Tag Archives: CHÍNH TRỊ

Văn hóa chính trị và lòng dân – VHNA

27 Th10

  •   BÙI ĐÌNH PHONG
  • Thứ hai, 09 Tháng 12 2013 23:31
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Văn hóa chính trị là điều kiện bảo đảm lòng dân và lòng dân là thước đo văn hóa chính trị

I

CHƯA CHẾT VỀ THỂ XÁC ĐÃ CHẾT VỀ ĐẠO ĐỨC

VI.Lênin có nói đại ý rằng con người có 3 cái chết: cái chết về thể xác, cái chết về chính trị và cái chết về đạo đức. Có những người chưa chết về thể xác nhưng đã chết về chính trị.

Thế giới và Việt Nam, xưa và nay đều có những con người như vậy.

Câu dẫn trên đây có liên quan đến văn hóa chính trị và lòng dân.

Bác Hồ dạy: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/Không sợ nghèo, chỉ sự lòng dân không yên”.

Tại sao lòng dân không yên? Không phải vì GDP xuống thấp. Không phải vì nghèo (mà nước ta có còn nghèo nữa đâu, là nước thu nhập trung bình). Vì văn hóa chính trị xuống cấp.

Sự xuống cấp của  văn hóa chính trị biểu hiện ở những khía cạnh nào?

Trước hết,ở tư duy và tư tưởng, cách suy nghĩ và xem xét vấn đề.

Văn hóa chính trị phải có một tư duy biện chứng, khoa học và cách mạng. Nhưng gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân nghe được nhiều phát ngôn chứa đựng kiểu tư duy phản biện chứng, phản khoa học, không có tinh thần cách mạng. Đó là những phát ngôn đổ lỗi cho khách quan, nhận lỗi tập thể và các cấp đổ lỗi cho nhau, mà không thấy trách nhiệm cá nhân. Xung quanh nhiều vụ việc nổi cộm gần đâycủa ngành y tế, nhiều phóng viên đề cập dư luận cho rằng Bộ trưởng y tế nên từ chức, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trả lời rằng vấn đề nghiêm khắc nhưng phải lý trí. Theo ông, “không phải việc xảy ra là nghĩ ngay từ chức”. Mà điều đầu tiên nghĩ tại sao tình hình lại như vậy, do chủ quan của ngành mình hay do khách quan, do thời kỳ mình chỉ đạo hay do nhiều thời kỳ dồn lại, quan trọng phải có một quyết tâm, lộ trình, kế hoạch làm sao tình hình tốt hơn với trách nhiệm của mình”. Ông cho rằng Bộ trưởng được Đảng phân công, Quốc hội – cơ quan quyền lực cho đại diện của nhân dân – phê chuẩn. Điều quan trọng nhất khi đứng ở cương vị của mình là làm hết trách nhiệm, tâm sức của mình. Ông khẳng định trước thông tin báo chí phản ánh đa chiều, rộng rãi, các bộ trưởng, lãnh đạo ngành đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân”.

Dư luận ái ngại và ngơ ngác về kiểu tư duy như vậy. Bài viết này không nói cụ thể việc từ chức hay không từ chức mà bàn về cách tư duy của lãnh đạo. Ở đây không phải là một việc xảy ra mà là mộtchuỗi sự kiện chứa đựng thiếu tinh thần trách nhiệm. Vấn đề không phải là Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn thì không thể không nói: “Tôi xin từ chức”. Đây là vấn đề thuộc văn hóa lãnh đạo, thuộc về tự trọng cá nhân. Một người lãnh đạo được Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn, khi tự thấy mình nhiều lần không hoàn thành trách nhiệm Đảng phân công, nhân dân giao phó, thì nói “xin từ chức” là chuyện bình thường, rất văn hóa, rất chính trị, rất con người. Còn chuyện có được từ chức hay không lại do nhân dân có cho phép hay không. Mà cũng không nên chờ nhân dân cho phép. Nếu mình thật sự có trách nhiệm với dân, với Đảng thì nên “đi trước” Đảng và nhân dân một bước trong việc từ chức. Đó mới thật sự là lý trí. Lý trí không nằm ở chỗ “kiên quyết rút kinh nghiệm”, “kiên quyết làm hết trách nhiệm”, “lãnh đạo đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân” hay “có văn bản chỉ đạo, chỉnh đốn, rà soát lại các quy định, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra…”.

Người dân cũng bàn đến tư duy, cách nghĩ, tầm nhìn của các đại biểu trong các cuộc sinh hoạt chính trị lớn của Đảng, Quốc hội khi một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng mà vẫn dành được nhiều phiếu tín nhiệm cao.

Thứ hai, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở chỗ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý nhà nước

 Dư luận nói nhiều về câu chuyện “con voi chui lọt lỗ kim”. Hoặc “mất bò mới lo làm chuồng”. Thật ra, chẳng phải “con voi”, “lỗ kim”; “chuồng” hay “bò” gì cả. “Chuồng” có nhiều và có từ lâu rồi nhưng có ai trông đâu và nếu có trông thì toàn là những người thiếu đạo đức. Cần phải nhấn mạnh và khẳng định rằng ở nước ta, hệ thống lãnh đạo, quản lý thuộc hệ thống chính trị là hoàn chỉnh nhất. Chúng ta buông lỏng quản lý và không có quản lý. Đến khi có vấn đề xảy ra thì lại chỉ đạo rà soát, kiểm tra, kiểm điểm…

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sự xuống cấp của văn hóa chính trị biểu hiện ở nạn tham nhũng và vấn đề lợi ích nhóm

 Nói không quản lý hay buông lỏng quản lý là một cách nói. Còn một cách nói khác là có quản lý theo kiểu lợi ích nhóm. Những người làm công tác quản lý biết cả, nhưng bao che, thông đồng vì được hưởng về lợi ích. Một cái ụ nổi sắt vụn một mình Dương Chí  Dũng không thể nuốt trôi mà phải có cả một nhóm. Một cơ sở thẩm mỹ viện ngang nhiên tồn tại mặc dù không có giấy phép vì nó nuôi cả một nhóm…

Thứ tư, chính sách không hợp lòng dân

 Vừa qua một số chính sách đưa ra không xuất phát từ thực tế, không tôn trọng quy luật khách quan, không hợp lòng dân. Những chính sách đó xuất phát từ ý chí chủ quan, chạy theo bệnh thành tích, và không loại trừ xuất phát từ lợi ích nhóm. Vì vậy, chính sách đưa ra bị ngay sự phản ứng dữ dội của dư luận, của nhân dân và cuối cùng phải bãi bỏ. Lại có loại chủ trương, chính sách đưa ra kiểu trên trời, biết không thực hiện được vẫn ban hành. Cho đến nay, không biết chúng ta đã phạt được bao nhiêu trường hợp nghe điện thoại ở cây xăng hay hút thuốc lá nơi công cộng?

Thứ năm, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở luật pháp không nghiêm

Người dân mong rằng việc xử lý tham nhũng và những người thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải noi theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh.  Người dạy: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì”. Và chính Người đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp vì tội tham nhũng. Tính văn minh của một nhà nước pháp quyền không thể để tình trạng như hiện nay, 70% vụ án tham nhũng lại được hưởng án treo, còn những vụ việc lặt vặt lại phải vào tù.

Sự xuống cấp về văn hóa chính trị của cá nhân nhà chính trị là cái chết về đạo đức. Văn hóa chính trị xuống cấp ở một số biểu hiện nêu trên làm cho lòng dân không yên, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Mà mất lòng tin là mất tất cả.

II

CÁI CHẾT GIEO MẦM CHO SỰ SỐNG

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc lớp người đặc biệt, cái chết gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt theo cách nói của Phiđen Caxtơrô.

Triệu người lặng lẽ xếp hàng trật tự cả ngày dưới trời nắng, thâu đêm đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở 30 Hoảng Diệu. Hàng vạn người đứng dọc đường tiễn biệt Đại tướng và có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là biểu hiện của lòng dân. Hình ảnh người dân xếp hàng đã được Hồ Chí Minh nói đến gần 70 năm trước: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Lòng dân với Đại tướng là biểu hiện rực rỡ nhất triết lý của Nguyễn Trãi về dân: “Chở thuyền là dân. Lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”.

Dân xếp hàng mấy ngày để được nhìn Đại tướng lần cuối cùng không chỉ là sức dân, trí dân, lòng dân, quyền của dân nói với người đã khuất mà quan trọng hơn là nói với chúng ta, những người có trách nhiệm phục vụ dân, công bộc của dân, đày tớ của  dân, những người chủ mang ý nguyện của trời.

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành văn hóa. Mà “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả; là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (Edouard Herriot). Văn hóa Võ Nguyên Giáp quy tụ được lòng dân, và vì vậy, mãi mãi là Đại tướng của lòng dân./.

Việt Nam tìm sự đổi mới đầy căng thẳng chính trị trong năm 2015 – BS

8 Th1

 

Posted by adminbasam on 08/01/2015

East Asia Forum

Tác giả: David Brown

Người dịch: Trần Văn Minh

06-01-2015

H1Việt Nam sẽ bắt đầu năm 2015 trên một nền tảng kinh tế khá ổn định. Nền kinh tế quốc gia phần lớn đã phục hồi từ sau những nỗ lực thiếu khôn ngoan của Hà Nội để giảm thiểu tác động của cuộc Đại Suy thoái năm 2009. Kinh nghiệm đáng ghi nhớ đó phô bày những yếu kém về cơ cấu mà, nếu không sửa chữa, có thể đẩy Việt Nam lặn ngụp trong bẫy thu nhập trung bình, không thể khai thác tiềm năng của khối dân số tương đối trẻ và có học thức của mình.

Năm 2015 sẽ là một năm đầy căng thẳng chính trị. Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ được tổ chức vào tháng 1 năm 2016 để làm mới ban lãnh đạo quốc gia. Những người nhắm vị trí hàng đầu đã vận động các tổ chức đảng cấp tỉnh và huyện để tìm sự hỗ trợ. Tựu trung chỉ là treo đầu dê bán thịt chó như mọi khi: bạn ủng hộ tôi và tôi sẽ chăm sóc bạn. Chuyện bảo kê là huyết mạch của Đảng.

Dù như thế, 2000 đại biểu hội tụ về Hà Nội có thể sẽ đặt Việt Nam vào một quỹ đạo mới. Bên trong và bên ngoài Đảng, có mối hy vọng sâu rộng rằng, một lần nữa, những thay đổi cơ cấu thực sự có thể xảy ra. Giới trí thức và quản trị của đất nước muốn nhìn thấy một bầu không khí tranh luận chính trị cởi mở hơn, các chính sách kinh tế thúc đẩy hoạt động kinh doanh tư nhân và không gian hoạt động rộng hơn cho các tổ chức tình nguyện.

Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ 6 từ bỏ nỗ lực điều hành một nền kinh tế chỉ huy theo mô hình Liên Xô để hướng về (kinh tế) ‘thị trường xã hội chủ nghĩa “, một sự hòa giải cho phép các doanh nghiệp tư nhân lấp vào những khoảng trống không được các doanh nghiệp nhà nước chiếm cứ. Đại hội lần thứ 7 năm năm sau (Liên Xô đã tan rã trong thời gian đó) phê chuẩn các chính sách nhằm giúp Việt Nam gia nhập vào các định chế khu vực và thế giới. Những thay đổi này, gọi chung là đổi mới – tạo ra một sự bùng nổ tiềm năng thương mại, đã kích hoạt tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 7 hoặc 8% mỗi năm trong gần hai thập niên.

Năm 2007 là một khúc quanh khác. Việt Nam được chấp nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới và các ngân hàng nước ngoài xếp hàng cho Việt Nam vay vốn. Sau đó, khi suy thoái kinh tế toàn cầu gây thiệt hại cho thị trường xuất khẩu của Việt Nam, chính phủ tiếp tục dồn vốn cho khách hàng vay trong nước, chủ yếu là các công ty nhà nước. Kết quả không phải là phát triển thêm nữa mà là hai cơn lạm phát, tăng mạnh và phá sản trong thị trường địa ốc, sự thất bại của kế hoạch 4 tỷ USD của chính phủ để biến Việt Nam thành một thế lực đóng tàu, và sự thừa nhận muộn màng rằng các công ty nhà nước của Việt Nam hấp thụ (hoặc độc quyền) các nguồn lực mà không tạo ra của cải.

Phải mất nhiều năm để chính quyền Hà Nội chui ra khỏi mớ bòng bong. Nhưng vào năm 2014, sự thể rõ ràng rằng lạm phát đã được kiểm soát, quốc gia vận hành trở lại với thặng dư thương mại ổn định và các đại công ty nước ngoài đặt cược vào Việt Nam như một khu vực nền tảng sản xuất công nghệ cao. Mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn còn khập khễnh do các khoản nợ kém hiệu quả, xếp hạng tín dụng của Việt Nam được cải thiện. Trong tháng 11, Hà Nội đã có thể tái tài trợ một khoản nợ đáng kể của chính phủ với các điều kiện tương đối thuận lợi.

Nhưng không phải tất cả đều tốt đẹp. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa rằng, vào cuối năm 2015 gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước sẽ được “cổ phần hóa” và đặt dưới kỷ luật (kinh tế) thị trường. Không có vẻ như ông có thể kích động được chuyện đó. Một thập niên trước, cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước của Thế giới Thứ ba bán ra dễ dàng. Ngày nay không còn như thế, các nhà đầu tư nước ngoài có vẻ không quan tâm đến việc mua cổ phần thiểu số trong doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam. Cần phải có thuốc mạnh hơn.

Ở mức độ cơ bản hơn, niềm tin vào khả năng của đảng để thực thi cải cách thật mong manh. Một chiến dịch chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đã hạ bệ hàng chục sai phạm trong khu vực nhà nước. Mặc dù vậy, tư bản bè phái và phe nhóm lợi ích vẫn còn là tính năng phổ biến của chế độ, đến nỗi khó có thể tưởng tượng một sự đồng thuận trong đảng để từ bỏ ‘kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa’.

Trong lịch sử, đảng đã thống trị tiến trình quyết định của Việt Nam. Dường như không còn là như thế nữa. Ngay bây giờ bộ máy chính quyền ở cấp trung ương và cấp tỉnh triển khai các quan chức có năng lực hơn và thường chủ động trong việc hình thành chính sách và tiến trình thông qua. Cho dù đây là một sự thay đổi đáng kể hay không sẽ được kiểm chứng trong thời gian chuẩn bị cho Đại hội Đảng thứ 12.

Các Đại hội Đảng thường hời hợt về chính sách. Chủ yếu họ quan tâm đến nhân sự và sự bảo bọc: ai sẽ thăng chức, ai không, và chuyện này ảnh hưởng đến hệ thống thế nào. Họ cẩn trọng trong việc duy trì một sự cân bằng giữa các phe phái và khu vực trong việc lựa chọn các đại biểu và sự phân chia số ghế trong Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương Đảng.

Đại hội Đảng lần thứ 12 có thể là ngoại lệ. Các nhà phân tích đã bàn cãi rằng phải chăng việc tạm hoãn phiên họp toàn thể Ủy ban Trung ương dự kiến vào đầu tháng 12 năm 2014 báo hiệu tình trạng bất ổn. Khi Quốc hội triệu tập vào năm tới, 10 trong số 16 thành viên của Bộ Chính trị sẽ đạt đến tuổi nghỉ hưu. Trong số những người hội đủ điều kiện để tiến chức vào Bộ Chính trị và các chức vụ hàng đầu của chính phủ, có sự khác biệt sâu sắc về định hướng chính sách.

Các lựa chọn kinh tế và làm thế nào để đối phó với tham nhũng, dĩ nhiên là chủ đề các cuộc cạnh tranh trong nội bộ đảng. Tư thế quốc tế của Việt Nam cũng tranh cãi như thế. Khoảng giữa năm 2014, hành động gây hấn của Trung Quốc để thiết lập quyền bá chủ của Bắc Kinh ở Biển Đông đã giáng một đòn nặng vào những người trong chính quyền Việt Nam, kẻ ủng hộ quan hệ chặt chẽ và tôn trọng Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính phủ Trung Quốc. Trong khi các đại biểu cứng rắn trước sự bắt nạt của Trung Quốc – cho dù phải nghiến răng chịu đựng hoặc chống lại Trung Quốc bằng cách tìm kiếm sự liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ – cũng sẽ ảnh hưởng phiếu bầu tại Đại hội thứ 12.

Các quyền tự do chính trị là một con bài chủ. Chế độ đã tăng cường bắt giữ và truy tố các blogger chính trị trong năm 2014, điển hình về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Mặc dù một số trong đảng nghi ngờ tính thiết thực của phương pháp cộng an trị được dùng để đối phó với các nhà bất đồng chính kiến quá khích, vài thành viên sẽ lên tiếng cho đồng bào mà hy vọng chân thật nhất của họ là chấm dứt sự cai trị độc đảng.

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, thường viết về chủ đề Đông Nam Á cận đại.

Biển Đông: Đương đầu với ‘công cụ chính trị’

21 Th11

 

Tại TQ, đã có những nhóm “học giả quốc doanh” với nhiệm vụ tuyên truyền các thông tin hay niềm tin mang tính chính trị, ngay cả khi những điều đó đi ngược căn cứ khoa học, logic khách quan hay chuẩn mực về đạo đức của giới hàn lâm.

>> Biển Đông: Một ‘mặt trận’ nóng bỏng khác

Khi khoa học thành công cụ

Tuy vai trò cộng đồng học giả có tầm quan trọng to lớn như vậy, song muốn phát huy hiệu quả không đơn giản. So sánh với Trung Quốc, giới học giả Việt Nam nói riêng và mặt trận tranh đấu học thuật của Việt Nam nói chung vẫn còn nhiều chênh lệch.

Trung Quốc hiện nay có tới 14 cơ quan nghiên cứu về Biển Đông ở tầm quốc gia được ưu tiên tài trợ bởi Cính phủ. Ngoài 14 cơ quan này, các trung tâm tư vấn chính sách ngoại giao được coi là tinh túy ở Trung Quốc cũng đang tiến hành những nghiên cứu riêng về biển Đông.

Ví dụ, Viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc đang tiến hành tài trợ một nghiên cứu về luật quốc tế liên quan tới Biển Đông. Các chuyên gia thuộc Viện KHXH Trung Quốc thì thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, báo chí nhằm đưa ra các lập luận bảo vệ cho lợi ích của Bắc Kinh tại các khu vực tranh chấp.

Thêm vào đó, do tầm quan trọng của chủ quyền biển đảo, hầu hết các bài nghiên cứu từ an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho đến mối quan hệ Trung – Mỹ đều được phía các học giả Trung Quốc lồng ghép vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền biển như là một hàm ý chính sách cho giới lãnh đạo. Kết quả là một sự bùng nổ các vấn đề nghiên cứu về biển Đông trong cộng đồng học giả và giới làm chính sách ở Trung Quốc và được Chính phủ tài trợ.

Việc tham gia ồ ạt từ phía các đơn vị có sự hỗ trợ của Nhà nước mang cả hai ý nghĩa, tích cực, lẫn tiêu cực, xoay quanh mức độ khách quan và khả tín của thông tin, quan điểm được phía học giả đưa ra.

biển Đông, nghiên cứu, học giả, Trung Quốc, Việt Nam, Viện Nghiên cứu
Đường lưỡi bò phi pháp của TQ

Đối với những người tin vào khả năng độc lập hoàn toàn của khoa học, thì cộng đồng học giả dường như là một cách tiếp cận hoàn hảo. Nó như một tấm gương cả “lý tính”, lẫn “lương tri” để soi sáng những vấn đề u mê và bế tắc mà chính trị quốc tế thường ngày vẫn loay hoay tìm kiếm giải pháp.

Nhưng ngược lại, đối với những người theo đuổi trường phái chính trị hiện thực (realpolitik), thì cộng đồng học giả, kiến thức hay một đề xuất khách quan nào đó đều có những động lực đằng sau. Động lực đó có thể là phe cánh lợi ích, theo đuổi sức mạnh hay tôn sùng một thứ chủ nghĩa dân tộc quốc gia không giới hạn trong các bài toàn chủ quyền lảnh thổ-lãnh hải.

Hai cách nhìn này phản ánh trong thực tế, đặc biệt trong trường hợp tranh chấp biển Đông, khi xuất hiện các nhóm “học giả quốc doanh” với nhiệm vụ tuyên truyền các thông tin hay niềm tin mang tính chính trị, ngay cả khi những điều đó đi ngược căn cứ khoa học, logic khách quan hay chuẩn mực về đạo đức của giới hàn lâm.

 

Trong thời gian qua, sự hình thành của các nhóm này làm nguy hại, hơn là thúc đẩy vai trò của cộng đồng học giả. Lý do đầu tiên và trên hết là nó làm phai mờ đi tính độc lập của nhà nghiên cứu, vốn lấy quy luật “khách quan khoa học” làm nguyên tắc hoạt động hàng đầu.

Có thể kể ra một vài thí dụ, như chuyện lồng bản đồ “đường lưỡi bò” vào các bài viết đăng trên các tạp chí khác chủ đề trên tạp chí quốc tế, hay mượn diễn đàn khoa học quốc tế để “tuyên truyền” theo xu hướng một chiều, bất chấp các ý kiến phản biện hay quan điểm ngược lại từ các học giả khác.

Trong bối cảnh liên kết khoa học như hiện nay, điều này còn làm giảm khả năng hợp tác với các học giả quốc tế cùng chia sẻ về một niềm tin hay một phương pháp luận nào đó, khi họ biết rằng sự hiện diện và công trình của mình đang bị sử dụng như một “công cụ kinh tế hay chính trị” để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Cần một khung hành động

Đối với Việt Nam, tận dụng vai trò của cộng đồng học giả quốc tế và tăng cường ngoại giao học thuật chắc chắn là công cụ không thể thiếu trong việc bảo vệ lợi ích trước những nước lớn hơn. Dựa trên thông tin, bằng chứng chuẩn xác chúng ta sẽ đưa ra được những nhận định, nghiên cứu khách quan, đúng đắn, có sức mạnh và sức thuyết phục cao.

Trong bối cảnh hiện nay, có lẽ sẽ là hữu ích nếu Việt Nam tăng cường thành lập các trung tâm nghiên cứu chuyên sâu khác ở các trường Đại học hay Viện nghiên cứu, từ đó tạo mối liên kết rộng rãi và sức lan tỏa mạnh mẽ hơn trong nghiên cứu Biển Đông. Tất nhiên, việc đầu tư để xây dựng một đội ngũ học giả đủ trình độ, sức mạnh bước vào cuộc chiến “học thuật hóa” và “ngoại giao học thuật” sẽ tốn nhiều thời gian và công sức.

Sẽ cần một chiến lược về trung và dài hạn để Việt Nam có thể làm chủ được “mặt trận” này. Trong đó một khung hành động cho việc lobby khoa học là một trong những điều kiện tiên quyết. Khung hành động được hiểu theo nghĩa pháp lý, lẫn điều kiện để có sự tương tương tác giữa nhà khoa học, chính khách và các nhóm xã hội. Nhóm vận động có thể tìm kiếm và tạo ra kiến thức khoa học để tăng sức mạnh cho quan điểm của mình và ngược lại, cộng đồng khoa học hoặc cộng đồng học giả có thể áp dụng những chiến lược đặc trưng của nhóm vận động, nhóm xã hội để gia tăng ảnh hưởng.

Mối quan hệ giữa cộng đồng học giả và các tổ chức quốc tế cũng như các nhóm xã hội là áp lực để sàng lọc các đề xuất chính sách phản logic, hoặc không khả thi.

Nguyễn Thế Phương – Nguyễn Việt Vân Anh

 

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa – VHNA

9 Th11

 

  •   Đỗ Lai Thúy
 

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa

 

Trong thế kỷ XX, nếu lấy chính trị và văn hóa như là hai chiều kích đối lập nhau trong một khung lịch sử, thì con đường của người trí thức Việt Nam diễn ra theo các chuyển động rất phức tạp. Tuy vậy, có thể khái quát thành những xu hướng cơ bản sau: 1) từ chính trị sang văn hóa; 2) từ văn hóa sang chính trị; 3) từ văn hóa đến văn hóa; 4) vừa chính trị vừa văn hóa. Trong các xu hướng này, con đường từ chính trị sang văn hóa, tuy không được số đông hành cước, nhưng lại là con đường phát lộ nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện đại, và có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành tầng lớp trí thức độc lập. Bởi vậy, suốt thế kỷ trước, người ta thường thấy một hiện tượng rất đáng lưu ý: một nhân vật đang mải mê hoạt động, sau một sự cố nào đó, liền từ giã sự nghiệp chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa. Phan Khôi là một trường hợp đầu tiên và tiêu biểu.

Phan Khôi (1887 – 1959) sinh ra trong một gia đình khoa bảng và chống Pháp. Thân sinh ông là Phan Trân, đỗ phó bảng năm 1891 dưới triều vua Thành Thái, làm quan đến tri phủ Diên Khánh, rồi vì bất hòa với viên công sứ Pháp ở Nha Trang, nên bỏ về hưu, khi chưa đầy 40 tuổi. Thân mẫu là Hoàng Thị Diệm, con gái Hoàng Diệu. Bà mất sớm, chỉ để lại hai con là Phan Khôi và cô Ba, vợ học giả Lê Dư, mẹ Hằng Phương nữ sĩ. Làng Bảo An quê ông thuộc Gò Nổi, một dải đất giữa hai nhánh, một của sông Thu Bồn và một của sông Vu Gia. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, nổi tiếng với các mặt hàng lụa, tuýt-xi. Nghề buôn bán, do vậy, cũng rất phát đạt. Vải, lụa, đường cát từ Gò Nổi vươn xa đến tận Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội. Bảo An, cũng như toàn tỉnh Quảng Nam, là quê hương của nhiều người hiển đạt. Nhưng, đây là một vùng đất mở với sự phát triển của thương mại và/qua các cừa sông, cảng biển, con đường duy nhất bấy giờ nối liền với thế giới Đông Á đang chuyển mình. Các thầy đồ Quảng, do vậy, sớm tiếp xúc với Tân thư, trở thành các nhà nho duy tân chống Pháp, như Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…

Phan Khôi, con của đất ấy, con của người ấy, tự nhiên phải đi theo truyền thống ấy. Ông học chữ Hán với Trần Quý Cáp, rồi trường Huấn, trường Đốc. Kỳ sát hạch nào cũng đỗ đầu. Ông nổi tiếng là một sĩ tử thông minh đất Gò Nổi. Nhưng, năm 1906, khi vác lều chõng ra Huế thi Hương, Phan Khôi chỉ đỗ tú tài. Ông uất ức cho rằng quan trường chấm thi hồ đồ, thậm chí còn làm thơ đả kích. Xem lại bản nháp các bài thi, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đều đánh giá cao, và đoán rằng khoa sau ông sẽ đỗ cử nhân, tiến sĩ. Nhưng Phan Khôi đã quyết tâm từ bỏ con đường khoa cử. Đây là lần thứ nhất, trên hành trình tìm đường của mình, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống lâu đời của gia đình, quê hương, xứ sở.

Quyết bỏ thi chữ Hán, Phan Khôi quay sang học tiếng Pháp với Phan Thành Tài, một người bà con trong họ tộc. Đồng thời, ông tranh thủ dạy quốc ngữ và chữ Hán cho trường Diên Phong, do Hội buôn Diên Phong mở để làm trụ sở hợp pháp cho phong trào Duy tân Quảng Nam. Cuối 1906, Phan Khôi làm một việc “động trời” bấy giờ là cắt bỏ búi tóc, biểu tượng thiêng liêng của các nhà cựu học, và làm bài “Vè cúp tóc” để vận động người khác. Ban đầu thì trong nhà phản ứng, ngoài đường chế giễu, nhưng chẳng bao lâu đã thành một phong trào: “Bỏ cái ngu này/ Bỏ cái dại này/ Cho khôn cho mạnh/ Học theo người Tây”. Năm 1907, Phan Khôi được phong trào Duy tân Quảng Nam gửi ra Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, vừa để tìm cách phát triển các hoạt động duy tân ở quê hương, vừa tranh thủ học thêm tiếng Pháp do Nguyễn Bá Học dạy. Ông còn sửa bài, viết bài cho Đăng cổ tùng báo, một tờ chữ Hán của trường. Công việc đang thuận lợi thì nhà cầm quyền Pháp đóng cửa Đông Kinh nghĩa thục và cấm Đăng cổ tùng báo. Phan Khôi chưa kịp quay về Quảng Nam thì bị bắt giải về quê. Lúc này, vụ “xin xâu” (chống sưu thuế) ở Quảng Nam bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện bị đi đày Côn Đảo. Phan Khôi cũng bị kết án 3 năm tù. Công cuộc vận động Duy tân bán công khai theo đường lối Phan Chu Trinh thế là bị dập tắt.

Ra tù, một mặt Phan Khôi lấy vợ, đẻ con để hoàn thành nghĩa vụ gia đình, mặt khác vẫn tham gia các vận động bí mật của Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Nhưng đến 1914, ông chấm dứt hẳn hoạt động này để đến năm 1916 ra Hà Nội lần hai, tìm con đường làm báo. Đầu tiên ông làm thư ký cho Công ty Vận tải Đường thủy của Bạch Thái Bưởi. Rồi nhận thấy đây không phải là đường đi của mình, Phan Khôi kiên quyết từ chối sự níu kéo của nhà tư sản dân tộc này, rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ở đây, ông gặp Nguyễn Bá Trác, người cùng quê và/ là bạn học cũ. Ông này đang chuẩn bị vào Huế nhậm chức, nên giới thiệu Phan Khôi vào thế chân mình ở báo Nam Phong. Thấy đây là cơ hội để mình có điều kiện phát triển một hướng đi, Phan Khôi nhận lời. Ngoài việc viết bài, biên tập cho phần Hán văn do Nguyễn Bá Trác để lại, Phan Khôi còn phụ trách chuyên mục “Nam âm thi thoại” chuyên giới thiệu, bình luận thơ. Thế là từ đây, Phan Khôi đi hẳn vào con đường làm báo chuyên nghiệp. Như vậy, đây là lần thứ hai, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống nữa của gia đình, quê hương, xứ sở, để đi theo một truyền thống khác, mà có thể lúc này mới chỉ là một phản/ phi truyền thống. Đó là sự từ bỏ con đường hoạt động chính trị, cả phong trào Duy tân bán công khai của Phan Chu Trinh, lẫn sự vận động bí mật cho đường hướng đấu tranh vũ trang của Phan Bội Châu, để chuyển sang hoạt động văn hóa một cách công khai, hợp pháp. Với con đường cứu nước phi truyền thống này, Phan Khôi hẳn còn bị gia đình, bạn bè phản ứng dữ dội hơn lần trước, thậm chí còn bị các đồng chí cũ nghi là phản bội, nhất là tờ báo khởi nghiệp của ông lại là Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Nhưng, chính đây lại là bước quyết định của/ với Phan Khôi trong việc biến ông từ một nhà nho cổ điển, một nhà nho duy tân thành một nhà nho Tây học, một nhà văn hiện đại, đồng thời tạo ra một dấu mốc trên hành trình xây dựng văn hóa dân tộc, cũng như hình thành tầng lớp trí thức độc lập.

Con đường cứu nước phi truyền thống này có tiền đề từ Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871). Khi thực dân Pháp rập rình xâm chiếm Việt Nam, trước sức mạnh quân sự vượt trội của nó, triều đình Huế chia làm 2 phe: chủ chiến và chủ hòa. Tư tưởng chủ chiến dựa trên truyền thống ngàn đời “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”, “sát thân thành nhân”. Tư tưởng chủ hòa mang tâm lý thất bại chủ nghĩa, sợ trách nhiệm, sợ mất quyền lợi, thực chất là đầu hàng. Chủ chiến và chủ hòa, tuy đối đầu với nhau quyết liệt như vậy, nhưng, xét cho cùng, chỉ là hai mặt đối lập của cùng một kiểu tư duy nhị nguyên, biện biệt: hoặc là đánh, hoặc là hòa, theo nguyên lý loại trừ. Nguyễn Trường Tộ, với cái nhìn nhất nguyên, đưa ra một tư duy khác. Một kiểu chủ hòa khác. Đó là hòa để chiến, trong hòa có chiến, trong chiến có hòa. Ông cho rằng muốn thắng được người Pháp ở trận cuối, thì trước mắt phải hòa với nó, thậm chí phải dựa vào nó, liên kết với nó, để tranh thủ thời gian xây dựng kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nhân lực, phát triển thương mại, trang bị lại cho quân đội, xây dựng quan hệ ngoại giao đa phương với các tổ chức và các nước phương Tây khác. Nhưng, tư tưởng này quá mới, nên đình thần hoài nghi, phân vân, hoảng sợ: những kiến nghị của ông bị bỏ qua. Rồi khi chiến sự đến thì các cơ hội để thực thi chiến lược hòa để chiến không còn nữa, chỉ còn hoặc chiến hoặc hòa. Trong hoàn cảnh này, phe chủ chiến ban đầu thắng/ đa số tuyệt đối để rồi sau đó thua/ thiểu số tuyệt đối.

Sáu tỉnh Nam bộ, rồi toàn bộ đất nước bị mất, các phong trào Cần vương lần lượt bị thất bại, con đường cứu nước bằng bạo lực bị chìm xuống. Trong hoàn cảnh đó, Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) chủ trương con đường cứu nước bằng văn hóa. Tạo ra cuộc đối thoại Đông Tây, Trương Vĩnh Ký muốn làm cho, một mặt, người Nam hiểu được người Pháp, văn hóa Pháp, mặt khác, người Pháp hiểu được nền văn hóa cổ truyền thâm sâu của Việt Nam. Đồng thời tranh thủ xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại bằng sự kết hợp Đông Tây, Nam Pháp theo nguyên tắc “Đông học vi thể, Tây học vi dụng”. Ở Nguyễn Trường Tộ, trong hoàn cảnh một xã hội không có xã hội, mà chỉ có nhà nước, thì đối tượng “cải cách” chính của ông là vua (dĩ nhiên phải qua một đám quan lại chóp bu), phương thức duy nhất của ông là điều trần. Còn ở Trương Vĩnh Ký thì ông đã có một công cụ mới là báo chí, để bước đầu xây dựng một xã hội dân sự. Đối tượng “cải cách” của ông, bởi vậy, là dân chúng, bao gồm các nhà nho duy tân, các điền chủ, nhà buôn, viên chức trong bộ máy chính quyền mới ở Nam bộ. Lấy báo chí làm phương tiện, Trương Vĩnh Ký xây dựng và phổ biến chữ quốc ngữ. Từ đó xây dựng văn xuôi báo chí, rồi văn xuôi nghệ thuật, cũng như nền học thuật của đất nước.

Từ đây, ở Việt Nam, tồn tại hai con đường cứu nước: 1) con đường bạo lực chính trị và 2) con đường phát triển văn hóa, một con đường chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Trong hai con đường này, thì bạo lực chính trị bao giờ cũng là một nét đậm, một nhịp mạnh. Cả hai tồn tại song song với nhau, vừa hỗ trợ nhau vừa đấu tranh với nhau, đôi khi thành những cặp đối lập nổi tiếng trong lịch sử như Phan Bội Châu – Phan Chu Trinh, dẫu rằng văn hóa của cụ Phan thứ hai, xét cho cùng, cũng nhắm đến mục đích chính trị. Bởi thế, đáng chú ý là, thỉnh thoảng lại có những người chuyển từ hoạt động chính trị sang hoạt động văn hóa, sau một “sự cố” nào đó khiến họ có một nhận thức mới. Phan Khôi không phải là một hiện tượng duy nhất, mà là một trường hợp đầu tiên tiêu biểu nhất. Sau này còn có những trường hợp khác nữa. Như Đào Duy Anh (1904 – 1988), bí thư Tân Việt cách mạng đảng, sau khi bị Pháp bắt giam vào cuối năm 1929, cũng từ bỏ hoạt động chính trị chuyển sang làm sử học, làm văn hóa. Hoặc gần đây hơn, Nguyễn Kiến Giang (1930  – 2013), sau vụ “nghị quyết 9” cũng trở thành một dịch giả, một nhà nghiên cứu văn hóa có nhiều đóng góp. Có điều đáng nói là bước chuyển của Đào Duy Anh, Nguyễn Kiến Giang đều do một “cú hích của Thượng đế”, tức ít nhiều bị động, còn của Phan Khôi thì hoàn toàn chủ động.

Phan Khôi chủ động thực hiện bước chuyển này vì ông nhận thức được tầm quan trọng của dân trí cũng như vai trò của báo chí trong việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Bởi thế, làm báo, Phan Khôi chủ trương công khai, độc lập và kiên quyết không dính líu đến chính trị. Hẳn cũng vì thế mà ông sớm rời khỏi tờ Nam phong của Phạm Quỳnh, dù tạp chí này bấy giờ làm rất tốt nhiệm vụ xây dựng một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học. Ông vào Sài Gòn để viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, rồi lại trở ra Hà Nội viết cho Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh. Rồi lại vào Sài Gòn cộng tác với Thần chung, Đông Pháp thời báo đồng thời gửi bài cho Đông Tây tuần báo, Văn học tạp chí ở Hà Nội. Lúc này Phan Khôi đã trở thành một nhà báo nổi tiếng trong giới trí thức Sài Gòn. Bởi thế, ông được bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) mời ra làm chủ bút tờ Phụ nữ tân văn do bà đứng tên sáng lập. Trang bìa tờ báo có in hình ba cô gái Bắc, Trung, Nam, biểu tượng cho nước Việt Nam thống nhất, dưới bức hình là hai câu thơ: “Phấn son tô điểm sơn hà/ Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam”. Nhưng Phụ nữ tân văn là tiếng nói không chỉ của/ về phụ nữ, mà còn của các tầng lớp xã hội khác. Năm 1934, tờ Phụ nữ tân văn bị cấm, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết Phụ nữ thời đàm, rồi lại vào Huế làm chủ bút báo Tràng An. Rồi tờ báo này cũng bị đóng cửa nốt. Năm 1936, Phan Khôi xin được giấy phép ra tờ Sông Hương. Suốt đời làm báo thuê, đây là lần đầu tiên ông có một tờ báo của mình. Nghĩa là ông có thể hoàn toàn chủ động từ việc đề ra cương lĩnh đến sắp xếp các mục trên trang báo, các bài viết. Ông huy động toàn bộ vốn liếng, vợ con vào làm việc cho tờ báo. Sông Hương nhanh chóng chinh phục được đông đảo bạn đọc thuộc các thành phần xã hội. Nhưng nó chỉ tồn tại được đến 1939 thì phải tự đóng cửa vì không đủ tài chính.

Phan Khôi làm báo trước hết để tiếp tục theo đuổi một cách công khai chủ trương khai dân trí thuở Duy tân. Dĩ nhiên, dân ở đây, trước hết là người có học, như tiêu ngữ trên tờ báo của ông “Ai có học phải đọc Sông Hương“. Bằng ngòi bút của mình, Phan Khôi đã đấu tranh bền bỉ cho các quyền của người dân, nhất là quyền tự do, dân chủ. Quan trọng là các quyền này với Phan Khôi phải minh bạch, chính đáng. Có lẽ vì thế mà có dạo trên Sông Hương, Phan Khôi phản đối một số tờ báo khác làm đơn xin được tự do ngôn luận. Ông cho rằng đã xin thì không còn tự do nữa. Tự do ngôn luận phải là một quyền, nghĩa là được thừa nhận công khai, bằng luật pháp. Phan Khôi đề cao luật pháp, như một thành tựu của văn hóa phương Tây. Đề cao văn hóa phương Tây, Phan Khôi chống lại các thành kiến cổ hủ của văn hóa Đông Á trong đó có Nho giáo, đặc biệt là Tống nho. Ông phê phán kịch liệt quan niệm trinh tiết, lật ngược lại cái nhìn về Võ hậu, kêu gọi giải phóng phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến. Để xây dựng một văn hóa mới, hiện đại, Phan Khôi còn viết nhiều về lịch sử, văn học, Việt ngữ… Ở lĩnh vực nào hầu như ông cũng là người đi tiên phong, như mở đầu cho Thơ Mới bằng bài “Tình già”, đặt viên gạch đầu tiên cho nghiên cứu Việt ngữ, đi trước Tự lực Văn đoàn về giải phóng phụ nữ… Có lẽ, vì tồn tại chủ yếu với tư cách là một nhà báo, nên Phan Khôi chỉ là người đặt gạch chứ chưa phải là người xây nhà. Nhưng, cũng với tư cách một nhà báo, Phan Khôi đã để lại một sự nghiệp viết đồ sộ, không chỉ ở nội dung viết, mà còn ở cách viết. Không giống các nhà báo khác, ông không chạy theo việc mô tả sự kiện, mà chỉ chú ý đến những vấn đề xã hội hoặc văn hóa đằng sau sự kiện đó. Các bài báo của ông, bởi thế, đều có tính chất khám phá, tranh luận, phê phán ở chiều sâu học thuật. Mỗi bài báo của ông là một Essai thực sự. Một thể loại mở, giàu tính lý thuyết và tinh thần phê phán.

Như vậy, Sông Hương là đỉnh cao sự nghiệp văn học của Phan Khôi, đỉnh cao của sự độc đáo Phan Khôi cả ở tư duy, ngôn ngữ, lẫn cách thế: trình độ Hán ngữ, Pháp ngữ, Việt ngữ rất cao, sự sùng bái tư duy logic, lối ứng xử minh bạch và bộc trực. Một sự cuội kết lạ lùng, có một không hai, Đông Tây kim cổ. Có được như vậy, theo tôi, Phan Khôi đã phát huy đến tột cùng loại hình/ người văn hóa ở/ của ông: nhà nho Tây học. Xã hội Việt Nam cho đến bấy giờ, do sự phát triển gối tiếp chứ không phải nối tiếp, đồng tồn nhiều loại hình/ người văn hóa như nhà nho , nhà nho duy tân, nhà nho Tây học, trí thức Tây học nho hóa, trí thức Tây học. Nhà nho cũ thì đã hết thời. Nhà nho duy tân cũng chỉ tồn tại một vài tượng đài như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Trí thức Tây học nho hóa, mà tiêu biểu là Phạm Quỳnh thì từ 1932 đã bỏ Nam phong vào Huế làm thượng thư bộ Học. Trí thức Tây học thì còn đang trên đà phát triển. Chỉ còn nhà nho Tây học là đã đạt đến độ viên mãn. Nhất là Phan Khôi.

Nhà nho Tây học là một từ tổ gồm một danh từ nhà nho và một hình dung từ Tây học, trong đó nhà nho là chủ, còn Tây học là khách, mà khách là để nhận biết chủ. Thông thường hai yếu tố trái ngược nhau này sẽ tạo ra sự khắc chế, kìm hãm lẫn nhau, nhưng ở Phan Khôi, ngược lại, nhà nho và Tây học lại gắn kết với nhau và thúc đẩy nhau phát triển đến đỉnh điểm. Nhà nho đề cao tính, đề cao phận vị, nên chỉ phát triển nhân cách,mặt xã hội của con người. Người có nhân cách là người làm tròn bổn phận xã hội của mình, người có đóng góp cho xã hội. Nhân cách, đặc biệt là nhân cách Nho giáo bịt kín mọi lối phát triển cá nhân, chỉ cho phép nhà nho tự thể hiện mình ở hai ngả là đạo đức và học vấn. Nhờ đó, nhiều người chẳng những đạt đến một trình độ đạo đức, hoặc học thức rất cao, mà còn thể hiện một cá tính hết sức đặc biệt. Về đạo đức và học vấn, Phan Khôi đã phấn đấu quyết liệt để từ nhà nho cổ điển (đi thi Hương) thành nhà nho duy tân (theo Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu), rồi thành một nhà nho Tây học đầy cá tính. Người trí thức Tây học thì ưu tiên phát triển cá nhân, coi cá nhân là một giá trị tự thân. Con người cá nhân không chống lại xã hội, mà chỉ chống lại đám đông, cộng đồng, tập thể. Nó đấu tranh để có một xã hội dân chủ, pháp quyền để cá nhân tự do phát triển hết năng lực của mình. Bước vào thời hiện đại, cái tôi của người trí thức Tây học thì nghiêng về chủ nghĩa lãng mạn, còn cái tôi duy lý của nhà nho Phan Khôi thì nghiêng về chủ nghĩa duy lý. Tuy chưa trở thành một cá nhân hiện đại, nhưng ý thức cá nhân rất cao ở nhà Tây học gặp gỡ với nhân cách cũng rất cao của một nhà nho đã làm cho Phan Khôi trở thành một con người mạnh mẽ, xuất chúng, điển hình của một thời.

Tuy nhiên, khi thời của loại hình nhà nho Tây học đã qua, thì ở Phan Khôi nhà nhoTây học, hay xét từ phương diện tâm lý – văn hóa là nhân cáchcá nhân, không còn hòa hợp với nhau như trước đây để tạo thành thể nhất quán nữa, mà rã ra thành hai yếu tố, nhiều khi khuynh loát lẫn nhau, tranh chấp nhau. Phan Khôi như bị mất đi cái sức mạnh nguyên ủy của mình, ông trở nên phân vân, hoài nghi và hay nói đến tuổi tác, nghỉ ngơi, dưỡng già. Đây chính là tâm trạng của Phan Khôi sauSông-Hương lúc ông phải về sống ở Bảo An quê nhà. Tuy thế, ở ông, vẫn còn một nhất quán khác là giữ vững một thái độ độc lập kiên quyết không tham gia vào các hoạt động chính trị. Khi Nguyễn Bá Trác, bạn học cũ, vận động ông ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, khi Phan Bá Lân, cháu gọi ông bằng chú, thuyết phục ông tham gia Quốc dân đảng, kể cả khi Phan Thao, người con trai trưởng của ông, đề nghị ông vào Việt Minh, Phan Khôi đều kiên quyết từ chối. Nhưng rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Trong hoàn cảnh không thể làm kẻ ngoài cuộc được nữa, Phan Khôi thấy theo Việt Minh là hơn cả, vì ít ra Việt Minh, theo ông nghĩ, cũng là một mặt trận chứ không phải là một đảng phái. Ông bèn theo bạn bè văn nghệ “đi về phía Việt Bắc”.

Những năm đầu kháng chiến, mặc dù gian khổ, nhưng vẫn hào hứng, vui vẻ trong bầu khí dân chủ. Bản thân Phan Khôi làm việc ở Đoàn Văn hóa Kháng chiến, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn hăng hái tham gia chiến dịch. Nhưng từ 1949 trở đi, nhất là sau “chỉnh huấn chỉnh phong”, tinh thần dân chủ ấy không còn. Người ta bắt đầu phân biệt người của “Đoàn thể” với người ngoài “Đoàn thể”, Đảng viên với quần chúng, cấp trên với cấp dưới. Những người đã từng quen biết nhau, thậm chí bạn bè nhau, mấy chục năm qua, bỗng trở nên xa lạ. Có một khoảng cách nào đó giữa người với người. Phan Khôi, hơn ai hết, cảm thấy điều ấy một cách rõ rệt. Là người suốt đời muốn độc lập với chính trị, cuối cùng Phan Khôi vẫn bị chính trị vây khốn. Ông biết mình chỉ là một con ốc nhỏ trong một cỗ máy lớn. Trong hai yếu tố làm nên con người ông, thì cá nhân bị thủ tiêu, hay đúng hơn bị đẩy lui vào bên trong và bị giam giữ ở nơi yên lặng, không có tiếng nói. Nhưng nhân cách thì vẫn còn, vì con người nhà nho ở ông không mất đi đâu cả, trong khi ở một số trí thức Tây học khác thì mất cả hai: cá nhân lẫn nhân cách. Hẳn để bảo vệ nhân cách, nên dù trong bất cứ trường hợp nào ông đều làm tròn bổn phận và nghĩa vụ của mình, nhất là “nghĩa vụ” im lặng, không nói. Phan Khôi lao vào nghiên cứu Việt ngữ và dịch Lỗ Tấn. Một công việc dường như chẳng ăn nhập gì với thời cuộc, nhưng lại giúp ông giữ vững được tiết tháo và, quan trọng hơn lý do tồn tại. Vì thế, khi lấy cớ lý do sức khỏe, người ta muốn “ưu tiên” ông không phải làm gì cả, thì ông nhất định không chịu. Hơn nữa với ông, ăn lương mà không làm việc là bất lương. Một kỳ quặc nữa là khi không được/ bị gọi đi học chỉnh huấn, cũng vì lý do bệnh tật, Phan Khôi vẫn tình nguyện đi, một mặt để trải nghiệm thêm, mặt khác hoàn thành nghĩa vụ của người đi kháng chiến. Nhưng, càng ngày ông càng cảm thấy cô đơn và buồn: “Tuổi già thêm bệnh hoạn,/ Kháng chiến thấy thừa ta./ Mối sầu như tóc bạc,/ Cứ cắt lại dài ra.” (Hớt tóc trong bệnh viện quân y). Tuy nhiên, Phan Khôi, như ông vẫn tự nhận, là một thứ Hồng gai vừa có hoa vừa có gai, chứ không phải loại hoặc chỉ có hoa, nhạt loét, hoặc chỉ có gai… Bởi thế, khi hòa bình trở lại, Phan Khôi cùng một số văn nghệ sĩ và các giáo sư đại học tham gia vào phong trào Nhân văn Giai phẩm.

Nếu nhìn Nhân văn Giai phẩm như một trào lưu văn nghệ do các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu từ kháng chiến trở về đấu tranh để có một không gian tự do hơn cho sáng tạo, thì việc Phan Khôi tham gia vào phong trào này là một điều tự nhiên, tất yếu. Một con người có nhân cách của một sĩ phu có khí tiết/ tiết tháo, một cá nhân tự dochính trực lại có đầu óc logic, biết xét đoán, chống công thức, thích đặt lại vấn đề, thích cái mới, hơn nữa chính mình chứng kiến những điều khuất tất của vụ giải thưởng văn học 1954 – 1955, như Phan Khôi thì không thể làm khác được. Ông tìm ra cái gốc của vấn đề văn nghệ là ở lãnh đạo, bởi thế ông đã viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, cũng bởi thế ông không trách những người lập ra Giai phẩm, bởi theo logic có nhân ấy thì mới có quả ấy. Thậm chí ông còn tham gia viết bài cho họ. Từ việc tham gia viết bài đến việc nhận làm chủ nhiệm tờ Nhân văn, tôi nghĩ, là một việc làm có ý thức, tuy Phan Khôi còn ít nhiều băn khoăn về cách làm báo không theo quy củ của Lê Đạt, Trần Dần cũng như những cách tân thơ của họ, hoặc xu hướng thiên về các vấn đề chính trị của Nguyễn Hữu Đang. Bởi thế, tôi không đồng với ý kiến Lê Đạt cho rằng hành động nhận lãnh chủ nhiệm Nhân văn của Phan Khôi chỉ như một nghĩa cử, một đứng ra gánh vác việc chung của người quân tử, hoặc đa số ý kiến của những người trong gia đình, hoặc những người yêu mến Phan Khôi (hẳn vì muốn minh “oan” giúp ông), cho rằng ông đã ngây thơ về chính trị, thậm chí ông bị lừa. Phan Khôi là một người trách nhiệm, trước với bản thân sau với xã hội. Đừng hạ thấp ông dù vì một lý do “chính đáng” nào.

Con-người-trách-nhiệm-Phan-Khôi này được bộc rất rõ trong bài thơ “Nắng chiều”:

Nắng chiều đẹp có đẹp.

Tiếc tài gần chạng vạng,

Mặc dù gần chạng vạng,

Nắng được thì cứ nắng.

Và Phan Khôi đã nắng lên được bằng thứ nắng quái chiều hôm. Một lần nữa, nhất quán với bản thân mình, Phan Khôi lại chuyển từ chính trị sang văn hóa, nhưng lần này không phải vì ông làm chính trị, mà nhằm thoát khỏi chính trị, để trở thành một nhà văn hóa thực sự. Sống trong một đất nước chính trị, cuộc sống của Phan Khôi, vì thế, không thể không tránh khỏi hệ lụy, kể cả cái chết và những cái sau-chết. Tuy vậy, cái bước chuyển từ chính trị sang văn hóa mà ông thực hiện luôn sống lại ở những thế hệ kế tiếp để trở thành một con đường, thậm chí đường lớn./.

 

Tù chính trị Việt Nam: Ở tù hay lưu vong? – BS

23 Th10

 

 

Posted by adminbasam on 22/10/2014

BBC

Bùi Văn Phú

22-10-2014

H1Ông Nguyễn Văn Hải, tức nhà báo Điếu Cày, vừa được đưa thẳng từ nhà tù ở Việt Nam sang Hoa Kỳ. Không có thân nhân đi cùng và gia đình cũng không được thông báo cho đến khi ông đã ra khỏi quê hương.

Sự kiện ông được thả là kết quả của những vận động từ cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, và các tổ chức nhân quyền quốc tế với chính phủ Mỹ nhằm đem lại ảnh hưởng tích cực trong khi hai nước đang có những bước tiến để nâng quan hệ lên tầm mức cao hơn.

Trường hợp ông Hải bị án tù 12 năm với tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước” đã được chính giới Mỹ quan tâm từ nhiều năm qua. Tổng thống Barack Obama phát biểu trong ngày Tự do Báo chí Thế giới 2012 đã nhắc đến Điếu Cày như một thí dụ về sự thiếu tự do báo chí ở nhiều nơi trên thế giới.

Ông Hải cũng đã được Hội Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalists) và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải tự do báo chí.

‘Khích lệ’

Trước những yêu cầu của Washington, Hà Nội thả Điếu Cày, như một tín hiệu tích cực để đáp lại việc Hoa Kỳ nới lỏng chính sách cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, để dễ dàng hơn cho Hà Nội trong việc thương thảo gia nhập TPP và xa hơn là để tạo cơ hội thuận tiện cho Tổng thống Barack Obama ghé thăm Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ.

Việc Việt Nam thả tù nhân lương tâm là điều khích lệ cho những ai đang dấn thân tranh đấu cho quê hương vì họ biết rằng thế giới không quên những khao khát tự do, dân chủ của dân Việt.

Nhưng để có nhân quyền, tự do dân chủ thì con đường vẫn còn dài và gian nan.

Từ bao năm qua, trước công luận và những yêu cầu của thế giới, Hà Nội luôn nói rằng họ không giam tù chính trị, mà chỉ bỏ tù những ai phạm luật.

H1Những tù nhân chính trị ở Việt Nam, các tổ chức bảo vệ nhân quyền gọi là “tù nhân lương tâm”, đã vi phạm những điều luật nào?

Tòa án tại quốc gia này thường dùng các điều 79, 88 và 258 để kết án những ai phát biểu quan điểm bất đồng với nhà nước. Họ bị kêu án với tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay lợi dụng tự do dân chủ để phá hoại tình đoàn kết dân tộc.

Thực tế họ đã làm gì phạm luật? Điếu Cày xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Basam Nguyễn Hữu Vinh làm blog tổng hợp tin tức. Tạ Phong Tần, Phan Thanh Nghiên, Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Bùi Thị Minh Hằng phản đối Trung Quốc hung hăng trên biển.

Trần Khải Thanh Thủy, Lê Quốc Quân bênh vực dân oan, nêu lên những tệ nạn xã hội. Những chức sắc tôn giáo Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Công Chính đòi tự do tôn giáo.

Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Trần Huỳnh Duy Thức lên tiếng kêu gọi cải cách chính trị. Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương cổ vũ thành lập công đoàn độc lập.

Nhờ can thiệp của quốc tế nhiều người đã được thả. Riêng Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý vẫn còn bị giam giữ.

‘Còn vài chục tù nhân lương tâm’

Theo các tổ chức nhân quyền hiện còn vài chục tù nhân lương tâm ở Việt Nam.

Đối với người trong nước Hà Nội sẵn sàng bỏ tù, sách nhiễu, cấm cản di chuyển. Với người Việt hải ngoại, Hà Nội phản bác lại việc tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ bằng cách nối kết những hoạt động này với biểu tượng cờ vàng.

Truyền thông trong nước cũng thường đưa ra lập luận rằng người hải ngoại tranh đấu chỉ vì muốn khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng hòa đã chết từ lâu.

Trong thập niên 1980 và đầu 90 những người lên tiếng cho tự do, nhân quyền tại Việt Nam là nhiều người đã có những gắn bó với sinh hoạt tại miền Nam trong hai mươi năm, như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Văn Huy, Chân Tín, Đoàn Thanh Liêm, Nguyễn Đan Quế.

Sau có những tiếng nói từ miền Bắc của Trần Xuân Bách, Phan Đình Diệu, Trần Độ, Dương Thu Hương; hay từ những người miền Nam từng theo cộng sản như Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu, Bảo Cự, Tạ Bá Tòng, Lữ Phương.

Khoảng mười năm trở lại đây, nhiều bạn trẻ từ mọi miền đất nước đã dấn thân tranh đấu: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), Huỳnh Thục Vy, Đinh Nguyên Kha, Phan Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương.

Họ không có liên hệ đến quá khứ chiến tranh mà lớn lên trong một đất nước thống nhất. Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù thông tin bưng bít, dù bị tuyên truyền, nhưng họ đã nhìn ra những sai lầm trong chính sách, những bức xúc trong xã hội và có những trăn trở về sự độc lập, vẹn toàn lãnh thổ.

Họ nhận ra rằng quyền căn bản của dân ghi trong Hiến pháp đang bị chà đạp. Họ nhìn thấy nguy cơ đất nước bị Trung Quốc xâm chiếm ngày một lớn. Họ đã lên tiếng. Họ muốn bày tỏ lòng yêu nước.

Và nhiều người đã phải vào tù. Nếu chưa bị bắt thì bị quấy nhiễu trong công việc, gia đình bị bao vây nhiều phía, từ đi lại đến đời sống kinh tế. Nhiều người khác bị buộc phải sống lưu vong.

Trong thập niên 1990, những người tù như Đoàn Viết Hoạt, Đoàn Thanh Liêm bị trục xuất khỏi Việt Nam trong khi đang thi hành bản án do nhà nước áp đặp lên.

Mấy tháng trước Cù Huy Hà Vũ đã bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Hôm qua, Hà Nội lại đưa Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thẳng từ nhà tù ra sân bay để đi Mỹ.

Xã hội Việt Nam ngày nay có tiến bộ và cởi mở hơn so với những năm ngay sau chiến tranh, nhưng cách đối xử của chính quyền cộng sản Việt Nam với những người bất đồng chính kiến, với tù nhân lương tâm vẫn không thay đổi.

Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam nay không phù hợp xu thế thời đại. Các điều 79, 88, 258 luật hình sự là phản tiến bộ.

Qua các vụ xử tù nhân lương tâm, những ép buộc người bất đồng chính kiến phải lựa chọn ở tù hay lưu vong, như sự kiện Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, lãnh đạo Hà Nội khó có được một cái nhìn thiện cảm của thế giới.

Bài viết phản ánh quan điểm và cách hành văn của tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

 

Biển Đông: Giàn khoan Trung Quốc và đấu tranh chính trị nội bộ ở Hà Nội – RFI

19 Th7

 

Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)

Giàn khoan Hải Dương HD-981 (DR)
Trọng Nghĩa

Sau vụ Bắc Kinh đưa giàn khoan vào hoạt động ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Hà Nội đã lên tiếng dọa kiện Bắc Kinh ra trước tòa án quốc tế nhưng vẫn chưa hành động. Trong bài phân tích công bố ngày 16/07/2014, Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc giải thích thái độ rụt rè của Việt Nam bằng giả thuyết : Sự cản trở của phe thân Trung Quốc trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam được ông mệnh danh là «accommodationist».

 

Bài viết « Biển Đông : Giàn khoan Trung Quốc và đấu tranh chính trị nội bộ tại Hà Nội – South China Sea: China’s Oil Rig and Political In-fighting in Hanoi » bao gồm một số câu trả lời phỏng vấn báo chí. Được sự đồng ý của Giáo sư Thayer, RFI xin giới thiệu nguyên văn phần hỏi-đáp.

HỎI : Đấu đá nội bộ giữa hai phe thân Trung Quốc và thân Mỹ trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngăn cản không cho Việt Nam có hành động pháp lý chống lại Trung Quốc ngay cả trước vụ giàn khoan HD-981. Giáo sư có thể xác nhận điều này hay không, và dựa trên yếu tố nào để chứng minh ?

ĐÁP : Việt Nam đã cân nhắc hành động pháp lý chống lại Trung Quốc từ sáu năm nay, theo các nguồn tin từ Hà Nội. Khi xẩy ra cuộc khủng hoảng giàn khoan HD-981, Việt Nam đã xem xét hai phương pháp tiếp cận riêng biệt, một liên quan đến chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và một liên quan đến quần đảo Trường Sa.

Sự kiện Việt Nam vẫn chưa khởi động vụ kiện chống Trung Quốc, và cũng không hỗ trợ vụ kiện của Philippines, là bằng chứng cho thấy phương án pháp lý không đảm bảo được một đa số trong Bộ Chính trị.

Điều cũng đáng ghi nhận là Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã công khai tuyên bố mạnh mẽ về các hành động pháp lý. Theo ông, hành động pháp lý sẽ phụ thuộc vào thời gian. Đại tướng Phùng Quang Thanh đã nói tại Đối thoại Shangri-La rằng lựa chọn pháp lý là một phương sách cuối cùng.

Có tin cho rằng Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Dương Khiết Trì trong chuyến thăm gần đây, đã cảnh cáo Việt Nam về việc tìm kiếm hành động pháp lý.

HỎI : Trung Quốc hiện đã di chuyển giàn khoan trước thời hạn giữa tháng Tám như từng nói lúc ban đầu. Như vậy có thể nói rằng phe thân Trung Quốc đã giành được thế thượng phong hay không ? Nếu đúng thì tại sao ? Nếu không, thì tại sao không ?

ĐÁP : Việc Trung Quốc rút giàn khoan dầu sẽ làm cho căng thẳng giảm ngay lập tức. Trung Quốc cũng sẽ rút hạm đội hơn một trăm chiếc tàu và chiến hạm. Điều này sẽ tạo tiền đề cho Việt Nam rút lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư ra khỏi khu vực. Do đó, sẽ có cơ sở cho các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Việt Nam để thảo luận về cách đưa quan hệ hai nước trở lại hướng cũ.

Phe gọi là ủng hộ Trung Quốc, hoặc là thỏa hiệp (accommodationist), sẽ chống lại bất kỳ hành động nào có thể sẽ làm xấu thêm quan hệ với Trung Quốc. Điều này có nghĩa là phương án pháp lý và việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ không có khả năng xẩy ra trong tương lai gần. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có nguy cơ bị gạt qua một bên.

Một cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự kiến ​​sẽ cân nhắc lợi hại của hành động pháp lý chống Trung Quốc. Cuộc họp đó sẽ chuyển khuyến nghị lên Bộ Chính trị.

HỎI : Theo quan điểm của phe thân Trung Quốc, hậu quả của việc xích lại quá gần với Hoa Kỳ sẽ như thế nào ? Cũng như thế, theo quan điểm của phe thân Mỹ, việc tiếp tục thỏa hiệp với Trung Quốc sẽ có hại ra sao về chính trị và kinh tế ?

ĐÁP : Xích lại quá gần với Hoa Kỳ sẽ dẫn đến áp lực tiêu cực, thậm chí biện pháp trừng phạt từ phía Trung Quốc. Xích lại quá gần với Hoa Kỳ sẽ kéo theo một số đòi hỏi phải đáp ứng yêu cầu của Mỹ, đòi Việt Nam chứng tỏ tiến bộ về nhân quyền và áp lực của Mỹ đòi quyền tiếp cận Việt Nam rộng rãi hơn về quân sự, chẳng hạn như Vịnh Cam Ranh, gia tăng các chuyến Hải quân ghé cảng và các cuộc tập trận chung.

Phe gọi là thân Mỹ sẽ cảm thấy rằng việc thỏa hiệp với Trung Quốc sẽ hạn chế quyền tự do hành động của Việt Nam và đưa Việt Nam vào thế phục tùng và lệ thuộc Trung Quốc. Sự phụ thuộc ý thức hệ sẽ làm giảm triển vọng cải cách kinh tế ở Việt Nam.

HỎI : Việc Trung Quốc rút giàn khoan ảnh hưởng ra sao đến đấu đá nội bộ giữa hai phe tại Việt Nam ? Trường đấu có thể kết thúc thế nào ?

ĐÁP : Sự kiện Trung Quốc rút giàn khoan sẽ dẫn đến việc giảm căng thẳng và làm tăng khả năng các cuộc đàm phán song phương cấp cao Việt-Trung. Điều đó sẽ có lợi cho những người muốn thỏa hiệp với Trung Quốc. Đấu đá trong nội bộ Đảng có khả năng tăng cường độ trên những bất đồng về lợi ích ngắn hạn so với lợi ích lâu dài.

HỎI : Đấu tranh giữa phe ủng hộ Trung Quốc với phe thân Mỹ sẽ nhào nặn cách Việt Nam xử lý các cuộc xung đột trong tương lai với Trung Quốc như thế nào ?

ĐÁP : Nếu lãnh đạo Việt Nam tiếp tục chia rẽ giữa phe thân Trung Quốc và phe thân Mỹ, điều đó có nghĩa là Việt Nam sẽ không thể đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ trong các lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Việt Nam sẽ thận trọng tiến hành việc này và một cách thất thường.

Còn về cuộc xung đột trong tương lai với Trung Quốc, nhóm thỏa hiệp sẽ tự kiểm duyệt chính mình. Họ sẽ phủ quyết bất kỳ chính sách nào có khả năng khơi dậy sự giận dữ của Trung Quốc. Họ sẽ liên kết với Trung Quốc, tức là tránh chỉ trích Trung Quốc với hy vọng rằng Việt Nam sẽ được thưởng công về kinh tế cho hành vi tốt của mình.

Vấn đề là việc chia sẻ cùng một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa sẽ trói tay Việt Nam và hạn chế khả năng hoạt động vì lợi ích dân tộc. Tóm lại, cuộc đấu đá tiếp tục giữa phe thân Trung Quốc và phe thân Mỹ sẽ làm suy yếu khả năng của Việt Nam trong việc bảo vệ lợi ích dân tộc của mình và chống lại áp lực từ Trung Quốc.

HỎI : Liệu việc Trung Quốc rút giàn khoan có liên quan đến việc Thượng viện Mỹ thông qua một nghị quyết chỉ trích Trung Quốc vào tuần trước, và cuộc điện đàm giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình cách đây vài ngày ?

ĐÁP : Việc Trung Quốc rút giàn khoan không liên quan trực tiếp đến nghị quyết của Thượng viện Mỹ và các cuộc điện đàm giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình vì các quyết định loại này không thể được thực hiện dưới sự thúc ép của tình hình.

Trung Quốc có thể là đã quyết định dời giàn khoan, vì dữ liệu thương mại đầy đủ đã được thu thập và họ không có gì để mất khi kết thúc sớm hoạt động thăm dò dầu khí. Chắc chắn là bão Rammasun sắp đến cũng tác động đến quyết định rút sớm.

Cuối cùng, Trung Quốc cũng chú tâm đến chính sách chiến lược. Họ muốn tác động đến một cuộc họp quan trọng sắp tới của Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà mục tiêu là quyết định nên hay không nên có hành động pháp lý chống lại Trung Quốc và, rất có thể là tìm kiếm quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.

 
tags: Biển ĐôngTranh chấpViệt NamTrung QuốcChâu ÁChuyên mục trên mạng

Dọa dẫm kinh tế hay răn đe chính trị – RFA

12 Th6

 

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-06-11

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

000_Hkg9834130-305.jpg

Hàng ngàn công nhân Trung Quốc được rút ra khỏi cảng Vũng Áng ở Hà Tĩnh, Việt Nam đã về đến cảng Tú Anh ở Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam, miền nam Trung Quốc vào ngày 20 tháng 5 năm 2014.

AFP PHOTO

 

 

 

Sự kiện các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc được lệnh ngừng đầu tư vào Việt Nam phải chăng là bước đe dọa mới, trong khi giàn khoan HD 981 đã hiện diện trái phép hơn 1 tháng trên vùng biển miền Trung.

Một động tác tâm lý?

Khi đưa tin về việc Bộ Thương mại Trung Quốc ra lệnh cho các doanh nghiệp nhà nước ngừng tham gia đấu thầu tại Việt Nam, ngày 9/6 báo South China Morning Post ấn hành ở Hong Kong trích lời chuyên gia Hứa Lợi Bình của Viện Chiến lược Quốc tế nhận định: “đây là tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang sử dụng lá bài kinh tế, nhưng hiệu quả ra sao thì còn phải chờ.”

Nhận định về sự kiện mới nhất này, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng một nhà bình luận độc lập từ TP.HCM phát biểu:

“Việc nhà nước Trung Quốc cấm một số doanh nghiệp dự thầu ở Việt Nam, tôi cho là một động tác tâm lý cũng giống như họ rút 4.000 công nhân ra khỏi cảng Vũng Áng ở Hà Tĩnh gây ra một áp lực và đồng thời cũng là một đe dọa chính trị đối với Hà Nội… nếu Hà Nội không tuân thủ luật chơi của Trung Quốc thì họ có thể cấm cố nền kinh tế Việt Nam.”

Nếu như mà TQ có những biện pháp cấm vận hoặc hạn chế xuất khẩu sang VN thì VN sẽ chịu những thiệt hại tương đối nặng nề trong thời gian nhất định.
-TS Lê Đăng Doanh

Theo TS Phạm Chí Dũng Trung Quốc chưa lọt vào tốp 10 nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tuy nhiên sự đặc thù trong dự thầu của doanh nghiệp Trung Quốc lại là một điều đáng chú ý. TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Những dự án mà Trung Quốc hiện diện nhiều có lẽ nằm trong hệ thống nhiệt điện, hiện nay Trung Quốc chi phối rất lớn trong các dự án nhiệt điện Việt Nam và theo một đánh giá thì trong tổng số 31 nhà máy nhiệt điện Việt Nam thì Trung Quốc đã chiếm tới 23 nhà máy rồi… và nếu một ngày đẹp trời nào đó họ đồng loạt cúp điện thì có lẽ Việt Nam sẽ chìm trong bóng tối. Đấy là một hình ảnh rất tượng hình, rất tượng trưng.”

Kinh tế Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc là điều rõ ràng, năm 2013 nhập siêu với Trung Quốc lên tới hơn 23 tỷ USD. Trong năm này Việt Nam xuất  khẩu sang Trung Quốc 13,3 tỷ USD, phần lớn là nông sản và các mặt hàng thô. Ngược lại Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc hàng hóa, nguyên liệu dệt may và da giày, máy móc, nhà xưởng trị giá 36,9 tỷ USD.

Giả dụ Việt Nam và Trung Quốc gián đoạn giao thương điều gì sẽ xảy ra. TS Lê Đăng Doanh nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương từ Hà Nội nhận định:

“Xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam thì chỉ bằng 1% xuất khẩu của Trung Quốc thôi, còn nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc chiếm đến 28% tổng nhập khẩu của Việt Nam. Vì vậy cho nên chắc chắn nếu như mà Trung Quốc có những biện pháp cấm vận hoặc hạn chế xuất khẩu sang Việt Nam thì Việt Nam sẽ chịu những thiệt hại tương đối nặng nề trong thời gian nhất định.”

Trung Quốc cũng thiệt hại

khidienCaMau-250.jpg
Công nhân Trung Quốc và công nhân Việt Nam ở nhà máy Đạm Cà Mau. Ảnh minh họa chụp trước đây.

 

Hàng hóa dệt may của Việt Nam năm 2013 có trị giá xuất khẩu gần 20 tỷ USD, tuy nhiên nguyên phụ liệu cần thiết phải nhập riêng từ Trung Quốc lên tới gần 6 tỷ USD. Ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội dệt may thêu đan TP.HCM nhận định:

“Giả sử tình huống xấu nhất Trung Quốc ra lệnh bế môn tỏa cảng không cho xuất hàng vào Việt Nam, thì đầu tiên là việc ách tắc sản xuất xảy ra ngay chứ không phải là cầm cự được bao lâu. Tại vì thường nguyên liệu của chúng ta đặc biệt với ngành dệt may là ngành thời trang, nguyên liệu đưa về là sản xuất ngay và thường thì dự trữ nguyên liệu của các nhà máy dệt may Việt Nam là không quá 2 tới 3 tháng. Tác động sẽ xảy ra ngay thôi.”

Tuy vậy ông Diệp Thành Kiệt có chung quan điểm với nhiều chuyên gia khác là Trung Quốc không dại gì cấm vận dệt may Việt Nam, bởi vì họ cũng bị thiệt hại. Trung Quốc cần đầu ra cho ngành sản xuất nguyên phụ liệu dệt may của chính họ.

Trao đổi với chúng tôi, TS Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn nhận định:

“Tôi chắc chắn một điều là Trung Quốc sẽ không thể cấm vận Việt Nam ít nhất vào thời điểm này. Tại vì điều đó hoàn toàn bất lợi cho Trung Quốc, bất lợi về quan hệ chính trị, về các giá trị kinh tế, bất lợi về quốc tế. Trung Quốc được coi là cường quốc nhưng thực ra đó là hình ảnh của một nước giàu dân nghèo hay là voi cưỡi xe đạp và còn khá là nhỏ đối với thế giới. Trung Quốc chưa có đủ tiềm lực giống như Hoa Kỳ để mà đi cấm vận kinh tế đối với các nước khác. Thành thử đó là một bước đi sai lầm và dại dột, có thể nói là ngu ngốc đối với Trung Quốc nếu họ làm điều đó.”

TQ chưa có đủ tiềm lực giống như Hoa Kỳ để mà đi cấm vận kinh tế đối với các nước khác. Thành thử đó là một bước đi sai lầm và dại dột đối với TQ nếu họ làm điều đó.
-TS Phạm Chí Dũng

Theo các số liệu chính thức, 5 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt 2,65 triệu tấn trị giá 1,19 tỷ USD nhưng riêng thị trường Trung Quốc chi phối gần 42%. Trung Quốc còn là thị trường chủ yếu của trái cây và mủ cao su của Việt Nam. TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam nói với báo chí là ông tin rằng Trung Quốc không dại gì cấm biên, Trung Quốc cần nhập khẩu gạo từ Việt Nam để đảm bảo an ninh lương thực cho chính họ. Tuy vậy TS Đặng Kim Sơn nhận định:

“Trong mọi tình huống phải luôn luôn chủ động để đảm bảo được thị trường xuất khẩu cả chính ngạch và tiểu ngạch. Chính vì thế công tác nghiên cứu thị trường, công tác chuẩn bị thị trường hiện nay đang được đẩy mạnh. Không phải trong trường hợp xấu đến khi xảy ra gây khó khăn chúng ta mới lo chuyện này.”

Theo Cục Đầu tư Việt Nam, với 1.029 dự án còn hiệu lực tính đến ngày 20/5 tổng vốn đầu tư đăng ký của các dự án của Trung Quốc tại Việt Nam là 7,84 tỷ USD. Nhật Bản duy trì vị trí nhà đầu tư lớn nhất với vốn đăng ký 35,6 tỷ USD, kế tiếp là Hàn Quốc với hơn 31 tỷ USD, Singapore với 30,3 tỷ USD và Đài Loan 27,4 tỷ USD.

Trung Quốc đang hưởng lợi tại Việt Nam với con số xuất siêu hơn 23 tỷ USD vào năm 2013. Hơn nữa doanh nghiệp Trung Quốc đang bỏ tiền tỷ đô la đầu tư vào ngành dệt nhuộm ở Việt Nam, đón đầu Hiệp định đối tác xuyên Thái bình Dương TPP mà Hà Nội tham gia.

Theo giới chuyên gia, cùng với cuộc xâm lăng trên biển Đông, Trung Quốc đang ra vẻ tạo thêm áp lực kinh tế với Việt Nam. Việc tạm thời cấm doanh nghiệp nhà nước đầu tư mới vào Việt Nam, mang ý nghĩa răn đe chính trị với Hà Nội hơn là một bước đi trừng phạt kinh tế thực sự.

 

%d bloggers like this: