón Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tới thăm. Ông cũng chuẩn bị công du Tokyo. TQ và Ấn Độ có quan hệ song phương, và cùng với Brazil, Nga, Nam Phi là thành viên của khối BRICS. Nhưng một số người ở New Delhi đã nhấn mạnh vào sự cạnh tranh với TQ, dù trên biển hay vùng biên giới đất liền đang tranh chấp.

Chính phủ mới ở Indonesia sẽ chưa chính thức điều hành đất nước cho tới tháng 10 và cũng không có nhiều thời gian trước lúc cuốn vào hàng loạt cuộc họp khu vực như Thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á-TBD tổ chức ở TQ hay Thượng đỉnh Đông Á…

Các nhà lãnh đạo mạnh mẽ hiện tại của châu Á có thể tiến hành cải cách trong nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhưng nếu họ khẳng định sức mạnh của mình trong các mối quan hệ an ninh và đối ngoại thì khu vực có thể bị mất cân bằng.

Thái An (theo Japantimes)

 

Nhật tái tạo ván cờ châu Á vì mối đe dọa Trung Quốc – RFI

10 Th8

 

NEXT

Nghe
Thêm vào danh mục của tôi
Tải về
Embed
 
Thủ tướng Shinzo Abe và nội các Nhật Bản - REUTERS /Issei Kato

Thủ tướng Shinzo Abe và nội các Nhật Bản – REUTERS /Issei Kato
Trọng Nghĩa

Liệu chiến tranh có nổ ra tại Châu Á hay không, trong bối cảnh mà hai cường quốc khu vực hàng đầu là Trung Quốc và Nhật Bản đang cạnh tranh với nhau, với cường quốc số một thế giới là Hoa Kỳ trong vai trò trọng tài ? Một trọng tài có lẽ sẽ không buồn lòng nếu hạn chế được các tham vọng của Trung Quốc.

Tháng 10 năm 2013, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã ký kết một phiên bản mới của Hiệp định Phòng thủ Hỗ tương có từ sau Đệ nhị Thế chiến. Hai tháng sau, chính quyền của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe loan báo tăng ngân sách quốc phòng với tỷ lệ 5% cho tài khóa 2014-2019, và mới đây, Tokyo đã quyết định cho phép mình tham gia những chiến dịch quân sự tại hải ngoại “trong khuôn khổ tập thể”, một cuộc cách mạng thực thụ vì cho đến nay, quân đội – được gọi là lực lượng “tự vệ” của Nhật Bản không có quyền hoạt động ngoài nước.

Đấy chính là những phản ứng đáp trả lại thế lực mà Trung Quốc muốn áp đặt tại khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi mà không chỉ có Nhật Bản là lo ngại, mà còn có cả Việt Nam và Philippines cũng tự đặt ra nhiều câu hỏi.

Để hiểu rõ hơn về sự thay đổi cục diện tại khu vực châu Á dưới tác động của Nhật Bản nhắm đề phòng Trung Quốc, mối đe dọa chung của nhiều nước, chương trình “Địa lý chính trị” của RFI hạ tuần tháng Bảy vừa qua, đã tham khảo ý kiến của ba chuyên gia Pháp về châu Á : Bà Valérie Niquet, Giảng sư, Trưởng bộ phận châu Á trung tâm nghiên cứu chiến lược Pháp Fondation pour la Recherche Stratégique, bà Marianne Peron-Doise, chuyên gia phân tích cao cấp về các vấn đề an ninh châu Á và ông Jean-Marie Bouissou, chuyên gia về Nhật Bản, Giám đốc nghiên cứu tại Học viện Khoa học Chính trị Sciences Po, đại diện của Sciences Po tại Nhật Bản, tác giả tập biên khảo “Địa chính trị Nhật Bản”, sẽ được nhà xuất bản Presses Universitaires de France cho ra mắt vào mùa thu năm 2014.

Chiến lược mới của Tokyo : Bám Mỹ và giúp nạn nhân của Bắc Kinh

Giảng sư Valérie Niquet cho rằng các chuyển động thái mới đây của Nhật Bản trong lãnh vực an ninh quốc phòng đều bắt nguồn từ mối đe dọa Trung Quốc.

Có thể nói là điều đó nhắm vào hai mục tiêu. Trước tiên hết là phải củng cố các bảo đảm về an ninh chứa đựng trong Hiệp định về An ninh và Quốc phòng giữa Mỹ và Nhật.

Khi thông qua những biện pháp mới đó, chính quyền Nhật Bản muốn chứng tỏ với Mỹ rằng họ sẵn sàng gánh vác phần mình, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng nẩy sinh với Trung Quốc, và nhiều nước khác ở Châu Á cũng lo ngại về Trung Quốc.

Quan điểm của Nhật Bản rất rõ như Thủ tướng Shinzo Abe từng nêu lên nhiều lần và cả trong phát biểu của ông tại Đối thoại Shangri-la ở Singapore gần đây : Đối phó với mối đe dọa đến từ Trung Quốc bằng cách liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ, đảm bảo sao cho Washington luôn sát cánh cùng Tokyo, và nếu cần thiết thì giúp đỡ các nước giống như Nhật, cũng đang lo ngại trước đà lớn mạnh của Trung Quốc.

Chuyên gia về Nhật Bản Jean – Marie Buissou cũng đồng ý với nhận định trên nhưng đăc biệt ghi nhận một tình thế tế nhị mà Tokyo phải xử lý :

Thật ra, Nhật Bản hiện đang phân vân trước hai vấn đề khó xử. Trước tiên là đối với Trung Quốc : Mọi xung đột đều sẽ rất tốn kém đối với Nhật, bất luận kết cục ra sao. Chưa nói đến việc Trung Quốc tấn công vào lãnh thổ Nhật, chỉ cần một Trung Quốc bị mất mặt, bất ổn định, đó đã là một kịch bản đầy ác mộng đối với Nhật Bản rồi, bởi vì Trung Quốc là đối tác kinh tế hàng đầu của Nhật.

Kế đến là khó xử trên vấn đề nước Mỹ. Nhật không nắm chắc 100% là Mỹ sẵn sàng lao vào một cuộc chiến thực sự với Trung Quốc vì quần đảo Senkaku, cho dù là Mỹ vẫn luôn khẳng định ngược lại.

Mặt khác Nhật cũng không hề muốn bị lôi kéo vào một cuộc chiến với Trung Quốc… để duy trì vai trò thống trị thế giới của Mỹ. Khả năng xung đột Mỹ-Trung về lâu về dài có vẻ như khó có thể tránh khỏi, dưới hình thức này hay hình thức khác, nhưng vai trò thống trị của Mỹ trên thế giới, trước mắt không phải là lợi ích quốc gia của Nhật.

Tóm lại cả hai kịch bản này đều không làm Nhật thoải mái, do đó, chiến lược của Tokyo hiện nay có phần rất rõ : Một mặt là bám sát Mỹ, bởi vì như ‘sư phụ’ của ông Abe là cựu Thủ tướng Koizumi từng nói là không nên chen một cái gì giữa Nhật và Mỹ dù chỉ là một tờ giấy quấn thuốc lá. Do vậy, Nhật Bản đã tăng cường vai trò quân đội, và cho phép lực lượng của mình hỗ trợ một cách có hiệu quả các đồng minh mà trước tiên là Hoa Kỳ.

Mặt khác thì hiển nhiên là Tokyo cũng muốn tăng cường thực lực của mình về mặt trang thiết bị để có thể tự mình chống lại các mối đe dọa ngay trong môi trường sát cạnh mình.

Nhật Bản là nhân tố thiết yếu trong tiến trình tái tạo hệ thống liên minh của Mỹ

Đối với chuyên gia Marianne Péron-Doise, các động thái tích cực của Nhật Bản trong khu vực như đang thúc đẩy tiến trình tái tạo lại hệ thống liên minh quân sự của Mỹ trong vùng :

Điều mà tôi thấy đáng chú ý là việc so sánh – dĩ nhiên là khiên cưỡng – tình hình hiện nay ở châu Á với thời kỳ chiến tranh lạnh trước đây, có nghĩa là người ta đã gợi lên không khí chiến tranh lạnh ở Đông Á, nêu lên những diễn biến một cách bổ ích.

Nhưng điều nghịch lý là ở đây không phải chiến tranh lạnh giữa hai nước lớn, cụ thể là giữa Trung Quốc và Mỹ, mà người ta thấy sự căng thằng đang chuyển dịch đến các đồng minh của Mỹ. Và ta có cảm giác là hệ thống các liên minh quân sự của Mỹ ở Châu Á đang trên đà tái tạo, với trên hiện trường một đồng minh có lẽ trước đây bị Hiến pháp trói tay, nhưng ngày nay lại liên tục có những sáng kiến để trở thành một đối tác thực thụ.

Và người ta chứng kiến một xu hướng tái cân bằng các bảo đảm an ninh từ Nhật Bản về phía Mỹ. Như vậy là đã xuất hiện một loạt những biện pháp bảo vệ lẫn nhau khá thú vị, bởi vì phía bên kia là Trung Quốc với những hành vi khác nhau đang tìm cách áp đặt hướng đi của họ, những hành vi ngày càng hung hãn hơn, gây lo ngại không những cho Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, mà cho cả Việt Nam, Philippines và những nước khác ở vùng Biển Đông, nói chung là các nước ASEAN. Tóm lại hiện đang có một xu hướng tái tạo các liên minh an ninh cấp khu vực rất đáng được theo dõi.

Quan tâm của Nhật : Khối An ninh Kim cương và các nước bị Trung Quốc lấn lướt trên biển

Một câu hỏi được đặt ra là với việc tự bật đèn xanh cho phép lực lượng võ trang của mình can thiệp ra bên ngoài, Nhật Bản có thể giúp đõ những ai ? Trên vấn đề này, ông Buissou nhấn mạnh là không nên hiểu lầm về khái niệm « can thiệp » vừa được Tokyo nêu bật :

Trước tiên cần phải cẩn thận khi nói đến việc Nhật Bản muốn « can thiệp ». Việc diễn giải lại hiến pháp mà ông Shinzo Abe đã chính thức hóa không phải là một sự điều chỉnh Hiến pháp – người ta không thay đổi văn bản – sẽ cho phép Nhật góp phần vào việc bảo vệ các nước bạn.

Thế nhưng đóng góp không có nghĩa là Nhật sẽ dấn thân vào các hành đông quân sự. Khái niệm góp phần có thể bao hàm việc cung cấp hậu cần, trang thiết bị… còn việc lực lượng Nhật trực tiếp tham gia chiến đấu thì không được đề cập tới, và ngay cả Thủ tướng Abe cũng vẫn biện minh là ông không muốn đi đến điều đó.
Về việc Nhật có thể giúp ai, thì báo giới Nhật Bản đến nay để nói nhiều khả năng, và họ nói rất nhiều đến chính sách An ninh Kim cương (Security Diamond), một từ ngữ do chính ông Abe sử dụng. Nhìn từ Tokyo, An ninh Kim cương bao trùm Nhật Bản và Ấn Độ, Hoa Kỳ, Úc, cốt lõi trong màng lưới đồng minh của Nhật.

Ngoài ra Tokyo cũng quan tâm đến các nước bị tham vọng trên biển của Trung Quốc đe dọa. Đứng đầu danh sách này là Việt Nam – Nhật vốn đã thấy khả năng Việt Nam đối phó với Trung Quốc trong lịch sử – kế đến là Philippines.

Nhật cũng quan tâm đến việc xích lại gần với Nga. Trong những năm gần đây Tokyo đã làm rất nhiều để xích lại gần Mátxcơva, kể cả trên bình diện quân sự. Hồ sơ Ukraina quả đã là một thảm họa đối với chính sách này của Nhật.

Cho nên có thể tính đến hai nhóm nước được Nhật Bản quan tâm, nhóm thuộc khái niệm An ninh Kim cương, và nhóm nước đối tác – đối tác là vì bị Trung Quốc trực tiếp đe dọa.

Nhật Bản trở thành nguồn cung cấp vũ khí

Về phần mình, chuyên gia Valérie Niquet đặc biệt chú ý đến sự kiện Nhật Bản vừa giải tỏa lệnh cấm xuất khẩu vũ khí mà chính họ tự áp đặt lên mình :

Tôi chỉ muốn nói thêm về một diễn biến mới. Đó là việc Nhật Bản giờ đây có thể bán vũ khí ra nước ngoài, điều không hề có trước đây. Thủ tướng Abe đã đề nghị cung cấp thiết bị quân sự cho Việt Nam và Philippines với danh nghĩa trợ giúp phát triển, để các nước này có thể có nâng cao sức mạnh hải quân nhằm đối phó với Trung Quốc.
Công cuộc hợp tác đó, vai trò an ninh rất năng nổ của Nhật trong vùng đã được các nước trong khu vực đón nhận tích cực, dĩ nhiên là ngoại trừ Trung Quốc và trong chừng mực nào đó Hàn Quốc.
Như vậy, yếu tố mới là sự phát triển vai trò của Nhật trong tư cách nguồn cung cấp vũ khí cho các nước láng giềng.

Sự năng nổ của Nhật Bản trong địa hạt an ninh quốc phòng có phần đi ngược lại Hiến pháp chủ hòa mà người dân Nhật rất gắn bó. Do đó, chính quyền Abe ; theo bà Peron-Doise, đã phải tiến bước rất thận trọng.

Sắc thái tế nhị mà ông Buissou vừa nêu lên rất quan trọng. Người ta thường nhanh nhảu nói là Nhật Bản xét lại Hiến pháp, nhưng thực ra đó chỉ là một sự diễn giải lại, và chính phủ ông Abe khéo léo trình bày vấn đề vì biết rằng người dân Nhật rất gắn bó với Hiến pháp gọi là « chủ hòa » và sẽ không mấy ưa thích kiểu « chủ hòa năng nổ », như chính quyền Abe đã gọi.

Cho nên có thể nói là Nhật Bản thể hiện một sự thận trọng về mặt đối nội, nhưng đồng thời tỏ rõ một sự quyết tâm lớn về mặt ngoại giao, trong việc đổi mới một hinh thức hợp tác quân sự : Hợp tác qua viện trợ. Trong lãnh vực này, Tokyo cũng cố bao bọc cho các hợp tác quân sự một lớp vỏ rất chừng mực, không dám nói đến đối tác chiến lược…

Quyết tâm trong chiến lược an ninh còn thể hiện qua việc thành lập môt Hội đồng An ninh Quốc gia, gợi lên cơ chế hiện hành tại Mỹ.

Tóm lại, chính phủ Nhật và Thủ tướng Abe đang tỏ rõ quyết tâm, và trang bị cho mình các phương tiện cần thiết để phản ứng trong trường hợp khủng hoảng, có những công cụ đối phó và dần dần mở rộng ảnh hưởng ngoại giao và chiến lược của Nhật.

Quan hệ đảo chiều : Trung Quốc kết thân với Hàn Quốc, Tokyo hữu hảo với Bình Nhưỡng

Các động thái của Nhật Bản tuy nhiên đã không được hai láng giềng Đông Bắc Á là Trung Quốc và Hàn Quốc tán đồng. Chuyên gia Buissou ghi nhận :

Quan hệ Nhật-Hàn khá thú vị. Nhật Bản và Hàn Quốc trên nguyên tắc là những đồng minh tự nhiên, vì cả hai đều có hiệp ước phòng thủ với Mỹ, và trên nguyên tắc họ đều có cùng những vấn đề với Trung Quốc như cạnh tranh thương mại và tranh chấp lãnh thổ. Thế nhưng gần đây thì hai bên lại như chó với mèo.

Hàn Quốc chẳng hạn đứng ngay sau Trung Quốc trong tư cách quốc gia mà người Nhật ít ưa thích nhất, các thành phần dân tộc chủ nghĩa hai bên đều kình chống nhau trên các vấn đề lịch sử, bên cạnh đó là tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Dokdo – Takeshima.

Hiện nay thì các mối quan hệ trong vùng Đông Á như đang đảo nghịch. Tại Seoul vừa có cuộc họp thượng đỉnh giữa Chủ tịch Trung Quốc và Tổng thống Hàn Quốc, trong đó hai bên nói với nhau vô số những lời hòa hoãn, êm tai. Hai nước còn đồng ý với nhau là khởi động trở lại vấn đề phụ nữ giải sầu chống lại Nhật. Mặt khác thì ông Abe lại đang ve vãn Bình Nhưỡng một cách khá công khai, và hình như đã thuyết phục được Kim Jong Un để mở lại hồ sơ người Nhật bị bắt cóc.

Tóm lại hiện giờ Tokyo chiêu dụ Binh Nhưỡng, Seoul và Bắc Kinh thì lại bắt tay nhau. Như vậy là có một vết rạn nứt thực thụ trong hệ thống liên minh của Mỹ.

Rạn nứt trong bang giao Seoul-Tokyo làm suy yếu hệ thống liên minh quân sự của Mỹ

Về vết rạn nứt trong hệ thống các liên minh quân sự của Mỹ tại châu Á, chuyên gia Niquet công nhận rằng đây là một thực tế, bắt nguồn từ những bất hòa trong quá khứ :

Người ta thấy tồn tại ở châu Á các hệ thống quan hệ an ninh tam giác vững chắc như Nhật –Úc-Mỹ. Thế nhưng tam giác chủ yếu quan trọng nhất đối kháng trực tiếp với Trung Quốc là Nhật-Hàn-Mỹ.

Tam giác này quả thực là đã tồn tại, vì tiến trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Hàn Quốc đã vấp phải trục hợp tác chiến lược Mỹ-Hàn, và phải nói là Seoul không dễ dàng từ người đồng minh Hoa Kỳ của mình.để một mình đối diện với Trung Quốc.

Thế nhưng tam giác này đã suy yếu đi nhiều do các mối căng thẳng giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, vì những lý do lịch sử nhưng cũng vì những lý do đối nội, ở Tokyo cũng như Seoul.

Đối với chuyên gia Peron-Doise, tinh chất dân tộc chủ nghĩa là một đề tài thường xuyên đầu độc quan hệ giữa Nhật Bản và hai láng giềng Đông Á :

Đó là một lãnh vực cứ nổi lên thường xuyên và được các bên sử dụng để làm suy yếu người láng giềng. Hàn Quốc vẫn trở lại hồ sơ phụ nữ giải sầu vào thời kỳ Nhật đô hộ bán đảo Triều Tiên. Và khi Thủ tướng Nhật đến viếng đền Yasukuni thì Trung Quốc cũng lên tiếng nhắc nhở, nêu lại thái độ của Nhật trong giai đoạn chiến tranh đau thương mà họ gọi là cuộc Đại chiến Thái Bình Dương.

Người ta thấy quả là có nhiều khó khăn để xóa nhòa quá khứ đó, một quá khứ vẫn còn rất gần, và bị sử dụng thành công cụ để chiêu dụ công luận, để đưa ra những chiến lược quốc gia trong đó cần phải có một kẻ thù dù là Hàn Quốc hay Nhật Bản. Đó là một trò chơi được triển khai khi mà các chính quyền cần đánh lạc hướng dư luận của mình.

Nhìn từ bên ngoài thì đó cũng là yếu tố gây ngạc nhiên, nhất là khi nhìn vào liên minh phòng thủ Mỹ – Nhật – Hàn, ta thấy là hai đối tác đông Á này không thành lập được một liên minh vững chắc, với thù hằn có thể nổi lên trở lại giữa Tokyo và Seoul bất cứ lúc nào. Đây là điều đã nhiều lần xẩy ra và có khi rất dữ dội…

Ý đồ của Trung Quốc : Ngăn không cho đối thủ cạnh tranh là Nhật Bản vươn lên

Theo chuyên gia Vaérie Niquet nếu sự trở lại của Nhật Bản về mặt quân sự đã được hầu hết các nước trong vùng hoan nghênh, trừ Hàn Quốc và nhất là Trung Quốc. Thái độ phản đối của Trung Quốc tuy nhiên bị cho là nhằm che giấu dụng tâm kềm hãm một đối thủ cạnh tranh :

Nghịch lý là cho dù chính quyền Abe được xem là một chính quyền « dân tộc chủ nghĩa » nhất ở Nhật từ sau Đệ nhị Thế chiến, các biện pháp thông qua trong chiều hướng một vai trò quân sự quan trọng hơn của Nhật ở Châu Á lại được nhiều nước khác hoan nghênh, ngay cả tại những quốc gia đã phải chịu khổ đau vì Nhật Bản trong chiến tranh thế giới như Philippines. Manila thậm chí còn yêu cầu Nhật đóng một vai trò quân sự quan trọng hơn.

Ngoài ra, việc công cụ hóa quá khứ lịch sử như ở Trung Quốc, và trong một chừng mực nào ở Hàn Quốc, rất quan trọng.

Ở Trung Quốc, khi chính quyền khơi dậy quá khứ thời Nhật, đó không phải là vì nổi khổ đau hay thảm kịch chiến tranh mà người Trung Quốc phải chịu, mà là vì đó là cách để đảng Cộng sản Trung Quốc gây sức ép trên Nhật Bản, và ngăn cản không cho Nhật Bản trỗi dậy thành một cường quốc bình thường, trực tiếp cạnh tranh với Trung Quốc. 

 

‘Châu Á ủng hộ vai trò mới của Nhật’ – BBC

30 Th5

 

Cập nhật: 15:21 GMT – thứ năm, 29 tháng 5, 2014

Thủ tướng Nhật Bản đang muốn khẳng định vai trò của Nhật tại khu vực trước TQ.

Thông điệp về vai trò lớn hơn trong an ninh toàn cầu của Nhật Bản tại một diễn đàn an ninh khu vực trong tuần này sẽ nhận được nhiều ủng hộ, bởi châu Á đang ngày càng lo ngại trước Trung Quốc.

Tuy vậy nhiều quốc gia sẽ không tán thưởng quá ồn ào vì sợ làm Bắc Kinh phiền lòng, hãng tin Reuters cho hay.

 

Nhật Bản có tranh chấp chủ quyền khá nhức nhối với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, trong khi căng thẳng cũng đang gia tăng giữa Bắc Kinh với một vài quốc gia Đông Nam Á xung quanh các tranh chấp trên biển Đông, vốn được cho là giàu dầu mỏ và khí đốt.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sẽ có bài diễn văn quan trọng tại Đối thoại Shangri-La vào thứ Sáu 30/05, một diễn đàn dành cho các chuyên gia quốc phòng và an ninh đến từ châu Á, bao gồm Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Mỹ, và Australia.

Vị thủ tướng phe bảo thủ này được kì vọng sẽ giải thích những nỗ lực của ông nhằm dỡ bỏ lệnh cấm tham chiến bên ngoài của quân đội Nhật từ sau Thế chiến II.

“Căng thẳng đang gia tăng ở châu Á-Thái Bình Dương. Tôi muốn gửi thông điệp đến thế giới về vai trò chủ động của Nhật Bản đối với hòa bình dựa trên hợp tác quốc tế,” hãng thông tấn Kyodo dẫn lời ông Abe phát biểu trước nghị viện vào thứ Năm.

Mặc cho hồi ức thảm khốc về thời gian chiếm đóng của Nhật Bản trong Thế chiến Đệ nhị ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, một vài nước trong khu vực coi thông điệp trên là tích cực, do sự cứng rắn ngày càng tăng từ Bắc Kinh.

Các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc sẽ ủng hộ ông Abe

Malcom Cook, Viện Đông Nam Á học, Singapore

“Các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc sẽ ủng hộ ông Abe,” Malcom Cook, nghiên cứu viên cao cấp từ Viện Đông Nam Á Học ở Singapore nói.

“Nhật Bản quyết đoán hơn nhiều so với khối ASEAN khi chỉ trích Trung Quốc.”

Một trong những chỉ trích Bắc Kinh mạnh mẽ nhất đến từ Philippines, và gần đây là Việt Nam.

Đầu tháng này, Trung Quốc đưa một giàn khoan khổng lồ vào khu vực cũng được tuyên bố chủ quyền bởi Hà Nội. Hàng chục chiếc tàu của hai bên đang thủ thế ở xung quanh chiếc giàn khoan. Vào thứ Ba, một tàu cá Việt Nam bị chìm, gây ra tranh cãi giữa Hà Nội và Bắc Kinh về việc ai phải chịu trách nhiệm.

Trung Quốc cũng khiến Philippines nổi giận khi bắt đầu xây dựng một công trình, có vẻ như là đường băng sân bay, trên một hòn đảo có tranh chấp.

“Chúng tôi chào đòn đóng góp của Nhật Bản để củng cố an ninh và ổn định trong khu vực, bao gồm cả kế hoạch nâng cao vai trò an ninh của họ,” một quan chức quốc phòng cấp cao của Philippines nói.

‘Phật lòng Trung Quốc’

Asean được cho là đang bị chia rẽ vì có các lợi ích kinh tế khách nhau giữa các thành viên với TQ.

Một vài quốc gia khác như Malaysia lại lo ngại làm phật lòng Trung Quốc, gây ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế sâu rộng giữa hai bên. Các nước nhỏ hơn và là hàng xóm trực tiếp của Bắc Kinh như Cambodia, Myanmar, và Lào, cũng khó có khả năng thể hiện tình đoàn kết với Nhật Bản.

Bài diễn văn của ông Abe cũng được kỳ vọng sẽ nhấn mạnh vào pháp quyền và phản đối việc thay đổi trạng thái bằng vũ lực, vốn là ngôn từ chính mà Tokyo sử dụng để chỉ trích Bắc Kinh.

Đại diện của Trung Quốc tại diễn đàn này là Thứ trưởng ngoại giao Phó Oánh, một người được cho là cứng rắn và có tài hùng biện.

Bà Phó Oánh được cho là sẽ tranh biện rằng chính Nhật Bản chứ không phải là Trung mới là mối đe dọa an ninh, bởi nỗ lực của ông Abe nhằm xóa bỏ hạn chế từ bản hiến pháp hòa bình để phát triển quân sự.

“Trung Quốc đã cử đại diện cấp cao hơn đến tham dự diễn đàn lần này, vốn thường có vị trí thấp hơn đại diện của các nước khác. Tôi tin rằng việc ông Abe có mặt góp phần vào quyết định đó của Bắc Kinh,” ông Cook nói.

Ông Abe đã cho thấy rõ rằng ông muốn thay đổi Điều 9 Hiến pháp Nhật Bản, nhằm cho phép nước này tham gia vào hoạt động quốc phòng tự vệ tập thể, hoặc cung cấp khí tài quân sự cho những quốc gia thân thiện bị tấn công.

Các chính phủ tiền nhiệm nói Tokyo có quyền làm vậy theo luật quốc tế, nhưng điều này lại vượt quá khuôn khổ hiến pháp chống chiến tranh của Nhật.

Vào thứ Năm, Thủ tướng Nhật nói rằng ông hi vọng sẽ có quyết định kịp thời phản ánh sự thay đổi này trong bộ nguyên tắc hợp tác quốc phòng Mỹ-Nhật mà hai bên muốn hoàn thành vào cuối năm.

Đảng Dân chủ Tự do (LDP) cầm quyền đang nỗ lực thuyết phục đối tác liên minh “bồ câu” hơn của mình đồng tình cho sự thay đổi chính sách lịch sử này. Khảo sát cho thấy đa số cử tri Nhật Bản phản đối sự thay đổi trên.

“Tại thời điểm này, ông Abe phải nhấn mạnh vai trò của sự thay đổi với an ninh quốc gia và người dân Nhật, trong khi ở Singapore, ông phải nói đó là vì an ninh khu vực,” Narushige Michishita, chuyên gia tại Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản nói.

“Ông ấy đang phải đi dây.”

Thêm về tin này

 
%d bloggers like this: