Tag Archives: CHÍNH SÁCH

Học giả Trung Quốc cảnh báo ‘mây đen’ trong quan hệ Mỹ – Trung – VNE

6 Th12

Học giả Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung – Mỹ có thể sẽ thêm căng thẳng sau chỉ trích mới nhất về việc Bắc Kinh phô diễn quân sự ở Biển Đông của tổng thống đắc cử Donald Trump.

hoc-gia-trung-quoc-canh-bao-may-den-trong-quan-he-my-trung

Trump chỉ trích Bắc Kinh thao túng tiền tệ và phô diễn quân sự tại Biển Đông trong bài đăng mới nhất trên Twitter. Ảnh: Politico

Shi Yinhong, chuyên gia về chính sách đối ngoại ở đại học Nhân dân Bắc Kinh, cho rằng mối quan hệ giữa hai nước Trung – Mỹ có thể sẽ thêm căng thẳng và lộn xộn sau cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ và phô diễn sức mạnh quân sự tại Biển Đông của Donald Trump hôm 4/12, theo Guardian.

“Vẫn còn quá sớm để khẳng định bất kỳ dự đoán nào nhưng tôi đã nhìn thấy mây đen đang dồn về đường chân trời”, Shi nói. “Điều này đương nhiên không hay chút nào”.

Đề cập tới loạt chỉ trích mới nhất về Bắc Kinh trên mạng xã hội của tổng thống đắc cử Donald Trump, Shi nói:

“Những lời này một lần nữa nhắc nhở truyền thông Trung Quốc và phần lớn các học giả Trung Quốc, thậm chí cả nhiều quan chức chính phủ Trung Quốc, rằng những dự đoán trước đây của họ về lập trường của Trump và chính sách đối ngoại với Trung Quốc của ông ta có phần lạc quan thái quá”. 

“Chính phủ Trung Quốc, giống như đa số chính phủ các quốc gia khác, không hiểu rõ Trump cũng như những chính sách ông ta sẽ thực hiện. Tuy nhiên, những sự kiện xảy ra tuần trước chắc chắn khiến họ thêm lo ngại về Trump”.

Những ngày sau khi Donald Trump đắc cử, các chuyên gia chính sách đối ngoại của Trung Quốc nhận định chiến thắng này là cơ hội hiếm có để viết lại quan hệ căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh.

“Ông ấy tốt hơn là Clinton”, Shen Dingli, giáo sư quan hệ quốc tế, đại học Phục Đán, Thượng Hải, nói. “Chúng ta phải hoan nghênh ông ấy”.

Sau khi Trump đăng chỉ trích mới nhất về Bắc Kinh, thái độ trên đã thay đổi.

“Dốt nát. Khó chịu”, Shen nhận xét về chỉ trích mới nhất của Trump cũng như quyết định điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn của tổng thống đắc cử Mỹ hôm 2/12. 

“Nếu ông ta còn tiếp tục gọi Đài Loan là một quốc gia, chúng tôi sẽ cắt đứt quan hệ với ông ta”, Shen nổi giận. “Tôi không biết chính phủ sẽ làm gì nhưng nếu là tôi, tôi sẽ đóng cửa đại sứ quán Trung Quốc (tại Mỹ)”.

Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng cuộc điện đàm với học giả Đài Loan thể hiện sự non kém, thiếu kinh nghiệm trong xử lý các vấn đề ngoại giao của Trump. Tuy nhiên, sau chỉ trích mới nhất của Trump, nhiều người đã nghĩ lại. 

Một số học giả Trung Quốc cho rằng động thái này của Trump đã được tính toán cẩn thận, nhằm báo hiệu cho Bắc Kinh biết Trump sẽ giữ thái độ cứng rắn với Trung Quốc.

“Tôi chắc chắn 100% đó không phải là quyết định ngẫu hứng”, một chuyên gia về chính sách đối ngoại giấu tên nói. Ông này cho rằng, cuộc gọi đã được nhóm chuyển giao quyền lực của Trump và quan chức Đài Loan bàn bạc kỹ lưỡng trong nhiều tuần.

Chuyên gia Shi ở đại học Nhân dân Bắc Kinh thừa nhận ông bối rối bởi động thái này của Trump.

“Một mặt, tôi không tin ông ấy dám thay đổi các chính sách của Mỹ với Đài Loan cho dù rất muốn nhưng mặt khác, tôi vẫn nghĩ rằng ông ấy có thể. Tôi không rõ Mỹ sẽ tỏ thái độ cứng rắn thế nào với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan. Thái độ cứng rắn liều lĩnh như vậy sẽ làm quan hệ hai nước ‘cực kỳ căng thẳng'”, Shi nói.

“Kết luận rút ra sau cuộc điện đàm này là, Trung Quốc nên hiểu Trump là kẻ lá mặt lá trái”, biên tập viên Global Times, ấn phẩm phụ của People’s Daily, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, bình luận.

Xem thêm: Những mối làm ăn của Trung Quốc với Donald Trump

Hồng Hạnh

CÓ THỂ TẬP CẬN BÌNH THÀNH CÔNG TRONG CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH ? – BS

18 Th11

 

Posted by adminbasam on 17/11/2014

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

16-11-2014

Từ ngày lên ngôi vào tháng 11 năm 2 012, tới nay đã được 2 năm, Tập cận Bình bắt đầu một « Chương trình cải cách rộng lớn », đi đến việc thanh trừng 182 000 công chức Nhà nước, Đảng và Quân đội, trong đó có 40 người Thứ trưởng và nhiều Tướng tá.

Có người cho rằng chương trình cải cách này sẽ thành công. Nhiều ý kiến khác thì hoàn toàn ngược lại, cho rằng không thành công mà còn có thể đi đến sự sụp đổ của chế độ.

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề.

Tập cận Bình và chương trình cải cách của ông

Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.

Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.

Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?

Chương trình cải cách của Tập cận Bình

Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.

Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại « Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…

Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182 000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.

Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.

Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.

Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ và áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.

Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.

Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.

Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.

Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.

Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.

Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.

Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.

Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .

Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.

Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.

Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?

Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?

Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4 788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4 000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.

Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.

Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách ti êu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.

Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.

Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2 013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.

Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?

Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất xét.”

Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.

Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.

Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.

Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.

Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:

“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”

Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.

Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.

Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.

Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.

Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng

Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.

Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.

Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:

Năm 105, đời nhà Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy. Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.

Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )

Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.

« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.

Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh:

Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».

Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.

Sự việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.

Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.

Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).

Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.

Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.

Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.

Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.

Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.

Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.

Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.

Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.

Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ chế độ cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.

Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.

Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.

Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).

Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.

Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.

Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.

Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.

Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.

Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.

Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.

Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.

Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.

Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.

Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.

Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu

Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?

Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:

Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.

Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.

Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.

Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: « Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.

Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)

Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.

Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?

Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »

Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.

Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?

Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.

                             Paris ngày 14/11/2 014

                       Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

 

Nhân quyền: Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách đối phó tình – RFI

8 Th7

 

Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Genève. Ảnh : Liên Hiệp Quốc

Một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Genève. Ảnh : Liên Hiệp Quốc

Photo ONU
Tú Anh

Trong bối cảnh Trung Quốc công khai lấn chiếm biển đảo, uy hiếp ngư dân, gây phẫn nộ trong công luận thì chính quyền Việt Nam thả một số tù nhân lương tâm. Nhưng cùng lúc đó hàng loạt nhà hoạt động nhân quyền và đấu tranh chống… Trung Quốc xâm lược lại bị bắt . Việt Nam, thành viên Ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc, dường như không có chính sách nhất quán tôn trọng quyền con người ? Làm cách nào để cải thiện tình trạng này ?

 

Ông Vũ Quốc Dụng, giám đốc điều hành Mạng lưới những người bảo vệ nhân quyền VETO!, Frankfurt, Đức Quốc phân tích.

RFI : Gần đây có một số nhà hoạt động nhân quyền bị két án nặng nhưng được thả trước thời hạn như Đỗ Thị Minh Hạnh, Cù Huy Hà Vũ, Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu, … nhưng cũng có nhiều trường hợp bị bắt như Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Bắc Truyển,Nguyễn Hữu Vinh (AnhBaSam), hay bị kết án tù như Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, … Mạng lưới Những Người Bảo vệ Nhân quyền Veto của anh nhận định ra sao về hiện tượng này ? Phải chăng đây là chính sách “nhân quyền” theo kiểu của VN ? 

Vũ Quốc Dụng : Trước hết VETO! hoan nghênh chính quyền Việt Nam đã trả tự do cho một số tù nhân chính trị có án tù dài dù với bất cứ lý do nào. Trong các trường hợp vừa được trả tự do ông Định rõ ràng được giải quyết vì lý do nhân đạo và cho về để chết ở nhà. Ông Cầu có quá nhiều bệnh và đã ở tù quá lâu nên việc giam giữ ông chỉ làm mất uy tín của chính quyền. Ông Cù Huy Hà Vũ được trả tự do để đi ra nước ngoài nghiên cứu chứ không phải để chữa bệnh như chính quyền tuyên bố nhưng rõ ràng có sự thương lượng với các chính quyền khác. Cô Minh Hạnh là trường hợp duy nhất được trả tự do vô điều kiện. Chúng tôi nhận xét rằng tuy quyết định trả tự do cho họ đã được thỏa thuận từ lâu nhưng việc xúc tiến đã kéo dài quá nhiều tháng trời và như thế là không cần thiết trong những điều kiện giam giữ tồi tệ.

Bên cạnh việc trả tự do trước thời hạn cho khoảng một chục người bất đồng chính kiến thì chúng tôi lại thấy có những dấu hiệu ngược chiều về nhân quyền. Trường hợp của những người bị bắt và xử án nêu trên là một khía cạnh. VETO! còn quan tâm đến cách hành xử hàng ngày của giới công an, an ninh, viện kiểm sát và tòa án. Chúng tôi lo ngại khi thấy những người bảo vệ nhân quyền Việt Nam vẫn bị hành hung, câu lưu trái phép, o ép trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và kết luận rằng chính quyền Việt Nam chưa thực sự có một thay đổi về chính sách nhân quyền.

Vâng, nói chung, đây là chính sách giải quyết các vấn đề nhân quyền theo kiểu Việt Nam, tiến một bước rồi lùi một bước và làm cho người ta không nhận ra được một đường lối nhất quán và càng khó thấy một chính sách thực tâm cải thiện nhân quyền.

RFI : Nhưng vì sao VN phải trả tự do, phải nhẹ tay trong một số trường hợp?

Vũ Quốc Dụng : Quan sát những trường hợp vừa được trả tự do VETO! phân biệt những yếu tố thuận lợi và yếu tố quyết định. Nếu không phân biệt chúng ta sẽ bị rối vì không rõ các tác động và không đặt được trọng tâm.

Theo tôi có nhiều yếu tố thuận lợi. Thí dụ như các gia đình nạn nhân đã vượt qua được sự hãi và e dè để tìm cách đưa trường hợp của thân nhân ra công luận và nhờ thế tạo được dư luận chống lại những cáo buộc vô lý. Thứ hai là việc gia tăng hiểu biết chuyên sâu về nhân quyền đã giúp cho các gia đình và người hoạt động hiểu rõ ngôn ngữ nhân quyền quốc tế và tìm được sự đồng cảm với quốc tế. Thứ ba là việc gia nhập Hội đồng Nhân quyền LHQ khiến cho Việt Nam phải tự kiềm chế nhiều hơn trong cách ứng xử. Thứ tư là tình hình an ninh quốc phòng ở Biển Đông và suy thoái kinh tế đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải đi tìm sự hỗ trợ nhiều hơn về mặt ngoại giao của quốc tế.

Tuy nhiên những yếu tố thuận lợi trên là yếu tố chung cho mọi người. Để giải quyết cho môt trường hợp cụ thể nào đó chúng ta cần môt hay nhiều chính phủ đặt trường hợp này lên bàn cân quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Nếu chỉ có lời kêu gọi xuông mà không có sự quyết tâm thể hiện bằng việc đặt ra những điều kiện cụ thể thì vấn đề sẽ không được giải quyết. Yếu tố quyết định chỉ xảy ra khi chúng ta vận động được các chính phủ và quốc hội tại các quốc gia dân chủ phương Tây nhập cuộc. Chỉ khi đó vụ việc mới bắt đầu chuyển động theo hướng giải quyết.

RFI : Nếu VN chỉ đối phó tình thế, thì làm cách nào để Hà Nội phải có một chính sách nhân quyền nhất quán hơn?

Vũ Quốc Dụng : Theo tôi, chúng ta cần sách lược thực dụng, vừa gia tăng thêm các trường hợp được giải quyết theo tình thế bên cạnh việc cải thiện các nguyên tắc nhân quyền. Sách lược này giúp chúng không bỏ một ai và đồng thời cải thiện tình trạng chung.

Biết rằng những người được trả tự do là số ít nhưng đó là những trường hợp mạnh giúp chúng ta dễ vận động được sự hỗ trợ của quốc tế. Nếu xét cho cùng thì Việt Nam không thiếu trường hợp mạnh vì chính sách đối xử với tù nhân hiện rất tồi tệ. Chúng ta biết bà Mai Thị Dung hiện đang lâm bệnh hiểm nghèo mà không được chữa trị ở một trại giam xa nhà 2000 km. Hoặc vụ ông Huỳnh Anh Trí vừa từ trần vì bị nhiễm HIV-AIDS. Những vụ này đang tố cáo việc dùng bệnh tật để hành hạ và áp lực với tù nhân chính trị.

Những trường hợp tù nhân hiện nay đều có thể được liên kết chặt chẽ với việc thực hiện Công ước Chống Tra tấn mà Việt Nam vừa tham gia. Bước tới đây, ngoài việc phê chuẩn Công ước này, Việt Nam cần phải nội luật hóa nó, sàng lọc tất cả những điều luật vi phạm nó, đặt ra những điều luật hình sự để ngăn chặn việc tra tấn, đối xử dã man với tù nhân và phải giáo dục những viên chức có tiếp xúc với tù nhân.

Muốn thực hiện hữu hiệu những công việc này xã hội dân sự Việt Nam cần phải được đóng vai trò giám sát chính quyền. Việc thực hiện đàng hoàng Công ước chống Tra tấn sẽ là bước đầu thể hiện một cam kết đáng kể và giúp Việt Nam cải thiện hình ảnh nhân quyền của mình.

RFI : Tổ chức VETO! có những hoạt động nào để cải thiện tình hình nhân quyền Việt Nam?

Vũ Quốc Dụng : Chương trình giúp đỡ các Người Bảo vệ Nhân quyền Việt Nam của VETO! bao trùm lên 4 lãnh vực: bảo vệ trong khi hoạt động nghĩa là trước khi bị bắt, huấn luyện về nhân quyền, hỗ trợ gia đình tù nhân và giải cứu tù nhân. Trong mỗi lãnh vực như vậy VETO! có nhiều hoạt động khác nhau.

Chẳng hạn trong lãnh vực giải cứu tù nhân VETO! luôn cập nhật một danh sách tù nhân chính trị để cung cấp cho và vận động các chính phủ và cơ quan quốc tế. Ngoài ra VETO! còn hỗ trợ cho thân nhân tù nhân về mặt pháp lý, kinh tế và tinh thần để họ vượt qua giai đoạn khó khăn và giúp họ trở thành những Người Bảo vệ Nhân quyền. VETO! cũng vận động yểm trợ quốc tế cho các tù nhân thông qua như qua các chính phủ, LHQ, các tổ chức khu vực như Liên minh Âu Châu (EU) hay ASEAN.

Một chương trình quan trọng của VETO! là tìm dân biểu bảo trợ cho họ. Chúng ta hiểu là các chính phủ phương Tây luôn cần có một quốc hội thúc ép để không chểnh mảng việc bảo vệ giá trị nhân quyền bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi về kinh tế, an ninh, chính trị, quốc phòng. Khi có người tù nào được giải cứu VETO! tiếp tục bảo vệ khi họ muốn hoạt động trở lại. Đây là một chương trình lâu dài mà khi có dịp chúng tôi sẽ giải thích các lãnh vực khác nhau mà VETO! đang thực hiện.

 
Vũ Quốc Dụng – Hội VETO! – Frankfurt (Đức)

 
07/07/2014
by Tú Anh
 
 

Việt Nam cần một chính sách Biển Đông minh bạch và dứt khoát – RFI

28 Th1
 
Biểu tình tại Hà Nội ngày 19/01/2014 nhân kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Biểu ngữ nêu ba sự kiện : 19/01/1974 - Chiếm Hoàng Sa; 17/02/1979 - Tấn công biên giới phía bắc; 14/03/1988 - Chiếm một số đảo ở Trường Sa.
 
Biểu tình tại Hà Nội ngày 19/01/2014 nhân kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Biểu ngữ nêu ba sự kiện : 19/01/1974 – Chiếm Hoàng Sa; 17/02/1979 – Tấn công biên giới phía bắc; 14/03/1988 – Chiếm một số đảo ở Trường Sa.
 
REUTERS/Kham

Bước leo thang mới nhất của Trung Quốc tại Biển Đông là quyết định buộc tàu cá nước ngoài phải xin phép khi vào Biển Đông. “Vùng cấm tàu cá” là bước tiếp theo trong chiến lược thôn tính Biển Đông mà Bắc Kinh khởi sự từ năm 1974 khi xua quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam. Theo giới phân tích, muốn chặn mưu đồ của Trung Quốc, Việt Nam phải có một chính sách Biển Đông rõ ràng, công khai và dứt khoát để được hậu thuẫn của khu vực và quốc tế.

Ngay từ cuối năm 2013, giới chuyên gia quốc tế đã nhận định rằng Biển Đông đang dậy sóng trở lại vì các hành động hung hăng áp đặt chủ quyền của Trung Quốc. Thực tế đầu năm 2014 này đã xác minh nhận các nhận xét đó, với một loạt động thái quyết đoán của Bắc Kinh tại Biển Đông, bất chấp phản ứng của các láng giềng như Việt Nam hay Philippines, cũng như của Mỹ và Nhật.

Đối với các nhà quan sát, bước leo thang quan trọng mới nhất của Trung Quốc tại Biển Đông là quyết định – được trình bày là của tỉnh Hải Nam, nhưng thực ra là của ê kíp Tập Cận Bình – thông qua vào cuối năm 2013, nhưng bắt đầu có hiệu lực từ đầu tháng 01/2014.

Theo các quy định này, thì kể từ nay, tàu bè nước ngoài, nếu muốn vào hoạt động đánh cá hay nghiên cứu thủy sản trong vùng Biển Đông mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ, đều phải xin phép trước, bằng không sẽ bị chặn bắt, công cụ bị tịch thu, chủ tàu bị phạt nặng.

Trung Quốc tung tàu tuần duyên và tàu hải quân xuống tuần tra và tập trận ở Biển Đông

Về hình thức thì luật lệ mới này không có gì đáng nói, nhưng vấn đề then chốt là vùng biển mà Trung Quốc cho là của họ lại bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông, nằm bên trong đường lưỡi bò mơ hồ mà họ đơn phương vẽ ra để đòi quyền kiểm soát, bất chấp các tuyên bố chủ quyền ngược lại của các láng giềng.

Và để cho thấy là họ thực sự là chủ nhân vùng Biển Đông, chính quyền Trung Quốc liên tiếp cho tàu lớn nhỏ xuống tuần tra tại vùng Biển Đông, cả tàu tuần duyên lẫn tàu quân sự, không chỉ ở vùng quần đảo Hoàng Sa gần Hải Nam mà cả tại khu vực Trường Sa. Hải quân Trung Quốc cũng liên tục tập trận thị uy trong vùng
Ví dụ mới nhất là chuyến tuần tra – và tập trận – tại Biển Đông từ ngày 20/01 đến ngày 25/01/2014 của một đội tàu bao gồm ba chiến hạm hiện đại của Hải quân Trung Quốc, do Tư lệnh Hạm đội Nam Hải đích thân chỉ huy.

Các hành động quyết đoán trên đây của Trung Quốc dĩ nhiên đã bị nhiều nước phản đối, đặc biệt là Philippines và Việt Nam, hai quốc gia thường xuyên bị Bắc Kinh đánh giá là « kỳ đà cản mũi » đối với chiến lược bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông.

Tuy nhiên nếu Philippines đã có những phản ứng dứt khoát, tức thời trước các động thái của Bắc Kinh, thì cách phản đối của Việt Nam lại chậm và thận trọng hơn. Phải hai ngày sau khi có thông tin về quy định của tỉnh Hải Nam liên quan đến tàu cá nước ngoài, Việt Nam mới có phản ứng.

Ngày 10/01/2014, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị cho rằng hành động của Trung Quốc « bất hợp pháp và vô giá trị, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông ». Phía Việt Nam do đó đã yêu cầu Trung Quốc « hủy bỏ những việc làm sai trái nói trên ».

Hé mở cánh cửa cho kỷ niệm 40 năm ngày Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng

Ngoài phản ứng ngoại giao nhắm thẳng vào Trung Quốc kể trên, giới quan sát đặc biệt ghi nhận sự kiện chính quyền Việt Nam hé mở cánh cửa cho việc kỷ niệm 40 năm trận đánh Hoàng Sa vào năm 1974, khi Trung Quốc xua quân chiếm nốt phần quần đảo do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào lúc ấy kiểm soát.

Gọi là hé mở vì các sinh hoạt kỷ niệm đã bị hạn chế, thậm chí lễ kỷ niệm dự trù tại Đà Nẵng, nơi có huyện đảo Hoàng Sa, đã bị hủy vào giờ chót vì lý do « kỹ thuật ». Bên cạnh đó, có tin là một số bài phân tích về sự kiện này cũng bị từ chối đăng, cho dù báo chí đã được quyền công khai đề cập đến sự kiện này.

Đối với Giáo sư Ngô Vĩnh Long, một quan sát viên kỳ cựu về Trung Quốc và Biển Đông thuộc Đại học Maine Hoa Kỳ, phản ứng của Việt Nam trước các động thái mới nhất của Trung Quốc tại Biển Đông quá thận trọng, nếu không muốn nói là yếu ớt so với tầm mức nghiêm trọng của tình hình.

Trong một bài phỏng vấn dành cho Ban Việt Ngữ RFI vào cuối năm ngoái, Giáo sư Long đã từng tỏ ý quan ngại về sự kiện Biển Đông bắt đầu dậy sóng trở lại sau một thời gian ngắn yên tĩnh, đặc biệt là đối với Việt Nam.

Phải chứng tỏ rằng Việt Nam là nước tôn trọng luật quốc tế chứ không như Trung Quốc

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, hành động leo thang tranh chấp mà Bắc Kinh vừa thể hiện qua quyết định nhắm vào tàu cá nước ngoài đi vào Biển Đông nằm trong một chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc nhằm thôn tính cả vùng biển rộng lớn này, mà nước bị thiệt hại nhiều nhất chính là Việt Nam.

Để đối phó với âm mưu ngày càng lộ rõ của Trung Quốc, các phương thức đấu tranh thận trọng hiện hữu sẽ không mang lại hiệu quả, mà Việt Nam cần phải dứt khoát hơn, minh bạch hóa và công khai hóa chính sách Biển Đông của mình, chứng tỏ rõ ràng với thế giới rằng Việt Nam là một quốc gia tôn trọng luật lệ quốc tế, trái với các hành vi phi pháp của Trung Quốc.

Trả lời phỏng vấn của RFI, Giáo sư Long đã lấy làm tiếc rằng phía Việt Nam đã không khéo tranh thủ dịp kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc dùng võ lực chiếm Hoàng Sa để tố cáo trước quốc tế ý đồ của Bắc Kinh sử dụng vùng lãnh thổ bị họ cưỡng chiếm làm địa bàn khai triển chiến lược khống chế toàn khu vực, nêu rõ là Hoàng Sa không đơn thuần là là một vấn đề song phương Việt Nam Trung Quốc, mà liên quan đến an ninh toàn khu vực và thế giới.

VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO LÁNG GIỀNG CỦA TRUNG QUỐC

30 Th12

Posted by basamnews on December 30th, 2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 24/12/2013

TTXVN (Hong Kong 23/12)

Tờ “Đại Công báo” (Hong Kong) dẫn nguồn tạp chí “South Reviews” có trụ sở tại Thâm Quyến (Trung Quốc) cho biết ngày 24/10/2013, Trung Quốc tổ chức Hội nghị công tác ngoại giao láng giềng với sự có mặt của toàn bộ 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Chính sách ngoại giao với quy mô cấp cao chưa từng có và hàm ý “Nước lớn là nhân tố quyết định, láng giềng là quan trọng hàng đầu” đã có sự điều chỉnh khéo léo. Bên cạnh đó, với việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, dư luận cho rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thức được tính chất gay go, phức tạp của công tác đảm bảo an ninh xung quanh, trong tương lai nhiều khả năng sẽ tập trung giải quyết vấn đề hiện thực nhất của an ninh quốc gia nước này, đó là quan hệ với các nước láng giềng.

 

Hiện nay, hợp tác kinh tế Đông Á đang phát triển với tốc độ nhanh, tuy nhiên một thời gian dài trở lại đây, Mỹ đóng vai trò trung tâm trong trật tự an ninh của khu vực này, đồng thời chia rẽ quan hệ an ninh và kinh tế khu vực mà Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy nhất thể hóa. Trong tương lai làm thế nào để hình thành và duy trì lâu dài “chuỗi giá trị châu Á Thái Bình Dương” phụ thuộc vào việc Trung Quốc liệu có thể bù đắp những khiếm khuyết về an ninh, về vấn đề này, tạp chí “South Reviews” đã có buổi phỏng vấn ông Chu Phương Ngân, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu chiến lược láng giềng và toàn cầu của Trung Quốc trực thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược châu Á-Thái Bình Dương và toàn cầu, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Dưới đây là nội dung buổi phỏng vấn:

South Reviews: Hội nghị cấp cao về công tác ngoại giao láng giềng cách đây không lâu liệu có cho thấy sách lược ngoại giao đối với quan hệ láng giềng của Trung Quốc đã có sự thay đổi? Điều này có bắt nguồn từ những phán đoán thực tế về tranh chấp đảo Điếu Ngư (Nhật Bản cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Senkaku) cũng như Biển Đông không ngừng xảy ra trong hai năm gần đây?

Chu Phương Ngân: Trong quá khứ, chính sách ngoại giao của Trung Quốc có một cách nói đơn giản là: “Nước lớn là nhân tố quyết định, láng giềng là quan trọng hàng đầu”. Giữa nhân tố quyết định và quan trọng hàng đầu có sự khác biệt nhất định. Mặc dù “láng giềng” là quan trọng nhất, song trong cách nói trên lại đặt sau “nước lớn”. Hội nghị công tác ngoại giao láng giềng phát đi một tín hiệu rõ ràng rằng tính quan trọng của láng giềng ngày càng nổi bật. Trong một thời gian dài trở lại đây, quan điểm của rất nhiều người là phải xuất phát từ góc độ ngoại giao với nước lớn để suy xét ngoại giao láng giềng, đồng thời hi vọng thông qua việc ổn định quan hệ Trung-Mỹ để ổn định tình hình các nước xung quanh. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của tư duy này không cao, hoặc ít nhất tại thời điểm trước mắt, tình hình đã nảy sinh những thay đổi nhất định.

Quy mô và cách thức của hội nghị lần này cho thấy mức độ coi trọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với công tác ngoại giao láng giềng. Có thể nói đây là một hội nghị về công tác láng giềng có quy mô cấp cao chưa từng thấy trong lịch sử. Từ đây phát đi một tín hiệu, ngoại giao láng giềng cần thoát ra khỏi cái bóng của ngoại giao nước lớn và cần phải có tính độc lập hơn nữa so với trước đây. Trên thực tế, quan điểm mới về ngoại giao láng giềng cũng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với ngoại giao nước lớn. Nếu Mỹ muốn tiến hành các hành động tiêu cực đối với Trung Quốc, Mỹ cần phải bắt đầu với các nước láng giềng của Trung Quốc. Nếu như môi trường xung quanh ổn định, không gian hành động của Mỹ ở các nước láng giềng của Trung Quốc cũng bị thu hẹp, điều này có lợi cho việc cải thiện vị thế, tình hình của Trung Quốc so với Mỹ.

Tình hình trước mắt cho thấy quan hệ Trung-Mỹ trong tương lai gần tương đối rõ ràng: vừa không để xảy ra vấn đề lớn, vừa khó có thể đạt được cục diện tốt đẹp. Trong bối cảnh này, nếu ngoại giao láng giềng không có sự khởi sắc rõ rệt, thời gian căng thẳng trong quan hệ Trung-Mỹ có thể dài hơn; ngược lại, trong bối cảnh Mỹ cảm thấy không có nhiều biện pháp hữu hiệu đối với Trung Quốc cũng như khó có thể tiến hành thuận lợi các công việc với các nước láng giềng của Trung Quốc, Trung Quốc và Mỹ càng có khả năng thực hiện sự phân chia quyền lực một cách hòa bình.

Chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc có một sự thay đổi lớn là tiến hành phân biệt về tính chất đối với các quốc gia này, thực hiện chính sách ngoại giao có sự khác biệt nhất định. Quan điểm công tác ngoại giao trước đây của Trung Quốc là làm bạn với tất cả các nước, mong muốn cải thiện quan hệ với tất cả các quốc gia. Quan điểm này không thể nói là không hay, song, trong thực tế lại rất khó thành công. Từ cách thức của chính sách hiện nay có thể thấy thái độ của Trung Quốc đối với mỗi quốc gia Đông Nam Á có sự khác biệt.

South Reviews: Sự khác biệt cụ thể ở đây là gì?

Chu Phương Ngân: Tôi nghe được một cách nói rằng chính sách hiện nay của Trung Quốc đối với các điểm nóng xung quanh là “đối đầu với Nhật Bản, kiềm chế Philippines và lôi kéo Việt Nam”. Đương nhiên, bất kỳ cách nói nào như thế này đều khó tránh khỏi việc đơn giản hóa, vì chính sách trên thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Song, đằng sau cách nói này là chính sách của Trung Quốc đối với Nhật Bản, Philippines và Việt Nam có sự khác biệt về mức độ, thậm chí về phương hướng chính sách cũng tồn tại sự khác biệt nhất định.

Cụ thể, hiện nay tính đối kháng của Trung Quốc đối với Nhật Bản đã dữ dội hơn một chút và Trung Quốc vẫn duy trì áp lực đối với Philippines, song nếu Philippines thay đổi thái độ, khả năng thỏa hiệp giữa Trung Quốc và Philippines sẽ lớn hơn. Trong khi đó, những suy tính của Việt Nam trong các tranh chấp có liên quan lại càng phức tạp. Thái độ của Việt Nam đối với Mỹ vừa có sự lợi dụng công khai, vừa có tâm lý đề phòng tiềm tàng. Nói chung, Việt Nam chỉ coi Mỹ như một công cụ lợi dụng, Việt Nam không giống như Nhật Bản, Philippines kiên quyết đứng về phía Mỹ và Việt Nam cũng sẽ không dễ dàng đi xa đến vậy trong việc đối kháng với Trung Quốc.

Mỹ có 5 nước đồng minh chính thức là ở xung quanh Trung Quốc là Nhật Bản, Hán Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan. Trong đó, lập trường của Thái Lan và Hàn Quốc đã có sự thay đổi. Năm 2012, Trung Quốc và Thái Lan đã thành lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, lãnh đạo Thái Lan cũng từng bày tỏ quan hệ Thái Lan-Trung Quốc quan trọng hơn quan hệ Thái Lan-Mỹ. Đối với Hàn Quốc, sau khi Tổng thống Park Geun-hye lên nhậm chức, quan hệ giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đã có sự phát triển nhanh chóng. Đối với Australia – một nước được bao bọc xung quanh bởi biển – xét về địa lý, đây là một quốc gia vô cùng an toàn. Australia không phải đối mặt với những uy hiếp an ninh từ bên ngoài, hơn nữa, quan hệ kinh tế giữa nước này và Trung Quốc rất mật thiết, khoảng 30% xuất khẩu của nước này là sang thị trường Trung Quốc. Do vậy, Australia không dễ dàng công khai đối đầu với Trung Quốc. Ngoài ra, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam – những đối tác an ninh của Mỹ ở khu vực cũng đều chú ý duy trì sự cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Điều này có lợi cho Trung Quốc trong việc triển khai cục diện ngoại giao láng giềng.

South Reviews: Hiện nay Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy RCEP (quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực), có bình luận cho rằng Trung Quốc cảm nhận nguy cơ từ đàm phán TPP (Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương), nhằm thiết lập thương mại khu vực, quy tắc đầu tư do Mỹ làm chủ đạo nên muốn thông qua việc xây dựng RCEP để cân bằng với Mỹ. Điều này có phải cho thấy sự cạnh tranh quyền chủ đạo kinh tế ở khu vực châu Á Thái Bình Dương đã bước vào giai đoạn mới, trong đó bao gồm những cạnh tranh an ninh phức tạp?

Chu Phương Ngân: Trọng tâm hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương hiện nay là sự tranh giành quyền chế định quy tắc kinh tế. Việc Mỹ thúc đẩy TPP có mục đích chính trị tương đối rõ ràng, nhằm lôi kéo các lực lượng phản đối, đối đầu với Trung Quốc, đồng thời lợi dụng ưu thế của Mỹ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh để phát động và mượn lực lượng kinh tế ở khu vực này đế sửa đổi, loại bỏ quy tắc kinh tế vốn có của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thiết lập lại quy tắc mới. Nhìn từ quá trình xây dựng TPP có thể thấy một số điểm không phù hợp với tính toán kinh tế. Bởi vì TPP là hiệp định kinh tế khu vực vô cùng chặt chẽ, có tiêu chuẩn cao. Nếu chỉ xuất phát từ tính toán kinh tế, Mỹ nên tìm kiếm các thực thể kinh tế tiếp cận được các yêu cầu nội hàm của TPP để đàm phán, song việc lựa chọn đối tượng kết nạp TPP hiện nay của Mỹ không căn cứ theo điều kiện kinh tế của đối tượng, mà căn cứ theo mức độ quan hệ gần gũi, hay xa cách và giá trị lợi dụng chiến lược.

Từ góc độ hợp tác khu vực, cho dù là “10+3” hay “10+6”, Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đều có sức ảnh hưởng lớn trong đó. Mỹ không bằng lòng với mô hình “10+X” đã định, nếu như để mô hình hợp tác kinh tế như thế này tự do phát triển, quan hệ giữa Trung Quốc-ASEAN sẽ ngày càng mật thiết. Đặc biệt là Khu vực thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN phát huy vai trò thúc đẩy rất lớn trong mối liên hệ kinh tế giữa. Trung Quốc và ASEAN.

Trong mô hình hợp tác kinh tế khu vực vốn có, cùng với sự xoay chuyển của thời gian, sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với lĩnh vực kinh tế ở khu vực ngày càng lớn. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của đại đa số các nước láng giềng và khối ASEAN. Trong 5 nước đồng minh của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, ngoài Philippines, đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ cũng là Trung Quốc. Nếu xu thế này tiếp tục phát triển thì nó sẽ là cục diện Mỹ không mong đợi. Trong bối cảnh này, ý đồ của Mỹ là lôi kéo một số quốc gia ủng hộ chính trị, an ninh Mỹ; đồng thời loại Trung Quốc ra ngoài, thiết lập một bộ quy tắc kinh tế nhằm đạt được hiệu quả khiến Trung Quốc nằm ngoài lĩnh vực hợp tác kinh tế. Có thế nói, Mỹ đã đạt được thành công nhất định với cách làm này.

Trong hợp tác kinh tế khu vực, việc bị đứng ra bên ngoài, đặc biệt là hoàn toàn mất đi quyền chế định quy tắc hợp tác kinh tế khu vực là một cục diện mà Trung Quốc hết sức lo ngại. Dù vậy hiện nay, Trung Quốc không gia nhập TPP, đồng thời đang nỗ lực nâng cao tiêu chuẩn hành vi kinh tế của mình; như vậy, một khi Trung Quốc chuẩn bị gia nhập TPP thì nước này sẽ không cảm thấy khó khăn, đồng thời cái giá phải chấp nhận trong một thời gian ngắn sẽ không lớn. Ở một mức độ nhất định, khu thí điểm thương mại tự do Thượng Hải cũng có thể thúc đẩy kinh tế Trung Quốc chuyển biến trên một số phương diện, tăng cường hơn nữa khả năng thích ứng của kinh tế nước này đối với sự thay đổi tình hình kinh tế quốc tế.

Dưới áp lực của TPP, khối ASEAN cũng cảm thấy căng thẳng. Trong số 10 quốc gia khối ASEAN, một số nước đã tham gia đàm phán TPP như Singapore, Brunei, Malaysia, Việt Nam. Về mặt khách quan, tình trạng này sẽ phân chia khối ASEAN thành hai nhóm: nước thành viên TPP và nước phi thành viên TPP. Kết quả của việc này sẽ là làm suy yếu sự đoàn kết của khối ASEAN cũng như tính thống nhất về mặt kinh tế của khối này. Để nâng cao sự đoàn kết, ASEAN đã phát động RCEP và nhận được sự ủng hộ của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, ở một mức độ nhất định, RCEP có thể làm dịu xung đột do TPP mang lại, tránh được tình trạng Trung Quốc bị cô lập trong lĩnh vực hợp tác kinh tế khu vực. Diện mạo hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai, một phương diện quan trọng được quyết định bởi các cơ chế hợp tác kinh tế khác nhau, cơ chế hợp tác nào thúc đẩy càng nhanh thì hiệu quả càng lớn. Giữa RCEP và TPP, hiệp định nào tiến triển nhanh, thì quy tắc kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương sẽ có sự khác biệt rất lớn.

Trong quá trình này, xét một cách tổng thể, tình hình của Nhật Bản tương đối có lợi. Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, là đối tượng tiềm tàng trong hợp tác kinh tế khu vực mà Mỹ, ASEAN và Trung Quốc đều muốn tranh thủ. Nhật Bản nghiêng về phía nào, phía còn lại sẽ cảm thấy áp lực. Nhưng xét về lâu dài, chỉ cần Trung Quốc duy trì được xu thế tăng trưởng kinh tế, vấn đề sẽ không nghiêm trọng.

South Reviews: Gần đây, Nhật Bản thông qua Dự thảo Đặc khu chiến lược quốc gia, nghe nói, việc xây dựng chính sách rất giống với Khu thương mại tự do Thượng Hải. Liệu có phải Nhật Bản cũng muốn đọ sức với Trung Quốc về quyền chủ đạo kinh tế?

Chu Phương Ngân: Xét về tương quan lực lượng Trung – Nhật có thể thấy Nhật Bản “dưới cơ” Trung Quốc. Năm 2010, chỉ số GDP của Trung Quốc vượt qua Nhật Bản. Chỉ trong vòng chưa đến 3 năm, chỉ số GDP năm 2013 của Trung Quốc đã gấp 1,5 lần của Nhật Bản, thậm chí còn cao hơn. Nếu thêm vài năm nữa, chỉ số này của Trung Quốc sẽ gấp 2 lần của Nhật Bản. Điều này sẽ tạo ra áp lực rất lớn đối với Nhật Bản. Dự thảo Đặc khu chiến lược quốc gia của Nhật Bản cho dù có nhằm vào Khu thương mại tự do Thượng Hải hay không đều thể hiện sự gấp rút của Tokyo. Đặc biệt là Học thuyết kinh tế “3 mũi tên” của Thủ tướng Shinzo Abe đã phóng đi 2 mũi tên, chính sách tiền tệ với trung tâm là hạ giá đồng yên Nhật và chính sách tài chính nhằm thúc đẩy chi tiêu công đã đạt được thành quả nhất định. Song mũi tên thứ ba với nội dung chủ yếu là “thành lập Đặc khu kinh tế chiến lược” liệu có đạt được hiệu quả hay không hiện rất khó nói. Quan sát phản ứng của Nhật Bản từ 2 năm trước có thể thấy chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe đối với Trung Quốc không để lại khoảng trống xoay sở lớn. Thủ tướng Abe luôn cho rằng trong cuộc đọ sức giữa hai nước Trung – Mỹ, ưu thế vẫn nghiêng về phía Mỹ. Một năm trở lại đây, Thủ tướng Abe liên tục có các chuyến thăm đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Nga, song lại lựa chọn thái độ đối kháng tương đối cứng rắn với Trung Quốc. Tuy nhiên, tình hình nửa cuối năm nay cho thấy cục diện không có lợi cho Nhật Bản. Sự phục hồi kinh tế Mỹ không lạc quan, cộng thêm các vấn đề như trần nợ công, Chính phủ đóng cửa nên Tổng thống Mỹ không tham dự Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), đồng thời hủy bỏ chuyến công du Đông Á đã khiến cho uy thế của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương bị suy yếu. Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường lần lượt có chuyến công du đến Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, vốn là những nền kinh tế quan trọng của khối ASEAN. Tình hình của Trung Quốc, Mỹ tại khu vực Đông Nam Á đã có sự thay đổi lớn. Điều này chắc chắn động chạm đến Nhật Bản. Do vậy, thái độ hiện nay của Nhật Bản hòa dịu hơn, lập trường về vấn đề sửa đổi Hiến pháp cũng lung lay.

South Reviews: Cho dù tốc độ phát triển nhất thể hóa kinh tế Đông Á như thế nào đi nữa cũng không thoát khỏi bối cảnh thực tế là hệ thống đồng minh quân sự do Mỹ chủ đạo tách rời với hợp tác kinh tế do Trung Quốc tích cực chủ đạo. Cục diện hai trung tâm liệu có phải là trở ngại lớn nhất trong trật tự lành mạnh của khu vực Đông Á?

Chu Phương Ngân: Mỹ là trung tâm trong trật tự an ninh Đông Á, song Mỹ không phải quốc gia châu Á. Điều này có nghĩa là trung tâm an ninh của khu vực được đặt ngoài phạm vi khu vực này, đây là một quan hệ an ninh không bình thường. Đây là kết quả hòa giải chiến lược mà giữa các quốc gia chủ đạo của khu vực Đông Á chưa thể thực hiện một cách hiệu quả và có chiều sâu. Mục đích Mỹ thống trị trật tự an ninh khu vực Đông Á không nằm ở chỗ làm thế nào để khu vực này trở nên an toàn hơn đối với tất cả các quốc gia thành viên, mà là duy trì vị thế thống trị của Mỹ, đề phòng cục diện trong khu vực xuất hiện một quốc gia nào đó nắm vai trò chủ đạo. Để duy trì vị thế của mình ở khu vực Đông Á, về khách quan, Mỹ cần duy trì “đủ nhiều” các mâu thuẫn khó giải quyết ở khu vực này. Gần 2 năm nay, sau khi tranh chấp quyền chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải đối với vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku và vấn đề Biển Đông xảy ra, tác dụng phụ của

cách thức thao túng mâu thuẫn khu vực Đông Á của Mỹ ngày càng tăng. Do vậy, hai trung tâm này không thể tiếp tục duy trì.

Xét về lâu dài, chỉ khi Trung Quốc thực hiện hòa giải sâu sắc về vấn đề chính trị và an ninh với các quốc gia xung quanh, loại bỏ các hiểm họa an ninh thì mới có thể có trật tự an ninh lành mạnh và có khả năng duy trì. Ví dụ, ở châu Âu, đầu tiên thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO để giải quyết vấn đề an ninh trong nội bộ khối, sau đó tiến hành nhất thể hóa kinh tế trên cơ sở này, do vậy, hợp tác kinh tế tương đối thuận lợi. Nếu như khu vực Đông Á có thể giải quyết tốt vấn đề an ninh, hợp tác kinh tế sẽ phát triển tương đối lành mạnh. Trong tương lai gần, Trung Quốc cần mang lại nhiều hơn nữa các “sản phẩm công cộng” về an ninh và kinh tế cho khu vực để giúp xây dựng môi trường hợp tác khu vực tốt đẹp hơn.

South Reviews: Trung tâm kinh tế và trung tâm an ninh trong tương lai có tồn tại tình trạng chia rẽ lâu dài không?

Chu Phương Ngân: Hai sự thật cơ bản là ưu thế an ninh lâu dài của Mỹ và ưu thế kinh tế đang lên của Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì trong một khoảng thời gian trong tương lai, song quan hệ giữa hai nước không nhất định sẽ phát triển theo xu hướng chia rẽ. Hiện nay, cả Trung Quốc và Mỹ đều ý thức được hậu quả của cơ cấu “nhị nguyên”. Mỹ cho rằng chỉ có ưu thế an ninh thì chưa đủ, nên đẩy nhanh các bước hình thành TPP, trong khi Trung Quốc cũng đang cải thiện quan hệ với các nước xung quanh. Xu thế hiện nay là Trung Quốc muốn xóa bỏ ưu thế an ninh của Mỹ, ngược lại Mỹ có ý đồ làm suy yếu ưu thế kinh tế của Trung Quốc. Trong tương lai, quan hệ an ninh và quan hệ kinh tế của khu vực sẽ ngày càng đan xen phức tạp. Thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh phải bù đắp yếu điểm an ninh của nước này, ý thức rõ ràng rằng không thể phát triển lâu dài dưới ưu thế an ninh của Mỹ. Nếu như yếu điểm an ninh của Trung Quốc được bù đắp, Mỹ khó mà giữ được vị thế độc quyền trong lĩnh vực an ninh khu vực Đông Á. Nếu như Trung Quốc có được ưu thế tại “Chuỗi đảo thứ nhất”, nếu như lực lượng quân sự Mỹ có thể thực sự rút khỏi chuỗi đảo này, hai nước sẽ hình thành trạng thái tương đối cân bằng trong lĩnh vực an ninh. Trong bối cảnh này, Mỹ vẫn có ưu thế an ninh trên toàn cầu, song sự cân bằng lực lượng ở khu vực Đông Á đã có thay đổi. Sự phát triển hòa bình của Trung Quốc mang lại đảm bảo an ninh quân sự mạnh mẽ. Trung Quốc và Mỹ cũng có thể tiến hành hợp tác ở khu vực này trên cơ sở cân bằng quan hệ song phương.

South Reviews: Hội nghị trung ương 3 khóa 18 quyết định thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, điều này có ảnh hưởng gì đối với quan hệ của Trung Quốc và các quốc gia xung quanh?

Chu Phương Ngân: Cá nhân tôi cho rằng việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia không thể nói là nhằm ứng phó với tình hình an ninh xung quanh mà Trung Quốc hiện đang phải đối mặt, bao gồm các vấn đề như đảo Điếu Ngư/Senkaku, Biển Đông… Trên thực tế, cách nói như vậy đã đánh giá thấp vai trò của ủy ban An ninh Quốc gia. Về chiến lược, với tư cách là một thiết kế thượng tầng, ủy ban này có thể tập trung nhận thức chung ở cấp bậc cao nhất, làm cho chiến lược trỗi dậy trong tương lai của Trung Quốc trở nên rõ ràng. Về chính sách, ủy ban này có thể tăng cường năng lực thực hiện chính sách ngoại giao xung quanh; tập trung lực lượng, thống nhất các nguồn lực khác nhau, cân đối 2 phương diện trong nước và quốc tế tốt hơn; quán triệt chính sách có liên quan đến chiến lược. Đồng thời, về mặt khách quan, việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia sẽ khiến cho an ninh quốc gia trở thành hạt nhân của lợi ích quốc gia và được bảo vệ có hiệu quả; đồng thời cũng sẽ thay đổi sự kỳ vọng của một số quốc gia xung quanh trong quá trình thiết lập quan hệ với Trung Quốc trong tương lai, khiến cho các nước này lĩnh hội rõ ràng hơn ý chí, năng lực cũng như quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc tế, an ninh quốc gia của Chính phủ Trung Quốc.

* * *

Theo báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (Hong Kong), một cuộc chiến tranh lạnh về mặt tâm lý bị làm trầm trọng thêm bởi sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang ngày càng trở thành một vấn đề đáng quan ngại.

Việc công bố trên mạng Internet bộ phim tài liệu có tên “Cuộc đấu tranh lặng lẽ” do Đại học Quốc phòng thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) sản xuất, đã làm dấy lên nhiều tranh cãi. Bộ phim tài liệu này tuyên bố rằng Trung Quốc đang bị Mỹ thâm nhập và phá hoại giống như Liên Xô từng gặp phải trước khi sụp đổ.

Đây là một sự trái ngược đáng chú ý đối với những tuyên bố của Trung Quốc trên trường quốc tế, nơi các nhà lãnh đạo nước này đã nhiều lần nói rằng họ không tìm cách trở thành bá chủ thế giới. Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương thậm chí đã nói rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nên giống như mối quan hệ “giữa vợ và chồng”. Vậy thì có một câu hỏi là: Đâu mới là Trung Quốc thực sự? Với việc mua và sửa chữa lại tàu sân bay Varyag và đặt tên là tàu Liêu Ninh cùng những tranh chấp với Nhật Bản xung quanh chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ở biển Hoa Đông, Trung Quốc dường như đang gây ra sự nghi ngờ và phản đối từ cộng đồng quốc tế.

Ba thập kỷ bùng nổ kinh tế đã đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về mặt tổng giá trị sản phấm quốc nội (GDP), và nhiều người Trung Quốc đang cảm thấy rất giàu có đồng thời muốn tiếp quản thế giới. Thế hệ lãnh đạo cấp cao mới (hầu hết là các cựu Hồng Vệ binh) đang tiếp thêm ngọn lửa chống lại “những âm mưu của nước ngoài” và “sự thâm nhập của nước ngoài”, vận dụng tốt những kỹ năng chiến đấu mà họ đã học được trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông: chỉ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại mới có thể bảo vệ người dân Trung Quốc khỏi bị nước ngoài làm nhục lần nữa.

Đã đến lúc Trung Quốc thức tỉnh. Có bao nhiêu người bạn – những người bạn thực sự – mà họ có, cả xa lẫn gần?

Trong khi đó, Nhật Bản dường như áp dụng hiệu quả hơn trụ cột chính sách ngoại giao mới của họ là “vòng cung tự do và thịnh vượng”, thiết lập các mối quan hệ gần gũi với Ấn Độ, Philippines, Việt Nam, và gần đây thậm chí là với Nga, thông qua cuộc họp của các ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng. Chúng ta cũng nên đề cập đến vấn đề Nhật Bản đã di chuyển trụ sở Lực lượng Phòng vệ Mặt đất đến một căn cứ quân sự của Mỹ và Mỹ đã triển khai máy bay chiến đấu Raptor F-22, máy bay trực thăng Osprey và tên lửa Patriot trên toàn lãnh thổ Nhật Bản.

Có vẻ cứ như thể là chiến tranh lạnh đã quay trở lại, chỉ khác là địch thủ đã thay đổi từ Liên Xô thành Trung Quốc.

Trung Quốc, mặt khác, dường như thay đổi ở bên trong, trở lại với tư tưởng Chủ nghĩa cộng sản Mao Trạch Đông, thẳng tay đàn áp “những người tung tin đồn” trên Internet và tổng giam những nhân vật bất đồng chính kiến, chỉ làm bạn với một số ít quốc gia bị cô lập và lạc hậu. Phải đối đầu với những tình hình nguy hiểm như vậy, đã đến lúc Trung Quốc phải chậm lại.

Một cuộc chiến tranh với Nhật Bản sẽ dẫn đến những hậu quả có thể nhìn thấy trước (trong số nhiều hậu quả) như sau: hàng tỷ USD lãng phí vào việc tăng cường mua sắm các loại vũ khí; hàng tỷ USD tiền vốn bay đến Mỹ; lực lượng quân sự nắm giữ quyền lực; giá nhà ở tại Trung Quốc và Nhật Bản không thể kiểm soát; nhiều người thiệt mạng; và các căn cứ Mỹ sẽ được duy trì ở Đông Á trong 100 năm tới.

Vậy làm thế nào để có thể tránh được một kịch bản như vậy? Trước hết, những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam cần cảm thấy rằng thật là ngu xuẩn khi tiến tới chiến tranh với “cường quốc số một ở Đông Á”, hoặc để tranh giành một số bãi đá cằn cỗi.

Trong thực tế, các quốc gia này cùng có chung đặc điểm và truyền thống văn hóa, và các chế độ của họ đều dựa trên cơ sở một chính quyền trung ương vững mạnh, về mặt kinh tế, họ là những nước phù hợp nhất để thành lập một thị trường chung và nhiều nước đã thiết lập những chuỗi sản xuất phức hợp và các mạng lưới thị trường trong khu vực.

Sự hợp tác không chỉ duy trì hòa bình, mà nó cũng có thể dẫn đến những cơ hội vô hạn cho tất cả các bên để cùng chia sẻ các thị trường, các nguồn tài nguyên tự nhiên và con người, cách quản lý và bí quyết quản trị.

Nếu như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có thể tạo thành trụ cột của “Cộng đồng Đông Á” – giống như Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Bắc Mỹ – không chỉ họ sẽ là người có lợi, mà thế giới cũng vậy. Những lợi ích của một cách tiếp cận như vậy là rõ ràng, nhưng các nhóm lợi ích đặc biệt, chẳng hạn như quân đội, sẽ không để điều đó xảy ra; ngược lại, họ đang tìm kiếm một cuộc chạy đua tiến tới chiến tranh.

Đặc biệt là Trung Quốc, quốc gia đang phải đối mặt với các vấn đề như tham nhũng, ô nhiễm môi trường, già hóa dân số và các xung đột ở Tân Cương, Tây Tạng. Những vấn đề này có thể đẩy Trung Quốc rơi vào bẫy thu nhập trung bình và ngừng tăng trưởng kinh tế.

Điều cấp bách hơn là tập trung vào các biện pháp chi tiết để giải quyết ngay lập tức những vấn đề này thay vì theo đuổi một “Thế kỷ Trung Quốc”. Việc thành lập cơ chế nào đó giống như một “Cộng đồng Đông Á” có thể cho phép Trung Quốc học hỏi những công nghệ tiên tiến và bí quyết sản xuất của Nhật Bản và Hàn Quốc, và có thể thoát khỏi cái bẫy đó.

Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong hơn 30 năm qua, phần nhiều trong số đó là nhờ sự chấm dứt thời kỳ Chiến tranh Lạnh và sự trợ giúp của một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa. Và đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho Trung Quốc trở thành “công xưởng thế giới” trong lĩnh vực sản xuất. Tại sao nhiều người Trung Quốc không nhìn thấy điều này và thay vào đó hãy tiếp quản thế giới.

Đúng là có sự phân phối bất bình đẳng chiếc bánh phát triển, đơn giản là bởi vì Trung Quốc là một quốc gia lớn như vậy. Trong khi các khu vực ven biển gần như theo kịp một số nước giàu, những khu vực sâu trong nội địa vẫn còn nghèo và lạc hậu. Việc hiện đại hóa toàn bộ đất nước cần phải có thời gian. Trong tiến trình lâu dài này, sẽ có sự lo lắng và đôi khi là các cuộc đấu tranh xuất phát từ bất bình đẳng khu vực và bất bình đẳng thu nhập, gây nên xung đột bên trong và xung đột bên ngoài.

Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không quốc gia nào có thể trở thành một siêu cường hoặc thậm chí là cường quốc khu vực mà không có những người ủng hộ và những người bạn. Đối với Trung Quốc, để phát triển, sự hợp tác của Nhật Bản và các nước láng giềng khác là điều quan trọng. Không có điều này, cái gọi là “Giấc mộng Trung Hoa” sẽ không bao giờ trở thành hiện thực.

Còn đối với Nhật Bản, cũng sẽ không thể có hòa bình thực sự hoặc tăng trưởng bền vững nếu không có sự hợp tác với Trung Quốc./.

 

 

Chính sách xoay trục của Mỹ trong bối cảnh căng thẳng với TQ – VOA

25 Th12
 
Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden công du các nước Đông Á nhằm trấn an các đồng minh Nhật Bản và Nam Triều Tiên về kế hoạch của Mỹ tăng cường các tài nguyên cho khu vực này

Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden công du các nước Đông Á nhằm trấn an các đồng minh Nhật Bản và Nam Triều Tiên về kế hoạch của Mỹ tăng cường các tài nguyên cho khu vực này

 
CỠ CHỮ +

23.12.2013

Hoa Kỳ trong năm 2013 đã tiến hành các bước để chuyển tài nguyên quân sự, ngoại giao và kinh tế sang Châu Á, trong khuôn khổ chính sách xoay trục sang Á châu, tuy nhiên chính sách này đã bị chệch hướng vì những sự xung đột giữa các đồng minh và một nước Trung Quốc có thái độ gây hấn hơn.

Chuyến đi của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden sang Đông Á nhằm mục đích trấn an các đồng minh Nhật Bản và Nam Triều Tiên về kế hoạch của Mỹ tăng cường các tài nguyên cho khu vực này.

Tuy nhiên, quyết định của Trung Quốc bất ngờ nới rộng khu vực phòng không chồng chéo với các vùng lãnh hải đang tranh chấp tại biển Hoa Đông trở thành đề tài nóng được bàn cãi. Phó Tổng Thống Biden:

“Thay mặt Tổng Thống Hoa Kỳ, tôi muốn khẳng định rõ ràng rằng chúng tôi không công nhận khu phòng không này. Việc Trung Quốc tuyên bố khu phòng không không ảnh hưởng mảy may đến các hoạt động của chúng tôi. Chúng tôi cũng nhấn mạnh rõ ràng rằng Hoa Kỳ trông đợi Trung Quốc sẽ không có hành động nào có thể tăng căng thẳng và tăng nguy cơ căng thẳng leo thang.”

Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Hoa Kỳ tỏ thái độ thách thức bằng cách điều máy bay quân sự bay vào khu vực này, trong khi Nam Triều Tiên cũng nới rộng khu phòng không của mình, trùng lắp một phần với khu phòng không mà Trung Quốc mới tuyên bố.

Ông Dan Pinkston thuộc Nhóm nghiên cứu Khủng hoảng Quốc tế cho rằng nguy cơ đối với các phi cơ dân sự do quyết định của Trung Quốc nới rộng khu phòng không- ADIZ, đã bị phóng đại quá mức.  

“Trung Quốc không phục vụ bất cứ lợi ích nào khi can thiệp vào bất cứ hoạt động nào như thế. Vấn đề ở đây dĩ nhiên là các phi cơ quân sự. Tôi tin Trung Quốc sẽ đòi quyền tài phán để can thiệp hay có hành động chống các phi cơ nước ngoài bay chung quanh các đảo đang trong vòng tranh chấp trong Biển phía Đông Trung Hoa. Nhưng họ có thực sự muốn leo thang căng thẳng, hay ra tay bằng một hành động thù nghịch hay không. Tôi không tin họ muốn điều đó trong lúc này. Nhưng nếu thực sự muốn thì có lẽ Trung Quốc có khả năng làm điều đó.”

Ngoài ra, để khẳng định sức mạnh quân sự, Trung Quốc đã đưa hàng không mẫu hạm mới của nước này vào vùng biển phía Nam Trung Hoa, tức Biển Đông, nơi Bắc Kinh đang có tranh chấp chủ quyền với Brunei, Malaysia, Philippine, Đài Loan và Việt Nam.

Giữa lúc Phó Tổng Thống Mỹ đang thực hiện chuyến công du Á Châu, một tàu chiến Trung Quốc đã cắt ngang một tàu chiến Mỹ có trang bị tên lửa hành trình, buộc tàu Mỹ phải đổi hướng để tránh va chạm.

Muốn đối phó với sự trỗi lên của Trung Quốc, Seoul và Tokyo đã phải hàn gắn các quan hệ song phương.  Ngoài ra, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã chủ trì một hội nghị ASEAN trong tháng 12, như một phần của nỗ lực thắt chặt quan hệ với các nước láng giềng từng tố cáo Nhật Bản là không thừa nhận các hành động hiếu chiến của mình trong thời Thế Chiến thứ Hai.

Hội nghị thượng đỉnh Nhật-ASEAN nêu bật nhu cầu tự do hàng hải trên biển và trên không, là một cách để nhắc tới những quan tâm trong khu vực liên quan tới Trung Quốc.

Chính sách đối ngoại đu dây của Việt Nam – BS

13 Th10

Chính sách đối ngoại đu dây của Việt Nam

Posted by basamnews on October 13th, 2013

East Asian Forum

Tác giả: Dennis C McCornac – Đại học Loyola Maryland

Người dịch: Huỳnh Phan

12-10-2013

Cách tiếp cận chính sách đối ngoại mới của Việt Nam, mà một số nhà phân tích đã gán cho là ‘thêm bạn, bớt thù’, phản ánh vị trí bấp bênh như một con chim trên dây giăng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. 

Trong vài tháng qua, các quan chức Việt Nam đã tổ chức một số cuộc họp cấp cao với các nhà lãnh đạo của cả hai nước này. Vào cuối tháng 7, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến Washington để thảo luận về quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với Tổng thống Barack Obama, làm nổi rõ mối quan hệ đã được cải thiện giữa hai cựu thù theo chiến lược ngày càng chú trọng tới châu Á của Mỹ. Hơn một tháng sau đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và nhắc lại chính sách lâu dài và nhất quán về củng cố và tăng cường quan hệ láng giềng và hợp tác với Trung Quốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Cơn lốc ngoại giao này là bằng chứng cho thấy Việt Nam mong muốn duy trì mối quan hệ kinh tế và quân sự ổn định và bình thường với cả Trung Quốc và Mỹ, một cái gì đó đặc biệt quan trọng trong điều kiện trước đây Việt Nam đã từng có xung đột với mỗi nước này trong lịch sử, và cũng cho thấy tầm quan trọng của hai nước này đối với mục tiêu của Việt Nam muốn hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam lo lắng về sự trỗi dậy của Bắc Kinh, và chính sách đối ngoại mới của họ là hướng tới việc chống lại ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong khu vực. Nhưng về mặt ý thức hệ, Việt Nam thấy thoải mái với Trung Quốc hơn với Mỹ. Còn về mặt kinh tế, Trung Quốc là một thị trường lớn, một nguồn giúp đỡ tài chính và một mô hình phát triển. Điều này đã đặt Việt Nam ở một vị trí không dễ chịu. Một quan chức chính phủ Việt Nam đã mô tả Việt Nam như đang đánh đu trên một sợi dây, do Trung Quốc giữ một đầu và Mỹ giữ đầu kia. 

Một vấn đề về chính sách đối ngoại tiếp tục gây tai họa cho mối quan hệ Việt – Trung liên quan đến việc cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa. Vấn đề quan trọng nhất đang đe dọa là nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh hai quần đảo này. Mặc dù trữ lượng đã qua kiểm chứng chưa xác định rõ, dự báo lạc quan nhất từ Trung Quốc cho thấy nguồn tài nguyên dầu tiềm năng của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và có thể lên đến 213 tỉ thùng dầu và khu vực này cũng rất giàu khí đốt tự nhiên. Cả hai quốc gia đã dự tính tới khả năng thực hiện hành động quân sự. Nhưng bây giờ, họ đã cam kết đàm phán một cách hòa bình tìm giải pháp bất chấp sức ép của những thành phần dân tộcchủ nghĩa ở cả hai bên vẫn kiên định về các vấn đề chủ quyền

Căng thẳng kinh tế giữa hai nước cũng có thể phá hỏng mối quan hệ. Một mặt, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, đặc biệt là do nhu cầu vô độ của Trung Quốc về hàng hóa và các nguồn tài nguyên. Duy trì tăng trưởng kinh tế cho một quốc gia gần 1,4 tỉ công dân đòi hỏi một lượng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, phần lớn trong số đó là phải nhập khẩu. Và vì Trung Quốc lùng sục khắp thế giới xây dựng các mối quan hệ kinh tế để bảo đảm nguồn cung cấp liên tục các mặt hàng như than đá, dầu thô, quặng sắt, nên việc họ tìm chỗ giúp đỡ ngay người láng giền gần gũi cũng là việc đương nhiên. 

Mặt khác, các cách biệt giữa hai nước, đặc biệt là về tầm cỡ kinh tế và quyền lực chính trị, có nghĩa là việc mở cửa thị trường không phải là một tình thế win- win đúng nghĩa. Lưu lượng hàng hóa Trung Quốc, cả buôn lậu qua biên giới lẫn nhập khẩu hợp pháp vào thị trường Việt Nam, đã tác động tiêu cực đến sản xuất trong nước đối với một số mặt hàng của Việt Nam, đặc biệt là hàng tiêu dùng. Mối quan ngại đặc biệt ở Việt Nam là phần lớn các hàng hoá này đều có chất lượng thấp, nguồn gốc không rõ ràng và có thể chứa các chất độc và các chất có hại khác cho sức khỏe con người. Một số sản phẩm có thể làm ra được tại Việt Nam, nhưng vẫn còn nhập khẩu vì có lợi về giá thành. Sự phụ thuộc vào nhập khẩu Trung Quốc này đã đẩy nhiều doanh nghiệp Việt Nam tới mức báo động và việc Việt Nam nương tựa quá nhiều vào thương mại với Trung Quốc dự kiến là chỉ có tăng lên theo thời gian. 

Tuy nhiên, ngoài những va chạm về kinh tế và tranh chấp lãnh thổ, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam gần đây đã được cải thiện, và tính chất hòa giải các cuộc họp mới đây giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã mở ra một giai đoạn tương đối yên tĩnh. Cả hai nước đều có vẻ mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ song phương tốt hơn, và việc cải thiện trong quan hệ Trung- Việt có vẻ không có khả năng gây tổn hại mối quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ. 

Tuy nhiên, bất cứ khi nào Trung Quốc hoặc Mỹ rung sợi dây mạnh bạo hơn, Việt Nam cảm thấy mình đang ở một vị trí bấp bênh hơn, không biết đầu dây nào là điểm tựa an toàn nhất. Nếu chính phủ Việt Nam muốn tiếp tục đứng thẳng thì phải tránh liên kết quá chặt với nước này mà buông lơi mối quan hệ với nước kia. 

Việt Nam hiện đang ở một thời điểm tương đối độc đáo trong lịch sử của mình. Đất nước thống nhất, và có đủ tiền đề kinh tế và chính trị để giữ một vai trò quan trọng trong khu vực. Nhưng sự trỗi dậy của tình cảm dân tộc dù ở Trung Quốc hay ở Việt Nam đều có thể báo trước nhiều thời kỳ rắc rối hơn trước mặt. Và như tuyên bố của một nhà ngoại giao Việt Nam, ‘Không ai nói ra một cách công khai, nhưng cái lôi kéo mỗi cuộc họp ở Đông Nam Á bây giờ là nỗi sợ hãi về việc khu vực sẽ như thế nào với sự khống chế của Trung Quốc’.

Dennis C McCornac là Giám đốc về các vấn đề toàn cầu tại Đại học Loyola Maryland. Ông chuyên về kinh tế và có hơn 20 năm kinh nghiệm sống ở Nhật Bản và Việt Nam.

Nguồn: East Asian Forum

%d bloggers like this: